Nhà trường không thể dạy cho học sinh những gì mà họ cần trong cuộc sống sau này mà chỉ trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản và phương pháp nhận thức, phương pháp tự học để có th
Trang 1MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU Trang 2
1/ Lý do chọn đề tài Trang 2
2/ Đối tượng nghiên cứu Trang 3
3/ Phạm vi nghiên cứu Trang 3
4/ Phương pháp nghiên cứu Trang 3
B NỘI DUNG Trang 4
I CƠ SỞ LÝ LUẬN Trang 4
II CƠ SỞ THỰC TIỄN Trang 6
III NỘI DUNG VẤN ĐỀ Trang 7
IV KẾT QUẢ CỤ THỂ Trang 27
C KẾT LUẬN Trang 26
1 Bài học kinh nghiệm Trang 28
2 Hướng phổ biến đề tài Trang 28
3 Đề xuất, kiến nghị : Trang 29
D TÀI LIỆU THAM KHẢO Trang 30
E Ý KIẾN NHẬN XÉT Trang 31
Trang 2A MỞ ĐẦU
1/ Lý do chọn đề tài
Trong thời đại CNH - HĐH đất nước mỗi chúng ta phải luôn luôn đổi mới công việc của mình Việc dạy học là cả một quá trình nghệ thuật, kết quả của quá trình này tốt hay xấu, không chỉ xác định trong một thời gian ngắn mà nó phải trải qua một quá trình lâu dài đó là vốn hiểu biết đã được tích luỹ, sự tìm tòi sáng tạo của người giáo viên trong quá trình giảng dạy
Trong quá trình dạy môn Sinh học người giáo viên phải kết hợp một cách linh hoạt, hợp lý nhiều phương pháp và hình thức tổ chức "Học một bài Sinh như thế nào?" Như vậy mới làm cho các em nghĩ nhiều hơn thảo luận nhiều hơn góp phần tạo cơ sở quan trọng cho việc đổi mới thực sự phương pháp dạy học mà Nhà nước ta đã và đang thực hiện Quá trình này tuân theo định hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh trên cơ sở tự giác, tự do, tự khám phá dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên Từ đó xây dựng phương pháp tự học theo hướng tích cực
Nhà trường không thể dạy cho học sinh những gì mà họ cần trong cuộc sống sau này mà chỉ trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản và phương pháp nhận thức, phương pháp tự học để có thể tự học tập suốt đời để dễ dàng thích ứng với thời đại bùng nổ thông tin khoa học và công nghệ thường xuyên đổi mới đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn xã hội nghĩa là góp phần tạo ra những con người linh động, sáng tạo Có khả năng giải quyết những vấn đề trong học tập hôm nay và lao động hôm sau Phải dạy cho học sinh biết suy nghĩ trước những vấn đề đặt ra nhằm phát triển óc tư duy sáng tạo Phải tạo điều kiện cho học sinh được độc lập suy nghĩ Bộc lộ những suy nghĩ của mình trong quá trình thảo luận, tranh luận với các bạn trong nhóm, trong lớp Đây chính là dịp để các em nâng cao năng lực
tự đánh giá trong lúc đối chiếu suy nghĩ của bản thân với ý kiến của các bạn và tổng kết của thầy
Từ những lý do đó mà Tôi viết đề tài “Đổi mới cơ bản phương pháp dạy học
môn sinh học ở trường THPT”
Trang 32/ Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp dạy môn sinh học lớp 10, sinh học lớp 11,sinh học lớp 12
3/ Phạm vi nghiên cứu
- Học sinh lớp 10, lớp 12 trường THPT Chuyên Lào Cai
4/ Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu
- Qua các tiết thực nghiệm trên lớp
Trang 41.2 Chương trình và sách giáo khoa có sự đổi mới cơ bản
1.3 Nhận thức của giáo viên đã có sự thay đổi Hầu hết giáo viên dạy sinh học
đều hiểu được cùng với đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình và sách giáo khoa, việc đổi mới phương pháp dạy học là nhân tố quan trọng nhất, quyết định nhất đến việc nâng cao chất lượng dạy học Sinh học Một khi chương trình và sách giáo khoa đã đổi mới thì việc đổi mới phương pháp dạy học là một tất yếu
