1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chính sách khuyến khích xuất khẩu của trung quốc và bài học kinh cho việt nam

36 385 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 2,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thực hiện được mục tiêu điều chỉnh phù hợp, chúng ta cần học tập kinh nghiệm lâu năm của các nước trên thế giới, và trong nội dung bài nghiên cứu, chúng tôi đã phân tích Trung Quốc nh

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Kể từ sau đổi mới năm 1986, xuất khẩu đã mang về cho Việt Nam không ít những thành tự đáng kể, đóng góp vai trò quan trọng trong sự phát triển bền vững của nền kinh tế nước nhà.Quy mô kinh tế năm 2011 gấp khoảng 5,5 lần năm 1985, gấp trên 4,4 lần năm 1990 và gấp trên 2,1 lần năm 2000 (bình quân 1 năm thời kỳ 2001-2011 đạt 7,14%) Bên cạnh đó, cơ cấu kinh tế có sự chuyển đổi: tỷ trọng trong GDP của nhóm ngành nông, lâm nghiệp - thuỷ sản đã giảm từ 40,2% (1985) xuống còn 22,02% (2011), của nhóm ngành công nghiệp - xây dựng đã tăng từ 27,4% lên gần 40,79%, của nhóm ngành dịch vụ tăng từ 32,4% lên đạt 37,19% trong thời gian tương ứng Sự kiện Việt Nam chính thức gia nhập WTO năm 2007 đánh dấu bước ngoặt đáng kể trên con đường hội nhập toàn cầu.Điều này được minh chứng qua thực tế từ năm 1986 đến 2011, số nước và vùng lãnh thổ mà Việt Nam có quan hệ buôn bán đã tăng từ 43 nước lên đến trên 200 nước Đặc biệt, tỷ lệ kim ngạch xuất, nhập khẩu so với GDP năm 2011 đã đạt xấp xỉ 170%, đứng thứ 5 thế giới Theo dự báo, với tốc độ phát triển như hiện nay, kim ngạch xuất khẩu đến hết năm 2012 của Việt Nam có thể vượt qua mốc 100 tỷ USD

Tuy nhiên, nhìn lại chặng đường đã qua, xuất khẩu nước nhà vẫn còn những mặt hạn chế mà nguyên nhân đến từ những chính sách của Nhà Nước Ví dụ điển hình như chưa được chính thức công nhận là nền kinh tế thị trường, chưa làm chủ được thị trường trong nước và ngoài nước Thêm vào đó là hàng loạt các vụ kiện tụng về bán phá giá.Những vấn đề này đặt ra việc cần phải điều chỉnh chính sách

và đặc biệt là chính sách xuất khẩu của Việt Nam Để thực hiện được mục tiêu điều chỉnh phù hợp, chúng ta cần học tập kinh nghiệm lâu năm của các nước trên thế giới, và trong nội dung bài nghiên cứu, chúng tôi đã phân tích Trung Quốc như một quốc gia điển hình với nhiều nét tương đồng với Việt Nam lại là quốc gia có nhiều tiến bộ trong việc thiết lập chính sách xuất khẩu

Trang 2

Chính sách khuyến khích xuất khẩu của Trung Quốc và bài học kinh cho Việt Nam 2012

Trong phạm vi nghiên cứu là những chính sách khuyến khích xuất khẩu của Trung Quốc từ khi mở cửa và cải cách kinh tế năm 1979 đến nay, nhóm thực hiện nghiên cứu dựa trên 3 phương pháp cơ bản là phương pháp lịch sử, tổng hợp và phân tích và phương pháp so sánh Phương pháp lịch sử dựa trên nghiên cứu bằng cách đi tìm nguồn gốc phát sinh (thực trạng) và quá trình phát triển của các chính sách xuất khẩu của Trung Quốc để phát hiện ra bản chất và quy luật của các chính sách này Phương pháp tổnghợp và phân tích dựa trên các số liệu cùng các kết quả

mà Trung Quốc thu nhận được trong quá trình thực hiện chính sách xuất khẩu được tổng hợp và phân tích điểm mạnh điểm yếu nhằm tiếp thu kinh nghiệm.Phương pháp so sánh: Về chi tiết, các số liệu được so sánh qua từng thời kỳ (nằm rải rác ở các phần đặc biệt là ở phần I và II) Về tổng thể, toàn bài đi đến mục đích lớn là từ Trung Quốc, so sánh để rút ra kinh nghiệm cho Việt Nam

Do giới hạn về thời gian, kiến thức và nguồn lực nên chắc chắn bài nghiên cứu của chúng em còn rất nhiều thiếu sót Vậy nên chúng em rất mong nhận được góp

ý của cô để hoàn thiện bài viết hơn

Chúng em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

NỘI DUNG

I Thực trạng tình hình xuất khẩu của Trung Quốc

1 Kim ngạch xuất khẩu

Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc từ năm 1978 đến năm 2010

(Nguồn: theo số liệu thống kê của Tổng cục hải quan Trung Quốc)

Cải cách kinh tế bắt đầu từ năm 1978 đã khuyến khích mạnh sự phát triển ngoại thương, trong đó tổng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc không ngừng tăng lên qua các năm Chỉ trong vòng 10 năm tính tới năm 2008, xuất khẩu Trung Quốc tăng trưởng với tốc độ trung bình năm là khoảng 23% Tính đến năm 2011, kim ngạch xuất khẩu của nước này đã tăng 20,3% so với năm trước, đạt mức gần 1900 tỷ USD Đến đầu tháng 10 năm 2012, kim ngạch xuất khẩu của nước này đã đạt 1670 tỷ USD, tăng

