1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Vũ điệu với Người khổng lồ TRUNG QUỐC, ẤN ĐỘ, VÀ NỀN KINH TẾ TOÀN CẦU

300 465 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 300
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với một số nước, chủ yếu ở Châu Á, những áp lực này vượt qua lợi ích kinh tế của thị trường lớn và hàng nhập khẩu rẻ từ những Người khổng lồ; và do đó tăng trưởng của những nước này

Trang 1

TRUNG QUỐC, ẤN ĐỘ, VÀ NỀN KINH TẾ TOÀN CẦU

C H Ủ B I Ê N

L Alan Winters và Shahid Yusuf

(sách tham khảo)

Trang 3

Vũ điệu với Người khổng lồ

Trung Quốc, Ấn Độ, và Nền Kinh Tế Toàn Cầu

Chủ biên

L Alan Winters và Shahid Yusuf

Ấn phẩm chung của Ngân hàng Thế giới và Viện Nghiên cứu chính sách (Singapore)

Trang 4

1 2 3 4 5 11 10 09 08 07

Tài liệu này là sản phẩm của nhân viên Ngân hàng Quốc tế cho Tái thiết và Phát triển / Ngân hàng Thế giới Kết quả, suy luận, kết luận trong tài liệu không nhất thiết phản ánh quan điểm của các Giám đốc Điều hành của Ngân hàng Thế giới hay của các chính phủ mà họ đại diện Ngân hàng Thế giới không đảm bảo sự chính xác của số liệu trong tài liệu này Đường biên giới, màu sắc, tên gọi và các thông tin khác trong các bản đồ của tài liệu này không mang hàm ý thể hiện sự đánh giá nào của Ngân hàng Thế giới về tính pháp lý về lãnh thổ hoặc sự chấp nhận chính thức về những đường biên đó

Bản quyền và Cấp phép

Tài liệu trong ấn bản này đã đăng ký bản quyền In lại và/hoặc chuyển một phần của tài liệu trong ấn bản này không xin phép sẽ vi phạm pháp luật có liên quan Ngân hàng Quốc tế cho Tái thiết và Phát triển / Ngân hàng Thế giới khuyến khích sử dụng ấn phẩm này và thường cho phép sử dụng lại một phần của ấn bản này

Để xin phép photo hoặc in lại bất kỳ phần nào trong cuốn sách này, gửi yêu cầu với thông tin đầy đủ đến Copyright Clearance Center Inc., 222 Rosewood Drive, Danvers, MA 01923, USA; điện thoại: 978-750-8400; fax: 978-750-4470; Internet: www.copyright.com.

Tất cả các yêu cầu khác về quyền và giấy phép, kể cả quyền phụ, gửi về: Office of the Publisher, The Ngân hàng Thế giới, 1818 H Street NW, Washington, DC 20433, USA; fax: 202-522-2422; e-mail: pubrights@worldbank org

Đăng ký RCB số: 198704059K

Đã xin đăng ký dữ liệu tại Thư viện Quốc hội Mỹ.

Bìa: Rock Creek Creative, Bethesda, Maryland, Hoa Kỳ.

Viện Nghiên cứu Chính sách (IPS) là cơ quan nghiên cứu nhằm khuyến khích quản lý điều hành tốt ở Singapore thông qua nghiên cứu và thảo luận chính sách chiến lược Viện tập trung vào phát triển nội địa

và quan hệ quốc tế của Singapore Viện áp dụng phương pháp tiếp cận đa ngành trong phân tích, nhấn mạnh vào tư duy chiến lược lâu dài IPS bắt đầu hoạt động năm 1988 Các hoạt động chính là các dự án nghiên cứu, hội thảo và ấn phẩm

giả và xã hội dân sự

Truyền thông: Truyền thông về kết quả nghiên cứu rộng rãi hơn tới cộng đồng và tạo ra nhận thức w

cao hơn về các vấn đề chính sách.

Trang 5

L Alan Winters và Shahid Yusuf

công nghiệp toàn cầu

Shahid Yusuf, Kaoru Nabeshima, và Dwight H Perkins

Betina Dimaranan, Elena IanchoviTrung Quốc, và Will Martin

Philip R Lane và Sergio L Schmukler

toàn cầu do tăng trưởng của những Người khổng lồ

Zmarak Shalizi

không đều ở Trung Quốc và Ấn Độ

Shubham Chaudhuri và Martin Ravallion

Philip Keefer

Trang 6

Hình 3.1 Xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ phi nhân tố đóng góp cho GDP 74

Hình 4.2 Hòa nhập tài chính quốc tế: Tổng tài sản và nợ nước ngoài 114

Hình 5.1 Sử dụng năng lượng cơ bản là than và tổng số khí thải CO2 từ 147

sử dụng năng lượng hóa thạch, Trung Quốc và Ấn Độ, 1980–2003

Hình 5.2 So sánh chất lượng không khí, một số thành phố trên thế giới, 2000 149

giá dầu thế giới, Kịch bản BAU và BAU-H

Hình 5.6 Mức độ năng lượng khí thải phân tách trong trường hợp tiêu dùng 171

năng lượng thành phẩm

Ấn Độ (1993–99)

Hình 6.6 Tỉ lệ tăng trưởng tại cấp địa phương so với tỉ lệ nghèo ban đầu 202

Bảng

Trang 7

Bảng 2.3 Hộ gia đình có những mặt hàng tiêu dùng bền chất lượng 40

cao ở Trung Quốc, 2004

xuất khẩu, Trung Quốc và Ấn Độ

doanh ở Trung Quốc, theo ngành công nghiệp, 2004

Phân loại Kinh tế rộng, 1992 và 2004

Bảng 3.2 25 mặt hàng xuất khẩu đứng đầu của Trung Quốc và Ấn Độ, 2004 79Bảng 3.3 Tác động của hòa nhập với nền kinh tế thế giới của Ấn Độ, 2020 83

tăng trưởng toàn cầu, 2005–20

Bảng 3.6 Phúc lợi và thay đổi thương mại do kết quả của tăng trưởng 91

toàn cầu 2005–20

Bảng 3.7 Tác động của tăng trưởng và chất lượng được xuất khẩu cải thiện 92

ở Trung Quốc và Ấn Độ, so với cơ sở, 2020

chất lượng xuất khẩu được cải thiện ở Trung Quốc và Ấn Độ,

so với cơ sở, 2020

Bảng 3.9 Tác động công nghiệp của tăng trưởng sản lượng ngành được cải 100

thiện ở Trung Quốc và Ấn Độ, so với cơ sở, 2020

so với cơ sở, 2020

Bảng 5.2 Thay đổi mật độ năng lượng ở Trung Quốc, Ấn Độ, và Hoa Kỳ 143Bảng 5.3 Tỉ trọng ngành và nhiên liệu trong tiêu thụ năng lượng ở 163

Trung Quốc và Ấn Độ

Bảng 5.4 Tóm tắt các Kịch bản ALT có liên quan tới BAU cho Trung Quốc 169

và Ấn Độ, 2005–50

Bảng 6.2 Xóa đói giảm nghèo và kết cấu tăng trưởng đô thị - nông thôn 193

Trang 9

Lời nói đầu

Hầu như không ngày nào qua đi mà không có bài viết, chương trình truyền hình, hay câu chuyện trên Internet về nền kinh tế Trung Quốc và Ấn Độ tăng trưởng như thế nào trong nền kinh tế thế giới Có rất nhiều lý do vì sao công chúng quan tâm nhiều đến như vậy Chưa bao giờ lại có những nền kinh tế lớn như vậy – với tổng số dân là 2,3 tỉ người – lại tăng trưởng nhanh và liên tục Tăng trưởng GDP ở Trung Quốc là 9,1% trong cả thập kỉ qua, và con số trung bình của Ấn Độ là 6,1% Một số người lo rằng liệu Trung Quốc và Ấn Độ có chiếm lĩnh nền kinh tế thế giới? Liệu họ có dùng hết nguồn lực khan hiếm của

cả thế giới? Liệu họ có làm giảm mức lương ở đâu đó? Những người khác thì

tò mò: Liệu Trung Quốc và Ấn Độ có thể giữ mức tăng trưởng ấn tượng đó không, đặc biệt là với những yếu tố rủi ro (khu vực tài chính của Trung Quốc

và nợ công của Ấn Độ là ví dụ rõ nhất)? Những người khác thì muốn học hỏi:

Vì cả Trung Quốc và Ấn Độ đều không theo những mô hình phát triển “chính thống”, làm thế nào những nền kinh tế này làm được như vậy, và liệu có bài học gì cho các nước đang phát triển khác không?

Trước sự quan tâm của công chúng, giới truyền thông khi đưa tin về Trung Quốc và Ấn Độ dường như nhấn mạnh vào khía cạnh con người - những câu chuyện so sánh công nhân ở Trung Quốc với lập trình viên ở Ấn Độ, hoặc phỏng vấn các nhà đầu tư so sánh triển vọng của hai nước, hoặc những hình ảnh thế giới phát triển ở Thượng hải và Mumbai với cảnh nghèo đói ở nông thôn Trung Quốc và Ấn Độ

Vũ điệu với Người khổng lồ xem xét câu chuyện từ một khía cạnh khác Nó

xem xét sự tăng trưởng của Trung Quốc và Ấn Độ một cách không thiên vị

và nghiêm túc, và đưa ra một số câu hỏi khó về sự tăng trưởng này: Xảy ra ở đâu? Ai được hưởng lợi nhiều nhất? Có bền vững không? Và ảnh hưởng của

nó đối với thế giới là gì? Bằng việc áp dụng những công cụ phân tích và dữ liệu

có sẵn, cuốn sách này đưa ra những câu trả lời sâu sắc hơn những câu chuyện trên các bản tin Ví dụ như quyển sách cho thấy dù có quy mô tương đương nhau, hai Người khổng lồ không giống nhau – vai trò của Trung Quốc trong nền kinh tế toàn cầu lớn hơn nhiều so với Ấn Độ, với hàm ý quan trọng hơn đối với nhiều nước

Vũ điệu với Người khổng lồ xem xét liệu tăng trưởng của những Người

Trang 10

khổng lồ này có bị ảnh hưởng bởi yếu kém trong quản lý điều hành, bất bình đẳng gia tăng, và sức ép môi trường, và kết luận rằng điều này không nhất thiết xảy ra Tuy nhiên, cuốn sách gợi ý rằng chính quyền Trung Quốc và Ấn Độ đang gặp phải những thử thách quan trọng trong việc giữ môi trường đầu tư của họ thuận lợi, bất bình đẳng ở mức không làm ảnh hưởng đến tăng trưởng,

và chất lượng không khí và nước ở mức chấp nhận được Những vấn đề này ảnh hưởng đến những Người khổng lồ như thế nào có thể có ích cho những nhà lập chính sách ở nước khác Ví dụ như mặc dù khác nhau về cấu trúc và truyền thống quản lý, cả hai nước đều có sự kiềm chế quyền lực hành pháp hiệu quả, và điều này đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng

Vũ điệu với Người khổng lồ cũng xem xét đến mối quan hệ tương tác giữa

Trung Quốc và Ấn Độ và hệ thống thương mại và tài chính toàn cầu và ảnh hưởng của chúng lên các yếu tố toàn cầu, đặc biệt là khí hậu Xem xét ảnh hưởng của họ lên các tình huống kinh tế khác nhau và vận mệnh của các nước khác, các chương trong cuốn sách chỉ ra rằng:

Tăng trưởng và thương mại tạo ra cơ hội cho các nước thu lợi kinh

tế Tuy nhiên, nhiều nước gặp phải sức ép chuyển đổi về sản xuất, đặc biệt là những nước có hàng xuất khẩu bị cạnh tranh và đặc biệt là nếu tiến bộ về công nghệ của những Người khổng lồ hướng đến cải thiện hàng xuất khẩu Đối với một số nước, chủ yếu ở Châu Á, những áp lực này vượt qua lợi ích kinh tế của thị trường lớn và hàng nhập khẩu rẻ

từ những Người khổng lồ; và do đó tăng trưởng của những nước này trong vòng 15 năm tới sẽ bị chậm lại chút ít

