1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 3 trong dạy học giải toán có lời văn

67 749 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 737,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN Ở LỚP 3 .... Cơ sở lí luận của việc phát triển năng lực giải quy

Trang 1

======

PHÙNG THỊ LAN

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH LỚP 3 TRONG DẠY HỌC GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán

Người hướng dẫn khoa học:

TS LÊ NGỌC SƠN

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chƣa từng

đƣợc ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Tác giả

Phùng Thị Lan

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được hoàn thành tai trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 dưới

sự hướng dẫn khoa học của thầy giáo, TS Lê Ngọc Sơn Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy, đã tận tình hướng dẫn, dìu dắt em trong suốt thời gian qua

Em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám Hiệu, Ban Chủ nhiệm khoa Giáo dục Tiểu học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để em hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp này

Xin cảm ơn Ban Giám hiệu Trường tiểu học Nam Hồng đã giúp đỡ và đóng góp những ý kiến quý báu cho đề tài Đặc biệt cảm ơn cô Nguyễn Thị Thủy và tập thể lớp 3B đã tạo mọi điều kiện cho em tiến hành thực nghiệm sư phạm trong đợt thực tập

Xin cảm ơn gia đình và các bạn đã động viên, cho tôi những lời góp ý chân thành và tận tình giúp đỡ tôi trong thời gian qua

Vì thời gian và kiến thức còn hạn hẹp, tài liệu tham khảo còn hạn chế, mặc dù em đã cố gắng rất nhiều nhưng khóa luận không tránh khỏi sai sót

Em rất mong nhận được sự chỉ bảo và đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn để kháo luận của em được hoàn thiện hơn

Xuân Hòa, ngày 24 tháng 5 năm 2016

Tác giả

Phùng Thị Lan

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Bảng thống kê sĩ số lớp 42 Bảng 3.2 Bảng thống kê học lực hai lớp 42

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC BẢNG iii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN Ở LỚP 3 4

1.1 Cơ sở lí luận của việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học giải toán có lời văn ở lớp 3 4

1.1.1 Dạy học giải toán có lời văn ở tiểu học 4

1.1.2 Dạy học giải toán có lời văn ở lớp 3 6

1.1.2.1 Đặc điểm nội dung giải toán lớp 3 6

1.1.2.2 Nội dung chủ yếu dạy học giải bài toán có lời văn ở lớp 3 8

1.1.2.3 Ý nghĩa và tầm quan trọng của dạy học giải toán có lời văn trong toán 3 8

1.1.3 Đặc điểm của học sinh lớp 3 10

1.1.3.1 Đặc điểm về hoạt động nhận thức 10

1.1.3.2 Đặc điểm về nhân cách 11

1.1.4 Dạy học giải toán ở tiểu học theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề 12

1.1.4.1 Năng lực giải quyết vấn đề 12

1.1.4.2 Đặc điểm của dạy học giải quyết vấn đề 13

1.1.4.3 Dạy học giải toán có lời văn lớp 3 theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề 13

Trang 6

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học

sinh trong dạy học giải toán có lời văn lớp 3 19

1.2.1 Thực tiễn việc dạy học toán 3 19

1.2.2 Thực tiễn việc học giải bài toán có lời văn ở lớp 3 theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề 20

Chương 2 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN 21

Ở LỚP 3 21

2.1 Các giải pháp 21

2.1.1 Giải pháp 1: Tập luyện cho học sinh tự phát hiện, tự giải quyết các vấn đề của bài học 21

2.1.1.1 Cở sở đề xuất giải pháp 21

2.1.1.2 Nội dung giải pháp 21

2.1.1.3 Cách thực hiện 21

2.1.2 Giải pháp 2: Giúp học sinh hiểu và vận dụng các bước giải quyết vấn đề trong học và thực hành giải toán có lời văn lớp 3 22

2.1.2.1 Cở sở đề xuất giải pháp 22

2.1.2.2 Nội dung giải pháp 22

2.1.2.3 Cách thực hiện 24

2.1.3 Giải pháp 3: Thiết kế bài học dạy học giải toán có lời văn theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề 31

2.1.3.1 Cở sở đề xuất giải pháp 31

2.1.3.2 Nội dung giải pháp 31

2.1.3.3 Cách thực hiện 32

2.2 Kiến nghị 38

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 40

3.1 Mô tả thực nghiệm 40

Trang 7

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 40

3.1.2 Nội dung thực nghiệm 40

3.1.3 Đối tƣợng thực nghiệm 40

3.1.4 Thời gian thực nghiệm 41

3.1.5 Hình thức thực nghiệm 41

3.2 Tổ chức thực nghiệm 41

3.2.1 Tiến hành thực nghiệm 41

3.2.2 Kết quả thực nghiệm 45

KẾT LUẬN 48

TÀI LIỆU THAM KHẢO 49 PHỤ LỤC PL 1

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Vai trò của giáo dục trong tình hình phát triển của xã hội

Sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước đòi hỏi nhà trường cần phải đào tạo ra những con người lao động tự chủ, năng động, sáng tạo, có năng lực giải quyết vấn đề Một yếu tố quan trọng góp phần đáp ứng yêu cầu nói trên là nhà trường phải tiến hành đổi mới phương pháp dạy học nhằm

“Phát triển năng lực giải quyết vấn đề của người học, bồi dưỡng cho người học khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”

Để thực hiện nhiệm vụ này cần tổ chức hợp lý quá trình học tập của học sinh kích thích nhu cầu, động cơ và hứng thú học tập của học sinh, giúp học sinh có khát vọng, niềm tin để nắm vững và hoàn thiện tri thức, kỹ năng,

kỹ xảo Hệ thống bài tập có vai trò quan trọng, cho phép tổ chức hợp lý quá trình học tập, là công cụ phát huy nhu cầu, động cơ, hứng thú và hoạt động độc lập sáng tạo của học sinh

1.2 Vai trò của dạy học giải toán

Dạy học giải toán có vai trò quan trọng trong dạy học môn toán ở tiểu học So với 3 mạch kiến thức còn lại (Số học, Hình học và Đo lường), khối lượng mạch Giải toán không nhiều, song nó không chỉ giữ vị trí quan trọng trong việc phát triển tư duy toán học nói chung mà còn là yếu tố chính trong việc hình thành và phát triển tư duy trừu tượng, khả năng phân tích, tổ hợp, khái quát hóa và cách nhìn nhận thấu đáo, khúc triết trong cách giải quyết vấn

