1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG Ở LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU): TÁC ĐỘNG VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI VIỆT NAM

10 428 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 424,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nợ đó.1 Theo cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới WB, nợ công được hiểu là nghĩa vụ nợ của 4 nhóm chủ thể bao gồm: i Nợ của Chính phủ trung ương; ii Nợ của các cấp chính quyền địa phương

Trang 1

KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG Ở LIÊN MINH

CHÂU ÂU (EU): TÁC ĐỘNG VÀ BÀI HỌC

ĐỐI VỚI VIỆT NAM

PGS TS Nguyễn Anh Tuấn *

Tóm tắt

Cuộc khủng hoảng nợ công hiện nay ở châu Âu bắt nguồn từ Hy

Lạp vào tháng 11/2009 và sau đó tràn qua Ai-len (tháng 9/2010), Bồ

Đào Nha (tháng 1/2012), Tây Ban Nha (tháng 6/2012), I-ta-li-a (tháng

11/2012) và gần đây nhất là Síp Cuộc khủng hoảng này không chỉ tác

động đến châu Âu mà còn đến nền kinh tế của toàn thế giới, trong đó có

Việt Nam Bài viết này phân tích những nguyên nhân và tác động của

cuộc khủng hoảng kinh tế, từ đó rút ra bài học cho Việt Nam nhằm tránh

rơi vào khủng hoảng nợ công và đảm bảo phát triển bền vững

Khủng hoảng nợ công ở EU

Nợ công và khủng hoảng nợ công

Nợ công là một khái niệm tương đối phức tạp và hầu hết những

cách tiếp cận hiện nay đều cho rằng nợ công là khoản nợ mà Chính phủ

của một quốc gia phải chịu trách nhiệm trước việc chi trả khoản

* Tổng Biên tập Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, Học viện Ngoại giao Bài viết thể hiện

quan điểm cá nhân của tác giả

nợ đó.1 Theo cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới (WB), nợ công được hiểu là nghĩa vụ nợ của 4 nhóm chủ thể bao gồm: (i) Nợ của Chính phủ trung ương; (ii) Nợ của các cấp chính quyền địa phương; (iii) Nợ của Ngân hàng trung ương; (iv) Nợ của các tổ chức độc lập, các doanh nghiệp nhà nước mà Chính phủ sở hữu trên 50% vốn, hoặc hoặc Chính phủ là người chịu trách nhiệm trả nợ trong trường hợp tổ chức đó vỡ nợ.2

Do vấn đề nợ công rất phổ biến và các quốc gia rất dễ vào lâm vào khủng hoảng nợ nhất là từ thập kỷ 80 của thế kỷ 20 đến nay nên thế giới đã

đề ra hàng loạt chỉ tiêu nhằm giám sát và cảnh báo các nước đang và sắp rơi vào khủng hoảng hoảng nợ.3 Tuy nhiên, người ta thường sử dụng chỉ tiêu nợ công so với tổng sản phẩm quốc dân (GDP) để xác định tình trạng nợ công của một quốc gia Chỉ số này phản ánh quy mô nợ công so với thu nhập của toàn bộ nền kinh tế và được tính tại thời điểm 31/12 hàng năm

Theo công trình nghiên cứu năm 2010 của Cơ quan nghiên cứu kinh tế quốc gia Mỹ (NBER), được khảo sát trên 44 quốc gia, cho ra kết quả thì khi tỷ lệ nợ công/GDP vượt ngưỡng 90% thì nó tác động xấu đến tăng trưởng kinh tế và làm giảm đi 4% trong tăng trưởng kinh tế của

1 Khu vực công theo định nghĩa như trong Hệ thống Tài khoản Quốc gia (SNA) của Liên Hiệp Quốc gồm khu vực dịch vụ nhà nước (chính phủ) và các doanh nghiệp nhà nước Chính vì vậy, thuật ngữ nợ công thường được sử dụng cùng nghĩa với các thuật ngữ như nợ Nhà nước hay nợ Chính phủ (United Nations, System of National Accounts

2008, para 22.15, http://unstats.un.org/unsd/nationalaccount/docs/SNA2008.pdf: “the public sector includes general government and public corperations” Tuy nhiên, nợ công

có điểm khác với nợ quốc gia ở chỗ nợ quốc gia là toàn bộ khoản nợ phải trả của một quốc gia, bao gồm hai bộ phận là nợ của Nhà nước và nợ của tư nhân (doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân), tức là nợ công chỉ là một bộ phận của nợ quốc gia

2 Cách định nghĩa này cũng tương tự quan niệm của Hệ thống quản lý nợ và phân tích tài chính của Hội nghị Liên Hợp Quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD)

3 Các chỉ tiêu giám sát về nợ công, nợ nước ngoài của quốc gia bao gồm: (i) Nợ công so với tổng sản phẩm quốc dân (GDP); (ii) Nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP; (iii) Nợ quốc gia so với GDP; (iv) Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của quốc gia so với tổng kim ngạch xuất khẩu; (v) Nợ công so với thu ngân sách nhà nước; (vi) Nghĩa vụ trả nợ công so với thu ngân sách nhà nước; (vii) Nghĩa vụ nợ dự phòng so với thu ngân sách nhà nước; (viii) Hạn mức vay thương mại nước ngoài và bảo lãnh vay nước ngoài của Chính phủ…

Trang 2

quốc gia đó Đặc biệt, đối với các nền kinh tế mới nổi như Việt Nam thì

ngưỡng nợ công/GDP là 60%, tỷ lệ nợ vượt quá ngưỡng này sẽ làm giảm

tăng trưởng kinh tế hàng năm khoảng 2% Tuy nhiên chỉ dựa vào chỉ số

nợ công/GDP không thể xác định được một cách toàn diện mức độ an

toàn hay rủi ro của nợ công mà cần phải xem xét nợ công một cách toàn

diện trong mối liên hệ với hệ thống các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của nền

