PHẦN MỞ ĐẦU Thể dục thể thao (TDTT) là một mặt cấu thành của xã hội, nhằm tác động có chủ đích và hợp lý đến quá trình phát triển của con người, là một bộ phận không thể thiếu được trong nền giáo dục xã hội chủ nghĩa. Tập luyện thể thao giúp con người ngày càng tăng cường sức khoẻ, phát triển cân đối về thể lực, trí lực, đạo đức, thẩm mỹ, tăng năng suất lao động và nâng cao chất lượng sống. Rèn luyện TDTT là một biện pháp quan trọng đem lại sức khỏe và thể chất cường tráng cho thế hệ trẻ hiện nay. Một xã hội công bằng chỉ được xây dựng trên nền tảng của những tư tưởng tiến bộ. Một chế độ tốt đẹp chỉ có thể ở con người phát triển toàn diện. Trong lời kêu gọi tập thể dục của Hồ Chủ Tịch, Bác viết: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công. Mỗi một người dân yếu ớt tức là làm cho cả nước yếu ớt một phần, mỗi một người dân mạnh khỏe tức là góp phần cho cả nước mạnh khỏe. Vậy nên luyện tập thể dục, bồi bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi người dân yêu nước.Việc đó không tốn kém, khó khăn gì, gái trai, già trẻ, ai cũng nên làm và ai cũng làm đươc. Mỗi người lúc ngủ dậy, tập ít phút thể dục, ngày nào cũng tập thì khí huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ. Như vậy thì sức khỏe. Dân cường thì nước thịnh. Tôi mong đồng bào ta ai cũng gắng tập thể dục”. Bác còn dạy: “Muốn lao động sản xuất tốt, học tập công tác tốt, thì cần có sức khỏe. Muốn giữ gìn sức khỏe phải thường xuyên tập thể dục thể thao” và bản thân người đã nêu gương: “Tự tôi ngày nào cũng tập”. Làm theo lời kêu gọi của Bác, Đảng ta đã khởi xướng và lãnh đạo nước ta đi lên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đảng chỉ đạo yếu tố con người luôn chiếm vị trí hàng đầu, con người ngoài việc phải có trình độ chuyên môn, năng lực làm việc còn cần có sức khỏe mới đáp ứng được yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc. Một trong những mục đích cơ bản nhất, lâu dài nhất của công tác TDTT là hình thành nền thể thao phát triển và tiến bộ, góp phần nâng cao sức khỏe, thể lực đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của nhân dân. Trong những năm gần đây, tình hình kinh tế chính trị nước ta tương đối ổn định, phát triển nhất là về mặt kinh tế. Cùng với sự phát triển về kinh tế, hoạt động TDTT cũng được đầu tư phát triển và gặt hái được thành tựu đáng khích lệ, đã cải thiện đáng kể vị trí thể thao Việt Nam trên đấu trường khu vực, Châu lục. Để hòa nhập vào sự phát triển TDTT của khu vực và thế giới nhằm nâng cao uy tín trên vũ đài quốc tế, để thực hiện được điều đó văn kiện Đại hội Đảng IX đã chỉ rõ: “Đẩy mạnh hoạt động TDTT, nâng cao thể trạng và tầm vóc người Việt Nam. Phát triển TDTT quần chúng và mạng lưới TDTT rộng khắp”. Việc ra đời của thể thao giải trí chính là sự thỏa mãn tất yếu nhu cầu về mặt thể chất và tinh thần của con người. Theo sự phát triển của xã hội và nâng cao của đời sống, nhu cầu thể thao giải trí của nhân dân về thời gian, phương thức và chất lượng sẽ càng lớn. Trong điều kiện cơ chế thị trường và mở cửa, giao lưu văn hóa nhất là trong thời kỳ Công nghiệp hóa và hiện đại hóa hiện nay, nhu cầu đó lại càng trở nên bức thiết. Xét chung trong xã hội, hoạt động trên không chỉ nhằm giáo dục nhiều mặt, mà còn gắn càng nhiều với dịch vụ, du lịch, kinh doanh, quảng cáo. Tuy vậy, mục đích giáo dục vẫn đứng hàng đầu; cố gắng đảm bảo theo khả năng sao cho vừa có tính hiện đại mà vẫn giữ gìn, phát huy được thuần phong, mỹ tục, bản sắc dân tộc. Thể thao giải trí khác với các loại hình giải trí khác, đòi hỏi con người phải sử dụng các bài tập thể chất khác nhau (môn thể thao) để làm phương tiện tiến hành tập luyện, nghỉ ngơi, thư giãn hoặc làm cho tinh thần phấn chấn, tăng cường sức khỏe, thân thể được nghỉ ngơi, đức, trí, thể, mỹ đều được phát triển mạnh mẽ, hài hòa. Theo Phạm Đình Bẩm, đó là hoạt động TDTT thông qua hoạt động thể thao và du lịch phong phú để giải trí, giải trừ căng thẳng và vui chơi. Khoảng thập kỷ 70, 80, Pô-nô-ma-rôp và Vây-đờ-rin (Khoa lý luận và phương pháp TDTT ở học viện TDTT Lêningrat cũ) là hai trong những nhà lý luận TDTT Liên Xô cũ đã nêu lên một số vấn đề lý luận về thể thao giải trí, vui chơi từ góc độ khoa học văn hóa thể chất một cách nghiêm túc. Tuy vậy, cũng có một thực tế là các nước xã hội chủ nghĩa cũ đã đi chậm hơn một số nước phương tây phát triển trên vấn đề này nhưng họ lại tỏ ra mạnh trong lĩnh vực Giáo dục thể chất bắt buộc. Một nhà tư tưởng đã nói một câu nổi tiếng là: “cuộc sống là vận động”, Aristốp nhà tư tưởng vĩ đại người Hy Lạp nói: “cuộc sống cần vận động”. Ông còn nói: “Cái dễ làm con người suy thoái, chóng già là thiếu sự rèn luyện thường xuyên”. Muốn khỏe mạnh và sống lâu phải vận động và rèn luyện thân thể. Có khỏe mạnh mới đẩy lùi được sự suy thoái, mới có khả năng phòng ngừa được các nhân tố suy thoái và bệnh tật của người già. Ở nước ta hiện nay, việc tập luyện thể thao giải trí ngày càng được quan tâm đặc biệt là đối với đội ngũ những người hoạt động trí óc. Nhưng phần lớn họ chỉ tập luyện theo phong trào hoặc theo hứng thú họ không đưa việc tập luyện vào như một thói quen. Điều này xuất phát từ nhiều lý do khác nhau như: do công việc của cơ quan nhiều, công việc gia đình, các mối quan hệ xã hội… nên việc tập luyện nhiều khi bi gián đoạn vì vậy tạo cho ho thói quen không kiên trì. Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng là một trường lớn trong hệ thống các trường đại học của Đại học Đà Nẵng. Ban Giám hiệu nhà trường cùng với công đoàn trường rất quan tâm đến đời sống vật chất cũng như tinh thần của anh chị em. Công đoàn trường thường xuyên tổ chức những buổi giao lưu văn nghệ, thể thao nhân kỷ niệm những ngày lễ lớn của đất nước để nâng cao tình đoàn kết trong cán bộ công nhân viên chức nhà trường và tăng cường sức khỏe cho cán bộ công nhân viên. Nhưng việc tham gia vào các hoạt động thể thao ở trường chỉ mang tính giao lưu chứ không thể mang lại sức khỏe cho cán bộ công nhân viên. Thể thao giải trí là loại hình thể thao được yêu thích của nhiều tầng lớp nhân dân, việc tổ chức tập luyện môn này không đòi hỏi điều kiện tập luyện phức tạp, phù hợp với sở thích và sức khỏe của từng người lại đem lại hiệu quả cao về sức khỏe và nâng cao năng lực làm việc cho mọi người. Song việc lựa chọn môn thể thao phù hợp với điều kiện sức khỏe và nâng cao khả năng làm việc của mình thì không phải ai cũng làm được. Vì vậy việc nghiên cứu ứng dụng thể thao giải trí đối với người lao động trí óc làm tăng khả năng hoạt động trí óc và nâng cao khả năng làm việc là vấn đề cấp thiết. Hiện nay, mới chỉ có một tác giả nghiên cứu về vấn đề này là: Lê Hoài Nam (2009). Nhưng phạm vi đề tài đó mới chỉ đi nghiên cứu được một mặt của vấn đề là ảnh hưởng của thể thao giải trí đối với người hoạt động trí óc chứ chưa đưa ra được ứng dụng của nó. Và vẫn chưa có một đề tài nào nghiên cứu vấn đề này với khách thể là giảng viên Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng. Nên đề tài tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ứng dụng thể thao giải trí đối với người lao động trí óc nhằm nâng cao khả năng làm việc cho giảng viên Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng”.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH
PHẠM THỊ PHƯỢNG
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG THỂ THAO GIẢI TRÍ ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRÍ ÓC NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG LÀM VIỆC CHO GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
BẮC NINH – 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH
PHẠM THỊ PHƯỢNG
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG THỂ THAO GIẢI TRÍ ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRÍ ÓC NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG LÀM VIỆC CHO GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TS Trần Đức Dũng
BẮC NINH – 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trìnhnghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quảnêu trong luận văn là trung thực và chưa từngđược ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Tác giả luận văn
Phạm Thị Phượng
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BGD – ĐT - Bộ giáo dục và đào tạo
CNH – HĐH - Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ
g
1 Bảng 3.1 Các phương thức giải trí của những người lao động trí óc
2 Bảng 3.2 Mục đích tập luyện TDTT của người lao động trí óc
3 Bảng 3.3 Năng lực của giảng viên Trường Đại học Sư phạm
Đại học Đà Nẵng
4 Bảng 3.4 Thực trạng việc tập luyện thể thao của giảng viên Trường
Đại học Sư phạm Đại học Đà Nẵng
5 Bảng 3.5 Kết quả phỏng vấn lựa chọn môn thể thao giải trí cho giảng
viên Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng
6 Bảng 3.6 Lịch hoạt động của Câu lạc bộ “Thể thao vì sức khỏe”
7 Bảng 3.7 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
8 Bảng 3.8 Kết quả phỏng vấn lựa chọn các chỉ số, test để kiểm tra sức khỏe
