I.Lý do chọn đề tài. Nhiệm vụ xuyên suốt của ngành GD và ĐT đó là : “Đào tạo con người Việt Nam có đủ đức, đủ tài đứng lên làm chủ tương lai đất nước”. Mục tiêu đào tạo của nhà trường phổ thông Việt Nam là hình thành những cơ sở ban đầu và trọng yếu của con người mới: phát triển toàn diện phù hợp với yêu cầu và điều kiện hoàn cảnh đất nước con người Việt Nam. Trong giai đoạn hiện nay, mục tiêu đào tạo của nhà trường phổ thông Việt Nam đã được cụ thể hoá trong các văn kiện của Đảng, đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng cộng sản Việt Nam và kết luận của hội nghị trung ương khoá IX xác định: “ Giáo dục và đào tạo phải gắn liền với sự phát triển kinh tế, phát triển khoa học kĩ thuật xây dựng nền văn hoá mới và con người mới…” Thực tế cho thấy ngành GD và ĐT Việt Nam đã có những bước chuyển mình lớn để hiện thực hoá nhiệm vụ nêu trên.Trí tuệ và tài năng của người Việt Nam đã bay cao, bay xa khắp năm châu. Các kì thi học sinh giỏi quốc tế Việt Nam luôn là một trong những nước đứng đầu về bảng vàng thành tích, có nhiều giáo sư, tiến sĩ Việt Nam là giảng viên xuất sắc trong các trường đại học danh tiếng thế giới. Nhiều học sinh thi đậu đại học với số điểm tuyệt đối…. Tất cả những điều đó khiến chúng ta có thể tự hào về truyền thống hiếu học và năng lực học tập của người Việt Nam. Song không chỉ có những thành tích vẻ vang ấy, nền giáo dục nước nhà đang đang đứng trước thời cơ, vận hội và thách thức mới. Chúng ta cần thừa nhận một thực tế rằng số lượng những học sinh xuất sắc là quá ít ỏi so với rất nhiều những học sinh yếu kém. Nền giáo dục Việt Nam sẽ rất khó phát triển bền vững nếu chúng ta chỉ chuyên tâm đào tạo những học sinh có kiến thức, có năng lực mà xem nhẹ việc giáo dục những học sinh yếu kém. Thực tế cho thấy nếu kiên trì giáo dục, tìm ra những phương pháp hợp lí nhất chúng ta hoàn toàn có thể đào tạo để nâng cao kiến thức, rèn luyện kỹ năng giúp những học sinh yếu kém trở thành những người có kiến thức, có ích cho xã hội. Xuất phát từ yêu cầu đó, thực tế đó cùng với nhiệm vụ của người giáo viên dạy Toán ở THPT tôi đã chọn đề tài này, đề tài là quá trình tổng hợp kinh nghiệm dạy học của bản thân tôi trong một môi trường mà đa phần là học có chất lượng văn hoá, chất lượng đầu vào thấp so với các trường trong khu vực. Nguyên nhân thứ hai để người viết chọn đề tài này xuất phát từ thực trạng nhiều học sinh yếu, kém không phải do khả năng tiếp thu kiến thức mà do thiếu động cơ, động lực học tập, ít đầu từ thời gian cho việc học nên dẫn đến mất gốc từ THCS. Chính vì lẽ đó nếu ngay năm đầu ở THPT ( lớp 10) các em không được cũng cố kiến thức, khơi gợi động cơ, khuyến khích tìm tòi, rèn rủa kỉ năng thì chắc chắn các năm tiếp theo những học sinh này sẽ càng yếu kém hơn, thậm chí trống rỗng về kiến thức. Chương trình toán lớp 10 THPT là một chương trình bản lề để tiếp nối chương trình