1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu ảnh hưởng của việc cung cấp nước uống và rơm làm ổ đẻ đến năng suất sinh sản của lợn nái địa phương nuôi tại CHDCND lào

82 336 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM VIENGSAMAY SISONGKHAM NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC CUNG CẤP NƯỚC UỐNG VÀ RƠM LÀM Ổ ĐẺ ĐẾN NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI ĐỊA PHƯƠNG NUÔI

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

VIENGSAMAY SISONGKHAM

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC CUNG CẤP NƯỚC UỐNG VÀ RƠM LÀM Ổ ĐẺ ĐẾN NĂNG SUẤT

SINH SẢN CỦA LỢN NÁI ĐỊA PHƯƠNG

NUÔI TẠI CHDCND LÀO

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thái Nguyên - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

VIENGSAMAY SISONGKHAM

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC CUNG CẤP NƯỚC UỐNG VÀ RƠM LÀM Ổ ĐẺ ĐẾN NĂNG SUẤT

SINH SẢN CỦA LỢN NÁI ĐỊA PHƯƠNG

NUÔI TẠI CHDCND LÀO

Chuyên ngành: Chăn nuôi

Mã số: 60 62 01 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Văn Phùng

Thái Nguyên - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2016

Học viên

Viengsamay Sisongkham

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Nhân dịp hoàn thành luận văn trước tiên, cho phép tôi được bảy tỏ lòng biết

ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Văn Phùng là thầy hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này Chúc Thầy cùng gia đình mạnh khỏe và thành công trong công việc

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới tập thể Ban Giám đốc Viện Chăn Nuôi, Phòng Đào tạo và Thông tin, các thầy giáo, cô giáo đã giúp đỡ về mọi mặt, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi hoàn thành luận văn

Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, cán bộ công nhân viên Trung tâm nghiên cứu chăn nuôi Quốc gia Lào (Nậm Xuông) và Ban lãnh đạo, cán

bộ công nhân viên Viện khoa học sự sống Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên

đã luôn ủng hộ, động viên và tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình hoàn thành luận văn

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn toàn thể gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn này

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2016

Học viên

Viengsamay Sisongkham

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

1.2.1 Mục tiêu của đề tài 3

1.2.1.1 Mục tiêu chung 3

1.2.1.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.2.2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học 4

1.1.1 Đặc điểm về giống lợn địa phương Lào 4

1.1.1.1 Đặc điểm chung 4

1.1.1.2 Đặc điểm của giống lợn Lạt 4

1.1.1.3 Đặc điểm của giống lợn Mông 4

1.1.1.4 Đặc điểm của giống lợn Chít 5

1.1.1.5 Đặc điểm của giống lợn Đeng (lợn đỏ) 5

1.1.2 Cơ sở khoa học về đặc điểm di truyền các tính trạng năng suất sinh sản của lợn 6

1.1.2.1 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái 8

1.1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất của lợn nái 9

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái 13

1.1.3.1 Yếu tố di truyền 13

1.1.3.2 Ảnh hưởng của thức ăn và dinh dưỡng đến sức sản xuất của lợn nái 14

1.1.3.3 Ảnh hưởng của số trứng rụng 17

Trang 6

1.1.3.4 Ảnh hưởng của tuổi và lứa đẻ đến sức sản xuất của lợn nái 19

1.1.3.5 Số lần phối và phương thức phối giống 19

1.1.3.6 Ảnh hưởng của số con trong ổ 20

1.1.3.7 Thời gian cai sữa 20

1.1.3.8 Ảnh hưởng của mùa vụ đến sức sản xuất của lợn nái 21

1.1.4 Nước uống và vai trò của nước uống đối với sức sản xuất của lợn nái 21

1.1.4.1 Vai trò của nước đối với sức sản xuất của lợn nái 21

1.1.4.2 Việc cung cấp nước uống cho lợn nái 22

1.1.5 Tiểu khí hậu chuồng nuôi và ảnh hưởng của chất đệm lót đến sức sản xuất của lợn nái 24

1.1.5.1 Tiểu khí hậu chuồng nuôi lợn nái (Nhiệt độ, ẩm độ, thông thoáng ) 24

1.1.5.2 Chất đệm lót và ảnh hưởng của nó đến năng suất sinh sản của lợn nái 25

1.1.6 Khái quát về khả năng sinh trưởng của lợn con 29

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về chăn nuôi lợn trên thế giới và Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào 31

1.2.1 Tình hình chăn nuôi lợn trên thế giới 31

1.2.2 Tình hình nghiên cứu về chăn nuôi lợn tại CHDCND Lào 32

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34 2.1 Đối tượng nghiên cứu 34

2.2 Địa điểm thời gian nghiên cứu 34

2.3 Nội dung nghiên cứu 34

2.4 Phương pháp nghiên cứu 34

2.4.1 Thiết kế thí nghiệm 34

2.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi 36

2.4.3 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 38

2.5 Phương pháp xử lý số liệu 39

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40

3.1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung nước uống, chất độn chuồng đến lượng thức ăn, nước uống tiêu thụ của lợn nái 40

3.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng việc bổ sung nước uống, chất độn chuồng đến khối lượng của lợn nái 42

Trang 7

3.3 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng việc bổ sung nước uống, chất độn chuồng đến

khoảng cách lứa đẻ của lợn nái 45

3.4 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng việc bổ sung nước uống, chất độn chuồng đến số con đẻ/lứa của lợn nái 48

3.5 Kết quả nghiên cứu việc bổ sung nước uống và chất độn chuồng đến tỷ lệ nuôi sống của lợn con 53

3.6 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung nước uống, chất độn chuồng đến sinh trưởng tích lũy của lợn con 55

3.7 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung nước uống, chất độn chuồng đến sinh trưởng tuyệt đối của lợn con 59

3.8 Kết quả nghiên cứu về hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn nái khi được bổ sung nước uống và chất độn chuồng 61

3.9 Chi phí thức ăn/kg lợn con cai sữa khi lợn nái được bổ sung nước uống và chất độn chuồng 63

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 65

1 Kết luận 65

2 Đề nghị 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

I Tiếng Việt 66

II Tiếng Anh 69

III Tiếng Lào 72

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Khẩu phần thức ăn của lợn thí nghiệm 35

Bảng 2.2: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 36

Bảng 3.1 Kết quả nghiên cứu về lượng thức ăn, nước uống tiêu thụ của lợn nái 40

Bảng 3.2 Kết quả nghiên cứu về khối lượng của lợn nái tại các thời điểm sinh sản khác nhau 42

Bảng 3.3 Kết quả nghiên cứu về số lứa đẻ/năm của lợn nái thí nghiệm 45

Bảng 3.4 Kết quả nghiên cứu về số con đẻ ra/lứa và số lợn con chết từng thời điểm của lợn nái 49