và thể lực chung của đối tượng nghiên cứu
9 Bảng 3.9 Kết quả kiểm tra ban đầu của nữ hai nhóm NĐC và NTN
13 Bảng 3.13 Kết quả so sánh tự đối chiếu các chỉ số của nhóm đối chứng
14 Bảng 3.14 Kết quả so sánh tự đối chiếu các chỉ số của nhóm thực
27 Biểu đồ 3.1 Các phương thức giải trí của những người lao động
28 Biểu đồ 3.2 Thực trạng về mục đích tập luyện của người lao động trí óc
29 Biểu đồ 3.3 Kết quả tọa đàm với giảng viên Trường Đại học Sư phạm -
Đại học Đà Nẵng sau 1 năm tập luyện
30 Biểu đồ 3.4 Năng lực chuyên môn của hai nhóm STN
Trang 631 Biểu đồ 3.5 Năng lực giảng dạy của hai nhóm STN
32 Biểu đồ 3.6 Năng lực nghiên cứu KH của hai nhóm STN
33 Biểu đồ 3.7 Năng lực NCKH của hai nhóm STN
34 Biểu đồ 3.8 Đánh giá, phân loại công chức, viên chức hàng năm 2013 –
2014
35 Sơ đồ 1 Phân loại giải trí
Trang 7MỤC LỤC
Trang Phần mở đầu
Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
1.1 Khái niệm và đặc điểm của “Lao động trí óc”
1.3 Phân nhóm các môn thể thao giải trí
1.3.1 Nhóm các môn giải trí cao cấp
1.3.2 Nhóm các môn giải trí mang tính nghệ thuật
1.3.3 Nhóm các môn thể thao giải trí mang tính trí tuệ
1.3.4 Nhóm các môn thể thao giải trí mạo hiểm
1.3.5 Nhóm các môn thể thao giải trí mang tính dân tộc, thể dục dưỡng
sinh, gần với thiên nhiên
1.4 Các nghiên cứu có liên quan
Chương 2: Phương pháp và tổ chức nghiên cứu
2.1 Phương pháp nghiên cứu
2.2 Tổ chức nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
3.1 Đánh giá thực trạng năng lực của giảng viên và ảnh hưởng của việc tập
luyện thể thao giải trí đối với người lao động trí óc
3.1.1 Ảnh hưởng của thể thao giải trí tới năng lực làm việc của người lao
3.1.4 Xác định năng lực cơ bản của giảng viên và các tiêu chí đánh giá
năng lực của giảng viên Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng
3.1.5 Đánh giá thực trạng năng lực của giảng viên Trường Đại học Sư
3.2.1 Cơ sở khoa học để lựa chọn môn thể thao giải trí cho giảng viên
Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng
Trang 83.2.2 Kết quả lựa chọn môn thể thao giải trí cho giảng viên Trường Đạihọc Sư phạm - Đại học Đà Nẵng
3.2.3 Xây dựng kế hoạch tập luyện cho đối tượng thực nghiệm
3.3 Ứng dụng và đánh giá hiệu quả việc ứng dụng thể thao giải trí đối với giảng viên trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng
3.3.1 Lựa chọn đối tượng thực nghiệm
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
Thể dục thể thao (TDTT) là một mặt cấu thành của xã hội, nhằm tác động
có chủ đích và hợp lý đến quá trình phát triển của con người, là một bộ phậnkhông thể thiếu được trong nền giáo dục xã hội chủ nghĩa Tập luyện thể thaogiúp con người ngày càng tăng cường sức khoẻ, phát triển cân đối về thể lực, trílực, đạo đức, thẩm mỹ, tăng năng suất lao động và nâng cao chất lượng sống.Rèn luyện TDTT là một biện pháp quan trọng đem lại sức khỏe và thể chấtcường tráng cho thế hệ trẻ hiện nay
Một xã hội công bằng chỉ được xây dựng trên nền tảng của những tưtưởng tiến bộ Một chế độ tốt đẹp chỉ có thể ở con người phát triển toàn diện.Trong lời kêu gọi tập thể dục của Hồ Chủ Tịch, Bác viết: “Giữ gìn dân chủ, xâydựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công.Mỗi một người dân yếu ớt tức là làm cho cả nước yếu ớt một phần, mỗi mộtngười dân mạnh khỏe tức là góp phần cho cả nước mạnh khỏe Vậy nên luyệntập thể dục, bồi bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi người dân yêu nước.Việc đókhông tốn kém, khó khăn gì, gái trai, già trẻ, ai cũng nên làm và ai cũng làmđươc Mỗi người lúc ngủ dậy, tập ít phút thể dục, ngày nào cũng tập thì khíhuyết lưu thông, tinh thần đầy đủ Như vậy thì sức khỏe Dân cường thì nướcthịnh Tôi mong đồng bào ta ai cũng gắng tập thể dục” Bác còn dạy: “Muốn laođộng sản xuất tốt, học tập công tác tốt, thì cần có sức khỏe Muốn giữ gìn sứckhỏe phải thường xuyên tập thể dục thể thao” và bản thân người đã nêu gương:
“Tự tôi ngày nào cũng tập”
Làm theo lời kêu gọi của Bác, Đảng ta đã khởi xướng và lãnh đạo nước ta
đi lên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đảng chỉ đạo yếu tốcon người luôn chiếm vị trí hàng đầu, con người ngoài việc phải có trình độchuyên môn, năng lực làm việc còn cần có sức khỏe mới đáp ứng được yêu cầuxây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Một trong những mục đích cơ bản nhất, lâu dàinhất của công tác TDTT là hình thành nền thể thao phát triển và tiến bộ, góp
Trang 10phần nâng cao sức khỏe, thể lực đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của nhândân.
Trong những năm gần đây, tình hình kinh tế chính trị nước ta tương đối
ổn định, phát triển nhất là về mặt kinh tế Cùng với sự phát triển về kinh tế, hoạtđộng TDTT cũng được đầu tư phát triển và gặt hái được thành tựu đáng khích
lệ, đã cải thiện đáng kể vị trí thể thao Việt Nam trên đấu trường khu vực, Châulục Để hòa nhập vào sự phát triển TDTT của khu vực và thế giới nhằm nângcao uy tín trên vũ đài quốc tế, để thực hiện được điều đó văn kiện Đại hội Đảng
IX đã chỉ rõ: “Đẩy mạnh hoạt động TDTT, nâng cao thể trạng và tầm vóc ngườiViệt Nam Phát triển TDTT quần chúng và mạng lưới TDTT rộng khắp”
Việc ra đời của thể thao giải trí chính là sự thỏa mãn tất yếu nhu cầu vềmặt thể chất và tinh thần của con người Theo sự phát triển của xã hội và nângcao của đời sống, nhu cầu thể thao giải trí của nhân dân về thời gian, phươngthức và chất lượng sẽ càng lớn Trong điều kiện cơ chế thị trường và mở cửa,giao lưu văn hóa nhất là trong thời kỳ Công nghiệp hóa và hiện đại hóa hiệnnay, nhu cầu đó lại càng trở nên bức thiết Xét chung trong xã hội, hoạt độngtrên không chỉ nhằm giáo dục nhiều mặt, mà còn gắn càng nhiều với dịch vụ, dulịch, kinh doanh, quảng cáo Tuy vậy, mục đích giáo dục vẫn đứng hàng đầu; cốgắng đảm bảo theo khả năng sao cho vừa có tính hiện đại mà vẫn giữ gìn, pháthuy được thuần phong, mỹ tục, bản sắc dân tộc
Thể thao giải trí khác với các loại hình giải trí khác, đòi hỏi con ngườiphải sử dụng các bài tập thể chất khác nhau (môn thể thao) để làm phương tiệntiến hành tập luyện, nghỉ ngơi, thư giãn hoặc làm cho tinh thần phấn chấn, tăngcường sức khỏe, thân thể được nghỉ ngơi, đức, trí, thể, mỹ đều được phát triểnmạnh mẽ, hài hòa Theo Phạm Đình Bẩm, đó là hoạt động TDTT thông qua hoạtđộng thể thao và du lịch phong phú để giải trí, giải trừ căng thẳng và vui chơi.Khoảng thập kỷ 70, 80, Pô-nô-ma-rôp và Vây-đờ-rin (Khoa lý luận và phươngpháp TDTT ở học viện TDTT Lêningrat cũ) là hai trong những nhà lý luậnTDTT Liên Xô cũ đã nêu lên một số vấn đề lý luận về thể thao giải trí, vui chơi
từ góc độ khoa học văn hóa thể chất một cách nghiêm túc Tuy vậy, cũng có một
Trang 11thực tế là các nước xã hội chủ nghĩa cũ đã đi chậm hơn một số nước phương tâyphát triển trên vấn đề này nhưng họ lại tỏ ra mạnh trong lĩnh vực Giáo dục thểchất bắt buộc
Một nhà tư tưởng đã nói một câu nổi tiếng là: “cuộc sống là vận động”,Aristốp nhà tư tưởng vĩ đại người Hy Lạp nói: “cuộc sống cần vận động” Ôngcòn nói: “Cái dễ làm con người suy thoái, chóng già là thiếu sự rèn luyện thườngxuyên” Muốn khỏe mạnh và sống lâu phải vận động và rèn luyện thân thể Cókhỏe mạnh mới đẩy lùi được sự suy thoái, mới có khả năng phòng ngừa đượccác nhân tố suy thoái và bệnh tật của người già
Ở nước ta hiện nay, việc tập luyện thể thao giải trí ngày càng được quan
tâm đặc biệt là đối với đội ngũ những người hoạt động trí óc Nhưng phần lớn
họ chỉ tập luyện theo phong trào hoặc theo hứng thú họ không đưa việc tậpluyện vào như một thói quen Điều này xuất phát từ nhiều lý do khác nhau như:
do công việc của cơ quan nhiều, công việc gia đình, các mối quan hệ xã hội…
nên việc tập luyện nhiều khi bi gián đoạn vì vậy tạo cho ho thói quen không kiêntrì
Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng là một trường lớn trong hệthống các trường đại học của Đại học Đà Nẵng Ban Giám hiệu nhà trường cùngvới công đoàn trường rất quan tâm đến đời sống vật chất cũng như tinh thần củaanh chị em Công đoàn trường thường xuyên tổ chức những buổi giao lưu vănnghệ, thể thao nhân kỷ niệm những ngày lễ lớn của đất nước để nâng cao tìnhđoàn kết trong cán bộ công nhân viên chức nhà trường và tăng cường sức khỏecho cán bộ công nhân viên Nhưng việc tham gia vào các hoạt động thể thao ởtrường chỉ mang tính giao lưu chứ không thể mang lại sức khỏe cho cán bộ côngnhân viên
Thể thao giải trí là loại hình thể thao được yêu thích của nhiều tầng lớpnhân dân, việc tổ chức tập luyện môn này không đòi hỏi điều kiện tập luyệnphức tạp, phù hợp với sở thích và sức khỏe của từng người lại đem lại hiệu quảcao về sức khỏe và nâng cao năng lực làm việc cho mọi người Song việc lựachọn môn thể thao phù hợp với điều kiện sức khỏe và nâng cao khả năng làm
Trang 12việc của mình thì không phải ai cũng làm được Vì vậy việc nghiên cứu ứngdụng thể thao giải trí đối với người lao động trí óc làm tăng khả năng hoạt độngtrí óc và nâng cao khả năng làm việc là vấn đề cấp thiết.
