4 GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG Trong buổi ngoại khóa đầu tuần của trường trung học phổ thông Đan Phượng, tuyên truyền cho các bạn học sinh những thông tin và kiến thức về chủ quyền lã
Trang 1CUỘC THI
“ VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN ĐỀ GIẢI QUYẾT CÁC TÌNH
HUỐNG TRONG THỰC TIỄN”
Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Đan Phượng Trường THPT Đan Phượng
Địa chỉ: Thị trấn Phùng – Đan Phượng – Hà Nội Email:………
SĐT:………
Thông tin học sinh:
Họ và tên: Nguyễn Thị Ninh Ngày sinh: 12/07/1997
Trần Thị Kim Ngân Ngày sinh: 27/7/1997
Lớp: 12A11
Trang 21) TÊN TÌNH HUỐNG
“HƯỚNG VỀ BIỂN ĐẢO QUÊ HƯƠNG: BẢO VỆ CHỦ QUYỀN LÃNH
THỔ VÀ BIÊN GIỚI QUỐC GIA TRÊN BIỂN"
Những kiến thức liên môn dự kiến áp dụng trong bài thi: môn Địa lý, mônLịch sử, môn Ngữ văn, môn Giáo dục quốc phòng, môn Giáo dục công dân Đặcbiệt là kiến thức môn Địa lý
2) MỤC TIÊU GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG
Từ xưa đến nay, Trung Quốc luôn có ý đồ xâm chiếm lãnh thổ Việt Nam.Mới đây, Trung Quốc đã có những hành động gây hấn ở biển Đông Vì vậy việcgiải quyết vấn đề biển Đông sẽ:
- Khẳng định chủ quyền của Việt Nam ở biển Đông, các đảo ven bờ và đặcbiệt là hai quần đảo xa bờ Hoàng Sa và Trường Sa
- Đập tan âm mưu xâm chiếm biển Đông của Trung Quốc
- Vùng biển đảo nước ta có nhiều tài nguyên quan trọng giúp thúc đẩy sựphát triển kinh tế - xã hội và chính trị của nước ta
3 TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG
- Sử dụng kiến thức Địa lý
+ Địa lý 12 bài 2: “ Vị trí địa lý và phạm vi lãnh thổ”; bài 8: “ Thiên nhiên chịuảnh hưởng sâu sắc của biển” và bài 42: “ Vấn đề phát triển kinh tế, an ninh quốcphòng ở biển Đông và các đảo, quần đảo”
+ Địa lý 11 bài 10: “Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ( Trung Quốc)”
- Từ sách lịch sử 11 và 12 thấy được những hành động của triều đình nhàNguyễn, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ về việc cai trị toàn lãnh thổ nước ta nhất
là trong việc cai trị ngoài vùng biển nước ta
- Kiến thức môn Giáo dục quốc phòng 11 bài 2: “ Luật nghĩa vụ quân sự và tráchnhiệm của học sinh” và bài 3: “ Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và biên giới quốc gia”
- Áp dụng kiến thức môn Giáo dục công dân 12 bài 10: “ Pháp luật với hòa bình
và sự phát triển tiến bộ của nhân loại”
- Vận dụng những kiến thức của môn Ngữ văn bài tập làm văn thuyết minh – Ngữ văn 11 và Luyện tập làm văn Nghị luận – Ngữ văn 10, 11, 12
Trang 34) GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG
Trong buổi ngoại khóa đầu tuần của trường trung học phổ thông Đan Phượng, tuyên truyền cho các bạn học sinh những thông tin và kiến thức về chủ quyền lãnh thổ và biên giới quốc gia nhằm nâng cao hiểu biết của học sinh về chủquyền quốc gia và khơi dậy lòng yêu nước trong mỗi người:
- Âm mưu và hành động của Trung Quốc đối với biển Đông
-Những giải pháp của Việt Nam trước những hành động của Trung Quốc
- Đưa ra các tài liệu chứng minh chủ quyền biển – đảo
Cuối buổi ngoại khóa, đưa ra những câu hỏi để kiềm tra những kiến thức
mà học sinh đã nắm được trong buổi ngoại khóa và từ đó mỗi học sinh có ý thức hơn về trách nhiệm của mình đối với chủ quyền biền – đảo
5 THUYẾT MINH TIẾN TRÌNH GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG
* Âm mưu của Trung Quốc đối với biển Đông:
Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã có âm mưu xâm chiếm biểnĐông
Vậy nguyên nhân vì sao Trung Quốc lại có ý đồ như vậy?
