1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khóa luận ý nghĩa biểu tượng muối và gừng trong ca dao người Việt SV Quách Thị Diệu Hiền Sp Văn K12

55 2,1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 381,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích chuyên sâu về hai biểu tượng luôn đi đôi với nhau trong văn học dân gian Việt Nam mà cụ thể ở đây là biểu tượng muối và gừng trong ca dao người Việt.Có thể tham khảo phương pháp viết cũng như sắp xếp các danh mục một cách phù hợp.

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Với lòng biết ơn sâu sắc, lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn cô giáo, TS Buôn Krông Tuyết Nhung, Trưởng Bộ môn Ngữ Văn - Khoa Sư phạm - Trường Đại học Tây Nguyên đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ em trong quá trình học tập nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Nhân đây em cũng chân thành cảm ơn quý thầy cô trong tổ bộ môn Ngữ Văn,

tổ bộ môn Ngôn ngữ giảng dạy tại Trường Đại học Tây Nguyên cùng các bạn sinh viên lớp Sư phạm Ngữ văn K12 đã tạo điều kiện và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Đây là lần đầu bản thân tiến hành nghiên cứu khoa học nên không thể tránh khỏi những hạn chế cũng như thiếu sót Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn

Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên thực hiện

Quách Thị Diệu Hiền

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Lý do chọn đề tài

Ca dao là một bộ phận quan trọng của thơ ca dân gian, đã gắn liền với biết bao nhiêu thế hệ người Việt từ ngàn xưa và đã để lại trong tâm hồn mỗi chúng ta những dấu ấn khó phai mờ Những vấn đề xoay quanh thể loại ca dao cho đến ngày nay vẫn còn nguyên vẹn sức hút đối với những nhà nghiên cứu văn học cũng như phần lớn các độc giả đam mê khám phá văn học dân gian, đặc biệt là vấn đề về biểu tượng văn học - văn hóa trong ca dao

Biểu tượng văn học - văn hóa trong ca dao từ ca dao than thân, ca dao tình yêu lứa đôi hay ca dao về tình yêu thiên nhiên đất nước đều hết sức sinh động, phong phú và chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa Ở đó có những biểu tượng mang tính chất nhân văn sâu sắc như biểu tượng “con cò” nói về thân phận “chân lấm tay bùn” của những kiếp người “thấp cổ bé họng”; biểu tượng “cây cầu” bắc nhịp tình cảm cho những đôi lứa yêu nhau; hay biểu tượng “con trâu” thể hiện sự cần cù, chịu khó, của người nhà nông

Bên cạnh những biểu tượng trên, với văn học dân gian mà cụ thể là ca dao, chúng ta không thể không nhắc đến biểu tượng “muối” và “gừng” - những biểu tượng thấm đẫm tình người của ca dao Việt Nam

Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy rằng biểu tượng “muối” và “gừng” không chỉ mang ý nghĩa về đời sống cá nhân nói riêng mà nó còn mang nhiều tầng nghĩa có liên quan đến đời sống xã hội con người Việt Nam nói chung Đặc biệt trong chương trình giảng dạy ở nhà trường phổ thông, ca dao chiếm một mảng quan trọng Ngoài ra, ca dao còn có sự tác động ảnh hưởng đến các sáng tác nghệ thuật của nhiều tác giả văn học trung đại cũng như đương đại

Chính vì vậy, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Ý nghĩa biểu tượng “muối”

và “gừng” trong ca dao người Việt” làm khóa luận tốt nghiệp

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là khảo sát ý nghĩa biểu tượng “muối” và “gừng” trong ca dao người Việt một cách có hệ thống, để từ đó thấy rõ quan niệm về đạo đức, tình cảm và quan niệm nghệ thuật của người lao động được thể hiện trong ca dao

Trang 4

PHẦN THỨ HAI: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Ca dao là một thể loại phong phú và đặc sắc, thu hút được sự quan tâm của đông đảo độc giả trong và ngoài nước, đồng thời là nguồn đề tài vô tận đối với các nhà nghiên cứu và các nhà phê bình văn học Việc nghiên cứu, đánh giá đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ trên nhiều phương diện và còn hứa hẹn nhiều khám phá mới lạ Có thể nhắc đến một số công trình tiêu biểu như sau:

Trước hết, ca dao là một thể loại xuất hiện từ lâu đời chủ yếu được lưu truyền bằng phương thức truyền miệng, thế nên trước hết phải kể đến những công trình khoa học dựa trên việc sưu tầm, biên soạn và phân loại Cụ thể như sau:

Giáo sư Đinh Gia Khánh đã sưu tầm và biên soạn cuốn Ca dao Việt Nam [4] trong đó đã phân loại thành tám nội dung chính với dụng ý phản ánh những nét chính về cuộc đời con người và bộ mặt xã hội cũ ở nước ta

Nhà nghiên cứu và phê bình văn học Vũ Ngọc Phan rất tâm huyết khi sưu tầm

và biên soạn cuốn Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam [10] với việc phân loại rõ ràng

và sắc nét dựa trên nội dung và hình thức của ca dao Đồng thời còn quan tâm đến vấn đề khái niệm cũng như quá trình xuất hiện của thể loại này

Nhà phê bình nghiên cứu văn học Nguyễn Quốc Tăng đã dày công sưu tầm và biên soạn cuốn Tục ngữ ca dao Việt Nam [11] dưới góc độ đối xứng và bổ sung qua lại giữa tục ngữ và ca dao trong văn học dân gian Tác giả giới thiệu cuốn sách nhằm đóng góp một phần nhỏ vào việc gìn giữ, bảo tồn nét đẹp của văn học dân gian Việt Nam

Công trình Ca dao Việt Nam [3] được tác giả Bích Hằng tuyển chọn được xuất bản bởi nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin lại khác với những công trình trên, với cách phân loại ca dao thành ba phần: ca dao cổ bao gồm những nội dung về văn hóa xã hội, phong tục tập quán; tình yêu đôi lứa; tình cảm gia đình, tình yêu quê hương đất nước; kinh nghiệm sản xuất; ca dao trào phúng; ca dao kháng chiến và

ca dao về Bác Hồ

Tác giả Nguyễn Xuân Kính đã tiến hành nghiên cứu ca dao trên phương diện thi pháp với chuyên luận có tên là “Thi pháp ca dao” Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và công phu về thi pháp ca dao từ trước đến nay Chuyên luận có kết cấu chặt chẽ gồm tám chương, chủ yếu nói về những vấn đề liên quan

Trang 5

đến thi pháp ca dao như ngôn ngữ, thể thơ, không gian và thời gian nghệ thuật Trong đó, tác giả đã giành trọn một chương để nghiên cứu về một số biểu tượng thường xuất hiện trong ca dao như: cây trúc, cây mai, con cò, con trâu, mận, đào hoa nhài Qua đó nêu rõ những biểu hiện về ý nghĩa và nội dung, được thể hiện trong sự đối sánh với văn học thành văn.

