LỜI NÓI ĐẦUNgày nay khoa học kĩ thuật phát triển rất mạnh mẽ và được ứng dụng trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống để tăng năng suất lao động, tiết kiệm chi phí, năng lượng và đáp ứng
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trước tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy cô giáo trong trường Đại học Công nghệ thông tin và truyền thông – Đại học Thái Nguyên nói chung và các thầy cô giáo trong Khoa Công nghệ Tự động hóa nói riêng đã tận tình giảng dạy, truyền đạt cho em những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian qua
Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn tới cô LÊ THỊ THU HUYỀN, cô đã tận
tình giúp đỡ, trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá trình làm đồ án tốt nghiệp Thời gian làm việc với cô, em không những tiếp thu thêm nhiều kiến thức bổ ích mà còn học tập được tinh thần làm việc, thái độ nghiên cứu khoa học nghiêm túc, hiệu quả, đây là những điều rất cần thiết cho em trong quá trình học tập và làm việc sau này
Sau cùng em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã động viên, góp ý, và giúp đỡ trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành đồ án tốt nghiệp
Do thời gian hoàn thành đồ án có giới hạn, chắc chắn rằng đồ án không tránh khỏi những thiếu sót nên em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn để đồ án tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2016
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Cúc
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan nội dung ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP là công trình nghiên cứu
của bản thân em dưới sự hướng dẫn của ThS LÊ THỊ THU HUYỀN.
Các kết quả nêu trong ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP là trung thực, không phải là sao chép toàn văn của bất kỳ công trình nào khác, nếu sai em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm và chịu mọi hình thức kỷ luật của nhà trường
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2016
Người cam đoan
Nguyễn Thị Cúc
Trang 3CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT 2
1.1 Tổng quan về hệ thống điều khiển, giám sát và thu thập dữ liệu SCADA21.1.1 Khái quát chung về SCADA 2
1.1.2 Sự phân cấp quản lý của hệ thống SCADA 5
1.1.3 Phần cứng hệ thống SCADA 6
1.1.4 Phần mềm hệ thống SCADA 7
1.1.5 Truyền tin trong hệ SCADA 8
1.2 Thiết bị điều khiển cấp trường9
Trang 42.2 Chương trình điều khiển 30
2.2.1 Bảng đầu vào đầu ra 30
2.2.2 Lưu đồ thuật toán 31
2.2.3 Sơ đồ đấu nối với PLC 33
2.2.4 Xử lý tín hiệu analog từ cảm biến NTC MF58 332.3 Giao diện giám sát trên HMI 44
2.3.1 Thiết kế giao diện 44
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
SCADA Supervisory Cotrol And Data
PLC ProgrammableLogic Control Thiết bị điều khiển logic khả trình
STL Statement List Ngôn ngữ liệt kê lệnh
FBD Function Block Diagram Ngôn ngữ hình khối
Trang 6DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Các thành phần cơ bản của hệ thống SCADA2
Hình 1.2 Mô hình phân cấp chức năng của hệ thống điều khiển và giám sát.6Hình 1.3 Cấu trúc phần mềm hệ thống điều khiển và giám sát SCADA 8Hình 1.4 Sơ đồ đo mức theo phương pháp thủy tĩnh 14
Hình 1.5 Cảm biến độ dẫn 15
Hình 1.6 Cảm biến đo mức bằng tia bức xạ 16
Hình 1.7 Dấu hiệu hoạt động và ký hiệu của bơm 19
Hình 1.8 Cấu trúc bộ điều khiển PLC 21
Hình 1.9 Ghép nối vào/ra với PLC 21
Hình 1.10 Hệ thống điều khiển sử dụng PLC 22
Hình 1.11 Mối quan hệ giữa các ngôn ngữ lập trình PLC 24
Hình 2.1 Sơ đồ điều khiển hệ thống hồi nước nóng nhiều trục 28
Hình 2.2 Sơ đồ hệ thống 29
Hình 2.3 Trạng thái hoạt động của phao điện 31
Hình 2.4 Lưu đồ thuật toán 32
Hình 2.5 Sơ đồ đấu nối PLC 33
Hình 2.6 Mạch analog áp 34
Hình 2.7 Mối liên hệ giữa Ucb và T 36
Hình 2.8 Địa chỉ trên Device Overview 37
Hình 2.9 Xử lí giá trị analog trong PLC S7-1200 37
Hình 2.10 Hàm SCALE_X và đồ thị 38
Hình 2.11 Hàm NORM_X và đồ thị 38