Những Người khổng lồ sẽ tiếp tục đóng góp vào việc tăng giá hàng

tăng trưởng kinh tế không đi kèm với các biện pháp cải thiện hiệu quả

sử dụng năng lượng Hiện tại là thời cơ có một không hai để có thể cải thiện hiệu quả sử dụng một cách mạnh mẽ nếu các chương trình đầu

tư hiện tại và trong tương lai có đi kèm những tiêu chuẩn phù hợp Bên cạnh đó, làm như vậy cũng không quá tốn kém hoặc làm giảm tăng trưởng nhiều

Trang 11

Từ vị trí thấp của họ hiện tại, những Người khổng lồ sẽ mạnh lên

thành những tác nhân mạnh trong hệ thống tài chính thế giới khi họ phát triển và tự do hóa hơn Tỉ lệ tích tụ tài sản dự trữ sẽ chậm lại, và sức ép tăng trưởng sẽ khuyến khích Trung Quốc giảm thặng dư tài khoản vãng lai như hiện nay

Là sự hợp tác giữa bộ phận nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới ở khu vực Đông Á và Nam Á và Viện nghiên cứu Chính sách của Singapore, ấn phẩm này là sự đóng góp quan trọng vào chiến dịch toàn cầu chống nghèo đói Với khoảng một phần ba người nghèo trên thế giới sống ở Trung Quốc và Ấn

Độ, hoạt động của các nước này sẽ đóng vai trò quan trọng trọng việc xóa đói nghèo toàn cầu Hơn nữa, việc hàng trăm triệu người Trung Quốc và Ấn Độ

đã thoát khỏi nghèo đói cho thấy một tia hy vọng cho toàn thế giới Vũ điệu với

Người khổng lồ đưa ra những kiến thức để biến hy vọng đó thành sự thực.

Trang 12

Cộng tác viên

Shubham Chaudhuri là Chuyên gia kinh tế cao cấp, Vụ Giảm nghèo và Quản

lý Kinh tế (PREM), Khu vực Đông Á Thái Bình Dương, Ngân hàng Thế giới

Betina Dimaranan là Nhà nghiên cứu kinh tế, Trung tâm phân tích Thương

mại thế giới, Trường Đại học Purdue

Elena Ianchovichina là Chuyên gia kinh tế cao cấp, Vụ Chính sách Kinh tế và

Nợ, Nhóm PREM, Ngân hàng Thế giới

Philip Keefer là Chuyên gia kinh tế trưởng, Nhóm Nghiên cứu Phát triển,

Ngân hàng Thế giới

Philip R Lane là Giáo sư Kinh tế Vĩ mô và Giám đốc Viện nghiên cứu hội

nhập quốc tế, Trường Đại học Trinity

Will Martin là Chuyên gia kinh tế trưởng, Nhóm Nghiên cứu Phát triển, Ngân

hàng Thế giới

Kaoru Nabeshima là Chuyên gia kinh tế, Nhóm Nghiên cứu Phát triển, Ngân

hàng Thế giới

Dwight Perkins là Giáo sư Nghiên cứu Kinh tế Chính trị Harold Hitchings

Burbank, Đại học Harvard

Martin Ravallion là Quản lý Nghiên cứu cao cấp, Nhóm Nghiên cứu Phát

triển, Ngân hàng Thế giới

Sergio L Schmukler là Chuyên gia kinh tế cao cấp, Nhóm Nghiên cứu Phát

triển, Ngân hàng Thế giới

Zmarak Shalizi là Quản lý Nghiên cứu cao cấp, Nhóm Nghiên cứu Phát triển,

Ngân hàng Thế giới

L Alan Winters là Giám đốc Nghiên cứu cao cấp, Nhóm Nghiên cứu Phát

triển, Ngân hàng Thế giới

Shahid Yusuf là Cố vấn kinh tế, Nhóm Nghiên cứu Phát triển, Ngân hàng Thế

giới

Trang 13

Lời cảm ơn

Cuốn sách này là sản phẩm của một dự án giữa các khu vực Đông Á, Nam Á và

bộ phận Kinh tế Phát triển của Ngân hàng Thế giới, và Viện Nghiên cứu Chính sách Singapore (IPS) Đây được coi là một phần tài liệu của Hội nghị thường niên Ngân hàng Thế giới tổ chức vào tháng 9 năm 2006 tại Singapore với chủ

đề “Châu Á trong Thế giới: Thế giới của Châu Á” Dự án do L Alan Winters (Giám đốc Nhóm nghiên cứu Phát triển) chủ trì cùng với sự tham gia tư vấn của Arun Mahizhnan (Phó Giám đốc IPS), Shantayanan Devarajan (Chuyên gia Kinh tế trưởng khu vực Nam Á), Homi Kharas (Chuyên gia Kinh tế trưởng khu vực Khu vực Đông Á Thái Bình Dương) và Shahid Yusuf (Cố vấn kinh tế, Nhóm nghiên cứu Phát triển) của Ngân hàng Thế giới

Mỗi chương đều có sự đóng góp của nhiều học giả, bao gồm bài viết của Chong-En Bai, Richard N Cooper, Renaud Crassous, Betina Dimaranan, Joseph P H Fan, Masahisa Fujita, Vincent Gitz, Nobuaki Hamaguchi, Meriem Hamdi-Cherif, Jean-Charles Hourcade, Jiang Kejun, Louis Kuijs, Philip Lane, David D Li, Sandrine Mathy, Taye Mengistae, Deepak Mishra, Devashish Mitra, Randall Morck, Victor Nee, Deunden Nikomborirak, Gregory W Noble, Xu Nuo, Sonja Opper, Ila Patnaik, Dwight H Perkins, Olivier Sassi, Ajay Shah, T N Srinivasan, Shane Streifel, Beyza Ural, Susan Whiting, Steven

I Wilkinson, Lixin Colin Xu, Bernard Y Yeung, và Min Zhao Chúng tôi biết

ơn những tác giả trên Phần lớn các bài viết này đều có trên trang web của Vũ điệu với Người khổng lồ (http://econ.worldbank.org/dancingwithgiants).Chúng tôi thu được nhiều ý kiến qua thảo luận với tác giả của các bài viết, tác giả của các chương, và nhiều học giả trên thế giới, đặc biệt là Suman Bery, Richard N Cooper, Yasheng Huang, và T N Srinivasan, là những người đã xem lại toàn bộ bản in, là Shantayanan Devarajan, Shahrokh Fardoust, Bert Hoffman, và Homi Kharas, đã đưa ra những nhận xét nội bộ về toàn bộ cuốn sách; và Richard Baldwin, Priya Basu, Maureen Cropper, David Dollar, Subir Gokarn, Takatoshi Ito, Henry Jacoby, Kapil Kapoor, Faruk Khan, Laura Kodres, Aart Kraay, Louis Kuijs, Franck Lecocq, Jong-Wha Lee, Jeff Lewis, Assar Lindbeck, Simon Long, Guonan Ma, Robert McCauley, Tom Rawski, Mark Sundberg, và Hans Timmer, mỗi người đã đọc một phần bản in Audrey

Trang 14

Kitson-Walters đã hỗ trợ hậu cần một cách tuyệt vời, và Trinidad Angeles và Andrea Wong đã hỗ trợ về ngân sách

Susan Graham, Patricia Katayama, Nancy Lammers, Santiago Pombo, và Nora Ridolfi đã hướng dẫn việc in ấn, và Christine Cotting đã hiệu đính Chúng tôi biết ơn họ

Các chương của cuốn sách đã được thảo luận tại những địa điểm và sự kiện sau: Văn phòng Ngân hàng Thế giới tại Trung Quốc; “Trung Quốc và Châu Á đang lên: Sắp xếp lại nền kinh tế toàn cầu,” Trụ sở chính của Ngân hàng Thế giới; “Hội nhập mạnh hơn của Trung Quốc và Ấn Độ vào hệ thống tài chính toàn cầu” Hội đồng Nghiên cứu Quan hệ Kinh tế Quốc tế Ấn Độ (ICRIER)

- Hội thảo của Ngân hàng Thế giới và “Vũ điệu với Người khổng lồ,” ICRIER;

“Hội thảo về Lưu vực Thái Bình Dương” 2006 của Trung tâm Nghiên cứu Lưu vực Thái Bình Dương (Ngân hàng Dự trữ San Francisco); “Mạng lưới sản xuất

và Đặc điểm thương mại và đầu tư thay đổi: Kinh tế đang lên của Trung Quốc

và Ấn Độ và ảnh hưởng lên Châu Á và Singapore,” Hội thảo của Đại học Quốc gia Singapore SCAPE–IPS–Ngân hàng Thế giới; “Ngẫm lại Cơ sở hạ tầng cho Phát triển,” Hội thảo thường niên của Ngân hàng Thế giới về Kinh tế Phát triển (Tokyo, Tháng 5, 2006); và Hội thảo “Voi và Rồng” (Thượng Hải, tháng 7, 2006) Chúng tôi biết ơn tất cả các đại biểu vì những ý kiến quý báu của họ Những thiếu sót còn lại trong cuốn sách này không phải là do những người nêu trên

Trang 15

Tài liệu cơ sở

Bai, Chong-En “Hệ thống Tài chính trong nước và Dòng vốn: Trung Quốc.”Cooper, Richard N “Lao động Trung Quốc và Ấn Độ hội nhập với Nền kinh

tế thế giới như thế nào?”

Crassous, Renaud, Jean-Charles Hourcade, Olivier Sassi, Vincent Gitz, Sandrine Mathy, và Meriem Hamdi-Cherif “IMACLIM-R: Mô hình cho các vấn đề phát triển bền vững”

Fan, Joseph P H., Randall Morck, Lixin Colin Xu, và Bernard Yeung “Liệu

‘Quản lý Điều hành tốt’ có đem lại nhiều nguồn vốn nước ngoài? Giải thích nguồn FDI đặc biệt lớn vào Trung Quốc.”

Fujita, Masahisa, và Nobuaki Hamaguchi “Thời đại của Trung Quốc cộng một:Quan điểm của Nhật bản về Mạng lưới sản xuất Đông Á.”

Kuijs, Louis “Trung Quốc trong tương lai: Là nước tiết kiệm hay nước đi vay?”

Lane, Philip “Bảng cân đối tài sản quốc tế của Trung Quốc và Ấn Độ.”

Li, David D “Đầu tư lớn nội địa không có môi giới và Khả năng của chính phủ: Thử thách đối với Cải tổ ngành tài chính Trung Quốc.”

Mengistae, Taye, Lixin Colin Xu, và Bernard Yeung “Trung Quốc và Ấn Độ: Cái nhìn kinh tế vi mô đối với Hoạt động kinh tế vĩ mô so sánh.”

Mishra, Deepak “Tài chính cho Tăng trưởng nhanh của Ấn Độ và ảnh hưởng của nó đối với kinh tế toàn cầu.”

Mitra, Devashish, và Beyza Ural “Ngành sản xuất của Ấn Độ: Chậm chạp trong nền kinh tế phát triển nhanh chóng.”

Nee, Victor, và Sonja Opper “Chủ nghĩa tư bản chính trị hóa của Trung Quốc.”

Nikomborirak, Deunden “Nghiên cứu so sánh về vai trò của ngành dịch vụ trong phát triển kinh tế của Trung Quốc và Ấn Độ.”

Noble, Gregory W “Ngành công nghiệp ô tô nổi lên ở Trung Quốc và Ấn Độn

và ảnh hưởng lên các nước đang phát triển khác.”

Patnaik, Ila, và Ajay Shah “Tác động giữa Dòng vốn vào và Hệ thống tài chính nội địa Ấn Độ.”

Streifel, Shane “Ảnh hưởng của Trung Quốc và Ấn Độ lên thị trường hàng hóa toàn cầu: Tập trung vào Sắt, Khoáng sản và dầu.”

Trang 16

Srinivasan, T N “Trung Quốc, Ấn Độ, và nền kinh tế thế giới.”

