1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài điều kiện môn Văn hóa tộc người: Bằng hiểu biết của anh (chị) hãy nêu và phân tích những giá trị cơ bản của văn hóa tộc người

13 549 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 114,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trả lời Văn hóa tộc người là: “toàn bộ những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể do các cộng đồng tộc người sáng tạo ra trong quá trình sinh tồn và phát triển, gắn với môi trường tự n

Trang 1

BÀI ĐIỀU KIỆN MÔN: VĂN HÓA TỘC NGƯỜI

Câu hỏi: Bằng hiểu biết của anh (chị) hãy nêu và phân tích những giá trị cơ bản của văn hóa tộc người.

Trả lời

Văn hóa tộc người là: “toàn bộ những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể do các cộng đồng tộc người sáng tạo ra trong quá trình sinh tồn và phát triển, gắn với môi trường tự nhiên và xã hội; nó phản ánh những đặc điểm trong tư duy và lao động sáng tạo của các tộc người trong các giai đoạn phát triển với các thông tin về nội hàm và ngoại diên phản ánh sự vận động nội tại và trong mối quan hệ văn hóa ở cấp độ tộc người và quốc gia” – Giáo trình Dân tộc học đại cương, tập 2

Bốn giá trị cơ bản của văn hóa tộc người:

 Giá trị lịch sử

* Văn hóa tộc người là nguyên nhân và hệ quả của tiến trình lịch sử phát triển của các tộc người và tác động của lịch sử quốc gia Lịch sử các quốc gia Việt Nam

từ cổ đại đến nay là quốc gia đa thành phần tộc người Cụ thể: Vào thời kỳ Đông Sơn, do những yêu cầu về thuỷ lợi và tự vệ chống ngoại xâm, các bộ lạc sống rải rác

ở vùng Bắc Bộ và Trung Bộ đã tự nguyện liên minh với nhau Phạm vi phân bố của văn hoá Đông Sơn có 15 bộ lạc với mối quan hệ chặt chẽ do quá trình cùng chung sống, có chung một số phận lịch sử, một nhu cầu để tồn tại và phát triển, đã dần dần tạo nên cho cả cộng đồng cư dân một lối sống chung Và như vậy, từ các đơn vị cộng cư của một xã hội nguyên thuỷ bộ lạc đã hình thành các đơn vị (bộ) của một quốc gia sơ khai cùng với sự hình thành lãnh thổ chung và một tổ chức chung để quản lý và điều hành xã hội Thư tịch cổ chép lại các truyền thuyết về nước Văn Lang là nhà nước sơ khai ở nước ta, đứng đầu là vua, gọi là Hùng Vương Hùng Vương là người chỉ huy quân sự đồng thời chủ trì các nghi lễ tôn giáo Dưới Hùng Vương có các lạc hầu, lạc tướng Lạc tướng còn trực tiếp cai quản công việc của các"bộ" Nước Văn Lang có 15 bộ (trước là 15 bộ lạc) Lạc tướng (trước đó là tù trưởng) còn gọi là phụ đạo, bộ tướng Dưới bộ là các công xã nông thôn (bấy giờ có tên gọi là kẻ, chiềng, chạ) Đứng đầu kẻ, chạ, chiềng là các bồ chính Bên cạnh bồ chính có lẽ còn có một nhóm người hình thành một tổ chức có chức năng như một hội đồng công xã để tham gia điều hành công việc của công xã nông thôn, mỗi công

xã có nơi trung tâm hội họp, sinh hoạt cộng đồng, thường là một ngôi nhà công cộng Dựa vào các tài liệu và những thành tựu nghiên cứu về thời đại Hùng Vương hiện nay, có thể nói thời điểm ra đời của nước Văn Lang với tính chất là một nhà

Trang 2

nước sơ khai là vào khoảng thế kỷ VII-VI trước CN (vào giai đoạn đầu Đông Sơn, là kết quả của một quá trình hình thành, chuẩn bị các điều kiện ra đời của nhà nước về các mặt) Sự ra đời của nước Văn Lang dù còn ở hình thức sơ khai và có phần sớm với sự phân hoá xã hội chưa sâu sắc nhưng đã đánh dấu một bước phát triển có ý nghĩa thời đại của lịch sử Việt Nam - mở đầu thời đại dựng nước và giữ nước của dân tộc

