Bảo lãnh là một trong biện pháp bảo đảm phổ biến, được dùng nhiều trong các giao dịch dân sự và thương mại. Tuy nhiên, một số quy định tại BLDS 2005 đang hiện hành còn chưa rõ ràng phù hợp bản chất của biện pháp bảo lãnh, dẫn đến nhiều thiếu sót, tranh chấp trong thực tế nên cần được sửa đổi trong BLDS 2015. Vì vậy, em lựa chọn chủ đề 6 “So sánh quy định của BLDS 2015 và BLDS 2005 về biện pháp bảo lãnh. Xây dựng và phân tích tình huống các bên thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh” .
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I Khái niệm về bảo lãnh trong pháp luật dân sự Việt Nam 1
1 Định nghĩa 1
2 Đặc điểm 1
II So sánh quy định của Bộ luật Dân sự 2005 và Bộ luật Dân sự 2015 2
1 Điểm giống nhau giữa Bộ luật Dân sự 2005 và Bộ luật Dân sự 2015 2
2 Điểm khác nhau giữa Bộ luật Dân sự 2005 và Bộ luật Dân sự 2015 5
III Xây dựng và phân tích một tình huống 10
1 Xây dựng tình huống 10
2 Phân tích tích huống 10
3 Đánh giá hợp đồng và việc thực hiện hợp đồng bảo lãnh trên thực tế.12 KẾT LUẬN 14
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 2MỞ ĐẦU
Bảo lãnh là một trong biện pháp bảo đảm phổ biến, được dùng nhiều trong các giao dịch dân sự và thương mại Tuy nhiên, một số quy định tại BLDS 2005 đang hiện hành còn chưa rõ ràng phù hợp bản chất của biện pháp bảo lãnh, dẫn đến nhiều thiếu sót, tranh chấp trong thực tế nên cần được sửa đổi trong BLDS 2015 Vì vậy, em lựa chọn chủ đề 6 “So sánh quy định của BLDS 2015 và BLDS 2005 về biện pháp bảo lãnh Xây dựng và phân tích tình huống các bên thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh”
NỘI DUNG
I Khái niệm về bảo lãnh trong pháp luật dân sự Việt Nam
1 Định nghĩa
- “Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.”(Khoản 1 Điều 335 BLDS 2015)
- Bảo lãnh là một trong những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân
sự được quy định trong pháp luật dân sự Việt Nam Bảo lãnh thường được thể hiện dưới hình thức là hợp đồng phụ bảo đảm cho hợp đồng chính Vì vậy, ở Việt Nam và cả các nước trên thế giới cũng đã và đang coi bảo lãnh là một trong những chế định quan trọng của pháp luật dân sự
2 Đặc điểm
- Thứ nhất, trong bảo lãnh bên bảo lãnh ở có thể là cá nhân hoặc pháp nhân
- Thứ hai, chủ thể của quan hệ bảo lãnh gồm hai bên là bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh
- Thứ ba, bảo lãnh là một biện pháp đối nhân Đối với biện pháp bảo lãnh, bên có quyền chỉ được trao quyền yêu cầu đối với bên bảo lãnh về việc
Trang 3thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh và không được trao quyền đối với một tài sản cụ thể nào của bên bảo lãnh Trong bảo lãnh – bảo đảm đối nhân, cái mà người nhận bảo lãnh quan tâm là người đứng ra bảo lãnh và khả năng tài chính của anh ta (toàn bộ khối tài sản mà người nhận bảo lãnh có) mà không hướng vào một tài sản cụ thể nào
- Thứ tư, về thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, bên bảo lãnh chỉ thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh khi bên có ngĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hoặc có thỏa thuận chỉ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình Đồng thời, bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trong phạm vi đã cam kết
- Thứ năm, về tính phụ thuộc của nghĩa vụ bảo lãnh và nghĩa vụ được bảo lãnh Sự phụ thuộc được thể hiện bao gồm việc xác lập biện pháp bảo lãnh nhằm bảo đảm cho nghĩa vụ khác thực hiện; nghĩa vụ được bảo lãnh là
cơ sở để quy định nghĩa vụ bảo lãnh như thời hạn, nội dung, hiệu lực của nghĩa vụ bảo lãnh phải phù hợp và phụ thuộc vào nghĩa vụ được bảo lãnh Bởi