Bảng 3.5 Kết quả nghiên cứu về tỷ lệ sống của lợn con trong giai đoạn theo mẹ 53

Bảng 3.6 Kết quả nghiên cứu về khối lượng lợn con qua các kỳ cân 55

Bảng 3.7 Kết quả nghiên cứu về sinh trưởng tuyệt đối của lợn con 59

Bảng 3.8 Kết quả nghiên cứu về tiêu tốn thức ăn/kg lợn con 62

Bảng 3.9 Kết quả nghiên cứu về chi phí thức ăn/kg lợn con cai sữa 63

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Biểu đồ sinh trưởng tích lũy của lợn con thí nghiệm 57 Hình 3.2 Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của lợn con thí nghiệm 61

Trang 11

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Trên thế giới, chăn nuôi lợn là một ngành phát triển, thịt lợn chiếm một tỷ trọng lớn (khoảng 40%) tổng sản lượng các loại thịt Tại Lào, hơn 80% số lượng lợn

là lợn địa phương và được nuôi trong các hộ chăn nuôi nhỏ với các hệ thống nuôi nhốt khác nhau (Soukanhet và cs., 2013)[62] Chăn nuôi lợn địa phương đóng một vai trò quan trọng trong sinh kế của người nông dân Đó là nguồn thực phẩm cung cấp cho nhu cầu trong gia đình, là nguồn thu nhập dự phòng và là một phần của hệ thống bảo hiểm cho người nghèo ở vùng cao Chăn nuôi lợn cung cấp nguồn thực phẩm an toàn và đóng góp vào các nghi lễ truyền thống trong đời sống của người dân nông thôn

Lợn địa phương được nuôi chủ yếu do đầu tư ban đầu thấp, nguồn thức ăn chủ yếu là thức ăn có sẵn trong tự nhiên Lợn bản địa thường thấy chủ yếu ở các vùng nông thôn, chúng có thể tự tìm kiếm thức ăn xung quanh làng bản, trong rừng

và các khu đồi bãi trống Một số nông dân nuôi lợn trong các khu đất có rào vây quanh hoặc các bãi rào kín Theo truyền thống, người nông dân thường sử dụng nguồn thức ăn chăn nuôi tự nhiên bao gồm sắn, ngô, cám gạo, các cây trồng lấy củ,

lá khoai và thức ăn xanh từ rừng, phụ phẩm sinh hoạt Đặc điểm chung của nguồn thức ăn này là có năng lượng cao, nhưng hàm lượng protein thô thấp, trong thức ăn xanh chứa nhiều chất xơ… (Phengsavang and Stur., 2006)[58]

Một điều quan trọng là người nông dân chưa tiếp cận được với những tiến bộ

về khoa học kỹ thuật, kỹ thuật quản lý và chăn nuôi lợn Trong tất cả các giai đoạn sinh trưởng và sinh sản, lợn được nuôi với cùng một chế độ dinh dưỡng, nguồn thức

ăn chủ yếu là tận dụng nguồn phụ phẩm trong chế biến của ngành trồng trọt và chúng phải cạnh tranh do số lượng thức ăn cung cấp hạn chế Do quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ, thậm chí thả rông nên thời gian dành cho việc chăm sóc vật nuôi bị giới hạn,chuồng trại sơ sài, chưa đảm bảo vệ sinh thú y, môi trường, ngay cả trong những giai đoạn đặc biệt của quá trình sản xuất như từ giai đoạn mang thai đến trước khi cai sữa lợn con Từ đó dẫn đến năng suất sinh sản kém, lợn con luôn có sinh trưởng thấp (20-50g/ngày) và tỷ lệ tử vong trong giai đoạn từ khi sinh đến cai sữa cao, có thể lên đến 30-50% Hiệu quả kinh tế thấp (Soukanhet và cs., 2013)[62]

Trang 12

Theo truyền thống, người chăn nuôi thường cung cấp nước cho lợn thông qua trộn với thức ăn Ngoài ra, chúng không được cho uống thêm nước, kết quả dẫn đến lợn bị thiếu nước, đặc biệt trong giai đoạn tiết sữa nuôi con Khi đó, lượng thức

ăn ăn vào của lợn nái giảm, làm cho sản lượng sữa và năng suất chăn nuôi lợn nái kém Trạng thái mất nước và lượng ngoại bào giảm sẽ làm giảm khả năng chống chịu với nhiệt độ môi trường cao của vật nuôi

Trong điều kiện nhiệt độ môi trường cao, đặc biệt ở thời kỳ chửa cuối, thường ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ nuôi sống của lợn con sơ sinh Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ chết non tăng khi nhiệt độ chuồng nuôi là 380C trong khoảng từ ngày chửa thứ 102 đến 110 của thời kỳ mang thai Ở mức nhiệt độ trên 22-250C, lượng thức ăn ăn vào và sức sản xuất sữa của lợn nái đã bị giảm Trong khi đó, ở nước Lào với khí hậu nhiệt đới đặc trưng, nhiệt độ ảnh hưởng không nhỏ đến sinh trưởng và phát triển, cũng như khả năng sinh sản của lợn nái

Vì những lý do đó, việc nghiên cứu những giải pháp kỹ thuật có hiệu quả để tăng sức đề kháng và khả năng sống của lợn con, hỗ trợ lợn nái trước và trong suốt quá trình đẻ, góp phần giảm thiểu mức độ ảnh hưởng của điều kiện môi trường nuôi

là rất cần thiết Việc cung cấp vật liệu cho lợn nái làm ổ đẻ có thể giảm áp lực của lợn nái trong quá trình đẻ và có tác động tích cực đến tỷ lệ sống của lợn con sau khi sinh Lợn con sinh ra trong 1 đến 2 ngày đầu rất cần nhiệt độ môi trường cao (trên

300C) Về cơ bản, lợn con sơ sinh thường không có khả năng tự bảo vệ cơ thể của chính mình nên chúng phải phụ thuộc hoàn toàn vào sự chăm sóc của con người Thông thường, cơ thể lợn con mới sinh có sẵn một lượng mỡ chỉ đủ duy trì năng lượng sống trong ngày đầu, và lợn con không thể tự điều chỉnh nhiệt độ cơ thể trong vài ngày đầu tiên Do đó, bất kỳ lý do nào gây ra việc suy giảm lượng sữa được hấp thu, do lạnh hay do mầm bệnh, sẽ làm cho cơ thể lợn con bị yếu đi và rất dễ chết

Để góp phần giảm thiểu tác động bất lợi của môi trường và nâng cao năng

suất chăn nuôi lợn nái địa phương của Lào, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu

ảnh hưởng của việc cung cấp nước uống và rơm làm ổ đẻ đến năng suất sinh sản của lợn nái địa phương nuôi tại CHDCND Lào”

Trang 13

1.2 Mục tiêu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

1.2.1 Mục tiêu của đề tài

1.2.1.1 Mục tiêu chung

Mục tiêu chung là tăng số lượng lợn con cai sữa/nái/năm của lợn địa phương nuôi tại Lào thông qua việc giảm thiểu tác động bất lợi của môi trường sống bằng các kỹ thuật cung cấp nước và rơm làm ổ đẻ cho lợn nái