kinh tế quốc dân.4

Khủng hoảng nợ công là tình trạng nợ công tăng cao (vỡ nợ), làm

chao đảo nền kinh tế do sự mất cân đối giữa thu và chi ngân sách quốc

gia Nhu cầu chi quá nhiều, trong khi thu không đáp ứng nổi, chính phủ

đi vay tiền thông qua nhiều hình thức như phát hành công trái, trái phiếu,

hiệp định tín dụng… để chi, từ đó dẫn đến tình trạng nợ không có khả

năng hoàn trả Thâm hụt ngân sách kéo dài làm cho nợ công gia tăng Nợ

không trả sớm, để lâu thành “lãi mẹ đẻ lãi con” và ngày càng chồng chất

thêm

Hyman Minsky (1986) đã lý giải nguyên nhân gây ra cuộc khủng

hoảng quy mô lớn bắt đầu từ năm 2007 đến nay bắt nguồn từ hệ thống tài

chính tín dụng Theo ông, chính hệ thống tài chính tín dụng đã đẩy nền

kinh tế đến khủng hoảng vì doanh nghiệp và dân chúng chạy đua để vay

tiền “đánh quả” một cách hết sức rủi ro nhằm tìm kiếm cơ hội làm giàu

nhanh theo kiểu bầy đàn (có 1 đồng nhưng lại muốn vay 10 đồng, thậm

4 Đó là các chỉ tiêu như (i) tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế; (ii) năng suất lao

động tổng hợp; (iii) hiệu quả sử dụng vốn (qua tiêu chí ICOR); (iv) tỉ lệ thâm hụt ngân

sách, mức tiết kiệm nội địa và mức đầu tư toàn xã hội và một số tiêu chí khác Bên cạnh

đó, những tiêu chí như: cơ cấu nợ công, tỷ trọng các loại nợ, cơ cấu lãi suất, thời gian

trả nợ… cũng cần được phân tích kỹ lưỡng khi đánh giá tính bền vững của nợ công

Điển hình như nợ công khoảng 100% đủ để một nước như Hy Lạp rơi vào tình trạng

phá sản, trong khi đó nợ công lên tới hơn 200% như Nhật Bản vẫn được coi là an toàn,

hay trường hợp của Ác-hen-ti-na, một quốc gia dù có mức nợ công dưới 60% và ngân

sách tài chính khá tốt, nhưng vẫn xảy ra khủng hoảng nợ Còn theo Hiệp ước Maastricht

năm 1992, quy định các nước EU không được để nợ công vượt quá 60% GDP

chí hơn) để khai thác sự lên giá của tài sản Tuy nhiên, trong trường hợp giá của tài sản đi xuống, họ mất sạch và gây ra sự phá sản cho toàn bộ hệ thống tài chính dụng và khủng hoảng xảy ra.5 Điều này xảy ra vì không

có các thể chế cần thiết để kiểm soát và hạn chế những hành động phiêu lưu và mạo hiểm này

Nguyên nhân của khủng hoảng nợ công tại EU

Cuộc khủng hoảng nợ công tại EU hiện nay bắt nguồn từ Hy Lạp

khi vào tháng 11/2009, Thủ tướng Hy Lạp cho biết thâm hụt ngân sách

nước này năm 2009 ở mức 12,7% GDP (cao gấp đôi con số công bố trước đó) và sẽ cố gắng cứu Hy Lạp khỏi khả năng vỡ nợ Trên thực tế, gánh nặng nợ công của Hy Lạp đã đạt đỉnh 300 tỷ € (khoảng 440 tỷ US$), tức là bằng 124% GDP, gần gấp đôi tỷ lệ được phép của Hiệp ước Maastricht Ngay lập tức, ngày 22/12/2009, công ty xếp hạng tín dụng Moody hạ mức xếp hạng nợ công của Hy Lạp từ A1 xuống mức A2 bởi thâm hụt ngân sách của nước này tăng cao Trước đó, Cơ quan xếp hạng tín dụng Fitch và Standard & Poor hạ cấp tín dụng của Hy Lạp xuống dưới tình trạng đầu tư cấp Đến tháng 4/2010, thâm hụt ngân sách của Hy Lạp đã tăng lên 13,6% GDP và lãi suất trái phiếu chính phủ đã tăng vọt, Standard & Poor hạ mức xếp hạng tín dụng của Hy Lạp xuống tình trạng thấp nhất “Junk Status”.6 Tiếp sau Hy Lạp là Ai-len với mức thâm hụt ngân sách là 32% GDP (tháng 9/2010), Bồ Đào Nha (tháng 1/2012), Tây Ban Nha (tháng 6/2012), I-ta-li-a (tháng 11/2012) và hiện nay là CH Síp

5 Minsky phân loại người đi vay thành 3 loại: (i) những người đi vay phòng vệ (hedge borrowers) lo trả cả vốn lẫn lãi; (ii) những người đi vay rủi ro (speculative borrowers) chỉ nghĩ tới và chỉ có thể trả lãi; (iii) những người đi vay theo kiểu “treo đầu dê bán thịt chó” (ponzi borrowers) là loại mượn tiền của người này để trả cho người khác Ông cho rằng khủng hoảng sẽ xảy ra khi số người vay của 2 loại sau nhiều hơn loại đầu

6 Ngày 2/5/2010, Thủ tướng Hy Lạp đã chấp nhận gói cứu trợ tài chính 110 tỷ € (143 tỷ

$) của Eurozone và IMF (sẽ có hiệu lực trong vòng 3 năm sau đó)

Trang 3

đều lâm vào khủng hoảng nợ.7 Vậy, tại sao lại xảy ra khủng hoảng nợ công

tại EU? Có một số nguyên nhân sau:

Nguyên nhân sâu sa

Thứ nhất là những bất hợp lý từ mô hình kinh tế thiên về dịch vụ

tài chính - ngân hàng8 và bất cập trong mô hình quản lý của khối EU và

Eurozon thể hiện ở chỗ mỗi khi nền kinh tế suy thoái hoặc đất nước có

bầu cử thì nợ công lại tăng cao do các chính phủ không đưa ra những giải

pháp lâu dài cho vấn đề nợ công mà chỉ chú tâm vào những giải pháp

nhất thời Vấn đề nợ công không được giải quyết triệt để, các yếu kém

dần tích tụ khiến gánh nặng nợ công ngày càng chồng chất đến mức

không thể ứng phó nổi

Thứ hai là khi bước sang thập kỷ 1990, ngành dịch vụ tài chính và

ngân hàng phát triển mạnh mẽ nhưng chủ yếu dựa trên kẽ hở của thị

trường, thiên về đầu cơ tài chính tạo nên những viễn cảnh giàu có “ảo” ở

châu Âu và Mỹ Hậu quả làm nảy sinh nhiều bất ổn trong cơ cấu ngành

nghề, phân khúc giàu nghèo và số người thất nghiệp tăng lên và sống nhờ

vào sự hỗ trợ của chính phủ Bên cạnh đó, sự phát triển của hệ thống tài

chính giúp cho nguồn tín dụng được cung ứng trên thị trường ổn định

hơn, do vậy, đã thúc đẩy hoạt động vay mượn và tăng trưởng tín dụng

với tốc độ cao Kết quả là tình trạng nợ công ngày càng chồng chất

7 Cuối năm 2009, các nước tiêu biểu trong EU có tỷ lệ nợ công so với GDP như sau: Hy

Lạp là 124%; Bồ Đào Nha là 84,6%; Ý là 120,1%; Đức là 84,5%; Ireland là 82,9%;