Hình 2.12 Kết hợp 2 hàm Norm_X và Scale_X để nhận tín hiệu tương tự 39Hình 2.13 Đồ thị mối liên hệ giữa điện áp và nhiệt độ 40
Trang 7Hình 2.15 Hàm Norm_X và hàm Scale_X 41
Hình 2.16 Xử lí các khoảng đo trên PLC43
Hình 2.17 Hộp thoại “ Add new device” 44
Hình 2.18 Màn hình thiết kế giao diện HMI 45
Hình 2.19 Màn hình thiết kế giao diện HMI và chương trình ở “Main(OB1)”
45
Hình 2.20 Màn hình thiết kế giao diện HMI 46
Hình 2.21 Bảng HMI tags và cửa sổ thuộc tính 46
Hình 2.22 Thuộc tính các phần tử HMI trong cửa sổ kiểm tra 47
Hình 2.23 Cửa sổ các tag PLC 47
Hình 2.24 Xây dựng thuộc tính cho phần tử trên HMI 48
Hình 2.25 Giao diện giám sát trên HMI 48
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Nguyên lý chuyển đổi giữa đáp ứng và kích thích 10
Bảng 1.2 Phân loại theo dạng kích thích10
Bảng 1.3 Theo tính năng của bộ cảm biến 11
Bảng 1.4 Phân loại theo phạm vi sử dụng 12
Bảng 2.1 Bảng địa chỉ vào ra 30
Bảng 2.2 Giá trị nhiệt độ,điện trở của NTC MF58 từ 0 100 33
Bảng 2.3 Điện áp của cảm biếnNTC MF58 ở nhiệt độ từ 0100 35Bảng 2.4 Bảng giá trị đo thực nghiệm 42
Trang 10LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay khoa học kĩ thuật phát triển rất mạnh mẽ và được ứng dụng trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống để tăng năng suất lao động, tiết kiệm chi phí, năng lượng và đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của con người, ứng dụng trong cuộc sống cũng như trong công nghiệp sản xuất và quân sự…Đặc biệt trong công nghiệp, khoa học kỹ thuật ngày càng được phát triển mạnh mẽ như: Hệ thống cảm biến, hệ thống chuyển động linh hoạt, hệ thống điều khiển thông minh… Xuất phát
từ tình hình thực tế việc sử dụng nước nóng trong các tòa nhà cao tầng, các khách sạn vừa và nhỏ, em đã nghiên cứu và thực hiện đề tài:“ Lập trình điều khiển và giám sát mô hình hệ thống hồi lưu nước nóng dân dụng ”
Đây chỉ là một phần trong việc xây dựng hệ thống nước nóng dân dụng , tuy vậy em mong rằng với đề tài này em sẽ củng cố được kiến thức đã học được trong trường và ứng dụng trong sản xuất
Trong thời gian làm đồ án, tuy khối lượng kiến thức và công việc rất nhiều nhưng với sự nỗ lực của bản thân, cùng với sự hướng dẫn tận tình của cô giáo hướng dẫn, sự giúp đỡ của bạn bè, em đã hoàn thành được cơ bản các yêu cầu đặt
ra của đồ án
Do thời gian làm đồ án và kiến thức của bản thân còn có hạn nên trong đồ
án không tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy, cô giáo để có thể hoàn thành đồ án này với kết quả tốt hơn nữa
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn cô giáo hướng dẫn: Th.S Lê Thị Thu Huyền, cùng các thầy cô giáo trong bộ môn và bạn bè đã giúp đỡ em hoàn
thành đồ án này
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2016
Sinh viên
Trang 11Nguyễn Thị Cúc
Trang 12CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT
Tổng quan về hệ thống điều khiển, giám sát và thu thập dữ liệu SCADA
Khái quát chung về SCADA
Tổng quan chung về SCADA
SCADA (Supervisory Control And Data Acquisition): là một hệ thống điều khiển, giám sát và thu thập dữ liệu, nói cách khác là một hệ thống hỗ trợ con người trong việc giám sát và điều khiển từ xa, ở cấp cao hơn hệ điều khiển tự động thông thường Để có thể điều khiển và giám sát từ xa thì hệ thống SCADA phải có hệ thống truy cập, truyền tải dữ liệu cũng như hệ giao diện người – máy (HMI –Human Machine Interface)
Trang 13Hình 1.1 Các thành phần cơ bản của hệ thống SCADA
Trong hệ thống điều khiển giám sát thì HMI là một thành phần quan trọng không chỉ ở cấp điều khiển, giám sát mà ở các cấp thấp hơn người ta cũng cần giao diện người – máy để phục vụ cho việc quan sát và thao tác vận hành ở cấp điều
Trang 14khiển cục bộ Vì lý do giá thành, đặc điểm kỹ thuật nên các màn hình vận hành (OP – Operator Panel), màn hình sờ (TP – Touch Panel), Multi Panel … chuyên dụng được sử dụng nhiều và chiếm vai trò quan trọng hơn.