đề học sinh Với tầm quan trọng như vậy, việc dạy giải toán có lời văn cho học sinh là một vấn đề không thể xem nhẹ

1.3 Sự cần thiết của việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học giải toán

Trang 9

Môn toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, giải quyết vấn đề, góp phần phát triển trí thông minh Những thao tác tư duy có thể rèn luyện cho học sinh qua môn toán bao gồm: phân tích tổng hợp,

so sánh, tương tự, khái quát hóa, cụ thể hóa, đặc biệt hóa Các phẩm chất trí tuệ có thể rèn luyện cho học sinh bao gồm: tính độc lập, tính linh hoạt, tính nhuần nhuyễn, tính sáng tạo

1.4 Tình hình dạy và học giải toán ở Tiểu học

Thực tế dạy học giải toán hiện nay giáo viên chỉ giảng giải theo sách giáo khoa làm cho tiết học trở nên nhàm chán, học sinh khó tiếp thu kiến thức Dẫn đến hệ quả chất lượng giáo dục bị giảm sút, kết quả học tập của học sinh không cao

Xuất phát từ những lý do như đã trình bày ở trên, với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn toán Em quyết định lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 3 trong dạy học giải toán có lời văn”

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Hệ thống hóa những vấn đề lý luận có liên quan đến việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học giải toán có lời văn ở lớp 3 Đề xuất các biện pháp phát triển năng lực năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Làm rõ cơ sở lí luận về việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học giải toán có lời văn ở lớp 3

Tìm hiểu thực trạng về việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học giải toán có lời văn ở lớp 3

Trang 10

Đề xuất những giải pháp phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh Thực nghiệm sư phạm

3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu:

Giáo viên và học sinh lớp 3

3.2 Đối tượng nghiên cứu:

Quá trình dạy học giải toán có lời văn ở lớp 3

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Thiết kế nghiên cứu

- Nghiên cứu lí luận: Chỉ ra sự cần thiết và cơ sở khoa học của việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học giải toán có lời văn ở lớp 3

- Điều tra, quan sát: Chỉ ra thực trạng của việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học giải toán có lời văn ở lớp 3

- Thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực hiện một số các giải pháp đã đề xuất

4.2 Công cụ nghiên cứu

- Thiết kế các bảng hỏi giáo viên tiểu học

- Thiết kế các bài kiểm tra kết quả học toán của học sinh lớp 3

5 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, khóa luận được trình bày trong ba chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học giải toán có lời văn ở lớp 3

Chương 2 Giải pháp phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học giải toán có lời văn ở lớp 3

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 11

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH TRONG

DẠY HỌC GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN Ở LỚP 3 1.1 Cơ sở lí luận của việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học giải toán có lời văn ở lớp 3

1.1.1 Dạy học giải toán có lời văn ở tiểu học

1.1.1.2 Đặc điểm chung

- Toán học có vị trí rất quan trọng phù hợp với cuộc sống thực tiễn đó cũng là công cụ cần thiết cho các môn học khác và để giúp học sinh nhận thức thế giới xung quanh, để hoạt động có hiệu quả trong thực tiễn

Khả năng giáo dục nhiều mặt của môn toán rất to lớn, nó có khả năng phát triển tư duy lôgic, phát triển trí tuệ Nó có vai trò to lớn trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề có suy luận, có khoa học toàn diện, chính xác, có nhiều tác dụng phát triển trí thông minh, tư duy độc lập sáng tạo, linh hoạt…góp phần giáo dục ý trí nhẫn nại, ý trí vượt khó khăn Từ vị trí và nhiệm vụ vô cùng quan trọng của môn toán vấn đề đặt ra cho người dạy là làm thế nào để giờ dạy - học toán có hiệu quả cao, học sinh được phát triển tích cực, chủ động sáng tạo trong việc chiếm lĩnh kiến thức toán học Vậy giáo viên phải có phương pháp dạy học như thế nào? Để truyền đạt kiến thức khả năng học bộ môn này tới học sinh tiểu học Theo chúng tôi các phương pháp dạy học bao giờ cũng phải xuất phát từ vị trí, mục đích và nhiệm vụ, mục tiêu giáo dục của môn toán ở bài học nói chung và trong giờ dạy toán lớp 3 nói riêng Nó không phải là cách thức truyền thụ kiến thức toán học, rèn kỹ năng giải toán mà là phương tiện tinh vi để tổ chức hoạt động nhận thức tích cực, độc lập và giáo dục phong cách làm việc một cách khoa học, hiệu quả cho học sinh tức là cách dạy

Trang 12

học.Vì vậy giáo viên phải đổi mới phương pháp và các hình thức dạy học để nâng cao hiệu quả dạy - học

- Từ đặc điểm tâm sinh lý học sinh tiểu học là dễ nhớ nhưng mau quên,

sự tập trung chú ý trong giờ học toán chưa cao, trí nhớ chưa bền vững thích học nhưng chóng chán Vì vậy, giáo viên phải làm thế nào để khắc sâu kiến thức cho học sinh và tạo ra không khí sẵn sàng học tập, chủ động tích tực trong việc tiếp thu kiến thức

- Xuất phát từ cuộc sống hiện tại Đổi mới của nền kinh tế, xã hội, văn hóa, thông tin…đòi hỏi con người phải có bản lĩnh dám nghĩ, dám làm, năng động, chủ động, sáng tạo có khả năng để giải quyết vấn đề Để đáp ứng các yêu cầu trên trong giảng dạy nói chung, trong dạy học Toán nói riêng cần phải vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học để nâng cao hiệu quả dạy - học

- Hiện nay toàn ngành giáo dục nói chung giáo dục tiểu học nói riêng đang thực hiện yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh làm cho hoạt động dạy trên lớp “nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả” Để đạt được yêu cầu đó giáo viên phải có phương pháp và hình thức dạy học để nâng cao hiệu quả cho học sinh, vừa phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của lứa tuổi tiểu học và trình độ nhận thức của học sinh Để đáp ứng với công cuộc đổi mới của đất nước nói chung và ngành giáo dục tiểu học nói riêng

- Trong chương trình môn toán tiểu học, giải toán có lời văn giữ một vai trò quan trọng Thông qua việc giải toán các em thấy được nhiều khái niệm toán học Như các số, các phép tính, các đại lượng, các yếu tố hình học…đều có nguồn gốc trong cuộc sống hiện thực, trong thực tiễn hoạt động của con người, thấy được mối quan hệ biện chứng giữa các sự kiện, giữa cái