Bên cạnh những công trình nghiên cứu đặc sắc trên còn có những bài viết về ca dao được in trên các tạp chí, báo mạng như bài “Con cò - một biểu tượng về thân phận Việt” của nhà báo Chữ Thu Hằng (Văn nghệ Tiền Giang online, tháng 11/2012), hay bài “Điều kì diệu của đôi dải yếm” của Trần Thị Trâm (Tuyển tập mười năm Tạp chí văn học (2003), NXB Giáo dục)

Một số khóa luận, chuyên đề tốt nghiệp của các sinh viên chuyên ngành của trường Đại học Tây Nguyên cũng chọn đề tài ca dao làm vấn đề nghiên cứu như khóa luận “Ý nghĩa biểu tượng cá trong ca dao người Việt” của sinh viên Nguyễn Thị Cúc (Sư phạm Ngữ văn K11), hay khóa luận “Biểu tượng cây cầu trong ca dao trữ tình người Việt” của sinh viên Hứa Thị Sang (Sư phạm Ngữ văn K11)

Nhìn một cách tổng thể, phần lớn các bài nghiên cứu trên đều có chung một khẳng định: ca dao đóng một vai trò quan trọng trong nền văn học dân tộc, đồng thời ý nghĩa biểu tượng trong ca dao cũng mang đậm dấu ấn nhân văn của con người Việt Nam

Đối với vấn đề biểu tượng “muối” và “gừng” trong ca dao người Việt, đã có một số công trình đi trước tiến hành nghiên cứu như công trình “Một biểu tượng kép

về sự thuỷ chung trong ca dao: Muối mặn - Gừng cay” của ThS Triều Nguyên - thành viên thuộc Hội VNDG Thừa Thiên Huế Với công trình này, ThS Triều Nguyên cho rằng đây là một biểu tượng kép nói về sự thủy chung của đôi lứa yêu nhau, đồng thời tác giả cũng đã sưu tầm, khảo sát được một số câu ca dao chứa đựng biểu tượng này Qua đó tác giả đã chỉ ra được những thủ pháp nghệ thuật góp phần hình thành nên biểu tượng kép

“Muối mặn - Gừng cay”

Song, xét trên khía cạnh riêng lẻ thì vấn đề “Ý nghĩa biểu tượng “muối” và

“gừng” trong ca dao người Việt” vẫn chưa được nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện Từ việc tiếp thu ý kiến của những người đi trước, chúng tôi đã mạnh dạn đưa ra một hướng nghiên cứu mới là: “Ý nghĩa biểu tượng “muối” và “gừng” trong

ca dao người Việt” Trên cơ sở tiếp thu những nhận xét đánh giá quý báu của

Trang 6

sát nhũng câu ca dao Việt Nam đã được các tác giả sưu tầm và biên soạn Từ đó làm nổi bật vai trò, ý nghĩa cũng như giá trị của biểu tượng “muối” và “gừng” trong đời sống tình cảm xã hội của con người Việt Nam, cũng như tầm quan trọng

mà ca dao đóng góp cho nền văn học nước nhà

Trang 7

PHẦN THỨ BA: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Ý nghĩa biểu tượng “muối” và “gừng” trong ca dao người Việt

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Với đề tài này, chúng tôi tập trung khảo sát ở một số tài liệu cụ thể như sau:

- Tập Ca dao Việt Nam (GS Đinh Gia Khánh (1995), Ca dao Việt Nam, NXB

Đồng Tháp)

- Tập Tục ngữ ca dao Việt Nam (Nguyễn Quốc Tăng (2000), Tục ngữ ca dao

Việt Nam, NXB Thuận Hóa, Huế).

- Tập Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam (Vũ Ngọc Phan (2007), Tục ngữ ca dao

dân ca Việt Nam, NXB Văn học, TP Hồ Chí Minh).

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu về nguồn gốc của biểu tượng “muối”

và “gừng” trong ca dao người Việt

- Phân tích đặc điểm về mặt kết cấu cũng như mặt nội dung, ý nghĩa của biểu tượng “muối” và “gừng”

- Đồng thời phát hiện ra một số nét đặc sắc về nghệ thuật được sử dụng trong ca dao

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp thống kê phân loại

Thống kê biểu tượng “muối” và “gừng” trong ca dao người Việt xét trong phạm vi nghiên cứu và phân loại theo từng nội dung cụ thể

3.4.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Để có được cái nhìn và cách đánh giá vừa cụ thể, vừa khái quát về đề tài này, người viết sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp Đây là phương pháp căn bản của khóa luận Người viết sẽ đi vào phân tích những nét đặc trưng về biểu tượng

“muối” và “gừng” trong ca dao Việt Nam Từ đó khái quát nên nét đặc trưng của biểu tượng “muối” và “gừng” dưới góc độ mĩ học của biểu tượng văn học

3.4.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu

Để làm rõ nội dung của đề tài, đồng thời thấy được nét đặc sắc, độc đáo mang tính đặc trưng của biểu tượng “muối” và “gừng” trong ca dao người Việt; người

Trang 8

viết tiến hành so sánh với các biểu tượng khác trong ca dao, đặc biệt là so sánh với biểu tượng “muối” và “gừng” được sử dụng trong tục ngữ Đồng thời người viết cũng so sánh biểu tượng “muối” và “gừng” theo từng vùng miền khác nhau để thấy được sự khác biệt giữa các vùng.

Người viết đã tiến hành đối chiếu biểu tượng “muối” và “gừng” trong văn học với “muối” và “gừng” trong thực tế để thấy được giá trị của biểu tượng cũng như những sáng tạo độc đáo của cha ông ta để lại

Trong quá trình triển khai đề tài, người viết sử dụng các phương pháp trên trong mối liên quan bổ trợ lẫn nhau Ngoài ra khóa luận còn sử dụng một số phương pháp khác: phương pháp phân tích, bình giảng tác phẩm văn học, phân tích nhân vật - hình tượng văn học, cùng một số phương pháp khảo sát thực tế cụ thể khi cần thiết

Trang 9

PHẦN THỨ TƯ: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1

NGUỒN GỐC BIỂU TƯỢNG

“MUỐI” VÀ “GỪNG” TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT

1.1 Giới thiệu về ca dao

1.1.1 Khái niệm

Ca dao là một thể loại văn học ra đời đã lâu, gắn liền với phong tục tập quán của người Việt Nam và được lưu truyền đạt qua nhiều thế hệ bằng phương thức truyền miệng Tuy nhiên việc định nghĩa ca dao vẫn là một việc làm tương đối khó khăn, dễ nhầm lẫn giữa thể loại ca dao và dân ca

Trong chương trình phổ thông khái niệm về ca dao được giản lược rất ngắn gọn như sau: “Ca dao diễn tả đời sống, tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của nhân dân trong các quan hệ lứa đôi, gia đình, quê hương, đất nước, ” [8; tr.82]

Trong cuốn sách Tục ngữ - Ca dao - Dân ca [10], ngoài việc đưa ra khái niệm

về ca dao, nhà nghiên cứu và phê bình văn học Vũ Ngọc Phan đã so sánh, phân biệt giữa ca dao và dân ca Ông đã dày công sưu tầm nhiều cách lí giải cũng như cách phân biệt giữa dân ca và ca dao dựa trên hình thức lẫn nội dung của những bậc tiền bối đi trước như: “Ca dao là vốn là một thuật ngữ Hán Việt” Về vấn đề này, trong Văn học dân gian tập II (Lịch sử văn học Việt Nam), Đinh Gia Khánh có chú thích như sau: “Trong Kinh Thi, phần Ngụy phong bài Viên hữu đào có câu: “Tâm chi

ưu hĩ, ngã ca thả dao” (lòng ta buồn, ta ca và dao) Sách Mao truyện viết: “Khúc hợp nhạc viết ca, đô ca viết dao” (khúc hát cho nhạc đệm theo lời gọi là ca, còn hát trơn thì gọi là ca dao) Trong sách Cổ dao ngạn, bài Phàm lệ lại phân biệt thêm:

“Ca và dao khác nhau ở chỗ dao có thể là lời của nhiều bài ca ”.” [10; tr.23] Nhưng theo ông giữa ca dao và dân ca có sự khác biệt ở chỗ : ca dao là thơ dân gian nhưng vẫn có thể ngâm thành điệu, và một khi đã như vậy thì ca dao sẽ biến thành dân ca vì cần phải thêm tiếng đệm Còn dân ca ngay tự bản thân nó đã “là câu hát đã thành khúc điệu” Ngoài ra ca dao có thể phổ biến rộng rãi giữa các vùng miền trên đất nước như bài ca dao:

“Gió đưa cành trúc la đà,Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương

Trang 10

Mịt mù khói tỏa ngàn sương,Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.” [10; tr.371]

Hoặc như bài:

“Trên trời có ông sao Tua

Ở làng Minh Giám có vua Ba Vành” [10; tr.376]

thì nhân dân nhiều nơi vẫn biết và thường xuyên ngâm nga Có thể nói mức độ ảnh hưởng của ca dao rất rộng rãi thế nhưng dân ca lại khác, bởi nó còn phụ thuộc vào vùng miền địa phương như quan họ Bắc Ninh, hát bài chòi ở Quảng Nam, Quảng Ngãi hay như hát cải lương ở miền Nam Bộ thì chỉ nhân dân ở các địa phương nói trên mới sử dụng và ca hát được

Qua sự phân tích sắc sảo và xác thực của nhà nghiên cứu và phê bình văn học

Vũ Ngọc Phan, ta biết được rõ hơn về thể loại văn học mang tính chất cổ truyền Nhưng để cặn kẽ hơn, cần phải tìm hiểu cách định nghĩa về ca dao của ông Chu Xuân Diên được tập hợp trong cuốn Từ điển văn học bộ mới [7] Không chỉ định nghĩa đơn thuần về ca dao, ông còn nói rõ về việc xuất xứ cũng như tên gọi của thể loại này Theo ông “Ca dao còn gọi là “phong dao” Phong dao, ca dao không phải

là những thuật ngữ dân gian Đó là những thuật ngữ Hán - Việt Thuật ngữ phong dao đầu tiên được các nhà Nho dùng ở Việt Nam để gọi bộ phận những câu thơ mà

họ quan tâm tới, đã ghi chép trong vốn ca dao và lời nói ví truyền miệng của nhân dân Bộ phận những câu thơ ấy phần nhiều có nội dung phản ánh phong tục, hoặc

có ý nghĩa giáo dục theo cách hiểu của nhà Nho, vì vậy được xem như là phần tinh túy nhất của thơ ca dân gian và thơ ca dân tộc Từ cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ

XX, đã có những sách như Nam Phong giải trào, Quốc phong thi hợp thái (Hợp tuyển thơ quốc phong), Việt Nam phong sử (Bộ sửu phong dao Việt Nam), Đại Nam quốc túy (Quốc túy Đại Nam), Tục ngữ phong dao tập hợp, ghi chép thơ ca dân gian Việt Nam theo khuynh hướng trên So với thuật ngữ phong dao và những thuật ngữ xuất phát từ thuật ngữ đó như phong thi, nam phong, quốc phong, phong sử kể trên, thì thuật ngữ ca dao có nội dung rộng hơn Thuật ngữ này đã từng được dùng phổ biến trong giới trí thức Hán học ở Trung Quốc nhiều thế kỷ trước

Nó được các nhà tri thức Hán học Việt Nam dùng một cách rộng rãi từ đầu thế kỷ

XX cùng với thuật ngữ phong dao, và ngày càng được dùng một cách phổ biến cho tới ngày nay.” [7; tr.179] Đoạn trích trên đã sơ lược về xuất xứ của những tên gọi

Trang 11

về thể loại này trước khi có tên chính thức là ca dao, còn về khái niệm ca dao thì ông cho rằng: “Cho nên, về sau người ta còn dùng thuật ngữ ca dao để chỉ một hình thức thể loại của thơ ca dân tộc: những sáng tác theo thể ca dao có thể thuộc phạm trù văn học dân gian nếu đó là những sáng tác tập thể, truyền miệng, cũng có thể thuộc phạm trù văn học thành văn nếu đó là những sáng tác cá nhân, thành văn.” [7; tr.179] Khái niệm trên đã nói được hết những đặc điểm đặc trưng của thể loại

ca dao và phần nào giúp ta phân biệt với những thể loại văn học dân gian khác như thơ sử thi, vè, câu đối

Xét về nội dung và hình thức, nghệ thuật của ca dao rất tinh vi, tế nhị, đáp ứng mật thiết với những nội dung phong phú mà ca dao đề cập đến Cách dùng chữ, những lối biến thể, những hình tượng được trừu tượng hóa, nhân cách hóa sát với thực tế biểu hiện ở nội dung, làm cho ca dao trở nên thắm thiết về mặt trữ tình nhưng đồng thời cũng phản ánh sắc nét về cuộc sống của nhân dân lao động

1.1.2 Phân loại

Có nhiều cách để phân loại ca dao như theo thời gian lịch sử, theo nội dung hay theo hình thức Sau đây là một số cách phân loại mà những nhà nghiên cứu đi trước đã đề cập đến như:

Nhà nghiên cứu và phê bình văn học Chu Xuân Diên đã gọi ca dao là ca dao dân gian nhằm phân biệt với những bài ca dao hiện nay do cá nhân sáng tác, và những bài ca dao trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 thì được gọi là ca dao cổ truyền

Về mặt nội dung ca dao cổ truyền phản ánh sâu rộng các mặt của đời sống con người cũng như xã hội lúc bấy giờ với các chủ đề đặc trưng, trước hết là tình yêu nam nữ, bên cạnh đó là những chủ đề khác về đời sống lao động, thiên nhiên, triết lý sống

Về hình thức, ca dao cổ truyền thường dùng các thể thơ dân tộc như lục bát hay song thất lục bát Theo Chu Xuân Diên thì: “Sáng tác ca dao có thể dài ngắn khác nhau, nhưng nhìn chung có thể phân làm hai loại: loại những câu ca dao là những sáng tác chỉ gồm một khổ lục bát hoặc song thất lục bát, và loại những bài ca dao có số khổ thơ nhiều hơn.” [7; tr.180] Ngoài ra ca dao còn sử dụng những lối cấu tứ, biện pháp nghệ thuật để hình tượng hóa trong ca dao trở nên sống động, dễ tiếp nhận bởi ca dao vốn là những câu chữ gần gũi với đời sống hàng ngày Nhờ những vần điệu mang sự thanh thoát, dễ ghi nhớ tạo nên những nhịp điệu mà ca dao được dùng như lời ca tiếng hát đối đáp, bên cạnh đó ca dao còn được sử dụng trong lời nói sinh hoạt hàng ngày Có thể nói ca dao đã trở thành ngôn ngữ giao tiếp trực tiếp

Trang 12

trong cả hai lĩnh vực trên.