Pháp là 82,6%

8 Hai cuộc khủng hoảng năng lượng nổ ra (1973-1974 và 1979-1980) đẩy các nền kinh

tế châu Âu và Mỹ lâm vào suy thoái Đó cũng là lúc châu Âu và Mỹ tái cấu trúc nền

kinh tế, chuyển hướng từ sản xuất công nghiệp sang dịch vụ tài chính và ngân hàng với

sự bùng nổ của đầu tư chứng khoán (portfolio investment)

Thứ ba là khi cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu bùng

phát vào năm 2008, các nước lại áp dụng chính sách cũ, tức là vay nợ để tài trợ cho các quỹ tín dụng, doanh nghiệp, trợ cấp thất nghiệp trong khi trái phiếu các nước phát hành để vay nợ đã đến kỳ trả nợ, cả vốn lẫn lãi Gánh nặng nợ nần tích tụ mấy chục năm qua của các nước dường như càng nặng hơn bao giờ hết Dù nhận thức được bất hợp lý trong việc chuyển sang mô hình kinh tế thiên về dịch vụ tài chính, nhưng các chính phủ vẫn không muốn từ bỏ thói quen sống với nền kinh tế ảo, chỉ giải quyết tạm thời bằng cách vay nợ mới gối đầu trả nợ cũ và ném phao cứu

hộ cho những ngân hàng đang hấp hối

Thứ tư là do vấn đề về cơ cấu nên EU có hạn chế về điều hành nền

kinh tế của cả Khối, các chính sách tiền tệ không đi cùng với chính sách tài khóa, nhất là chính sách cải cách thuế và lao động EU có đề ra giới hạn mức nợ công và thâm hụt ngân sách của các quốc gia thành viên nhưng cơ chế quản lý, giám sát còn lỏng lẻo làm cho việc vay nợ của các quốc gia trở nên dễ dàng, không kiểm soát được EU và Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) phản ứng quá chậm với các nền kinh tế khi gặp khủng hoảng

Thứ năm là sự xuất hiện đồng Euro (đồng tiền chung châu Âu)

Điều này đem lại thuận lợi cho các nước nhỏ có thể thu hút được lượng vốn đầu tư khổng lồ từ bên ngoài do có một hệ thống tiền tệ thống nhất.9 Tuy nhiên, điều này cũng đem lại thách thức là khi dòng vốn vượt quá năng lực hấp thụ bền vững của nền kinh tế, lượng đầu tư dư thừa sẽ dễ dàng bị sử dụng lãng phí vào các hoạt động không đem lại hiệu quả cho

9 Ví dụ các quốc gia nhỏ như Hy Lạp, Ai-len được phép vay tiền với mức lãi suất ngang bằng với Pháp, Đức; hay nói cách khác, là lợi dụng uy tín tập thể để thu lợi cá nhân

Trang 4

nền kinh tế, và do vậy, có thể đẩy mức nợ xấu của các ngân hàng gia tăng

và hệ quả là khủng hoảng nợ nhanh bùng nổ

Thứ sáu là do lượng tiền vào các nền kinh tế nhỏ trong EU quá lớn,

tức là cung tiền tệ tăng cao, dẫn đến giá cả leo thang, làm cho mức lạm

phát của các nước nhỏ cao hơn các nước lớn, thậm chí còn cao hơn cả

mức lãi suất phải trả (tức là giá trị các khoản nợ giảm theo thời gian, làm

cho người đi vay trở nên có lợi) Điều này đã khuyến khích các hành vi

vay nợ của các nền kinh tế nhỏ (cả người dân và chính phủ trở nên bất

cẩn với các khoản nợ) Hậu quả của việc tận dụng dòng tiền từ bên ngoài

(nhập khẩu nhiều) là thâm hụt cán cân vãng lai kéo dài, nhưng các nước

lại không tự điều chỉnh được bằng chính sách tiền tệ của quốc gia mình

do sử dụng chung một đồng tiền với quốc gia khác Thêm vào đó, khi sử

dụng dòng tiền từ bên ngoài sẽ làm thâm hụt ngân sách gia tăng (do

không khuyến khích sản xuất trong nước), vượt quá mức 3% GDP theo

quy định của EU Thâm hụt ngân sách kéo dài qua các năm góp phần làm

nợ công tăng dần

Nguyên nhân trực tiếp

Thứ nhất là nhóm nguyên nhân bên trong các quốc gia

Một là, tất cả các nước rơi vào vòng xoáy nợ công đều có kỷ luật

tài khóa lỏng lẻo Tình hình thực hiện ngân sách chi cuối năm luôn vượt

xa Nghị quyết của Quốc hội về chi ngân sách được công bố đầu năm

Hai là, việc phân bổ nguồn vốn, trong nhiều trường hợp, chịu tác

động của các mục tiêu chính trị nhiều hơn mục tiêu kinh tế (ví dụ: chi phí

quốc phòng - an ninh, chi trợ cấp xã hội, chi trả lương hưu cho công

chức, chi bù lãi suất ngân hàng cho các dự án công ích, chi lễ tân nhà

nước hay các lễ kỷ niệm…)

Ba là, thời gian thực hiện các dự án thường kéo dài (ít có dự án

công nào hoàn thành đúng tiến độ) Hậu quả là tiền lãi phải trả trên nợ vay tăng mạnh

Bốn là, hiệu quả sử dụng vốn thấp (thường thấp hơn các dự án vay

vốn thương mại của khu vực tư), do người đi vay vốn không chịu trách nhiệm trực tiếp đối với việc hoàn trả Tức là trách nhiệm người đi vay không cao vì những người tham gia quyết định vay nợ không hẳn là những người sẽ phải lo trả nợ nhất là khi người vay không có cơ hội tái đắc cử