* Văn hóa tộc người hàm chứa những “vỉa quặng” đa đạng của bức tranh lịch

sử tộc người (thông qua các công trình kiến trúc, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng….) Cụ thể: Kiến trúc nhà sàn của người Thái cũng có 3 mặt bằng chồng lên nhau

“Tê đa” hay còn gọi là “ thản hạnh”(trần nhà)

“Hạn cang” hay còn gọi là “chuông cang”(sàn nhà)

“Pựn lang”(nền nhà)

Theo phong tục đồng bào Thái, nửa trên của nhà dành làm chỗ thờ và chỗ ngủ của mọi thành viên trong gia đình Khách không bao giờ được đi lại qua nửa này Tính

từ bên cửa “quản” vào, gian thứ nhất là “hoỏng coóng” - gian thờ Gian này có “xau

hoóng” - nơi trú ngụ của tổ tiên ”phi hướn” – ma nhà cho nên đồng bào dành gian

này để thờ Khách tuyệt nhiên không được đến Đi từ phía “chán” vào nhà, gian đầu tiên là gian bếp chính, bếp thứ 2 thường được đặt ở gian giáp với gian ngủ của chủ nhà – gian có “xau hẹ”(cột cái) Đây là bếp dùng để đồ cơm nếp và nấu nướng thức

ăn hàng ngày,và người chủ nhà cũng tiếp khách ở quanh bếp này Trong ngôi nhà còn có khoảng sàn trống từ bếp giữa nhà đến vách đầu bên “quản” Thông thường nơi sát bếp là nơi tiếp khách.Ở đây thường đặt bộ ấm chén uống nước và ống điếu cày cổ truyền Mặt sàn khác găn liền với nhà sàn trong nhà, nằm dưới mái nhà nhưng lại ở bên ngoài cửa phía “quản” gọi là “tang quản” Chức năng của “táng quản” là chỗ ngủ của rể “quản”, là rể mới được nhận đến ở Thời gian đầu này,rể phải nằm ngủ riêng 1 mình ở ngoài “quản” Mặt bằng sinh hoạt khác gắn liền với mặt nhà sàn nhưng ở ngoài nhà và hoàn toàn nằm dưới mái nhà, gọi là “túng chán”,

là để phơi phóng lương thực và quần áo Diện tích mặt bằng dưới gầm nhà sàn ở được đồng bào tận dụng làm nơi để công cụ sản xuất (cày, bừa…),chuồng gà, chuồng ngựa

Trang 3

* Văn hóa tộc người phản ánh mối quan hệ lịch sử của các cộng đồng tộc người trong quá khứ Cụ thể: Trước đây việc thờ cúng ông bà của người Khmer diễn ra tại các chùa, ngày nay (cũng như người Kinh,

Hoa) họ lập bàn thờ trong nhà Trên bàn thờ thường để chân nhang cho mỗi người, đôi khi còn có tờ giấy đỏ kẻ chữ Hoa Bàn thờ Phật của người Khmer cũng đặt ngay chính giữa nhà giống người Ho chứ không nhất thiết ohải quay về hướng mặt trời Tục cúng thầy Pháp của người Kinh cũng khá giống tín ngưỡng Arak của người Khmer Hay ở Quảng Nam - Đà Nẵng có nhiều miếu Bà Trong tín ngưỡng thờ Bà của nhân dân Quảng Nam Đà nẵng ngày nay hẳn đã có sự pha trộn của các tín ngưỡng dân gian khác nhau bao gồm các tín nguỡng dân gian lâu đời tại chỗ lẫn các tín ngưỡng do cư dân từ phía bắc mang vào, và những biến thể hiện đại đa dạng Sự pha trộn và phát sinh mới xảy ra thường xuyên trong quá trình lịch sử cho nên khó

có thể phân tích dấu vết các tầng lớp văn hoá khác nhau trong từng hiện tượng Một trường hợp điển hình là việc thờ Thiên Y A Na Vị thần này đã được các vua Việt