Trang 4

Chính sách khuyến khích xuất khẩu của Trung Quốc và bài học kinh cho Việt Nam 2012

7,8% so với cùng kì năm ngoái Nếu cứ tiếp tục đà tăng trưởng này, trong vòng 10 năm tới, Trung Quốc có thể chiếm tới 1/4 trị giá hàng xuất khẩu toàn thế giới

2 Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu

Ngoại thương Trung Quốc đạt được sự cải thiện rõ rệt về cơ cấu hàng hóa xuất khẩu Cơ cấu hàng xuất khẩu Trung Quốc đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực: giảm mạnh sản phẩm thô, sơ chế; tăng mạnh xuất khẩu sản phẩm chế biến, chế tạo sử dụng nhiều sức lao động; nâng tỷ trọng sản phẩm kỹ thuật cao tập trung nhiều vốn và hàm lượng chất xám

Cùng với việc gia tăng các hoạt động nâng cấp, cải tạo và đổi mới kỹ thuật công nghiệp, đặc biệt trong những ngành công nghiệp định hướng xuất khẩu, cơ cấu hàng xuất khẩu của Trung Quốc cũng thay đổi rất nhanh theo hướng ngày càng hạn chế việc xuất khẩu nguyên liệu thô, tăng dần tỷ trọng hàng tinh chế với mục đích tạo được nhiều công ăn việc làm trong nước và tăng giá trị hàng xuất khẩu Cơ cấu hàng xuất khẩu được cải thiện theo con đường nâng cấp dần từ sản phẩm có tính chất tài nguyên

là chủ yếu (từ năm 1985 trởvề trước) đến hàng công nghiệp nhẹ như dệt may, giầy dép là chủ yếu (từ năm 1985 đến năm 1993) và sau đó vị trí này được thay thế bởi sản phẩm điện máy (1993 trở về sau) cho đến nay thì các sản phẩm công nghệ thông tin đang dần trở thành hướng phát triển chủ yếu của Trung Quốc

Biểu đồ 1: Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Trung Quốc năm 2007

(Nguồn starmass.com)

Trang 5

Cho tới nay, Trung Quốc đã hình thành nhi

mặt hàng lại mang tính đa dạng về

lượng lao động cao như: dệt may (thư

khẩu), giầy dép, đồ chơi, sản phẩm đi

biến cho tới các sản phẩm công ngh

thuật cao Tiêu biểu như vào năm 2007, máy móc và thi

trọng hàng xuất khẩu của Trung Qu

Trung Quốc – liên minh Châu Âu,

ã hình thành nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ yếu, các

ề chủng loại, từ các sản phẩm công nghiệp có hàm

t may (thường chiếm khoảng 20% cơ cấu trị giá hàng xu

m điện tử gia dụng lắp ráp, hàng nông thủy sản chghệ thông tin tập trung nhiều vốn và hàm lượng k

u như vào năm 2007, máy móc và thiết bị vận chuyển chiếm 47% t

a Trung Quốc, dệt may chiếm 18%, các sản phẩm hóa ch

ẩu chính

ng Liên minh Châu Âu (EU)

ị trường xuất khẩu chính của Trung Quốc

trao đổi thương mại giữa Trung Quốc và Liên minh châu Âu

ng kế, 35 năm kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao , kim ngạch thương mại hai chiều giữa Trung Quốc

u, các

p có hàm giá hàng xuất

Trang 6

Chính sách khuyến khích xuất khẩu của Trung Quốc và bài học kinh cho Việt Nam 2012

bạn hàng lớn thứ hai của Liên minh châu Âu Hầu như tới 90% sản phẩm bán sang các nước thành viên của Liên minh Châu Âu EU là sản phẩm chế tạo như quần áo, giày dép, dệt, túi xách hành lí và đồ chơi Quần áo chiếm khoảng 12,3% tổng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sang EU trong năm 1996, với trị giá đạt được là 2,44 tỷ USD Năm 1996, xuất khẩu máy móc và sản phẩm điện tử của Trung Quốc sang Liên minh Châu Âu đạt trị giá 7,3 tỷ USD, tương đương 37% tổng xuất khẩu của Trung Quốc sang thị trường này Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sang thị trường này đạt 181,98 tỷ USD, năm 2007 lên 245.19 tỷ USD, tương đương 20,1% tổng kim ngạch xuất khẩu Đến hiện nay, đây vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Trung Quốc với 356,1 tỉ USD vào năm 2011 Tuy nhiên, tính đến tháng 10 năm 2012, kim ngạch xuất khẩu sang EU của Trung Quốc đã sụt giảm 5,8% so với cùng kì năm

2011, chỉ khoảng 276,88 tỉ USD

3.2 Thị trường Mỹ

Sau khi thiết lập các mối quan hệ ngoại giao vào tháng 1-1979, Mỹ và Trung Quốc đã kí kết Hiệp định Thương mại chung, tiếp theo là các hiệp định trong một số lĩnh vực bao gồm hàng dệt, hàng không, quan hệ đường biển và buôn bán thóc lúa