Hiện nay, mới chỉ có một tác giả nghiên cứu về vấn đề này là: Lê HoàiNam (2009) Nhưng phạm vi đề tài đó mới chỉ đi nghiên cứu được một mặt củavấn đề là ảnh hưởng của thể thao giải trí đối với người hoạt động trí óc chứ chưađưa ra được ứng dụng của nó Và vẫn chưa có một đề tài nào nghiên cứu vấn đềnày với khách thể là giảng viên Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng.Nên đề tài tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu ứng dụng thể thao giải trí đối với người lao động trí óc nhằm nâng cao khả năng làm việc cho giảng viên Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng”.
Mục đích nghiên cứu:
Thông qua việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn Thể thao giải trí, đềtài đi sâu tìm hiểu vai trò thể thao giải trí và ứng dụng của thể thao giải trí đốivới người hoạt động trí óc từ đó góp phần phục vụ thiết thực cho việc nghỉ ngơi,thư giãn tích cực, cải thiện thể chất nhằm nâng cao khả năng làm việc cho ngườilao động trí óc
Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng năng lực của giảng viên và ảnh hưởng
của việc tập luyện thể thao giải trí đối với người lao động trí óc
Nhiệm vụ 2: Lựa chọn và ứng dụng thể thao giải trí cho giảng viên
Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng
Giả thuyết khoa học:
Qua nghiên cứu và tìm hiểu việc tập luyện thể thao giải trí của giảng viênTrường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng có chất lượng thấp do nhiềunguyên nhân khác nhau Nếu lựa chọn và ứng dụng các môn thể thao giải trí phùhợp thì hiệu quả làm việc trí óc của giảng viên Trường Đại học Sư phạm - Đạihọc Đà Nẵng sẽ tăng lên
Trang 13CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Khái niệm và đặc điểm của “Lao động trí óc”
Chủ nghĩa xã hội xoá bỏ sự đối kháng giai cấp, đồng thời cũng xoá bỏ sựđối lập có tính đối kháng giữa lao động trí óc và lao động chân tay Tầng lớp tríthức xã hội chủ nghĩa cùng với công nhân và nông dân, hợp thành khối liênminh giữa những người lao động làm chủ xã hội Song giữa lao động trí óc vàlao động chân tay vẫn còn những khác biệt quan trọng về mặt kinh tế - xã hội,
về điều kiện lao động, về mức sống, về trình độ văn hoá và trình độ phát triển trítuệ của cá nhân Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật hiện đại và nền kinh tế tríthức đang hình thành sẽ tạo ra tiền đề để đào tạo kiểu người lao động xã hộimới, biết kết hợp cả hai loại lao động trong hoạt động sản xuất của mình
Chủ nghĩa Mac tiên đoán rằng trong tương lai chủ nghĩa cộng sản, sựkhác nhau nói trên giữa lao động trí óc và lao động chân tay sẽ không còn lànguồn gốc của bất bình đẳng và mâu thuẫn xã hội, và 2 hình thức lao động sẽhoà nhập vào trong hoạt động hoàn chỉnh của con người phát triển toàn diện
Tiểu luận “The Commitment of the Intellectual” ra đời trên Monthly Rewiew tháng 5 năm 1961 của tác giả Paul A Baran là một nhà kinh tế học
Trang 14người Mỹ theo chủ nghĩa Marx do Phạm Trọng Luật dịch có phân tích “Thế nào
là người trí thức” Câu trả lời hiển nhiên nhất có lẽ như sau: đấy là người laođộng dùng trí tuệ của mình, và kiếm sống nhờ bộ óc hơn là bằng bắp thịt… họlàm việc với óc não nhiều hơn là bắp thịt, và sinh sống bằng trí tuệ hơn là bàntay Hãy gọi họ là người lao động trí thức Đó là những nhà kinh doanh, y sĩ,quản đốc xí nghiệp, người phổ biến “văn hoá”, nhân viên chứng khoán và giáo
sư đại học…
Trên trang vietpharm.com.vn có bài viết: “… Lao động trí óc là lao độngtĩnh… Những người lao động bằng trí óc có đặc điểm khác với những người laođộng chân tay đó là, khi đã hết giờ làm việc, trong đầu họ vẫn còn suy nghĩ vềcông việc, kể cả lúc lên giường ngủ, nhiều người cũng còn suy nghĩ về côngviệc đã qua, và lo cho công việc sắp tới, điều này sẽ khiến thần kinh ở người laođộng trí óc căng thẳng hơn, hoạt động nhiều hơn…”
Tóm lại người lao động trí óc chính là các tri thức như bác sĩ, giáo viên, kĩsư… Những người trí thức này chuyên làm những công việc trí óc như dạy học,chữa bệnh, chế tạo máy móc…
1.2 Giải trí và TDTT giải trí
1.2.1 Khái niệm giải trí
Nói về giải trí, nhiều từ điển đều giải thích với hàm ý, đó là sự thoải mái,vui vẻ Từ điển Bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm giải trí là: “làm cho trí
óc thảnh thơi, tâm hồn thanh thản bằng một hoạt động gây được hứng thú” [38]
Theo Trương Hồng Đàm, thuộc tính cơ bản của khái niệm giải trí là thuộc
về yếu tố tinh thần, làm tiêu tan phiền muộn, nảy sinh khoái cảm [12]
Nói đến giải trí chúng ta không thể không đề cập đến các phương thứcgiải trí, bởi nó sẽ làm chúng ta hiểu rõ hơn khái niệm giải trí Theo DươngNghiệp Chí và cộng sự, giải trí có 3 phương thức [5]:
Một là, giải trí gắn liền với vui chơi thư giãn Phương thức này thườngbao gồm giải trí thân thể, giải trí thực dụng, giải trí văn hóa, giải trí xã hội
Trang 15Giải trí
Giải trí thao tác
Giải trí thưởng thức Chuyểnđổi
cơ chế
Giải trí bằng tai
Giải trí tùy cảm
Giải trí hậu cảm
Giải trí tổng hợp
Thể dục thể thao giải trí
Giải trí bằng mắt
Hai là, giải trí liên quan tới văn hóa Giải trí này thường gắn liền với cácsản phẩm văn hóa giải trí như chiêu đãi, đón tiếp, xem ca nhạc, kịch xiếc, điệnảnh, tivi
Ba là, giải trí hiện thực thông thường Đó là giải trí có tính phổ cập, chủyếu bao gồm du lịch giải trí, văn hóa giải trí, xổ số, đặt cược, TDTT giải trí
Như vậy, nói đến giải trí là nói đến sự khoan khoái, vui vẻ về mặt tinhthần
Phân loại giải trí, theo Trương Hồng Đàm [12], giải trí có thể phân làmhai loại lớn: giải trí thưởng thức và giải trí thao tác Giải trí thưởng thức có thểbao gồm thưởng thức bằng mắt, thưởng thức bằng tai và thưởng thức tổng hợp.Giải trí thao tác tùy theo mức độ tham gia hoạt động của cơ thể mà có thể phânthành hai loại: giải trí tùy cảm và giải trí hậu cảm Giải trí tùy cảm đó là sự cảmnhận sự khoan khoái ngay trong quá trình phát huy thể năng, nỗ lực ý chí củamình Còn giải trí hậu cảm, đó là sự cảm nhận khoan khoái khi phát huy cao độthể năng và nỗ lực ý chí trong quá trình hoạt động và mang lại thành công
Cũng theo Trương Hồng Đàm, giải trí liên quan đến thể dục, thể thao, chủyếu là giải trí thao tác, giải trí thưởng thức đại bộ phận thuộc về người ngoàicuộc hoạt động TDTT, giải trí hậu cảm chủ yếu nói về phạm vi TDTT thi đấu;chỉ có giải trí tùy cảm và TDTT giải trí là rất gần gũi (sơ đồ 1.1)
Trang 16Sơ đồ 1: Phân loại giải trí (theo Trương Hồng Đàm [12])
Theo Trương Hồng Đàm thì TDTT giải trí là thuộc phạm trù của giải trí,bao gồm cả giải trí thưởng thức và giải trí thao tác Tất nhiên, giải trí thao tácgắn liền với hoạt động TDTT, còn giải trí thưởng thức thì nằm ngoài hoạt độngTDTT
1.2.2 TDTT giải trí
Luật thể dục, thể thao được công bố vào năm 2006 đã coi thể thao giải trí(cũng là TDTT giải trí) như là một bộ phận cấu thành của TDTT quần chúng(chương II) và đã xác định ở điều 18 là:
- Nhà nước tạo điều kiện phát triển các môn thể thao giải trí nhằm đápứng nhu cầu giải trí của xã hội
- Cơ quan quản lý nhà nước về thể dục, thể thao có trách nhiệm hướngdẫn hoạt động thể thao giải trí
Đồng thời ở điều 11 của Luật cũng đã xác định: “Nhà nước có chính sáchđầu tư và khuyến khích tổ chức, cá nhân phát triển thể dục, thể thao quần chúng,tạo cơ hội cho mọi người không phân biệt lứa tuổi, giới tính, sức khỏe, tìnhtrạng khuyết tật được thực hiện quyền hoạt động thể dục, thể thao để nâng caosức khỏe, vui chơi, giải trí” [27]
Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn khi phân tích về cấu trúc TDTT nước tacũng đã cho rằng TDTT giải trí và hồi phục sức khỏe như là một nội dung cấuthành của TDTT nước nhà [38]
Nói về vai trò của TDTT giải trí, Dương Nghiệp Chí và cộng sự coiTDTT giải trí “là ngành hàng kinh tế dịch vụ đáp ứng nhu cầu nâng cao sứckhỏe thể chất và tinh thần của xã hội [5]
Nói về vị trí của TDTT giải trí, chúng ta không thể không trích dẫn bàiviết của HanDan nói về cấu trúc của TDTT hiện đại trên thế giới Theo HanDan,
tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc gần đây đã phân chiathể dục, thể thao thành 3 lĩnh vực: GDTC, thể thao thành tích cao, TDTT giải trí[10] Trong đó, GDTC là một bộ phận không thể tách rời trong giáo dục trườnghọc; thể thao thành tích cao là nói về hoạt động huấn luyện và thi đấu nâng cao
Trang 17thành tích, phục vụ nhu cầu thưởng thức của xã hội, thuộc phạm trù hoạt độngvăn hóa; TDTT giải trí là ngành kinh tế dịch vụ đáp ứng nhu cầu nâng cao sứckhỏe thể chất và tinh thần cho mọi người.