toán THCS và THPT. Học sinh ngoài việc lĩnh hội được những kiến thức mới còn được ôn lại nhiều kiến thức cơ bản đã học ở lớp duới như: Phương trình, bất phương trình bậc nhất, bậc hai; hàm số bậc nhất, bậc hai….Vì lẽ đó nếu có phương pháp phù hợp chương trình Toán 10 sẽ là cơ hội để giáo viên giúp học sinh lấy lại những kiến thức đã mất ở lớp dưới, tạo động cơ và niềm tin giúp học sinh tự tin chủ động lĩnh hội những kiến thức mới đó chính là lí do thứ ba để người viết chọn đề tài này. 2.Mục đích nghiên cứu: Thông qua quá trình dạy học môn Toán lớp 10 để tìm ra phương pháp dạy học phù hợp nhất nâng cao kiến thức, rèn luyện kỹ năng học tập môn toán cho những đối tượng học sinh yếu kém. 3.Đối tượng nghiên cứu: Những học sinh yếu kém môn Toán ở THCS ( cụ thể đối tượng học sinh lớp 10 A5, 10A6 trường THPT Hà Tông Huân – Yên Định) 4.Giới hạn của đề tài: Đề tài tập chung vào đối tượng học sinh yếu kém ở THCS thông qua việc giảng dạy môn Toán lớp 10. 5.Nhiệm vụ của đề tài: Đề tài sẽ trả lời cho câu hỏi : Làm thế nào để giúp những học sinh yếu kém môn Toán từ THCS học tập tiến bộ hơn? Rút ra kết luận và đề xuất một số biện pháp trong quá trình giảng dạy môn Toán lớp 10. 6.Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ của đề tài, trong quá trình nghiên cứu người viết đã sử dụng, kết hợp nhiều phương pháp đó là: +Nghiên cứu các loại tài liệu sư phạm, tâm lí, quản lí có liên quan đến đề tài. +Phương pháp quan sát (công việc dạy học của giáo viên và HS). +Phương pháp điều tra (nghiên cứu chương trình, đối tượng học sinh, …). +Phương pháp đàm thoại phỏng vấn (lấy ý kiến của giáo viên và HS thông qua trao đổi trực tiếp). +Phương pháp thực nghiệm ( thống kê có đánh giá kết quả theo từng đối tượng, từng thời điểm…. ) 7.Thời gian nghiên cứu: Năm học 2009 2010.
Trang 1A.MỞ ĐẦU
I.Lý do chọn đề tài.
Nhiệm vụ xuyên suốt của ngành GD và ĐT đó là : “Đào tạo con người ViệtNam có đủ đức, đủ tài đứng lên làm chủ tương lai đất nước” Mục tiêu đào tạo củanhà trường phổ thông Việt Nam là hình thành những cơ sở ban đầu và trọng yếu củacon người mới: phát triển toàn diện phù hợp với yêu cầu và điều kiện hoàn cảnh đấtnước con người Việt Nam Trong giai đoạn hiện nay, mục tiêu đào tạo của nhàtrường phổ thông Việt Nam đã được cụ thể hoá trong các văn kiện của Đảng, đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng cộng sản Việt Nam và kết luận của hội nghịtrung ương khoá IX xác định: “ Giáo dục và đào tạo phải gắn liền với sự phát triểnkinh tế, phát triển khoa học kĩ thuật xây dựng nền văn hoá mới và con người mới…”Thực tế cho thấy ngành GD và ĐT Việt Nam đã có những bước chuyển mìnhlớn để hiện thực hoá nhiệm vụ nêu trên.Trí tuệ và tài năng của người Việt Nam đãbay cao, bay xa khắp năm châu Các kì thi học sinh giỏi quốc tế Việt Nam luôn làmột trong những nước đứng đầu về bảng vàng thành tích, có nhiều giáo sư, tiến sĩViệt Nam là giảng viên xuất sắc trong các trường đại học danh tiếng thế giới Nhiềuhọc sinh thi đậu đại học với số điểm tuyệt đối… Tất cả những điều đó khiến chúng