Whiting, Susan H “Tăng trưởng, Quản lý Điều hành, và Thể chế: Thể chế nội địa của Đảng-Nhà nước ở Trung Quốc.”

Wilkinson, Steven I “Chính trị của Chi tiêu cơ sở hạ tầng ở Ấn Độ.”

Zhao, Min “Tự do hóa ngoại quốc và sự phát triển của hệ thống hối đoái Trung Quốc: Phương pháp tiếp cận theo kinh nghiệm thực tiễn.”

Trang 17

BAU-H Kịch bản bình thường với biến số tăng trưởng cao

BERI Thông tin Rủi ro Môi trường Kinh doanh

CGE Điểm bão hòa có thể tính được

CO2 carbon dioxide

CPC Đảng Cộng sản Trung Quốc

EFTA Hiệp hội Thương mại Tự do Châu Âu

EU25 25 nước thành viên Liên minh Châu Âu

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FYP Kế hoạch năm năm

GDP Tổng sản phẩm quốc nội

GE Công ty General Electric

GIC Đường cong tăng trưởng

GTAP Dự án Phân tích thương mại Toàn cầu

GtC Tỉ tấn carbon

HIC Nước thu nhập cao

HS Hệ thống hài hòa

ICRG Hướng dẫn Rủi ro ở các nước khác nhau trên thế giới

IEA Cơ quan Năng lượng Quốc tế

IIT Viện Công nghệ Ấn Độ

IMF Quỹ Tiền tệ Quốc tế

IT Công nghệ thông tin

LCD Màn hình tinh thể lỏng

LIC Nước thu nhập thấp

mbd Triệu thùng một ngày

MFA Hiệp định bông vải sợi

MIC Nước thu nhập trung bình

MNC Tập đoàn đa quốc gia

Mtoe Quy đổi ra một triệu tấn dầu

NA Tài khoản quốc gia

Trang 18

NBS Cơ quan Thống kê Quốc gia

OPEC Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa

PC Máy tính cá nhân

PPP Đồng giá sức mua

R&D Nghiên cứu và phát triển

SITC Phân loại thương mại quốc tế tiêu chuẩnTFP Tổng sản lượng có tính đến mọi yếu tốTVE Doanh nghiệp ở thị trấn và làng

USEIA Cơ quan thông tin năng lượng MỹWHO Tổ chức Y tế Thế giới

WTO Tổ chức Thương mại Thế giới

Tất cả đồng đô la là đô la Mỹ nếu không có chỉ dẫn khác.

Trang 19

Trung Quốc và Ấn Độ có ít nhất hai đặc điểm giống nhau: dân số đông và kinh

tế phát triển nhanh trong mười năm qua Trung Quốc chiếm gần 5% và Ấn

Độ 2% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) toàn cầu theo tỉ giá hối đoái hiện hành Quá trình tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc kể từ năm 1978 là sự kiện “gây ngạc nhiên” nhất đối với nền kinh tế thế giới, và nếu so sánh mức tăng trưởng của hai nước này trong thời gian gần đây với nửa thế kỉ qua, chúng ta thấy rằng Trung Quốc và Ấn Độ - những Người khổng lồ - là những nền kinh tế lớn nhất thế giới Nguồn nhân lực dồi dào với kĩ năng ngày càng cao chính là tiềm năng sản xuất lớn lao nếu Trung Quốc tiếp tục hoặc Ấn Độ bắt đầu đầu tư lớn vào công nghệ và tiếp nhận công nghệ mới Các nước thu nhập thấp tự hỏi liệu còn

có chỗ nào cho họ ở những bậc thang dưới cùng trong nấc thang công nghiệp hóa không, khi mà các nước có thu nhập cao và trung bình đang lo ngại những thế mạnh của mình trong những ngành có tính kỹ thuật phức tạp đang dần mất đi Tất cả các nước đều thừa nhận châu Á đang tăng trưởng mạnh tạo ra nhu cầu lớn về hàng hóa sơ cấp và cả các sản phẩm và dịch vụ đặc biệt, các sản phẩm đầu vào và máy móc công nghiệp Đồng thời, các nước cũng đang chờ đợi xem thị trường nào sẽ tăng trưởng và tăng trưởng bao nhiêu Hơn nữa, sự phát triển của những nền kinh tế khổng lồ này sẽ ảnh hưởng không chỉ thị trường hàng hóa mà cả dòng chảy tiết kiệm, đầu tư, và thậm chí của con người trên thế giới, và sẽ tạo ra nhu cầu lớn đối với môi trường thế giới, đặt biệt là biển và hàng không

Cuốn sách này không thể trả lời hết những câu hỏi trên, nhưng nó bao gồm sáu chương về những khía cạnh phát triển quan trọng của những Người

Mở đầu

Vũ điệu với Người khổng lồ

L Alan Winters và Shahid Yusuf

Trang 20

khổng lồ và điều này sẽ hỗ trợ việc nghiên cứu những khía cạnh đó Mục đích chính của cuốn sách nhằm phân tích một số ảnh hưởng mà sự phát triển của những Người khổng lồ có thể gây ra cho nền kinh tế thế giới và các nước khác, dựa trên những nghiên cứu ngày càng tăng và tài liệu mới liên quan đến Trung Quốc và Ấn Độ: đồng thời bàn về cách thức làm thế nào để “khiêu vũ” cùng người khổng lồ mà không bị họ dẫm lên chân mình.1 Ba chương trong cuốn sách tập trung vào quan hệ của những Người khổng lồ với các nước khác (thông qua khả năng công nghiệp, thương mại quốc tế và hệ thống tài chính quốc tế ngày càng phát triển), hai chương đánh giá những khó khăn ảnh hưởng tới sự phát triển của người Khổng lồ, và một chương phân tích những khó khăn trong nước và từ góc độ toàn cầu (về năng lượng và khí thải)

Lý do đằng sau những phân tích này rất đơn giản Trung Quốc và Ấn Độ chiếm tới 37,5% tổng dân số thế giới và 6,4% tổng giá trị sản phẩm và thu nhập thế giới với mức giá hiện hành;2 với thu nhập bình quân đầu người và mức tiêu thụ ngang với các nước phát triển hiện nay - một tiêu chuẩn mà cả hai Người khổng lồ đều hướng tới - thì những ảnh hưởng lên trị trường và môi trường thế giới là không thể tránh khỏi Chúng tôi tự hỏi liệu mức tăng trưởng kinh

tế liên tục sẽ tiếp tục tới năm 2020 hay không và sự phát triển như vậy có ảnh hưởng gì lên các nước khác Câu hỏi sau được phân tích chủ yếu dựa trên ảnh hưởng của những Người khổng lồ lên thị trường, hệ thống và môi trường toàn cầu chứ không dựa trên mối quan hệ song phương của các nước ngày Ảnh hưởng tới các nước riêng lẻ chủ yếu liên quan đến bản chất trong quan hệ của những nước này trong các hệ thống nói trên.3

Tất nhiên, những Người khổng lồ không phát triển đơn độc - trên thực tế họ mới chỉ đóng góp một phần nhỏ trong sự tăng trưởng của thế giới - vì vậy “ảnh hưởng từ tăng trưởng của những Người khổng lồ” muốn nói tới điều gì? Trong hai chương phân tích câu hỏi này, chúng tôi dự đoán một con đường phát triển đến năm 2020 ảnh hưởng tới tất cả mọi người (ví dụ như ảnh hưởng tới giá

cả và khí thải carbon trên toàn thế giới) và sau đó xem xét ảnh hưởng của sự tăng trưởng “cao hơn một chút” của những Người khổng lồ Một chương sử dụng mô hình điểm cân bằng chung tiêu chuẩn có thể tính được để chuyển những giả định về tích tụ yếu tố tương lai và phát triển công nghệ thành một

1 Một trong những câu hỏi mà các nhà kinh tế của Ngân hàng thế giới hay gặp là sự phát triển của Trung Quốc và Ấn Độ ảnh hưởng thế nào đến đất nước của tôi?

2 Thống kê trong cuốn sách này lấy từ cuốn Chỉ số phát triển thế giới của Ngân hàng Thế giới trừ khi

có chỉ dẫn khác.

3 Chúng tôi chỉ xem xét các khía cạnh ảnh hưởng hữu hình, bao gồm cả dịch vụ, nhưng tất nhiên Trung Quốc và Ấn Độ có ảnh hưởng lên cả tiêu chuẩn, sở thích, mô hình kinh doanh và v v.

Trang 21

bức tranh về thế giới năm 2020 Đồng thời, mô hình giả định tỉ lệ tăng trưởng của những Người khổng lồ tăng thêm 2% mỗi năm và tính mức khác biệt trong dòng chảy hàng hóa và dịch vụ giữa các nền kinh tế, cơ cấu sản xuất, và lợi ích kinh tế Một chương khác sử dụng mô hình khác, có kết hợp biến năng lượng và biến nội sinh là những tiến bộ về công nghệ, để dự báo kịch bản năng lượng/khí thải cho tới năm 2050 Sau đó là mô hình đánh giá ảnh hưởng nếu mỗi năm những người Khổng lồ tăng trưởng thêm 2 điểm phần trăm Trong tương lai dài và tính trung bình, các nền kinh tế có thể tự điều chỉnh tương đối tốt, nên chúng tôi cho rằng mức cơ sở chính xác cho bài toán này có thể không ảnh hưởng nhiều tới tác động của sự tăng trưởng liên tục Tuy nhiên

có thể có những ngưỡng kinh tế và sinh thái quan trọng, điều đó có nghĩa là tăng trưởng 2 điểm phần trăm của những Người khổng lồ có thể ảnh hưởng khác đi, tùy thuộc tình hình tăng trưởng của thế giới khi đó là 2% hay 4% mỗi năm Ví dụ, nguồn cung cấp dầu có thể là một trở ngại, song tăng trưởng kinh

tế cao có thể làm tăng động lực sáng tạo và với những sáng chế mới, nguồn cung cấp dầu mỏ không còn là trở ngại nữa Nhưng tất nhiên không ai biết liệu những ngưỡng đó có tồn tại không và nếu có thì ở đâu, và vì vậy chúng tôi giả định một cơ sở hợp lý với mức tăng trưởng chấp nhận được và phân tích định tính phù hợp

Chương tiếp theo về ảnh hưởng từ sự tăng trưởng của những Người khổng

lồ có cách tiếp cận mang ít tính định lượng hơn Chương này mô tả những phát triển hiện tại và tương lai gần về năng lực của ngành công nghiệp, qua đó xác định những ngành nghề có khả năng mạnh và dẫn tới lợi thế cạnh tranh trong tương lai Chương này nhấn mạnh hành vi của các công ty và các ngành

cụ thể trong việc thúc đẩy thay đổi nhanh về khả năng sản xuất và dịch vụ ở Trung Quốc và Ấn Độ, và vì vậy hỗ trợ cho phân tích chính thống và dựa trên

mô hình về lợi thế so sánh nói trên Một chương khác định tính hóa sự tham gia của những Người khổng lồ vào hệ thống tài chính quốc tế và đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố khác - chủ yếu là cải cách chính sách nội địa - tới vai trò của Người khổng lồ trong tài chính quốc tế trong tương lai Tuy nhiên, vì không đưa dự đoán về những cải tổ này, chúng tôi tránh đưa ra dự báo định lượng chi tiết về dòng tài chính và chứng khoán trong tương lai

Hai chương còn lại không tập trung vào định lượng hóa tương lai, mà phân tích những tác nhân quan trọng ảnh hưởng tới sự tăng trưởng của những Người khổng lồ Một chương xem xét những chứng cứ về giảm nghèo, thúc đẩy bình đẳng, và tăng trưởng kinh tế của những Người khổng lồ Phân tích trong chương này cho rằng bất bình đẳng ngày càng tăng có thể gây cản trở cho quá