Thứ nhất, mục tiêu của Trung Quốc là phấn đấu đến năm 2050 vươn lên trở
thành siêu cường thế giới ngang hàng với Mỹ Do kinh tế phát triển nhanh, nguồn
tài nguyên thiên nhiên và năng lượng trong nước có hạn nên Trung Quốc đã trởthành "con rồng đói" về nguyên, nhiên liệu Đồng thời, để có thể chuyên chở,nhập khẩu nguyên nhiên liệu và xuất nhập khẩu hàng hóa, Trung Quốc ngày càng
coi trọng quyền tự do hàng hải và an toàn thương mại hàng hải
Thứ hai, từ những năm 1990, với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh
tế và vị thế của Trung Quốc trên trường quốc tế, Trung Quốc bắt đầu xây dựng vàtriển khai chiến lược biển mới, đẩy mạnh sự kiểm soát và khai thác các vùng biểngần và vươn ra các đại dương
Thứ ba, biển Đông có nguồn tài nguyên khoáng sản(đặc biệt là dầu khí)với trữ lượng lớn và nguồn tài nguyên sinh vật ( tôm, cá,… và có nhiều loài hảisản có giá trị cao như: tôm hùm, sò huyết, đồi mồi,…) vô cùng phong phú.Không những vậy biển Đông còn có vị trí đặc biệt quan trọng cả về kinh tế vàchính trị:Biển Đông là tuyến vận tải của hơn 80% hàng hóa chiến lược của khuvực Đông Bắc Á - trong đó bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, - và hơn 40 % hàng
Trang 4hóa chiến lược của hầu hết các quốc gia phương Tây Với khoảng 70% lượng dầukhí nhập khẩu đi qua biển Đông, Trung Quốc coi biển Đông là “con đường sinhmệnh” của mình
*Những hành động của Trung Quốc trên biển Đông:Số vụ việc gây hấncủa Trung Quốc với các nước láng giềng tăng gấp 3 lần so với năm 2011, mức độnghiêm trọng hơn, phạm vi mở rộng hơn và xâm phạm sâu hơn vào thềm lục địacủa các nước ở Biển Đông
Thứ nhất, Trung quốc chính thức đưa
ra yêu sách “đường lưỡi bò” vào
tháng 5/2009 bằng cách đính kèm
một bản đồ vẽ đường yêu sách này
kèm theo công hàm gửi Liên Hợp
quốc phản đối Báo cáo của Việt Nam
và Báo cáo chung Việt Nam-
Malaysia về ranh giới thềm lục địa
được vượt quá 200 hải lý tính từ
đường cơ sở, theo đó đòi hỏi chủ
quyền 2 quần đảo gọi là “Tây Sa”
(Hoàng Sa) và “Nam Sa” (Trường Sa)
và vùng đặc quyền kinh tế và thềm
lục địa riêng của 2 quần đảo này
Thứ hai, đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chủ quyền biển, giáo giục ý
thức “quốc gia đại dương”, khẳng định các yêu sách chủ quyền biển Báo chí
Trung Quốc đăng tải một cách có hệ thống các bài viết kích động dư luận, vu cáocác nước trong khu vực, đặc biệt là Việt Nam, chiếm đoạt tài nguyên biển củaTrung Quốc
Thứ ba, ráo riết tiến hành công tác xây dựng Pháp luật về biển để làm cơ
sở pháp lý triển khai chiến lược biển.
Thứ tư, ra sức tăng cường xây dựng tiềm lực quốc phòng, đặc biệt là khôngquân và hải quân (tàu sân bay, tàu ngầm, tàu khu trục tên lửa, máy bay SU 27,
SU 30, tiếp dầu trên không, tổ chức tập trận hải quân)
Thứ năm, củng cố và mở rộng các vị trí đã chiếm đóng trên hai quần đảoTrường Sa và Hoàng Sa
Trang 5+ Trung Quốc đã đặt nhiều giàn khoan dầu khí tại biển Đông Năm ngoáiTrung Quốc đã đặt hàng một giàn khoan lớn tải trọng 30.000 tấn, nhằm đưa rakhai thác ở Biển Đông năm 2016 Nam nay, vào ngày 1/5, Trung Quốc đã đưagiàn khoan Hải Dương 981 vào biển Đông gần quần đảo Hoàng Sa, thuộc vùngđặc quyền kinh tế của Việt Nam Tháng 7 Trung Quốc kéo Hải Dương 981 vềgần Hải Nam.
Tiếp đó, Nam Hải 9 (Nanhai Jiu Hao) là giàn khoan nước sâu thứ hai của Trung Quốc đưa vào sử dụng ở biển Đông vào ngày 20/6.