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1.1.2 Đặc điểm của giống lợn Lạt

Lợn Lạt có mặt trong mọi miền của Lào nhưng gặp nhiều tại miền Bắc và miền Trung của Lào, có thân hình nhỏ, màu đen, có dấu chấm trắng trên trán, lợn cái có khối lượng lớn hơn con đực Con cái có khối lượng khoảng 80 - 100 kg, con đực thì khoảng 60 - 80 kg

Giống lợn Lạt nuôi tại các tỉnh miền Bắc Lào

1.1.1.3 Đặc điểm của giống lợn Mông

Lợn Mông gặp nhiều trên vùng miền có người Mông (Lào sung) sinh sống như Noong Hót tỉnh Xiêng Khoảng, các tỉnh miền Bắc và miền Trung của Lào Lợn Môngcó thân hình lớn hơn lợn Lạt, màu đen Lợn cái có khối lượng lớn hơn con đực Con cái có khối lượng khoảng 85 - 120 kg, con đực thì khoảng 60 - 80 kg

Trang 15

Giống lợn Mông nuôi tại Noong Hót tỉnh Xiêng Khoảng

1.1.1.4 Đặc điểm của giống lợn Chít

Lợn Chít gặp ở các tỉnh miền Trung của Lào và được nuôi nhiều là tỉnh Bo

Ly Kham Xay và Kham Muôn có màu đen, thân hình nhỏ bé Con cái có khối lượng khoảng 40 - 60 kg, con đực thì khoảng 30 - 40 kg

Giống lợn lợn Chít nuôi các tỉnh miền Trung của Lào

1.1.1.5 Đặc điểm của giống lợn Đeng (lợn đỏ)

Đây cũng là một giống lợn địa phương của Lào chỉ gặp ở các tỉnh miền Nam của Lào, đặc biệt là tỉnh Chăm Sa Sắc Giống lợn này chưa được nghiên cứu sâu, người ta chỉ nghi ngờ đó là kết quả của tổ hợp lai giữa giống lợn Duroc và giống lợn địa phương của Lào Chúng có thân hình thon, màu đỏ, trán ngắn, khối lượng khoảng 65 - 90 kg

Giống lợn Đeng nuôi tại các tỉnh Miền Nam Lào

Trang 16

1.1.2 Cơ sở khoa học về đặc điểm di truyền các tính trạng năng suất sinh sản của lợn

- Tính trạng số lượng và sự di truyền của tính trạng số lượng

Tính trạng số lượng còn gọi là tính trạng đo lường, vì sự nghiên cứu của chúng phụ thuộc vào sự đo lường Hầu hết những tính trạng có giá trị của gia súc đều là những tính trạng số lượng

Tính trạng số lượng chịu sự tác động của nhiều cặp gen, phương thức di truyền của các cặp gen này tuân theo các quy luật cơ bản của di truyền như phân ly,

tổ hợp, liên kết… Mỗi gen thường có tác động cộng gộp lớn hơn, tác dụng của nhiều gen khác nhau trên cùng một tính trạng có thể là cộng gộp, cũng có thể là không, ngoài ra còn có các kiểu tác động ức chế nhau giữa các gen nằm ở những locus khác nhau

Có hai hiện tượng di truyền cơ bản có liên quan đến tính trạng số lượng và mỗi hiện tượng di truyền này có một cơ sở lý luận cho việc cải tiến di truyền cho giống vật nuôi Trước hết đó là sự giống nhau giữa các con vật thân thuộc và quan

hệ thân thuộc càng gần con vật càng giống nhau Đó là cơ sở di truyền cho sự chọn lọc và sau đó là sự suy hóa cận thân Thứ hai là hiện tượng ngược lại về sức sống của con lai, đây là cơ sở của sự chọn phối để nhân thuần và tạp giao

- Các yếu tố ảnh hưởng đến tính trạng số lượng

Tính trạng số lượng dễ chịu ảnh hưởng, tác động của môi trường Vật nuôi sống trong một môi trường nhất định nên sự hình thành hoạt động của tính trạng không những chịu sự chi phối của các gen mà còn chịu ảnh hưởng rất lớn của môi trường

Giá trị kiểu hình của bất kỳ tính trạng số lượng nào cũng được biểu thị qua giá trị của kiểu gen và sai lệch môi trường

P = G + E Trong đó: P: Giá trị kiểu hình (Phenotypic Value)

G: Giá trị kiểu gen (Genotypic Value) E: Sai lệch môi trường (Environmental Deviation) Tùy theo phương hướng tác động của các gen alen mà giá trị kiểu gen có thể bao gồm các thành phần khác nhau

G = A + D + I

Trang 17

“A” gọi là giá trị cộng gộp, thành phần quan trọng nhất cố định không thay đổi có thể di truyền được và còn được gọi là giá trị giống của cá thể là cơ sở di truyền của việc chọn giống

“D” là tính trội (Dominance) là tác động trội của các cặp alen trong cùng một locus nên không có tính trội thì giá trị di truyền và giá trị cộng gộp là bằng nhau Khi xem xét một locus duy nhất sự khác nhau giữa giá trị kiểu gen và giá trị giống

A và giá trị di truyền đó chính là sai lệch trội D

Do vậy: G = A + D

“I” là các gen của các cặp gen hoặc cùng alen sai lệch tương tác nên kiểu gen

là do từ hai locus trở lên cấu thành giá trị kiểu gen có thể thêm một sai lệch do sự tương tác giữa các gen trong các locus khác nhau

- Hệ số di truyền một số tính trạng ở lợn

Hệ số di truyền là tỷ lệ phần trăm do gen quy định trong việc tạo nên kiểu hình Hệ số di truyền có hai loại đó là hệ số di truyền theo nghĩa hẹp và hệ số di truyền theo nghĩa rộng

Hệ số di truyền theo nghĩa hẹp biểu thị giá trị kiểu hình được quyết định bởi các gen truyền đạt từ bố mẹ cho đời con

Trong đó: VG là phương sai giá trị kiểu hình

VP là phương sai giá trị kiểu gen

Ở lợn, các tính trạng có hệ số di truyền thấp hầu hết là các tính trạng sinh sản, còn các tính trạng có hệ số di truyền cao hơn là các tính trạng có liên quan tới chất lượng sản phẩm và sự sinh trưởng

Trang 18

1.1.2.1 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái

* Đặc điểm cấu tạo bộ máy sinh dục lợn cái

Cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn cái bao gồm: Buồng trứng, ống dẫn trứng,

tử cung (cổ, thân và sừng tử cung), âm đạo và các cơ quan bên ngoài

- Buồng trứng: Khác với dịch hoàn, buồng trứng nằm trong xoang bụng, phát triển thành một cặp Buồng trứng lợn cái có dạng chùm nho, khối lượng một buồng trứng là 4-7g Ở lợn trưởng thành, buồng trứng có 10 - 25 nang trứng thành thục, đường kính nang là 8 - 12mm, thể vàng thành thục có hình cầu hoặc hình trứng đường kính 5 - 10mm