đã cho cái phải tìm Qua việc giải toán đã rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy và những đức tính của con người mới Có ý thức vượt khó khăn, đức tính

Trang 13

cẩn thận, làm việc có kế hoạch, thói quen xét đoán có căn cứ, thói quen tự kiểm tra kết quả công việc mình làm óc độc lập suy nghĩ, óc sáng tạo, giúp học sinh vận dụng các kiến thức, rèn luyện kĩ năng tính toán, kĩ năng ngôn ngữ Đồng thời qua việc giải toán của học sinh mà giáo viên có thể dễ dàng phát hiện những ưu điểm, thiếu sót của các em về kiến thức, kĩ năng, tư duy

để giúp học sinh phát huy những mặt đạt được và khắc phục những mặt thiếu sót Chính vì vậy việc đổi mới phương pháp dạy toán có lời văn ở cấp tiểu học nói chung và lớp 3 nói riêng là một việc rất cần thiết mà mỗi giáo viên tiểu học cần phải nâng cao chất lượng học toán cho học sinh

1.1.1.2 Nội dung giải toán ở Tiểu học

Giải toán có lời văn ở tiểu học bao gồm các dạng bài sau:

- Giải các bài toán đơn bằng các phép tính cộng, trừ, nhân, chia

- Giải các bài toán hợp:

+ Toán hợp giải bằng hai phép tính

+ Toán liên quan rút về đơn vị

+ Toán tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó

+ Toán tìm hai số khi biết tổng hoặc hiệu và tỉ số của hai số đó

+ Bài toán trắc nghiệm liên quan tới biểu đồ, bản đồ, tỉ lệ bản đồ

+ Bài toán liên quan tới đại lượng tỉ lệ thuận, tỉ lệ nghịch

1.1.2 Dạy học giải toán có lời văn ở lớp 3

1.1.2.1 Đặc điểm nội dung giải toán lớp 3

Nội dung dạy học giải toán ở lớp 3 có một số đặc điểm chủ yếu sau:

- Kế thừa và phát triển so với nội dung dạy học giải toán ở lớp 1, lớp 2 Chẳng hạn: ở lớp 1, lớp 2 học sinh được giải các bài toán có một bước tính (hay còn gọi là bài toán đơn), đến lớp 3 học sinh được học giải các bài toán có hai bước tính (hay còn gọi là bài toán hợp), ở lớp 2 được học giải bài toán về quan hệ “nhiều hơn, ít hơn”, chẳng hạn bài toán: tìm số lớn (hoặc số bé) khi

Trang 14

biết số bé (hoặc số lớn) và “phần nhiều hơn” (hoặc “phần ít hơn”), đến lớp 3 học sinh được “hoàn chỉnh” về bài toán về quan hệ “nhiều hơn, ít hơn”, cụ thể

là bài toán “so sánh hai số kém nhau một số đơn vị”

- Nội dung dạy học mạch “giải toán” được cấu trúc hợp lí, sắp xếp đan xen với các mạch kiến thức khác, làm nổi rõ hạt nhân số học, phù hợp với sự phát triển theo từng giai đoạn học tập của học sinh Chẳng hạn, nội dung các bài toán có lời văn thường nêu bật ý nghĩa của các phép tính (cộng, trừ, nhân, chia) hoặc phản ánh các mối quan hệ về số lượng (gấp một số lên một số lần, giảm một số đi một số lần, tìm một phần mấy của một số, so sánh hai số kém nhau một số đơn vị…) khi các vòng số được mở rộng đến đâu, các đơn vị đo đại lượng học đến đơn vị nào thì các số liệu trong nội dung bài toán cũng vận dụng phù hợp với các số và đơn vị đo đại lượng đã học đó

- Nội dung dạy học “giải toán” đã thể hiện được mức độ yêu cầu cơ bản

về kiến thức, kĩ năng theo đúng trình độ chuẩn của môn Toán lớp 3 Theo định hướng chung về dạy học giải toán ở tiểu học, trong sách Toán 3 không

có những bài toán mang tính chất “nâng cao” đánh đố học sinh hoặc có cách giải quá phức tạp (như dạng toán (*) ở lớp 3 trước kia) thay vào đó là những bài toán cơ bản có không quá hai bước tính, chủ yếu giúp học sinh học tập phương pháp giải bài toán phù hợp sự tiếp thu của các em

- Các bài toán trong sách Toán 3 đa dạng, phong phú hơn trước, có tính cập nhật, đề cập đến thực tiễn đời sống xung quanh các em Chẳng hạn, ngoài những bài toán có tính chất “truyền thống”, trong sách Toán 3 còn có những bài toán “trắc nghiệm”, bài toán lập bảng liên quan đến “yếu tố thống kê”… Các bài toán về thời gian, độ dài, khối lượng, tiền Việt Nam,… phần lớn có nội dung phản ánh các hoạt động, sinh hoạt diễn ra hàng ngày (sáng, trưa, chiều, tối…) với các kỹ năng thường gặp (cân, đo, đong, đếm…) Có thể nói

Trang 15

mỗi “bài toán” có trong sách Toán 3 thường là một “tình huống”nào đó có trong thực tiễn mà các em cần biết và có thể “giải quyết” được

1.1.2.2 Nội dung chủ yếu dạy học giải bài toán có lời văn ở lớp 3

- Nội dung chủ yếu dạy học giải bài toán có lời văn trong Toán 3 bao gồm: + So sánh hai số hơn kém nhau một đơn vị

+ Bài toán liên quan đến rút về đơn vị

+ Giải bài toán bằng hai phép tính

+ Bài toán có nội dung hình học (tính chu vi, diện tích hình chữ nhật, hình vuông)

- Khi dạy học các nội dung trên cần đảm bảo yêu cầu chuẩn kiến thức

và kĩ năng trong dạy học giải toán ở lớp 3 là biết giải và trình bày bài giải các bài toán có lời văn có đến hai bước tính, trong đó có các bài toán liên quan đến rút về đơn vị, tìm một trong các phần bằng nhau của một số

1.1.2.3 Ý nghĩa và tầm quan trọng của dạy học giải toán có lời văn trong toán 3

Như chúng ta đã biết, một trong bốn mạch kiến thức ở môn Toán 3 là giải bài toán có lời văn Trong sách giáo khoa Toán 3, các bài toán có lời văn (toán đơn và toán hợp) được sắp xếp xen kẽ với mạch kiến thức khác Đây là mạch kiến thức khó, đòi hỏi khả năng phân tích, tổng hợp của học sinh khi học tập Trong chương trình Toán 3, ngoài các bài toán đơn (bài toán giải bằng 1 phép tính), học sinh cón được học các bài toán hợp, bài toán giải bằng