Nam phong thần, được thờ cúng ở nhiều nơi và được nhắc đến trong nhiều văn tế ở

các lễ cúng Việc thờ cúng Thiên Y A Na có nhiều yếu tố tương tự tục thờ Mẫu ở các tỉnh phía Bắc, có xen lẫn với hiện tượng cầu đồng, hát chầu văn… và đối với người bình dân, ít ai nghĩ đây là một vị thần có nguồn gốc Chămpa ở các miếu Bà, mặc dù bên trong miếu có thờ một tượng thần Chămpa, nhưng các truyền thuyết đi kèm thường miêu tả như là nhân thần Việt Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định các

dân tộc đều là anh em, phải đoàn kết để xây dựng, bảo vệ đất nước: "Đồng bào Kinh

hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xơ Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt Chúng ta sống chết

có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau" “Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta Vậy nên tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta” - Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 4

 Giá trị phản ánh trình độ phát triển kinh tế-xã hội

* Văn hóa tộc người phản ánh những loại hình kinh tế - văn hóa đa dạng theo vùng miền, tộc người…Cụ thể: Loại hình kinh tế nông nghiệp của người Hmông và Khmer

Sản xuất nông

nghiệp

Tuy có một số ít ruộng nước, nhưng nguồn sống chính của người Hmông vẫn là nương

Người Khmer từ xa xưa đã trồng lúa nước và có kinh nghiệm trong việc canh tác lúa nước Đồng bào phân

Trang 4

rẫy Có hai loại nương:

nương định canh (thổ canh) và nương du canh là chủ yếu Trên ruộng nương ngoài ngô lúa là cây trồng chính còn có mạch, ý dĩ, khoai, rau, lạc, đậu, vừng…, lanh là cây trồng phổ biến để dệt vải Các cây đặc sản và cây ăn quả cũng phát triển

biệt nhiều loại ruộng đất gieo- trồng và các giống lúa, biện pháp kỹ thuật thích hợp cho từng loại đất: Loại ruộng

gò (xrê tuôl), loại ruộng thấp (xrê tumniếp), loại ruộng rộc (xrê lattô), loại ruộng lúa nồi (xrê lơn tưk), loại ruộng vùng bưng trũng (xrê chơmrơn)

* Văn hóa tộc người phản ánh những cấp độ khác nhau về tổ chức xã hội Cụ thể:

Tổ chức xã hội (thiết

chế gia đình, làng

bản…)

Toàn bộ xã hội Êđê được phân thành những đơn vị cơ sở gọi là buôn, tương ứng với khái niệm về làng của người Việt

Dưới buôn có khi có những đơn vị nhỏ hơn

gọi là ahi(như xóm)

nhưng về mặt kinh

tế-xã hội và văn hóa thì

nó chỉ là những bộ phận hữu cơ của buôn Hợp thành buôn

là những gia đình lớn(thường là gia đình lớn mẫu hệ)

Gia đình nhỏ phụ hệ, những người phụ nữ vẫn được tôn trọng

Trong mỗi dòng họ lại chia ra làm nhiều tông tộc nhỏ gồm từ 3-5 đời, những gia đình cùng tông tộc thường chỉ tập trung trong một bản làng, cùng

thờ dùy khế và có

chung một bộ trống đồng, người tộc trưởng được gọi là

Thầu Chư.

Trang 5

* Văn hóa tộc người phản ánh trình độ duy kỹ thuật (thủ công) sự thích ứng với môi trường sống Cụ thể: Về phương diện kinh tế ngay trong phương thức sản xuất nương rẫy các yếu tố hợp lý như xen canh gối vụ, hưu canh được giữ lại Nền kinh tế trồng trọt, tự cung tự cấp chuyển dần lên thành nền kinh tế sản xuất hàng hóa, các ngành nghề thủ công truyền thống như rèn ở người Hmông, dệt thổ cẩm ở người Thái, in hoa ở người Dao…được cải tiến công cụ sản xuất thích ứng với nền kinh tế thị trường Về văn hóa xã hội những giá trị truyền thống như gia phả, tộc phả, tục kết chạ, hội đồng môn, tinh thần cộng đồng làng bản, dòng họ… khắc phục tính địa phương, có thể mở rộng thành các mối quan hệ của xã hội mới Trong lễ hội văn hóa dân gian thì sự loại trừ các yếu tố tôn giáo, mê tín cùng những nghi thức tiến hành mang đậm tư tưởng phong kiến là bước đệm để tiến hành bồi dưỡng tính cộng đồng, tinh thần yêu nước, yêu lao động Với tín ngưỡng dân gian như tục thờ Mẫu gắn liền với nền nông nghiệp, gắn vai trò của người phụ nữ trong sản xuất và trong đời sống gia đình xã hội mà vang bóng của nó còn đọng lại trong quan niệm dân gian về bà mẹ lúa, hồn lúa…góp phần tích cực phản ánh tính nhân ái, bình đẳng và công bằng trong xã hội

