1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phương thức đào tạo theo tín chỉ hiện nay, giải pháp

6 233 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 97,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nguyên lý cơ bản của việc đào tạo theo học chế tín chỉ Để có thể ứng dụng một cách hiệu quả hình thức đào tạo này vào giáo dục, ta cần hiểu rõ và thoả mãn đầy đủ những nguyên lý cơ b

Trang 1

Thực trạng học tập, nghiên cứu của sinh viên trong phương

thức đào tạo theo tín chỉ hiện nay

và giải pháp đặt ra.

Hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ lần đầu tiên được áp dụng trên thế giới

là vào năm 1872 tại trường đại học Harvard (Mỹ) sau đó lan rộng ra khắp thế giới Ở Việt Nam, đào tạo theo học chế tín chỉ đến nay được áp dụng ở nhiều trường đại học Trước 1975, một số trường ĐH ở miền Nam đã áp dụng học chế TC như: Viện ĐH Cần Thơ (nay là ĐH Cần Thơ), Viện ĐH Thủ Đức… Ngày 02/11/2005, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP về đổi mới

cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 Từ đó đến nay hình thức đào tạo này được triển khai rộng rãi đến nhiều trường đại học, cao đẳng trên cả nước

Bài viết này gồm 3 phần:

- Phần 1 đề cập đến các nguyên lý của đào tạo theo học chế tín chỉ

- Phần 2 đề cập đến ưu nhược điểm của hệ thống này

- Phần 3 đề cập đến thực trạng và giả pháp ở Học Viện Tài Chính nói chung và khoa Tài Chính Công nói riêng

1 Các nguyên lý cơ bản của việc đào tạo theo học chế tín chỉ

Để có thể ứng dụng một cách hiệu quả hình thức đào tạo này vào giáo dục,

ta cần hiểu rõ và thoả mãn đầy đủ những nguyên lý cơ bản sau :

Nguyên lý dân chủ hoá

Đào tạo theo hệ thống tín chỉ ra đời để đáp ứng nhiều mục tiêu, trong đó có

sự thay đổi về quan niệm giáo dục Từ quan niệm một nền giáo dục dựa trên quyền lực theo đó người học chỉ có nhiệm vụ là phục tùng, là chấp nhận vô điều kiện chương trình mà cơ sở đào tạo quy định và nội dung mà người dạy truyền đạt, đến quan niệm dân chủ trong giáo dục Dân chủ trong giáo dục được thể hiện bằng các nỗ lực sau đây:

• Quan tâm đến điều kiện của người học: quan niệm giáo dục dành cho tập thể (cả lớp học chung nội dung như nhau) nhường bước cho sư phạm cá thể hoá,

ở đó, người học được tạo nhiều điều kiện thích hợp để phát triển

• Quan tâm đến nhu cầu và sở thích của người học: người học ngày càng có nhiều “tiếng nói” trong suốt quá trình đào tạo của họ: chẳng những họ có

Trang 2

quyền chọn lựa ngành nghề, mà họ còn có quyền thiết kế lộ trình đào tạo, nội dung đào tạo của chính họ, cũng như quyền tham gia xây dựng và tích luỹ kiến thức trong chừng mực cho phép

Quan niệm giáo dục lấy người học làm trung tâm chính là biểu hiện tập trung nhất của việc trao quyền dân chủ cho người học càng ngày càng nhiều hơn

Nguyên lý đại chúng hoá giáo dục đại học (còn gọi là xã hội hoá)

Đại chúng hoá giáo dục đại học được xem là biện pháp tối ưu trong nền kinh

tế tri thức và toàn cầu hoá, nhằm cung cấp cho xã hội nguồn nhân lực ngày càng có hàm lượng tri thức cao và nâng cao trình độ dân trí Vì thế đại chúng hoá giáo dục đại học cũng chính là biện pháp hữu hiệu để thực hiện phương châm “học tập suốt đời” mà các nền giáo dục của các nước tiên tiến đang theo đuổi

Đại chúng hoá giáo dục đại học được thể hiện qua việc:

• Tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho nhiều người có thể tiếp cận với nền giáo dục đại học, bằng cách mở rộng cửa đón tiếp họ khi họ có điều kiện học đại học, bất kể tuổi tác,

• Xây dựng quy chế đào tạo đáp ứng được quỹ thời gian dành cho học tập của người học,