Trang 22

trình tăng trưởng đặc biệt ở Trung Quốc - và chính phủ cần phải giải quyết chúng.4 Cách thức giải quyết (ví dụ như bằng việc tăng thu nhập nông nghiệp hay khuyến khích di cư khỏi nông thôn) có thể ảnh hưởng lên thương mại và

vì vậy lên toàn thế giới Chương cuối cùng xem xét những bằng chứng trong quá khứ về quản trị nhà nước và môi trường đầu tư và kết luận rằng mặc dù vấn đề quản lý điều hành có thể không làm chậm lại quá trình phát triển của những Người khổng lồ, song nó tạo ra những điểm yếu Cả hai chương này đều phân tích mức tăng trưởng nhanh đồng thời chỉ ra những trường hợp mà tăng trưởng có thể bị chậm lại

Từ những ý kiến thảo luận trên, rõ ràng không có chương nào trong cuốn sách này đưa ra những tiên đoán vô điều kiện về những Người khổng lồ hay nền kinh tế thế giới, mà mỗi chương lại phân tích một khía cạnh của tăng trưởng, trên cả phương diện định lượng và định tính, những nhân tố cần tính đến khi dự đoán về tăng trưởng tiếp tục hay ảnh hưởng của nó Tương tự như vậy, dù tất cả các chương đều đánh giá các vấn đề chung song không áp dụng một khuôn khổ phân tích hay một bộ dữ liệu duy nhất Phân tích đòi hỏi phải đơn giản hóa, và cách thức đơn giản hóa ở mỗi chủ đề lại khác nhau Vì thế mỗi chủ đề sử dụng những dữ liệu và nguồn dữ liệu khác nhau Vì không thể

có một nguồn thống kê chung duy nhất về những Người khổng lồ, chúng tôi

sử dụng dữ liệu phù hợp cho từng chủ đề và có thể không có sự thống nhất về

số liệu Trừ trường hợp năng lượng và khí thải, khoảng thời gian nghiên cứu trong đối với các vấn đề khác từ 2005 và 2020, đủ dài để xác định những xu hướng dài hạn và cung cấp thông tin cho các nhà lập chính sách trong vài năm tới, song cũng đủ ngắn để tính đến những yếu tố bất ngờ không tiên đoán được trong công nghệ và chính trị

Chúng tôi coi cả Trung Quốc và Ấn Độ là những Người khổng lồ vì những nghiên cứu đều tập trung vào việc môi trường kinh tế thế giới mà các nước khác phải đối mặt sẽ phát triển như thế nào Từ quan điểm này, hệ thống phân tích áp dụng với cả Trung Quốc và Ấn Độ là giống nhau Tuy nhiên, chúng tôi không áp đặt rằng hai nước này giống nhau hay có triển vọng phát triển giống nhau Trên thực tế, như sẽ trình bày dưới đây, quy mô của hai nước cũng khác nhau trong 15 năm mà chúng tôi nghiên cứu Trong một số trường hợp, phân tích sẽ tập trung vào những ảnh hưởng khác nhau của quá trình tăng trưởng ở

4 Thực tế là bất bình đẳng thu nhập có tăng lên ở Anh và Mỹ trong quá trình công nghiệp hóa, nhưng không bị coi là cản trở phát triển Tuy nhiên, có những chứng cứ nhỏ cho thấy tăng trưởng ở Trung Quốc thấp hơn (ví dụ xem Lindert [2000]) Bên cạnh đó, công nghệ và xã hội thời đó cũng khác, và tỉ

lệ tăng trưởng cao lúc đó cũng thấp hơn, kể cả ở những nền kinh tế thành công nhất.

Trang 23

Ấn Độ hay Trung Quốc đối với tổng sản phẩm toàn cầu, hay những thách thức khác nhau mà hai nước này gặp phải trong tăng trưởng, song đa phần vì nhiều mục đích khác, phân tích sẽ coi hai nước này là những Người khổng lồ Phần còn lại trong Chương Mở đầu này đánh giá rằng những Người khổng

lồ có tầm quan trọng đối với toàn bộ thế giới vì họ đang tăng trưởng và đã hoặc đang hội nhập với nền kinh tế thế giới Phần này mô tả ngắn gọn những lực lượng tạo ra tăng trưởng và so sánh tăng trưởng với những quá trình tăng trưởng mạnh khác xảy ra trước đó trong nền kinh tế thế giới và với tăng trưởng của các nước khác; tức là đặt những Người khổng lồ này vào bối cảnh chung Sau đó tóm tắt các chương tiếp theo, về khả năng công nghiệp và thương mại quốc tế, (tức là tăng trưởng của những Người khổng lồ sẽ lan tỏa ra thế giới như thế nào thông qua thị trường hàng hóa và dịch vụ); thông qua tương tác với thị trường tài chính quốc tế, thị trường năng lượng, và khí thải; và những khó khăn do môi trường, bất bình đẳng, và thách thức về quản lý điều hành Cuối cùng, chúng tôi tóm tắt những thử thách đặt ra từ sự phát triển của những Người khổng lồ đối với chính phủ các nước khác, theo những điều kiện đất nước và tình hình kinh tế riêng

Đã có nhiều nghiên cứu về quá trình phát triển kinh tế đặc biệt của Trung Quốc cũng như quá trình cất cánh gần đây của Ấn Độ, mà vì điều kiện có hạn nên không thể thảo luận hết ở đây Trong một số trường hợp, nhìn lại quá khứ

là cần thiết để hướng tới tương lai, nhưng trừ một số trường hợp như vậy và khi phải tính toán tăng trưởng từ một thời điểm lịch sử, chúng tôi phải bỏ qua quá trình lịch sử phát triển thú vị đó.5 Vì vậy, trong chương này, chúng tôi tập trung nghiên cứu xem những Người khổng lồ hiện đang ở vị trí nào và sẽ đi đến đâu

Tăng trưởng Kinh tế

Chúng tôi quan tâm đến những Người khổng lồ vì họ lớn và đang phát triển (và sẽ còn tiếp tục phát triển), và vì sự tăng trưởng của họ có ảnh hưởng lên các nước khác qua những giao dịch quốc tế Phần này sẽ xem xét đến lý do đầu tiên: những Người khổng lồ thực sự lớn và năng động đến đâu, tăng trưởng của họ so với tăng trưởng ở những nước khác như thế nào, và yếu tố gì quyết định sự tăng trưởng của họ

5 Trong nhiều tài liệu lịch sử kinh tế, có thể xem Naughton (1995), Srinivasan (2003b), Panagariya (2004), Rodrik và Subramanian (2005), Frankel (2005), Friedman và Gilley (2005), Wu (2005), và Branstetter và Lardy (2006).

Trang 24

Người khổng lồ trong bức tranh chung

Đầu tiên, chúng tôi so sánh những Người khổng lồ với các nền kinh tế lớn khác hiện nay và năm 2020 Để so sánh tỉ lệ nghèo đói và tình hình kinh tế giữa các nước khác nhau, sử dụng so sánh ngang giá sức mua (PPP) là hợp lý hơn cả, nhưng để đánh giá ảnh hưởng của một nền kinh tế lên nền kinh tế khác, tỉ giá hối đoái thực lại đưa ra cơ sở tốt hơn Những ảnh hưởng quốc tế như vậy phải được xem xét qua dòng chảy hàng hóa, dịch vụ, hay tài sản quốc tế, vì những yếu tố này có thể mua bán được, và giá cả của chúng ở các nước khác nhau không khác biệt lắm, vì vậy dùng PPP không phù hợp Dữ liệu GDP ở Bảng 1.1 cho thấy có lẽ GDP ở Trung Quốc là khoảng một phần sáu của Mỹ theo giá trị đồng đô la hiện nay, và Ấn Độ thì bằng một phần mười sáu Về ảnh hưởng, một phần một cú sốc từ Đức hay Nhật bản sẽ nặng ký hơn một cú sốc từ Trung Quốc, chứ chưa nói đến Ấn Độ

Về tăng trưởng đầu ra và thu nhập, Trung Quốc và Ấn Độ đã có tốc độ tốt

kể từ năm 1995, đặc biệt khi so sánh với những nền kinh tế lớn khác (xem cột 3 Bảng 1.1) Trung Quốc chiếm 13 % tổng đầu ra tăng trưởng của thế giới

Bảng 1.1 Tổng sản phẩm quốc nội của sáu nền kinh tế lớn

Nguồn: Ngân hàng Thế giới 2005b, Chỉ số phát triển thế giới.

Ghi chú: Tỉ lệ tăng trưởng trung bình được tính toán trên tỉ lệ tăng trưởng thực hàng năm (đô la Mỹ năm 2000)

cho khoảng thời gian đó Tính toán cho giai đoạn 2005-20 dựa trên GDP 2004 và tỉ lệ tăng trưởng dự đoán

a Ngân hàng Thế giới dự đoán mức tăng trưởng hàng năm 2,3% cho 25 nước Liên minh Châu Âu và Hiệp hội Thương mại Tự do Châu Âu, và số liệu của Đức được lấy từ đó

Trang 25

trong khoảng thời gian từ 1995-2004; và Ấn Độ chiếm 3%, so với Hoa Kỳ là 33%, quá trình tăng trưởng chậm của Mỹ được bù lại bởi tỉ trọng tăng nhanh

từ năm 1995 Nhìn về tương lai, Bảng này dự đoán tăng trưởng GDP năm 2020 dựa trên dự đoán của Ngân hàng Thế giới về kinh tế thế giới đưa ra đầu năm

2006.6 Những tính toán này không dựa trên dự đoán vô cớ mà những giả định

có lý, từ đó có thể tính toán về quy mô tăng trưởng tương đối của những Người khổng lồ Tỉ lệ tăng trưởng tương ứng cho đầu vào và năng suất được đưa ra trong bảng 3.4 (chương 3)

Theo tính toán thì Trung Quốc tăng trưởng ở mức 6,6 %/ năm trong thời gian từ 2005-2020 (với mức tăng sản phẩm đầu ra trung bình là 162%), và Ấn

Độ tăng ở mức 5,5 % mỗi năm (124 %) - con số khiêm tốn so với thập kỉ qua song vẫn rất ấn tượng Tính toán này giả định tăng trưởng mạnh ở những nơi khác (trung bình thế giới là 3,2% mỗi năm), vì vậy nó phản ánh quan điểm tương đối thận trọng về mức tăng tỉ lệ trong nền kinh tế thế giới của những Người khổng lồ - từ 4,7% lên 7,9% của Trung Quốc và từ 1,7% lên 2,4% của Ấn

Độ Về những con số này, những Người khổng lồ chiếm phần lớn tăng trưởng thực của thế giới trong khoảng thời gian từ 2005-20 so với 1995-2004, nhưng không quá lớn.7 Tuy nhiên, điều quan trọng là những tính toán về tỉ lệ tăng trưởng thực dựa trên tỉ giá hối đoái năm 2004 Khi những Người khổng lồ trở nên giàu có hơn, giá cả những dịch vụ phi thương mại của họ và tỉ giá hối đoái bão hòa sẽ cao lên Vì vậy, đến năm 2020, tỉ trọng của những Người khổng lồ trong giá cả của năm 2020 sẽ cao hơn mức tính trong cột 2 Bảng 1.1, có thể là rất nhiều.8 Tuy nhiên, trong khoảng thời gian mà chúng ta nghiên cứu ở đây, những Người khổng lồ sẽ chưa thể thống trị nền kinh tế thế giới Ví dụ như một sự thay đổi nhỏ ở Bắc Mỹ hay Tây Âu vẫn sẽ tạo ra ảnh hưởng lớn hơn về mặt số lượng

Cũng cần ghi chú rằng tỉ lệ tăng trưởng của những nền kinh tế đang lên

6 Có thể những dự đoán này sẽ được sửa đổi trong Báo cáo Triển vọng Kinh tế Toàn cầu 2007 Như đã nói trên, phân tích ảnh hưởng từ tăng trưởng của những Người khổng lồ chủ yếu phụ thuộc vào cơ sở ban đầu Tính toán tỉ lệ tăng trưởng thấp hơn so với thực tế gần đây là dựa trên ý kiến của các chuyên gia vào đầu năm 2006, dựa trên quan điểm về tích tụ trong tương lai, tăng trưởng lực lượng lao động, tiến triển công nghệ và cải cách chính sách.