 Giá trị phản ánh mối quan hệ tộc người

* Văn hóa tộc người phản ánh quan hệ tộc người trong pham vi địa phương và văn hóa vùng Cụ thể: Trong lịch sử lâu dài của dân tộc Việt Nam, các dân tộc thiểu

số luôn được đánh giá cao vai trò và vị trí quan trọng của mình Địa bàn mà đồng bào sinh sống là một bộ phận đất đai dân cư gắn liền máu thịt với lãnh thổ, cộng đồng quốc gia dân tộc Đại gia đình các dân tộc Việt Nam đã trải qua thử thách qua trường kỳ lịch sử chứng minh đúng đắn truyền thống đoàn kết, chiến đấu bảo vệ vùng đất sinh sống Dải đất rộng lớn về phía Tây Nghệ An là địa bàn sinh tụ các dân tộc thiểu số bao gồm phần lớn các cư dân thuộc nhóm ngôn ngữ khác nhau, có trình

độ kỹ thuật canh tác chênh lệch nhau rất lớn và vì thế mà mức độ khác nhau về đặc trưng văn hóa cũng không nhỏ Ai cũng hiểu rằng trong cùng một hoàn cảnh tự nhiên, sản phẩm do con người làm ra thường mang những yếu tố chung về mọi mặt

Sự khác biệt trong văn hóa của các cư dân các dân tộc trong vùng chủ yếu là do tộc người để lại Các dân tộc thiểu số ở Nghệ An từ những dân tộc có thể là cư dân bản địa đến những dân tộc mới di cư đến vùng đất này trong vòng một vài trăm năm nay đều coi miền núi Nghệ An là quê hương của mình Miền núi cao Nghệ An với bao tiềm năng to lớn đã và đang được khai thác cải tạo, qua bao biến động của lịch sử luôn luôn là nơi các dân tộc trong vùng gắn bó với thiên nhiên trong vùng, gắn bó

Trang 6

với nhau trong quá trình lao động và bảo vệ quê hương đã tạo nên những truyền thống tốt đẹp trong việc bảo vệ trong lành nguồn môi sinh sinh tồn, trong quan hệ dân tộc, trong sản xuất và đời sống hàng ngày Vùng đất liền khoảnh của miền núi Nghệ An cả về tự nhiên, cả về dân cư đối với miền núi Lào, tỉnh Thanh Hoá và phía Nam là Hà Tĩnh trong lịch sử, trong bản đồ học là không địa danh hành chính Vì thế khi những quan hệ dân tộc ngày càng cởi mở, khi gia thông, thông tin ngày càng được nâng cao thì nhu cầu giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc của khu vực càng trở nên cấp bách Việc giới thiệu dân tộc thiểu số ở Nghệ An hay chính về văn hóa tộc người là điều cần làm sớm trong tương lai để sao cho khi trình

độ dân trí của đồng bào càng được nâng cao, nhu cầu hiểu mình càng được đáp ứng

và thỏa mãn, nhu cầu hiểu biết và tiếp xúc giữa các dân tộc cũng như du khách từ nơi khác đến diễn ra với nhịp độ cao và làm phong phú thêm nền văn hóa khu vực Trên lĩnh vực văn hóa dân tộc, quá trình tiếp biến văn hóa đang diễn ra mãnh liệt Có một cộng đồng trên 80 triệu người nói ngôn ngữ Thái ở Đông Nam á, Nam Trung Quốc và ấn Độ Có một quan hệ về giao lưu kinh tế, văn hóa của đồng bào người Hmông trong khu vực Đông Nam Trung Quốc, ấn Độ và Đông Dương qua quan hệ ngôn ngữ và dòng họ Có một cộng đồng Khơ mú hàng chục vạn người đang cư trú