Nếu nhìn nhận SCADA theo quan điểm truyền thống thì nó là một hệ thống mạng và thiết bị có nhiệm vụ thuần túy là thu thập dữ liệu từ các trạm ở xa
và truyền tải về khu trung tâm để xử lý Trong các hệ thống như vậy thì hệ truyền thông và phần cứng được đặt lên hàng đầu và cần sự quan tâm nhiều hơn Trong những năm gần đây sự tiến bộ vượt bậc của công nghệ truyền thông công nghiệp
và công nghệ phần mềm trong công nghiệp đã đem lại nhiều khả năng và giải pháp mới nên trọng tâm của công việc thiết kế xây dựng hệ thống SCADA là lựa chọn công cụ phần mềm thiết kế giao diện và các giải pháp tích hợp hệ thống
Chức năng và vai trò của SCADA
Mỗi hệ thống sản xuất công nghiệp thường được tổ chức theo nhiều cấp quản lý Mỗi cấp có nhiệm vụ đo lường, thu thập và điều khiển giám sát riêng lên từng đối tượng cụ thể của hệ thống Chính vì thế SCADA cho một hệ thống sản xuất công nghiệp cũng được phân ra từng cấp SCADA cụ thể, tùy vào quy mô của từng cấp mà có những yêu cầu cụ thể khác nhau song nói chung mỗi cấp SCADA
là phải thực hiện những dịch vụ sau:
Thu thập số liệu từ xa (qua đường truyền số liệu) các số liệu về sản xuất
và tổ chức việc lưu trữ trong nhiều loại cơ sở số liệu (số liệu về lịch sử sản xuất, về
sự kiện thao tác, về báo động …)
Điều khiển và giám sát hệ sản xuất trên cơ sở các dữ liệu đã thu thập được
Thực hiện công tác truyền thông số liệu trong và ra ngoài hệ (đọc/ viết
số liệu PLC/ RTU ( thiết bị đầu cuối điều khiển từ xa), trả lời các bản tin yêu cầu
từ cấp trên về số liệu, về thao tác hệ)
Nhìn chung SCADA là một sự kết hợp giữa phần cứng và phần mềm
Trang 15điều khiển cho một đối tượng công nghiệp Và ta nhận thấy rằng xu thế tự động hóa là một xu thế không thể tránh khỏi do vậy việc áp dụng bài toán SCADA là một việc làm tất yếu nếu chúng ta không muốn tụt hậu trong sản xuất Vai trò của
nó là rất rõ ràng, SCADA giúp ta thu thập rất chính xác về hệ thống từ đó có thể đưa ra các quyết định đúng đắn về hệ, đồng thời ta cũng dễ dàng trong công tác điều khiển và ra quyết định Việc làm này sẽ giảm đáng kể việc chi phí về vấn đề nhân lực, về vận hành, góp phần đáng kể trong việc giảm giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh
Nguyên lý hoạt động của SCADA
Cơ chế thu thập dữ liệu
Trong hệ SCADA, quá trình thu thập dữ liệu được thực hiện trước tiên ở quá trình các RTU quét thông tin có được từ các thiết bị chấp hành nối với chúng Thời gian để thực thi nhiệm vụ này được gọi là thời gian quét bên trong Các máy chủ quét các RTU ( với tốc độ chậm hơn ) để thu thập dữ liệu từ các RTU này
Để điều khiển, các máy chủ sẽ gửi tín hiệu yêu cầu xuống các RTU, từ đó cho phép các RTU gửi tín hiệu điều khiển trực tiếp xuống các thiết bị chấp hành thực thi nhiệm vụ
Trong trường hợp dữ liệu của hệ thống biến đổi liên tục theo thời gian, hệ SCADA thường hiển thị quá trình thay đổi dữ liệu này trên màn hình giao diện đồ họa (GUI) dưới dạng đồ thị
Trang 16Một ưu điểm lớn của hệ SCADA là khả năng xử lý lỗi rất thành công khi hệ thống khi xảy ra sự cố Nhìn chung, khi có sự cố hệ SCADA có thể lựa chọn một trong các cách xử lý sau:
Sử dụng dữ liệu cất giữ trong các RTU: trong các hệ SCADA có các RTU
có dung lượng bộ nhớ lớn, khi hệ thống hoạt động ổn định dữ liệu sẽ được sao lưu vào trong bộ nhớ của RTU Do đó, khi xảy ra lỗi thì các RTU sẽ sử dụng tạm dữ liệu này cho đến khi hệ thống hoạt động trở lại bình thường
Sử dụng các phần cứng dự phòng của hệ thống: hầu hết các hệ SCADA đều được thiết kế thêm các bộ phận dự phòng, ví dụ như hệ thống truyền thông hai đường truyền, các RTU đôi hoặc hai máy chủ… do vậy, các bộ phận dự phòng này
sẽ được đưa vào sử dụng khi hệ SCADA có sự cố hoặc hoạt động offline (có thể cho mục đích bảo dưỡng, sửa chữa, kiểm tra …)
Nguyên lý hoạt động.