7 Nếu tăng trưởng của Trung Quốc và Ấn Độ tăng lên mức tương ứng là 8,6% và 7.3%, như giả định trong kịch bản khác ở Chương 3 và gần hơn với kế hoạch và dự đoán của các nước này, và nếu tăng trưởng của thế giới giảm xuống còn 3%, thì phần của Trung Quốc và Ấn Độ trong tổng GDP năm

2020 sẽ tăng lên đến mức tương ứng là 10,9% và 3,2%, và đóng góp của họ cho tăng trưởng sẽ là 20,1%

và 5,5%.

8 Nếu chúng ta áp dụng phương pháp này (tức là áp dụng mức tăng trưởng giá ổng định so với phần ban đầu) cho Nhật trong giai đoạn 1965-95, tỉ lệ của Nhật trong GDP thế giới sẽ tăng từ 4,3% lên 6,6% Với mức giá hiện nay, mức tăng này sẽ lên đến 17,6%.

Trang 26

thường không ổn định bằng ở các nước công nghiệp phát triển Khi nền kinh

tế đang lên có quy mô lớn lên trong nền kinh tế thế giới, sự không ổn định này

sẽ ảnh hưởng nhiều hơn lên các nền kinh tế khác, và trừ khi nó có liên quan tiêu cực đến các cú sốc tăng trưởng khác thì tính không ổn định nhìn chung này sẽ tăng nhẹ

Một cái nhìn khác về tăng trưởng của những Người khổng lồ đến từ số liệu trong quá khứ Nhìn từ khi Trung Quốc bắt đầu cất cánh năm 1979, chúng ta

có thể so sánh tiến triển của nó với các nền kinh tế công nghiệp khác (tăng trưởng của Ấn Độ thì quá gần đây để có thể so sánh theo cách này) Bảng 1.2 xem xét ví dụ của Vương Quốc Anh và Hoa Kỳ trong thế kỉ 18 và 19, theo thống kê của Maddison (2003) Rất tiếc là mặc dù những số liệu thống kê này

có PPP và chỉ có ở một số thời điểm cụ thể, chúng cũng cho thấy rằng cả hai nước này đều không tạo ra cú sốc lên nền kinh tế toàn cầu lớn như Trung Quốc Như cột 1, bắt đầu với mức 2,9% tổng thu nhập toàn cầu, trong vòng 26 năm, Trung Quốc đã có mức tăng trưởng 6,6%/ năm, cao hơn mức tăng trưởng của thế giới Theo cột 2, nước này có tỉ trọng ban đầu là 4,9% và mức độ chênh lệch tăng trưởng là 4,4% Tỉ lệ tăng trưởng trong quá khứ thấp hơn rất nhiều, và gần với Trung Quốc nhất có lẽ là Hoa Kỳ trong khoảng thời gian từ 1820 - 70, trong khoảng đó mức độ chênh lệch là 3,3% trong vòng 50 năm (với tỉ trọng ban đầu thấp hơn).9 Nếu tính mức tuyệt đối, cuộc Cách mạng Công nghiệp

9 Vì không thể chọn năm cao điểm và thấp điểm một cách chính xác, chúng tôi chắc có thể đã nói cường điệu về sự khác biệt giữa Trung Quốc và các nước khác, nhưng chưa chắc kết luận định lượng của chúng tôi đã sai: : (1 + 0.065)26 cao hơn (1 + 0.033)50.

Bảng 1.2 So sánh công nghiệp hóa

GDP theo PPP

Các yếu tố so sánh

Trung Quốc, WDI, 1978-2004

Trung Quốc, Maddison 1978-2003

Anh 1700- 1820

Anh 1820- 70

Hoa Kỳ 1820- 70

Hoa Kỳ 1870- 1913

Tăng trưởng hàng năm của

Trang 27

đúng là một cuộc cách mạng vì lần đầu tiên trong lịch sử, mức độ thu nhập bình quân đầu người có thể tăng gấp đôi chỉ trong một vài thế hệ Trong thời hoàng kim của Hoa Kỳ, thu nhập tăng cao hơn hai lần chỉ trong một thế hệ, và với mức độ tăng trưởng của những Người khổng lồ và với tuổi thọ như thế này,

có thể mức thu nhập sẽ tăng hàng trăm lần chỉ trong một thế hệ

a Tỉ lệ tăng trưởng so với toàn cầu

Nguồn: Maddison 2003

b Sự biến đổi của tỉ lệ GDP thế giới

Số năm kể từ thời điểm gốc

Số năm kể từ thời điểm gốc

Trang 28

Hình 1.1 đưa ra phân tích tương tự cho một số trường hợp gần đây, sử dụng

dữ liệu của Maddison (Dữ liệu của ông cho Trung Quốc bị cho là quá thận trọng so với tăng trưởng - xem Holz [2006].) Lấy năm 1950 (thời điểm đầu tiên

có dữ liệu hàng năm) là thời điểm ban đầu của sự tăng trưởng mạnh ở Liên bang Đức, Nhật Bản và Đài Loan (Trung Quốc), năm 1962 cho Hàn Quốc và

1979 cho Trung Quốc, chúng tôi tính (Hình 1.1a) tăng trưởng đầu ra so với tổng sản phẩm thế giới (vẫn với mức PPP không đổi), lấy năm đầu tiên là số

1 và (Hình 1.1b) sự tăng trưởng của tổng sản phẩm của nền kinh tế đó trong thế giới

Nhật Bản, Hàn Quốc, và Đài Loan (Trung Quốc) đều có mức tăng trưởng nội địa cao hơn tăng trưởng của Trung Quốc trong 25 năm “đầu tiên”, và Đức

có mức tăng trưởng thấp hơn trong 12 năm đầu tiên, với Đức, năm 1950 có thể

là thời điểm bắt đầu quá muộn Sau khi quân bình với tăng trưởng thế giới (tức

là xem xét tăng trưởng của các nền kinh tế đích so sánh với tăng trưởng thế giới trong khoảng thời gian tăng trưởng của các nền kinh tế này [Hình 1.1a]), tất

cả các nền kinh tế, trừ Đức cho thấy có xu hướng giống nhau, ít nhất là trong vòng 20 năm Xét về giá trị tuyệt đối, nền kinh tế của Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) rất nhỏ khi bắt đầu tăng trưởng, và kể cả Nhật bản cũng chỉ với

tỉ trọng ban đầu là 3% tổng GDP thế giới, nhỏ hơn Trung Quốc Vì vậy, xét về mức tăng tỉ lệ trong tổng sản lượng thế giới, thì tăng trưởng của Trung Quốc cao hơn rất nhiều so với những tăng trưởng khác trong lịch sử

Nếu chúng ta có dữ liệu giá thực chứ không phải PPP, tỉ trọng ban đầu của Trung Quốc chắc chắn sẽ nhỏ hơn và tỉ trọng của Nhật cũng sẽ nhỏ hơn, vì vậy

so sánh sẽ ít cực đoan hơn Tuy nhiên cũng nên nhớ rằng dữ liệu của Maddison (2003) về Trung Quốc có thể thận trọng, và bùng nổ tăng trưởng của Nhật yếu

đi sau 20 năm Mặc dù tăng trưởng của Nhật Bản phục hồi vào những năm 80,

kể từ đó Nhật Bản chưa bao giờ khôi phục được tỉ lệ cao hơn 9% của GDP toàn cầu tính theo PPP, trong khi đó Trung Quốc đã chiếm 14%

Những số liệu này chứng tỏ công nghiệp hóa của Trung Quốc là quá trình đặc biệt duy nhất và nhờ công nghiệp hóa đã tạo sự phát triển ngày nay Trong tương lai, sẽ có thể là một cú sốc lớn cho các nền kinh tế khác Hơn thế, điều quan trọng là Trung Quốc và Ấn Độ đang phát triển trong một thế giới mà nguồn lực ngày càng khan hiếm Có thể những tiến bộ công nghệ sẽ tăng năng suất trên đầu người, nhưng không thể phủ nhận rằng nguồn lực toàn cầu - như đất, biển và không khí - đang chịu sức ép nặng nề

Một con tính tương tự cho xuất khẩu, câu chuyện có thể hơi khác Bên cạnh câu chuyện tăng trưởng xuất khẩu thần kì của Hàn Quốc (cao hơn mức trung

Trang 29

bình thế giới 50 lần trong vòng 43 năm), tăng trưởng xuất khẩu của Trung Quốc so với tăng trưởng xuất khẩu thế giới cũng gần giống như của các nước khác trong vòng 25 năm, sau đó vươn lên vị trí thứ nhất Xét về tốc độ tăng về

tỉ trọng trong tổng số hàng xuất khẩu thế giới, Đức có tốc độ tăng nhanh hơn (từ 3,2% lên 10,5% trong vòng 25 năm, so với Trung Quốc tăng từ 1,3% lên 7,2% và Nhật Bản từ 1.3 % lên 7.3 %) Trong tương lai, tỉ trọng này của Trung Quốc sẽ còn tăng lên trong khi tỉ trọng của Đức và Nhật Bản giảm và cả hai nền kinh tế này là hai nền kinh tế đang phục hồi chứ không phải đang mở rộng phát triển Vì vậy, xét về xuất khẩu, chắc chắn Trung Quốc là cú sốc lớn nhất chúng ta đã từng chứng kiến, và tăng trưởng của Trung Quốc và Ấn Độ sẽ còn tiếp tục Nói tóm lại, dù Trung Quốc chưa phải là một lực lượng quyết định trong nền kinh tế thế giới, cú sốc mà nó tạo ra chưa từng có tiền lệ Rõ ràng, mối quan tâm đến những Người khổng lồ cũng là hợp lý

Nguyên nhân tăng trưởng

Bây giờ chúng ta phân tích ngắn về động lực tạo nên tỉ lệ tăng trưởng như dự đoán ở trên của những Người khổng lồ Nguyên nhân tăng trưởng bao gồm tăng trưởng nguồn nhân lực, tích tụ vốn và nhân lực đồng thời có thể bị hạn chế bởi suy giảm nguồn tài nguyên thiên nhiên, mức độ đổi mới công nghệ và phân bổ nguồn lực cho các hoạt động Đóng góp của những yếu tố này trong tăng trưởng của Trung Quốc và Ấn Độ bị ảnh hưởng bởi cơ cấu khuyến khích trong môi trường nội địa (ví dụ như hoạt động của thị trường nguyên liệu đầu vào nhân tố và sản phẩm, khả năng tiếp cận những thị trường này, cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội, và một loạt các chính sách) và bởi bản chất và mức độ hội nhập của nó vào nền kinh tế thế giới Chúng tôi không phân tích chi tiết môi trường nội địa của những Người khổng lồ hay sự tích tụ nguyên liệu đầu vào mà sử dụng những dự đoán từ những nguồn tin khác về quy mô phát triển của những Người khổng lồ Tuy nhiên, chúng ta cần hiểu nội dung những dự đoán đó để hiểu được bản chất tăng trưởng là gì

Ở cả hai quốc gia trên, tăng trưởng dân số đã giảm và sẽ tiếp tục giảm Dân

số Trung Quốc chỉ tăng 0,6%/ năm trong khoảng 2000-2005 và đạt mức 1,32

tỉ10; dự kiến sẽ đạt mức cao nhất vào năm 2032 và sau đó sẽ giảm.11 Dân số

Ấn Độ tăng 1,4%/ năm trong khoảng 2000-05, đạt 1,10 tỉ và tỉ lệ tăng dân số

sẽ giảm xuống còn 0,7%/ năm trong khoảng từ 2030 - 2040 (lúc đó dân số sẽ

10 Một tỉ bằng 1.000 triệu.

11 Để so sánh, chúng tôi sử dụng dự đoán dân số của Liên Hiệp Quốc, không dung dự đoán trong nước.