Năm là, Chính phủ có khả năng che đậy các vấn đề bất cập của tình

hình nợ công trong một thời gian khá dài (có thể tới 10 năm) nên việc điều chỉnh chính sách khắc phục không được kịp thời

Thứ hai là nhóm nguyên nhân bên ngoài Một là, các cơ quan đánh giá rủi ro trái phiếu và xếp hạng tín dụng

như Standard & Poors (S&P), Moody và Fitch là nhân tố góp phần vào

sự bất ổn của các thị trường, đẩy các nước vào khủng hoảng do họ tuyên

bố hạ thấp mức xếp hạng tín dụng làm cho các nhà đầu tư mất lòng tin vào các thị trường này.10

Hai là, áp lực từ các nhóm tài phiệt gồm các nhà đầu cơ, các tổ chức tài chính lớn và các trung tâm quyền lực kinh tế đã thuyết phục được các chính phủ chỉ điều chỉnh thể chế chứ không áp dụng các biện

10 Đầu năm 2009, lãi suất dài hạn của các trái phiếu của các nước thành viên EU ở mức thấp kỷ lục tại thời điểm các chính phủ phát hành trái phiếu mới, nhưng chỉ trong vài tuần, thị trường trái phiếu đã thay đổi mạnh Các cơ quan đánh giá Standard & Poor và Fitch bắt đầu đánh giá nợ của Hy Lạp, hạ thấp trái phiếu của nước này thành trái phiếu rác Kể từ đó, lãi suất trái phiếu của chính phủ Hy Lạp không ngừng tăng, thị trường chứng khoán Hy Lạp liên tục giảm

Trang 5

pháp cải cách các thể chế Chính phủ các nước phải tốn nhiều tỷ € hỗ trợ

các ngân hàng và cho các chương trình hỗ trợ hoạt động kinh tế nhằm

cứu ngân hàng và nền kinh tế không bị đổ vỡ Điều này dẫn đến một hệ

quả không thể tránh khỏi là nợ công gia tăng Trong khi đó, các ngân

hàng tư nhân nhận tiền với lãi suất thấp, khoảng 1%, từ các ngân hàng

trung ương với mục đính cung cấp tài chính cho các doanh nghiệp và tư

nhân phát triển sản xuất nhưng lại dùng tiền đó để mua nợ của các chính

phủ với lãi suất 4% hoặc 5%

Ba là, do hoạt động đầu cơ tài chính có mục đính là làm tăng lãi

suất trái phiếu chính phủ lên mức cao nhất có thể để thu được lợi nhuận

siêu ngạch Thực tế, nợ công được thương lượng thông qua các ngân

hàng tư nhân và giá do các ngân hàng này ấn định Các tổ chức tài chính

như Alpha Bank, Bank of America - Merrill Lynch, ngân hàng thương

mại, ING có nhiều cơ hội đầu cơ đẩy lãi suất trái phiếu các chính phủ

lên cao.11

Kinh tế Việt Nam dưới tác động của khủng hoảng nợ công ở EU

Khủng hoảng nợ công tại EU cộng với thực trạng khó khăn về kinh

tế tại Việt Nam hiện nay có thể có một số tác động tiêu cực đến nền kinh

tế Việt Nam như sau:

Thứ nhất, xuất khẩu của Việt Nam sang EU có khó khăn Theo

Tổng cục thống kê Việt Nam, EU là thị trường xuất khẩu lớn nhất của

Việt Nam (EU tiêu thụ khoảng 17,5% sản phẩm do Việt Nam sản xuất

11 Ví dụ là việc IMF đưa ra báo cáo ngày 22/4/2010, theo đó nền kinh tế Bồ Đào Nha

đang xấu đi, tăng trưởng thấp hơn dự báo và sẽ không giảm được thâm hụt Hậu quả là

lãi suất của các trái phiếu 10 năm của Bồ Đào Nha tăng mạnh, và hiện Bồ Đào Nha, Tây

Ban Nha, Hy Lạp, Ai-len, I-ta-li-a là những nước chắc chắn rất khó thực hiện giảm nợ

công

trong năm 2012 với giá trị là 20 tỷ USD).12 Năm 2012, do những khó khăn trong các nền kinh tế khu vực Eurozone (thu nhập của người dân suy giảm, lạm phát cao, gia tăng thất nghiệp ) dẫn đến xu hướng thắt chặt chi tiêu của người dân EU và hệ quả là nhu cầu của họ đối với hàng hóa, trong đó có cả hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam không tăng Bên cạnh đó, các nước EU cũng tăng cường chính sách bảo hộ hàng sản xuất trong nước, do đó hàng xuất khẩu Việt Nam sẽ gặp phải khó khăn khi phải đối mặt với các rào cản từ vấn đề này, cũng như sự cạnh tranh từ các nước xuất khẩu khác Ngoài các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu như nông - lâm - thủy sản, thực phẩm chế biến có giá thành khá rẻ, thì nhu cầu suy giảm không nhiều, còn các mặt hàng khác như gỗ, mỹ nghệ, may mặc, da giày giảm sút tương đối mạnh

Thứ hai, gia tăng mức độ cạnh tranh đối với thị trường nội địa

Trong bối cảnh khủng hoảng nợ công châu Âu nói riêng và tinh hình kinh

tế thế giới đang khó khăn nói chung, các doanh nghiệp Việt Nam phải chịu sức ép cạnh tranh từ các doanh nghiệp nước ngoài muốn đầu tư vào nước ta để đa dạng hóa thị trường và giảm thiểu rủi ro Các doanh nghiệp này lại được ưu đãi về lãi suất cho vay (ở các nước hiện lãi suất cho các doanh nghiệp nước họ vay rất thấp), cũng như có năng lực và thương hiệu mạnh hơn nhiều so với doanh nghiệp Việt Nam, nên việc các doanh nghiệp trong nước ta bị lép vế là điều khó tránh khỏi

Thứ ba, vốn đầu tư và tín nhiệm quốc gia của Việt Nam suy giảm

Do khủng hoảng, doanh nghiệp của các nước châu Âu phải chịu sức ép thu

12 Nguyễn Sinh Cúc, “Tổng quan kinh tế Việt Nam năm 2012 và dự báo năm 2013”,

Tạp chí Cộng sản, số tháng 1/2013, tr 69-73 Tác động của khủng hoảng nợ công châu