2 phép tính (2 bước tính) Mỗi bước tính là bước giải một bài toán đơn Kết

Trang 16

quả phép tính ở bước tính thứ nhất sẽ là một thành phần của phép tính ở bước giải thứ hai Số bài toán hợp chiếm một tỉ lệ lớn trong mạch kiến thức giải toán, xuyên suốt chương trình Toán 3

- So với 3 mạch kiến thức còn lại (Số học, Hình học và Đo lường), khối lượng mạch Giải toán không nhiều, song nó không chỉ giữ vị trí quan trọng trong việc phát triển tư duy toán học nói chung mà còn là yếu tố chính trong việc hình thành và phát triển tư duy trừu tượng, khả năng phân tích, tổ hợp, khái quát hóa và cách nhìn nhận thấu đáo, khúc triết trong cách giải quyết vấn

đề học sinh Với tầm quan trọng như vậy, việc dạy giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3 là một vấn đề không thể xem nhẹ

- Giải toán ở tiểu học trước hết là giúp các em luyện tập, vận dụng kiến thức, các thao tác thực hành vào thực tiễn Qua đó, từng bước giúp cho học sinh phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp suy luận logic Thông qua giải toán mà học sinh rèn luyện được phong cách của người lao động mới: làm việc có ý thức, có kế hoạch, sáng tạo và hăng say, miệt mài trong công việc

- Môn Toán là chìa khóa mở đầu cho tất cả các ngành khoa học khác,

nó là công cụ cần thiết không thể thiếu của con người lao động mới, đặc biệt

là việc giải toán có lời văn đối với học sinh lớp 3 theo chương trình và sách giáo khoa mới Chính vì vậy, trong quá trình dạy cho học sinh các kỹ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3 bao gồm những bài toán có cấu trúc đơn giản phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh Các dạng Toán có lời văn được hình thành theo nội dung được quy định trong chương trình Qua việc nghiên cứu và giải các bài toán có lời văn đối với học sinh lớp 3 giúp cho các em có điều kiện để phát triển tư duy logic Như vậy, Toán có lời văn được xuyên suốt trong chương trình Toán tiểu học

Trang 17

- Môn toán lớp 3 giúp cho học sinh có thể giúp cho học có thể hoàn thiện các kĩ năng cơ bản để học sinh có thể tìm hiểu tiếp ở các lớp trên Thông qua việc giải toán có lời văn người giáo viên giúp học sinh bước đầu biết vận dụng các kiến thức các kỹ năng toán học vào việc giải quyết một số vấn đề trong cuộc sống thực tế hàng ngày như: Mua, bán, chia phần, so sánh thi đua với bạn bè và người xung quanh Hay nói ngắn gọn hơn toán có lời văn là cầu nối kiến thức toán học mà các em được học ở nhà trường với đời sống sinh hoạt hàng ngày Thông qua giảng dạy toán có lời văn lớp 3 giúp cho các em học sinh hình thành và phát triển khả năng tư duy logic, năng lực trình bày kết quả và làm cơ sở cho quá trình học toán sau này

1.1.3 Đặc điểm của học sinh lớp 3

Để thu được kết quả tốt trong dạy học thì ngoài những kiến thức chuyên môn của mình và có phương pháp dạy học tốt thì người giáo viên cũng cần phải biết thấu hiểu tâm lí của học sinh tiểu học, để có thể thiết kế được bài dạy tốt và phù hợp với tâm lí học sinh nhằm tạo không khí lớp học sinh động, thu hút sự tò mò, tìm tòi của các em nhưng đảm bảo đạt hiệu quả

Trang 18

Trí nhớ của học sinh tiểu học còn mang tính trực quan hình tượng Vì vậy, trong việc ghi nhớ các tài liệu từ ngữ nhất là các tài liệu từ ngữ trừu tượng vẫn còn phải dựa trên những tài liệu trực quan hình tượng mới vững chắc

Tư duy chủ yếu của học sinh tiểu học là tư duy hình tượng trực quan, tư duy cụ thể Các em chưa biết suy luận từ giả định này để rút ra kết luận, chính điểm này làm cho các em dễ mất sai lầm trong tư duy Do đó giáo viên phải dạy cho các em cách suy luận phải có căn cứ khách quan, phán đoán có dẫn chứng thực tế, kết luận phải có tính chất đúng đắn logic, suy nghĩ phải có mục đích Ngôn ngữ của học sinh tiểu học đã phát triển rất rõ rệt cả về số lượng

và chất lượng Sự thay đổi về chất lượng ngôn ngữ nói và đặc biệt sự hình thành ngôn ngữ viết có ảnh hưởng căn bản đến sự phát triển tất cả các quá trình tâm lý của các em

1.1.3.2 Đặc điểm về nhân cách

Tính cách của học sinh tiểu học được hình thành trong hoạt động học tập, lao độngvà hoạt động xã hội và cả trong hoạt động vui chơi Ở tuổi này các em thường có khuynh hướng hành động ngay lập tức dưới ảnh hưởng của kích thích bên ngoài và bên trong

Tính hay bắt chước là đặc điểm quan trọng của lứa tuổi tiểu học, tạo điều kiện thuận lợi để chúng ta giáo dục cho trẻ phát triển theo hướng tích cực

Hứng thú ở tuổi này dần chiếm ưu thế hơn, vì ở lứa tuổi này hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo, kết quả học tập và lời nhận xét của giáo viên có tác dụng củng cố hứng thú học tập của trẻ

Tính độc lập của các em đã dần phát triển nhưng còn yếu Do đó trong giai đoạn này giáo viên cần giáo dục dần cho các em thông qua các hoạt động học tập

Đời sống tình cảm của học sinh tiểu học đó là tính cụ thể, trực tiếp và giàu cảm xúc Trong giai đoạn này tình cảm trí tuệ đang hình thành và phát triển, các em dần dần biết chăm lo kết quả học tập của mình

Trang 19

1.1.4 Dạy học giải toán ở tiểu học theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề

1.1.4.1 Năng lực giải quyết vấn đề

1.1.4.1.1 Khái niệm

Năng lực giải quyết vấn đề là tổ hợp các năng lực thể hiện ở các kĩ năng (thao tác tư duy và hoạt động) trong hoạt động học tập nhằm giải quyết

có hiệu quả những nhiệm vụ của bài toán

1.1.4.1.2 Ưu điểm và nhược điểm của dạy học giải quyết vấn đề

* Ưu điểm

Phương pháp dạy học tích cực này sẽ giúp trẻ có điều kiện thuận lợi để:

- Tự thể hiện tài năng, trí thông minh, óc sáng tạo của mình

- Rèn luyện tính tháo vát, năng lực tự xoay sở, óc dám nghĩ, dám làm trong cuộc sống

- Năng lực “phát minh”, năng lực trình bày và diễn đạt, tính tự tin trong cuộc sống

* Nhược điểm

Phương pháp dạy học này vẫn còn tồn tại một số hạn chế như:

- Tốn nhiều thời gian

- Chỉ thực hiện ở một số ít các loại bài học

- Giáo viên và học sinh nước ta chưa quen

- Đôi khi giáo viên phải cho học sinh chuẩn bị trước ở nhà

- Khó vận dụng cho lớp đông

1.1.4.1.3 Sự cần thiết của phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh trong dạy học

Phương pháp dạy học này giúp học sinh:

- Nắm vững kiến thức, liên hệ giữa các kiến thức

- Có khả năng vận dụng các kiến thức, kĩ năng vào cuộc sống, công việc

Trang 20

- Có ý thức trách nhiệm đối với gia đình, xã hội, ý thức nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc

Năng lực giải quyết vấn đề cần được hình thành, phát triển ngay từ tiểu học

1.1.4.2 Đặc điểm của dạy học giải quyết vấn đề

Trong hoạt động dạy học giải quyết vấn đề,giáo viên tạo ra những tình huống gợi vấn đề, điều khiển học sinh phát hiện và giải quyết vấn đề bằng các hoạt động tích cực, tự chủ, sáng tạo… Qua đó học sinh tiếp thu những tri thức mới, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo và đạt được những mục đích học tập khác Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề có một số đặc điểm như sau:

- Người học phải được đặt vào tình huống gợi vấn đề chứ không phải được thông báo dưới hình thức có sẵn

- Học sinh tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo, tận lực, tận tâm huy động tri thức sẵn có để phát hiện và giải quyết vấn đề tránh được trường hợp thụ động nghe giáo viên giảng như các hình thức dạy học truyền thống khác

- Khi giải quyết vấn đề, học sinh đạt được những tri thức và kĩ năng mới, đồng thời tập thói quen hoạt động tư duy một cách khoa học

- Tính có vấn đề được phản ánh trong mối quan hệ biện chứng giữa chủ thể cá nhân học sinh với tình huống được giải quyết với học sinh này thì tình huống đặt ra có thể chứa đựng vấn đề, nhưng với học sinh khác thì nó quá dễ không có vấn đề gì, với học sinh này thì vấn đề là lớn, nhưng với học sinh khác thì vấn đề đó là nhỏ

1.1.4.3 Dạy học giải toán có lời văn lớp 3 theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề

1.1.4.3.1 Các dạng bài toán chủ yếu được giới thiệu trong sách toán 3

Trong sách Toán 3, các bài toán được giới thiệu theo những dạng chủ yếu sau: a) Bài toán giải bằng hai phép tính

Chẳng hạn như hai bài toán sau:

Trang 21

Bài toán 1: Thùng thứ nhất đựng 18 lít dầu, thùng thứ hai đựng nhiều hơn

thùng thứ nhất 6 lít dầu Hỏi cả hai thùng đựng bao nhiêu lít dầu ? Bài toán 2: Một cửa hàng ngày thứ bảy bán được 6 xe đạp, ngày chủ nhật bán

được số xe đạp gấp đôi số xe đạp trên Hỏi cả 2 ngày cửa hàng đó bán được bao nhiêu xe đạp ?

b) Bài toán liên quan rút về đơn vị

Bài toán liên quan đến rút về đơn vị gồm có hai kiểu bài như sau:

Bài toán 1: Có 35 lít mật ong chia đều vào 7 can Hỏi hai can có mấy lít mật ong ? Bài toán 2: Có 35 lít mật ong đựng đều vào 7 can Hỏi có 10 lít mật ong thì

đựng đều vào mấy can như thế ?

c) Bài toán về các mối quan hệ giữa hai đại lượng

- So sánh hai số hơn kém nhau một số đơn vị

- So sánh số lớn gấp mấy lần số bé hoặc số bé bằng một phần mấy số lớn

- Tìm một trong các phần bằng nhau của một số

- Gấp một số lên nhiều lần

- Giảm một số đi một số lần

Chẳng hạn như những bài toán sau:

Bài toán 1: Lớp 3A có 19 bạn nữ và 16 bạn nam Hỏi số bạn nữ nhiều hơn số

bạn nam là bao nhiêu ?

Bài toán 2: Trong vườn có 5 cây cau và 20 cây cam Hỏi số cây cam gấp mấy

lần số cây cam ?

Bài toán 3: Ngăn trên có 6 quyển sách, ngăn dưới có 24 quyển sách Hỏi số

sách ngăn trên bằng một phần mấy số sách ngăn dưới ?

Bài toán 4: Có 28 học sinh tham gia văn nghệ,

4

1

số học sinh đó là nam Hỏi

có bao nhiêu học sinh nam tham gia văn nghệ ?

Trang 22

Bài toán 5: Năm nay em 5 tuổi, tuổi chị gấp 2 lần tuổi em Hỏi năm nay chị

bao nhiêu tuổi?

Bài toán 6: Một công việc làm bằng tay hết 30 giờ, nếu làm bằng máy thì thời gian

giảm 5 lần Hỏi làm công việc đó bằng máy thì hết bao nhiêu giờ?

d) Bài toán có nội dung hình học (tính độ dài đường gấp khúc, tính chu vi,

diện tích hình chữ nhật, hình vuông, …)

Chẳng hạn như những bài toán sau:

Bài toán 1: Tính độ dài đường gấp khúc ABCD

Bài toán 2: Tính chu vi hình vuông có cạnh dài 2 cm

Bài toán 3: Một hình chữ nhật có chiều rộng 5cm, chiều dài hơn chiều rộng

3cm Tính diện tích hình chữ nhật đó?

e) Một số bài toán khác (dạng trắc nghiệm ,thống kê…)

Chẳng hạn như những bài toán sau:

Bài toán 1: Khoanh vào chữ đặt trước câu trả lời đúng:

A

D

C

B 3cm

33cm

53cm

40cm

Trang 23

A Chu vi hình chữ nhật ABCD lớn hơn chu vi hình chữ nhật MNPQ

B Chu vi hình chữ nhật ABCD bé hơn chu vi hình chữ nhật MNPQ

C Chu vi hình chữ nhật ABCD bằng chu vi hình chữ nhật MNPQ

Bài toán 2: Dưới đây là bảng thống kê số cây của bản Na đã trồng được trong

4 năm:

Thông 1875 cây 2167 cây 1980 cây 2540 cây Bạch đàn 1745 cây 2040 cây 2165 cây 2515 cây Dựa vào bảng trên hãy trả lời các câu hỏi dưới đây

a) Năm 2002 bản Na trồng được nhiều hơn năm 2000 bao nhiêu cây bạch đàn? Mẫu: Số cây bạch đần bản Na trồng năm 2002 nhiều hơn năm 2000 là:

2165 – 1745 = 420 (cây) b) Năm 2003 bản Na trồng được tất cả bao nhiêu cây thông và cây bạch đàn ? Bài toán 3: Đoạn đường AB dài 2350m và đoạn đường CD dài 3km Hai đoạn đường này có chung một chiếc cầu từ C đến B dài 350m Tính độ dài đoạn đường từ A đến D

1.1.4.3.2 Những dạng tóm tắt thường gặp khi giải các bài toán có lời văn trong sách Toán 3

Tóm tắt bài toán thực chất là thu gọn lại bài toán để làm nổi bật giả thiết và kết luận của bài toán (bài toán cho gì, bài toán hỏi gì ?), từ đó làm nổi

Năm Loại cây

A

3km 2350m

350m

B

C

D

Trang 24

bật mối quan hệ giữa giả thiết và kết luận Đây là việc làm cần thiết có ý nghĩa như là sự tìm hiểu, phân tích bài toán, trước khi giải bài toán Bởi vậy học sinh cần được hiểu biết và học cách tóm tắt bài toán Đặc biệt khi mới bắt đầu làm quen với bài toán hợp thì tóm tắt bài toán lại càng cần thiết

Trong giai đoạn đầu nên hướng dẫn học sinh tóm tắt bài toán trước khi giải và tùy sự tiếp thu của học sinh, có thể cho học sinh viết tóm tắt vào phần trình bày bài giải bài toán Sau đó khi đã quen và tự phân tích được đề toán, thì không bắt buộc học sinh phải viết tóm tắt vào phần trình bày bài giải bài toán, nếu phần tóm tắt đó là một bộ phận không thể thiếu của bài toán

Trong sách Toán 3, thường có những dạng tóm tắt sau:

a) Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng

Bài toán 1: Mẹ có 40 quả bưởi, sau khi đem bán thì số bưởi giảm đi 4 lần Hỏi

mẹ còn lại bao nhiêu quả bưởi ?

Trang 25

b) Tóm tắt bằng lời

Bài toán 1: Giải bài toán theo tóm tắt sau:

Đoạn dây dài: 243cm

1.1.4.3.3 Dạy học các bài toán hợp trong sách Toán 3

Trong sách Toán, bài toán hợp được giới thiệu thành bài học cụ thể và nêu

rõ là bài toán giải bằng 2 phép tính (trang 50, 51 – Toán 3) Xuất phát từ các

bài toán đơn đã biết, có thể ghép chúng thành bài toán hợp chẳng hạn:

Bài toán 1: Hàng trên có 3 cái kèn, hàng dưới có nhiều hơn hàng trên 2 cái kèn

Hỏi:

a) Hàng dưới có mấy cái kèn ?

b) Cả hai hàng có mấy cái kèn ?

Ở bài toán này tách mỗi câu a) hoặc câu b) ta có hai bài toán đơn (mỗi bài có

một bước tính) Nếu chỉ hỏi câu a) không hỏi câu b) ta có bài toán sau:

Bài toán 2: Hàng trên có 3 cái kèn, hàng dưới có nhiều hơn hàng trên 2 cái

kèn Hỏi cả hai hàng có mấy cái kèn ?

Ở bài toán này khi giải có hai bước tính (bước tính 1 trả lời câu a), bước

tính 2 trả lời câu b)) Như vậy bài toán 2 trở thành bài toán hợp (Bài toán có

hai bước tính hay bài toán giải bằng hai phép tính)

? km

5km

Chợ huyện

Trang 26

Lưu ý: Bằng việc tổ hợp từ các bài toán đơn liên quan đến 4 phép tính cộng, trừ, nhân, chia sách Toán 3 đã xây dựng được nhiều bài toán hợp (giải bằng hai phép tính) Bởi vậy, các bài toán hợp đó rất phong phú, đa dạng nhưng cách giải rõ ràng, đơn giản thường quy về các bài toán đơn để thực hiện Các bài toán hợp không xây dựng theo hướng mẫu mã hoặc sắp xếp theo dạng áp đặt cách giải tùy thuộc vào phép tính như trước đây (chương trình cải cách giáo dục)

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học giải toán có lời văn lớp 3

1.2.1 Thực tiễn việc dạy học toán 3

Thực tiễn của việc dạy học này là sự mất cân đối rõ rệt giữ dạy học của giáo viên và hoạt động của học sinh trong đó:

- Giáo viên thường xuyên truyền đạt, giảng giải theo các tài liệu đã có sẵn trong sách giáo khoa, sách giáo viên, vì vậy học sinh thường làm việc một cách máy móc và ít quan tâm đến việc phát huy khả năng sáng tạo của học sinh

- Học sinh học tập một cách thụ động chủ yếu nghe thầy giảng, ghi nhớ rồi làm bài theo mẫu Do đó học sinh ít hứng thú học tập, nội dung các hoạt động học tập thường nghèo nàn, đơn điệu, các năng lực vốn có của cá nhân các em ít có cơ hội phát triển

- Giáo viên là người duy nhất có quyền đánh giá kết quả học tập của các em Học sinh ít khi tự đánh giá mình và đánh giá lẫn nhau Tiêu chuẩn đánh giá học sinh là kết quả ghi nhớ, tái hiện lại những điều đã giảng

Phương pháp dạy học như vậy đã cản trở việc đào tạo những người lao động năng động, tự tin, linh hoạt, sáng tạo Do đó chúng ta phải cố gắng đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng giáo dục cũng như phát huy tính tích cực học tập của học sinh như: năng lực giải quyết vấn đề

Trang 27

1.2.2 Thực tiễn việc học giải bài toán có lời văn ở lớp 3 theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề

Trong việc dạy giải toán ở tiểu học, giáo viên cần giải quyết 2 vấn đề sau:

- Học sinh cần nắm được các bước cần thiết của quá trình giải toán và rèn luyện kĩ năng thực hiện các bước đó một cách thành thạo, được tiến hành theo 4 bước sau:

Bước 1: Tìm hiểu kỹ đề bài

Bước 2: Lập kế hoạch giải

Bước 3: Thực hiện kế hoạch giải

Bước 4: Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải

- Học sinh nắm được và có kỹ năng vận dụng các phương pháp chung cũng như thủ thuật giải toán vào việc giải các bài toán một cách có hiệu quả

Tiểu kết chương 1

Qua tìm hiểu về chương 1 kết hợp với tham khảo tài liệu liên quan đến

đề tài, khóa luận đã tìm hiểu được về cơ sở lí luận và thực tiễn của việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh để từ đó đề xuất các biện pháp phù hợp nhằm nâng cao năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh tiểu học đặc biệt mảng giải toán có lời văn ở lớp 3

Trang 28

Chương 2 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN

ĐỀ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN

Ở LỚP 3 2.1 Các giải pháp

2.1.1 Giải pháp 1: Tập luyện cho học sinh tự phát hiện, tự giải quyết các vấn đề của bài học

2.1.1.1 Cở sở đề xuất giải pháp

Trong quá trình học tập học sinh vẫn còn tiếp thu kiến thức một cách thụ động, giáo viên vẫn là người chủ động trong quá trình dạy học của mình Vậy cần có những biện pháp nhằm đổi mới phương pháp dạy học trên bằng cách tập luyện cho học sinh tự phát hiện, tự giải quyết các vấn đề của bài học Toán 3 chuẩn bị cho học sinh những cơ sở quan trọng để phát triển năng lực học tập toán như:

- Trang bị những kiến thức và kĩ năng cơ bản của môn toán, phù hợp với trình độ nhận thức và phát triển của lứa tuổi học sinh lớp 3

- Tập luyện cho học sinh tự phát hiện, tự giải quyết các vấn đề trọng tâm của bài học và bài tập, thông qua các hoạt động học tập học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức mới với sự hướng dẫn hợp lí của giáo viên

2.1.1.2 Nội dung giải pháp

Giáo viên đưa ra các tình huống để học sinh có thể sử dụng tư duy và khả năng của bản thân tự phát hiện và và giải quyết được các tình huống mà giáo viên đưa ra

2.1.1.3 Cách thực hiện

Để khuyến khích và tạo điều kiện phát triển năng lực học tập toán của cá nhân học sinh, giáo viên cần dạy học theo từng đối tượng học sinh, cụ thể là:

Trang 29

- Đối với tất cả các đối tượng học sinh: Cần tạo điều kiện để mọi học sinh đều đạt được các yêu cầu cơ bản của chuẩn kiến thức và kĩ năng của Toán 3, trên cơ sở đó động viên học sinh khai thác nội dung của sách giáo khoa theo khả năng của cá nhân Nhiều bài luyện tập, thực hành trong sách giáo khoa vừa giúp học sinh củng cố kiến thức mới học, rèn kĩ năng thực hành, vừa có thể giúp học sinh tập khai thác để phát hiện các nội dung “ẩn tàng” trong đó

- Đối với một bộ phận học sinh có nhu cầu và hứng thú phát triển năng lực học tập toán: Giáo viên có thể tổ chức cho những học sinh này học tập theo khả năng của từng cá nhân để nắm chắc và hiểu sâu các kiến thức cơ bản của sách giáo khoa Toán 3, giải và khai thác các nội dung trong các bài tập của sách giáo khoa Toán 3, Vở bài tập Toán 3, đồng thời có thể tổ chức dạy học tự chọn (không bắt buộc) về toán bằng các hình thức phù hợp với điều kiện cụ thể của từng lớp học, theo sự hướng dẫn của các cơ quan chỉ đạo giáo dục ở địa phương

2.1.2 Giải pháp 2: Giúp học sinh hiểu và vận dụng các bước giải quyết vấn

đề trong học và thực hành giải toán có lời văn lớp 3

2.1.2.1 Cở sở đề xuất giải pháp

- Do việc tiếp thu kiến thức của học sinh vẫn còn quá thụ động và đạt hiệu quả chưa cao vì vậy cần phải có biện pháp phù hợp nhằm kích thích khả năng tư duy của học sinh

2.1.2.2 Nội dung giải pháp

- Một trong những trọng tâm của đổi mới chương trình giáo dục phổ thông hiện nay là đổi mới phương pháp dạy học Toán 1 và Toán 2 đã được thực tế dạy học xác nhận là đã góp phần quan trọng để đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học

Trang 30

Muốn đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học Toán 3, giáo viên cần

cố gắng và nghiêm túc thực hiện những hướng dẫn sau:

* Phải chuẩn bị tốt bài dạy, cụ thể là:

- Tự lập được kế hoạch dạy học (hàng năm, hàng tuần, từng bài) Bài soạn (giáo án) nên viết dưới dạng một kế hoạch hành động sư phạm, tập trung vào tổ chức và hướng dẫn các hoạt động học tập của học sinh; xác định rõ vị trí và vai trò của giáo viên, học sinh, tài liệu và thiết bị dạy học (sách giáo khoa, vở bài tập, đồ dùng dạy và đồ dùng học, …) trong từng hoạt động dạy học chủ yếu

- Dự kiến một số phương án khai thác nội dung sách giáo khoa theo đặc điểm từng đối tượng học sinh của lớp

- Xác định rõ mức độ cần đạt cho từng đối tượng học sinh

* Dạy học trên cơ sở tổ chức và hướng dẫn các hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; tạo mọi điều kiện để học sinh phát hiện, giải quyết vấn đề của bài học rồi chiếm lĩnh kiến thức mới, dành thời lượng thích đáng cho thực hành, luyện tập theo năng lực từng đối tượng học sinh

- Nhất thiết phải sử dụng đúng mức các thiết bị dạy học (sách giáo khoa, đặc biệt là hình minh họa trong sách giáo khoa; đồ dùng học sinh,…) theo nội dung từng loại bài

- Linh hoạt áp dụng các hình thức tổ chức dạy học, trong đó có dạy học

cá nhân, dạy học theo nhóm, theo lớp…

* Xây dựng môi trường học tập thân thiện, có tính sư phạm cao

- Trang trí phòng học, tạo tâm thế học tập cho học sinh

- Luôn tạo bầu không khí hợp tác và thân thiện giữa giáo viên với học sinh, học sinh với học sinh