Giàn khoan Hải Dương 981 Giàn khoan Nam Hải 9
Không những vậy, tàu của Trung Quốc đâm va , phun vòi rồng vào tàu cácủa ngư dân hay tàu của cảnh sát biển Việt Nam
Trên không, Trung Quốc đã sử dụng nhiều lượt máy bay tuần thám, trinhsát, trực thăng bay nhiều vòng trên các tàu Việt Nam ở độ cao từ 300 - 1500 mét
để trinh sát, đe dọa, gây tâm lý căng thẳng cho lực lượng tàu Việt Nam
Tàu hải giám 2168 của Trung Quốc mở hết tốc lực truy cản
tàu Cảnh sát biển 4032 của Việt Nam
Trang 6Tàu Trung Quốc phun vòi rồng
vào tàu cảnh sát biển Việt Nam
Tàu Trung Quốc đâm va vàotàu cá của ngư dân Việt Nam
Những hành động trên của Trung Quốc đã gây ra thiệt hại không nhỏ vềngười và tài sản đối với Việt Nam
Ngư dân Việt nam
bị Trung Quốc đánh ở ngưtrường Hoàng Sa
Thứ sáu, Trung Quốc thực hiện chính sách vừa lôi kéo vừa chia rẽ các
nước ASEAN, dùng nước này ép nước kia, hạn chế vai trò và ảnh hưởng của các
nước lớn khác như Mỹ, Nhật; tập trung sức mạnh mũi nhọn sức ép vào Việt Nam
Trang 7Trước những âm mưu và hành động của Trung Quốc, Việt Nam cần cónhững hành động và chủ trương nhằm ngăn chặn Trung Quốc xâm chiếm BiểnĐông
Công ước Liên Hợp Quốc về luật biển 1982
Nội thủy
Bao phủ tất cả vùng biển và đường
thủy ở bên trong đường cơ sở (phía đất
liền) Tại đây, quốc gia ven biển được
tự do áp đặt luật, kiểm soát việc sử
dụng, và sử dụng mọi tài nguyên Các
tàu thuyền nước ngoài không có quyền
đi lại tự do trong các vùng nội thủy
Lãnh hải
Vùng nằm ngoài đường cơ sở có chiều
ngang 12 hải lý Tại đây, quốc gia ven
biển được quyền tự do đặt luật, kiểm
soát việc sử dụng, và sử dụng mọi tài
nguyên Các tàu thuyền nước ngoài
được quyền "qua lại không gây hại" mà
không cần xin phép nước chủ Đánh cá,
làm ô nhiễm, dùng vũ khí, và do thám
không được xếp vào dạng "không gây
hại" Nước chủ cũng có thể tạm thời
cấm việc "qua lại không gây hại" này
tại một số vùng trong lãnh hải của
mình khi cần bảo vệ an ninh
Vùng nước quần đảo
Công ước đưa ra định nghĩa về các
quốc gia quần đảo trong phần IV, cũng
như định nghĩa về việc các quốc gia
này có thể vẽ đường biên giới lãnh thổ
của mình như thế nào Đường cơ sở
Các vùng biển theo luật biển quốc tế
Khoảng cách của quần đảo Hoàng Sa
Về khoảng cách đất liền, quần đảo Hoàng Sa nằm gần Việt Nam nhất
Khoảng cách từ đảo Tri Tôn (15o47'N, 111o12'E) tới Lý Sơn hay Cù lao Ré (15o22'N, 109o07'E)
là 2 độ 03 phút trên thước đo khoảng cách vĩ độ, tức chỉ có 123 hải lý
Nếu lại lấy toạ độ (Lý Sơn 15o23.1'N, 109o09.0'E) từ trong bản tuyên-cáo đường cơ-sở nội-hải
Trang 8được vẽ giữa các điểm ngoài cùng nhất
của các đảo ở ngoài cùng nhất, đảm
bảo rằng các điểm này phải đủ gần
nhau một cách thích đáng Mọi vùng
nước bên trong đường cơ sở này sẽ
là vùng nước quần đảo và được coi như
là một phần của lãnh hải quốc gia đó
Vùng tiếp giáp lãnh hải
Bên ngoài giới hạn 12 hải lý của lãnh
hải là một vành đai có bề rộng 12 hải
lý, đó là vùng tiếp giáp lãnh hải Tại
đây, nước chủ có thể vẫn thực thi luật
pháp của mình đối với các hoạt động
như buôn lậu hoặc nhập cư bất hợp
pháp
Vùng đặc quyền kinh tế
Rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở
Trong vùng này, quốc gia ven biển