1.4 Đặc điểm tâm – sinh lý học sinh thay đổi Học sinh tiếp nhận nhiều nguồn
thông tin đa dạng, phong phú từ nhiều mặt của cuộc sống, có hiểu biết nhiều hơn, linh hoạt và thực tế hơn so với các thế hệ cùng lứa tuổi trước đây mấy chục năm, đặc biệt là học sinh phổ thông
1.5 Cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ cho việc dạy và học Sinh học đã được tăng cường
2 Quan niệm về đổi mới phương pháp dạy học theo phương pháp dạy học tích cực
2.1 Đổi mới phương pháp dạy học là vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học tích cực
Trang 5hoặc cá nhân Các dạng hoạt động có thể là nói, viết, đọc, thảo luận, tranh luận, thực hiện hành động, đóng vai, hội thảo, phỏng vấn, sáng tạo
2.2 Phương pháp tích cực nghĩa là tổ chức dạy học theo kiểu mới: Tạo cho
học sinh một vị thế mới và những tiền đề, những điều kiện thuận lợi để hoạt động Sự tác động qua lại giữa thầy và trò trong môi trường học tập của phương pháp tích cực, cụ thể là:
- Đối với thầy: Xác định và khẳng định vai trò, chức năng mới của người thầy
trong quá trình dạy học là:
+ Thầy là người tổ chức chỉ đạo, điều khiển các hoạt động học tập của học sinh + Thầy không còn là nguồn cung cấp thông tin duy nhất, không phải là người hoạt động chủ yếu ở trên lớp như trước đây mà sẽ là người tổ chức và điều khiển quá trình học tập của học sinh
- Đối với học sinh:
+ Phải trở thành chủ thể hoạt động tích cực, tự giác, chủ động và sáng tạo
+ Tạo ra và duy trì ở học sinh những động lực mạnh mẽ đó là động cơ, hứng thú, lạc quan trong quá trình học tập
+ Phát hiện ở học sinh khả năng tự đánh giá kết quả học tập trên cơ sở đó có thể điều chỉnh các hoạt động của mình
2.3 Vì sao cần áp dụng phương pháp tích cực:
Phát huy tính tích cực của người học được biết đến từ lâu trong phương pháp dạy học truyền thống và khả năng lưu giữ thông tin của con người thông qua các hoạt động được thể hiện như sau:
-Đọc chiếm 5%
-Nghe chiếm 15%
-Nhìn chiếm 20%
-Nghe + Nhìn chiếm 25%
-Thảo luận chiếm 55%
-Dạy lại cho người khác chiếm 90%
2.4 Những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp tích cực
- Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh
Nghe thì quên
Trang 6Nhìn thì nhớ Làm mới hiểu
- Giảng dạy theo Phương pháp tích cực giáo viên không chỉ đơn giản truyền đạt kiến thức mà còn phải hướng dẫn học sinh hoạt động và tham gia tích cực vào các hoạt động
- Dạy và học chú trọng tới rèn luyện phương pháp tự học
- Tăng cường học tập cá thể với học tập hợp tác
- Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
II CƠ SỞ THỰC TIỄN
Sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học môn Sinh học ở Trường THPT
1 Do yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội đối với việc đào tạo nguồn nhân lực trong giai đoạn mới và xu hướng hội nhập quốc tế
1.2 Thực trạng dạy học Sinh học ở Trường THPT
- Một số giáo viên Sinh học vẫn chưa thực sự thấm nhuần tích cấp thiết, tầm quan trọng, bản chất phương hướng và cách thức đổi mới phương pháp dạy học Sinh học, hiểu biết về cơ sở lý luận, thực tiễn của đổi mới phương pháp dạy học còn chưa sâu sắc
- Đa số giáo viên vẫn chú trọng truyền thụ kiến thức theo kiểu thuyết trình xen kẽ với hỏi đáp, nặng về thông báo, giảng giải kiến thức, nhẹ về phát huy tính tích cực và phát triển tư duy học sinh, học sinh tiếp thu kiến thức một cách thụ động