ở Lào, Miến Điện, Thái Lan Ngày nay vấn đề dân tộc không chỉ là quốc gia chính trị Vấn đề đã trở thành mỗi quan tâm khu vực hay toàn cầu Miền núi Nghệ An với những thành phần dân tộc đa dạng càng thêm quan hệ tác động nhiều chiều bởi vị trí địa lý, chất lượng dân cư và những yếu tố kinh tế, xã hội khác…

* Văn hóa tộc người phản mối quan hệ tộc người qua hệ thống nhóm ngôn ngữ, hệ ngôn ngữ…Cụ thể: Ngữ hệ Hán - Tạng bao gồm hai nhóm ngôn ngữ là nhóm Hán và Tạng - Miến Nhóm Tạng - Miến thì gồm có 6 dân tộc: Hà Nhì, La Hủ, Phu Lá, Cống, Lô Lô và Si La, cư trú chủ yếu ở Tây Bắc là nhóm các dân tộc di cư

từ Nam Trung Quốc sang Việt Nam cách đây khá lâu Nhóm thứ hai của ngữ hệ này

là nhóm Hán gồm có 3 dân tộc: Hoa, Sán Dìu và Ngái Dân tộc Hoa di cư vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc nhưng chủ yếu từ thế kỷXVII, XVIII tập trung đông ở các thành phố phía Nam Dân tộc Ngái, Sán Dìu di cư đến miền núi Đông Bắc, Việt Bắc cách đây hơn 3 thế kỷ

* Văn hóa tộc người phản ánh mối quan hệ tộc người qua các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể Cụ thể: Văn hóa ẩm thực người Tày (một biểu hiện của giá trị văn hóa vật thể), người Tày ăn ngày hai bữa chính có thể có bữa phụ vào buổi sáng sớm Ở đại đa số các vùng Tày đồng bào ăn gạo tẻ là chính, nếp thường dùng làm bánh hay đồ xôi Trong những ngày giáp hạt, ngô là lương thực quan trọng.Ngô được xay nhỏ nấu cháo bột hoặc giã nhỏ nấu lẫn với cơm hoặc cháo Thức ăn

Trang 7

thường hay xào nấu, bên cạnh đó ở một số vùng đồng bào ưa thức ăn nướng trên than hồng hay gói lá vùi tro nóng Ở Cao Lạng đàn ông hút thuốc lá, còn ở những nơi khác hút thuốc lào, phụ nữ ăn trầu Theo truyền thống khách tới nhà thì được đồng bào tiếp đón chu đáo Tháng 9 mùa cốm, nhà nhà hái lúa nếp non, thanh niên

tụ tập giã cốm Ăn cốm với đường phên, đường cát, đỗ, bột quả hồng khô, với thịt băm nhỏ rang thơm Có nhà còn làm cốm ép, cốm bánh với sự khéo léo riêng để bánh vẫn xanh màu lúa thơm mùi cốm Cùng với chế biến các món ăn từ lương thực, người tày còn chế biến các món ăn từ thịt cá hay măng Những món ăn dân dã như thịt xào gừng nghệ, thịt lợn hầm nhừ với lá móc mật, cá hầm quả trám trắng hay bát canh rau ngót rừng rất được đồng bào ưa thích Những người Tày có nghệ thuật ẩm thực sành sỏi đã liệt kê các món khoái khẩu

Thức uống thông dụng là nước sôi để nguội Nhiều khi đi làm xa nhà phải uống nước lã ở các vùng khe suối Trong gia đình, người Tày đều uồng nước chè Mùa đông có người dùng lá cây đầu ho đun uống vừa thơm lại vừa phòng chống ho Rượu thường được dùng trong lễ tết,cưới xin, tiếp khách, ngâm tẩm để uống sau buổi làm việc mệt nhọc Nam giới ưa dùng rượu có nồng độ cao Nữ giới ít uống rượu hoặc uống nước rượu chưa cất, rượu nếp Theo truyền thống khách tới nhà được đón tiếp chu đáo