Như vậy, theo tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc,ngoại trừ GDTC ở nhà trường, đào tạo-huấn luyện VĐV, thì mọi hoạt độngTDTT của đại bộ phận tầng lớp nhân dân trong xã hội đều mang tính giải trí
Vậy, TDTT giải trí là gì?
Không ít tác giả cho rằng TDTT không chỉ để phát triển thể chất, nângcao sức khỏe thể chất mà còn để phát triển sức khỏe tinh thần, thỏa mãn đờisống tinh thần của con người [5] [6] [7] [8] [11] [16] [19] [25] [27]
Những khái niệm về các lĩnh vực TDTT khác đã có khá nhiều người đềcập như TDTT, GDTC, TDTT trường học, thể thao [14] [25] [28] [30] [40]
Tuy nhiên, quan niệm về thể thao giải trí thì còn rất hạn chế, dù rằng ởnước ta, trường Đại học TDTT thành phố Hồ Chí Minh đang dự kiến thành lậpkhoa TDTT giải trí và trường Đại học TDTT Đà Nẵng cũng đang xúc tiến đưamôn học TDTT giải trí vào giảng dạy cho sinh viên
Bùi Xuân Mỹ và Phạm Minh Thảo thì cho rằng thể thao thường là một bộphận giải trí của con người ở thế kỷ XX Đối với một số người, đó là một cáchphát triển cá nhân hay thư giãn, đối với một số người khác lại là một phươngtiện thành đạt Và phong trào tham gia trực tiếp hoạt động thể thao cũng pháttriển với tình hình gia tăng thì giờ rảnh rỗi Theo hai tác giả này, người ta đếnvới thể thao rất đa dạng tùy theo sự say mê ham thích của từng người [29]
Theo Trương Minh Lâm (2000), công hội triển khai hoạt động văn thể dễnghe, dễ nhìn, có tính quần chúng, làm cho công chức trong hoạt động có tinhthần phấn khởi, điều tiết sinh hoạt, thân tâm mạnh khỏe, tinh thần thăng hoa, thểlực được nghỉ ngơi
Theo Dương Nghiệp Chí và cộng sự [5], TDTT giải trí là loại hình hoạtđộng TDTT có ý thức, có lợi cho sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần củacon người, được tiến hành trong thời gian tự do, ngoài giờ làm việc TDTT giảitrí còn là hoạt động TDTT tự giác, vừa sức, trong vùng năng lượng ưa khí (đủ
Trang 18ôxy, không bị nợ ôxy) TDTT giải trí không chỉ bao hàm các phương tiện hoạtđộng thể lực mà còn bao hàm các phương tiện hoạt động trí tuệ, thư giãn,thưởng thức thi đấu biểu diễn, cổ vũ thi đấu biểu diễn, trong đó có sử dụng cácphương tiện công nghệ cao.
Trong một quan niệm khác, dưới góc độ kinh tế, Dương Nghiệp Chí vàcộng sự lại cho rằng: TDTT giải trí là ngành hàng kinh tế dịch vụ đáp ứng nhucầu nâng cao sức khỏe thể chất và tinh thần của xã hội
Trong bài viết của Lương Kim Chung có giới thiệu nhận định của nhà xãhội học J.R Jelly về TDTT giải trí như sau: “người tham gia thể thao giải trí cóthể tự do lựa chọn môn thể thao mình thích và cảm thấy thoải mái khi chơi mônthể thao đó” [9] và ông cũng giới thiệu quan niệm về những môn thể thao giải trícủa hiệp hội chấn hưng thể thao giải trí Nhật Bản cho rằng: “thể thao giải trí lànhững môn thể thao mang tính giải trí cao Ví dụ: golf, đua xe, lướt sóng Lúcchơi nó mang lại sự vui vẻ, thoải mái, sự cởi mở cho tâm hồn, tiêu tan đi mệtmỏi Và theo Lương Kim Chung, “bất luận môn thể thao nào rèn luyện sức khỏethường nhật hàng ngày và lý tưởng nhất đều có ý nghĩa về mặt giải trí”
Riêng HanDan dẫn sự phân loại các lĩnh vực TDTT thì cho rằng TDTTgiải trí là ở lĩnh vực nằm ngoài TDTT học đường (GDTC) và thể thao nâng caothành tích
Từ những quan niệm khác nhau, nhưng nói đến TDTT giải trí là nói đếnviệc vận dụng đa dạng tự nguyện các phương tiện TDTT trong thời gian nhànrỗi để vừa nâng cao sức khỏe về thể chất và tinh thần Do đó, TDTT giải trí làmột lĩnh vực nằm ngoài lĩnh vực GDTC và nâng cao thành tích thể thao, trong
đó con người tự do lựa chọn phương tiện TDTT (môn tập) mà mình ưa thích đểhoạt động trong thời gian nhàn rỗi vì củng cố và nâng cao sức khỏe về thể chất
và tinh thần
Nói đến TDTT giải trí, chúng ta không thể không đề cập đến những đặcđiểm của nó Theo Dương Nghiệp Chí và cộng sự, những đặc điểm đó là:
Trang 19Đa số các phương tiện TDTT giải trí tương đối đơn giản, dễ sử dụng, rấtthuận tiện cho người tập Nội dung và hình thức bài tập TDTT giải trí đơn giản,cấu trúc buổi tập và kỹ thuật của bài tập thể lực không quá chặt chẽ.
Các phương pháp GDTC ứng dụng trong TDTT giải trí linh hoạt vàkhông cần định mức chặt chẽ lượng vận động, phương pháp thi đấu linh hoạt,chủ yếu theo sự thỏa thuận của những người chơi
Các nguyên tắc về phương pháp GDTC cũng được áp dụng đơn giản vàlinh hoạt Có lẽ nguyên tắc chủ yếu của TDTT giải trí là sự tham gia hoàn toàn
tự nguyện, người tập luyện TDTTgiải trí cần hoạt động đều đặn
Dạy học động tác trong TDTT giải trí cũng rất đơn giản, quá trình dạy họckhông phức tạp Người tập có thể bắt chước động tác, tự tập và hoàn thiện dầnđộng tác
Giáo dục các tố chất thể lực chỉ là một phần mục đích cuả thể thao giảitrí TDTT giải trí không chỉ nhằm mục đích nâng cao sức khỏe thể chất mà cònnhằm mục đích giải trí và nâng cao sức khỏe tinh thần
Đa số các môn TDTT giải trí không yêu cầu cao về sân bãi, dụng cụ (trừ một
số ít môn thể thao mạo hiểm, golf, bowling) Chính vì vậy, TDTT giải trí dễ đếnvới con người và xã hội, rất thuận tiện cho việc xã hội hóa [5]
1.3 Phân nhóm các môn thể thao giải trí
Theo giáo trình do Dương Nghiệp Chí và cộng sự biên soạn cho học sinhcao đẳng và đại học TDTT [5], TDTT có thể phân làm các nhóm môn TDTTgiải trí cơ bản sau đây:
1.3.1 Nhóm các môn giải trí cao cấp
Môn Golf:
Golf là cụm từ tiếng Anh, viết tắt của 4 từ ghép lại: Green-Oxygen- Friendship (cỏ xanh- dưỡng khí-ánh sáng và tình hữu nghị) Cụm từ này phảnánh các yếu tố đặc thù của môn Golf là đem lại sức khỏe và tình cảm tốt đẹp,
Light-mở rộng quan hệ giao tiếp cho con người Môn Golf xuất hiện từ thế kỷ 15 ởScottlen, tới thế kỷ 17 phát triển ở châu Mỹ, thế kỷ 18 phát triển ở châu Âu vàchâu Úc, đầu thế kỷ 19 mới phát triển ở châu Á
Trang 20Ở nước ta, Golf vẫn còn khá xa lạ đối với nhiều người tập luyện TDTTbởi chi phí cho môn này quá tốn kém và mất nhiều thời gian, đồng thời sân bãicũng còn hạn chế Nói chung môn golf chủ yếu vẫn dành cho các đại gia.
Môn Bowling:
Môn Bowling là một trong những môn thể thao lâu đời nhất trong lịch sửnhân loại Lịch sử ra đời của môn Bowling cách đây khoảng 7200 năm Năm
1920, một nhà khảo cổ học người Anh đã phát hiện trong một hang đá ở Ai Cập
9 bình đá và một quả cầu bằng đá Phương pháp chơi của trò chơi này là dùngquả cầu bằng đá ném vào các bình đá sao cho các bình đá bị đổ Điều thú vị làcông cụ chơi và cách chơi này hoàn toàn giống với công cụ và luật chơi Bowlinghiện đại Trò chơi 9 cột phát sinh ở Đức trong thế kỷ thứ 3 được ví như tiềnthân của môn Bowling hiện đại Đây là một trò chơi sang trọng khá phổ biếntrong tầng lớp quý tộc của châu Âu đương thời Mọi người xếp 9 cái cột tronghành lang của nhà thờ, 9 cột đó tượng trưng cho các loại ma quỷ, sau đó dùngquả cầu ném đổ các cột, người ta coi đó là hành động “diệt trừ ma quỷ” Ngườixưa cho rằng đánh đổ được các cột là biểu thị sự thành kính về mặt tín ngưỡng,
đó là điều kiện để rửa tội, để giải tỏa buồn phiền cuộc sống
Năm 1875, các câu lạc bộ điển hình của Mỹ đã cùng nhau thành lập Hiệphội Bowling đầu tiên trên thế giới Đến tháng 9/1895, Hiệp hội Bowling nước
Mỹ chính thức được thành lập Hiệp hội này đã tiến hành thay đổi hình thức sắpxếp các bình bowling theo kiểu tam giác, đồng thời quy định cụ thể về tiêuchuẩn các bình bowling
Năm 1992, môn Bowling đã trở thành môn thi đấu chính thức tạiOlympic lần thứ 25 tổ chức tại Barcelona, Tây Ban Nha
Ở nước ta Bowling chỉ mới có ở một số các tỉnh, thành bởi lẽ trang thiết
bị dụng cụ và hệ thống tính điểm cho trò chơi này rất tốn kém, ít người chơi.Hơn nữa Bowling là môn thể thao tuy được đưa vào hệ thống thi đấu Olympicnhưng chưa phát triển mạnh ở khu vực
Môn Bi-a:
Trang 21Đầu thế kỷ 20, trò chơi Bi-a dần trở thành một môn thi đấu thể thao Rấtnhiều các quốc gia và vùng lãnh thổ đã lần lượt thành lập các Hiệp hội quản lýcác cuộc thi đấu, và quản lý theo các thể loại khác nhau bởi Bi-a rất nhiều loại.Môn Bi-a được đưa vào thi đấu Olympic từ khá sớm nhằm thúc đẩy phong tràophát triển mạnh mẽ Bi-a là môn thể thao giải trí tao nhã, văn minh và có tácdụng rèn luyện thân thể Ngày nay, phong trào Bi-a ở nước ta đã phát triển sâu,rộng ở hầu hết các tỉnh thành như một thú vui giải trí đa dạng, phong phú và rấtcuốn hút con người.