- Hình thức tổ chức dạy học còn đơn điệu, dạy theo lớp là chủ yếu Các hình thức dạy học cá nhân, ngoài trời chưa được thực hiện, hoặc thực hiện chưa có hiệu quả
- Cơ sở vật chất phục vụ dạy học, các phương tiện dạy học còn thiếu và chưa đồng bộ
- Việc tạo động cơ học tập đúng đắn cho học sinh và các hình thức khen thưởng, động viên người học chưa được giáo viên quan tâm một cách thích đáng
- Nhìn chung giờ học Sinh học chưa mang lại nhiều hứng thú cho học sinh Có thể nói cách dạy và học Sinh học như trên đã gây ảnh hưởng không nhỏ đối với chất lượng dạy học, đồng thời hạn chế việc phát triển trí tuệ của học sinh khi học môn Sinh học Vì vậy tiếp tục đổi mới một cách mạnh mẽ, có hiệu quả các phương pháp dạy học Sinh học là một trong những vấn đề quan trọng nhất cần phải được tiếp tục quan tâm và tìm cách giải quyết
Trang 7III NỘI DUNG VẤN ĐỀ
1 - DẠY - HỌC TÍCH CỰC
Dạy học tích cực ở đây đề cập tính tích cực của các phương pháp dạy học hướng tới hoạt động hoá, tích cực hoá hoạt động nhận thức và hành động của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, đành rằng để dạy học tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với lối dạy học thụ động
Dạy học tích cực hàm chứa cả phương pháp dạy và phương pháp học Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy, chúng tương tác lần nhau, có khi đồng thuận nhưng cũng có khi không đồng thuận do sự chưa tương hợp giữa cách dạy và cách học
Dạy học tích cực có các dấu hiệu đặc trưng sau :
- Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh
- Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
- Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
- Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Bản chất của dạy học tích cực là:
- Khai thác động lực học tập trong bản thân người học để phát triển chính họ
- Coi trọng lợi ích nhu cầu của cá nhân người học, đảm bảo cho họ thích ứng với nhu cầu xã hội
Dạy học tích cực có mối quan hệ mật thiết với dạy học lấy học sinh làm trung tâm Nội hàm của học sinh trung tâm là nhấn mạnh hoạt động học và vai trò của học sinh trong quá trình dạy học, khác với tiếp cận truyền thống lâu nay là nhấn mạnh hoạt động dạy và vai trò của giáo viên
Trong quá trình dạy học, học sinh vừa là đối tượng của hoạt động dạy, lại vừa là chủ thể của hoạt động học Thông qua hoạt động học, dưới sự hướng đạo của thầy, học sinh phải tích cực chủ động cải biến chính mình về kiến thức, kĩ năng, thái độ, hoàn thiện nhân cách, không ai làm thay cho chính mình được Nếu người học không tự giác chủ động, không chịu học, không có phương pháp tự học tốt thì hiệu quả của việc dạy sẽ rất hạn chế
Trang 8Cần lưu ý rằng dạy học sinh trung tâm không phải là phương pháp dạy học cụ thể
Đó là một tư tưởng, quan điểm giáo dục, một cách tiếp cận quá trình dạy học, chi phối tất cả các thành tố của quá trình học :
Phương pháp thuyết trình bao gồm :
- Thuyết trình thông báo - tái hiện
- Thuyết trình nêu vấn đề
Thuyết trình thông báo - tái hiện mang tính chất thông báo bằng lời giảng của thầy và tính chất tái hiện sau khi lĩnh hội của trò Phương pháp này là sự chuyển tải các thông tin từ người học thông qua lời nói của người dạy
Phương pháp thuyết trình thông báo - tái hiện có những ưu điểm:
- Cho phép truyền đạt những nội dung tương đối khó và chứa nhiều thông tin