Âu đối với xuất khẩu hàng hóa Việt Nam không lớn lắm do EU nhập của ta chủ yếu là hàng hóa thiết yếu Năm 2012, lượng nhập khẩu hàng Việt Nam của EU không giảm nhưng không tăng như kỳ vọng

Trang 6

hẹp sản xuất và sa thải bớt nhân công do sức mua của bản thân châu Âu

cũng như của thế giới suy giảm Bởi vậy, giải pháp đầu tiên là sẽ giảm bớt

đầu tư từ các dự án ở nước ngoài không và ít hiệu quả Hệ quả là dòng vốn

FDI từ châu Âu nói riêng và từ thế giới nói chung vào Việt Nam sụt giảm

Năm 2009, tỷ lệ đầu tư FDI của châu Âu vào Việt Nam chiếm khoảng

18% tổng vốn FDI, sang năm 2011 thì con số đó chỉ còn 11% và tiếp tục

giảm trong năm 2012 và có xu hướng giảm tiếp vào năm 2013.13

Thứ tư, theo đánh giá của WB thì hiện chỉ số môi trường kinh

doanh của Việt Nam đang sụt giảm (năm 2011 xếp thứ 98 trong 183 nền

kinh tế, tụt 8 bậc so với năm 2010) thể hiện sự suy giảm lòng tin của các

nhà đầu tư (NĐT) nước ngoài vào môi trường kinh doanh tại Việt Nam

Nguyên nhân chính là do cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu đã khiến

các NĐT cũng như các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quan tâm hơn đến vấn

đề nợ công của các quốc gia Ba nhóm chỉ tiêu căn bản được sử dụng để

cảnh báo là: (i) nợ quá nhiều thể hiện ở chỉ số nợ công/GDP cao; (ii) chi

tiêu quá mức thể hiện ở mức thâm hụt ngân sách lớn so với GDP và (iii)

tốc độ tăng GDP liên tục sụt giảm Năm 2011, với mức nợ công chiếm là

106% GDP (xem bảng 1), bội chi ngân sách ở mức 4,9% GDP (xem bảng

13 Thêm vào đó, theo đánh giá chung, FDI của thế giới nói chung và của EU nói riêng

vào Việt Nam hiện nay, do khủng hoảng nợ công, còn có những hạn chế sau: (i) hiệu

quả tổng thể của FDI chưa cao, chủ yếu vẫn là các dự án lắp ráp, gia công có giá trị gia

tăng thấp, khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu thấp; (ii) tỷ lệ vốn giải ngân thấp

so với vốn đăng ký, quy mô dự án nhỏ, nhiều dự án chậm triển khai; (iii) đa số công

nghệ thu hút qua FDI chưa phải công nghệ cao, hiện đại, chỉ ở mức trung bình so với

thế giới (rất ít doanh nghiệp có công nghệ cao); (vi) số công ăn việc làm do FDI tạo ra

chưa tương xứng, đời sống người lao động trong các doanh nghiệp FDI chưa cao, tranh

chấp đang có xu hướng gia tăng; (v) xuất hiện nhiều hiện tượng chuyển giá, trốn thuế tại

các doanh nghiệp FDI và có xu hướng ngày càng tinh vi (nâng khống giá trị góp vốn,

giá trị đầu vào, phí quản lý, trả lương, đào tạo) tạo ra tình trạng lãi thật, lỗ giả; (vi) hiệu

ứng lan toả sang các khu vực khác thấp; (vii) một số dự án gây ô nhiễm môi trường, gây

tiêu tốn tài nguyên

3), tốc độ tăng trưởng GDP giảm dần14 (xem bảng 2), Việt Nam đang bị các tổ chức tín nhiệm đánh giá có mức độ rủi ro cao nhất so với các nước trong khu vực ASEAN với mức tín nhiệm của S&P là BB- (giảm so với đầu năm là BB) Điều này không chỉ ảnh hưởng đến khả năng thu hút các nguồn vốn đầu tư, nguồn vốn vay nước ngoài mà còn gia tăng chi phí vay cho các khoản tín dụng từ các tổ chức tài chính thế giới do phải trả lãi cao

Bảng 1: Nợ công của Việt Nam năm 2011

Nợ của chính phủ 1.085.353 52,1 43%

Nợ của chính phủ bảo lãnh 292.210 14,0 12%

Nợ của chính quyền địa phương 13.915 0,7 1%

Nợ công theo định nghĩa của Việt Nam 1391.478 66,8 55%

Nợ của DNNN (trong và ngoài nước) 1.292.400 62,1 51%

Nguồn: Vũ Quang Việt, “Nợ công, nợ ngân hàng Việt Nam được hé mở”, Tạp chí Diễn đàn, 25/11/2011

Thứ năm, gia tăng rủi ro tỷ giá Trước mắt, đồng USD tăng giá

tương đối so với € sẽ làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam xuất khẩu vào khu vực EU do chủ yếu hàng xuất khẩu của Việt Nam được tính giá bằng USD Bên cạnh đó, hiện đồng USD đang mạnh lên tương đối so với VND do lạm phát cao ở Việt Nam trong các năm 2008 -

14 Năm 2012, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam chỉ có 5,03% so với 2011, mức thấp nhất từ năm 2000 đến nay, theo “Tổng quan kinh tế Việt Nam năm 2012 và dự báo

năm 2013”, Tạp chí Cộng sản, số tháng 1/2013, tr 69-73 Năm 2010, GDP tuy tăng

6,8%, nhưng là tăng do bong bóng bất động sản và là hệ quả của chính sách kích cầu năm 2009, nhưng đã không được giám sát chặt chẽ nên đã bị sử dụng không đúng mục đích