- Ống dẫn trứng: Được chia thành 4 đoạn là tua diềm, phễu, phồng ống dẫn trứng và eo Ống dẫn trứng có một chức năng duy nhất là vận chuyển trứng và tinh trùng theo một hướng ngược chiều nhau, hầu hết là đồng thời Phồng ống dẫn trứng

là nơi xảy ra sự thụ tinh Ống dẫn trứng cung cấp điều kiện ngoại cảnh thuận lợi nhất của các giao tử và cho sự phát triển ban đầu của phôi

- Tử cung: Gồm có 2 sừng, một thân và một cổ tử cung Tử cung lợn thuộc loại 2 sừng, các sừng gấp nếp hoặc quấn lại và có độ dài đến hơn 1m Độ dài này thích hợp cho việc mang đa thai Ở lợn trưởng thành, trung bình các sừng tử cung dài

40 - 45cm, thân tử cung dài 5cm, cổ tử cung dài 10cm và có đường kính ngoài 2 - 3cm Tử cung có nhiều chức năng Nội mạc tử cung và các dịch tử cung giữ vai trò chủ chốt trong quá trình sản xuất bao gồm các chức năng vận chuyển tinh trùng, điều hòa chức năng của thể vàng, là nơi làm tổ của phôi, thực hiện các chức năng chửa đẻ

- Âm đạo: Có cấu tạo giống như một ống cơ có thành dày, dài 10 - 12cm Đây là cơ quan giao cấu của lợn cái, là ống thải của dịch cổ tử cung, nội mạc tử cung và ống dẫn trứng, đồng thời cũng là đường cho thai ra ngoài khi đẻ

- Bộ phận sinh dục bên ngoài: Là phần có thể sờ thấy và quan sát được, bao gồm âm môn, âm vật và tiền đình

* Đặc điểm sinh lý sinh sản của gia súc

Sinh sản là một quá trình sinh học hết sức phức tạp của cơ thể động vật, đồng thời là chức năng duy trì nòi giống và tái sản xuất của vật nuôi Sinh sản hữu tính là hình thức sinh sản cao nhất và phổ biến nhất ở cơ thể động vật Đó là quá trình có

Trang 19

sự tham gia của hai cơ thể đực và cái, là một quá trình mà ở đó con đực sản sinh ra tinh trùng, con cái sản sinh ra trứng, sự thụ tinh giữa trứng và tinh trùng hình thành hợp tử, hợp tử phát triển trong tử cung con cái và sinh ra đời con

Gia súc phát triển đến một giai đoạn nhất định thì có biểu hiện về tính dục Lợn cái khi thành thục về tính sẽ xuất hiện các triệu chứng động dục và kèm theo quá trình rụng trứng Song song với quá trình rụng trứng thì cơ thể nói chung, đặc biệt là

cơ quan sinh dục phát sinh hàng loạt các biến đổi và có sự lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ Chu kỳ này xuất hiện khi cơ thể cái thành thục về tính, kết thúc khi già yếu Thời gian của một chú kỳ được tính từ lần rụng trứng trước tới lần rụng trứng sau

Chu kỳ động dục của lợn cái là một trong các chỉ tiêu quan trọng của sinh sản và được điều khiển bởi hai yếu tố thần kinh, thể dịch Khi các nhân tố ngoại cảnh như ánh sáng, nhiệt độ, mùi con đực tác động và kích thích vùng dưới đồi (Hypothalamus) giải phóng ra các yếu tố tác động lên tuyến yên, kích thích thùy trước tuyến yên tiết FSH (Folliculo Stimulin Hormone) và LH (Lutein Stimulin Hormone) FSH kích thích noãn bao phát triển đồng thời cùng với LH làm cho noãn bao thành thục, chín và rụng trứng Khi noãn bao phát triển và thành thục, tế bào hạt trong thượng bì bao noãn tiết ra Oestrogen chứa đầy trong xoang bao noãn Khi hàm lượng hormone này trong máu đạt 64 - 112% sẽ kích thích con vật có những biểu hiện động dục Cuối chu kỳ động dục thì Oestrogen lại kích thích tuyến yên tiết

ra LH và giảm tiết FSH Khi lượng LH/FSH đạt tỷ lệ 3/1 thì sẽ kích thích cho trứng chín và rụng Sau khi trứng rụng, thể vàng được hình thành ở nơi bao noãn vỡ ra Thể vàng tiết Progesterone giúp cho quá trình chuẩn bị tiếp nhận ở sừng tử cung, đồng thời ức chế tiết GSH (Gonado Stimulin Hormone) của tuyến yên làm cho bao noãn trong buồng trứng của lợn cái không phát triển được và kết thúc một chu kỳ động dục

Khi kết thúc một chu kỳ động dục, con cái được thụ tinh, hình thành hợp tử, phát triển bào thai, sau hết thời kỳ mang thai thì diễn ra quá trình sinh đẻ

1.1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất của lợn nái

Ian Gordon (2004)[48] cho rằng trong các trang trại chăn nuôi hiện đại, số lợn con cai sữa do một lợn nái sản xuất trong một năm là chỉ tiêu đánh giá đúng đắn

Trang 20

nhất năng suất sinh sản của lợn nái, chỉ tiêu này được tính chung trong toàn bộ thời gian sử dụng lợn nái (từ lứa đẻ 1 đến lứa đẻ cuối cùng) Tác giả cũng cho biết tầm quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu số lợn con cai sữa do một nái sản xuất trong một năm lần lượt là số con đẻ ra trong ổ, tỷ lệ chết của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa, thời gian bú sữa, tuổi đẻ lứa đầu và thời gian từ cai sữa đến khi thụ thai lứa sau Theo Ducos (1996)[39] cho biết các yếu tố ảnh hưởng tới chỉ tiêu số con còn sống khi cai sữa gồm: số trứng rụng, tỷ lệ lợn con sơ sinh còn sống và tỷ lệ lợn con còn sống tới lúc cai sữa

Mabry và cs (1997)[52] cho rằng các chỉ tiêu năng suất sinh sản chủ yếu của lợn nái bao gồm: số con đẻ ra/ổ, số con cai sữa/ổ, khối lượng toàn ổ ở 21 ngày tuổi

và số lứa đẻ/nái/năm Các chỉ tiêu này ảnh hưởng lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái, từ đó trực tiếp ảnh hưởng tới lợi nhuận của người chăn nuôi lợn

Để có được số lợn con cai sữa/nái/năm cao thì chúng ta cần phải hoàn thiện tất cả các khâu trong quá trình chăn nuôi