Về nội dung của ca dao, Vũ Ngọc Phan đã chia thành: “tình yêu của nhân dân Việt Nam trong ca dao”, “ý thức lao động và sản xuất của nhân dân Việt Nam trong

ca dao và dân ca” và “tình yêu nhân đạo chủ nghĩa của ca dao và dân ca” [10; tr.33] Thơ ca như một nguồn cảm hứng, như là nơi khởi đầu của biết bao nỗi niềm tâm sự của người dân lao động trước thế sự của cuộc đời, và ca dao chính là phương tiện thích hợp nhất tạo nên sự đồng cảm giữa người với người vì đặc trưng

cơ bản của nó là tính truyền miệng Những tình cảm, tình yêu và tâm sự thầm kín

đó được biểu hiện trong ca dao thông qua nhiều mặt, giữa những mối quan hệ với nhau như giữa những con người trong gia đình, xóm làng; giữa đôi bên trai gái hay lớn hơn nữa là tình cảm đối với ruộng đồng, quê hương; với đất nước; với thiên nhiên hay cao cả hơn là tình yêu đồng loại, yêu hòa bình Bên cạnh đó ca dao còn thể hiện tư tưởng đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác của nhân dân Việt Nam và dần dần điều đó được hoàn thiện qua các thời kì lịch sử Do cảm xúc cấu tứ nên lời ca ,

vì vậy những tư tưởng tình cảm của nhân dân Việt Nam được bộc lộ qua ca dao mang lại sự đồng cảm sâu sắc giữa người với người, đồng thời còn thể hiện được những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam Tình yêu của nhân dân Việt Nam được thể hiện trong ca dao trước hết là tình yêu giữa nam nữ dưới thời phong kiến Một mặt ca dao khẳng định tình cảm trong sáng, đẹp đẽ của những đôi lứa yêu nhau nhưng mặt khác cũng phản ánh xã hội phong kiến với những ràng buộc độc đoán đã phá vỡ không biết bao nhiêu mối tình đẹp, hay hệ lụy của việc “cha

mẹ đặt đâu con ngồi đó” được thể hiện ẩn ý qua câu ca dao sau:

“Lấy chồng chẳng biết mặt chồng,Đêm nằm mơ tưởng, nghĩ ông láng giềng.” [10; tr.229]

Hay:

“Chồng lớn vợ bé thì xinhChồng bé vợ lớn ra tình chị em” [10; tr.229]

Đa số những bài về tình yêu về nam nữ vẫn nhiều hơn cả, nó đã thể hiện được những cung bậc cảm xúc như nỗi nhớ nhung khi xa cách, sự lo lắng bảo vệ cho tình yêu, nỗi đau thương khi phải chia lìa bởi lễ giáo phong kiến, cũng như sự khổ cực, những bất công trong cuộc sống vợ chồng do hủ tục phong kiến mà người chịu thiệt nhiều hơn cả vẫn là người phụ nữ Những điều đó đã làm cho ca dao có tính

Trang 13

chất trữ tình sâu sắc, điển hình như :

“Cá buồn cá lội thung thăng,Người buồn, người biết đãi đằng cùng ai?

Phương Đông chưa rạng sao mai,Đồng hồ chưa cạn, biết lấy ai bạn cùng?” [10; tr.177]

Bên cạnh đó là những câu ca dao thể hiện tình yêu quê hương đất nước, nơi

“chôn nhau cắt rốn” đậm đà, nhưng phần nhiều những tình cảm đó được thể hiện lồng ghép qua những hình ảnh dân dã, giản dị như khung cảnh đồng ruộng bao la, cảnh chợ búa, cây cầu con đò Qua đó, nhân dân nói lên những đặc trưng phong phú của từng vùng miền, những hình ảnh hùng vĩ của núi sông, của thác, của ghềnh Không chỉ vậy tinh thần chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta phần nào cũng được thể hiện qua những câu ca và những hình ảnh ấy

Có thể kể đến hình ảnh đèo Hải Vân bát ngát qua đôi câu ca dao sau:

“Hải Vân bát ngát ngàn trùng,Hòn Hồng ở đấy là trong vịnh Hàn.” [10; tr.35]

Qua việc giới thiệu quê hương, đất nước, ca dao còn giới thiệu những đặc sản của vùng quê ấy như:

“Một ngày mấy lượt trèo non,Lấy gì làm đẹp, làm giòn hở anh

Chiếu Nga Sơn, gạch Bát TràngVải tơ Nam Định, lụa hàng Hà ĐôngĐường lên xứ Lạng bao xa?

Cách một trái núi với ba quãng đồng

Ai ơi, đứng lại mà trông,

Kì núi Thành Lạng, nọ sông Tam Cờ ” [3; tr.362]

Hay:

“Ví dù đấy có lòng yêu,Bảo ta gánh ta Đông Triều cũng đi,

Xứ Nam nhất chợ Bằng Gồi,

Xứ Bắc Vân Khám, xứ Đoài Hương Canh.” [3; tr.365]

Ý thức lao động và sản xuất của nhân dân Việt Nam được thể hiện rõ trong ca dao ở mặt thực tiễn, như dùng để phổ biến kinh nghiệm sản xuất:

Trang 14

“Dưa gang một chạp thì trồngChiêm cấy trước Tết thì lòng đỡ loTháng hai đi tậu trâu bòCày đất cho ải, mạ mùa ta gieo” [3; tr.389]

Hay:

“Khó thay công việc nhà quê,Quanh năm khó nhọc, dám hề khoan thai

Tháng chạp thì mắc trồng khoaiTháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà,

Tháng ba cày vỡ ruộng raTháng tư bắc mạ, thuận hòa mọi nơi.” [3; tr.391]

mà còn biểu hiện ý thức lao động qua những bài ca ngợi lao động, khích lệ tinh thần lao động, làm nảy sinh trong họ tình yêu nghề nghiệp Hơn nữa đó còn là tình yêu mến ruộng đồng, núi rừng và không ngại khốn khó, nguy hiểm khi lên rừng xuống bể Chẳng hạn như:

“Ơn trời mưa nắng phải thì,Nơi thì bừa cạn, nơi thì cày sâu

Công lênh chẳng quản bao lâu,Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng

Ai ơi! Đừng bỏ ruộng hoangBao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu.” [3; tr.390]

Ngoài ra đó còn là tình cảm yêu mến đối với công cụ sản xuất, với con vật được xem là biểu tượng của nghề nông như hình ảnh con trâu đã được người nông dân chăm sóc ân cần, thân thương:

“Trâu ơi, ta bảo trâu này,Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta

Cày cấy giữ nghiệp nông gia,

Ta đây, trâu đấy, ai mà quản công?

Bao giờ cây lúa còn bôngThì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.” [3; tr.392]

Chính những tình cảm, tư tưởng đồng cảm sâu sắc đó đã biến những thứ đồ vật

vô tri vô giác như cái chày, cái cối và những con vật rất đỗi bình thường và quen

Trang 15

thuộc như con trâu, cái cò cái vạc, con gà, con chó thành những người bạn tâm tình, người cùng cảnh ngộ mà nhiều khi còn được xem như là người thân giữa cảnh neo đơn Chẳng hạn như:

“Giã ơn cái cối cái chày,Nửa đêm gà gáy, có mày, có tao

Giã ơn cái cọc cầu ao,Nửa đêm gà gáy, có tao, có mày.” [10; tr.37]

Và tính chất nhân đạo trong ca dao khác hẳn với văn chương bác học Ca dao với vai trò đặc trưng cho văn học bình dân nên đã cất lên tiếng nói đấu tranh đòi quyền sống, đấu tranh không chỉ với thiên nhiên khắc nghiệt mà còn đấu tranh với xã hội bất công Điều

đó đã nâng ca dao lên một tầm cao mới, đó là tinh thần nhân đạo thấm đẫm tình người Trong xã hội phong kiến, quyền sống của con người bị chà đạp, đặc biệt là thân phận người phụ nữ Vì vậy trong ca dao người lên tiếng tố cáo, chống đối và thể hiện sự chán ghét hầu hết là tiếng nói của những người phụ nữ Điển hình là tình cảnh chồng chung chua chát được thể hiện qua đôi câu ca dao sau:

“Lấy chồng làm lẽ khổ thay,

Đi cấy đi cày chị chẳng kể công

Đến tối chị giữ lấy chồng,Chị cho manh chiếu nằm không nhà ngoài

Đến sáng chị gọi: Bớ Hai,Trở dậy, nấu cám, thái khoai, băm bèo

Vì chưng bác mẹ tôi nghèo,Cho nên tôi phải băm bèo thái khoai.” [3; tr.412]

Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan khi phân chia nội dung ca dao trên những phương diện tiêu biểu như trên phần nào đã đáp ứng được khả năng thể hiện tư tưởng, tình cảm của nhân dân Việt Nam thông qua ca dao

Về hình thức, những bài ca dao thường ngắn gọn và hàm chứa ý tứ sâu xa từ hai, bốn, sáu hay tám câu Số lượng câu tuy không bắt buộc nhưng hầu hết đều giữ được trọn vẹn những chủ đề tư tưởng và tính chất mộc mạc vốn có của ca dao Đặc điểm nổi bật nhất về hình thức của ca dao là vần, vừa sát lại vừa thanh thoát, không

gò ép mà giản dị và rất tươi tắn Dường như đó là những câu nói cửa miệng của người nông dân nhưng đã được chải chuốt, gọn gàng hơn nhằm biểu hiện những

Trang 16

tình cảm, ý tứ sâu sắc.

Ca dao có nhiều thể mà nhiều hơn cả đó là thể sáu tám (tức là thể thơ lục bát truyền thống), thể bốn chữ và thể hai bảy sáu tám cũng có nhưng ít hơn Chẳng hạn thể ca dao bốn chữ ta có bài than thân sau:

“Bèo than thân bèo,Nằm trên mặt nước,Bạc than thân bạc,Đeo chiếc bông tai,Khoai than thân khoai,Đào lên bới xuống,Muống than thân muống,Bứt đọt nấu canh,

Anh than thân anh,

Vợ con chưa có,Người nói lòng nọ,

Kẻ nói lòng kia,Liều mình như súng bắn bia,Biết làm răng cho đặng sớm khuya cùng nàng!” [10; tr.199]

Để hình ảnh, cấu tứ ý nghĩa của câu trở nên đặc sắc và sống động hơn, ca dao thường

sử dụng các biện pháp nghệ thuật như nhân hóa, hoán dụ, nói giảm nói tránh, từ cùng trường nghĩa, sử dụng hình ảnh tượng trưng ước lệ

Bên cạnh đó, một số nhà nghiên cứu đã tiến hành tổng hợp ca dao và chia theo nội dung ca dao thành những tiểu loại như sau:

Đầu tiên là ca dao than thân - lời của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa Thân phận của họ thường bị phụ thuộc vào những người khác trong xã hội, giá trị phẩm chất của học không được người ta biết đến và trân trọng Thân phận ấy thường được so sánh với những hình ảnh như: tấm lụa đào, hạt mưa, miếng cau khô, cái giếng :

“Thân em như giếng giữa đàngNgười khôn rửa mặt, người phàm rửa chân.” [10; tr.222]Hay:

“Thân em như miếng cau khô,

Kẻ thanh tham mỏng, người thô tham dày.” [10; tr.225]Thứ hai là ca dao yêu thương, tình nghĩa thường đề cập đến tình yêu quê hương đất nước, tình yêu cuộc sống, yêu lao động, tình bạn cao đẹp, tình yêu đối

Trang 17

lứa (với những cung bậc tình cảm phong phú như nhớ thương, hờn giận, rung động, tương tư ), tình cảm gia đình (tình anh em, tình cảm của cha mẹ đối với con cái và ngược lại ), tình nghĩa thủy chung của con người trong cuộc sống,

Tình cảm gia đình là mảng ca dao thường gặp gắn liền với những bài học dạy làm người hay những bài học về tình người trong hiện thực đời sống như:

“Ai về tôi gửi buồng cauBuồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy

Ai về tôi gửi đôi giầyPhòng khi mưa gió để thầy mẹ đi.” [6; tr.66]

Đa phần ca dao yêu thương thường gắn với những biểu tượng như cái khăn, chiếc cầu, vì đây là những vật, những nơi mà nam nữ thường có nhiều kỉ niệm Khăn là kỉ vật luôn đi cùng người con gái còn chiếc cầu là nơi nam nữ hẹn hò tâm sự:

“Ước gì sông rộng một gangBắc cầu dải yếm, để chàng sang chơi!” [3; tr.175]

“Nước sông Tô vừa trong vừa mát,

Em ghé thuyền vào đỗ sát thuyền anh

Dừng chèo muốn ngỏ tâm tình,Sông bao nhiêu nước, thương mình bấy nhiêu.” [3; tr.182]

Và cuối cùng là ca dao hài hước với tiếng cười tự trào, tiếng cười hóm hỉnh, hồn nhiên vô tư nhằm “thi vị hóa” cuộc sống nghèo khổ của người dân lao động

Đó là tiếng cười tiếp sức để con người vượt lên hoàn cảnh Trong khi đó tiếng cười phê phán xã hội lại có mục đích đấu tranh xã hội mạnh mẽ hơn, nó hướng vào những thói hư tật xấu trong nội bộ hoặc lên án giai cấp thống trị ti tiện, tham lam,

Trang 18

Tiếng cười phê phán có nhiều mức độ: nhắc nhở, giễu cợt, đả kích, phủ nhận, Tiêu biểu là:

“Làm trai đã đáng nên trai,

Ăn cơm với vợ, lại nài vét niêu

Con vợ nó cũng biết điều,Thắt lưng con cón cạy niêu với chồng.” [10; tr.261]

Đồng thời các nhà nghiên cứu cũng đã xếp loại một số nhóm ca dao theo những thủ pháp nghệ thuật hay dùng như lặp lại các mô-típ mở đầu (thân em, ước gì, ), sử dụng nhiều mô-típ biểu tượng (cây cầu, dải yếm, muối mặn - gừng cay ) Việc phân loại theo những mô-típ đó thể hiện những nội dung thường lặp lại, chẳng hạn với mô-típ “thân em” thì hầu hết đều nói về thân phận trong sạch bị chà đạp của người phụ nữ trong xã hội phong kiến

“Cau non khéo bổ cũng dàyDầu thương cho mấy cơ hội này cũng ra

Bây giờ hỏi thiệt anh BaCòn thương như cũ hay là hết thương?

Ban ngày dãi nắng tối lại dầm sươngThân em lao khổ, mình có thương hỡi mình?” [3; tr.240]

Ngoài ra còn nhiều cách phân chia khác, nhưng hầu hết đều dựa trên nội dung

và hình thức của ca dao là chính

1.2 Nguồn gốc biểu tượng “muối” và “gừng”

1.2.1 Nguồn gốc

Trong ca dao, có những hình tượng thường được xuất hiện với tần suất dày đặc

và mang ý nghĩa đặc trưng, nhưng ý nghĩa đó phải được hầu hết mọi người tán thành, đồng thuận thì sẽ hình thành một biểu tượng được sử dụng thường xuyên.Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng do Nguyễn Như Ý chủ biên của Nhà xuất bản Giáo dục thì biểu tượng được hiểu là:

“Biểu tượng symbol dt Cái được dùng để tượng trưng cho điều gì đó Chim bồ câu là biểu tượng của hòa bình; tổ chức thi vẽ biểu tượng cho thế vận hội sắp tới.” [14; tr.68]

Ban đầu đó chỉ là những hình ảnh ước lệ nhằm thể hiện những tình cảm sâu sắc, nhưng dần dần trở thành một biểu tượng mang ý nghĩa cố định Chẳng hạn như