Trang 7

2011 (bảng 3) gây sức ép phải thay đổi tỷ giá nhưng ta vẫn giữ tỷ giá

không đổi, gây nên tiềm ẩn nguy cơ tồn tại hai tỷ giá và nguy cơ tiềm ẩn

hiện tượng nhập lậu do giá hàng ngoại nhập rẻ Điều đó sẽ gây áp lực lên

dự trữ ngoại hối quốc gia của Việt Nam

Bài học cho Việt Nam trong phòng tránh khủng hoảng nợ

Tình hình khó khăn của kinh tế Việt Nam hiện nay

Lý do chính đưa đến tình trạng khó khăn về kinh tế hiện nay ở Việt

Nam bắt đầu từ năm 2006 và cũng có tiểm ẩn từ trước đó Để thúc đẩy

tăng trưởng cao, Việt Nam đã thúc đẩy đầu tư rất mạnh và trong một thời

gian dài có tỷ lệ đầu tư so với GDP thuộc vào loại cao nhất thế giới (xem

bảng 2), chỉ sau Trung Quốc Tỷ lệ tăng cung ứng tiền tệ và tín dụng

cũng thuộc loại cao nhất thế giới và do vậy, gây ra tỷ lệ lạm phát cũng

cao ở mức kỷ lục của thế giới Điều này có thể được thấy rất rõ khi nhìn

vào tình trạng đầu tư quá cao so với tỷ lệ tiết kiệm trong suốt thời gian

2005-2011 (xem bảng 2)

Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng GDP và tỷ lệ đầu tư, tiết kiệm so với

GDP (2000-2011) Chỉ số

Năm

2000

-2004

2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011

Đầu tư/GDP (%) 33 38 41 43 40 38 39 33

Tiết kiệm/GDP (%) 28 28 26 23 23 23 24

Chênh lệch giữa ĐT và

TK (%)

10 13 17 17 15 16 9

Tốc độ tăng GDP (%) 7,1 8,4 8,2 8,5 6,3 5,5 6,8 5,9

Nguồn: Vũ Quang Việt, Khủng hoảng và hệ thống tài chính tín dụng: Phân tích

ứng dụng với kinh tế Mỹ và Việt Nam, Washington D.C., tháng 2/2013; Nguyễn Anh

Tuấn; Giáo trình Kinh tế đối ngoại Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2005

Tỷ lệ đầu tư cao hơn tiết kiệm, có những năm lên tới 16-17% GDP (xem bảng 2), và để đạt được điều này chỉ có hai cách là: (i) vay mượn nước ngoài; (ii) phát hành tín dụng mạnh mẽ (vô tội vạ) để rồi ngày càng lâm vào tình trạng nợ khó có khả năng chi trả và lạm phát phi mã như những năm vừa qua (xem bảng 3) Hệ quả là do lạm phát cao trong khi nhà nước lại không điều chỉnh tỷ giá giữa đồng VND và USD nên đã kích thích Việt Nam nhập khẩu do hàng nhập khẩu rẻ hơn của Việt Nam nhiều, tạo ra hiện tượng nhập siêu lớn chưa từng thấy, có những năm đã lên mức 18 tỷ USD (xem bảng 3) Chính vì đầu tư quá mức nhưng hiệu quả thấp nên gây ra nợ công tăng cao Nợ công của Việt Nam có thể lên tới 129 tỷ USD tức bằng khoảng 106% GDP vào năm 2011, trong đó nợ của doanh nghiệp nhà nước là 62,1 tỷ USD (xem bảng 1)

Bảng 3: Tốc độ tăng tiền, tín dụng, chỉ số giá tiêu dùng, nhập siêu

và thu chi ngân sách của Việt Nam (2006-2011) Chỉ số

Năm

Tốc độ tăng cung tiền (%) 34 46 20 29 33 12 Tốc độ tăng tín dụng (%) 25 50 28 46 32 14 Lạm phát (CPI) (%) 7,1 8,3 23,1 5,9 10,0 18,6

Tỷ lệ thay đổi tỷ giá (%) 0,9 0,7 1,2 4,7 9,1 10,1 Nhập siêu (tỷ USD) -5,1 -14,2 -18,0 -12,9 -12,6 -9,8 Thu ngân sách (nghìn tỷ VND) 357,4 390,6 456,0 590,5 Chi ngân sách (nghìn tỷ VND) 398,9 441,2 581,0 725,6

Nguồn: ADB, Annual Report 2011, Ma-ni-la 2012

Trang 8

Một số bài học và giải pháp để phòng tránh khủng hoảng nợ ở

Việt Nam

Những định hướng cơ bản

Để phòng tránh những tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng nợ

công cho nền kinh tế Việt Nam cần phải xuất phải từ chính nội tại nền

kinh tế Việt Nam hiện nay cũng như từ những nguyên nhân đã gây ra

khủng hoảng nợ công tại EU và từ chính những tác động của nó tới Việt

Nam như đã phân tích ở trên theo các hướng sau:

Thứ nhất, để quản lý và phòng tránh khủng hoảng nợ công, yêu cầu

quan trọng nhất là phải có cơ chế quản lý nhà nước hữu hiệu nhằm kiểm

soát hoạt động tài chính và sự lưu chuyển các nguồn tài chính, trong đó

có sự minh bạch thông tin, duy trì hiệu lực, hiệu quả các giám sát vĩ mô,

bảo đảm các yêu cầu an sinh xã hội, và tìm kiếm, phối hợp các nguồn lực

cho phát triển đất nước theo yêu cầu phát triển bền vững

Thứ hai, cần phải quản lý và nâng cao hiệu quả đầu tư công Về dài

hạn cần chủ động giảm thiểu đầu tư công, tăng đầu tư ngoài ngân sách

nhà nước trong tổng đầu tư xã hội, chuyển trọng tâm đầu tư công ra

ngoài lĩnh vực kinh tế để tập trung vào phát triển các lĩnh vực hạ tầng và

xã hội, đồng thời cần có sự đổi mới quy trình, tiêu thức phù hợp và chuẩn

hóa để tạo căn cứ lựa chọn và thông qua các dự án công.15

Thứ ba, kiên quyết chấm dứt tình trạng các tập đoàn kinh tế, tổng

công ty nhà nước đầu tư dàn trải ra ngoài ngành, lĩnh vực sản xuất, kinh

doanh chính.Tập trung phát triển doanh nghiệp nhà nước trong những

15 Cụ thể, cần phân biệt hai loại mục tiêu và hai loại tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư

công (đầu tư vì lợi nhuận và đầu tư phi lợi nhuận), khắc phục sự nhập nhằng giữa nguồn

vốn hoạt động vì lợi nhuận với nguồn vốn hoạt động phi lợi nhuận, cũng như giữa trách

nhiệm xã hội của các tập đoàn kinh tế nhà nước

ngành, lĩnh vực quan trọng có ý nghĩa then chốt của nền kinh tế quốc dân, chủ yếu thuộc các chuyên ngành kinh tế, kỹ thuật liên quan đến kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, dịch vụ công, ổn định kinh tế vĩ mô