• Quy chế tốt nghiệp dựa trên số tín chỉ mà họ tích luỹ được, chứ không

gò bó ở khung thời gian cứng nhắc

Nguyên lý này sẽ tạo ra một sự năng động ngày càng lớn trong xã hội Nó sẽ giúp cho mọi công dân có nhiều cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp của mình

Nguyên lý dạy học tích cực

Các nhà tư tưởng theo thuyết Tiến bộ cho rằng chân lý là tương đối, và giáo dục là nhằm giúp người học không ngừng tìm kiếm chân lý Vì thế, dạy học

là hướng dẫn người học nắm bắt phương pháp khoa học

Đó chính là nền tảng của nguyên lý dạy học tích cực ngày nay

( Theo PGS-TS Trần Thanh Ái ,“Đào tạo theo hệ thống tín chỉ: các nguyên lý, thực trạng

và giải pháp”)

Trang 3

2 Đặc điểm của học chế tín chỉ

Từ những nguyên lý cơ bản của phương thức đào tạo này mà ta có thể thấy những thế mạnh mà nó có thể mang lại như:

• Sinh viên tùy theo khả năng học tập của mình có thể quyết định số tín chỉ mà mình có thể hoàn thành trong một học kỳ Như vậy, sinh viên giỏi có thể rút ngắn thời gian học tập, không nhất thiết phải 4 hoặc 5 năm như đào tạo niên chế trước đây

• Thời lượng lên lớp giảm mạnh, giúp cho sinh viên còn nhiều thời gian tự học, tự nghiên cứu Đây là điều cần thiết nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo của người học, mặc dù trong thực tế chỉ mới có một thiểu số được hưởng lợi thế này Việc giảm thời lượng lên lớp còn giúp khắc phục một phần tình trạng giảng viên phải làm việc quá tải không cần thiết

• Đạt hiệu quả cao về mặt quản lý và giảm giá thành đào tạo Kết quả học tập của inh viên được tính theo từng học phần chứ không phải theo năm học Do

đó, việc hỏng một HP nào đó không cản trở quá trình học tiếp tục, SV không

bị buộc phải quay lại học từ đầu

Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một vài hạn chế như: cắt vụn kiến

thức, khó tạo sự gắn kết cho sinh viên

3 Thực trạng và giải pháp

Học viện Tài Chính bắt đầu áp dụng phương thức đào tạo theo tín chỉ từ năm 2008 Sau 6 năm áp dụng ở Học viện Tài Chính, giảng viên và sinh viên đã cơ bản làm quen với phương thức đào tạo mới này

Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân chúng ta vẫn chưa thể áp dụng được một cách hoàn thiện Vì vậy đến nay vẫn còn những thực trạng cần khắc phục Thực trạng 1 : Đào tạo theo hệ thống tín chỉ đòi hỏi sinh viên phải có kỹ

năng tự học và tự nghiên cứu Vì vậy không ít sinh viên gặp nhiều khó khăn, hoặc cảm thấy mất phương hướng ở những năm đầu do không còn sự kiểm soát chặt chẽ của người dạy như thời học phổ thông

Sinh viên còn xa lạ với việc tự hoạch định nội dung học tập và quản lý quá trình tự học của mình Nhiều sinh viên sử dụng không đúng mục đích thời gian tự học đã được thiết kế trong chương trình Các đơn vị đào tạo các cấp chưa có biện pháp để kiểm tra đánh giá việc tự học và tự nghiên cứu, nên thời lượng dành cho tự học và tự nghiên cứu của sinh viên vô hình trung trở thành giờ làm việc riêng tư như đi làm thêm hoặc học thêm bằng 2, thậm chí không loại trừ những trường hợp xấu khác…

Giải pháp:

Trang 4

• Tăng cường việc hướng dẫn phương pháp nghiên cứu khoa học cho tất cả sinh viên từ những năm đầu đại học Không chỉ có giảng viên hướng dẫn, Học viện và các khoa có thể khuyến khích sinh viên xuất sắc khoá trên

hướng dẫn sinh viên năm nhất Đây là điều mà sinh viên, đoàn sinh viên của trường ta hiện nay chưa làm được

Cần có thêm công cụ đánh giá việc tự học và tự nghiên cứu của sinh viên Cụ thể là có các bài tập nhóm,các buổi thuyết trình, bài tập nghiên cứu ở nhà… Giảng viên có thể tuyển các sinh viên năm cuối làm trợ lý trong việc chấm bài , quản lý và hướng dẫn sinh viên tự nghiên cứu.