Khi các thiết bị đang vận hành vi phạm các giới hạn cho phép của các thông
số kỹ thuật hoặc bị sự cố, hệ thống tự động đưa ra các tín hiệu cảnh báo dạng chuông, còi, hiển thị nội dung cảnh báo bằng những dòng lệnh theo màu sắc và nhấp nháy, điều này giúp cho các kỹ sư điều hành hệ thống có những hành động ứng xử kịp thời để đưa các thiết bị trở lại trạng thái vận hành bình thường hoặc đưa các thiết bị dự phòng vào hoạt động thay thế nhằm đảm bảo cho hệ thống vẫn làm việc ở trạng thái ổn định và kinh tế Tất cả các sự kiện xảy ra đối với các thiết bị trên hệ thống, các chế độ vận hành hệ thống đều được lưu trữ động theo trật tự thời gian, có độ chính xác đến từng mili giây (ms), có thể truy xuất khi cần thiết dưới dạng các bảng biểu, đồ thị giúp cho quá trình xử lý và phân tích sự cố được chính xác
Sự phân cấp quản lý của hệ thống SCADA
Việc giám sát, thu thập số liệu và điều khiển là rất cần thiết đối với một hệ thống công nghiệp bất kỳ Việc sử dụng một hệ thống điều khiển trung tâm để đảm
Trang 17tùy theo mức độ quan trọng và yêu cầu những tính năng giám sát, điều khiển mà các chức năng giám sát, điều khiển và thu thập dữ liệu được phân phối và phân cấp cho các thiết bị khác nhau.
Trang 19Hình 1.2 Mô hình phân cấp chức năng của hệ thống điều khiển và giám sát.
Phần cứng hệ thống SCADA
Một hệ thống SCADA bao gồm một số các thiết bị đầu cuối RTUs (RemoteTermote Terminal Units) làm nhiệm vụ thu thập dữ liệu và gửi dữ liệu quay trở lại trạm chủ thông qua một hệ thống truyền thông Trạm chủ hiển thị các dữ liệu thu được và cho phép người vận hành thực hiện các nhiệm vụ điều khiển từ xa
Các dữ liệu chính xác và kịp thời cho phép tối ưu hóa các hoạt động nhà máy và quá trình Lợi ích khác của hệ thống SCADA là hiệu quả hơn, độ tin cậy cao, chi phí thấp và quan trọng nhất là an toàn hơn trong hoạt động
Một hệ thống SCADA phức tạp có năm cấp độ cơ bản sau:
Thiết bị đo và thiết bị điều khiển
Trạm đầu cuối và thiết bị đầu cuối RTU
Vì vậy các phần mềm mở được sử dụng phổ biến hơn vì khả năng tương tác của họ mang lại cho hệ thống Thường các phần mềm mở có khả năng trộn các nhà sản xuất thiết bị khác nhau trên cùng một hệ thống
Citect và WonderWare chỉ là hai trong số những gói phần mềm mở sẵn trên thị trường cho các hệ thống SCADA Một số gói phần mềm hiện nay bao gồm cả quản lý tài sản tích hợp trong hệ thống SCADA
Phần mềm SCADA sẽ bao gồm những phần chính sau:
Trang 20 Giao diện người sử dụng.
Trang 21Hình 1.3 Cấu trúc phần mềm hệ thống điều khiển và giám sát SCADA
Truyền tin trong hệ SCADA
Ngoài việc sử dụng các máy tính công nghiệp, các server, thiết bị mạng …
ở phòng theo dõi trung tâm Một bộ phận không thể thiếu được trong hệ SCADA
là hệ thống truyền tin Nó liên quan đến tính ổn định và sự chính xác của hệ thống
Vì vậy, một hệ truyền tin được chọn trong hệ SCADA phải thỏa mãn các tiêu chuẩn như: giải tốc độ truyền, giao thức truyền thông, truyền đồng bộ hay dị bộ,
Trang 22khoảng cách địa lý … Hệ thống truyền tin được chọn phải tương thích với thiết bị trường và máy chủ Server Một số thiết bị có thể sử dụng được để truyền dữ liệu trong hệ SCADA như sau: Modem RDT (Radio Data Technology) của Anh quốc
có các loại truyền sóng Radio, vô tuyến, các thiết bị thu phát sóng của Motorola, các bộ RTU, GPS Tùy theo mô hình, tùy theo phạm vi từ hệ SCADA mà ta áp dụng từng loại thiết bị trên sẽ phát huy hết tính năng tác dụng của nó
Hệ thống SCADA cấp quốc gia và miền dùng các RTU được thiết kế đặc biệt Ngoài ra, với nhiều hệ SCADA dùng PLC dùng thủ tục truyền tin là Profibus
Trang 23 Truyền tin hiện trường:
Việc truyền tin hiện trường nhằm đảm bảo việc máy chủ thường xuyên thông tin với các PLC hay RTU
Các thông tin được thống nhất theo kiểu:
+ Máy chủ gửi từ một bảng tin từng lệnh đến PLC hay RTU trên bus mutidros.+ PLC hay RTU liên quan thực hiện mỗi lệnh đó và gửi tin trả lời kết quả.Các bản tin do máy chủ gửi đi thường là lệnh read các loại số liệu của PLC hay RTU và một vài lệnh write một số hệ số gán địa chỉ hay đơn vị cho các số đó
Các bản tin tức thời thường được gửi về các số lượng trạng thái đo của PLC hay RTU hay báo cáo có tình trạng có sai trong bản tin nhận được
Thiết bị điều khiển cấp trường
Trang 24định giá trị của đại lượng đo Đặc trưng (s) là hàm của đại lượng cần đo (m):
s = F(m)Người ta gọi (s) là đại lượng đầu ra hoặc là phản ứng của cảm biến, (m) là đại lượng đầu vào hay kích thích (có nguồn gốc là đại lượng cần đo) Thông qua
đo đạc(s) cho phép nhận biết giá trị của (m)
Phân loại cảm biến.