mà trò không dễ dàng tự tìm hiểu được
- Giúp trò mô hình mẫu của tư duy khoa học, qua đó mà phát triển trí tuệ
- Hình thành những tư tưởng và tình cảm cao đẹp, những niềm tin và hoài bão
- Có tính kinh tế cao
- Không đòi hỏi nhiều sự chuẩn bị
- Chủ động về thời gian
Tuy nhiên, Phương pháp thuyết trình thông báo - tái hiện còn có những hạn chế :
- Chỉ đòi quá trình nhận thức thụ động của trò
Trang 9- Không giúp trò tích cực phát triển văn hoá của ngôn ngữ nói
- Chỉ cho phép trò đạt tới trình độ tái hiện của sự lĩnh hội
- Không có sự tham gia tích cực của người học
- Không thu được thông tin phản hồi từ người học
- Mức độ lưu giữ thông tin của người học thấp
- Có thể tạo nên sự nhàm chán
- Người học không có cơ hội áp dụng những ý tưởng đạt được
Như vậy, phương pháp thuyết trình thông báo - tái hiện với những hạn chế nêu trên làm cho hoạt động của người học mang tính thụ động, thiếu sự độc lập và sáng tạo
Tuy nhiên lí luận dạy học khẳng định rằng phương pháp thuyết trình thông báo - tái hiện vẫn sẽ tiếp tục là một phương pháp dạy học thông dụng vì những ưu điểm nêu trên của nó
Về bản chất phương pháp thuyết trình thông báo - tái hiện là “người dạy làm trung tâm”, không tổ chức hoạt động tích cực của người học Nhưng nếu kế thừa những ưu điểm của nó kết hợp với sự thay đổi tính chất thông báo – tái hiện bằng tính chất nêu vấn đề thì hiệu quả dạy học sẽ tăng lên rõ rệt
Phương pháp thuyết trình nêu vấn đề đề cập tới cách thuyết giảng nội dung bài học của thầy theo trật tự sau:
Ví dụ, với bài 1 : Các cấp tổ chức của thế giới sống ở SGK SH 10 và SGK SH 10 nâng cao, giáo viên có thể nêu và giải quyết các vấn đề để thuyết giảng nội dung bài học theo phương pháp thuyết trình nêu vấn đề:
Trang 10Vấn đề 1 :
- Vì sao nói các cấp tổ chức chính của giới sống có mối quan hệ mật thiết
theo thứ bậc kế tiếp nhau?
Các cấp tổ chức chính của giới sống có mối quan hệ mật thiết theo thứ bậc
kế tiếp nhau vì:
- Cấp tế bào là đơn vị cơ bản cấu tạo nên cấp cơ thể (cá thể) Cơ thể đơn bào được cấu tạo từ một tế bào, Cơ thể đa bào được cấu tạo từ số lượng lớn tế bào Những hoạt động sống của cơ thể đều xuất phát từ các hoạt động sống của tế bào
- Các cá thể thuộc cùng một loài tập hợp sống chung với nhau trong một vùng địa
lí nhất định và có khả năng giao phối sinh ra con cái hữu thụ tạo nên cấp quần
thể
Sự phân bố địa lí của tất cả các cá thể thuộc các quần thể nếu có khả năng giao phối hữu thụ sẽ thuộc về một loài
- Cấp quần xã là cấp tổ chức gồm nhiều quần thể thuộc các loài khác nhau cùng
chung sống trong một vùng địa lí nhất định, có mối quan hệ sinh thái mật thiết với nhau
- Cấp hệ sinh thái là tổ hợp quần xã và môi trường (sinh cảnh) trong đó chúng
sống tạo nên một thể thống nhất
Tập hợp tất cả hệ sinh thái trong khí quyển, địa quyển, thuỷ quyển tạo nên sinh quyển của Trái Đất, là cấp tổ chức cao nhất và lớn nhất của hệ thống sống
Vấn đề 2 :
Vì sao tế bào được xem là đơn vị cơ bản của thế giới sống?
Tế bào được xem là đơn vị cơ bản của thế giới sống vì:
- Tế bào là đơn vị cơ bản cấu tạo nên mọi cơ thể
- Tế bào là đơn vị chức năng thông qua các hoạt động sông của nó
- Tế bào chỉ sinh ra từ tế bào, từ đó mới tạo ra sự sinh sản của thể đơn bào, sự sinh trưởng
Vấn đề 3 :
Vì sao các tổ chức như : đại phân tử, bào quan, mô, cơ quan và hệ cơ quan
chưa được xem là cấp tổ chức chính của thế giới sống?