1.3.2 Nhóm các môn giải trí mang tính nghệ thuật
Môn khiêu vũ thể thao:
Khiêu vũ thể thao là một môn thể thao mới, là sự kết hợp cao giữa nghệthuật và thể thao Nó tập trung giải trí, vận động, nghệ thuật vào một thể thốngnhất, là một hoạt động trang nhã trong xã hội văn minh Môn thể thao này xuấthiện từ việc biến đổi điệu nhảy thuộc phạm trù văn hóa nghệ thuật, hàm chứa cảhai đặc điểm là văn hóa nghệ thuật và thể thao Tính thể thao thể hiện ở sự cạnhtranh thi đấu, mặt khác nó biểu hiện ở giá trị luyện tập, thông qua tập khiêu vũthể thao nâng cao sức khỏe tinh thần và thể chất Khiêu vũ thể thao có tính tựgiải trí và tính thưởng thức biểu diễn, biểu hiện ở sự tập trung của âm nhạc, vũđạo, trang phục, phong cách biểu diễn, vẻ đẹp hoàn mỹ vào một thể thống nhất,tức là vừa có giá trị thưởng thức lại vừa có giá trị phô diễn vẻ đẹp
Ở Việt Nam, môn khiêu vũ thể thao được quan niệm trong nhiều nămtrước đây chỉ là khiêu vũ xã giao, khiêu vũ lễ hội và là nhu cầu sinh hoạt vănhóa tinh thần của một bộ phận cư dân trong giới chức ngoại giao, giáo viên, sinhviên Những câu lạc bộ khiêu vũ quốc tế ở nước ta đã có từ những năm đầu thế
kỷ 19 khi người Pháp cai trị nước ta và chỉ có hoạt động trong các lễ hội, ngoạigiao Dần dần môn thể thao này đã trở thành một trong những hoạt động giải trícuối tuần
Môn thể dục thẩm mỹ-Aerobic:
Thể dục thẩm mỹ còn gọi là thể dục nhịp điệu là một môn thể thao nhằmphát triển cơ thể cân đối và nâng cao sức khỏe, được tiến hành trên nền nhạc
Trang 22Trên cơ sở của vận động ưa khí, môn này đạt mục đích giải trí, nâng cao thể lực
và vũ đạo, thực hiện với cường độ lớn, thời gian dài được gọi là Sport Aerobic
Trong những năm gần đây, phong trào tập TDT rèn luyện thân thể củacon người ngày một phát triển sâu rộng, sự hiểu biết về rèn luyện thân thể củacon người ngày một sâu sắc hơn, trình độ tri thức và sự áp dụng khoa học kỹthuật vào quá trình rèn luyện thân thể ngày một nâng cao Nhu cầu rèn luyệnthân thể cũng ngày càng đa dạng hóa và cá biệt hóa Vì vậy đã xuất hiện rấtnhiều hình thức rèn luyện thân thể mới Những cách rèn luyện thân thể mới nàylàm cho nội dung của phong trào thể dục thẩm mỹ thêm phong phú hơn, phùhợp với nhu cầu của đông đảo tầng lớp nhân dân, đem lại hiệu quả rèn luyệnthân thể cao
1.3.3 Nhóm các môn thể thao giải trí mang tính trí tuệ
Nhóm các môn Cờ:
Nhóm môn Cờ bao gồm cờ vua, cờ tướng, cờ vây Nhóm môn này rấtphổ biến trong xã hội từ xưa cho tới nay, thu hút rất nhiều người tham gia chơi,người trẻ thường chơi cờ vua, người già thường chơi cờ tướng, cờ vây Trướcđây chỉ có cờ vua được đưa vào các giải thi đấu lớn, nhưng hiện nay, cờ tướng
và cờ vây cũng đã có luật chặt chẽ và được đưa vào thi đấu chính thức Ngoàiviệc thi đấu thì đây cũng là những môn rất được người dân yêu thích bởi tính trítuệ, không tốn kém, người chơi có thể dùng môn này để giải trí và có thể chơibất cứ lúc nào Chính vì vậy nhóm môn này thu hút rất nhiều người dân lao độngtập và chơi
Trang 23Thể thao điện tử (E-Sport):
Trò chơi thể thao điện tử là môn thể thao trí tuệ công nghệ cao, kết hợp sựphát triển của công nghệ thông tin với thể dục thể thao trong xã hội hiện đại Đó
là các trò chơi điện tử được thiết kế theo dạng thi đấu thể thao đối kháng, đảmbảo tính văn hóa, giáo dục Người chơi phải đảm bảo sự điều độ, tính vừa sức đểtăng cường sức khỏe tinh thần và thể chất, có lợi cho hoạt động sáng tạo của hệthần kinh Tuy nhiên, môn thể thao phổ biến trên thế giới này vẫn còn quá mới
mẻ đối với người lao động Việt Nam
Môn câu cá:
Ở châu Á, câu cá đã có lịch sử khá lâu đời, có rất nhiều điển tích đã ghichép lại chuyện câu cá của người xưa Ngày nay, chất lượng cuộc sống của nhândân ngày càng được cải thiện, thời gian dành cho nghỉ ngơi, thư giãn và giải trícũng ngày một nhiều hơn Câu cá là môn thể thao thân thể yên tĩnh, vận động trínão, vận dụng cả về tâm hồn và thể xác, tức là vận động trong sự tĩnh lặng Câu
cá đương nhiên là hoạt động thư thái, nhàn hạ tuy nhiên nếu không câu được cáthì cũng sẽ dẫn đến sự nhàm chán Hoạt động câu cá trông có vẻ nhàn nhãnhưng thực chất người câu phải có vận dụng rất nhiều kỹ năng, kỹ xảo thì mớicâu được cá Và tất cả những điều này cần phải học và trải qua kinh nghiệm thựctiễn dày dạn mới mong đạt hiệu quả Hoạt động câu cá có lợi cho việc giải tỏastress, giải tỏa mệt nhọc do cuôc sống mang lại, có lợi cho sức khỏe Chính vìvậy, câu cá là môn ngày càng được nhiều người đón nhận, hưởng ứng và thamgia
1.3.4 Nhóm các môn thể thao giải trí mạo hiểm
Môn leo núi (vách núi nhân tạo):
Leo núi là môn thể thao mà con người sử dụng chính bản năng leo trèo từthời nguyên thủy của loài người, sử dụng các trang thiệt bị làm vật dụng bảođảm an toàn leo, trèo lên các vách núi, khe núi đá dựng đứng hoặc leo lên váchnúi nhân tạo
Leo núi là một môn thể thao rèn luyện thân thể rất tốt, đặc điểm nổi bậtcủa nó là mang tính mạo hiểm rất cao, tính nghệ thuật, tính kích thích, tính cạnh
Trang 24tranh và rất thú vị Chính vì vậy dù là môn thể thao rất thu hút sự quan tâmnhưng không có nhiều người tham gia tập luyện, chủ yếu người ta chỉ xem màthôi.
Trượt patanh trên ván:
Ở nước ta, trượt patanh được coi là một môn thể thao giải trí, nó đã xuấthiện ở các thành phố ở phía Nam từ những năm 50, ở các thành phố phía Bắcvào những năm 90 Patanh được rất nhiều thanh thiếu niên ưa chuộng bởi tínhtốc độ và mạo hiểm của trò chơi Phong trào xây dựng sân trượt patanh rộ lênmột cách sâu rộng ở nước ta những năm 90 theo hình thức dịch vụ thu tiền Vàsau đó do nhiều lý do nên môn patanh ít được duy trì và phát triển Hiện nay,phong trào này lại được phát triển ở một số thanh thiếu niên, trượt theo sở thíchmạo hiểm và chủ yếu chỉ con trai mới tập, tập ở những công viên, các nơi cótượng đài, tức là chỗ tập rộng rãi Ở nước ta hiện chưa có môn nhào lộn trượtlòng chảo
Đua ca nô, lướt ván trên nước:
Đua ca nô là một trong những môn thể thao trên mặt nước có tính mạohiểm, tính nghệ thuật cao và mang đậm kỹ thuật hiện đại Các cuộc đua ca nôđều rất kịch tính, đặc sắc và sức thu hút người xem rất lớn Đây cũng là môn thểthao giải trí mạo hiểm được nhiều người ưa thích bới nó giúp người tham gia cócảm giác được trở về với thiên nhiên
Lướt ván cũng được xếp vào nhóm môn thể thao giải trí mang tính mạohiểm cao Vận động viên mượn lực kéo trên mặt nước, sử dụng nhiều yếu tố tâm
lý, kỹ năng và thể lực để điều khiển ván Lướt ván có tiết tấu mạnh, các động tácxoay nhảy , xoay tròn như đang đùa vui trên mặt nước, giống như diễn viên múabalê
Tóm lại, trên thế giới có rất nhiều các môn thể thao giải trí mạo hiểm,phạm vi đề tài chỉ trình bày một số môn phổ biến Tuy nhiên, ở Việt Nam ta cácmôn thể thao giải trí mạo hiểm này không dành cho những người lao động màchỉ có thể dành cho những người ưa thích mạo hiểm, tập để trở thành vận độngviên, và số đó cũng rất ít
Trang 251.3.5 Nhóm các môn thể thao giải trí mang tính dân tộc, thể dục dưỡng sinh, gần với thiên nhiên
Các môn thể dục dưỡng sinh, thể thao giải trí mang tính dân tộc, gần vớithiên nhiên có sức thu hút đặc biệt đối với con người, được hàng chục triệungười tham gia tập luyện Đề tài chỉ trình bày một số môn tiêu biểu
Môn đá cầu:
Đá cầu được hình thành và phát triển từ những trò chơi dân gian, dướinhiều hình thức khác nhau, tùy thuộc vào mỗi địa phương, vùng miền mà mangnhững hình thái và màu sắc đặc trưng riêng
Trải qua nhiều thế kỷ, trò chơi đá cầu vẫn được tồn tại, duy trì và phát triểnrộng khắp trên cả nước, và mang đặc thù của từng giai đoạn lịch sử nhất định, cũngnhư theo phong tục, truyền thống của từng địa phương
Như vậy qua một quá trình tồn tại và phát triển, môn đá cầu đã khẳngđịnh vị trí của mình cũng như các môn thể thao khác trong xã hội Trong nhữngnăm gần đây, môn đá cầu đã trở thành một môn học trong chương trình nội khoá
và ngoại khoá không chỉ trong các trường chuyên nghiệp thể dục thể thao, màcòn trong các trường phổ thông toàn quốc ở nước ta Đặc biệt phong trào đá cầucòn trở nên phổ biến đối với những người lao động, họ có thể tập bất cứ lúc nào,sáng, giữa giờ nghỉ giải lao hay tập vào buổi chiều sau giờ làm việc
Môn nhảy dây:
Nhảy dây là một phương tiện rèn luyện thân thể đơn giản dễ thực hiện màlại đạt hiệu quả cao, là một trong những trò chơi dân gian được phổ biến khárộng rãi và có lịch sử ra đời từ hàng nghìn năm nay, được nhiều người yêu thích
và tập luyện ở các nước Châu Á Nhảy dây được ví như một môn thể thao phổcập rộng rãi và thường xuyên tổ chức thành các cuộc thi đấu ở trong các nhàmáy, xí nghiệp, doanh trại bộ đội, trường học… Hình thức thi đấu chủ yếu lànhảy tốc độ cá nhân, nhảy đông người dây dài và nhảy số lần
Nhảy dây không bị hạn chế bởi số người tham gia, địa điểm vui chơi, thờigian, thời tiết, giới tính, tuổi tác… yêu cầu về thiết bị và dụng cụ phục vụ tậpluyện khá đơn giản Đây là phương tiện luyện tập sức khoẻ thực dụng nhất, tiết
Trang 26kiệm nhất và đạt hiệu quả không nhỏ, nhưng cho đến nay vẫn chưa trở thànhmôn thể thao trong các cuộc thi đấu chính thức.