Các bộ cảm biến được phân loại theo các đặc trưng cơ bản sau đây:
Theo nguyên lý chuyển đổi giữa đáp ứng và kích thích:
Bảng 1.1 Nguyên lý chuyển đổi giữa đáp ứng và kích thích
Hiện tượng Chuyển đổi đáp ứng và kích thích
Biến đổi hóa học
Biến đổi điện hóa
Phân tích phổ
Sinh học
Biến đổi sinh lý
Biến đổi vật lý
Hiệu ứng trên cơ thể sống
Phân loại theo dạng kích thích
Bảng 1.2 Phân loại theo dạng kích thích
Trang 25 Điện trường (biên, pha, phân cực, phổ )
Điện dẫn, hằng số điện môi…
Từ
Từ trường ( biên, pha, phân cực, phổ )
Từ thông, cường độ từ trường
Trang 26Bức xạ Kiểu
Năng lượng
Cường độ…
Theo tính năng của bộ cảm biến
Bảng 1.3 Theo tính năng của bộ cảm biến.
Phân loại theo phạm vi sử dụng
Bảng 1.4 Phân loại theo phạm vi sử dụng.
Công nghiệp
Nghiên cứu khoa học
Môi trường, khí tượng
Thông tin, viễn thông
Trang 27 Phân loại theo thông số của mô hình mạch thay thế:
+ Cảm biến tích cực có đầu ra là nguồn áp hoặc nguồn dòng
+ Cảm biến thụ động được đặc trưng bằng các thông số R, L, C, M …tuyến tính hoặc phi tuyến
Các loại cảm biến
Cảm biến nhiệt độ
Khái niệm cơ bản về nhiệt độ: nhiệt độ là một trong những đại lượng có ảnh hưởng rất lớn đến tính chất vật chất Bởi vậy trong nghiên cứu khoa học, trong công nghiệp cũng như trong đời sống hằng ngày việc đo nhiệt độ là rất cần thiết Tuy nhiên việc xác định chính xác một nhiệt độ là một vấn đề không đơn giản Đa
số các đại lượng vật lý đều có thể xác định trực tiếp nhờ so sánh chúng với một đại lượng cùng bản chất Nhiệt độ là đại lượng chỉ có thể đo gián tiếp dựa vào sự phụ thuộc của tính chất vật liệu vào nhiệt độ
Các phương pháp đo nhiệt độ
Có nhiều cách đo nhiệt độ, trong đó có các phương pháp chính sau đây:
Phương pháp quan dựa trên sự phân bố phổ bức xạ nhiệt do dao động nhiệt ( hiệu ứng Doppler)
Phương pháp cơ dựa trên sự dãn nở của vật rắn, của chất lỏng hoặc chất khí (với áp suất không đổi)
Phương pháp điện dựa trên sự phụ thuộc của điện trở vào nhiệt độ
Thang đo nhiệt độ
Nhiệt độ được chia làm 3 thang đo:
Thang Kelvin: Hay còn gọi là thang nhiệt độ động học tuyệt đối, đơn vị
°k Trong thang Kelvin này người ta gán cho nhiệt độ của điểm cân bằng của 3 trạng thái nước đá- nước- hơi (rắn- lỏng- khí) một giá trị bằng 273,15°k (thường được sử dụng là 273°k) Từ thang Kelvin người ta xác định thêm các thang mới là thang Celsius và thang Fahrenheit bằng cách dịch chuyển các giá trị nhiệt độ
Trang 28 Thang Celsius: Đơn vị nhiệt độ là °C, quan hệ giữa nhiệt độ Celsius và Kelvin được xác định bởi biểu thức sau:
Phân loại cảm biến nhiệt độ
Cặp nhiệt điện (Thermocouple)
Nhiệt điện trở (RTD- Resitance Temperature Detector)
Có hai dạng đo: Đo liên tục và xác định theo ngưỡng
Khi đo liên tục biên độ hoặc tần số của tín hiệu đo cho biết thể tích chất lưu còn lại trong bình chứa Khi xác định theo ngưỡng, cảm biến đưa ra tín hiệu dạng nhị phân cho biết thông tin về tình trạng hiện tại mức ngưỡng có đạt hay không
Có ba phương pháp hay dùng trong kỹ thuật đo và phát hiện mức chất lưu:
Phương pháp thủy tĩnh dùng biến đổi điện
Phương pháp điện dựa trên tính chất điện của chất lưu
Trang 29b1 Phương pháp thủy tĩnh.