Trang 31

- Trân trọng, khuyến khích sự tham gia của mọi đối tượng học sinh trong các hoạt đông tập toán Động viên và hướng dẫn học sinh tự đánh giá kết quả học tập của bản thân, của bạn

Pha 1: Tạo tình huống có vấn đề

Pha 2: Hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề

- Bước 1: Phát hiện vấn đề

- Bước 2: Định hướng giải quyết vấn đề

- Bước 3: Trình bày lời giải

- Bước 4: Kiểm tra, đánh giá

Pha 3: Xác nhận, đánh giá

Cụ thể yêu cầu đối với học sinh như sau:

*Đọc kĩ đề toán: Học sinh đọc ít nhất 3 lần mục đích để giúp các em nắm được 3 yếu tố cơ bản Nhưng “dữ kiện” là cái đã cho, đã biết trong đề bà, những “ẩn số” là những cái chưa biết và cần tìm và những “điều kiện” là quan

hệ giữa các dữ kiện và ẩn số

- Cần tập cho học sinh có thói quen và từng bước có kỹ năng suy nghĩ trên các yếu tố cơ bản của bài toán, phân biệt và xác định được các dữ kiện và điều kiện cần thiết liên quan đến cái cần tìm, gạt bỏ các tình tiết không liên quan đến câu hỏi, phát hiện được các điều kiện không tường minh để diễn đạt một cách rõ ràng hơn Tránh thói quen xấu là vừa đọc đề đã làm ngay

Trang 32

*Tóm tắt đề toán: Sau khi đã đọc kĩ đề toán, các em biết lược bớt một số câu chữ, làm cho bài toán gọn lại, nhờ đó mối quan hệ giữa cái đã cho và một số phải tìm rõ hơn Mỗi em cần cố gắng tóm tắt được các đề toán và biết cách nhìn vào các tóm tắt ấy mà nhắc lại được đề toán

- Thực tế có rất nhiều cách tóm tắt đề toán, nếu các em càng nắm được nhiều cách tóm tắt thì các em sẽ càng giải toán giỏi Có một số cách tóm tắt như sau:

* Kiển tra lời giải và đánh giá cách giải: Qua quá trình quan sát học sinh giải toán, chúng ta dễ dàng thấy rằng học hinh thường coi bài toán đã giải xong khi tính ra đáp số hay tìm được câu trả lời Khi giáo vên hỏi: “Em có tin chắc kết quả là đúng không?” thì nhiều em lúng túng Vì vậy, việc kiểm tra, đánh giá kết quả là không thể thiếu khi giải toán và phải trở thành thói quen với học sinh Cho nên khi dạy giải toán, chúng ta cần hướng dẫn các em thông qua các bước:

Trang 33

- Đọc lại lời giải

- Kiểm tra các bước giải xem đã hợp lí với yêu cầu của bài chưa, các câu văn diễn đạt trong lời giải đã đúng chưa

- Thử lại các kết quả vừa tính từ bước đầu tiên

- Thử lại kết quả đáp số xem đã phù hợp với yêu cầu của đề bài chưa

Đối với những học sinh giỏi, giáo viên có thể hướng các em nhìn lại toàn bộ bài giải, tập phân tích cách giải, động viên các em tìm các cách giải khác, tạo điều kiện phát triển tư duy linh hoạt, sáng tạo, suy nghĩ đọc lập của học sinh

b)Hướng dẫn học sinh nắm chắc phương pháp giải toán có nội dung hình học

- Việc giải toán có nội dung hình học cũng theo từng đường lối chung để hướng dẫn hocjsinh giải toán (thông thường) cũng gồm các bước:

Bước 1: Đọc kĩ đề toán và xác định được cái đã cho và cái phải tìm

Ở bước này giáo viên thường nêu hai cầu hỏi:

+ Bài toán cho biết gì?

+ Bài toán hỏi gì?

Bước 2: Thiết lập các mối quan hệ giữa cái đã cho cái phải tìm bằng cách tóm tắt nội dung bài toán dưới dạng sơ đồ, hình vẽ hoặc ngôn ngữ ngắn gọn

- Ví dụ 1: Tính chiều dài hình chữ nhật, biết nửa chu vi hình chữ nhật là 60m, chiều rộng là 20m (sách Toán 3, trang 89)

Ngày đăng: 02/01/2017, 10:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chương trình tiểu học ban hành kèm theo quyết định số 43/2001/QĐ-BGDĐT, ngày 9 tháng 11 năm 2001của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
2. Chương trình đảm bảo chất lượng trường học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 (2015), Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực giáo dục tiểu học, NXB Hồng Đức, Hà Nội Khác
3. Vũ Quốc Chung, Đào Thái Lai, Đỗ Tiến Đạt, Trần Ngọc Lan, Nguyễn Hùng Quang, Lê Ngọc Sơn (2007), Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học, Nxb Giáo dục và Nxb Đại học Sƣ phạm Khác
4. G. Pôlia (1979), Giải một bài toán nhƣ thế nào?, Nxb Giáo dục Khác
5. Đỗ Đình Hoan (2002), Một số vấn đề cơ bản của chương trình tiểu học mới, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
6. Đặng Vũ Hoạt, Phó Đức Hòa (2014), Giáo trình Giáo dục học Tiểu học, Nxb Đại học Sƣ phạm Khác
7. Nguyễn Hữu Hợp (2013), Lý luận dạy học Tiểu học, Nxb Đại học Sƣ phạm Khác
8. Nguyễn Hữu Hợp (2015), Hướng dẫn thực hiện đánh giá học sinh tiểu học (Theo thông tƣ 30/2014/ TT-BGDĐT), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
9. Bùi Văn Huệ (2003), Giáo trình tâm lý học tiểu học, Nxb Đại học Sƣ phạm Khác
10. Jean-Marc Denomme & Madeleine Roy (2000), Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác, bộ ba Người học-Người dạy-Môi trường, NXB Thanh niên, Hà Nội Khác
11. Nguyễn Bá Kim (2015), Phương pháp dạy học môn Toán, Nxb Đại học Sư phạm Khác
12. Michel Develay (1999), Một số vấn đề về đào tạo giáo viên, NXB Giáo dục, Hà Nội Khác
13. Đỗ Đình Hoan (chủ biên), SGK Toán 3, NXB Giáo dục Khác
14. Đỗ Đình Hoan (chủ biên), Sách giáo viên Toán 3, NXB Giáo dục Khác
15. Lê Ngọc Sơn (2015), Phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề cho học sinh tiểu học trong dạy học giải toán, Tạp chí Toán học trong nhà trường, số 3, tháng 11/2015, tr. 23 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w