Các tổ chức như : đại phân tử, bào quan, mô, cơ quan và hệ cơ quan chưa được xem là cấp tổ chức chinh của thế giới sống vì:
Trang 11- Các tổ chức này khi ở trạng thái riêng biệt không thực hiện được chức năng của chúng
- Các đại phân tử như prôtêin, axit nuclêic khi ở trong tế bào mới thực hiện được chức năng của chúng
- Các mô, cơ quan và các hệ cơ quan chỉ thực hiện được chức năng của chúng khi
ở trong cơ thể
Một ví dụ khác, khi dạy bài 28 (SGK SH 10 nâng cao): Chu kì tế bào và các hình
thức phân bào, giáo viên thông báo những điểm cơ bản của kì trung gian:
- Kì trung gian là thời kì sinh trưởng của tế bào bao gồm ba pha:G1, S, G2
- Pha G1 diễn ra sự gia tăng của tế bào chất nhờ các quá trình tổng hợp các chất hữu cơ diễn ra, là thời kì sinh trưởng chủ yếu của tế bào
- Pha S diễn ra sự sao chép ADN và nhân đôi nhiễm sắc thể Khi kết thúc pha S, nhiễm sắc thể từ thể đơn chuyển sang thể kép gồm hai sợi crômatit hay nhiễm sắc
tử chị em giống hệt nhau đính với nhau ở tâm động
- Pha G2 tiếp ngay sau pha S, tiếp tục tổng hợp prôtêin có vai trò đối với sự hình thành thoi phân bào Nhiễm sắc thể ở pha này vẫn giữ nguyên trạng thái như
ở cuối pha S Sau pha G2, tế bào diễn ra quá trinh nguyên phân
Thông thường sau khi thông báo giáo viên chuyển tiếp sang mục tiếp theo, còn học sinh lĩnh hội một cách thụ động các thông tin do thầy thông báo và không gợn lên một suy nghĩ hay thắc mắc gì Nếu giáo viên nêu vấn đề :
- Vì sao tế bào không lớn lên mãi mà phải phân chia?
Câu hỏi này đưa học sinh vào tình huống có vấn đề, buộc phải chú ý và động não giáo viên giải thích :
Sự gia tăng bề mặt và thể tích hình cầu có mối liên hệ với nhau, về mặt toán học: bề mặt hình cầu tăng theo r2
trong khi thể tích tăng theo r3 Điều đó có ảnh hưởng bất lợi đối với các quá trình trao đổi với môi trường xung quanh Mặt khác khi kích thước của tế bào chất tăng, nhân không còn có khả năng điều hòa các quá trình xảy ra trong tế bào do sự phá vỡ tỉ lệ thích hợp giữa nhân và tế bào chất Bởi vậy, sự tăng trưởng tế bào tới một giới hạn là nhân tố tạo nên trạng thái không ổn định, từ đó kích thích các cơ chế khởi động sự phân bào
Trang 12Như vậy, từ phương pháp thuyết trình thông báo - tái hiện nếu được thầy gia cố sẽ chuyển sang phương pháp thuyết trình nêu vấn đề để phát huy tính tích cực của người học, nhờ đó chất lượng học tâp được nâng cao
2.2 Phương pháp vấn đáp (đàm thoại)
Phương pháp này bao gồm :
- Vấn đáp tái hiện
- Vấn đáp giải thích - minh hoạ
- Vấn đáp ơrixtic (hay vấn đáp tìm tòi, phát hiện)
Phương pháp vấn đáp tái hiện: Giáo viên đặt ra những câu hỏi chỉ đòi hỏi học sinh nhớ lại kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ không cần suy luận Lí luận dạy học hiện đại không coi vấn đáp tái hiện là một phương pháp có giá trị sư phạm Nhưng trong những trường hợp để giải quyết vấn đề hay tình huống, giáo viên sử dụng vấn đáp tái hiện để gợi nhớ cho học sinh làm cơ sở liên tưởng để giải quyết vấn đề
Ví dụ, để trả lời câu hỏi đã nêu trên:
- Vì sao tế bào không lớn lên mãi mà phải phân chia?