Phương pháp thủy tĩnh dùng để đo mức chất lưu trong bình chứa
Hình 1.4 Sơ đồ đo mức theo phương pháp thủy tĩnh.
a)Dùng phao cầu b)Dùng phao trụ c)Dùng cảm biến áp suất vi sai.
Trong sơ đồ hình 1.4a phao (1) nổi trên mặt chất lưu được nối với đối trọng (5) bằng dây mềm (2) qua các ròng rọc (3), (4) Khi mức chất lưu thay đổi phao (1) nâng lên hoặc hạ xuống làm quay ròng rọc (4), một cảm biến vị trí gắn với trục quay của ròng rọc sẽ cho tín hiệu tỉ lệ với mức chất lưu
Trong sơ đồ 1.4b, phao hình trụ (1) nhúng chìm trong chất lưu, phía trên được đeo bởi một cảm biến đo lực (2) Trong quá trình đo, cảm biến chịu tác động của một lực tỉ lệ với chiều cao chất lưu
F= P-ρgShTrong đó:
P – trọng lượng phao
h - chiều cao phần ngập trong chất lưu của phao
S – tiết diện mặt cắt ngang của phao
ρ – khối lượng riêng của chất lưu
Trang 30g - gia tốc trọng trường.
Trên sơ đồ 1.4c, sử dụng một cảm biến áp suất vi sai dạng màng (1) đặt sát đáy bình chứa Một mặt của màng cảm biến chịu áp suất chất lưu gây ra:
p= po +ρghMặt khác của màng cảm biến chịu tác động của áp suất po bằng áp suất ở đỉnh bình chứa Chênh lệch áp suất p-po sinh ra lực tác dụng lên màng của cảm biến làm nó biến dạng Biến dạng của màng tỉ lệ với chiều cao h của chất lưu trong bình chứa, được chuyển đổi thành tín hiệu điện nhờ các bộ biến đổi điện thích hợp
b2 Phương pháp điện.
Các cảm biến đo mức bằng phương pháp điện hoạt động theo nguyên tắc chuyển đổi trực tiếp biến thiên mức chất lỏng thành tín hiệu điện dựa vào tính chất điện của chất lưu Các cảm biến thường dùng là cảm biến độ dẫn và cảm biến điện dung
Cảm biến độ dẫn
Các cảm biến này dùng để đo mức các chất lưu có tính dẫn điện (độ dẫn điện~50μS)
Trang 31a)Cảm biến hai điện cực b)Cảm biến một điện cực c)Cảm biến phát hiện mức
Sơ đồ hình 1.5a gồm hai điện cực hình trụ nhúng trong chất lỏng dẫn điện Trong chế độ đo liên tục, các điện cực được nối với nguồn nuôi xoay chiều ~10V (để tránh hiện tượng phân cực của các điện cực) Dòng điện chạy qua các điện cực
có biên độ tỉ lệ với chiều dài với phần điện cực nhúng chìm trong chất lỏng
Sơ đồ 1.5b chỉ sử dụng một điện cực, điện cực thứ hai là bình chứa bằng kim loại
Sơ đồ cảm biến hình 1.5c dùng để phát hiện ngưỡng, gồm hai điện cực ngắn đặt theo phương ngang, điện cực còn lại nối với thành bình kim loại, vị trí mỗi điện cực ngắn ứng với một mức ngưỡng Khi mức chất lỏng đạt tới điện cực, dòng điện trong mạch thay đổi mạnh về biên độ
Cảm biến tụ điện
Khi chất lỏng là chất cách điện, có thể tạo tụ điện bằng hai cực hình trụ nhúng trong chất lỏng hoặc một điện cực thứ hai là bình chứa nếu thành bình làm bằng kim loại Chất điện môi giữa hai điện cực chính là chất lỏng ở phần điện cực
bị ngập và không khí ở phần không có chất lỏng Việc đo mức chất lưu được chuyển thành đo điện dung của tụ điện, điện dung này thay đổi theo mức chất lỏng trong bình chứa Điều kiện để áp dụng phương pháp này là hằng số điện môi của chất lỏng phải lớn hơn đáng kể hằng số điện môi của không khí (thường là gấp đôi)
Trong trường hợp chất lưu là chất dẫn điện, để tạo tụ điện người ta dùng một điện cực kim loại bên ngoài có phủ cách điện, lớp phủ đóng vai trò chất điện môi còn chất lưu đóng vai trò điện cực thứ hai
b3 Phương pháp bức xạ
Cảm biến bức xạ cho phép đo mức chất lưu mà không cần tiếp xúc với môi trường đo, ưu điểm này rất thích hợp khi đo mức ở điều kiện môi trường đo có nhiệt độ, áp suất cao hoặc môi trường có tính ăn mòn mạnh
Trang 32Hình 1.6 Cảm biến đo mức bằng tia bức xạ.