Các chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất của lợn nái: Tuổi động dục lần đầu, tuổi phối giống lần đầu, tuổi đẻ lứa đầu, khoảng cách lứa đẻ, số lứa đẻ/nái/năm, số con

sơ sinh/ổ, số con để nuôi/ổ, khối lượng sơ sinh để nuôi/ổ, số con cai sữa/ổ, khối lượng cai sữa, tỉ lệ nuôi sống đến cai sữa, khối lượng lợn con cai sữa/nái/năm

- Tuổi động dục lần đầu

Là tuổi khi lợn cái có biểu hiện động dục lần đầu tiên Tuổi động dục lần đầu khác nhau về giống lợn Các giống khác nhau biểu hiện thành tích sinh sản khác nhau vì kiểu gen của chúng khác nhau, mỗi giống gia súc đều có cả gen trội và gen lặn đối với chỉ tiêu mong muốn và không mong muốn Trong chọn lọc cần chọn đàn giống có tỷ lệ kiểu gen trội đối với chỉ tiêu mong muốn cao nhất và hạn chế đến

mức tối thiểu sự thể hiện gen lặn của tính trạng không mong muốn

- Tuổi phối giống lần đầu

Là tuổi tại thời điểm phối giống lần đầu.Thông thường người ta chưa tiến hành phối giống cho lợn động dục lần đầu tiên, tại thời điểm này, lợn chưa thành thục về thể vóc, số lượng trứng rụng còn ít Người ta thường phối giống cho lợn nái

ở kỳ động dục thứ 2 hoặc thứ 3 Phối giống cho lợn quá sớm hay quá muộn đều

Trang 21

không tốt.Vì vậy, chúng ta cần theo dõi tránh phối giống sớm hoặc muộn gây tổn thất về kinh tế

- Tuổi đẻ lứa đầu

Là tuổi lợn mẹ đẻ lứa đầu tiên Tuổi đẻ lứa đầu phụ thuộc vào giống và chế

độ nuôi dưỡng Tuổi đẻ lứa đầu cao ảnh hưởng tới số con cai sữa/nái/năm Vì thời gian sinh sản của lợn nái sẽ ngắn lại dẫn đến giảm số con cai sữa/nái/năm, làm cho lợi nhuận/nái/năm giảm xuống

- Số con sơ sinh còn sống đến 24h/lứa đẻ

Là chỉ tiêu phụ thuộc vào khả năng đẻ nhiều hay ít con của giống, trình độ phối giống của người nuôi dưỡng chăm sóc, và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái chửa Trong 24h sau khi sinh, những con không đạt khối lượng sơ sinh trung bình của giống, dị dạng… sẽ bị loại thải Ngoài ra, do lợn con chưa nhanh nhẹn bị lợn mẹ đè chết

- Bình quân số lợn con đẻ ra còn sống/lứa

Là tỷ lệ giữa tổng số lợn con đẻ ra còn sống trong 24 giờ kể từ khi lợn nái đẻ xong của tất cả các lứa đẻ trên tổng số lứa đẻ Số con còn sống để lại nuôi là những con đẻ ra còn sống để lại nuôi, đối với lợn ngoại khối lượng lớn hơn 0,8kg, đối với nội khối lượng lớn hơn 0,3kg

- Tỷ lệ sống

Tỷ lệ sống của lợn con sau 24 giờ là tỷ lệ số lợn con còn sống đến 24 giờ so với số con đẻ ra còn sống

- Số con cai sữa/lứa

Đây là chỉ tiêu kinh tế rất quan trọng, quyết định năng suất trong chăn nuôi lợn nái, nó phụ thuộc vào kỹ thuật chăn nuôi lợn con bú sữa, khả năng tiết sữa nuôi

co của lợn nái và khả năng hạn chế các yếu tố gây bệnh cho lợn con Đó là số lợn con còn sống cho đến khi cai sữa, thời gian cai sữa dài hay ngắn phụ thuộc vào trình

độ chế biến thức ăn và kỹ thuật nuôi Trong chăn nuôi đại trà thường cai sữa vào 35 hoặc 42 ngày tuổi

- Số con cai sữa/nái/năm

Là chỉ tiêu tổng quát nhất để đánh giá năng suất chăn nuôi lợn nái Chỉ tiêu

Trang 22

này phụ thuộc vào thời gian cai sữa lợn con và số lợn con cai sữa trong mỗi lứa đẻ Nếu cai sữa sớm sẽ tăng số lứa đẻ/nái/năm, và tăng số lượng lợn con cai sữa trong mỗi lứa thì số lượng lợn con cai sữa/nái/năm cao và ngược lại Số lượng lợn con cai sữa/nái/năm là tỷ lệ giữa tổng số lợn con cai sữa trong năm so với tổng số lợn nái sinh sản trong năm

- Khối lượng sơ sinh

Là khối lượng lợn con được cân ngay sau khi đẻ, đã được lau khô, cắt rốn, bấm nanh, đánh số tai và trước khi cho bú lần đầu tiên

Khối lượng sơ sinh toàn ổ là chỉ tiêu nói lên khả năng nuôi dưỡng thai của lợn mẹ, đặc điểm giống, kỹ thuật quản lý chăm sóc và phòng bệnh cho lợn nái chửa

Do đó, thành tích này phụ thuộc vào cả phần của lợn nái và phần nuôi dưỡng của con người

Khối lượng sơ sinh toàn ổ là khối lượng của tất cả lợn con sinh ra còn sống

và được phát dục hoàn toàn Nếu những lợn sinh ra khỏe mạnh mà bị lợn mẹ đè chết thì đó thuộc về trách nhiệm của con người chứ không phụ thuộc vào năng suất của lợn nái

Khối lượng sơ sinh phụ thuộc vào giống, khối lượng sơ sinh của lợn nội thường từ 0,4 - 0,6 kg/con, khối lượng sơ sinh của lợn ngoại trung bình 1,1 - 1,2 kg/con

Lợn con có khối lượng sơ sinh càng cao thì khả năng sinh trưởng càng nhanh, khối lượng cai sữa sẽ cao

- Độ đồng đều

Là chỉ tiêu đánh giá sự chênh lệch về khối lượng giữa các cá thể trong đàn,

có 2 phương pháp tính: Một là lấy khối lượng sơ sinh từng con so sánh với khối lượng sơ sinh bình quân của toàn ổ Sự chênh lệch càng nhỏ chứng tỏ sự đồng đều

là rất cao Hai là xác định độ đồng đều phát dục thông qua so sánh tỷ lệ giữa khối lượng sơ sinh nhỏ nhất so với khối lượng sơ sinh lớn nhất

Đồng đều là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng của nái về khả năng sinh sản Bởi vì khi so sánh giữa hai đàn lợn có thể khối lượng sơ sinh kém nhau không nhiều nhưng độ đồng đều của lợn con giữa các đàn là chênh lệch rất lớn