Thứ tư, cần đảm bảo tính ổn định hệ thống, chủ động phòng ngừa

các tác động mặt trái, những cái “bẫy” nợ nần và hiệu quả thiết thực trong quá trình tái cấu trúc trong cả khu vực doanh nghiệp cũng như trong khu vực tài chính - ngân hàng Ngoài ra, cần chú ý xử lý tốt các vấn đề liên quan đến mua bán sáp nhập doanh nghiệp, bảo hiểm thất nghiệp, an sinh xã hội

Những bài học và giải pháp cụ thể

Trên cơ sở các định hướng trên, có thể rút ra một số bài học và giải pháp cụ thể cho việc phòng tránh khủng hoảng nợ công tại Việt Nam

Thứ nhất, vấn đề xử lý doanh nghiệp nhà nước (DNNN), gồm các

mảng sau: (i) chấm dứt việc đầu tư tràn lan vào DNNN và chỉ giữ lại một

số lượng tối thiểu các DNNN ở mức có thể điều hành được (một hay hai chục DN);16 (ii) chấm dứt toàn bộ việc đầu tư ngoài ngành (nhất là để doanh nghiệp (DN) làm chủ một ngân hàng hay ngược lại);17 (iii) mọi quyết định lập DNNN cần phải được thảo luận kỹ và phải được Quốc hội

16 Tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hóa, thu hẹp tỷ trọng và giảm số lượng doanh nghiệp mà Nhà nước giữ cổ phần chi phối, chỉ duy trì doanh nghiệp 100% vốn nhà nước trong những ngành, lĩnh vực mà Nhà nước cần độc quyền, giữ vị trí then chốt của nền kinh tế

và các lĩnh vực mà doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân không hoặc chưa muốn, chưa

có khả năng tham gia Đồng thời, ưu tiên xây dựng các mô hình tập đoàn kinh tế đa sở hữu, với vai trò nòng cốt là doanh nghiệp nhà nước, đảm nhận vai trò chủ lực trong nền kinh tế, được vận hành theo đúng quy luật kinh tế, trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận liên kết, hợp tác giữa các pháp nhân độc lập

17 Hiện nay Luật tín dụng Việt Nam cho phép điều này

Trang 9

thông qua Chính phủ cần chấm dứt việc tự ý chi tiêu vượt ngân sách đã

được Quốc hội thông qua (ở một số nước việc này bị coi là phạm pháp).18

Thứ hai, Chính phủ không nên tiếp tục ra lệnh cho Ngân hàng Nhà

nước in tiền để chi tiêu và phân phối tín dụng, đặc biệt là cho DNNN làm

quả đấm thép cho phát triển vì tính thiếu hiệu quả của nó và vì ngân sách

đã thâm hụt quá lớn (cỡ từ 5-7% GDP hiện nay) Trong giai đoạn hiện

nay, thâm hụt ngân sách ở mức 3% đã được nhiều nước cảnh báo là đang

ở ranh giới báo động Kích cầu bằng thâm hụt ngân sách chỉ là một giải

pháp nhất thời và chỉ nên được sử dụng trong trường hợp bất khả kháng

khi nền kinh tế vì một lý do nào đó rơi vào khủng hoảng mất cân đối do

cầu giảm Nó tuyệt đối không phải là giải pháp để phát triển kinh tế vì nó

sẽ dẫn đến lạm phát cao và mất ổn định do thâm hụt ngân sách sẽ được

bù đắp bằng cách in thêm tiền Việt Nam trong tình trạng như hôm nay là

do kích cầu bằng tăng trưởng tín dụng (đã tăng từ mức 35% lên 125%

GDP trong thời gian từ 2007-2011), nhưng lại không quản lý chặt mục

đích sử dụng luồng tín dụng

Thứ ba, nâng cao tỷ lệ vốn tự có (vốn cổ phần hay vốn chủ sở hữu)

trong doanh nghiệp (cả DNNN lẫn DN tư nhân) để đảm bảo phát triển

bền vững Hiện nay, tại Việt Nam, tỷ lệ vốn vay trên vốn tự có của

DNNN là 1,77 - quá cao so với ở Mỹ và châu Âu (cỡ vào khoảng 0,7),

bởi lẽ với tỷ lệ vốn vay quá cao, trong trường hợp lãi suất tăng có thể

nhanh chóng đẩy DN tới chỗ mất khả năng thanh toán

Thứ tư, xử lý vấn đề tập trung và phân cấp theo hướng cần tập

trung quyền lực đầu tư phát triển hạ tầng vào 7 vùng thay vì từng tỉnh

18 Tại Việt Nam, từ 2007 đến nay, năm nào Chính phủ cũng chi nhiều hơn so với mức

được Quốc hội thông qua, cụ thể như sau: 2007 là 31%; 2008 là 29%; 2009 là 46% và

2010 là trên 11% (dựa theo số liệu về dự toán ngân sách do Quốc hội thông qua và ngân

sách kết toán cuối mỗi năm)

như hiện nay nhằm tránh phí phạm xây dựng trùng lặp và giảm ảnh hưởng của địa phương đối với cơ quan trung ương đóng tại địa bàn của tỉnh.19 Thêm vào đó, phân cấp quản lý lãnh thổ, rừng, bờ biển, sông ngòi giữa trung ương, vùng và tỉnh đều nhằm tập trung quyền lực để phát triển

cơ sở hạ tầng Không phân cấp cho tỉnh phát hành trái phiếu của tỉnh ra nước ngoài và kiểm soát chặt chẽ việc phát hành trái phiếu địa phương nhằm tránh việc chồng chất nợ công không kiểm soát được