Cảm biến phát hiện ngưỡng b)Cảm biến đo mức liên tục.
1)Nguồn phát tia bức xạ 2)Bộ thu 3)Chất lưu.
Trong phương pháp này cảm biến gồm một nguồn phát tia (1) và bộ thu (2) đặt ở hai phía của bình chứa Nguồn phát thường là một nguồn bức xạ tia γ và
bộ thu là một buồng ion hóa
Ở chế độ phát hiện mức ngưỡng (hình 1.6a) nguồn phát và bộ thu đặt đối diện nhau ở vị trí ngang mức ngưỡng cần phát hiện, chùm tia của nguồn phát mảnh
và gần như song song Tùy thuộc vào mức chất lưu (3) cao hơn hay thấp hơn mức ngưỡng mà chùm tia đến bộ thu sẽ bị suy giảm hoặc không, bộ thu sẽ phát ra tín hiệu tương ứng với các trạng thái so với mức ngưỡng
Ở chế độ đo mức liên tục (hình 1.6b), nguồn phát (1) phát ra chùm tia với một góc mở rộng quét lên toàn bộ chiều cao của mức chất lưu cần kiểm tra
và bộ thu
Khi mức chất lưu (3) tăng do sự hấp thụ của chất lưu tăng, chùm tia đến
bộ thu (2) sẽ bị suy giảm, do đó tín hiệu từ bộ thu giảm theo Mức độ suy giảm của chùm tia bức xạ tỉ lệ với mức chất lưu trong bình chứa
Cơ cấu chấp hành
Trang 33điều khiển, điều chỉnh…) làm nhiệm vụ tạo ra một tác động nào đó (thường là cơ học) dưới sự điều khiển của trung tâm như: van điện từ, động cơ …
Van
a Vai trò
Van là thiết bị để điều khiển hoặc điều chỉnh việc khởi hành, dừng lại và chiều dòng, cũng như áp suất hay dòng chảy (lưu lượng) của môi chất được cung cấp từ bơm hoặc chứa trong bình chứa
+ Van hai ngả kết cấu khối
Van phân phối: Van phân phối được phân biệt theo chức năng là van phân phối không tiết lưu và van phân phối tiết lưu Loại thứ nhất chỉ dùng để điều khiển khởi hành, dừng lại và điều khiển chiều dòng dầu, còn loại thứ hai có thêm các phương án khuếch đại lưu lượng Chúng cho phép thay đổi vô cấp số lượng bất kỳ các vị trí trung gian giữa hai vị trí đầu và cuối của hành trình
Van chặn: Van chặn có tác dụng chặn dòng dầu theo một hướng và cho lưu thông dòng dầu theo hướng ngược lại Các phần tử chặn được sử dụng là bi cầu hoặc đầu côn để tạo thành van đế tựa Hiện có các loại van chặn dưới đây:
- Van chặn dòng đơn giả
- Van chặn dòng khử chặn được
- Van chặn dòng tiết lưu
Van áp suất : Như đã biết, công suất thuỷ lực P = p.Q có thể thay đổi được nhờ thay đổi lưu lượng Q hoặc thay đổi áp suất p Để điều khiển lưu lượng có thể dùng van phân phối, để điều khiển áp suất có thể dùng van áp suất
Van dòng: Van dòng được phân ra thành :
Trang 34- Van tiết lưu
Ứng dụng trong thiết bị thủy: Trong những thiết bị thủy, nơi mà hoạt động trong môi trường nước, chính vì vậy có độ nguy hiểm cao, người ta thường dùng để điều chỉnh áp suất tránh những áp suất của nước và của không khí vượt quá mức cho phép nhằm tránh gây hại và nguy hiểm đến người dùng như các thiết
bị trong ống dẫn dầu, ống dẫn nhiên liệu cho tàu thủy, ống dẫn nước cho tàu thủy…
Ứng dụng trong nhành chế biến thực phẩm
Ứng dụng đa dạng trong những nghành khác: Ngoài ra chúng còn được người ta dùng trong một số thành phần thiết yếu trong các máy móc khai khoáng, hay trong nghành dầu khi, kể cả trong lĩnh vực y học và hàng không
1.2.2.2 Bơm
a Vai trò
Bơm thủy lực có nhiệm vụ chuyển đổi năng lượng cơ học thành năng lượng thủy lực và ngược lai động cơ thủy lực chuyển đổi năng lượng thủy lực đưa đến từ bơm thành năng lượng cơ học cung cấp cho các phụ tải chuyển động quay
b Phân loại
Theo hoạt động cơ bản có thể phân loại bơm và động cơ thủy lực thành hai dạng thay đổi được thể tích làm việc và không thay đổi được thể tích làm việc
Trang 35Hình 1.7 Dấu hiệu hoạt động và ký hiệu của bơm
Thể tích làm việc không đổ.i
Thể tích làm việc thay đổi.