ta có thể tự hào về truyền thống hiếu học và năng lực học tập của người Việt Nam.Song không chỉ có những thành tích vẻ vang ấy, nền giáo dục nước nhà đang đangđứng trước thời cơ, vận hội và thách thức mới Chúng ta cần thừa nhận một thực tếrằng số lượng những học sinh xuất sắc là quá ít ỏi so với rất nhiều những học sinhyếu kém Nền giáo dục Việt Nam sẽ rất khó phát triển bền vững nếu chúng ta chỉchuyên tâm đào tạo những học sinh có kiến thức, có năng lực mà xem nhẹ việc giáodục những học sinh yếu kém Thực tế cho thấy nếu kiên trì giáo dục, tìm ra nhữngphương pháp hợp lí nhất chúng ta hoàn toàn có thể đào tạo để nâng cao kiến thức,rèn luyện kỹ năng giúp những học sinh yếu kém trở thành những người có kiến
Trang 2thức, có ích cho xã hội Xuất phát từ yêu cầu đó, thực tế đó cùng với nhiệm vụ củangười giáo viên dạy Toán ở THPT tôi đã chọn đề tài này, đề tài là quá trình tổnghợp kinh nghiệm dạy học của bản thân tôi trong một môi trường mà đa phần là học
có chất lượng văn hoá, chất lượng đầu vào thấp so với các trường trong khu vực.Nguyên nhân thứ hai để người viết chọn đề tài này xuất phát từ thực trạngnhiều học sinh yếu, kém không phải do khả năng tiếp thu kiến thức mà do thiếuđộng cơ, động lực học tập, ít đầu từ thời gian cho việc học nên dẫn đến mất gốc từTHCS Chính vì lẽ đó nếu ngay năm đầu ở THPT ( lớp 10) các em không được cũng
cố kiến thức, khơi gợi động cơ, khuyến khích tìm tòi, rèn rủa kỉ năng thì chắc chắncác năm tiếp theo những học sinh này sẽ càng yếu kém hơn, thậm chí trống rỗng vềkiến thức
Chương trình toán lớp 10 THPT là một chương trình bản lề để tiếp nối chươngtrình toán THCS và THPT Học sinh ngoài việc lĩnh hội được những kiến thức mớicòn được ôn lại nhiều kiến thức cơ bản đã học ở lớp duới như: Phương trình, bấtphương trình bậc nhất, bậc hai; hàm số bậc nhất, bậc hai….Vì lẽ đó nếu có phươngpháp phù hợp chương trình Toán 10 sẽ là cơ hội để giáo viên giúp học sinh lấy lạinhững kiến thức đã mất ở lớp dưới, tạo động cơ và niềm tin giúp học sinh tự tinchủ động lĩnh hội những kiến thức mới đó chính là lí do thứ ba để người viết chọn
đề tài này
2.Mục đích nghiên cứu:
Thông qua quá trình dạy học môn Toán lớp 10 để tìm ra phương pháp dạy họcphù hợp nhất nâng cao kiến thức, rèn luyện kỹ năng học tập môn toán cho nhữngđối tượng học sinh yếu kém
3.Đối tượng nghiên cứu:
Những học sinh yếu kém môn Toán ở THCS ( cụ thể đối tượng học sinh lớp
10 A5, 10A6 trường THPT Hà Tông Huân – Yên Định)
4.Giới hạn của đề tài:
Đề tài tập chung vào đối tượng học sinh yếu kém ở THCS thông qua việc giảngdạy môn Toán lớp 10
Trang 35.Nhiệm vụ của đề tài:
Đề tài sẽ trả lời cho câu hỏi : Làm thế nào để giúp những học sinh yếu kémmôn Toán từ THCS học tập tiến bộ hơn?