Lễ hội Lồng Tồng của người Tày (một biểu hiện của giá trị văn hóa phi vật thể), thường gọi là hội xuống đồng được xem là hoạt động tín ngưỡng cầu trời cho mưa thuận gió hòa, cây cối tốt tươi, mùa màng bội thu, đời sống ấm no Nơi tổ chức tại những ruộng tốt nhất, to nhất Thời gian tổ chức tùy theo từng nơi, ấn định cho phù hợp với địa hình Các địa phương gần nhau thì có thể thỏa thuận chọn ngày khác nhau để có điều kiện giao lưu, trao đổi Trước ngày hội, các gia đình đều quét dọn nhà cửa, xóm bản sạch sẽ, chuẩn bị lương thực để đón khách Vào ngày lễ xuống đồng, ngoài đồng của bản, mỗi gia đình chuẩn bị một mâm cỗ theo khả năng Mang hàm ý phô bày sự khéo léo của người phụ nữ trong việc nội trợ, nấu nướng các món

ăn truyền thống nhưbánh chưng, bánh dày, chè lam, bánh bỏng Trên mỗi mâm đều

có một chiếc bánh hình bông hoa nhiều mầu sắc Mỗi mâm cỗ còn có thêm hai đôi quả còn được làm bằng vải mầu, trong nhồi cát, bông, có tua rua nhiều mầu sắc sặc

sỡ Lễ khấn cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt được thực hiện do các thầy tào tiến hành Ðể chuẩn bị cho hội tung còn, ở giữa đám ruộng lớn được chọn làm địa điểm lễ hội, người ta dựng một cây mai cao từ 20-30cm làm cột Trên đỉnh cột

có uốn vòng tròn đường kính 50 - 60 cm dán giấy hai bên, đề chữ Nhật- Nguyệt tượng trưng cho mặt trăng và mặt trời Tung còn đòi hỏi cả sức khỏe và sự khéo léo Nếu ở lễ hội nào không có ai tung còn trúng vòng tròn thì dân bản không vui, vì theo

Trang 8

quan niệm của họ, phải có người tung còn trúng vòng tròn làm rách giấy thì năm đó làm ăn mới thuận lợi, mưa thuận gió hòa Trong trò chơi này, nam nữ thanh niên còn thi tung còn cho nhau Ngoài ra ở từng vùng còn có thêm những hoạt động khác như: Rước cờ, múa rối, chọi gà, đánh đu, kéo co, đẩy gậy, hát then… Đêm về, nam

nữ thanh niên thi, hát lượn đối đáp suốt canh đà Lễ hội Lồng Tồng là sinh hoạt cộng đồng đặc sắc, chứa đựng nhiều giá trị nhân văn, nghệ thuật, nơi tôn vinh văn hóa, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của người Tày mong ước được mùa, khỏe mạnh, vạn vật sinh sôi nảy nở trong năm mới

* Văn hóa tộc người phản ánh mối quan hệ tộc người trong phạm vi quốc gia

Cụ thể: Theo truyền thuyết, nguồn gốc dân tộc Hrê gắn núi Cao Muôn (huyện Ba tơ)

và núi Mum (huyện Minh Long) Tiếng Hrê thuộc nhóm ngôn ngữ Môn- Khơme và thuộc ngành ngôn ngữ Bahnaric trong khu vực bắc Tây Nguyên Tỷ lệ từ chung khá cao bên cạnh một số biểu hiện tương đồng giữa tiếng Ba Na và Xơ Đăng Đặc biệt, trong cộng đồng người Hrê còn lưu truyền văn tự cổ nhất, là “văn tự thắt gút” bằng

các gút mây buộc thắt (để đếm) Hay nhắc đến không gian văn hóa Cồng chiêng Tây

Nguyên là chúng ta thấy ngay mối quan hệ của các tộc người nơi đây, đó là mối quan hệ của tộc người Đắk Lắc, Đắk Nông …với những giá trị văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể, lễ hội truyền thống làm phong phú bản sắc tộc người nói riêng, văn hóa Việt nói chung