Trang 23

- Khối lượng cai sữa toàn ổ

Ngoài chỉ tiêu số con cai sữa trên lứa, khối lượng cai sữa toàn ổ cũng là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng suất của lợn nái

Khối lượng lợn con cai sữa phụ thuộc rất lớn vào khối lượng sơ sinh và là cơ

sở cho việc nâng cao khối lượng xuất chuồng sau này

Khối lượng bình quân của lợn con khi cai sữa (kg) bằng tổng số khối lượng lợn con cai sữa (kg) so với tổng số lợn con cai sữa

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái

1.1.3.1 Yếu tố di truyền

Giống là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái (Đặng Vũ Bình, 1999)[3] Chọn lọc là phương pháp đơn giản và được sử dụng để nâng cao chất lượng đàn giống vật nuôi Chọn lọc cũng là động lực đầu tiên để đạt tới sự tiến bộ di truyền, chọn lọc có thể tăng số lượng gen tốt và giảm số lượng gen xấu thông qua quan sát kiểu hình

Trong chọn lọc cần chọn đàn giống có tỷ lệ kiểu gen trội đối với chỉ tiêu mong muốn cao nhất và hạn chế đến mức tối thiểu sự thể hiện gen lặn của tính trạng không mong muốn

Theo Rothschild, BidanelJ (1998)[59], căn cứ vào khả năng sinh sản và sức sản xuất thịt, các giống lợn được chia làm bốn nhóm chính:

- Giống địa phương có đặc tính chung là khả năng sinh sản và sức sản xuất thịt kém nhưng có khả năng thích nghi tốt với môi trường

- Các giống đa dụng như: Yorkshire, Landrace và một số dòng nguyên chủng được xếp vào loại có khả năng sản xuất thịt và sinh sản khá

- Các giống chuyên dụng dòng bố như Pietrain, Landrace của Bỉ, Hampshire có khả năng sinh sản trung bình và khả năng sản xuất thịt cao

- Các giống chuyên dụng dòng mẹ như Meishan, Taihu của Trung Quốc có khả năng sinh sản cao nhưng khả năng cho thịt kém

Các giống khác nhau có năng suất sinh sản khác nhau Mỗi giống gia súc đều

có cả gen trội và gen lặn đối với chỉ tiêu mong muốn và không mong muốn Ở gia súc thuộc các giống khác nhau thì có sự thành thục về tính cũng khác nhau, gia súc

Trang 24

có tầm vóc nhỏ như các giống lợn nội (Móng Cái, Ỉ ) thường thành thục sớm hơn

so với các giống lợn ngoại có tầm vóc lớn (Landrace, Yorkshire ) Theo Nguyễn Ngọc Phục (2003)[20], lợn cái Meishan có tuổi thành thục sớm hơn so với lợn Landrace và Yorkshire khi nuôi trong cùng điều kiện

1.1.3.2 Ảnh hưởng của thức ăn và dinh dưỡng đến sức sản xuất của lợn nái

Thức ăn và dinh dưỡng là yếu tố quan trọng để đảm bảo khả năng sinh sản của lợn nái, cần phải cung cấp đầy đủ về số lượng và chất lượng các chất dinh dưỡng cho lợn nái hậu bị, lợn nái có chửa và lợn nái nuôi con

Nuôi dưỡng tốt lợn nái trước khi động dục có thể làm tăng số lượng trứng rụng, tăng số phôi sống Do đó áp dụng chế độ dinh dưỡng "Flushing" trong chăn nuôi lợn làm tăng số lượng trứng rụng khi lợn nái động dục (85% so với 64%) và tăng lượng progesteron trong máu (10,5 ng so với 4,5ng/ml) Nuôi dưỡng lợn nái với mức năng lượng cao ở thời kỳ đầu khi lợn nái mang thai có thể làm tăng tỷ lệ chết phôi (Ian Gordon,1997)[47]

Ian Gordon (1997)[47] cũngcho biết, nuôi dưỡng lợn nái với mức năng lượng cao trong thời kỳ có chửa sẽ làm giảm mức thu nhận thức ăn trong thời kỳ tiết sữa nuôi con và ngăn cản sự phát triển của tuyến vú.Lợn nái nuôi con nên cho

ăn tự do để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng Giảm lượng thức ăn khi nuôi con sẽ làm giảm khối lượng cơ thể, hậu quả là thời gian động dục trở lại dài, giảm tỷ lệ thụ tinh

Mục tiêu của nuôi dưỡng lợn nái là làm sao cho số ngày không sản xuất ít nhất, khối lượng cơ thể tăng phù hợp trong thời kỳ có chửa và có được khối lượng

cơ thể thích hợp trong thời kỳ nuôi con

Trang 25

Nuôi dưỡng lợn nái trong thời kỳ tiết sữa nuôi con với mức protein thấp trong khẩu phần sẽ làm tăng thời gian động dục trở lại (Ian Gordon,1997) [47] Mức dinh dưỡng protein thấp trong thời kỳ chửa cuối sẽ làm cho lợn nái phải huy động dinh dưỡng của cơ thể để nuôi thai, do đó làm giảm khả năng sống của thai và lợn con khi đẻ cũng như sau khi đẻ, làm giảm khả năng tiết sữa của lợn mẹ dẫn đến lợn nái sinh sản kém Nuôi dưỡng lợn nái trong thời kỳ tiết sữa nuôi con với mức lyzin và protein thấp sẽ làm suy yếu sự phát triển của bao noãn, giảm khả năng thành thục của tế bào trứng, giảm số con đẻ ra và số con còn sống/ổ, tăng tỷ lệ hao hụt của lợn

mẹ và giảm tốc độ sinh trưởng của lợn con Có 9 axit amin thiết yếu đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh sản và trong quá trình phát triển của phôi cũng như trong quá trình sinh trưởng và phát triển của lợn Song mức protein quá cao trong khẩu phần sẽ không tốt cho lợn nái (Trần Văn Phùng và cs, 2004) [21]

+ Ảnh hưởng của protein

Lợn nái ngoại khẩu phần ăn thường chiếm từ 15 - 17% protein, tùy thuộc vào thể trạng và các giai đoạn Đối với lợn có 10 axit amin không thay thế đó là lyzin, methionin, systine, treonin, phenilalanin, listidin, tryptophan, lơxin, isolơxin, valin Nếu cung cấp thừa hay thiếu protein đều ảnh hưởng tới sinh sản của lợn nái Nếu thiếu ở giai đoạn mang thai sẽ làm khối lượng sơ sinh thấp, số con đẻ ra ít, thể trạng yếu ớt Ở giai đoạn nuôi con sẽ ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng sữa từ đó ảnh hưởng đến khả năng nuôi con của lợn mẹ Nếu cung cấp protein thừa ở giai đoạn mang thai sẽ làm tăng tỷ lệ thai chết, gây lãng phí protein, không đem lại hiệu quả kinh tế Hàm lượng protein có trong khẩu phần thức ăn tùy thuộc vào từng giai đoạn nuôi dưỡng của lợn nái Theo tiêu chuẩn Việt Nam (1994), hàm lượng protein trong thức ăn đối với lợn nái chửa là 14%, đối với nái nuôi con là 16% Theo tiêu chuẩn Nhật Bản (1993), hàm lượng protein thu nhận hàng ngày đối với lợn nái chửa là 248 g/con/ngày, đối với nái nuôi con là 812 g/con/ngày