Rút ra kết luận và đề xuất một số biện pháp trong quá trình giảng dạy mônToán lớp 10
6.Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ của đề tài, trong quá trình nghiên cứungười viết đã sử dụng, kết hợp nhiều phương pháp đó là:
+Nghiên cứu các loại tài liệu sư phạm, tâm lí, quản lí có liên quan đến đề tài.+Phương pháp quan sát (công việc dạy- học của giáo viên và HS)
+Phương pháp điều tra (nghiên cứu chương trình, đối tượng học sinh, …).+Phương pháp đàm thoại phỏng vấn (lấy ý kiến của giáo viên và HS thông quatrao đổi trực tiếp)
+Phương pháp thực nghiệm ( thống kê có đánh giá kết quả theo từng đốitượng, từng thời điểm… )
7.Thời gian nghiên cứu:
Năm học 2009- 2010
Trang 4sẽ dẫn đến sự biến đổi về chất Để một học sinh yếu kém nói chung, yếu kém môntoán nói riêng trở thành một học sinh học khá thậm chí giỏi là đã thực sự có một sựbiến đổi về chất, có sự biến đổi về chất này trước hết phải có nhiều những thay đổi
về lượng Người giáo viên cần phải góp phần làm chuyển biến, làm thay đổi sự biếnđổi về “ lượng ” đó theo hướng tích cực bằng việc không ngừng củng cố kiến thức
đã mất, tạo niềm tin, khơi gợi động cơ học tập cho học sinh giúp học sinh bằng nănglực của mình trực tiếp tiếp thu lĩnh hội kiến thức Không những vậy người giáo viêncòn phải giúp học sinh biến những thay đổi về “ lượng” ở mức độ nhỏ thành nhữngmức độ lớn hơn, rộng hơn có như vậy từng bước, từng bước thay đổi, tiến bộ mộthọc sinh mới có thể thực sự thay đổi về “ chât” để từ một học sinh yếu trở thành mộthọc sinh khá, giỏi
2.Cơ sở tâm lí học:
Theo các nhà tâm lí học: “Con người chỉ bắt đầu tư duy tích cực khi nảy sinhnhu cầu tư duy và đứng trước một khó khăn cần phải khắc phục” Vì vậy GV cầnphải để học sinh thấy được khả năng nhận thức của mình với những điều mình đãbiết với tri thức của nhân loại
Căn cứ vào quy luật phát triển nhận thức và hình thành các đặc điểm tâm lí thì
từ những lớp cuối của cấp THCS, học sinh đã bộc lộ thiên hướng, sở trường và hứngthú đối với những lĩnh vực kiến thức, kĩ năng nhất định Bên cạnh đó đối với những
Trang 5học sinh việc lĩnh hội kiến thức chậm, mất gốc từ những lớp dưới sẽ nảy sinh tâm língại học, sợ bị kiểm tra kiến thức Sức ép từ việc đôn đốc học tập của giáo viên, giađình sẽ làm những học sinh ấy chịu những áp lực không nhỏ Mâu thuẫn giữa việcphải học tập và khả năng học tập ngày một lớn sẽ làm những học sinh đó dễ cónhững thái độ, hành vi tiêu cực Đây cũng là nguyên nhân căn bản của việc nhiềuhọc sinh ngoan về đạo đức nhưng yếu về kiến thức bỗng trở thành học sinh yếu cả
về đạo đức lẫn kiến thức Việc bê trễ việc học, ham mê các trò tiêu khiển, các tệ nạn
xã hội cũng một phần xuất phát từ tâm lý này Để làm chuyển biến một học sinh từyếu kém đến khá giỏi người giáo viên cần nắm bắt rõ tâm lý ấy, làm mất đi nhữngmặc cảm, làm giảm thiểu mẫu thuẫn, khơi gợi niềm tin bản thân thì học sinh đó mớihọc tập chuyên cần và có được kết quả tích cực hơn
3.Cơ sở giáo dục học:
Thực tế công tác giáo dục cho thấy nếu phương pháp giáo dục của giáo viênkhông phù hợp không những làm học sinh yếu kém bi quan, chán nản việc học màcòn làm những học sinh có năng lực học tập tốt hơn không phát huy hết khả năngcủa mình Ngược lại người giáo viên có phương pháp sư phạm phù hợp, nắm bắt tốttâm lí học sinh đồng thời kiên trì sẽ giáo dục tốt nhiều đối tượng học sinh, kể cảnhững học sinh yếu kém vê chuyên môn lẫn đạo đức Phương pháp giáo dục dù tối
ưu đến mấy cũng không nên áp dụng một cách máy móc mà cần phải vận dụng linhhoạt sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh Qua điều tra thực tiễn tôi nhậnthấy rằng trong nhiều trường hợp : Cũng đối tượng học sinh ấy, môn học ấy, môitrường giáo dục ấy nhưng khả năng học tập của học sinh đó là khác nhau khi có sựthay đổi giáo viên Điều này một lần nữa khẳng định tầm quan trọng trong vai tròchủ đạo của giáo viên với việc học tập của học sinh
Việc tìm tòi phương pháp mới, cách tiếp cận học sinh mới, cách diễn đạt kiếnthức mới của giáo viên là nhân tố quan trọng trong kết quả học tập tích cực của họcsinh Điều này càng cần thiết và có ý nghĩa hơn trong việc giáo dục những học sinhyếu kém
Trang 6II: Thực trạng của đề tài:
1.Thời gian và các bước tiến hành:
Tìm hiểu đối tượng học sinh lớp 10 A5, 10 A6 năm học 2009-2010
2.Khảo sát chất lượng đầu năm :
Thông qua bài khảo sát chất lựơng đầu năm tôi thu được kết quả như sau:
- Điểm thi đầu vào của học sinh: Điểm dưới 5 là 100%, từ 3- 4,5 điểm là 10%,90% HS có điểm đầu vào dưới 3
- Kiểm tra chất lượng đầu năm lớp 10:
Nội dung kiểm tra: Các câu hỏi để kiểm tra kiến thưc cơ bản chương trình toánTHCS
Câu 1: Viết bảy hằng đẳng thức đáng nhớ
Câu 2: Giải phương trình (bậc nhất, bậc hai)
Câu 3: Giải bất phương trình bậc nhất
Câu 4: Vẽ đồ thị hàm số bậc nhất
Kết quả: 10% HS trên đạt điểm trung bình, 40 % HS đạt điểm yếu, 40% đạtđiểm kém
3.Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến kết quả trên:
Tôi nhận thấy đa số học sinh có kết quả rất thấp Rất ít học sinh thuộc bảy hằngđẳng thức đáng nhớ, ít học sinh giải đúng phương trình bậc hai Không có học sinhnào làm đầy đủ tất cả các câu hỏi ( mặc dù ở dạng cơ bản và đơn giản nhất) Từ khảosàt đó tôi đưa ra kết luận về HS hai lớp 10A5, 10A6:
- Kiến thức cơ bản yếu, nhiều học sinh hầu như không nắm được kiến thức cơ bản
- Khả năng tính toán rất hạn chế, mặc dù có nhớ phương pháp
- Việc trình bày cẩu thả, qua loa chứng tỏ nhiều học sinh có thái độ thờ ơ ,coithường việc học
Kết quả trên tôi không hoàn toàn bất ngờ bởi đặc điểm các trường THPT Báncông thường phải tuyển sinh các đối tượng học sinh sau các trường công lập, một sốnăm vừa qua có những HS chỉ cần đạt 0,5 điểm đâù vào môn Toán vẫn được tuyểnvào trường Qua việc trực tiếp kiểm tra khảo sát và rút kinh nghiệm từ thực tiễn tôi
Trang 7nhận xét nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc học tập yếu kém môn Toán của HS chủyếu do mất gốc, thiếu động cơ học tập kéo dài.