Trang 19

biểu tượng cây cầu có ý nghĩa tượng trưng cho sự qua lại giữa hai bờ bên này và bờ bên kia, từ đó hình thành nên những lớp ý nghĩa của sự chuyển giao Ví như sự chuyển giao giữa cõi trần thế và cõi âm tà được diễn ra trên cây cầu Nại Hà bắc qua con sông cùng tên theo truyền thuyết dân gian Và biểu tượng này xuất hiện trong ca dao còn mang ý nghĩa đại diện cho sự giao duyên giữa tình yêu nam nữ và được sử dụng nhằm bộc lộ không gian tâm trạng của đôi lứa yêu nhau Điển hình như:

“Thương thương, nhớ nhớ sầu sầuMột ngày ba bận ra cầu đứng trôngThấy người nam, bắc, tây, đôngThấy người thiên hạ mà không thấy chàng.” [6; tr.132]

“Ước gì sông rộng một gangBắc cầu dải yếm để chàng sang chơi.” [6; tr.126]

Vì vậy, nếu đã xác định hình ảnh “muối” và “gừng” là một biểu tượng có trong

ca dao bên cạnh những biểu tượng khác như cây cầu, dải yếm thì hình ảnh “muối”

và “gừng” đó phải tượng trưng cho một ý nghĩa nào đó của ca dao Trước hết, xét

về nghĩa thông dụng theo Từ điển tiếng Việt thông dụng do Nguyễn Như Ý chủ biên, gừng có những nét nghĩa như sau:

“Gừng ginger dt 1 Cây có củ ngầm giống như củ nghệ nhưng có vị cay, thường dùng làm thuốc trồng gừng 2 Củ gừng và các sản phẩm của nó gừng cay muối mặn; mứt gừng.” [15; tr.310]

Còn “Muối salt; pickle (in brine) I dt Hạt bột trắng, vị mặn, tách ra từ nước biển, dùng để làm thức ăn canh nhạt muối; bỏ thêm chút muối nữa II Đgt Cho muối vào ướp các loại thực phẩm để giữ được lâu hoặc làm thức ăn chua muối dưa; muối cà; trứng muối; muối thịt để dành.” [15; tr.459]

Trên đây là những nét nghĩa chỉ tính chất, đặc trưng vật lí của “muối” và

Trang 20

“gừng”, thế nhưng khi được chuyển hóa thành hình ảnh ước lệ thì “muối” và

“gừng” chỉ giữ lại những đặc điểm nổi bật nhất là đặc điểm về sự tác động đối với

vị giác của con người, “muối” thì mang vị mặn còn “gừng” thì mang vị cay Từ đặc điểm nổi bật đó, người dân đã liên tưởng đến sự đắng cay, mặn chát trong đời sống hàng ngày của con người Bên cạnh đó nó còn thể hiện tình cảm chung thủy sắt son trong tình yêu và hôn nhân Tất cả những điều đó đã được ca dao chuyển hóa và đúc kết thành những biểu tượng mang tầm khái quát

1.2.2 Cơ sở văn hóa

Biểu tượng “muối” và “gừng” được xuất hiện với tần suất khá cao trong các tập tài liệu như Ca dao Việt Nam [3;4] hay Tục ngữ dân ca ca dao Việt Nam [10] đã được khảo sát, ngoài ra còn có sự xuất hiện đơn lẻ của từng biểu tượng

Qua việc khảo sát sơ lược như trên ta đã phần nào nhận thấy sự quan trọng không thể thiếu của hai biểu tượng trên trong việc thể hiện những nội dung và tư tưởng của ca dao Trong phần đầu, chúng ta đã tìm hiểu nguồn gốc của sự xuất hiện hai biểu tượng “muối” và “gừng” Và để xác định được nguồn gốc đó ta cần biết được cơ sở văn hóa của sự ra đời của hai biểu tượng trên, cũng như những biểu tượng khác trong ca dao Việt Nam

Như đã đề cập đến ở phần khái niệm, ca dao xuất phát từ những tình cảm của con người đối với những đồ vật, vật dụng hay những con vật quen thuộc, biến chúng thành người bạn tri kỉ, thành người thân cùng chia sẽ nỗi niềm Và đôi khi những điều dân dã đó lại trở thành đặc điểm để ta nhớ về quê hương

“Anh đi anh nhớ quê nhàNhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương.” [3; tr.359]

Những đồ vật, vật dụng, thực phẩm và con vật quen thuộc như con trâu, cái cối cái chày, bầu bí, rau muống, bèo xuất hiện trong ca dao như minh chứng cho sự quan trọng của bản thân cũng như sự gần gũi của người lao động đối với thế giới tự nhiên xung quanh Qua những điều quen thuộc ấy, người lao động đã gửi gắm trong đó những ước mơ, khát vọng về một cuộc sống hiện thực bình yên, về những tình cảm thân thuộc của con người

“Trâu ta ăn cỏ đồng taTuy rằng cỏ cụt nhưng mà cỏ thơm.” [10; tr.81]

“Bầu ơi! Thương lấy bí cùng,

Trang 21

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.” [10; tr.81]

Đồng thời với nền văn minh lúa nước, ca dao cũng khẳng định tầm quan trọng của những loài thực vật trong cuộc sống mà đặc biệt là thực vật làm gia vị như gừng Còn muối lại là gia vị thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày, nếu thiếu chúng thì con người chúng ta sẽ dễ nảy sinh bệnh tật Hình ảnh “muối” và “gừng” ngoài việc thể hiện sự khó khăn trong cuộc sống hiện thực của người dân lao động như:

“Rạng ngày vác cuốc ra đồngTay cầm mồi lửa, tay dòng thừng trâuRuộng đầm nước cả bùn sâuSuốt ngày cùng với con trâu cày bừaViệc làm chẳng quản nắng mưaCơm ăn đắp đổi muối dưa tháng ngày

Ai ơi bưng bát cơm đầyBiết công kẻ cấy người cày mấy nao!” [4; tr.39]

Hay tình cảm chung thủy trong tình yêu, hôn nhân:

“Tay cầm nắm muối quả mơ,

Mơ chua muối mặn, ta chờ đợi nhau.” [4; tr.72]

Thì nó còn biểu hiện khả năng của mình thông qua việc trở thành một vị thuốc chữa bệnh dân gian cực kì hữu hiệu:

“Đau bụng lấy bụng mà chườm,

Ví bằng không khỏi, hoắc hương với gừng.” [3; tr.17]

Về văn hóa, người Việt Nam xưa nay vốn xem trọng những điều nhỏ nhặt xung quanh mình và biết ơn những thứ đã nuôi sống mình, vì vậy họ đã đưa những điều nhỏ nhặt ấy thành câu ca để ngàn đời còn nhắc nhở, còn lưu dấu công ơn Và hơn hết là để điều đó trở thành một đặc trưng riêng biệt không chỉ đối với nền văn học

mà còn với cả nền văn hóa của người Việt Nam

1.3 Tiểu kết

Trong phần khái niệm, ta đã rút ra được khái niệm được xem là chuẩn mực nhất đồng thời phân biệt được giữa hai hình thức gần như tương đồng nhưng có sự quan hệ qua lại mật thiết, đó là ca dao và dân ca Từ đó có được cái nhìn toàn diện hơn về hai hình thức văn học truyền thống này Đồng thời ta còn phân loại được thể loại ca dao dựa trên nội dung và hình thức dưới góc nhìn của những nhà nghiên

Trang 22

cứu văn học đi trước.