Quan hệ song phương đã được mở rộng một cách nhanh chóng cả ngắn hạn và dài hạn, buôn bán song phương có tiềm năng lớn để phát triển hơn nữa Trung Quốc cần công nghệ, vốn và thị trường của Mỹ, Mỹ cần thị trường Trung Quốc và những sản phẩm giá hợp lí của Trung Quốc Xuất khẩu của Trung Quốc sang Mỹ tăng dần qua các năm đối với các mặt hàng như quần áo, dệt, thóc gạo, dầu, hoá chất, thép, máy móc, đồ điện Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sang thị trường Mỹ đạt 203,47 tỷ USD, chiếm 21 % tổng kim ngạch xuất khẩu của nước này, đến năm

2008, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sang Mỹ đạt trên 215 tỷ USD, tăng 11,4%

so với năm 2007, và đến nay không ngừng tăng lên

Năm 2011, Mỹ đã là bạn hàng lớn thứ hai của Trung Quốc với tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2011 là 324,5 tỉ USD Ngược lại, Mỹ coi Trung Quốc là thị trường mới nổi lên quan trọng bậc nhất có tiềm năng lớn nhất Tính tháng 10 năm 2012, Mỹ đã vươn lên trở thành bạn hàng lớn nhất của Trung Quốc với kim ngạch xuất khẩu là 289,32 tỉ USD, tăng 9,5% so với cùng kì năm trước

Trang 7

Mỹ và Trung Quốc đều nhận thấy tầm quan trọng của nhau trong sự phát triển kinh tế của mình Vì vậy những mối quan hệ thương mại, kinh tế song phương bền vững, tốt đẹp là điều rất quan trọng cho cả hai nước

3.3 Thị trường Hồng Kông

Trước khi trở về với Trung Quốc, trong 18 năm Trung Quốc tiến hành cải cách

mở cửa (1979 – 1997), Hồng Kông chiếm vị trí đặc biệt trong tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc Theo đánh giá của Trung Quốc, Hồng Kông là thị trường nhập khẩu số 1

và cũng là thị trường chuyển khẩu số 1 của Trung Quốc, là bạn hàng xuất khẩu thứ hai của Trung Quốc (sau Nhật Bản) Nếu như năm 1979 kim ngạch mậu dịch hai bên mới chỉ có 3,54 tỉ USD thì năm 1995 đã tăng lên 44,58 tỉ USD; kim ngạch hàng hoá xuất nhập khẩu của Trung Quốc chuyển khẩu qua Hồng Kông chiếm 92% kim ngạch mậu dịch chuyển khẩu của Hồng Kông, trong đó hàng xuất khẩu của Trung Quốc là 57% Sau năm 1997, Hồng Kông trở lại với Trung Quốc, Trung Quốc chủ trương “Một quốc gia hai chế độ”, Hồng Kông trở thành “trung tâm tài chính toàn cầu của Trung Quốc”, cho đến nay vẫn là một trong những thị trường xuất khẩu và trung chuyển hàng hóa xuất khẩu hàng đầu của Trung Quốc Năm 2010, Hồng Kông là thị trường xuất khẩu lớn thứ 2 của Trung Quốc, sau Mỹ với kim ngạch xuất khẩu của nước này sang Hồng Kông là 218,32 tỷ USD Tuy nhiên, đến năm 2011, thị trường Hồng Kông rơi xuống vị trí thứ 3 trong số những thị trường xuất khẩu chính của Trung Quốc với kim ngạch là 268,02 tỉ USD Tính đến tháng 10 năm 2012, Trung Quốc đã xuất sang Hồng Kông lượng hàng hóa có giá trị là 252,56 tỉ USD, tăng 17,3% so với cùng kì năm trước

Trang 8

Chính sách khuyến khích xuất khẩu của Trung Quốc và bài học kinh cho Việt Nam 2012

Quốc Năm 1991, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sang ASEAN là 4,12 tỷ USD, sau 10 năm con số này đã tăng gần 5 lần lên mức 19,05 tỷ USD, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu cũng đa dạng hơn

Đặc biệt là sau Hiệp định khung về Hợp tác Kinh tế toàn diện ký tháng 11 năm

2002 nhằm thiết lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc (ACFTA) Kim ngạch thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN tăng vượt bậc qua các năm, trong đó, xuất khẩu của Trung Quốc sang ASEAn cũng tăng trưởng không ngừng, hiện nay ASEAN đã là đối tác thương mại lớn thứ 4 của Trung Quốc

Bảng 2: Kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc với ASEAN một số năm

(Đơn vị: tỷ USD, %)

Xuất khẩu Kim ngạch Tăng trưởng so với năm trước

(Nguồn: Bộ thương mại, tổng cục Hải quan Trung Quốc)

Các sản phẩm xuất khẩu chính của Trung Quốc sang ASEAN là các sản phẩm điện tử và máy móc, khoáng sản, hóa chất, hàng dệt may, dầu tinh chế, ngũ cốc Ngoài ra, Trung Quốc còn xuất khẩu đến các thị trường như Châu Mỹ la tinh, Liên bang Nga và các nước Đông Âu, một số nước khu vực Châu Á, Châu Phi…