III: Giải quyết vấn đề:
Từ kết quả quá trình giảng dạy môn Toán hai lớp 10A5, 10A6 ( chủ yếu cáchọc sinh có năng lực học tập bộ môn ở mức dưới trung bình) bản thân tôi đã đúc rútđược một số kinh nghiệm được trình bày dưới đây:
1 Kinh nghiệm 1: Kiểm tra ban đầu để đánh giá, phân loại học sinh
Việc kiểm tra ban đầu để đánh giá phân loại học sinh là việc làm cần thiết, giúpgiáo viên bước đầu đánh giá khái quát năng lực học bộ môn của tập thể học sinhcũng như của từng học sinh Qua đó giáo viên có thể thống kê để nắm bắt đượcnhững học sinh có kiến thức vững cũng như những học sinh yếu, kém thậm chítrống rỗng về kiến thức
Đặc điểm giáo viên dạy bộ môn lớp 10 nói chung, môn toán nói riêng đó làgiáo viên cần thời gian giảng dạy mới đánh giá tương đối chính xác khả năng họctập của một tập thể cũng như từng cá nhân Vì thế việc kiểm tra ban đầu càng trởnên cần thiết để rút ngắn thời gian đó Đánh giá được hiệu quả của việc kiểm tra banđầu như trên nên ngay từ đầu năm, trước khi trực tiếp giảng dạy môn toán lớp 10tôi đã thống kê số liệu về điểm thi đầu vào môn Toán của học sinh hai lớp 10A5,10A6 Tiếp đến tôi đã lên kế hoạch cụ thể về thời gian để cho học sinh nghiêm túclàm bài kiểm tra ban đầu, đề kiểm tra với nội dung như đã nêu sẽ rất dễ ràng vớinhững học sinh khá, thậm chí học sinh trung bình cũng có thể thực hiện tốt Tuynhiên đối với những học sinh yếu kém, mất gốc thì quả là vấn đề khó Bởi nếukhông học thì cái dễ nhất cũng trở thành khó nhất Thực tế việc kiểm tra cho kết quả100% HS không nhớ tất cả các hằng đẳng thức , chỉ một số giải được phương trìnhbậc hai đã minh chứng cho nhận định trên
Việc kiểm tra ban đầu và đánh giá sơ bộ sẽ là cơ sở để tôi lập kế hoạch chocông tác giảng dạy nói chung, bồi dưỡng học sinh yếu kém nói riêng Đồng thời từ
đó tôi cũng đã xác định được kiến thức trọng tâm trong chương trình
Trang 82 Kinh nghiệm 2: Lên kế hoạch giảng dạy chi tiết, đánh giá kiến thức trọng tâm chương trình
Sau khi kiểm tra ban đầu, đánh giá năng lực của từng tập thể học sinh tôi đã lập
kế hoạch chi tiết, đánh giá kiến thức trọng tâm để tập trung rèn luyện kiến thức chohọc sinh yếu kém
Minh hoạ 1:
Bảng phân loại kiến thức trọng tâm Đại số 10 ( chương trình cơ bản)
để giảng dạy cho học sinh yếu kém lớp 10.
Chương Kiến thức trọng tâm Kỹ năng cần rèn luyện cho
học sinh yếu kém
I Mệnh đề
-Tập hợp
+Biết thế nào là mệnh đề,mệnh đề phủ định, mệnh đềchứa biến, mệnh đề kéo theo,tương đương
+Phân biết được điều kiện cần
và đủ, nắm cách sử dụng kíhiệu và
+Nắm vững khái niệm tập hợp,hiểu các phép toán : Giao củahai tập hợp, hợp của hai tậphợp, phần bù của tập con
+Nắm vững các tập hợp số, cáctập con của R
+ Lấy ví dụ về mệnh đề, xácđịnh tính đúng sai một mệnh đề.Nêu được ví dụ về mệnh đề kéotheo, mệnh đề tương đương,biết lập mệnh đề đảo của mộtmệnh đề
+ Biết cho tập bằng hai cách ( liệt kê và chỉ ra tính chất đặc trưng)
+ Kĩ năng tìm tập xác định cáchàm có chứa dấu căn, chứa ẩn ởmẫu Xét tính chẵn lẻ của hàmsố
Trang 9+ Ôn tập và bổ sung kiến thức
về hàm số y = ax + b
+ Xét sự biến thiên và lập đượcbảng biến thiên của hàm số bậchai, vẽ đồ thị hàm số bậc hai
+ Ôn tập và rèn luyện kĩ năng
vẽ đồ thị hàm số bậc nhất Biếtcách xác định giao điểm của haiđường thẳng
+ Nắm được các bước và rènluyện kĩ năng vẽ đồ thị hàm sốbậc hai
hệ quả
+ Nắm cách giải và biện luậnphương trình: ax + b =0;
phương trình: ax2+ bx + c = 0,cách giải các phương trình quy
về bậc nhất, bậc hai một ẩn
+ Nắm được cách giải hệphương trình bậc nhất hai ẩn,
ba ẩn
+ Ôn tập, rèn luyện kĩ năng giảiphương trình bậc nhất, bậc hai
+ Kĩ năng giải các bài toán mức
độ dễ, thường gặp đối vớinhững bài toán giải phươngtrình quy về bậc nhất, bậc hai(phương trình chứa ẩn ở mẫu,phương trình tích, phương trìnhchứa dấu giá trị tuyệt đối,phương trình chứa dấu căn….)