vì nghĩa vụ bảo lãnh luôn tồn tại và phụ thuộc vào nghĩa vụ của bên được bảo lãnh, việc giao kết nghĩa vụ bảo lãnh chỉ được đưa ra bàn bạc khi có một nghĩa vụ tài sản mà một chủ thể khác phải thực hiện và việc thực hiện nghĩa
vụ này cần được bảo đảm, người bảo lãnh cam kết không phải với nghĩa vụ tài sản đó mà như là người có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trong trường hợp chính người có nghĩa vụ không thực hiện Chính vì vậy , các nghĩa vụ bảo lãnh không thể xuất hiện trước nghĩa vụ được bảo lãnh (nghĩa vụ chính),
và nội dung giá trị của nghĩa vụ bảo lãnh lệ thuộc vào nội dung giá trị của nghĩa vụ được bảo lãnh đồng thời vi phạm nghĩa vụ bảo lãnh không thể rộng hơn phạm vi nghĩa vụ được bảo lãnh
II So sánh quy định của Bộ luật Dân sự 2005 và Bộ luật Dân sự 2015
1 Điểm giống nhau giữa Bộ luật Dân sự 2005 và Bộ luật Dân sự 2015
Trang 4BLDS 2015 vẫn giữ nguyên nội dung một số điều đã được quy định tại BLDS 2005 về bảo lãnh bao gồm: khái niệm, thù lao, nhiều người cùng bảo lãnh, quyền yêu cầu của bên bảo lãnh và chấm dứt bảo lãnh
-Về khái niệm bảo lãnh: BDLS 2005 quy định tại điều 361: “Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ Các bên cũng có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình.” Còn theo quy định tại Điều 355 BLDS 2015 thì: “1 Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi
là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ 2.Các bên có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.”
Như vậy, có thể thấy rằng quy định về khái niệm bảo lãnh tại BLDS
2005 và BLDS 2015 về cơ bản là giống nhau Chỉ có điều quy định này tại BLDS 2015 được tách làm hai khoản, thể hiện sự rõ ràng, rành mạch và tính logic của luật: khoản 1 là khái niệm về bảo lãnh, khoản 2 quy định về việc có thể thỏa thuận giữa các bên về thực hiện nghĩa vụ Bên cạnh đó, khái niệm bảo lãnh được quy định tại BLDS 2015 được bổ sung những từ ngữ cần thiết (“ đến thời hạn…” bổ sung thành “… đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ…” và
“…thực hiện nghĩa vụ ” bổ sung thành”…thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh…”) để làm sáng tỏ nội dung của điều luật, tránh dẫn đến sự hiểu sai và áp dụng sai
Trang 5- Về thù lao: Cả hai bộ luật đều quy định giống nhau, cụ thể là BLDS
2005 ghi nhận tại Điều 364 và BLDS 2015 ghi nhận tại Điều 337: “Bên bảo lãnh được hưởng thù lao nếu bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh có thỏa thuận.” Nếu xét bảo lãnh dưới góc độ một sản phẩm dịch vụ thì thù lao được
thỏa thuận giữa bên bảo lãnh với bên được bảo lãnh chính là giá cả của dịch
vụ đó Trong bảo lãnh ngân hàng thì thù lao chính là phí bảo lãnh mà người được bảo lãnh phải trả cho ngân hàng do được hưởng dịch vụ bảo lãnh ngân hàng này Phí bảo lãnh phải đảm bảo bù đắp các chi phí bỏ ra của ngân hàng
có tính đến các rủi ro mà ngân hàng có thể phải gánh chịu
- Về vấn đề nhiều người cùng bảo lãnh: Điều 338 BLDS 2015 giữ
nguyên so với quy định tại điều 365 BLDS 2005 “Khi nhiều người cùng bảo lãnh một nghĩa vụ thì họ phải liên đới thực hiện việc bảo lãnh, trừ trường hợp
có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định bảo lãnh theo các phần độc lập; bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người bảo lãnh liên đới phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ Khi một người trong số những người bảo lãnh liên đới đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh thì có quyền yêu cầu những người bảo lãnh còn lại phải thực hiện phần nghĩa vụ của họ đối với mình.”