được hưởng độc quyền trong việc khai
thác đối với tất cả các tài nguyên thiên
nhiên Khái niệm vùng đặc quyền kinh
tế được đưa ra để ngừng các cuộc xung
đột về quyền đánh cá, tuy rằng khai
thác dầu mỏ cũng đã trở nên một vấn
đề quan trọng Trong vùng đặc quyền
kinh tế, nước ngoài có quyền tự do đi
lại bằng đường thủy và đường không,
tuân theo sự kiểm soát của quốc gia
ven biển Nước ngoài cũng có thể đặt
các đường ống ngầm và cáp ngầm
Thềm lục địa
Được định nghĩa là vành đai mở rộng
của chính-quyền CHXHCN Nam (Declaration on Baseline of Territorial waters, 12 Nov 1982) thì khoảng cách đến bờ Cù-lao Ré thu ngắn lại dưới 121 hải-lý
Việt-Từ đảo Tri-Tôn này đến Mũi
Ba Làng An (Cap Batangan 15o14'N, 108o56'E) tức đất liền lục-địa Việt-Nam, khoảng cách đo được 135 hải-lý
Trong khi đó, khoảng cách đảo gần nhất tới bờ đảo Hải Nam
xa tới 140 hải lý (đảo Hoàng Sa - 16o32N, 111o36 E và Ling-sui Pt hay Leong-soi Pt - 18o22 N, 110o03 E)
Khoảng cách từ Hoàng Sa tớiđất liền lục địa Trung Hoa còn xa hơn rất nhiều, tối thiểu là 235 hải lý
Trang 9của lãnh thổ đất cho tới mép lục địa
(continental margin), hoặc 200 hải lý
tính từ đường cơ sở, chọn lấy giá trị lớn
hơn Thềm lục địa của một quốc gia có
thể kéo ra ngoài 200 hải lý cho đến
mép tự nhiên của lục địa, nhưng không
được vượt quá 350 hải lý, không được
vượt ra ngoài đường đẳng sâu 2500m
một khoảng cách quá 100 hải lý Tại
đây, nước chủ có độc quyền khai thác
khoáng sản và các nguyên liệu không
phải sinh vật sống
Căn cứ vào Công ước Liên Hợp Quốc về luật biển năm 1982: Nội dungcông ước có một loạt điều khoản Những điều khoản quan trọng nhất quy định vềviệc thiết lập các giới hạn, giao thông đường biển, trạng thái biển đảo, và các chế
độ quá cảnh các vùng đặc quyền kinh tế quyền tài phán thềm lục địa, khai khoánglòng biển sâu, chính sách khai thác, bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoahọc, và dàn xếp các tranh chấp Từ đó có thể khẳng định chủ quyền của nước ta
về biển – đảo cho các bạn học sinh biết
Trang 10Tiếp đến là vô số những bản đồ thế giới chứng minh chủ quyền của nước
ta đối với biển Đông và 2 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa Dưới đây là một số bản đồ:
Bản đồ Asia noviter delineata do Willem Janszoom Blaeu vẽ năm 1630
Tấm bản đồ do Thủ tướng Vương quốc Hà Lan Mark Rutte tặng Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng vào ngày 29/9/2011 Bản đồ này minh chứng Hoàng Sa, Trường Sa thuộc lãnh
thổ Việt Nam.
Trong tập bản đồ Complete Atlas
của Trung Quốc xuất bản 1917, không có
bản đồ nào đề cập Tây Sa quần đảo và
Nam Sa quần đảo như cách gọi hiện nay
của Trung Quốc
“An Nam đại quốc họa đồ” của giám mục người Pháp Louis Taberd (1838) Trên bản đồ này, dọc theo khu vực duyên hải và ngoài khơi An Nam có vẽ cụm đảo với dòng chữ Paracel (Cát Vàng) và đã được vùa Gia Long sáp nhập vào lãnh thổ
An Nam từ năm 1816
Trang 11Đại Nam nhất thống toàn đồ là bản đồ được vẽ theo lệnh của vua Minh
Mạng, hoàn tất vào năm 1838 Trên bản đồ này đã thể hiện hình vẽ hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa trong lãnh hải Việt Nam, và ghi chú là Hoàng Sa và Vạn
lý Trường Sa.