+ Kĩ năng giải phương trình bậchai bằng máy tính bỏ túi
+ Kĩ năng giải hệ phương trìnhbậc nhất hai ẩn, ba ẩn
Trang 10+ Nắm vững khái niệm về bấtphương trình , các phép biếnđổi tương đương bất phươngtrình.
+Hiểu cách giải bất phươngtrình , hệ bất phương trình bậcnhất một ẩn
+ Cách biểu diễn tập nghiệmbất phương trình bậc nhất haiẩn
+Nắm vững định lí về dấu củatam thức bậc hai
+ Kỹ năng sử dụng thành thạocác tính chất cơ bản của bấtđẳng thức
+ Áp dụng bất đẳng thức Côsi
để chứng minh một số bài tậpchứng minh bất đẳng thức( mức độ dễ)
+ Ôn tập, rèn luyện kỹ nănggiải bất phương trình bậc nhất,
hệ bất phương trình bậc nhấtmột ẩn
+ Kỹ năng biểu diễn miềnnghiệm bất phương trình bậcnhất hai ẩn
+ Kỹ năng giải bất phương trìnhbậc hai, bất phương trình tích,chứa ẩn ở mẫu
V Thống kê + Hiểu các khái niệm: Tần số,
tần suất, các bảng phân bố tần
số, tần suất
+ Nắm các cách vẽ biểu đồ
+ Nắm được cách tìm số trungbình, số trung vị, môt, phươngsai, độ lệch chuẩn và ý nghĩacủa chúng
+ Kĩ năng xác định tần số, tầnsuất Lập bảng phân bố tần số,tần suất
+ Kĩ năng vẽ các loại biểu đồ:Đường gấp khúc, hình cột, hìnhquạt từ bảng phân bố tần sốhoặc tần suất
+ Kĩ năng tìm số trung bình, sốtrung vị, mốt Xác định phươngsai và độ lệch chuẩn
+ Biết đổi đơn vị từ độ sangradian và ngược lại Biết tính độdài cung tròn
Trang 11Giá trị lượng giác các cung cóliên quan đặc biệt.
+ Nắm vững các công thứclượng giác
+ Biểu diễn cung lượng giáctrên đường tròn lượng giác
+ Tính các giá trị lượng giác.+ Sử dụng các hệ thức lượnggiác cơ bản, các công thứclượng giác để làm một số cácbài tập: Tính giá trị lượng giác,chứng minh, tính giá trị biểuthức…
Việc lên kế hoạch giảng dạy chi tiết, phân loại kiến thức trọng tâm giúp tôi trongquá trình giảng dạy không quá tham kiến thức, nặng về lí thuyết mà tăng cường tậptrung ôn tập kiến thức cơ bản và trọng tâm cho học sinh yếu kém Điều này sẽ giúpnhững học sinh yếu kém không cảm thấy bị ngợp bởi khối lượng kiến thức quánhiều dẫn đến ngại tiếp thu, lĩnh hội
của học sinh.