Môn kéo co:
Kéo co cũng được gọi là một môn thể thao, kéo co không đòi hỏi nhiều vềdụng cụ và sân bãi, và cũng ít tốn kém Nó cũng được coi là môn thể thao dângian lâu đời, người ta thường tổ chức thi kéo co trong các lễ hội, các phong tràothi đấu thể thao trong các cơ quan hành chính, các xí nghiệp
Môn Yoga:
Ở nước ta trước đây khi nói đến Yoga người ta liên tưởng ngay đến nhữngngười có khả năng kỳ lạ như chân không đi trên đám than đỏ hồng, mình trầnnằm trên mặt bàn đầy đinh nhọn, bị chôn sâu dưới đất kín trong nhiều ngày màvẫn sống, hoặc có khả năng điều khiển được rắn hổ mang bằng âm nhạc như cácPhakia ở ấn độ… nếu chỉ hiểu Yoga như vậy thì có phần chưa đủ và sai lệch
Yoga theo nguồn gốc chữ Phạn là kết hợp, kết hợp thể xác với tâm trí, kếthợp con người với vũ trụ, kết hợp Bản ngã cá nhân, ý thức cá nhân với ý thức
Vũ trụ, kết hợp cái hữu hình với cái vô hình, cái hữu hạn với cái vô hạn
Nói cách khác, Yoga là một lối sống, một hệ thống rèn luyện thống nhất
cơ thể, tâm trí và tâm linh Yoga là sự hợp nhất Có thể nói vắn tắt Yoga là mộtphương pháp rèn luyện qua đó con người có thể mạnh khoẻ cả thể xác và tâmhồn, ngăn ngừa và đẩy lùi bệnh tật, đồng thời qua đó có thể phát triển trí tuệ lêncao không ngừng, đạt tới sự hiểu biết rất sâu - hiểu biết chính bản thân và conngười trở nên bình an, hạnh phúc…
Cuộc sống ngày nay đầy những căng thẳng Mặc dù chúng ta đã đạt mức
độ cao về phát triển của cải vật chất, chúng ta đang phải đối mặt với nhịp sốngcuồng nhiệt, dẫn tới gia tăng những căng thẳng và mỏi mệt
Cho dù đạt được thành quả tiên tiến nhiều người vẫn cảm thấy bất an vàkhông hạnh phúc vì cuộc sống không còn quân bình nữa Cảm giác bất ổn vớimôi trường xung quanh và thói xấu của cá nhân cũng làm tăng thêm trạng tháicăng thẳng này Và hậu quả của chúng là những bệnh tật về thể chất, tinh thần
Trang 27và tâm lý đa dạng như chán nản, trầm uất, quá khích, bệnh tim mạch và ngay cảbệnh ung thư.
Yoga đưa ra một giải pháp thực tiễn và đơn giản cho những vấn đề này vàgiúp tìm sự quân bình trong cuộc sống của mình Nó giúp ta giải quyết có hiệuquả nhiều thách thức cần phải đối mặt hàng ngày, đạt được sức mạnh, thànhcông và hạnh phúc - điều mà tất cả chúng ta mong muốn
Yoga tách ý thức ra khỏi những bề bộn của cuộc sống và giúp ta có thểđương đầu với các tác động của stress trong sự thăng bằng và tự nhiên nhất Tấtnhiên hiệu quả đối với việc trị liệu tinh thần không thể thấy ngay được vì Yoganhắm tới nguyên nhân chứ không phải là triệu chứng của stress Do vậy, cầnthực hành thường xuyên và kiên trì các tư thế với luyện thở vì chúng sẽ đem lạinguồn năng lượng dồi dào cho cơ thể, thúc đẩy sự tăng trưởng của các tế bào vàxoa dịu sự căng thẳng của các cơ bắp và xoa dịu thần kinh
Chính vì lợi ích của môn này mà ngày càng có nhiều người lao động bắtđầu tìm đến Yoga để giảm căng thẳng, và coi đó là một môn thể thao hữu hiệu
để giải tỏa stress, lấy lại tinh thần sau những mệt mỏi của công việc và cuộcsống Tuy nhiên không phải ai cũng có đủ thời gian, lòng kiên trì để tập luyệnmôn này
Môn Thái cực trường sinh:
Thái cực trường sinh là bài tập do cụ Nguyễn Song Tùng (Hiệp hội câulạc bộ UNESCO Việt Nam) biên soạn, dựa theo lý thuyết dưỡng sinh phươngĐông Lý thuyết dưỡng sinh phương đông rất phong phú đa dạng Thái cựctrường sinh cố gắng vận dụng tối đa lý thuyết này để đem lại hiệu quả cao vềsức khoẻ tinh thần và thể chất cho người tập
Hiện nay, Thái cực trường sinh đã được phổ biến ở 40 tỉnh thành ở nước
ta Môn này rất tốt cho sức khỏe và chủ yếu những người già thường hay sửdụng để duy trì và nâng cao sức khỏe
Môn đi bộ:
Đi bộ là môn thể thao đơn giản và dễ tập nhất đối với mọi người Nómang lại hiệu quả cao đối với sức khỏe con người Đi bộ với tốc độ chậm, vừa
Trang 28sức Mỗi ngày có thể tập đi bộ dưỡng sinh từ 2 -7km tuỳ theo sức khoẻ Thờigian tập đi bộ dưỡng sinh có thể vào sáng hay chiều, khi trời mát, không quálạnh hay nắng gắt Sau khi ăn cơm tối thiểu 1 giờ mới có thể tập đi bộ.
Trên đây chỉ giới thiệu một số môn TDTT phổ biến Nhưng theo quanniệm hiện đại, bất kỳ một môn thể thao nào hiện có hoặc bất kỳ bài tập thể chấtnào nếu biết tổ chức cũng đều có thể trở thành môn thể thao giải trí
1.4 Các nghiên cứu có liên quan
Nghiên cứu về GDTC và thể thao cho đến nay ở nước ta thật không thiếu
Ta có thể kể ra một số nghiên cứu như: Vũ Thị Ngọc Thư về “ảnh hưởng của tậpluyện thể dục thẩm mỹ tới sức khỏe của phụ nữ lứa tuổi 18-35” [37]; NguyễnVăn Hùng về “động cơ và hiệu quả tham gia tập luyện TDTT quần chúng củaphụ nữ từ 21-55 tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh” [18]; Vũ Đức Văn về “một sốbiện pháp nâng cao thể lực cho học sinh trung học cơ sở thành phố Hải Phòng”[43]; Vũ Đức Thu và cộng sự về “định hướng và giải pháp đào tạo bồi dưỡngđội ngũ cán bộ, giáo viên TDTT trường học” [36]
Tuy nhiên, nghiên cứu về TDTT giải trí thì đang còn quá hiếm hoi, cóchăng là những bài viết có tính chất tổng quan, phản ánh ý tưởng Vấn đề này,chúng ta không thể không kể đến Dương Nghiệp Chí, Lương Kim Chung và LêTấn Đạt như là những người đi tiên phong trong thể thao giải trí ở nước ta [5].Lương Kim Chung cũng có bài viết, trong đó xem TDTT giải trí là có chức năngkinh tế - kinh tế dịch vụ, tạo ra giá trị sản phẩm phi vật chất để thỏa mãn nhucầu tiêu thụ của con người [9]
Trương Hồng Đàm lại quan tâm tới lý luận TDTT giải trí, trong đó đặcbiệt nhấn mạnh đến giải trí và thể thao giải trí [12]
Còn Chu Hồng Bình, Tô Gia Phúc lại nêu vấn đề có tính thực tiễn hơnbằng cách tiến hành giải trí hóa giờ học điền kinh để tạo nên sự hứng thú cầnthiết trong việc dạy học ở môn này nhằm khắc phục sự thờ ơ của đông đảo sinhviên chuyên sâu điền kinh [2]
Diệp Gia Bảo và Tô Liên Dũng trong “khái luận TDTT” đã quan tâmnhấn mạnh chức năng giải trí của TDTT, một trong năm chức năng chủ yếu của
Trang 29TDTT: chức năng kiện thân, chức năng giải trí, chức năng giáo dục, chức năngchính trị và chức năng kinh tế Về chức năng giải trí của TDTT, hai tác giả đãchỉ ra 4 biểu hiện chủ yếu Trước hết là TDTT làm tăng cường sức sống, có sựkhoái cảm về năng lượng phát ra; hai là điều tiết cảm xúc làm con người nhậnđược cảm giác tự do, giải phóng; ba là, TDTT làm con người thể hiện được nănglực của mình, cảm nhận được sự khoái lạc về việc tự thực hiện năng lực củamình và bốn là, TDTT giúp hưởng thụ cái đẹp, đưa đến sự vui vẻ về mặt tinhthần [1].