- Về quyền yêu cầu của bên bảo lãnh: Quy định được giữ nguyên điều
367 BLDS 2005 thành điều 340BLDS 2015 “Khi bên bảo lãnh đã hoàn thành nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ đối với mình trong phạm vi bảo lãnh, nếu không có thoả thuận khác.” Quyền yêu cầu
này giúp đảm bảo quyền lợi cho bên bảo lãnh, đồng thời cũng mang ý nghĩa ràng buộc, đốc thúc người được bảo lãnh thực hiện hợp đồng Bởi vì tuy được đảm bảo quyền lợi nhưng cái mà các bên tham gia muốn là sự hoàn tất xuôn
xẻ của hợp đồng chính, là việc thực hiện đúng nghĩa vụ chính và tránh được
sự lách luật, muốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ của bên được bảo lãnh
- Về chấm dứt bảo lãnh: Quy định này giữ nguyên tại điều 371BLDS
2005 so với điều 343 BLDS 2015 “Việc bảo lãnh chấm dứt trong các trường
Trang 6hợp sau đây: 1 Nghĩa vụ được bảo đảm bằng bảo lãnh chấm dứt; 2 Việc bảo lãnh được huỷ bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác; 3 Bên bảo lãnh đã thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh; 4 Theo thoả thuận của các bên.”
Có thể thấy, nếu không có thỏa thuận thì dù việc bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh là cá nhân chết hay pháp nhân chấm dứt tồn tại không ảnh hưởng đến việc bảo lãnh trừ khi nghĩa vụ được bảo lãnh chấm dứt vì buộc phải do cá nhân, pháp nhân đó thực hiện Điều này đảm bảo cho quyền lợi của bên nhận bảo lãnh
2 Điểm khác nhau giữa Bộ luật Dân sự 2005 và Bộ luật Dân sự 2015
a Một số điều được thay đổi, chỉnh sửa, bổ sung các khoản:
So quy định về bảo lãnh tại BLDS 2005, BLDS 2015 đã tiếp thu và sửa đổi, phát triển một số điều luật nhằm đáp ứng nhu cầu điều chỉnh những vấn
đề dân sự về bảo lãnh nảy sinh trong đời sống xã hội ngày nay Đó là quy định về phạm vi bảo lãnh, quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh, miễn việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh
- Về phạm vi bảo lãnh: Điều 336 BLDS 2015 có một số khoản được bổ sung mới, chi tiết hơn so với quy định tại điều 363 BLDS 2005
+ Thứ nhất sửa đổi khoản 2, theo quy định tại BLDS 2015 nếu các bên không có thỏa thuận khác thì nghĩa vụ bảo lãnh ngoài việc bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại giống với quy định của BLDS
2005 thì còn bao gồm cả lãi trên số tiền chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác Quy định này có thể được coi là đã hoàn thiện hơn trong việc bảo
vệ quyền lợi của bên nhận bảo lãnh
+ Thứ hai bổ sung thêm khoản 3, BLDS 2015 ghi nhận quy định mới tại
Khoản 3 Điều 336 : “Các bên có thể thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh” Đây cũng được coi là
một điểm mới có những ưu điểm nhất định so với quy định lại BLDS hiện hành, là sự sửa đổi đúng đắn của các nhà làm luật Theo quy định điều
335 BLDS 2015 về bảo lãnh, đối tượng của bảo lãnh là sự cam kết bằng uy
Trang 7tín, bằng lòng tin của bên bảo lãnh đối với bên nhận bảo lãnh để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, tài sản bảo đảm chỉ xuất hiện kèm theo uy tín, lòng tin Khi bên bảo lãnh dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để bảo đảm nghĩa vụ thì có nghĩa rằng, bên bảo lãnh đã đưa tài sản của mình thể chấp hoặc cầm cố
để bảo đảm nghĩa vụ của bên được bảo lãnh đối vối bên nhận bảo lãnh, tức là biện pháp bảo đảm bằng tài sản được dùng như cầm cố, thế chấp là để bảo đảm cho nghĩa vụ bảo lãnh chứ không phải là nghĩa vụ được bảo lãnh Do đó, người nhận bảo lãnh ngoài việc có quyền xử lý tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh còn có quyền yêu cầu người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bằng toàn bộ khối tài sản mà người bảo lãnh có