Đại Nam nhất thống toàn đồ có vẽ gộp hai quần đảo Hoàng Sa và Vạn lý
Trường Sa
Theo TSKH Trần Đức Anh Sơn, lúc đầu những người đi khám phá Hoàng
Sa và Trường Sa đã nghĩ rằng hai quần đảo này là một Họ gọi tên là Bãi Cát Vàng, hayCồn Vàng, rồi gọi là Hoàng Sa Về sau thì họ tách quần đảo này thành hai phần, gọi là Hoàng Sa và Bắc Hải Kế đến họ gọi Bắc Hải là Vạn Lý Trường
Sa như trong Đại Nam nhất thống toàn đồ Sau cùng thì mới phân biệt rõ ràng là quần đảo Hoàng Savà quần đảo Trường Sa như hiện nay Điều này cũng tương tự
như cách gọi Hoàng Sa và Trường Sa của các nhà hàng hải phương Tây Lúc đầu
họ gọi chung 2 quần đảo này là Pracels hay Paracels Về sau họ mới phân biệt Pracels hay Paracels để chỉ quần đảo Hoàng Sa và Spratlys để chỉ quần đảo
Trường Sa.
Trang 12Bản đồ các nguồn năng lượng và
nguyên liệu, ấn bản đặc biệt của
Cục mỏ (Cộng hòa nhân dân
Trung Hoa) xuất bản năm 1975
cho thấy, phần lãnh thổ Trung
Quốc chỉ dừng lại ở đảo Hải
Nam.
Tấm bản đồ trong sách Khải đồng thuyết ước có vẽ Hoàng Sa Chử
được in năm 1853 dưới triều vua
Tự Đức (phần đảo Hoàng Sa được khoanh ô vuông đỏ).
“Sách Khải đồng thuyết ước là
sách giáo khoa tiểu học dưới triều Nguyễn Việc địa danh Hoàng Sa
Chử được đưa vào sách giáo khoa
để dạy cho học sinh, chứng tỏ triều Nguyễn đã coi trong việc giáo dục
ý thức chủ quyền quốc gia cho trẻ
em đương thời”
Địa danh Đại Trường Sa trong tập Cảnh Hưng Giáp Ngọ Thuận Quảng bản đồ vẽ vào năm 1774.
Trang 13Bằng chứng tiếp theo là Châu bản triều Nguyễn và Mộc bản triều Nguyễn:
Châu bản triều Nguyễn
Đây là tư liệu minh chứng đắt giá nhất, chứng cứ quan trọng, có giá trị lịch
sử và pháp lý khẳng định chủ quyền của Nhà nước ta Đây là di sản quốc gia củaViệt Nam, là nguồn tư liệu có giá trị cao nhất để khẳng định một cách trực tiếp vàmạnh mẽ chủ quyền của vương triều Nguyễn Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường
Sa, mà không có một nước thứ hai nào tham gia tranh chấp hiện nay có đượcnguồn tư liệu như thế này
Châu bản triều Nguyễn là các bản tấu, sớ của triều đình nhà Nguyễn (tính
từ năm 1802 cho đến năm 1945) đã được nhà vua “ngự phê”, “ngự lãm”
Đặc biệt, ngày 14/5/2014, tại Quảng Châu (Trung Quốc), UNESCO đã chính thức công nhận Châu bản triều Nguyễn là "Di sản tư liệu, ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương" Điều này càng làm tăng thêm tính quốc tế, tính pháp lý khi được thừa nhận là giá trị
di sản nhân loại.
Tấu của Bộ Công về việc đoàn khảo sát
Hoàng Sa do Đỗ Mậu Thưởng, Lê Trọng
Bá trở về báo cáo đã đến được 25 đảo
(trong 3 sở), còn 1 sở hơi xa lại gặp gió lớn
nên chưa tới được Đoàn mang về 4 bức
hoạ và 1 quyển nhật ký ghi chép Bản tấu
gồm 2 trang, ở quyển Minh Mệnh 68, trang
215 - 216
Tấu của Bộ Công về việc thường năm có
lệ đưa binh thuyền vãng thám xứ Hoàng
Sa thuộc hải cương nước ta để cho thuần thục đường đi Nay đã khai xuân phải bắt đầu chuẩn bị cho kỳ tới Nhưng công việc hiện rất nhiều, xin cho đình đến sang năm Châu phê “đình” Bản tấu gồm 2 trang, ở quyển Thiệu Trị 51, trang
235 - 236
Mộc bản triều Nguyễn là bản khắc gỗ chính sử của nhà Nguyễn, vua trựctiếp giao cho Quốc Sử quán soạn chính sử Bản khắc gỗ bộ Quốc sử triều Nguyễn