Lê Hoài Nam (2009), “Nghiên cứu vai trò của thể thao giải trí đối vớingười lao động trí óc trong thời kỳ Công nghiệp hoá và Hiện đại hoá đất nước”,luận văn thạc sĩ [23]
Nguyễn Văn Hùng (2009) “Ảnh hưởng của việc tập luyện TDTT đối vớimột số chỉ số thể chất và tâm lý của phụ nữ TP HCM”, Tạp chí "khoa học thểthao" số 2 [18]
Trang 30CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài sẽ sử dụng các phương phápnghiên cứu sau:
2.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Phương pháp này cho phép thu thập các thông tin có liên quan đến đề tài,
là phương pháp sử dụng rộng rãi hầu hết trong các công trình nghiên cứu về lýluận cũng như về sư phạm Nó giúp cho người nghiên cứu tổng hợp các tri thứccần thiết có liên quan đến đề tài của những tác giả trong và ngoài nước Từnhững phương pháp ấy, người nghiên cứu hình thành những luận cứ, xây dựnggiả định khoa học, xác định các nhiệm vụ nghiên cứu và kiểm chứng kết quả quátrình thực hiện các đề tài, đồng thời hệ thống hoá các kiến thức có liên quan đếnlĩnh vực nghiên cứu, hình thành cơ sở lý luận về cách thức kiểm tra đánh giámột cách toàn diện, đề xướng các giả thuyết khoa học, xác định mục đích,nhiệm vụ nghiên cứu
Khi sử dụng phương pháp nghiên cứu này đề tài đã tham khảo nhiềunguồn tư liệu khác nhau, chủ yếu là các nguồn tư liệu thuộc thư viện trường Đạihọc TDTT Bắc Ninh, các tạp chí TDTT, báo mạng
2.1.2 Phương pháp phỏng vấn tọa đàm
Phương pháp này được đề tài sử dụng trong quá trình nghiên cứu nhằmmục đích tìm hiểu thực trạng việc tập luyện thể thao của giảng viên Trường Đạihọc Sư phạm - Đại học Đà Nẵng, quan điểm của họ về việc luyện tập thể thaogiải trí, môn thể thao ưa thích của họ
Đối tượng mà đề tài phỏng vấn là cán bộ chuyên trách công tác TDTT củatrường, các cán bộ y tế của trường, tập thể giảng viên của trường
- Hình thức phỏng vấn trực tiếp: Đề tài trao đổi trực tiếp với các giảng
viên, cán bộ y tế của trường, cán bộ quản lý thể thao để biết được tình hình sứckhỏe, điều kiện công việc và suy nghĩ của họ về việc tập luyện thể thao
Trang 31- Hình thức phỏng vấn gián tiếp: Phương pháp phỏng vấn gián tiếp bằng
phiếu hỏi nhằm thu thập số liệu về môn thể thao ưa thích của cán bộ công nhânviên chức
2.1.3 Phương pháp quan sát sư phạm
Đề tài sử dụng chủ yếu phương pháp quan sát dạng test sư phạm, quan sáthình thức nội dung, phương pháp tổ chức các hoạt động vận động, quan sáttrạng thái sức khỏe, của đối tượng nghiên cứu Thông qua đó đề tài điều chỉnhđược lượng vận động để nâng cao hiệu quả làm việc của đối tượng
2.1.4 Phương pháp y sinh học
Phương pháp này được tiến hành để kiểm tra sức khỏe trước và sau thựcnghiệm, cụ thể là đo:
Chỉ số 1: Chiều cao đứng (m)
- Mục đích: Là chiều cao được đo từ mặt phẳng đối tượng đứng đến đỉnh đầu
- Dụng cụ đo: Thước thẳng của Trung Quốc, dài 2m, chính xác đến mm
- Đơn vị đo: m (mét)
- Thực hiện: Người được đo đứng ngay ngắn, hai gót chân chạm vàonhau, hai tay buông sát hông, bàn tay úp vào mặt ngoài của đùi, duỗi hết cáckhớp, cổ cột sống, hông, gối, mắt nhìn thẳng, yêu cầu gờ dưới hốc mắt và ốngtai ngoài cùng nằm trên một mặt phẳng ngang
Chỉ số 2: Cân nặng (kg)
- Mục đích: Kiểm tra trọng lượng của người tập
- Dụng cụ kiểm tra: Cân bàn điện tử, chính xác đến 0.01kg
- Cách thức kiểm tra: Người được kiểm tra mặc quần áo mỏng, chânkhông đi giầy, dép… Ngồi trên ghế, đặt hai bàn chân lên bàn cân rồi mới tư từđứng thẳng lên
- Đơn vị tính: Kg
Chỉ số 3: Chỉ số BMI (Body Mass Index)
- Mục đích: Xác định mối quan hệ sinh học giữa yếu tố môi trường (cân nặng)
và yếu tố di truyền (chiều cao) trong quá trình phát triển cơ thể của con người
BMI = cân năng (kg) /chiều cao2(m)
Trang 32- Cách đánh giá: Theo tổ chức y tế thế giới (WHO)
BMI < 18,5: Là thiếu cân và quá gầy
18,5 ¿ BMI ¿ 24,9: Là phát triển bình thường
25 ¿ BMI ¿ 29,9: Là tiền béo phì
30 ¿ BMI ¿ 34,9: Là béo phì độ 1
35 ¿ BMI ¿ 39,9: Là béo phì độ 2
BMI > 39,9: Là béo phì độ 3
Chỉ số 4: Đo mạch đập của tim (lần/phút)
- Mục đích: Kiểm tra chỉ số tim mạch của đối tượng nghiên cứu
- Dụng cụ kiểm tra: Máy đo huyết áp điện tử Omron
- Cách thức kiểm tra: Người được kiểm tra ngồi thẳng lưng, chân đặt songsong trên sàn nhà Băng quấn túi hơi nằm vùng trên khuỷu tay, ngang với tim.Dây đo ống nghe đặt lên động mạch cánh tay Đọc kết quả: Nhịp tim
- Đơn vị tính: Số lần/phút
Chỉ số 5: Đo huyết áp (mmHg)
- Mục đích: Kiểm tra chỉ số huyết áp của đối tượng nghiên cứu
- Dụng cụ kiểm tra: Máy đo huyết áp điện tử Omron
- Cách thức kiểm tra: Người được kiểm tra ngồi thẳng lưng, chân đặt songsong trên sàn nhà Băng quấn túi hơi nằm vùng trên khuỷu tay, ngang với tim.Dây đo ống nghe đặt lên động mạch cánh tay Đọc kết quả: huyết áp tâm thu(huyết áp tối đa), huyết áp tâm trương (huyết áp tối thiểu)
- Đơn vị tính: Số lần/phút
2.1.5 Phương pháp kiểm tra sư phạm
Phương pháp kiểm tra sư phạm nhằm đánh giá sự phát triển thể lực chung(sức khỏe) của đối tượng nghiên cứu Quá trình kiểm tra sẽ tiến hành theo cácchỉ tiêu sau:
Chỉ tiêu 1: Lực bóp tay thuận
- Mục đích: Sử dụng test này để đánh giá sức mạnh của tay thuận, qua đóbiết được mức độ phát triển sức mạnh của cơ bắp của chi trên đối với ngườiđược kiểm tra
Trang 33- Dụng cụ đo: Sử dụng lực kế bóp tay điện tử.
- Đơn vị đo: (KG)
- Thực hiện: Người thực hiện đứng dạng hai chân bằng vai, tay thuận cầmlực kế đứng thẳng, tạo nên góc 45o so với trục dọc của cơ thể Tay còn lại duỗithẳng tự nhiên xuôi theo hai đùi Cầm lực kế trong lòng bàn tay, kim có hướng
ra ngoài lòng bàn tay, các ngón tay nắm chặt tay cầm lực kế và bóp hết sức (bópđều, từ từ, gắng sức trong vòng 2 giây) Không bóp giật cục hay thêm các độngtác trợ giúp của thân người, hoặc động tác thừa
- Cách đánh giá: Người được kiểm tra bóp lực kế 2 lần, nghỉ giữa mỗi lần
là 15 giây, lấy kết quả lần cao nhất
Chỉ tiêu 2: Nằm ngửa gập bụng (lần /30 giây)
- Mục đích: Sử dụng test này để đánh giá sức bền của nhóm cơ bụng củangười tập
- Dụng cụ đo: Đồng hồ bấm giây, thảm vuông kích thước 1.5m x 1.5m
- Đơn vị đo: Số lần đạt được
- Thực hiện: Người được kiểm tra ngồi chân co 900 ở đầu gối 2 bàn chân
áp sát sàn, hai tay để sau gáy Một học sinh khác hỗ trợ bằng cách hai tay giữ ởphần dưới cẳng chân, nhằm không cho bàn chân người được kiểm tra tách rakhỏi sàn Người thực hiện ngả lưng ra sau cho tới khi chạm mặt sàn thì dùng sức
Trang 34Chỉ tiêu 4: Chạy 30m xuất phát cao
- Mục đích: Sử dụng test chạy 30m xuất phát cao để đánh giá khả năng về
tố chất sức nhanh của người thực hiện
- Dụng cụ đo: Đồng hồ điện tử lấy thành tích chính xác đến phần 10 giây.+ Cách thực hiện: Người thực hiện đứng ở tư thế xuất phát cao khi cólệnh xuất phát thì dùng hết sức chạy thật nhanh qua cự ly quy định
- Cách đánh giá: Tính bằng giây
Chỉ tiêu 5: Dẻo gập thân
- Mục đích: Đánh giá độ mềm dẻo của cơ, khớp hông, dây chằng và độmềm dẻo của cột sống
- Dụng cụ đo: Thước gỗ dài 4cm, mỏng có chia thang độ cm Điểm 0 ởgiữa thước Từ điểm 0 chia về 2 đầu thước, mỗi đầu 20cm Gắn điểm 0 củathước vào mép mặt phẳng của bục gỗ hay ghế có chiều cao tối thiểu là 20cm
- Đơn vị đo: cm
- Thực hiện: Người được kiểm tra đứng trên bục gỗ, hai chân rộng bằngvai, đầu ngón chân sát mép bục, hai chân thẳng (gối thẳng) Từ từ cúi xuống,bàn tay úp và các ngón tay duỗi thẳng Cố gắng với ngón tay giữa chạm dọctheo thước đo, sau đó cố gắng với sâu qua mặt thẳng của bục đang đứng trên đó
- Cách đánh giá: Có hai trường hợp
+ Đầu ngón tay không qua được mặt phẳng của bục Đó là kết quả (-).VD: - 3cm hoặc – 5cm Như vậy tay cách mặt phẳng bàn chân là 3cm, 5cm.+ Đầu ngón tay với sâu quá mặt phẳng của bục, có kết quả dương (+),VD: + 3cm, + 5cm Tức là với tay qua mặt phẳng mà chân người đượckiểm tra đứng là 3cm, 5cm
Trước khi vào kiểm tra người được kiểm tra khởi động kỹ để cơ lưng dẻo ra
Chỉ tiêu 6: Chạy tuỳ sức 5 phút
- Mục đích: Sử dụng test này để đánh giá sức bền chung (khả năng ưa khí)của người tập
- Dụng cụ đo: Đồng hồ bấm giây
- Đơn vị đo: Giây
Trang 35- Thực hiện: Người thực hiện đứng ở tư thế xuất phát cao, khi có lệnhxuất phát thì bắt đầu chạy cho đến hết cự ly.