• Ngoài ra việc tự học tự nghiên cứu của sinh viên hiện nay còn gặp một vài khó khăn do không có đề cương môn học rõ ràng Sinh viên sẽ khó có thể hình dung về môn học trước khi lên lớp Giải pháp đặt ra là chúng ta nên xây dựng một hệ thống email hoặc tích hợp thêm chức năng thông báo vào trang thông tin của sinh viên nhằm phục vụ cho vấn đề này

- Trước kì học, một thông báo sẽ được gửi đến mỗi sinh viên Qua đó sinh viên sẽ nắm được các thông tin về giảng viên và đề cương môn học Đề cương môn học do khoa và bộ môn đó quy định nêu rõ học theo sách nào, học những chương nào, những tiết nào bắt buộc, những tiết nào tùy chọn, mỗi chương và mỗi tiết chiếm thời lượng xấp xỉ bao nhiêu…và đề cương cũng bao gồm quy định riêng của giảng viên đó

- Ngoài ra giảng viên thông báo địa chỉ trang web cá nhân, nơi sinh viên nhận bài tập và những lời dặn mỗi tuần, thông báo thời gian nhận

và trả bài tập về nhà hàng tuần Nhờ việc nắm bắt thông tin nhanh hơn

sẽ giúp sinh viên chủ động tích cực hơn trong việc học

Thực trạng 2: Sinh viên không tích cực trong việc nghiên cứu khoa học và

chất lượng nghiên cứu còn chưa thực sự cao Có thể thấy nguyên nhân chính của tình trạng này là:

• Sinh viên ngày nay nhìn nhận trình độ học vấn quy định cho 1 văn bằng như

là sự tích luỹ các tín chỉ hơn là học tập vì mục tiêu cuối cùng của nó

• Thời gian học môn học ngắn, thời lượng 2 – 3 tín chỉ thì cả người dạy và người học đều phải chạy đua với thời gian Sinh viên thường học 4 – 5 môn học trong một đợt, 8 – 10 môn học/một học kỳ Điều này dẫn đến việc sinh viên “ngại” tham gia nghiên cứu khoa học do lịch thi dày đặc

• Học chế tín chỉ dựa trên nền tảng các học phần (khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, thuận tiện cho sinh viên tích luỹ trong quá trình học tập và được kết cấu riêng như một phần của môn học hoặc được kết cấu dưới dạng

tổ hợp từ nhiều môn học) được lắp ghép linh hoạt với nhau nên nếu không xây dựng và rà soát một cách khoa học sẽ dẫn đến sự cắt vụn kiến thức Điều

Trang 5

này khiến cho sinh viên khó có cái nhìn tổng quan và liên kết giữa các môn học Do đó sinh viên thiếu nền tảng đề viết nghiên cứu khoa học, chủ yếu học chỉ để thi

• Sinh viên không được hướng dẫn cụ thể về phương pháp viết nghiên cứu khoa học

Giải pháp:

• Xây dựng các môn học có số tín chỉ lớn, thời gian học cả kỳ và thay đổi phương thức kiểm tra đánh giá không nên quá tập trung trọng số vào cuối

kỳ

• Tăng cường hướng dẫn và khuyến khích sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học hơn nữa Không chỉ với những sinh viên tham gia viết bài, giảng viên cần kết hợp hướng dẫn tất cả sinh viên cách thức viết bài khoa học, các chuẩn mực của bài viết khoa học như thế nào

Thực trạng 3: Ở khoa Tài chính công, do đặc điểm là có ít sinh viên nên việc

đăng kí tín chỉ mang nặng tính hình thức Các môn học là cố định và sinh viên không có điều kiện lựa chọn các ôn học mà mình muốn tham gia Có thể thấy ở khoa Tài chính công, phương thức đào tạo theo tín chỉ hiện tại vẫn

có sự “lai” với phương thức đào tạo theo niên chế trước đây Ở những khoa

có số lượng sinh viên lớn, sinh viên sẽ có nhiều lựa chọn đăng kí môn học hơn nhưng vẫn phải theo một lịch trình học cố định và lại gặp nhiều khó khăn trong việc đăng kí Thực trạng này cho thấy chúng ta đã không sử dụng được hết những ưu điểm của phương thức đào tạo này và làm mất đi bản chất vốn có của nó