Trang 30

nhiều hơn Trung Quốc) Xu hướng này cho thấy tỉ lệ sinh giảm, với dân số

từ 15-65 tuổi của Trung Quốc chiếm 71% vào năm 2005, giảm còn 69% năm

2020 và 62% năm 2040 Tỉ lệ tương ứng của Ấn Độ là 63% năm 2005, và 67% năm 2020 Sự sụt giảm lực lượng lao động của Trung Quốc sẽ được bù lại một phần vì tỉ lệ công ăn việc làm cao hơn, nhưng dân số trẻ của Ấn Độ sẽ chính

là lí do giúp nước này thu hẹp khoảng cách thu nhập từ năm thứ 26 đến 50 của thế kỉ này

Dân số đô thị Trung Quốc tăng từ 21% năm 1981 lên 43% năm 2005 (Cooper 2006), với tỉ lệ giảm tuyệt đối dân số nông thôn Tuy nhiên, phần lớn công việc ở nông thôn là phi nông nghiệp Mặc dù vậy, lao động nông nghiệp vẫn chiếm khoảng 45% tổng số việc làm và công nghiệp chiếm 22% Vì vậy

dù chuyển đổi cơ cấu kinh tế ở Trung Quốc góp phần quan trọng trong tăng trưởng vừa qua, tiềm năng cho tăng trưởng trong tương lai còn lớn Điều này đặc biệt đúng vì nông nghiệp chiếm một phần rất nhỏ trong GDP (13%) so với trong tổng số công ăn việc làm Ở Ấn Độ, quá trình đô thị hóa diễn ra chậm hơn , tăng từ 23% lên 28% trong khoảng 1998 - 2001 và số lượng dân số nông thôn tăng hơn 200 triệu Năm 2000, nông nghiệp tạo ra 59% công ăn việc làm

và công nghiệp chỉ chiếm 16% Bên cạnh đó, có rất nhiều lĩnh vực (và nhu cầu) cần tái phân bổ lại ở Ấn Độ

Vì quy mô và tầm quan trọng trong xóa đói giảm nghèo (xem ở dưới), nông nghiệp vẫn là một ngành quan trọng ở cả 2 nước mặc dù ngành này không tạo

ra động lực phát triển Ở Trung Quốc, năng suất nông nghiệp khá cao và đất nông nghiệp bị mất đi do quá trình đô thị hóa và mở đường, vì vậy tăng trưởng tương lai sẽ chủ yếu phụ thuộc vào những loại giống mới và tăng cường tiếp cận thị trường Ở Ấn Độ, nhu cầu tăng trưởng cao hơn và phạm vi tăng trưởng cũng tăng lên Năng suất của Ấn Độ nhìn chung còn thấp, kể cả so với các nước đang phát triển, và nông nghiệp bị hạn chế bởi cơ sở hạ tầng kém và quản lý quá chặt (FAO 2006) Tăng trưởng nông nghiệp những năm gần đây quả đáng kinh ngạc, và để đạt được mức tăng trưởng theo dự kiến của chúng tôi trong tương lai (chứ chưa nói đến kế hoạch chính thức của Ấn Độ) thì cần phải tăng trưởng ít nhất với mức như thời gian qua

Cả Trung Quốc và Ấn Độ đều đạt được những tiến bộ lớn trong giáo dục cơ bản trong hai thập kỉ qua Năm 2000, tỉ lệ biết chữ ở người lớn ở Trung Quốc

là 84% và Ấn Độ là 57%, và thanh niên (từ 15-24 tuổi) tương ứng là 98% và 73% Bên cạnh đó, cả hai nước đều đang cải thiện nhanh chóng nguồn nhân lực với tỉ lệ nhập học trung học tương ứng là 50% và 39% năm 1998 (UNDP

2002, trang 183-84) Vào năm 2005, Ấn Độ có 2,5 triệu sinh viên tốt nghiệp

Trang 31

mỗi năm, 10% trong số đó là ở các ngành kĩ thuật (Cooper 2006); Trung Quốc

có 3,4 triệu sinh viên tốt nghiệp, với 151.000 tốt nghiệp sau đại học (Tóm tắt Thống kê Trung Quốc 2005, trang 175-76) Tính tới năm 2004, khoảng 1/5 số dân Trung Quốc trong độ tuổi làm việc có bằng đại học (Cooper 2006), mặc

dù dân số trong độ tuổi này đang giảm dần

Tăng trưởng đáng ngạc nhiên về số lượng sinh viên tốt nghiệp đại học ở Trung Quốc và Ấn Độ dẫn tới dự báo rằng tỉ trọng của những Người khổng

lồ trong các ngành kỹ thuật cao trên thế giới sẽ tăng lên và nâng cao lợi thế so sánh của họ trong tương lai Tuy nhiên, Viện McKinsey Global Institute (2005) cho rằng chỉ 10% số sinh viên tốt nghiệp của Trung Quốc và Ấn Độ hiện đạt tiêu chuẩn tuyển dụng của các công ty lớn của Mỹ; và, chắc chắn điều này sẽ thay đổi trong tương lai, song hiện tại chưa thể đánh giá rằng những người Khổng lồ có lực lượng lao động chất lượng cao.12

Về đầu tư xây dựng cơ bản, tỉ lệ đầu tư cơ bản bình quân trên tổng GDP là 42% đối với Trung Quốc và 24 % với Ấn Độ, trong khoảng năm 1990 đến 2003

Tỉ lệ cao hơn ở Trung Quốc phản ánh Trung Quốc đầu tư nhiều vào những cơ cấu đòi hỏi nguồn vốn lớn và vào cơ sở hạ tầng (bao gồm cả nhà cửa) và nhờ

đó đã tạo ra mức tăng trưởng nhanh (Srinivasan 2006) Các dự án xây dựng cơ bản chủ yếu sử dụng nguồn tài chính từ tiết kiệm nội địa, và tỷ lệ tiết kiệm trong nước cao là một trong những lý do dẫn tới tăng trưởng cao ở Trung Quốc Mặt khác, tổng sản lượng có tính đến mọi yếu tố (TFP), đã tăng lên đáng kể, dù không quá lớn ở mức 2,5% với cả Trung Quốc và Ấn Độ kể từ năm

1995, và những chỉnh sửa số liệu GDP sẽ làm tăng số liệu ước tính của Trung Quốc Phần lớn tăng trưởng TFP ước tính phản ảnh việc tái phân bổ lao động

từ ngành nông nghiệp và khu vực nhà nước sang các hoạt động thị trường Một câu hỏi rất tự nhiên xung quanh con số dự đoán tăng trưởng là biên độ sai số là bao nhiêu? Nhìn chung, chúng tôi tin tưởng con số dự tính trong Bảng 1.1 là thận trọng và tương đối thiết thực, nhưng một số nhà bình luận cho rằng vấn đề môi trường, phân bổ thu nhập, quản trị nhà nước và nhiều yếu tố khác nữa trở nên dễ bị tổn thương nghiêm trọng Vì vậy, sau khi phân tích những

hệ quả của quan điểm chính của chúng tôi, chúng tôi tiếp tục đánh giá tính dễ

bị tổn thương này Phần còn lại trong Chương Mở đầu, chúng tôi tóm tắt bối cảnh chung và các chương khác của cuốn sách

12 Trong tương lai dài hạn, rõ ràng tính kinh tế của việc tích tụ lao động trình độ cao cho thấy Trung Quốc và Ấn Độ có thể trở thành nơi thu hút khoa học và kĩ thuật Nếu như vậy có thể thay đổi vị thế của hai nước này một cách đáng kể.

Trang 32

Thương mại Quốc tế

Tăng trưởng của Trung Quốc và Ấn Độ ảnh hưởng đến các nước khác thông qua nhiều kênh khác nhau, nhưng thương mại quốc tế được coi gây ảnh hưởng mạnh nhất và trực tiếp nhất Trong Chương 2, các tác giả đánh giá những tiến

bộ về năng lực công nghiệp của những Người khổng lồ, và Chương 3 xây dựng

mô hình thương mại quốc tế trong đó bao gồm tăng trưởng của những Người khổng lồ

Mở rộng thương mại

Tăng trưởng thương mại của Trung Quốc kể từ năm 1978 thực sự là một điều thần kỳ, và kể từ đầu những năm 1990, Ấn Độ đã cất cánh Với 5,7% xuất khẩu

và 4,8% nhập khẩu, tỉ trọng hàng hóa của Trung Quốc trong tổng số hàng hóa

và dịch vụ thế giới đã vượt quá tỉ trọng GDP của Trung Quốc trong GDP thế giới (xem Bảng 1.3) Điều này là tương đối đặc biệt đối với một nền kinh tế lớn, mặc dù một phần nào đó nó thể hiện việc Trung Quốc tham gia vào chuỗi sản xuất Châu Á Thông qua việc hội nhập này, có đến một phần ba giá trị xuất khẩu (hàng hóa có thể tính được) là từ đầu vào nhập khẩu chứ không phải từ nguyên liệu giá trị gia tăng nội địa - vốn là yếu tố để tính GDP.13 Với mức tăng trưởng trung bình 15,1%/ năm từ 1995 - 2004, Trung Quốc đóng góp 9% tăng thêm về xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ toàn thế giới (chỉ sau Hoa Kỳ), và 8% tăng về nhập khẩu (cũng sau Hoa Kỳ)

Với những con số này, Trung Quốc là một nhà nhập khẩu và xuất khẩu hàng hóa quan trọng, với thị phần tương ứng là 6,2% và 7,7% năm 2004 Hàng hóa nhập khẩu chủ yếu là linh phụ kiện cho các hoạt động lắp ráp và thiết bị xây dựng cơ bản, và xuất khẩu chủ yếu là hàng thành phẩm Một đặc điểm nổi bật của hàng xuất khẩu Trung Quốc là hàm lượng công nghệ ngày càng tăng Devlin, Estevadeordal, và Rodríguez-Clare (2006) đã cho thấy rằng hàng hóa xuất khẩu với hàm lượng kỹ thuật cao đang dần dần thay thế hàng hóa công nghiệp thấp; Lall và Albaladejo (2004) dự báo sẽ có sức ép cạnh tranh lớn từ Trung Quốc trong thị phần thấp của loại hàng hóa công nghệ cao (ví dụ như

ô tô, máy móc và hàng điện tử); và Freund và Ozden (2006) đã cho thấy Trung

13 Bên cạnh đó, như Bergsten và các tác giả khác (2006) đã chỉ ra, phần lớn việc tăng thâm hụt thương mại của Mỹ với Trung Quốc được bù lại bởi việc giảm thâm hụt thương mại với các nước khác Kết quả này phù hợp với quá trình chuyển giao lắp ráp dần từ khu vực đó sang Trung Quốc.