Nếu bằng phương pháp vấn đáp trực tiếp thì câu hỏi này khó trả lời đối với học sinh Do đó để giải đáp về nguyên nhân phân chia tế bào, giáo viên cần gợi ý cho học sinh thông qua câu hỏi:
- Diện tích xung quanh và thể tích hình cầu được xác định bằng những công thức nào?
Rõ ràng đây là câu hỏi chỉ cần tới sự tái hiện kiến thức toán học của học sinh Trên cơ sở đó, giáo viên tiếp tục hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề thông qua các câu hỏi tìm tòi tiếp theo
Cũng tương tự như vậy, để dạy bài 1 : Các cấp tổ chức của thế giới sống ở SGK
SH 10 và SGK SH 10 nâng cao bằng phương pháp vấn đáp, giáo viên có thể có thể nêu các câu hỏi chỉ yêu cầu tái hiện các kiến thức đã học ở lớp 9 :
Trang 13- Nêu điểm đặc trưng của khái niệm quần thể
- Nêu điểm đặc trưng của khái niệm quần xã
- Nêu điểm đặc trưng của khái niệm hệ sinh thái
Tất nhiên, mỗi câu hỏi được kế tiếp tương ứng với các câu hỏi về khái niệm nêu trên, ví dụ:
- Quần thể là gì?
- Nêu điểm đặc trưng của khái niệm quần thể
Hoặc sau khí cũng nêu các câu hỏi về các khái niệm, giáo viên có thể đề xuất vấn đề:
- Nêu điểm đặc trưng của các khái niệm quần thể, quần xã và hệ sinh thái
Như vậy, tuỳ theo quỹ thời gian mà giáo viên đưa ra ra một cách hợp lí về lôgic nội dung của các câu hỏi để thực hiện phương pháp vấn đáp, trong đó vấn đáp tái hiện đóng vai trò dẫn dắt
Phương pháp vấn đáp giải thích minh hoạ Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài nào đó, giáo viên nêu ra một hệ thống câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để cho học sinh dễ hiểu dễ nhớ Phương pháp này vẫn có thể áp dụng có hiệu quả trong một số trường hợp như khi giáo viên biểu diễn phương tiện trực quan
Vấn đáp tìm tòi, phát hiện Giáo viên tổ chức trao đổi ý kiến – kể cả tranh luận – giữa thầy với cả lớp, có khi giữa trò với trò, thông qua đó nắm được tri thức mới
Hệ thống câu hỏi phải nhằm phát hiện, đặt ra và giải quyết vấn đề, buộc trò phải luôn luôn cố gắng tư duy, tự lực tìm lời giải đáp
Trong phương pháp này hệ thống câu hỏi của thầy giữ vai trò chỉ đạo, quyết định chất lượng lĩnh hội của trò Trật tự lôgic của các câu hỏi hướng dẫn học sinh từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, quy luật của hiện tượng, kích thích tính tích cực tìm tòi, sự ham muốn tìm hiểu
Ví dụ, khi dạy bài axit nuclêic (bài 6 – SGK SH 10, bài 10 – SGK SH 10 nâng cao), giáo viên có thể sử dụng phương pháp vấn đáp tìm tòi thông qua hệ thống câu hỏi mang tính chỉ đạo học sinh tìm tòi:
- Trong tin học người ta sử dụng mấy kí tự? (có 2 kí tự 0 và 1)
- Với 2 kí tự có khả năng biểu đạt?
- ADN có mấy kí tự? (4 loại nuclêôtit: A, T, G, X)
- Với 4 loại kí tự, ADN có vai trò gì đối với thông tin di truyền?
Trang 14- Cấu trúc 2 mạch của ADN có vai trò?
- Sự hợp lí trong nguyên tắc bổ sung?