* Văn hóa tộc người phản ánh mối quan hệ tộc người trên phạm vi quốc tế Cụ thể: Quá trình di trú của một số tộc người ở Việt Nam vốn có nguồn gốc từ các quốc gia láng giềng Nhóm ngôn ngữ Kađai với 4 dân tộc: Cờ Lao, La Chí, Pu Péo, La Ha

di cư từ nam Trung Quốc đến Việt Nam cách đây vài ba thế kỷ phân bố chủ yếu ở biên giới Việt Trung Nhóm ngôn ngữ Tày – Thái gồm 8 dân tộc: Tày, Thái, Nùng, Sán Chay, Giấy, Lào, Lự, Bố Y phân bố chủ yếu ở miền núi Việt Bắc, Tây Bắc và miền núi Thanh - Nghệ Phần lớn các dân tộc này từ nam Trung Quốc và Lào di cư sang từ sau thiên niên kỷ thứ I cho đến cách đây không lâu

 Giá trị phản ánh bản sắc, cá tính tộc người

* Bản sắc, cá tính tộc người phản ánh qua các giá trị văn hóa vật thể Cụ thể: người Dao

+ Nhà cửa: Người Dao thường sống ở vùng lưng chừng núi hầu khắp các tỉnh miền núi phía Bắc Tuy nhiên một số nhóm Dao như Dao Quần trắng song ở thung lũng, Dao Đỏ ở núi cao Thôn xóm phần nhiều phân tán, rải rác năm bảy nóc nhà Nhà của người Dao rất khác nhau , tuỳ nơi họ ở nhà sàn, nhà trệt hay nhà nửa sàn nửa đất Kiến trúc nhà người Dao cũng rất phong phú Loại nhà nửa sàn nửa đất là loại nhà

Trang 9

của riêng người Dao, gắn liền với cuộc sống du canh du cư trước đây Toàn bộ nhà đều làm bằng tranh tre nứa lá, 8 cột cái trong nhà đều làm bằng những cây gỗ quý + Trang phục: Nam mặc quần áo, trước đây đàn ông để tóc dài, búi sau gáy, xung quanh cạo nhẵn Các nhóm Dao có cách đội khăn khác nhau Áo có 2 loại áo ngắn

và áo dài Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài, yếm, váy, quần áo ngắn hoặc dài và đầu đội khăn Y phục rất sặc sỡ, hiện vẫn giữ được những nét truyền thống với những hoa văn truyền thống Họ không thêu theo mẫu vẽ sẵn mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình nổi lên ở mặt phải Cách in hoa văn trên vải bằng sáp ong của người Dao rất độc đáo

+ Phương tiện vận chuyển: Người Dao ở vùng cao quen dung địu có hai quai đeo vai, vùng thấp gánh bằng đôi đậu Túi vải hay túi lưới đeo vai rất được ưa dùng + Ẩm thực: Trước đây đồng bào còn thiếu thốn nên thức ăn chỉ thường là măng và rau ít khi có thịt cá Mặc dù có nuôi nhiều gà, lợn nhưng chỉ dung làm lễ cúng hoặc các dịp tang ma, cưới xin…Người Dao để dành thịt bằng cách phơi khô hay sấy khói, đặc biệt là món thịt ướp chua có thể để lâu hang chục năm vẫn tốt Gia vị có:

ớt, gừng, lá xả, riềng, hạt dổi, các thứ rau thơm Người Dao hay uống rượu Nước uống hang ngày có chè, nước vối, nước lá rừng có tác dụng như 1 vị thuốc bổ Người Dao cũng hút thuốc lá, thuốc lào, ăn trầu

* Bản sắc, cá tính tộc người phản ánh qua các giá trị văn hóa phi vật thể Cụ thể:

+ Tôn giáo tín ngưỡng: Người Dao có khá nhiều tín ngưỡng tôn giáo có quan hệ đến nông nghiệp Thường trong khâu sản xuất người ta phải chọn ngày tốt, giờ tốt rất kĩ lưỡng Lễ cúng thóc giống, lễ cúng nương, lễ cúng vào dịp lập thu, lễ cúng cơm mới

là những lễ cúng riêng của từng gia đình Các lễ cúng chung cho xóm: cầu mưa, bản phương địa chủ Người Dao cũng thờ cúng tổ tiên như các dân tộc khác Bàn thờ tổ tiên được xem là nơi tôn nghiêm nhất trong nhà Đồng bào quan niệm rằng không phải lúc nào tổ tiên cũng ngự tại bàn thờ mà nơi chủ yếu là “ dương châu đại điện”,

tổ tiên thường về thăm con cháu ngày mùng 1 và ngày rằm hang tháng Thờ cúng Bàn Vương- thuỷ tổ của người Dao