Tuy nhiên việc cung cấp protein cho lợn nái còn phụ thuộc số con để nuôi

và thể trạng của con mẹ Kết quả nghiên cứu cho thấy cung cấp 246 gam protein tiêu hóa/ngày thì lợn mẹ tiết được 3,6 kg sữa/ngày, nếu cung cấp 736 gam protein tiêu hóa/ngày thì lợn mẹ tiết được 10,7 kg sữa/ngày Nhiều nghiên cứu còn cho thấy

Trang 26

việc cung cấp protein có nguồn gốc từ động vật cho năng suất sinh sản cao hơn protein có nguồn gốc từ thực vật

+ Ảnh hưởng của năng lượng

Việc cung cấp năng lượng theo nhu cầu của lợn nái cho từng giai đoạn có ý nghĩa rất quan trọng, vừa đảm bảo cho sinh lý bình thường vừa nâng cao được năng suất sinh sản

Nếu cung cấp thừa hay thiếu năng lượng đều không tốt Nó ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất sinh sản của lợn nái Cung cấp thừa năng lượng trong thời gian mang thai sẽ làm cho lợn nái béo gây chết phôi, đẻ khó và sau khi đẻ sẽ kém ăn làm giảm khả năng tiết sữa, đặc biệt là sữa đầu, từ đó ảnh hưởng đến sức sống cũng như

sự phát triển của đàn con Mặt khác làm cho lợn con có tỷ lệ ỉa chảy cao do tỷ lệ sữa nhiễm mỡ Tuy nhiên, nếu cung cấp thiếu năng lượng trong giai đoạn mang thai sẽ làm cho lợn nái quá gầy, không đảm bảo cho quá trình sinh trưởng, phát triển của thai Nếu thiếu trầm trọng có thể dẫn đến tiêu thai, sảy thai Nhu cầu phù hợp cho nái ngoại và lợn nái lai ngoại là 3000 - 3100 Kcal/kg thức ăn hỗn hợp Khẩu phần

ăn cho lợn nái chửa kỳ I là 1,8 - 2,5 kg/nái/ngày Lợn nái chửa kỳ II là 2,5 - 3 kg/nái/ngày Nái nuôi con trung bình là 4,5 - 5 kg/nái/ngày

+ Ảnh hưởng của khoáng chất

Trong điều kiện chăn nuôi công nghiệp, lợn mẹ ít có cơ hội chăn thả để bổ sung rau xanh và khoáng chất Vì vậy cần phải bổ sung đầy đủ khoáng chất cho lợn

mẹ để đảm bảo sự sống bình thường cho lợn mẹ

Lợn nái thiếu Ca, P nguyên nhân là trong khẩu phần ăn thiếu Ca, hoặc thiếu vitamin D Ca, P có trong khẩu phần thức ăn quyết định bởi các thành phần các chất

có trong nguyên liệu phối trộn Trong khẩu phần thức ăn của lợn nái không những phải cung cấp đầy đủ Ca và P mà còn phải cung cấp đầy đủ vitamin D và có sự cân bằng giữa Ca và P, điều này rất cần thiết cho quá trình hấp thu Ca và P

Thiếu Ca và P ảnh hưởng rất lớn tới lợn nái, đặc biệt trong giai đoạn mang thai Trong giai đoạn mang thai lợn mẹ cần rất nhiều Ca và P để cung cấp cho quá trình tạo mô xương của bào thai, khi bị thiếu cơ thể mẹ huy động Ca và P trong các mô xương ra, do đó hệ xương của cơ thể mẹ bị loãng và yếu dẫn đến lúc đẻ và sau đẻ

Trang 27

lợn nái dễ bị bại liệt Ngược lại nếu thừa Ca và P cũng ảnh hưởng đến lợn nái và gây ra một số bệnh như sỏi thận, gây lắng đọng Ca ở phủ tạng Thừa Ca và P làm tăng nhu cầu Zn, vitamin K và cản trở sự hấp thụ P Nhu cầu Ca, P phụ thuộc vào từng giai đoạn của quá trình mang thai, bào thai chủ yếu phát triển vào giai đoạn cuối của thời kỳ mang thai Trong giai đoạn này cần lượng Ca, P lớn nhất Trong giai đoạn nuôi con lượng Ca, P còn phụ thuộc vào lượng sữa tiết ra trong ngày (Trần Văn Phùng và cs, 2004) [21]

Theo tiêu chuẩn Nhật Bản (1993), nhu cầu Ca và P hàng ngày cho lợn nái như sau: đối với lợn nái chửa cần lượng Ca, P tương ứng là 14,9 - 11,9 gam Đối với nái nuôi con cần lượng Ca, P tương ứng là 40,6 - 32,5 gam

+ Ảnh hưởng của khoáng vi lượng (Cu, Fe, Zn,…)

Theo tiêu chuẩn Nhật Bản (1993), lợn nái cần 150 mg Fe, 99 mg Zn, và 9,9

mg Cu Lợn nái nuôi con cần 443 mg Fe, 271 mg Zn, và 27,1 mg Mn

+ Ảnh hưởng của vitamin

Thiếu vitamin A dẫn đến chết phôi, chết non, thai phát triển kém, sảy thai, khô mắt Thiếu vitamin D cũng như thiếu Ca, P thì lợn con đẻ ra còi cọc, lợn nái sẽ

bị bại liệt trước và sau đẻ, chất lượng sữa và số lượng sữa cũng kém

Thiếu vitamin B1 dẫn tới hiện tượng thần kinh yếu, co giật, bại liệt tứ chi Thiếu vitamin C làm giảm sức đề kháng của cơ thể, vi khuẩn dễ xâm nhập và gây bệnh

Thiếu vitamin E có hiện tượng chết phôi, chết thai, trứng rụng ít dẫn đến số con đẻ ít, ngoài ra còn gây bệnh trắng cơ

Nếu bổ sung vitamin thừa cũng không tốt Ví dụ thừa vitamin A sẽ gây ảnh hưởng hấp thu vitamin E gây nên hiện tượng lợn nái không động dục hoặc động dục kém, thai phát triển kém Thừa vitamin D thì sẽ bị vôi hóa, tim, phổi, thận (Trần Văn Phùng và cs, 2004) [21]

1.1.3.3 Ảnh hưởng của số trứng rụng

Trứng được sản xuất ra từ buồng trứng, sau khi chín và rụng trứng sẽ đến tử cung chờ thụ tinh, số trứng rụng nhiều hay ít sẽ ảnh hưởng đến số con sinh ra Như