- Cách đánh giá: Tính bằng mét (m)
Ngoài phương pháp kiểm tra y sinh học và kiểm tra sư phạm đề tài tiếnhành đánh giá năng lực (khả năng) của giảng viên Trường Đại học Sư phạm -Đại học Đà Nẵng thông qua 3 tiêu chí:
Tiêu chí 1: Năng lực chuyên môn
Năng lực chuyên môn đề tài đánh giá đó là bằng cấp, học hàm, học vị củagiảng viên Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng
Tiêu chí 2: Năng lực nghiên cứu
Giảng viên hoàn thành nghiên cứu khoa học (đề tài, bài báo…) theo quyđịnh hàng năm
Tiêu chí 3: Năng lực giảng dạy
Năng lực giảng dạy được đánh giá từ hai phía:
- Kết quả “Phiếu khảo sát ý kiến người học về giảng viên” của Tổ khảo
thí
- Kết quả dự giờ từ phía đồng nghiệp của khoa, bộ môn, công đoàntrường, ban thi đua khen thưởng và ban thanh tra của trường
Tiêu chí 4: Năng lực tham gia các hoạt động đoàn thể
- Năng lực này được đánh giá từ phía khoa, bộ môn
Tiêu chí 5: Đánh giá, phân loại công chức, viên chức hàng năm
2.1.6 Phương pháp toán học thống kê
Đề tài sử dụng toán thống kê nhằm mục đích tính toán số liệu đảm bảokhách quan khi đánh giá các chỉ số trong quá trình nghiên cứu
Đề tài sử dụng các công thức sau:
- Số trung bình: x− =
∑
i=1
n xi n
Trang 362 : Là phương sai của hai tập hợp A và B.
n1, n2 : Là số lượng giảng viên tham gia thực nghiệm ở nhóm A và B
+ V1: Kết quả kiểm tra lần trước của các chỉ tiêu
+ V2: Kết quả kiểm tra lần sau của các chỉ tiêu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
+ Ứng dụng thể thao giải trí đối với người hoạt động trí óc nhằm nâng caokhả năng làm việc cho giảng viên trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng
+ Khách thể nghiên cứu: Giảng viên Trường Đại học Sư phạm - Đại học
Đà Nẵng
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 37- Đối tượng quan trắc: Giảng viên Trường Đại học Sư phạm - Đại học ĐàNẵng.
- Quy mô nghiên cứu:
+ Số lượng mẫu nghiên cứu: 200 giảng viên trường Đại học Sư phạm Đại học Đà Nẵng (80 giảng viên nam, 120 giảng viên nữ) chia làm 2 nhóm:
-Nhóm thực nghiệm được đề tài chọn ngẫu nhiên 100 giảng viên (40 giảngviên nam, 60 giảng viên nữ)
Nhóm đối chứng là số giảng viên còn lại 100 giảng viên (40 giảng viênnam, 60 giảng viên nữ)
+ Địa điểm nghiên cứu: Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng,Trường Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh
+ Thời gian nghiên cứu: Đề tài được tiến hành nghiên cứu trong 2 năm, từtháng 11 năm 2012 đến tháng 10 năm 2014 Chia làm 4 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Từ tháng 11/2012 tới tháng 01/2013
Lựa chọn vấn đề nghiên cứu, xây dựng đề cương và bảo vệ đề cươngnghiên cứu trước hội đồng khoa học
Giai đoạn 2: Từ tháng 02/2013 tới tháng 5/2014
- Nghiên cứu các cơ sở lý luận của đề tài Cụ thể gồm: Thu thập tư liệu,xác định quan điểm, định hướng nghiên cứu, xác định phương pháp nghiên cứu,
đề ra mục tiêu và các vấn đề cần làm sáng tỏ trong quá trình nghiên cứu, chuẩn
bị đối tượng và phương tiện cần thiết để tiến hành giải quyết các mục tiêu của đềtài
- Giải quyết các nhiệm vụ của đề tài
Giai đoạn 3: Từ tháng 6/2014 tới tháng 10/2014
Viết hoàn chỉnh luận văn và bảo vệ trước hội đồng khoa học
Trang 38CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1 Đánh giá thực trạng năng lực của giảng viên và ảnh hưởng của việc tập luyện thể thao giải trí đối với người lao động trí óc
3.1.1 Ảnh hưởng của thể thao giải trí tới năng lực làm việc của người lao động trí óc
Trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhiều loại lao động
có đặc điểm là ít hoạt động (vận động tích cực bị hạn chế) hoặc yêu cầu tươngđối đơn điệu với khả năng chức phận của cơ thể, vẫn chưa có khả năng loại trừtất cả những điều kiện có khả năng làm nảy sinh những bệnh và thương tật nghềnghiệp, nhiều loại lao động lại đòi hỏi phải có sự chuẩn bị chuyên môn và tấtnhiên không một loại lao động nào mà kết quả lại không phụ thuộc (dù là giántiếp) vào trình độ thể lực chung và sức khoẻ [27]
Trong thời kỳ CNH - HĐH lao động cơ bản dần dần thay thế và bổ sungbởi lao động trí tuệ, lao động thần kinh trước những máy móc hiện đại, thông tinđiều kiện tinh vi, phức tạp Do sự phát triển của khoa học kỹ thuật, phương thứcsản xuất và sinh hoạt có sự thay đổi đáng kể, do đó xuất hiện một căn bệnhmang tính thời đại là "bệnh văn minh", tạo nên những stress có nguy cơ làm chosức khoẻ giảm sút và như vậy sẽ không phù hợp với đòi hỏi của CNH-HĐH Đó
là vấn đề nan giải của y học hiện đại, vì vậy phương pháp có hiệu quả là hạn chế
ô nhiễm môi trường và tăng cường luyện tập TDTT Cho nên luyện tập TDTT,tăng cường giáo dục thể chất còn là biện pháp hữu hiệu không những chỉ có tácđộng đến việc tăng cường sức khoẻ về thể chất lẫn tinh thần, mà còn góp phầnchủ động ngăn ngừa những stress do bệnh văn minh thời đại gây ra, góp phầngiữ gìn và ngày càng bổ sung cho lực lượng sản xuất con người
Để thấy rõ vị trí TDTT đối với người lao động trí óc đã có không ít các tàiliệu đề cập
Theo dẫn liệu của Diệp Gia Bảo và Tô Liên Dũng thì nhà triết học ĐứcSubenh cho rằng: “Điều thúc đẩy tâm tính khoái lạc không phải là sự giàu sang,
Trang 39trái lại là sức khỏe; chỉ có sức khỏe mới có thể làm nẩy lên những đóa hoa khoáilạc Có sức khỏe, mọi việc đều cảm thấy thoải mái, không có sức khỏe cũng làmmất đi sự khoái lạc” [1] Như vậy, sức khỏe là cội nguồn của tâm tình thoải mái,vui vẻ
Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu của chúng ta đã nói: "Người có sức khoẻ
có hàng trăm điều ước, người không có sức khoẻ chỉ có một ước muốn duy nhất
là có sức khoẻ"
Quan niệm về sức khỏe của Chủ tịch Hồ Chí Minh bao gồm sự lành mạnh
cả về thể xác lẫn tinh thần Người định nghĩa: “ngày nào cũng tập thể dục thì khíhuyết lưu thông, tinh thần đầy đủ, như vậy là sức khỏe” Bác còn nêu gương: “tựtôi ngày nào cũng tập”
Bác Hồ chơi bóng chuyền với các chiến sĩ bảo vệ (Ảnh tư liệu)
Trên trang phununet.com có bài: “Tập luyện sức khỏe” đã viết:
“Một nhà tư tưởng đã nói một câu nổi tiếng là: “Cuộc sống là vận động”Aristốp, nhà tư tưởng vĩ đại người Hy Lạp nói: “Cuộc sống cần có sự vận động”
Muốn khỏe mạnh và sống lâu phải vận động và rèn luyện thân thể Cókhỏe mạnh mới đẩy lùi được sự suy thoái, mới có khả năng phòng ngừa được
Trang 40các nhân tố suy thoái và bệnh tật của người già Tổ chức Y tế thế giới (WTO) đãphân chia con người theo tuổi tác như sau: Từ 44 tuổi trở xuống được coi là trẻ,
từ 45 đến 59 tuổi được coi là trung niên, từ 60 – 75 tuổi được coi là già, từ 90tuổi trở lên được coi là thượng thọ
Aristốp, nhà tư tưởng Hy Lạp cổ đại nói: “Cái dễ làm con người suy thoái,chóng già là thiếu sự rèn luyện thường xuyên” Một bác sĩ người Mỹ đã đưa rakết luận: Một người thiếu rèn luyện thường xuyên sẽ dễ dẫn đến tính tình thấtthường Những người có tuổi quanh năm ngồi làm việc ở văn phòng, ít vận độngthì hồng cầu sẽ bị giảm dần, sự tích tụ chất béo ngày càng tăng, xương cốt sẽngày càng thiếu chất canxi Ông còn chỉ ra rằng năng rèn luyện có thể ngăn chặnđược sự suy thoái Những người lớn tuổi và người thiếu ngủ sẽ bị giảm sút nănglực hấp thụ oxy, còn người thường xuyên tập luyện thì lại có khả năng khốngchế sự giảm sút đó.Chính vì lý do đó mà người ta nói rằng tích cực tập luyện sẽlàm cho trái tim, cơ bắp và gân cốt của người già khỏe như người 40 tuổi, cónghĩa là: Một ông già 70 tuổi thường xuyên tập luyện thì các chức năng làm việccủa tim mạch, cơ bắp, gân cốt sẽ chẳng khác gì một thanh niên 30 tuổi ít tậpluyện Do đó, có thể thấy: cơ thể khỏe mạnh sẽ có ý nghĩa quan trọng như thếnào đối với những người lao động trí óc…”
Bí quyết vận động để tăng cường sức khỏe
Bí quyết vận động để tăng cường sức khỏe chính là ở chỗ vận động có thểcải thiện được hoạt động của các hệ thống tuần hoàn, hô hấp, thần kinh, tiêuhóa, giúp nâng cao khả năng thích ứng của cơ thể với môi trường bên ngoài
- Tập luyện sẽ tăng cường khả năng làm việc của tim và huyết quản
- Vận động có thể cải thiện được khả năng của hô hấp
- Vận động làm cho gân cốt khỏe mạnh
- Vận động sẽ tăng cường khả năng của hệ thần kinh, nâng cao năng lựcđiều phối
- Vận động sẽ tăng cường khả năng hoạt động của hệ tiêu hóa
- Vận động sẽ nâng cao khả năng bài tiết, tăng cường khả năng tạo máu