Qua đó, ta đã xác định được nguồn gốc và cơ sở để lí giải cho sự xuất hiện của những biểu tượng trong ca dao mà quan trọng nhất là biểu tượng “muối” và

“gừng” Từ đó ta sẽ định hướng được quá trình nghiên cứu vấn đề

Trang 23

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM BIỂU TƯỢNG “MUỐI” VÀ “GỪNG” TRONG

CA DAO NGƯỜI VIỆT

2.1 Đặc điểm kết cấu qua biểu tượng “muối” và “gừng”

2.1.1 Biểu tượng đơn

Qua khảo sát ta nhận thấy sự xuất hiện của các biểu tượng “muối” và “gừng” đơn lẻ vẫn nhiều hơn so với khi chúng xuất hiện cùng nhau (xuất hiện 29 lần trên tổng số tài liệu khảo sát)

Sau khi tiến hành khảo sát và thống kê về biểu tượng đơn thì sự xuất hiện của biểu tượng “muối” (21 lần trên tổng số tài liệu khảo sát) trong các tập tài liệu đều nhiều hơn cả so với biểu tượng “gừng” (8 lần trên tổng số tài liệu khảo sát) Một phần có lẽ là bởi sự quan trọng của nguyên liệu đối với cuộc sống hàng ngày của con người, là thành phần chính trong những món ăn dân dã nơi đồng quê như dưa muối, cà muối Còn bởi một lẽ nữa đó là biểu tượng “muối” thích hợp để diễn tả

sự khổ cực của người nông dân trong xã hội lúc bấy giờ cũng như sự vất vả trong công việc nông như:

“Ngày phơi muối trắng đầy trờiĐêm nằm nghe xót, lòng người năm canhTrời xanh, muối trắng, cát vàngThứ gì cũng đẹp, riêng nàng lầm than.” [11; tr.152]

Xét về biểu tượng “gừng” ta nhận thấy rằng biểu tượng này thường dùng để diễn tả sự đắng cay, tủi nhục của người phụ nữ dưới sự đày đọa của kỷ cương xã hội phong kiến Chẳng hạn như cảnh lấy chồng theo sự sắp đặt, mai mối khiến cho đôi bên lỡ làng:

“Chị em ơi! Người ta trông thấy mặt chồng thì mừng,Sao tôi trông thấy mặt chồng thì lại như gừng như vôi.” [10; tr.248]Hoặc thể hiện tình yêu đôi lứa bị ngăn cách, chia lìa:

“Anh ra đi cay đắng như gừng,Đường xa xôi ngàn dặm, khuyên em đừng nhớ thương.” [10; tr.164]Khi xuất hiện đơn lẻ, những biểu tượng thường có xu hướng kết hợp với những

Trang 24

thường kết hợp với “mơ”, “chanh” Ta có “muối” mang vị mặn thì “chanh” và

“mơ” lại mang vị chua, khiến người đọc khi đọc đôi câu ca dao sẽ có thể liên tưởng đến sự chua chát, mặn đắng của cuộc đời Nhưng điều đáng quý là giữa khốn khó của hiện thực con người vẫn ước mơ, khát khao sự thủy chung chờ đợi nhau trong tình yêu và qua đó người đọc thể hiện sự đồng cảm với người dân lao động đã sáng tạo nên câu ca dao Chẳng hạn như:

“Tay cầm nắm muối quả mơ,

Mơ chua muối mặn, ta chờ đợi nhau.” [4; tr.72]

Bên cạnh đó, biểu tượng “muối” còn có khả năng kết hợp với những hình ảnh,

từ ngữ khác như “cà”, “vừng”, “lòng”, “ớt”, “dưa” ; hầu hết dùng để chỉ những món ăn, những phương thức chế biến món ăn dân dã và giản dị mà giữa chúng có

sự gắn kết không thể tách rời Chẳng hạn như món dưa muối nếu thiếu muối thì đã chẳng thể là một món ăn, cũng như tình cảm, nỗi nhớ thương giữa anh và em là một điều thiết yếu không thể phủ nhận được như:

“Mình nhớ ta như cà nhớ muối

Ta nhớ mình như Cuội nhớ Trăng.” [10; tr.47]

Vì gừng và muối là gia vị và thức ăn phổ biến đối với người Việt Nam nên nhiều món ăn được tạo ra bởi sự kết hợp ấy Và qua đó ngoài việc hướng dẫn, chia sẽ kinh nghiệm nấu nướng thì nó còn thể hiện những ý nghĩa, tư tưởng sâu sắc Chẳng hạn như với lá gừng khi kết hợp với cá cấn tạo nên món ăn quê hương thân thuộc, và dường như nhắc nhở những người con xa quê rằng những

ai biết nấu món này chính là đồng hương của mình, để mà yêu thương, giúp đỡ:

“Cá cấn nấu với lá gừng

Bà con mình đó, xin đừng quên nhau

Lá lốt mà nấu canh cà

Ăn vào thì mặn, nhã ra thì thèm.” [11; tr.32]

Mặc dù, biểu tượng “muối” và “gừng” khi được xác định là biểu tượng đơn thường

có sự kết hợp với những từ ngữ, hình ảnh khác nhưng tự bản thân chúng đã là một biểu tượng mang một ý nghĩa nhất định thể hiện những sắc thái biểu cảm, thẩm mỹ sắc nét

Vì vậy, khi là biểu tượng đơn chúng không chịu sự chi phối hay ảnh hưởng từ các biểu tượng hay hình ảnh khác nên có được tính tập trung sắc thái nghĩa rõ rệt

Trang 25

2.1.2 Biểu tượng kép

Tần suất xuất hiện của các biểu tượng kép ít hơn so với biểu tượng đơn (xuất hiện 5 lần trên tổng số tài liệu khảo sát), bởi chỉ khi nào cần diễn đạt tăng cấp bậc của nội dung, ý nghĩa thì sự xuất hiện của biểu tượng kép sẽ làm là câu ca dao trở nên thắm thiết và sâu sắc hơn

Tuy tần suất xuất hiện không nhiều nhưng sự đi liền giữa hai biểu tượng

“muối” và “gừng” đã trở thành một mô-típ thường gặp trong ca dao Sự hình thành mô-típ đó chính là căn nguyên của việc xác định hai biểu tượng này là trở thành biểu tượng kép

Khi hình thành biểu tượng kép thì giữa hai biểu tượng đã có sự tương đồng về nguồn gốc cũng như ý nghĩa, vì vậy khi trở thành biểu tượng kép và đi liền với nhau Thay vì tập trung sắc thái nghĩa thì giữa chúng có sự giao hòa nét nghĩa, bổ sung qua lại trong một mối quan hệ mật thiết

Biểu tượng kép “muối - gừng” thường tăng cấp bậc của ý nghĩa mà chúng mang lại một cách trọn vẹn nhất Ví như để phản ánh thói xấu của những người đàn ông muốn đa thê đa thiếp và hơn cả là phản ánh những hủ tục của chế độ phong kiến trọng nam khinh nữ, ca dao có câu:

“Anh kia có vợ con rồi

Mà anh còn muốn hoa hồi cầm tayHoa hồi vừa đắng vừa cayVừa vặn như muối, vừa cay như gừng.” [11; tr.261]

Và cũng có những câu ca dao hài hước phê phán tình trạng “trai thì năm thê bảy thiếp”, gái chính chuyên một chồng” :

“Chính chuyên chết cũng ra ma,Lẳng lơ chết cũng chôn ra ngoài đồng.” [10; tr.253]

Bên cạnh đó, biểu tượng kép “muối - gừng” được sử dụng với mục đích chính

đó là khẳng định tình cảm chung thủy giữa vợ và chồng, sự thề nguyền giữa đôi lứa yêu nhau như:

“Tay nâng chén muối đĩa gừng,Gừng cay, muối mặn, xin đừng quên nhau.” [10; tr.201]

Ví như để thể hiện sự chung thủy nhất mực trong tình cảm hôn nhân dù cho thời thế sự đời có đổi thay, ca dao đã diễn tả:

Trang 26

“Muối mặn ba năm muối hãy còn mặn,Gừng cay chín tháng gừng hãy còn cay,Đạo nghĩa cang thường chớ đổi đừng thay,Dẫu có làm nên danh vọng, hay rủi có ăn mày, ta cũng theo nhau.