3.5 Thị trường Nhật Bản

Nhật Bản và Trung Quốc có mối quan hệ thương mại từ lâu đời Các mối quan

hệ được cải thiện góp phần thúc đẩy buôn bán hai chiều Theo số liệu thống kê của MOFTEC, các mặt hàng xuất khẩu chính của Trung Quốc sang Nhật Bản năm 1990 là

Trang 9

dầu thô, hàng dệt, quần áo, thuỷ sản, sản phẩm dầu, ngũ cốc, than, rau, đồ thủ công mĩ nghệ, sản phẩm của ngành công nghiệp nhẹ, dược liệu, gỗ Năm 1995 buôn bán giữa hai nước đạt tổng trị giá hơn 57,47 tỷ USD Buôn bán tăng một cách ổn định từ năm

1996, đôi lúc có sự tăng giảm Trong vòng nhiều năm liên tục, Nhật Bản luôn là bạn hàng lớn nhất của Trung Quốc Năm 1996, Trung Quốc xuất khẩu đạt trị giá 30,9 tỷ USD sang Nhật Bản, năm 1997, giá trị này tăng 6,7% Đến năm 2004, con số này lên 73,51 tỷ USD, năm 2005 là 83,99 tỷ USD, con số này tăng dần cho đến năm 2010, tổng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sang Nhật Bản đã lên tới hơn 100 tỷ USD Tính đến tháng 10 năm 2012, tổng kim ngạch xuất khẩu tăng lên 125,3 tỉ USD, tăng 4,1% so với cùng kì năm 2011 Hiện nay, những mặt hàng xuất khẩu chính của Trung Quốc sang Nhật bản là máy móc, thiết bị, chất đốt, thực phẩm (đặc biệt là thịt bò), hóa chất, nguyên liệu dệt may, nguyên vật liệu cho các ngành công nghiệp

II Thực trạng chính sách khuyến khích xuất khẩu của Trung Quốc

Xuất phát từ kinh nghiệm của mậu dịch quốc tế và thực tế của mìnhnên từ khi cải cách mở cửa 1978 đến nay, Trung quốc đã áp dụng rất nhiều chính sách để khuyến khích, thúc đẩy xuất khẩu, và thực tế, các chính sách này đã thực sự phát huy được tác dụng

1 Chính sách khuyến khích đầu tư

Trung Quốc chủ trương khuyến khích đầu tư cho xuất khẩu đến mức tối đa Trung Quốc đã áp dụng chính sách thu hút và khai thác có hiệu quả dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các hoạt động sản xuất để xuất khẩu Các rào cản đối với FDI như yêu cầu về chuyển giao công nghệ, cân đối ngoại tệ và tỷ lệ nội địa hoá được bãi

bỏ Trong hơn 30 năm kể từ năm 1980 đến tới cuối năm 2006, Trung Quốc đã “hút” FDI tới 685,4 tỉ USD với trên 590.000 hạng mục công trình, đứng đầu bảng các nước đang phát triển và đứng thứ 5 thế giới Năm 2008, con số này là 108,3 tỷ USD, năm

2010 là 105 tỷ USD và tính riêng trong 2 tháng đầu năm 2011, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung quốc đã tăng 27,1%, đạt 17,8 tỷ USD

Chính sách cơ bản trong việc thu hút FDI của Trung Quốc là:

Trang 10

Chính sách khuyến khích xuất khẩu c

Thứ nhất, chính sách phát tri

phủ Trung Quốc ban hành những quy đ

nước ngoài và danh mục hướng dẫn v

Thứ hai, chính sách phát triển vùng lãnh th

thông qua các biện pháp như thành l

kỹ thuật và mở cửa các thành phố ven bi

FDI vào đó

Thứ ba, chính sách chi viện về

Xí nghiệp đầu tư tại Trung Quốc có nhu c

luật được vay vốn của các ngân hàng t

cơ bản áp dụng như các xí nghiệp c

và thoả đáng, Chính phủ Trung Qu

hiểm về thực hiện hợp đồng, bảo hi

trọng điểm trong các lĩnh vực mà chính ph

Thứ tư, ban hành các văn bản pháp lu

nước ngoài Trung Quốc ban hành các văn b

nước ngoài như: Luật xí nghiệp do nư

ưu đãi về vay vốn đầu tư, về quyề

1 • Chính sách phát triển ngành sản xuất

2 • Chính sách phát triển vùng lãnh thổ

3 • Chính sách chi vi

ện về tài chính đối với các xí nghiệp đầu

tư nước ngoài

4 • Ban hành các v tư trực tiếp nước ngoài ăn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu

u của Trung Quốc và bài học kinh cho Việt Nam 2012

t, chính sách phát triển ngành sản xuất: Trong từng giai đoạn, Chính

ng quy định hướng dẫn đầu tư đối với thương nhân

n về ngành sản xuất để thu hút FDI

n vùng lãnh thổ: Chính phủ Trung Quốc chủ

n pháp như thành lập khu kinh tế đặc biệt, khu phát triển khoa h

ven biển, tạo điều kiện thuận lợi và tập trung thu hút

ề tài chính đối với các xí nghiệp đầu tư nước ngoài

c có nhu cầu về vốn căn cứ theo quy định của pháp

a các ngân hàng tại Trung Quốc Thời hạn, lãi suất và phí vay v

p của Trung Quốc Căn cứ theo nguyên tắc chủ

Trung Quốc cung cấp sự đảm bảo về rủi ro chính trị, b

o hiểm về bảo lãnh đối với những hạng mục đầ

c mà chính phủ khuyến khích đầu tư

n pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư trực ti

c ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động đầ

p do nước ngoài đầu tư, các quy định và ưu đãi về

ền sử dụng đất…Bên cạnh đó, Trung Quốc vẫ

sách phát triển ngành sản xuất

sách phát triển vùng lãnh thổ

hính sách chi viện về tài chính đối với các xí nghiệp đầu

an hành các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu

tư trực tiếp nước ngoài

ầu tư

c tiếp

ầu tư thuế,

ẫn áp

hính sách chi viện về tài chính đối với các xí nghiệp đầu

an hành các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu

Trang 11

dụng chính sách can thiệp có lựa chọn để hướng FDI vào các lĩnh vực ưu tiên, từ đó góp phần thúc đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu của Trung Quốc

2 Chính sách tài chính

2.1 Trợ cấp xuất khẩu trực tiếp

Trợ cấp xuất khẩu trực tiếp là hình thức trợ cấp trực tiếp bằng tiền mặt đối với các xí nghiệp xuất khẩu nhằm hạ giá thành sản phẩm xuất khẩu, nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế Trong giai đoạn trước năm 1994, Trung Quốc đã áp dụng các chính sách khuyến khích xuất khẩu thu ngoại hối bằng việc trợ cấp xuất khẩu, Trung Quốc đã cho phép các xí nghiệp xuất nhập khẩu được giữ lại một phần ngoại hối, nâng

đỡ tín dụng đối với các xí nghiệp xuất khẩu; cho vay ưu đãi về lãi suất đối với những

xí nghiệp mua hàng để xuất khẩu và những vật tư để sản xuất hàng xuất khẩu, miễn giảm thuế quan Đến sau năm 1994, trước yêu cầu cấp bách của cải cách trong nước

và áp lực đẩy nhanh quá trình đàm phán gia nhập WTO, Trung Quốc đã thực hiện những biện pháp cải cách quan trọng nhất theo định hướng thị trường kể từ khi công cuộc cải cách mở cửa được khởi xướng vào cuối thập kỷ 70 Trợ cấp xuất khẩu của Nhà nước đã bị xoá bỏ và từ đó các xí nghiệp ngoại thương phải chịu trách nhiệm về

lỗ - lãi của mình Điều này buộc các công ty ngoại thương phải cải tiến công tác quản

lí và làm ăn có lãi Hệ thống ngoại thương mới khuyến khích sự tự chịu trách nhiệm lỗ

- lãi trong điều kiện cạnh tranh

2.2 Trợ cấp xuất khẩu gián tiếp

a Hoàn thuế xuất khẩu

Chính sách hoàn thuế xuất khẩu hiểu một cách đơn giản, đó là hình thức nhà nước bù đắp tài chính cho doanh nghiệp khi xuất khẩu hàng hoá, chính phủ sẽ hoàn lại toàn bộ hay một phần thuế nhập khẩu nguyên liệu sản xuất và khoản thuế quốc nội mà doanh nghiệp đã nộp trong quá trình sản xuất cũng như lưu chuyển sản phẩm xuất khẩu trong nước.Từ năm 1983, Trung Quốc bắt đầu thực hiện thử đối với 17 loại đồng

hồ và các chi tiết linh kiện khác Năm 1985 trở đi, phạm vi hoàn thuế được mở rộng sang sản phẩm dầu thô, dầu thành phẩm, đến năm 1986 lại tiếp tục đi vào chiều sâu Trước đây, chỉ hoàn thuế sản phẩm ở khâu sản xuất trung gian Ðến năm 1988, tiếp

Trang 12

Chính sách khuyến khích xuất khẩu của Trung Quốc và bài học kinh cho Việt Nam 2012

b Miễn giảm thuế xuất khẩu

Miễn giảm thuế đối với hàng xuất khẩu là Chính phủ tiến hành miễn hoặc giảm các loại thuế quốc nội và thuế xuất khẩu trong quá trình sản xuất và kinh doanh các sản phẩm xuất khẩu Chính sách của Trung Quốc là khuyến khích các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ cao Các doanh nghiệp có đầu

tư nước ngoài sản xuất một số loại hàng hoá công nghệ cao, hoặc hàng hoá định hướng xuất khẩu không phải trả thuế cho những thiết bị nhập khẩu mà Trung Quốc chưa sản xuất được, song cần thiết cho doanh nghiệp đó Tổng cục Hải quan Trung Quốc thỉnh thoảng cũng thông báo thuế ưu đãi cho những mặt hàng đem lại lợi ích cho các lĩnh vực kinh tế then chốt, nhất là ngành ôtô Tính đến năm 2009, Trung Quốc

đã giảm hoặc miễn thuế xuất khẩu cho khoảng 3.800 mặt hàng Ví dụ mức giảm thuế cho hàng dệt may lên tới 16% Đặc biệt, mức giảm thuế xuất khẩu tivi CRT lên đến 17% Các sản phẩm như da và quần áo da, đồ da… được áp mức giảm thuế là 13% Ngoài ra chính phủ nước này đã giảm thuế hoặc miễn thuế đối với sản phẩm thép và ngô xuất khẩu