Thực tế khi áp dụng BLDS 2005 nhiều người còn chưa hiểu rõ bản chất của quan hệ bảo lãnh, nên còn lúng túng khi thiết kế hợp đồng, xác định các chủ thể trong hợp đồng Ví dụ nhầm lẫn giữa hợp đồng thế chấp tài sản và bảo lãnh: M bảo lãnh cho việc N thuê ô tô của K trong 1 năm Do K không tin tưởng nên M dùng nhà mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Nếu theo BLDS
2005 bảo lãnh là biện pháp bảo đảm mang tính chất đối nhân (không dùng tài sản cụ thể) và Luật Đất đai năm 2013, Luật Nhà ở năm 2014 nên M chỉ có quyền thế chấp, mà không có quyền bảo lãnh Như vậy, nếu đó là hợp đồng thế chấp thì M không có quyền yêu cầu N trả một số tiền tương ứng việc thực hiện nghĩa vụ của M Tuy nhiên, theo BLDS 2015 thì hợp đồng M với K đã
ký là hợp đồng bảo lãnh nên M có quyền yêu cầu N
Với sự bổ sung về quy định này sẽ giúp các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng sẽ hiểu rõ hơn về bản chất phạm vi của bảo lãnh để xác lập hợp đồng đúng với quy định của pháp luật Đồng thời, việc quy định như vậy tại BLDS 2015 có ý nghĩa quan trọng, liên quan đến tính thống nhất, đồng bộ của
hệ thống pháp luật, cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do giao kết hợp đồng của người dân và giúp giải quyết được những mâu thuẫn trong trường hợp bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm giao dịch dân sự khác để bảo lãnh cho việc thực hiện nghĩa vụ của
Trang 8bên được bảo lãnh, đồng thời đảm bảo được quyền lợi của bên bảo lãnh như trong ví dụ trên
+ Thứ ba bổ sung thêm khoản 4, BLDS 2015 ghi nhận quy định mới tại
Khoản 4 Điều 336: “Trường hợp nghĩa vụ được bảo lãnh là nghĩa vụ phát sinh trong tương lai thì phạm vi bảo lãnh không bao gồm nghĩa vụ phát sinh sau khi người bảo lãnh chết hoặc pháp nhân bảo lãnh chấm dứt tồn tại” Về
nguyên tắc, người thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác theo khoản 1 điều 615 BLDS 2015 nên chỉ phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với những khoản nợ đã phát sinh trước khi bên bảo lãnh chết Có thể thấy việc quy định tại điều 615 cũng áp dụng cho việc bảo lãnh theo khoản 4 điều 336,
do đó BLDS 2015 giúpkhắc phục được việc phát sinh tranh chấp khó giải quyết trong thực tế của BLDS 2005 và cũng là một trong các giải pháp để bảo
vệ bên bảo lãnh
- Về quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh: Điều 372 BLDS
2015 về quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh đã quy định bổ sung
thêm mới khoản 1: “Trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình thì bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, trừ trường hợp các bên
có thỏa thuận bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thay cho được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa
vụ bảo lãnh” Quy định này đảm bảo được nguyên tắc tự do, tự nguyện cam
kết thỏa thuận, phù hợp với cả trường hợp mà các bên có thỏa thuận khác về việc bảo lãnh để bảo vệ quyền lợi cho bên bảo lãnh
- Về miễn việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh:
+ Thứ nhất sửa đổi khoản 1, điều 368 BLDS 2005 quy định trong trường hợp bên nhận bảo lãnh miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho bên bảo lãnh thì việc
bên được bảo lãnh vẫn phải thực hiện nghĩa vụ thì điều 341 BLDS 2015 “bên được bảo lãnh không phải thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận bảo lãnh, trừ
Trang 9trường hợp có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác” BLDS 2015 quy
định như vậy là hợp lý, phù hợp với thực tiễn giao kết hợp đồng bảo lãnh cũng như thể hiện sự tôn trọng quyền quyết định của bên nhận bảo lãnh Bởi