Thứ năm, sự mở rộng tín dụng quá mức hiện nay ở Việt Nam (xem

bảng 3) là do Ngân hàng Nhà nước không có tính độc lập theo chuẩn mực của một nền kinh tế thị trường và của một Ngân hàng Trung ương cho nên tiến hành hoạt động chưa theo mục đích tối thượng là nhằm bảo

vệ sự ổn định của giá cả trên thị trường, mà đã hành động theo lệnh của Chính phủ là in tiền để tài trợ cho việc xây dựng DNNN thành các quả đấm thép (nhưng thực tế là thiếu hiệu quả) Hệ quả là hủy hoại nền kinh

tế Tình trạng khó khăn về kinh tế hiện nay ở Việt Nam bùng nổ khi Chính phủ thi hành các gói cứu trợ nhưng không được kiểm soát chặt chẽ nên phần lớn gói cứu trợ này đã không được đầu tư vào sản xuất mà lại được đầu tư vào chứng khoán và bất động sản Khi quả bóng bất động sản xì hơi đã gây ra sự khó khăn cho hệ thống tài chính ngân hàng với tỷ

lệ nợ xấu gia tăng không ngừng.20

19 Tất cả các cơ quan trung ương từ Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch

và Đầu tư, Tổng cục Thống kê… sẽ đóng tại vùng thay vì từng tỉnh như hiện nay

20 Tính đến 31/5/2012, tổng dư nợ (TDN) của hệ thống NH hiện cỡ khoảng 2,5 triệu tỷ đồng Nếu nợ xấu là 10% TDN thì giá trị tuyệt đối là 250.000 tỷ VND Theo chuyên gia Nguyễn Trí Hiếu, nợ xấu ở VN là 15% (375.000 tỷ VND), trong đó 50% (190.000 tỷ VND) có thể sẽ là mất trắng (theo kinh nghiệm quốc tế), rất lớn so với quỹ dự phòng của các ngân hàng trích lập (cỡ 70.000 tỷ VND) Trong khi đó, theo Thống đốc Nguyễn Văn Bình tỷ lệ nợ xấu chỉ là 4,47% (cỡ khoảng 117.000 tỷ VND) và 84% các món nợ có tài sản đảm bảo với giá trị tương đương 135% dư nợ (nếu vậy thì quá yên tâm); Còn

Trang 10

Thứ sáu, theo Luật các tổ chức tín dụng (2010), có rất nhiều ngân

hàng được phép thành lập nhưng chủ yếu là để giúp các địa phương và

nhóm lợi ích tham gia trục lợi vì Luật này không phân biệt giữa ngân

hàng thương mại và ngân hàng đầu tư Theo kinh nghiệm của EU, thì

ngân hàng thương mại sử dụng tiền huy động của khách hàng để cho vay,

còn ngân hàng đầu tư chủ yếu là đầu tư vào chứng khoán bằng tiền của

chính họ hoặc phục vụ khách hàng để thu phí dịch vụ Bởi vậy, để tránh

rủi ro cho hệ thống tài chính ngân hàng và tránh khủng hoảng, cần phải

sửa đổi lại Luật các tổ chức tín dụng, nhấn mạnh sự khác biệt về chức

năng và nhiệm vụ của hai loại ngân hàng trên, đồng thời chấm dứt việc

cho phép một ngân hàng làm chủ doanh nghiệp phi tài chính hay một

doanh nghiệp phi tài chính thành lập ngân hàng để lạm dụng phục vụ

chính nó

Thứ bảy, Ngân hàng Nhà nước cần thiết lập chuẩn mực vốn tối

thiểu cho các loại ngân hàng, đồng thời thiết lập và công bố các thống kê

cơ bản của từng ngân hàng nói riêng và hệ thống tài chính tiền tệ nói

chung để phục vụ cho cả người làm chính sách và cả người sử dụng các

dịch vụ của ngân hàng Hệ thống tài chính ngân hàng của Việt Nam có:

a) 101 ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài bao gồm (i) 5 ngân

hàng thương mại nhà nước, trong đó có 4 ngân hàng lớn nhất mỗi ngân

hàng có vốn điều lệ trên 1 tỷ USD và tổng tài sản từ 15-25 tỷ USD; (ii)

39 ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân, trong đó chỉ có một vài ngân

hàng lớn như Eximbank (vốn điều lệ 630 triệu USD), Sacombank (vốn

theo thanh tra ngân hàng chỉ số này là 8,6% tổng dư nợ tín dụng (cỡ khoảng 202.000 tỷ

VND) (Báo Lao động, ngày 13/7/2012)

điều lệ 550 triệu USD), ACB (vốn điều lệ 470 triệu USD);21 (iii) 53 chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng có 100% vốn nước ngoài; (iv)

5 ngân hàng hợp doanh với nước ngoài; b) 18 công ty tài chính, 12 công

ty cho thuê tài chính và 1.202 quỹ tín dụng nhân dân; c) 105 công ty chứng khoán, 47 quỹ đầu tư, 43 công ty bảo hiểm phi nhân thọ và bảo hiểm nhân thọ, hơn 10 công ty môi giới bảo hiểm và tái bảo hiểm.22 Có thể nói đây là hệ thống tài chính chồng chéo, cái này làm chủ cái kia, chưa được giám sát như một hệ thống.23

21 Theo NĐ 141/NĐ-CP ngày 22/11/2006 đến 31/12/2010: mỗi ngân hàng thương mại

cổ phần tư nhân phải có vốn điều lệ tối thiểu là 3000 tỷ VND (trên 150 triệu USD) Tuy nhiên đến thời điểm đó có 21 ngân hàng có vốn dưới 2000 tỷ VND; 9 ngân hàng có vốn

từ 2000-3000 tỷ VND; chỉ có 9 ngân hàng có vốn trên 3000 tỷ VND Trong khi đó quy

mô vốn của ngân hàng thương mại trên thế giới hiện nay là 1-2 tỷ USD

22 Vũ Quang Việt, Khủng hoảng và hệ thống tài chính tín dụng: Phân tích ứng dụng với

kinh tế Mỹ và Việt Nam, Washington D.C., tháng 2/2013

23 Người lao động, “Tập đoàn tài chính lũng đoạn thị trường”, 23/1/2013,

(http://nld.com.vn/20130123104917462p0c1002/tap doan tai chinh lung doan thi truong.htm)

Ngày đăng: 02/01/2017, 12:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  2),  chỉ  sau  Trung  Quốc.  Tỷ  lệ  tăng  cung  ứng  tiền  tệ  và  tín  dụng - KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG Ở LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU): TÁC ĐỘNG VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI VIỆT NAM
ng 2), chỉ sau Trung Quốc. Tỷ lệ tăng cung ứng tiền tệ và tín dụng (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w