3 Chính sách tỷ giá

3.1 Thời kỳ chuyển từ chính sách tỷ giá cố định sang thả nổi theo sát với diễn

biến tỷ giá thị trường (1979 - 1993)

Trước năm 1979, Trung Quốc thực hiện chính sách tỷ giá cố định Cơ chế này đã làm cho các doanh nghiệp mất đi quyền chủ động trong kinh doanh, không gắn kết lợi ích kinh tế với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, làm cho các doanh nghiệp không

Trang 13

chú ý đến hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng tính ỷ lại vào sự bao cấp của nhà nước Năm 1979, Trung quốc tiến hành cải cách kinh tế Để phù hợp với sự chuyển đổi của nền kinh tế, chế độ tỷ giá cũng có thay đổi, ngay từ đầu những năm 80, Trung Quốc đã cho phép thực hiện cơ chế điều chỉnh tỷ giá giảm dần để phản ảnh đúng sức mua của đồng NDT Năm 1991, Trung quốc chuyển từ tỷ giá cố định sang chế độ

tỷ giá thả nổi có quản lý, duy trì hai loại tỷ giá Do tỷ giá thị trường biến động mạnh đã tạo ra khoảng cách giữa hai loại tỷ giá Đến năm 1993, thị trường giao dịch hối đoái giữa các doanh nghiệp phát triển, làm cho chênh lệch giữa hai loại tỷ giá càng gia tăng,

tỷ giá chính thức thường xuyên thay đổi, hầu hết là phá giá Theo thống kê, đồng NDT được điều chỉnh 23 lần trong năm 1981, 28 lần trong năm 1982, 56 lần trong năm 1984

ở các mức độ khác nhau để tiến tới tỷ giá thực của nó

3.2 Thời kỳ phá giá đồng NDT, thống nhất hai tỷ giá hướng tới một đồng NDT

có khả năng chuyển đổi (1994 – nay)

Từ ngày 1/1/1994, Trung quốc đã cho đồng NDT phá giá tới 35%, tỷ giá chính thức được điều chỉnh từ mức 5,7 NDT/USD lên 8,7 NDT/USD và tỷ giá mới này được giữ gần như cố định trong giai đoạn 1995 – 2005 Tiếp theo, đồng NDT được điều chỉnh theo hướng định giá cao so với đồng USD Vào tháng 7/2005, Trung Quốc tiến hành điều chỉnh tỷ giá theo hướng nâng giá đồng NDT và tỷ giá giữa đồng USD và NDT vào thời điểm này là 1 USD = 8.27 NDT, sau đó Ngân hàng Trung ương tiến hành cải cách tỷ giá, cho phép thả nổi tỷ giá trong giới hạn biên độ 0.3% so với tỷ giá chính thức của Ngân hàng Trung ương Đồng NDT đã lên giá 3.12% kể từ khi cải cách tỷ giá

Hơn thế, nóđã góp phần tích cực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Trung quốc, khuyến khích xuất khẩu phát triển.Trước năm 1994, Trung quốc luôn bị thâm hụt thương mại, cán cân vãng lai thiếu ổn định Từ năm 2003 lại đây, cán cân thương mại Trung quốc luôn duy trì mức tăng xuất khẩu cao hơn nhập khẩu, đến năm 2008, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu vượt lên đứng thứ ba thế giới, chỉ sau Mỹ, Đức Đến cuối năm 2009, Trung quốc đã thay thế Đức trở thành nền kinh tế xuất khẩu hàng đầu thế giới sau Mỹ Theo số liệu công bố của Tổng cục Hải quan Trung Quốc ngày

Trang 14

Chính sách khuyến khích xuất khẩu của Trung Quốc và bài học kinh cho Việt Nam 2012

Có thể chia ra 2 loại là tín dụng người bán và tín dụng người mua, hiện nay, Trung Quốc chủ yếu áp dụng chính sách tín dụng người mua Đặc điểm của tín dụng xuất khẩu: phải có liên hệ với hạng mục xuất khẩu; lãi suất thấp hơn lãi suất tín dụng của thị trường tiền tệ quốc tế; giá trị tín dụng thông thường chiếm khoảng 85% giá trị hợp đồng

Năm 1994, Trung Quốc đã thành lập một cơ cấu tín dụng xuất khẩu chuyên môn

là Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc.Từ năm 1994 đến năm 2006, trong hơn 10 năm hoạt động, Ngân hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc đã phê chuẩn hơn 12,5 tỷ USD tín dụng xuất khẩu cho người mua, cấp khoản tín dụng 5,04 tỷ USD Ví dụ như tháng 3 năm 1996, Trung Quốc đã cấp khoản tín dụng người mua trị giá 70 triệu USD cho Peru, khoản tín dụng này chủ yếu dùng để hỗ trợ các doanh nghiệp Trung Quốc xuất khẩu thiết bị phục vụ đường sắt và ô tô sang Peru Năm 2005 – 2006, tốc độ tăng trưởng của nghiệp vụ tín dụng người mua tăng đáng kể Tính đến hết năm 2009, Ngân hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc đã cấp các khoản tín dụng trị giá 10 tỷ USD, riêng ngành chủ lực là đóng tàu đã chiếm 8,5 tỷ USD