vì khi người nhận bảo lãnh đã quyết định việc miễn thực hiện nghĩa vụ cho bên bảo lãnh tức là bản thân người đó không còn cần đến sự thực hiện nghĩa
vụ của người bảo lãnh cũng như người được bảo lãnh nữa Do đó quy định của BLDS 2005 bên được bảo lãnh vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận bảo lãnh là thiếu hợp lý, có thể dẫn đến sự thiệt thòi cho người được bảo lãnh
+ Thứ hai bổ sung thêm khoản 3, điều 368 BLDS 2015 đã ghi nhận
“Trường hợp một trong số những người nhận bảo lãnh liên đới miễn cho bên bảo lãnh không phải thực hiện phần nghĩa vụ đối với mình thì bên bảo lãnh vẫn phải thực hiện phần nghĩa vụ còn lại đối với những người nhận bảo lãnh liên đới còn lại” Việc bổ sung thêm trường hợp này giúp cụ thể chi tiết và
hoàn thiện về trường hợp nhiều người tham gia trong quan hệ bảo lãnh: đó là ngoài trường hợp nhiều người cùng bảo lãnh thì còn có trường hợp nhiều người cùng được nhận bảo lãnh Trên thực tế thì trường hợp sau dễ gặp trong các tranh chấp trong thực tế hơn, việc bổ sung thêm mới là hoàn toàn cần thiết
b Một số điều luật được thêm mới hoàn toàn và một số điều được hủy
bỏ về bảo lãnh trong Bộ luật Dân sự 2015
Ngoài ra BLDS 2015 còn ghi nhận thêm quy định về trách nhiệm dân sự của bên bảo lãnh tại Điều 342 và loại bỏ quy định về hình thức bảo lãnh và hủy bỏ việc bảo lãnh
* Điều thêm mới hoàn toàn:
- Về trách nhiệm dân sự của bên bảo lãnh: BLDS 2015 quy định riêng trách nhiệm dân sự của bên bảo lãnh tại điều 342, làm đẩy đủ các chế định về
bảo lãnh Đặc biệt là tại khoản 2 Điều 342 quy định “Trường hợp bên bảo lãnh không thực hiện đúng nghĩa vụ bảo lãnh thì bên nhận bảo lãnh có quyền
Trang 10yêu cầu bên bảo lãnh thanh toán giá trị nghĩa vụ vi phạm và bồi thường thiệt hại” thay thế cho quy định về xử lý tài sản tại điều 369 BLDS 2005 Quy định
này của BLDS 2015 đã thể hiện một cách rõ ràng hơn bản chất của biện pháp bảo lãnh là biện pháp bảo đảm đối nhân Có thể nói đây là một bước tiến của BLDS 2015 vì quy định như vậy là rất phù hợp, thể hiện được rõ bản chất của bảo lãnh – một biện pháp bảo đảm đối nhân
* Điều được hủy bỏ:
- Về hình thức bảo lãnh: Khác với BLDS 2005, BLDS 2015 đã loại bỏ quy định về hình thức bảo lãnh Theo đó, việc bảo lãnh không nhất thiết phải được lập bằng văn bản như theo quy định tại BLDS 2005 mà có thể được thể hiện dưới bất kỳ hình thức nào của hợp đồng như bằng thỏa thuận miệng, văn bản và hành vi cụ thể Việc BLDS 2005 quy định biện pháp bảo lãnh bắt buộc phải bằng văn bản là không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn do trong nhiều trường hợp, các bên xác lập biện pháp bảo lãnh dưới nhiều hình thức khác nhau Như vậy, có thể thấy rằng BLDS 2015 đã hoàn toàn tôn trọng sự
tự do ý chí của các bên trong việc lựa chọn hình thức của hợp đồng bảo lãnh, đồng thời không bắt buộc phải thực hiện những thủ tục rườm rà như công chứng, chứng thực, tiết kiệm thời gian và công sức như khi dùng hình thức văn bản
Tuy nhiên, việc lựa chọn này buộc các bên cần có hiểu biết về pháp luật, cân nhắc cẩn thận về quyền lợi, nghĩa vụ của mình để có thể lựa chọn ra hình thức phù hợp nhất do xác suất xảy ra tranh chấp và rủi ro cho bên nhận bảo lãnh là rất cao Ví dụ nếu dùng hình thức lời nói, việc lấy ra chứng cứ để chứng minh cho hợp đồng bảo lãnh đã giao kết là khó khăn
- Về xử lý tài sản của bên bảo lãnh: Quy định này tại điều 369 BLDS
2005 được hủy bỏ vì chưa thực sự đúng với bản chất của bảo lãnh là một biện pháp bảo đảm đối nhân, vì điều luật trên dễ dẫn đến cách hiểu nhầm rằng bảo lãnh là một biện pháp bảo đảm đối vật khi buộc người bảo lãnh phải đưa tài sản thuộc sở hữu tài sản của mình để thanh toán cho bên nhận bảo lãnh trong