Nguyên nhân của thực trạng này là do cơ sở vật chất và quản lý hành chính chưa đáp ứng đủ yêu cầu Số lượng phòng học còn ít không đáp ứng được nếu tổ chức nhiều môn học cho sinh viên lựa chọn Ngoài ra quản lý hành chính vẫn chưa đủ mạnh để quản lý sinh viên nếu tổ chức theo đúng phương pháp này như ở một số quốc gia phát triển

Ví dụ như ở Mỹ sinh viên có quyền đăng ký môn với thời gian học phù hợp: Số sinh viên không vượt quá 40 hoặc 50 người và nếu đăng ký muộn thì không được xếp vào lớp mong muốn Họ có quyền học thử vài buổi và có thể xin đổi lớp hoặc xin thôi học mà vẫn hoàn lại tiền học phí Tóm lại, trong đào tạo theo tín chỉ, không có khái niệm hai sinh viên học cùng một lớp, chỉ

có hai sinh viên học cùng một môn học Tức là không giống như ở trường ta hiện nay vẫn còn tồn tại lớp niên chế bên cạnh lớp tín chỉ và khi đã học cùng lớp tín chỉ nghĩa là các sinh viên đó vẫn sẽ học cùng với nhau 8-10 môn suốt

cả học kỳ Ở Mỹ trong một kỳ các sinh viên có thể học những môn khác

Trang 6

nhau ở trong những lớp hoàn toàn khác nhau Vì vậy mà các khái niệm lớp trưởng và giáo viên chủ nhiệm cũng do đó mà trở nên vô nghĩa

Giải pháp:

• Đầu tư thêm vào hệ thống phần mềm quản lý đào tạo

• Xây dựng hệ thống cố vấn học tập đầy đủ hơn để tư vấn cho sinh viên lựa chọn và tự thiết kế cho mình một quy trình học tập phù hợp

• Phải mềm hoá các thủ tục quản lý học vụ, sao cho người học được có lợi nhất, thuận tiện nhất Cách tổ chức quản lý phải khoa học, chặt chẽ năng lực quản lý phải đủ giỏi để giải quyết mọi tình huống đa dạng do nhu cầu học tập phát sinh Để thực hiện được điều đó, cần phải đơn giản hoá các thủ tục hành chính, phải phân cấp quản lý sao cho không gây phiền hà cho người học và hơn thế nữa, khích lệ việc học tập của sinh viên

• Về cơ sở vật chất: đào tạo theo hệ thống tín chỉ phát sinh nhu cầu về trang thiết bị như phòng học, máy móc, tài liệu nghiên cứu, chỗ ngồi trong thư viện… rất lớn Vì thế cần từng bước nâng cao chất lượng cơ sở

Kết luận

Thực hiện đào tạo theo học chế tín chỉ là một yêu cầu của đổi mới giáo dục theo hướng hiện đại hóa nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực của đất nước và đuổi kịp trình độ tiên tiến của thế giới Chất lượng và tiện ích của đào tạo theo tín chỉ so với đào tạo theo niên chế là điều

đã được khẳng định qua quá trình đào tạo nhiều năm ở các trường đại học uy tín trên thế giới

Để thực hiện việc đào tạo theo học chế tín chỉ với chất lượng ngày càng nâng cao, chúng ta cần phải thẳng thắn nhìn nhận những yếu kém bất cập hiện nay và có một chiến lược phát triển đúng đắn để tạo ra một bước

chuyển biến căn bản

Tài liệu tham khảo:

- Bài viết “Đào tạo đại học theo học chế tín chỉ - Những vấn đề đặt ra” TS.Nghiêm Thị Thà đăng trên http://hvtc.edu.vn/

- Tham luận của PGS-TS Trần Thanh Ái tại Hội nghị toàn quốc tổ chức tại Đại học Sài Gòn, 5/2010 Bài “Đào tạo theo hệ thống tín chỉ: các nguyên lý, thực trạng và giải pháp” đăng trên http://khoahocviet.info/

Ngày đăng: 07/01/2017, 18:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w