4.2 Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu

"Bảo hiểm quốc gia về tín dụng xuất khẩu" là dịch vụ chủ yếu được cung cấp bởi

tổ chức tín dụng xuất khẩu (ECA) Nó đề cập đến việc bảo vệ và bồi thường cho người xuất khẩu khi họ cấp tín dụng thương mại hoặc bảo vệ và bồi thường cho các

Trang 15

ngân hàng khi ngân hàng cho vay trung - dài hạn Phạm vi bảo hiểm của Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu bao gồm các khiếu nại tổn thất do không thanh toán những khoản phải thu, phát sinh từ hoạt động buôn bán hoặc những khoản cho vay trung - dài hạn vì lý

do chính trị, thương mại.Từ năm 2002 đến 2010, Bảo hiểm tín dụng Trung quốc đã hỗ trợ cho xuất khẩu và đầu tư tổng giá trị là hơn 170 tỷ USD, cung cấp nghiệp vụ tín dụng xuất khẩu cho vài nghìn doanh nghiệp, vài trăm hạng mục trung và dài hạn, như xuất khẩu các sản phẩm cơ điện cỡ lớn, thiết bị kỹ thuật cao, thiết bị đồng bộ cỡ lớn, các dự án đấu thầu nước ngoài

5 Chính sách cơ cấu sản phẩm và thị trường xuất khẩu

5.1 Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu

a Cơ sở của lựa chọn sản phẩm

Thứ nhất, đó là nguồn nhân lực của Trung Quốc Nguồn nhân lực này vừa là cơ

sở để Trung Quốc phát triển những mặt hàng dựa trên sức lao động là chính trong cơ cấu hàng xuất khẩu, vừa là cơ sở cho việc lựa chọn các sản phẩm nhập khẩu đặc biệt

là những máy móc thiết bị sử dụng lao động tập trung

Thứ hai, đó là tài nguyên thiên nhiên.Nguồn tài nguyên thiên nhiên là cơ sở để

Trung Quốc có thể xuất khẩu một số loại khoáng sản, đồng thờilà căn cứ để tiến hành nhập khẩu những loại còn thiếu phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa đấtnưóc

b Chính sách sản phẩm xuất khẩu

Có thể chia cơ cấu sản phẩm xuất khẩu của Trung Quốc thành 4 loại như sau:

• Các loại sản phẩm sơ cấp mà chủ yếu là nông sản và khoáng sản

• Các sản phẩm công nghiệp nhẹ, bán thành phẩm sử dụng nhiều lao động

• Sản phẩm công nghiệp của các ngành sử dụng vốn tập trung (công nghiệp nặng, hoá chất)

• Các sản phẩm sử dụng kỹ thuật cao, công nghệ tiên tiến (điện tử, máy vi tính)

Trước kia, sản phẩm xuất khẩu của Trung Quốc chủ yếu là nguyên liệu thô và các thành phẩm sử dụng nhiều lao động (nhóm các mặt hàng truyền thống) như than, dầu

Trang 16

Chính sách khuyến khích xuất khẩu của Trung Quốc và bài học kinh cho Việt Nam 2012

mỏ, đồ chơi trẻ em, hàng dệt may, giày dép và thủ công mỹ nghệ Trong tình hình mới, Trung Quốc đang tăng cường xuất khẩu các sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật cao hơn và có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế, đặc biệt là xuất khẩu các sản phẩm máy móc và linh kiện có hàm lượng kỹ thuật cao do chính nước mình sản xuất, để có thể tạo ra được hiệu quả tối ưu của hoạt động mậu dịch đối ngoại, thúc đẩy kinh doanh tăng trưởng với tốc độ cao và nhanh chóng hơn

Về phương châm chiến lược, Trung Quốc chia chiến lược xuất khẩu của họ thành 3 giai đoạn

Hiện tại, Trung Quốc đang ở giai đoạn 2 và đang phấn đấu chuyển dần sang giai đoạn 3 Hiện Trung Quốc coi trọng phát huy thế mạnh của từng địa phương, tăng xuất khẩu những mặt hàng sử dụng kỹ thuật mới, cải tạo ngành nghề và các mặt hàng truyền thống Bên cạnh việc tiếp tục phát triển các sản phẩm xuất khẩu sử dụng lao động tập trung để tận dụng ưu thế lao động rẻ, tạo thêm việc làm, Trung Quốc rất coi

trọng tăng đầu tư có trọng điểm để mở rộng sản xuất, tăng xuất khẩu các sản phẩm sử

dụng kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, phát triển các ngành nghề mới Trước mắt,

Chuyển từ xuất khẩu

và bán thành phẩm sử dụng nhiều lao động sang xuất khẩu các thành phẩm công nghiệp cần nhiều vốn

mà chủ yếu là các sản phẩm công nghiệp nặng-hoá chất.

Tập trung và coi trọng xuất khẩu các sản phẩm sử dụng kỹ thuật cao, công nghệ tiên tiến.