Một chiều dòng.
Hai chiều dòng.
c Ứng dụng
• Trong nông nghiệp: Là thiết bị thực hiện thủy lợi hóa chăn nuôi trồng trọt
• Trong công nghiệp: Bơm sử dụng trong các công trình khai thác mỏ, quạng dầu hay các công trình xây dựng
• Trong kỹ thuật vận chuyến: Dùng bơm và đường ống dẫn để vận chuyển các sản phẩm khai thác mỏ (quạng dầu), hóa chất, nguyên vạt liệu xây dựng
• Trong ngành chế tạo máy, bơm được sử dụng phổ biến, nó là một trong những bộ phận chủ yếu của hệ thống điều khiển và truyền động thủy lực trong máy
Thiết bị cấp điều khiển
Tổng quan
Nhiệm vụ chính của cấp điều khiển là nhận thông tin từ các bộ cảm biến,
xử lý các thông tin theo thuật toán nhất định và truyền đạt lại kết quả xuống các chấp hành Khi còn điều khiển thủ công, nhiệm vụ đó được người đứng máy trực tiếp đảm nhận qua việc theo dõi các công cụ đo lường, sử dụng kiến thức và kinh nghiệm để thực hiện những thao tác cần thiết như ấn nút đóng/ mở van, điều chỉnh
Trang 36cần gạt, núm xoay … Đặc tính nổi bật của cấp điều khiển là xử lý thông tin Cấp điều khiển và cấp chấp hành hay được gọi chung là cấp trường ( Field Lever) vì các bộ điều khiển, cảm biến và chấp hành được cài đặt trực tiếp tại hiện trường gần
- Dễ dàng sửa đổi thay thế
- Ổn định trong môi trường công nghiệp
- Giá cả cạnh tranh
Thiết bị điều khiển logic khả lập trình (PLC : Programmable Logic Control)
là loại thiểt bị cho phép thực hiện linh hoạt các thuật toán điều khiển số thông qua một ngôn ngữ lập trình, thay cho việc thực hiện thuật toán đó bằng mạch số
Tương tự một mạch số:
Như vậy, với chương trình điều khiển trong mình, PLC trở thành bộ điều khiển số nhỏ gọn, dễ thay đổi thuật toán và đặc biệt dễ trao đổi thông tin với môi trường xung quanh (với các PLC khác hoặc với máy tính) Toàn bộ chương trình
Trang 37OB, FC hoặc FB) và thực hiện lặp theo chu kỳ của vòng quét.
Trang 38Hình 1.8 Cấu trúc bộ điều khiển PLC
Để có thể thực hiện được một chương trình điều khiển, PLC phải có tính năng như một máy tính, nghĩa là phải có CPU, một hệ điều hành, bộ nhớ để lưu chương trình điều khiển, dữ liệu và các cổng vào/ra để giao tiếp với các đối tượng điều khiển và trao đổi với môi trường xung quanh Bên cạnh đó, nhằm phục vụ bài toán điều khiển số, PLC cần phải có thêm các khối chức năng đặc biệt khác như bộ đếm (counter), bộ định thì (timer) và những khối hàm chuyên dụng
Trang 39Hình 1.9 Ghép nối vào/ra với PLC
Hình 1.10 Hệ thống điều khiển sử dụng PLC
Trang 40Các ưu điểm khi sử dụng hệ thống điều khiển PLC:
Không cần đấu dây cho sơ đồ điều khiển logic như kiểu dùng rơ le
Có độ mềm dẻo cao, khi chỉ cần thay đổi chương trình (phần mềm) điều khiển
Chiếm vị trí không gian nhỏ trong hệ thống
Nhiều chức năng điều khiển
Tốc độ cao
Công suất tiêu thụ nhỏ
Không cần quan tâm nhiều về vấn đề lắp đặt
Có khả năng mở rộng số lượng đầu vào/ra khi nối thêm các khối vào/ra chức năng
Tạo khả năng mở ra các lĩnh vực áp dụng mới
Giá thành không cao
Chính nhờ những ưu thế đó, PLC hiện nay được sử dụng rộng rãi trong các
hệ thống điều khiển tự động, cho phép nâng cao năng suất sản xuất, chất lượng và
sự đồng nhất sản phẩm, tăng hiệu suất, giảm năng lượng tiêu tốn, tăng mức an toàn, tiện nghi và thoải mái trong lao động