Trang 33

Quốc đang thay thế hàng hóa xuất khẩu của Trung Mỹ trong phần lớn các ngành hàng có liên quan đến sản xuất ở các nước có mức lương tương đối cao Những tiến bộ này cho thấy Trung Quốc đã tăng nhập khẩu những phụ kiện phức tạp hơn (xem Branstetter và Lardy 2006), đồng thời đã có những cải tiến trong sản xuất trong nước

Đáng ngạc nhiên hơn là lượng nhập khẩu hàng sơ cấp của Trung Quốc Những năm gần đây, tiêu thụ đậu tương tăng 15%/năm và tiêu thụ dầu đậu tương và dầu cọ tăng ở mức tương ứng là 20% và 25% (Streifel 2006) Phần lớn

là nhập khẩu Trung Quốc là nhà nhập khẩu lớn về nhiên liệu và khoáng chất, chiếm tới 40% tăng trưởng thị trường thế giới kể từ năm 1995 Một phần tăng trưởng nhập khẩu nguyên liệu được cân bằng bởi việc suy giảm ở các nước mà Trung Quốc đã thay thế vai trò sản xuất, nhưng chủ yếu là do việc tăng nhu cầu: hàng triệu người Trung Quốc đang bắt đầu mua hàng tiêu dùng và các loại hàng khác khi họ giàu có hơn, và hàng xuất khẩu Trung Quốc giá rẻ cũng khuyến khích tiêu dùng ở những nước khác

Trang 34

ong tăng trưởng (1995– 2004)

Tỉ lệ tăng trưởng dự kiến (2005–20)

ong tăng trưởng (1995– 2003)

Tỉ lệ tăng trưởng dự kiến (2005–20)

Trang 35

Dữ liệu về tổng số tiêu dùng các loại hàng sơ cấp đưa ra trong Bảng 1.4 khẳng định lại tầm quan trọng của Trung Quốc và Ấn Độ trong thị trường hàng hóa thế giới Về sắt và than, Trung Quốc luôn đứng đầu, với tỉ trọng

Bảng 1.4 Tỉ trọng tiêu thụ các loại hàng hóa sơ cấp thế giới

Trang 36

tương ứng là 15% đến 33% tổng số tiêu dùng thế giới, và Mỹ đứng thứ hai hoặc ba; và về các năng lượng nhiên liệu khác, Mỹ đứng đầu và Trung Quốc thứ hai hoặc ba Những Người khổng lồ là người tiêu dùng quan trọng đối với các sản phẩm nông nghiệp, và Ấn Độ đứng đầu về tiêu thụ đường và chè

Nhu cầu tăng lên của những Người khổng lồ về hàng hóa rõ ràng ảnh hưởng đến giá, nếu các yếu tố khác không đổi, nhưng giá cũng phụ thuộc nguồn cung Phần lớn các nhà phân tích cho rằng trong những năm gần đây, nhu cầu của Trung Quốc đã làm tăng giá hầu hết các loại kim loại, vì tăng cung không đáp ứng nổi cầu.14 Chỉ có một ngoại lệ (không phải hoàn toàn) là nhôm, với loại hàng này Trung Quốc là nhà nhập khẩu và sản xuất khoảng 25% tổng sản lượng toàn thế giới Nếu so sánh với mức tăng giá đồng lên đến 379% từ tháng 1/2002 đến tháng 6/2006, giá nhôm tăng không nhiều – chỉ có 80% (Streifel 2006)

Thương mại hàng hóa của Ấn Độ cho đến nay là chưa đáng kể, và bắt đầu tăng lên khi các rào cản thương mại được dỡ bỏ Nước này chiếm khoảng 2%/năm tăng trưởng trong xuất khẩu và nhập khẩu toàn cầu trong giai đoạn 1995

- 2004 Thương mại của những Người khổng lồ sẽ tiếp tục tăng mạnh trong vòng vài năm tới nên sẽ ảnh hưởng tới giá và điều quan trọng cơ cấu hàng xuất khẩu của hai Người khổng lồ rất khác nhau Mặt hàng xuất khẩu đơn lẻ lớn nhất của Ấn Độ là đá quý (khoảng 1/8 tổng số hàng xuất khẩu), nhưng nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất là hàng chế biến công nghiệp hiện đang tăng mạnh Ngành xuất khẩu năng động nhất của Ấn Độ là các dịch vụ dựa trên công nghệ thông tin (IT) cho các công ty toàn cầu, bao gồm các trung tâm trả lời điện thoại và ứng dụng tin học, thiết kế, và bảo trì phần mềm Những hoạt động này đòi hỏi có lao động sử dụng tiếng Anh thành thạo và nguồn lao động này

ở Ấn Độ dồi dào và giá thấp Khách hàng mua những dịch vụ này chủ yếu là các công ty xuyên quốc gia của Hoa Kỳ, nhưng số lượng hợp đồng phát triển phần mềm từ Nhật Bản và Hàn Quốc đang tăng lên (Fujita và Hamaguchi 2006) Mặc dù năng động như vậy nhưng tổng xuất khẩu dịch vụ thương mại của Ấn Độ (40 tỉ USD năm 2004) vẫn kém Trung Quốc (62 tỉ USD), mặc dù trong số đó Ấn Độ có 17 tỉ USD của ngành truyền thông và phần mềm (có thể nói đó là ngành cao cấp), so với 3,6 tỉ USD của Trung Quốc về phần mềm Tuy nhiên, cả hai nước vẫn chỉ chiếm một phần nhỏ trong xuất khẩu dịch vụ toàn cầu (mức tương ứng là 1,8% và 2,8%)

Dịch vụ chỉ chiếm khoảng 41% GDP của Trung Quốc (kể cả sau khi tính

14 Tăng giá một số loại hàng hóa mềm cũng cao (ví dụ như cao su) nhưng dường như còn các yếu tố khác bên cạnh tăng trưởng của Trung Quốc (Streifel 2006)

Trang 37

toán lại gần đây), so với khoảng 52% ở các nước có thu nhập trung bình thấp, điều này chính là cơ hội phát triển nếu các nhà cung cấp dịch vụ của Trung Quốc bắt đầu nắm bắt và làm chủ công nghệ dịch vụ thế giới như họ đã làm chủ công nghệ sản xuất Tại Ấn Độ, dịch vụ chiếm 51%, cao hơn so tỉ lệ ở các nước thu nhập thấp, và Ấn Độ có một khu vực xuất khẩu năng động – kinh doanh và dịch vụ IT Tuy nhiên, ngành IT chỉ chiếm 6% tổng doanh thu của khu vực dịch vụ, và chỉ có khoảng 3 triệu nhân công Bên cạnh đó, dường như

IT còn quá tập trung vào chuỗi hàng thấp và trung cấp (Commander và các tác giả khác, 2004) Vì vậy, chỉ riêng thương mại dịch vụ sẽ không thay đổi hoàn toàn bộ mặt của nền kinh tế Ấn Độ

Địa lý công nghiệp: Phát triển lợi thế so sánh

Câu hỏi quan trọng tiếp theo là thương mại quốc tế của Trung Quốc và Ấn Độ

sẽ phát triển như thế nào? Trước khi đi vào con số cụ thể, cần xem xét một số

xu hướng định tính về năng lực công nghiệp và dịch vụ: cả Trung Quốc và Ấn

Độ đều chứng tỏ họ có thể nâng cao khả năng trong các ngành cụ thể, và đây

là chủ đề chính của Chương 2 Như đã nhận xét, mặc dù xuất khẩu dịch vụ đối với Ấn Độ là quan trọng, song dường như chưa có mô hình hoàn toàn mới về xuất khẩu dịch vụ; và truyền thống nhập khẩu hàng sơ cấp của Trung Quốc dường như vẫn tăng Vì vậy, mô hình sản xuất và xuất khẩu trong tương lai sẽ đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng của cả hai nước

Động lực chính của cả hai Người khổng lồ là thị trường trong nước lớn bao gồm tầng lớp trung lưu (khoảng 1 ngàn tỉ USD mỗi năm ở Trung Quốc và 250

tỉ USD ở Ấn Độ, và nguồn nhân công dồi dào, ít nhất là ở Trung Quốc, cộng với khả năng công nghiệp trong nước được hỗ trợ bởi đầu tư trong và ngoài nước Động lực thứ nhất (thị trường lớn bao gồm tầng lớp trung lưu) sẽ tạo

cơ sở cho các ngành công nghiệp với kinh tế quy mô lớn, và động lực thứ hai (lực lượng lao động) sẽ duy trì mức lương thấp và giúp các ngành công nghiệp

sử dụng nhiều nhân công tồn tại Những đặc điểm này kết hợp với nhau tạo thành yếu tố có lợi cho các ngành công nghệ trung và cao, như ô tô, hàng điện

tử, và hàng gia dụng – và trong tương lai, là thuốc và cơ khí Chương hai tổng kết quá trình phát triển nhanh chóng của công nghệ và tổ chức, và tương lai sáng lạn của những ngành này

Ở Trung Quốc, các ngành sản xuất công nghệ thấp và sử dụng nhân công sẽ tồn tại, nhưng sẽ không tiếp tục đặt tại những trung tâm công nghiệp dọc theo

bờ biển phía đông, nơi chi phí sản xuất đang tăng Chắc chắn một số ngành

Trang 38

có tay nghề thấp sẽ dịch chuyển sang nước khác, kể cả Ấn Độ, song chủ yếu sẽ chuyển dần vào đại lục và các trung tâm nông nghiệp, nơi có nguồn nhân công dồi dào có thể đào tạo và huy động cho hoạt động công nghiệp được Đầu ra

và thu nhập tăng nhờ quá trình dịch chuyển này cũng là một phần lợi ích sau khi đầu tư nhiều vào cơ sở hạ tầng

Giáo dục đại học đang bùng nổ ở Trung Quốc, với phần lớn sinh viên học ngành khoa học và kĩ thuật, và nhiều người Trung Quốc có trình độ cao hiện sống ở nước ngoài đang trở về nước Tập trung những bộ óc siêu việt của Trung Quốc sẽ giúp Trung Quốc trở thành một đối thủ chính trong các ngành công nghệ phức tạp, song nhu cầu về nhân công có chất lượng hoạt động trong dịch vụ công, quản lý, và giáo dục có thể sẽ cản trở sự việc vươn lên dẫn đầu về công nghệ hay sáng tạo trong một số lĩnh vực trong một thời gian nhất định

Và hậu quả là Trung Quốc tiếp tục phải nhập khẩu hàng hóa có độ phức tạp cao, bao gồm cả hàng hóa vốn, từ nước ngoài

Trung Quốc nằm ở vị trí trung tâm của mạng lưới sản xuất từ Đông Nam sang Đông Á Chính sách nhập khẩu miễn thuế linh phụ kiện cho tái xuất vừa bảo vệ các nhà sản xuất hàng nguyên liệu trung gian và và cả nhà sản xuất hàng thành phẩm cho thị trường nội địa tiêu thụ nội địa chắc chắn sẽ khuyến khích Trung Quốc mở cửa hơn nữa Chính sách này sẽ tiếp tục mở ra khi các hàng rào bảo hộ giảm dần và thị trường trong nước lớn lên, khiến các nhà sản xuất linh phụ kiện thấy hấp dẫn hơn khi chuyển dần sang dây chuyền sản xuất và thị trường Vì vậy, điều bất ổn định lớn nhất là tương lai thế nào với các nhà cung cấp hàng hóa trung gian cho các ngành công nghiệp Trung Quốc, chủ yếu

từ Đông Á và Đông Nam Á

Ấn Độ nhỏ và nghèo hơn Trung Quốc (thu nhập bình quân đầu người tính theo ngang giá sức mua PPP khoảng 3.000 USD so với 5.000 USD của Trung Quốc) và như phân tích trên, Ấn Độ chưa phải là nước lớn trong sản xuất quốc

tế Cho tới nay, Ấn Độ đã thành công trong việc xuất khẩu hàng may mặc, và với số lượng đông đảo những lao động không có tay nghề nên Ấn Độ chắc chắn duy trì được lợi thế trong ngành công nghiệp này Ấn Độ cũng đang trở thành nước sản xuất dược phẩm lớn nhờ có số lượng lớn các công ty dược phẩm, đông đảo sinh viên tốt nghiệp, và thị trường trong nước rộng lớn Cũng nhờ những yếu tố trên, Ấn Độ đã xây dựng được uy tín trong một số ngành

cơ khí và dịch vụ Các ngành công nghiệp khác có tiềm năng mở rộng đáp ứng nhu cầu trong nước trong thời gian nghiên cứu gồm sắt, hàng hóa trắng, hàng điện tử Vì vậy, Ấn Độ sẽ tăng trưởng mạnh về sản xuất chế biến trong thập kỉ tới song sẽ không có đột biến lớn trong xuất khẩu

Trang 39

Dù có nhiều tiềm năng thành công, Trung Quốc và Ấn Độ không thể có lợi thế so sánh trong mọi lĩnh vực Điều này ảnh hưởng như thế nào tới các nước khác? Để trả lời câu hỏi này, cần cách tiếp cận vững chắc hơn dựa trên bối cảnh nền kinh tế thế giới nói chung và của những Người khổng lồ nói riêng ngày càng gặp nhiều khó khăn