+ Lễ cấp sắc: là một tục lệ phổ biến của người Dao, tất cả những người đàn ông Dao đều phải trải qua lễ này(từ 10 tuổi trở lên), cấp sắc là điều bắt buộc Không được cấp sắc thì không được làm thầy cúng, có cấp sắc mới được các thần thánh công nhận và cấp âm binh, mới có quyền thờ cúng tổ tiên, khi chết mới được về với tổ tiên, mới được xã hội coi là người lớn

+ Ngôn ngữ: Họ không có văn tự riêng mà sử dụng chữ Hán đã được Dao hoá gọi là chữ Nôm Dao

Trang 10

+ Văn nghệ: Người Dao có một số truyện thơ được ghi lại thành sách bằng chữ Hán còn phổ biến là truyện kể miệng: Hai chị em, yêu tinh, chàng Sùng Siêng…Họ có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú Đặc biệt là truyện Quả bầu và nạn hồng thuỷ,

sự tích Bàn Vương Múa, nhạc được họ sử dụng trong các nghi lễ tôn giáo

+ Tổ chức xã hội: Trong thôn xóm tồn tại chủ yếu là quan hệ xóm giềng, quan hệ

dòng họ Người Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là họ Bàn, Đặng, Triệu Các dòng

họ, chi họ có gia phả riêng và có hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người và các thế hệ khác nhau

+ Phong tục tập quán cưới xin: Trai gái muốn được lấy nhau phải xem tuổi, bói chân

gà xem có hợp tuổi không Có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gảitước khi vào nhà Lúc đón dâu, cô dâu được cõng khỏi nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai

+ Ma chay: Thầy Tào có vị trí quản trong trong việc ma và làm chay Nhà có người chết con cháu đến nhà thầy mời về làm chủ trì các nghi lễ, tìm đất đào huyệt Người

ta kiêng khâm niệm người chết vào giờ sinh của những người trong gia đình Người chết được khâm niệm trong quan tài để trong nhà hay chỉ bó chiếu ra đến huyệt rồi mới cho vào quan tài Mộ được đắp đất, xếp đá xung quanh, ở một số nơi có tục hoả tang cho những người chết từ 12 tuổi trở lên Lễ làm chay cho người chết được làm sau nhiều năm thường được kết hợp với lễ cấp sắc của một người đàn ông nào đó sống trong gia đình

+ Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ ngồi, đẻ ngay trong buồng ngủ Trẻ sơ sinh được tắm bằng nước nóng Nhà có người ở cữ người ta treo cành lá xanh hay hoa chuối trước cửa để làm dấu không cho người lạ vào nhà vì sợ vía độc ảnh hưởng tới sức khoẻ của đứa trẻ Trẻ sơ sinh được 3 ngày thì làm lễ cúng mụ

+ Nhà mới: Muốn làm nhà phải xem tuổi những người trong gia đình, nhất là tuổi chủ gia đình Nghi lễ chọn đất được coi là quan trọng nhất, buổi tối người ta đào một

hố to bằng miệng bát, xếp một số hạt gạo tượng trưng cho người, trâu bò, tiền bạc, thóc lúa, tài sản rồi úp bát lên Dựa vào mộng báo đêm đó mà biết điềm xấu hay tốt Sáng hôm sau ra xem hố, các hạt gạo vẫn giữ nguyên vị trí là làm nhà được

* Bản sắc, cá tính tộc người phản ánh qua các giá trị văn hóa vùng, địa phương (vật thể, phi vật thể, môi trường…) Cụ thể: Nhiều tộc người trên đất nước Việt Nam có tập quán truyền thống canh tác nương rẫy Lối canh tác này tạo năng suất thấp, phá hoại môi trường, dẫn đến lối sống không ổn định (du canh du cư), là nguồn gốc của sự đói nghèo và lạc hậu Vấn đề thích ứng trong văn hóa mưu sinh là phải kế thừa những nhân tố tiến bộ của hệ canh tác này như xen canh gối vụ, luân canh, phát triển lên trình độ của sản xuất, canh tác cao hơn, vừa bảo vệ tái tạo môi

Ngày đăng: 07/01/2017, 22:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w