Đặc điểm chung của những học sinh yếu kém môn toán đó là rỗng về kiếnthức, yếu về kỹ năng tính toán, thụ động trong học tập Tuy nhiên thời gian đầu tưcho việc học và động cơ học tập ở mỗi học sinh là khác nhau Có học sinh hoàntoàn thờ ơ, coi thường việc học, có học sinh biết lo lắng trong việc học nhưng lúngtúng, chậm trong tiếp thu kiến thức Trong quá trình giảng dạy giáo viên cần phânloại tốt đặc điểm của từng nhóm học sinh yếu kém Với bất kì học sinh nào, đặcbiệt học sinh yếu kém việc khơi gợi động cơ học tập và tạo niềm tin cho học sinh
là việc làm cần thiết nhất Có động cơ học tập tốt học sinh mới quyết tâm caotrong học tập, có niềm tin vào bản thân học sinh yếu kém mới đủ tự tin thể hiệnkhả năng của mình
Để khơi gợi động cơ học tập cho học sinh yếu kém, trong quá trình giảng dạymôn toán lớp 10 tôi đã quan tâm đến việc tạo điều kiện để học sinh yếu kém lên
Trang 12bảng chữa bài tập đặc biệt đối với một số bài tập mức độ dễ áp dụng ( giải các bấtphương trình bậc nhất, phương trình bậc hai, viết phương trình đường thẳng….).Tôi tìm cách tế nhị nhất để bước đầu xoá đi sự e ngại của những học sinh này (đây
là tâm lý thường gặp ở những học sinh yếu kém), chỉ bảo nhẹ nhàng tận tình đểhọc sinh đó khắc phục những thiếu xót , sai lầm thường gặp Qua những bài tập
mà học sinh trực tiếp hoàn thành ( học sinh yếu kém thường ít tự mình hoàn thiệncác bài tập) tôi không ngừng khích lệ để học sinh hiểu rằng nếu mình cố gắngthêm hoàn toàn có thể giải quyết được những bài toán cơ bản thậm chí khó hơn Học sinh yếu kém thường có sự mặc cảm về việc học, thường ỉ lại việc xâydựng bài, chữa bài tập cho những học sinh khác Tình trạng này nếu không đượckhắc phục sẽ ngày càng làm tăng tính thụ động của học sinh, kiến thức cũ khôngđược cũng cố, kiến thức mới ít được lĩnh hội thì việc giáo dục học sinh yếu kém vềsau càng trở nên khó khắn hơn Vì lẽ đó ngoài việc tạo điều kiện, khích lệ học sinhtôi còn đưa ra những điều kiện nhất định để yêu cầu học sinh dù là yếu kém nhấtcũng phải ít nhiều suy nghĩ, vận động trong các giờ học nhất là các giờ bài tập.Ngoài ra việc khơi gợi động cơ học tập còn được tôi thể hiện trong quá trình dạyhọc đó là nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học, những tấm gương sáng biếtvươn lên trong học tập …
Việc khơi gợi động cơ học tập của giáo viên càng tốt thì sự háo hức trong họctập của học sinh càng cao Động cơ này, niềm tin này là nguyên nhân quan trọngtrong sự tiến bộ của học sinh đặc biệt với những học sinh yếu kém
MTBT (Máy tính bỏ túi ) là một công cụ vô cùng cần thiết với học sinh, đặcbiệt cần thiết trong môn toán Trong các kì thi các loại máy tính có nhiều chức năngnhư : FX 500 MS, FX 570 MS … đều được cho phép sử dụng trong phòng thi Đốivới những học sinh việc sử dụng máy tính bỏ túi giúp ích rất nhiều trong việc tiếtkiệm thời gian làm bài Đối với học sinh yếu kém máy tính càng trở nên cần thiếthơn, tuy nhiên đa phần những học sinh yếu kém môn toán thường yếu kém cả kĩnăng sử dụng MTBT Thực tế cho thấy rằng nhiều học sinh nếu không sử dụng