Điểm cân bằng chung

Chương 3 phân tích tăng trưởng và năng lực của những Người khổng lồ và những ảnh hưởng của nó đến thương mại quốc tế Một số phương pháp tiếp cận đã được sử dụng để trả lời câu hỏi trên Một số học giả tập trung vào quan

hệ thương mại song phương – ví dụ như DfID (2005) và Jenkins và Edwards (2006) Quan hệ thương mại song phương là quan hệ trực tiếp nhất giữa hai quốc gia Và khi hai quốc gia cùng cạnh tranh ở thị trường nước thứ 3, thì ngay

cả khi giữa hai nước không có quan hệ thương mại trực tiếp thì ảnh hưởng qua lại giữa hai bên rất lớn Hơn nữa, khi nhu cầu của Trung Quốc tăng lên, khó khăn về nguyên liệu đầu vào sẽ quyết định xuất khẩu của các nước này vào Trung Quốc chứ không do yếu tố tỉ trọng hiện nay của các nước này trong nhập khẩu của Trung Quốc quyết định

Nghiên cứu tập trung vào thị trường quốc tế và so sánh xu hướng thương mại của Trung Quốc và nước được nghiên cứu Các nghiên cứu cho rằng các nước với cơ cấu xuất khẩu giống Trung Quốc sẽ chịu thiệt thòi khi Trung Quốc tăng trưởng, trong khi các nước có hàng xuất khẩu phù hợp với nhu cầu nhập khẩu của Trung Quốc sẽ tăng mạnh (xem Lall và Weiss 2004; Goldstein và các tác giả khác, 2006; và Stevens và Kennan 2006) Thông tin này rất hữu ích

vì nó khẳng định cơ chế chính kết nối tăng trưởng hàng hóa giữa hai nước là tăng trưởng thế giới, và trong tương lai trung hạn, vị trí của thị trường không quan trọng bằng cán cân cung cầu Tuy nhiên, phương pháp này bỏ qua đặc điểm chính của Trung Quốc – kích cỡ của nước này Ví dụ gía trị 1% xuất khẩu một mặt hàng cụ thể của Trung Quốc nhiều hơn giá trị xuất khẩu mặt hàng

đó của Thái Lan kể cả khi mặt hàng đó chiếm 5% tổng xuất khẩu của Thái Lan Hơn nữa, vì dựa hoàn toàn vào số liệu thương mại quốc tế, phương pháp này không tính đến khó khăn về nguồn lực cho phát triển trong tương lai của Trung Quốc, cũng như ảnh hưởng của nó đối với giá tương đối, cả hai yếu tố này đều có thể điều chỉnh đặc điểm ban đầu

Phân tích ảnh hưởng thương mại từ tăng trưởng của những Người khổng lồ giải quyết những câu hỏi này bằng việc đưa ra mô hình Cân bằng tổng thể có

Trang 40

thể tính được (CGE) Mô hình CGE tạo ra sự thống nhất nội bộ trong các kết luận của nó, mô hình này giả định mất cân bằng trong thương mại phải được kiểm soát và cung đối với mỗi loại hàng hóa và yếu tố sản xuất bằng cầu Khi đánh giá ảnh hưởng của những cú sốc lớn có giá trị bằng khoảng hai lần nền kinh tế của Người khổng lồ, mô hình này đặc biệt quan trọng và đương nhiên

nó cũng có những điểm yếu Mô hình này dùng công nghệ hằng số thu nhập – dựa trên quy mô đơn giản; năng suất; lao động, và vốn đều là biến ngoại sinh, và quan hệ hành vi đơn giản Phương pháp mô hình hóa này ít sử dụng

số liệu thương mại chi tiết mà chủ yếu là các phương pháp đã nói trước, song cũng cố gắng khái quát những đặc điểm trong quan hệ thương mại, chính sách thương mại, cấu trúc sản xuất, và thị trường các yếu tố sản xuất vào năm 2001 (năm cơ sở của mô hình) và ước tính các chỉ số hành vi tại nhiều thị trường khác nhau

Chương 3 “tính toán nền kinh tế thế giới” trong tương lai dựa trên cơ sở

từ 2001 – 2005, có tính đến sự mở rộng của Liên minh Châu Âu, quá trình tự

do hóa thương mại sau khi hoàn thành vòng đàm phán Uruguay, quá trình

tự do hóa gần đây của Ấn Độ, và việc Trung Quốc tham gia Tổ chức Thương mại Quốc tế Chương này cũng giả định Ấn Độ sẽ tiếp tục quá trình cải cách thuế và thương mại đến năm 2020, và sử dụng ước tính tăng trưởng năng suất và nguồn cung đầu vào ở tất cả các nước và khu vực là biến ngoại sinh Những ước tính này lấy từ “ước tính chính” của Ngân hàng Thế giới và vì vậy liên quan đến tỉ lệ tăng trưởng trong Bảng 1.1 Tóm lại, tỉ lệ tăng trưởng nhập khẩu/năm ước tính tăng khoảng 6,6% và 6,3% tương ứng cho Trung Quốc và

Ấn Độ, và tỉ lệ tăng trưởng xuất khẩu/ năm 7,8% và 7,5% cho Trung Quốc và

Ấn Độ (xem Bảng 1.3) Những tỉ lệ này ngầm định rằng Trung Quốc sẽ đóng góp 15% vào tổng mức tăng trưởng xuất khẩu và 11% vào nhập khẩu, trong khoảng 2005 đến 2020, so với con số tương ứng của Mỹ là 10% và 15 %; Ấn

Độ 2,7% và 2,2% Tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu cao hơn nhập khẩu không có nghĩa là Trung Quốc và Ấn Độ được hưởng thặng dự thương mại tăng thêm

vì giá tương đối thay đổi Trên thực tế, vì lý do kỹ thuật, chúng tôi giả định cán cân tài khoản vãng lai hiện nay bằng mức năm 2001 (tỷ lệ so với GDP)

là +1,3% cho Trung Quốc và +0,3% cho Ấn Độ Như đã nói ở trước, chúng tôi nhấn mạnh rằng những tỉ lệ tăng trưởng này không phải là dự đoán, nhưng có thể là quy mô đáng tin cậy để xác định thứ tự và là cơ sở cho một

số thử nghiệm

Câu hỏi tiếp theo là điều gì sẽ xảy ra nếu Trung Quốc và Ấn Độ tăng trưởng cao hơn ở mức tương ứng là 1,9 điểm % và 2,1 điểm % mỗi năm, do năng suất

Ngày đăng: 04/01/2017, 18:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 Tổng sản phẩm quốc nội của sáu nền kinh tế lớn - Vũ điệu với Người khổng lồ TRUNG QUỐC, ẤN ĐỘ, VÀ NỀN KINH TẾ TOÀN CẦU
Bảng 1.1 Tổng sản phẩm quốc nội của sáu nền kinh tế lớn (Trang 24)
Hình 1.1 So sánh Trung Quốc và những tăng trưởng trước đó - Vũ điệu với Người khổng lồ TRUNG QUỐC, ẤN ĐỘ, VÀ NỀN KINH TẾ TOÀN CẦU
Hình 1.1 So sánh Trung Quốc và những tăng trưởng trước đó (Trang 27)
Hình 2.2 Cơ cấu sản phẩm nhập khẩu - Vũ điệu với Người khổng lồ TRUNG QUỐC, ẤN ĐỘ, VÀ NỀN KINH TẾ TOÀN CẦU
Hình 2.2 Cơ cấu sản phẩm nhập khẩu (Trang 61)
Bảng 2.5 Xuất khẩu công nghiệp tính theo phần trăm của tổng xuất khẩu, Trung  Quốc và Ấn Độ - Vũ điệu với Người khổng lồ TRUNG QUỐC, ẤN ĐỘ, VÀ NỀN KINH TẾ TOÀN CẦU
Bảng 2.5 Xuất khẩu công nghiệp tính theo phần trăm của tổng xuất khẩu, Trung Quốc và Ấn Độ (Trang 70)
Bảng 3.3 Tác động của hòa nhập với nền kinh tế thế giới của Ấn Độ, 2020 - Vũ điệu với Người khổng lồ TRUNG QUỐC, ẤN ĐỘ, VÀ NỀN KINH TẾ TOÀN CẦU
Bảng 3.3 Tác động của hòa nhập với nền kinh tế thế giới của Ấn Độ, 2020 (Trang 101)
Hình 3.4 Phần đóng góp cho xuất khẩu ở Trung Quốc và Ấn Độ, 2001 - Vũ điệu với Người khổng lồ TRUNG QUỐC, ẤN ĐỘ, VÀ NỀN KINH TẾ TOÀN CẦU
Hình 3.4 Phần đóng góp cho xuất khẩu ở Trung Quốc và Ấn Độ, 2001 (Trang 102)
Bảng 3.4  Dự đoán sản lượng, yếu tố đầu vào và dân số, 2005–20 - Vũ điệu với Người khổng lồ TRUNG QUỐC, ẤN ĐỘ, VÀ NỀN KINH TẾ TOÀN CẦU
Bảng 3.4 Dự đoán sản lượng, yếu tố đầu vào và dân số, 2005–20 (Trang 105)
Bảng 3.5 Thay đổi của những chỉ số kinh tế chính do kết quả của tăng trưởng toàn  cầu, 2005–20 - Vũ điệu với Người khổng lồ TRUNG QUỐC, ẤN ĐỘ, VÀ NỀN KINH TẾ TOÀN CẦU
Bảng 3.5 Thay đổi của những chỉ số kinh tế chính do kết quả của tăng trưởng toàn cầu, 2005–20 (Trang 107)
Bảng 3.6 Phúc lợi và thay đổi thương mại do kết quả của tăng trưởng toàn cầu 2005–20 - Vũ điệu với Người khổng lồ TRUNG QUỐC, ẤN ĐỘ, VÀ NỀN KINH TẾ TOÀN CẦU
Bảng 3.6 Phúc lợi và thay đổi thương mại do kết quả của tăng trưởng toàn cầu 2005–20 (Trang 109)
Bảng  3.10  Số lượng hàng xuất khẩu thay đổi theo một vài kịch bản, so với cơ sở, 2020 - Vũ điệu với Người khổng lồ TRUNG QUỐC, ẤN ĐỘ, VÀ NỀN KINH TẾ TOÀN CẦU
ng 3.10 Số lượng hàng xuất khẩu thay đổi theo một vài kịch bản, so với cơ sở, 2020 (Trang 121)
Bảng 4.1 Thành phần tài sản và nợ nước ngoài, 2004 - Vũ điệu với Người khổng lồ TRUNG QUỐC, ẤN ĐỘ, VÀ NỀN KINH TẾ TOÀN CẦU
Bảng 4.1 Thành phần tài sản và nợ nước ngoài, 2004 (Trang 131)
Hình 4.3 Các nước có tài sản và nợ nước ngoài đứng đầu, 2004 - Vũ điệu với Người khổng lồ TRUNG QUỐC, ẤN ĐỘ, VÀ NỀN KINH TẾ TOÀN CẦU
Hình 4.3 Các nước có tài sản và nợ nước ngoài đứng đầu, 2004 (Trang 134)
Bảng 5.1 Cân bằng năng lượng ở Trung Quốc và Ấn Độ, 1980–2003 - Vũ điệu với Người khổng lồ TRUNG QUỐC, ẤN ĐỘ, VÀ NỀN KINH TẾ TOÀN CẦU
Bảng 5.1 Cân bằng năng lượng ở Trung Quốc và Ấn Độ, 1980–2003 (Trang 160)
Bảng 5.2 Thay đổi mật độ năng lượng ở Trung Quốc, Ấn Độ và Mỹ - Vũ điệu với Người khổng lồ TRUNG QUỐC, ẤN ĐỘ, VÀ NỀN KINH TẾ TOÀN CẦU
Bảng 5.2 Thay đổi mật độ năng lượng ở Trung Quốc, Ấn Độ và Mỹ (Trang 161)
Hình 5.1 Sử dụng năng lượng cơ bản là than và tổng khí thải  CO 2  do - Vũ điệu với Người khổng lồ TRUNG QUỐC, ẤN ĐỘ, VÀ NỀN KINH TẾ TOÀN CẦU
Hình 5.1 Sử dụng năng lượng cơ bản là than và tổng khí thải CO 2 do (Trang 165)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w