Các phương pháp thuyết trình và đàm thoại nêu trên đều thuộc nhóm phương pháp dùng lời, trong đó phương pháp thuyết trình nêu vấn đề và vấn đáp tìm tòi, phát hiện là những phương pháp có ưu thế tạo nên tính tích cực trong hoạt động học tập của người học Do đó, hai phương pháp này cần được phát huy trong quá trình dạy học và góp phần đổi mới phương pháp dạy học ở nhà trường phổ thông Tuy không thông dụng như nhóm phương pháp dùng lời, về mặt hoạt động nhận thức, thì nhóm phương pháp thực hành là “tích cực” hơn nhóm phương pháp trực quan, nhóm phương pháp trực quan là “tích cực” hơn nhóm phương pháp dùng lời
Trong nhóm phương pháp trực quan thì phương tiện trực quan được sử dụng như
là “nguồn” chủ yếu đến kiến thức mới, lời của thầy chỉ đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn sự tri giác các tài liệu trực quan (mẫu vật, tranh ảnh, thí nghiệm, băng hình ) và khái quát hoá các kết quả quan sát Trong nhóm phương pháp trực quan, học sinh dùng các giác quan để tri giác tài liệu do thầy trình diễn và qua tư duy để rút ra kiến thức mới
Trong nhóm phương pháp thực hành, học sinh trực tiếp thao tác trên đối tượng (quan sát bằng dụng cụ, giải phẫu mẫu vật, làm thí nghiệm ), tự lực khám phá tri thức mới
Muốn thực hiện dạy và học tích cực thì cần phải phát triển các phương pháp trực quan và thực hành theo kiểu tìm tòi từng phần hoặc nghiên cứu phát hiện, nhất là khi dạy các môn khoa học thực nghiệm, trong đó có môn Sinh học
Trong đổi mới phương pháp dạy học, bên cạnh sự kế thừa và phát huy mặt tích cực của các phương pháp truyền thống, cần phải học hỏi, vận dụng một số
Trang 15phương pháp dạy học mới, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện dạy và học ở nước
ta để nâng cao chất lượng học tập hay phát huy tính tích cực của người học
3 DẠY HỌC ĐẶT VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
3.1 Bài toán nhận thức
Bài toán nhận thức ở đây là vấn đề nhận thức hay tình huống có vấn đề
“Vấn đề” ở đây chỉ nói về vấn đề học tập liên quan chủ yếu đến phạm vi kiến thức trong chương trình mà học sinh còn chưa biết và phải lĩnh hội, những kiến thức này đã được khoa học khám phá từ trước
Bài toán nhận thức có thể thực hiện được các chức năng sư phạm quan trọng: tạo tình huống cho học sinh vận dụng lý thuyết là phương tiện chuyển tải lý thuyết, nhờ đó mà rèn luyện được các thao tác tư duy cho học sinh Những chức năng này cho thấy tiềm năng của bài toán nhận thức như là một công cụ lý luận dạy học Mức độ khai thác tiềm năng đó của bài toán nhận thức, tức là mức độ nâng cao hiệu quả của bài toán nhận thức phụ thuộc vào phương pháp xây dựng, sử dụng bài toán nhận thức trong dạy học
Để thực hiện các chức năng trên khi xây dựng bài toán nhận thức, cần tính đến khả năng chuyển tải hay “sức chứa” kiến thức
Theo định hướng trên, khi thiết kế một bài toán nhận thức thì thuật toán
là phương tiện chuyển tải, còn nội dung kiến thức là mục đích Để có sức chứa cao, bài toán nhận thức phải có khả năng không chỉ đề cập tới một, mà còn đề cập tới nhiều mối quan hệ:
- Giữa các bào quan trong tế bào
- Giữa nhân và tế bào chất
- Giữa các mô, cơ quan, hệ cơ quan trong cơ thể
- Giữa cơ thể và môi trường
- Giữa các cá thể trong quần thể
- Giữa các quần thể trong loài
- Giữa các loài trong quần xã
3.2 Tình huống có vấn đề
Theo lí luận dạy học, tình huống có vấn đề được hình thành từ mâu thuẫn khách quan trở thành mâu thuẫn chủ quan qua nhận thức “Vấn đề ” ở đây trong quá trình dạy học trở thành “vấn đề” học tập, nghĩa là bài toán nhận