Theo nhau cho trọn đạo đời,Dẫu rằng không chiếu trải nơi mà nằm.” [10; tr.211]

Ngoài ra trong ca dao còn có nhiều biểu tượng kép được thể hiện qua những mô-típ quen thuộc mà ta thường bắt gặp như mô-típ cây cầu, mô-típ dải yếm, mô-típ con đò (con thuyền) - bến đợi, mô-típ ngọn đèn, mô-típ lá trầu - quả cau

Với mô-típ con đò (con thuyền) - bến đợi thường được sử dụng để chỉ sự chờ đợi, nỗi khắc khoải yêu thương trong tình yêu đôi lứa:

“Thuyền về có nhớ bến chăngBến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền” [3; tr.225]

“Bóng trăng em ngỡ bóng đèn,Bóng cây em tưởng bóng thuyền anh sang.” [10; tr.217]Với mô-típ lá trầu - quả cau một mặt đùng để chỉ sự hạnh phúc hôn nhân nhưng một mặt lại chỉ sự bẽ bàng lỡ duyên, đồng thời còn diễn tả được những cung bậc cảm xúc yêu ghét trong tình yêu đôi lứa

Khi yêu khi ghét giữa nam nữ qua ca dao cũng đã có sự so sánh đầy thi vị với quả cau, lá trầu như:

“Yêu nhau trầu vỏ cũng say,Ghét nhau, cau đậu đầy khay chẳng màng.” [10; tr.210]

“Yêu nhau thì ném bã trầu,Ghét nhau, ném đá vỡ đầu nhau ra.” [10; tr.210]

“Yêu nhau, cau sáu bổ ba,Ghét nhau, cau sáu bổ ra làm mười.” [10; tr.210]

Chỉ những mối lương duyên đẹp đẽ, vẹn tình đôi bên người Việt Nam cũng sử dụng mô-típ lá trầu - quả cau chẳng hạn như:

“Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng:

Cau xanh ăn với trầu vàng xứng chăng?

- Trầu vàng nhá lẫn cau xanh,Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời.” [10; tr.171]

Trang 27

Căn cứ vào những mô-típ biểu tượng kép này, ta sẽ nắm vững và phân loại rõ hơn về nội dung và ý nghĩa của từng bài ca dao được xếp chung trong cùng một nhóm theo từng mô-típ nhất định Từ đó tạo nên những ấn tượng nghệ thuật riêng.

2.2 Đặc điểm nội dung, ý nghĩa qua biểu tượng “muối” và “gừng”

2.2.1 Phản ánh hiện thực cuộc sống đời thường của người dân lao động

Từ xa xưa cuộc sống của người dân lao động vốn dĩ đã rất khó khăn, một phần bởi thiên nhiên khắc nghiệt cũng như chế độ sưu thuế nặng nề của xã hội phong kiến cũng đè nặng lên đôi vai Nhưng họ không thể đấu tranh một cách công khai vì vậy

họ đã gửi gắm những ước muốn, khát vọng đấu tranh ấy vào ca dao Quả thực, ca dao chính là nơi gửi gắm những tâm tình của người lao động sau những giờ lao động mệt mỏi, đồng thời thể hiện sự cần cù giữa những khổ cực đắng cay trăm bề

Biểu tượng “muối” và “gừng” đã truyền tải được những tư tưởng, ý nghĩ của người dân lao động Ví như:

“Rạng ngày vác cuốc ra đồngTay cầm mồi lửa, tay dòng thừng trâuRuộng đầm nước cả bùn sâuSuốt ngày cùng với con trâu cày bừaViệc làm chẳng quản nắng mưaCơm ăn đắp đổi muối dưa tháng ngày

Ai ơi bưng bát cơm đầyBiết công kẻ cấy người cày mấy nao!” [4; tr.39]

Mở đầu bài ca dao đã cho ta thấy sự chăm chỉ, cần cù lao động của người nông dân khi làm việc quanh năm suốt tháng chẳng nề hà, vậy mà họ cũng chẳng được

ăn ngon mặc đẹp mà chỉ có “đắp đổi muối dưa” Hình ảnh “muối dưa” hiện lên trong câu ca dao nhằm nhấn mạnh sự khó khăn, cực khổ khi làm ra hạt gạo Cuối bài ca dao là bài học về sự biết ơn mà người dân lao động đã nhắn nhủ cho mọi người lúc bấy giờ và cả cả thế hệ mai sau Ngoài ra còn có một số bài ca dao khác

có cùng chủ đề và nội dung ý nghĩa như:

“Cày đồng đang buổi ban trưa

Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày

Ai ơi! Bưng bát cơm đầy,Dẻo thơm một hột, đắng cay muôn phần!” [3; tr.391]

Ngày đăng: 03/01/2017, 21:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1993), Từ điển Truyện Kiều, Nxb Khoa học xã hội, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Truyện Kiều
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1993
2. Nguyễn Bích Hà (2008), Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Bích Hà
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2008
3. Bích Hằng (Biên soạn) (2015), Ca dao Việt Nam, Nxb Hồng Đức, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao Việt Nam
Tác giả: Bích Hằng (Biên soạn)
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2015
4. Đinh Gia Khánh (1995), Ca dao Việt Nam , Nxb Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao Việt Nam
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Nhà XB: Nxb Đồng Tháp
Năm: 1995
5. Đinh Gia Khánh (Chủ biên) (1998), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Đinh Gia Khánh (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
6. Hồng Khánh, Kỳ Anh (2007), Tục ngữ ca dao Việt Nam, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ ca dao Việt Nam
Tác giả: Hồng Khánh, Kỳ Anh
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2007
7. Nhiều tác giả (2004), Từ điển văn học bộ mới, Nxb Thế giới, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học bộ mới
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2004
8. Nhiều tác giả (2012), Sgk Ngữ văn lớp 10 (Tập 1), Nxb Giáo dục Việt Nam, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
9. Nhiều tác giả (2014), Sgk Ngữ văn lớp 12 (Tập 1), Nxb Giáo dục Việt Nam, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2014
10. Vũ Ngọc Phan (2007), Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, Nxb Văn học, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Phan
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2007
11. Nguyễn Quốc Tăng (2000), Tục ngữ ca dao Việt Nam, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ ca dao Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Quốc Tăng
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 2000
12. Hoàng Tiến Tựu (1998), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Hoàng Tiến Tựu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
13. Viện Nghiên cứu văn hóa (2009), Tinh hoa văn học dân gian người Việt Tục ngữ (Quyển 2), Nxb Khoa học xã hội, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh hoa văn học dân gian người Việt Tục ngữ
Tác giả: Viện Nghiên cứu văn hóa
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2009
14. Trần Quốc Vượng (Chủ biên) (1998), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Quốc Vượng (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
15. Nguyễn Như Ý (Chủ biên) (2005), Từ điển Tiếng Việt thông dụng, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt thông dụng
Tác giả: Nguyễn Như Ý (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w