Trang 17

Trung Quốc đang cố gắng điều chỉnh hợp lý cơ cấu sản phẩm xuất khẩu để chuyển từ xuất khẩu các sản phẩm dệt, công nghiệp nhẹ - sử dụng vốn tập trung kết hợp từng bước tăng xuất khẩu các sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật cao Thực hiện mục tiêu này, Trung Quốc đã đề ra các biện pháp như sau:

- Nâng cao trình độ gia công các sản phẩm sơ cấp, coi trọng xuất khẩu những hàng hoá có độ tinh xảo cao, sử dụng nhiều lao động, những đặc sản nông - lâm nghiệp, gia tăng tỷ trọng xuất khẩu hàng hoá thành phẩm

- Tích cực sử dụng kỹ thuật, tri thức, công nghệ mới, tăng xuất khẩu những hàng hoá là sản phẩm của ngành công nghiệp nặng- hoá chất sử dụng kỹ thuật cao và đổi mới kỹ thuật của các ngành dệt, công nghiệp nhẹ, chế biến lương thực, thực phẩm, nâng cao chất lượng và trình độ kỹ thuật của các hàng hoá xuất khẩu truyền thống -Tập trung các nguồn lực cho phát triển sản phẩm kỹ thuật cao, mà đặc biệt là sản phẩm công nghệ thông tin

5.2 Cơ cấu thị trường xuất khẩu

a Cơ sở của lựa chọn thị trường

Theo ước tính, chỉ cần 8% dân số Trung Quốc (khoảng 100 triệu người) có thu nhập 1000 USD/năm đã tạo ra sức mua 100 tỷ USD/năm Đây là lí do giải thích tại sao các nước lớn đều coi Trung Quốc là đối tác quan trọng, các công ty lớn nhất thế giới đều muốn đến và chiếm lĩnh thị trường Trung Quốc.Hỗ trợ cho các chính sách về thị trường và kinh doanh buôn bán đối ngoại, Trung Quốc còn có một lực lượng đông đảo Hoa kiều với những thế mạnh về vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý.Những thế mạnh này sẽ là cơ sở cho lựa chọn thị trường cũng như các đối tác chính trong ngoại thương giai đoạn đầu công nghiệp hoá của Trung Quốc

b Chính sách thị trường xuất khẩu

Lựa chọn thị trường một cách hợp lí, đề xuất và thực thi chiến lược thị trường xuất khẩu đúng đắn là một trong những khâu quan trọng làm tăng xuất khẩu của Trung Quốc trong hơn hai thập kỷ qua Quá trình đẩy mạnh xuất khẩu của Trung

Quốc trên thực tế là quá trình khai thác thị trường theo hai hướng: Tìm kiếm thị

Trang 18

Chính sách khuyến khích xuất khẩu của Trung Quốc và bài học kinh cho Việt Nam 2012

trường mới và tăng mức xuất khẩu trên các thị trường hiện có Trung Quốc cho

rằng hiện nay họ cần tăng mức xuất khẩu bằng mọi cách, nhưng tránh sự tập trung quá mức vào một thị trường riêng nào đó (như Mỹ hay Nhật chẳng hạn) tức là Trung Quốc phải đa dạng hoá thị trường xuất khẩu để đảm bảo xuất khẩu tăng nhanh và ổn định Các chính sách thị trường cơ bản mà Trung Quốc đã và đang thực hiện là:tăng cường hợp tác kinh tế thương mại theo chiều sâu với các nước phát triển, giảm bớt sự

lệ thuộc vào từng nước riêng lẻ để phân tán các nhân tố rủi ro; đẩy mạnh phát triển một cách ổn định các quan hệ thương mại với Hông Kông, Macao và Đài Loan;đẩy mạnh khai thác thị trường các nước đang phát triển; mở rộng mậu dịch biên giới; tiếp tục cải cách cơ chế quản lý ngoại thương, tăng cường sức cạnh tranh của hàng Trung Quốc, đồng thời đẩy nhanh tiến trình hội nhập với khu vực và thế giới

6 Các chính sách về thể chế - tổ chức

6.1 Xây dựng đặc khu kinh tế

Hệ thống đặc khu kinh tế (SEZ) là một trong những nhân tố quan trọng trong tăng trưởng ấn tượng của Trung Quốc nhiều năm qua Trung Quốc có chủ trương trao toàn quyền tự chủ cho SEZ, cho phép các SEZ hoàn toàn độc lập về tài chính với trung ương và có quyền đề ra những ưu đãi riêng đối với các nhà đầu tư, miễn là những ưu đãi đó nằm trong khuôn khổ pháp lý của nhà nước Sau đó, chính phủ tạo ra một môi trường mà nhờ đó, các SEZ phải cạnh tranh với nhau trong việc thu hút các nhà đầu tư Cạnh tranh là cơ sở cho sự tồn tại của các SEZ Sự ra đời và tồn tại của SEZ đã tạo ra một môi trường thống nhất hơn trong việc thu hút đầu tư nước ngoài Ở cấp độ khu vực, chính SEZ là thực thể kinh tế sở hữu những cơ chế thu hút và duy trì đầu tư nước ngoài thành công nhất

Trong các đặc khu kinh tế, khu công nghệ cao, mức thuế đánh vào lợi nhuận doanh nghiệp là 15%, trong khi con số đó là 24% ở những vùng duyên hải và các thành phố trực thuộc tỉnh Các công ty nước ngoài có thể được miễn thuế trong 2 năm đầu kể từ khi bắt đầu có lợi nhuận, và sau đó được giảm một nửa trong 3 năm tiếp theo Các công ty công nghệ cao được miễn thuế trong 2 năm đầu kể từ khi làm ăn có lãi và được giảm một nửa trong 6 năm tiếp theo.Những doanh nghiệp xuất khẩu được

Ngày đăng: 24/12/2016, 21:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w