Trang 28

vậy số trứng rụng trong một chu kỳ động dục là giới hạn cao nhất của số con đẻ ra trong một lứa

Sự rụng trứng ở lợn nái trưởng thành xảy ra sau 20 - 29 giờ tính từ khi bắt đầu động dục, còn ở lợn hậu bị thời điểm này chậm hơn 25 - 32 giờ Số trứng rụng

ở ngày thứ 2 của chu kỳ động dục, lợn nái tơ là từ 24 - 30 giờ, còn lợn nái trưởng thành là từ 20 - 24 giờ tính từ khi bắt đầu động dục

Trong suốt thời kỳ động dục, số tế bào trứng rụng trong một lần động dục bình quân là 14 trứng, dao động từ 7 - 16 trứng, ở lợn trưởng thành 15 - 25 trứng

Số tế bào trứng tăng lên theo chiều tăng của tuổi lợn nái, đặc biệt là sau lứa đẻ thứ nhất, tuy nhiên khi đạt đến tuổi trưởng thành số tế bào trứng rụng lại giảm dần Các giống lợn màu trắng có số trứng rụng nhiều hơn các giống lợn màu đen Số trứng rụng của nái tơ là 13,5 và nái trưởng thành là 21,4 Trung bình số trứng rụng của lợn nái là 15 - 20 trứng, có khi đến 40 trứng Trong khi đó buồng trứng bên trái thường rụng nhiều hơn

Hệ số cận huyết cũng ảnh hưởng đến số trứng rụng, hệ số cận huyết tăng lên 10%, số trứng rụng sẽ giảm đi 0,6 - 1,7 Trong nuôi dưỡng lợn nái hậu bị trước ngày

dự kiến phối giống 10 - 14 ngày tập trung mức năng lượng cao để tăng số lượng trứng rụng ngay từ lần động dục đầu tiên Điều này đã được áp dụng rộng rãi trong chăn nuôi lợn nái hậu bị

Nếu lợn được ăn với mức dinh dưỡng cao trong vòng 0 - 1 ngày trước động dục thì số trứng rụng tăng 0,4 trứng, trong vòng 2 - 7 ngày thì số trứng rụng tăng 3,1 trứng Trong quy định chăn nuôi lợn nái của tập đoàn Cargill (Mỹ) áp dụng chương trình nuôi dưỡng theo 4 giai đoạn

+ Giai đoạn tăng số lợn con/lứa: trước khi phối giống 14 ngày với mức ăn 2,8

- 3,6 kg/ngày đối với lợn nái hậu bị và nái nuôi con từ khi cai sữa đến phối giống

+ Giai đoạn kinh tế: 91 ngày sau khi phối giống có chửa khẩu phần ăn của lợn nái mang thai là 1,8 - 2,2 kg/con/ngày

+ Giai đoạn tăng khối lượng lợn con sơ sinh 21 - 33 ngày trước khi đẻ với mức 2,8 - 3,2 kg/con/ngày

+ Giai đoạn tạo sữa: ăn không hạn chế (sau khi đẻ)

Trang 29

1.1.3.4 Ảnh hưởng của tuổi và lứa đẻ đến sức sản xuất của lợn nái

Để tiến hành phối giống lần đầu thì lợn cái hậu bị phải thành thục cả về tính

và thể vóc Tuổi và lứa đẻ đều là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến số con đẻ ra/ổ Tuổi đẻ lứa đầu quá sớm hay quá muộn đều ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái Nếu lợn nái hậu bị đưa vào khai thác quá sớm có thể cơ thể phát triển chưa hoàn thiện nên số trứng rụng ít, tỷ lệ thụ thai kém Hơn nữa nó còn ảnh hưởng đến phát triển thể chất, thể vóc sau này Nếu lợn hậu bị đưa vào khai thác muộn sẽ làm giảm thời gian sử dụng con nái dẫn đến giảm hiệu quả kinh tế Lợn nái kiểm định

có tỷ lệ đẻ thấp hơn so với lợn nái sinh sản Số lượng trứng rụng thấp nhất ở chu

kỳ động dục thứ nhất, tăng đến 3 tế bào trứng ở chu kỳ động dục thứ hai và đạt tương đối cao ở chu kỳ động dục thứ ba (Deckert và cs, 1998)[37] Số con đẻ ra tương quan thuận với số lượng trứng rụng (IanGordon, 1997)[47]

Lứa đẻ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái vì

có sự khác nhau về chức năng theo tuổi của lợn nái Khả năng sinh sản của lợn nái thường thấp nhất ở lứa đẻ thứ nhất, đạt cao nhất ở lứa đẻ thứ 3,4, 5 và sau đó gần như là ổn định hoặc hơi giảm khi lứa đẻ tăng lên Theo Ian Gordon(1997)[47], số con đẻ ra/ổ tăng từ lứa đẻ một đến lứa đẻ thứ tư, ở lứa đẻ thứ tám trở đi, số lợn con mới đẻ bị chết tăng lên Số con đẻ ra/ổ có quan hệ chặt chẽ đến tuổi của lợn nái Lợn đẻ lứa đầu tiên thường có số con đẻ ra, khối lượng sơ sinh nhỏ hơn so với những lứa đẻ sau (Colin, 1998)[33]

1.1.3.5 Số lần phối và phương thức phối giống

Thời điểm phối giống thích hợp nhất chỉ diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định Thời gian động dục kéo dài 5-7 ngày, nhưng thời gian lợn nái chịu đực chỉ diễn ra khoảng 2,5 ngày, muốn nâng tỷ lệ thụ thai phải xác định được chính xác thời điểm phối giống thích hợp để phối giống cho lợn nái Phối giống quá sớm hay quá muộn đều dẫn đến kết quả thụ tinh không cao

Theo Ian Gordon (1997)[47], số lần phối giống trong một lần động dục ở lợn nái ảnh hưởng tới số con đẻ ra/ổ, phối đơn trong một chu kỳ động dục ở lúc động dục cao nhất có thể đạt được số con đẻ ra/ổ cao, nhưng phối hai lần trong một chu

kỳ động dục làm tăng số con đẻ ra/ổ Khi phối giống cho lợn nái trực tiếp ba lần, mỗi lần cách nhau 24 giờ tăng hơn 1,3con/ổ so với phối hai lần Phối giống kết hợp

Trang 30

giữa thụ tinh nhân tạo và nhảy trực tiếp có thể làm tăng 0,5 lợn con so với phối riêng rẽ Phối giống bằng thụ tinh nhân tạo, tỷ lệ thụ thai và số con đẻ ra/ổ đều thấp hơn (0 - 10%) so với phối giống trực tiếp (Colin,1998)[33]

1.1.3.6 Ảnh hưởng của số con trong ổ

Năng suất của đàn lợn nái được xác định bởi chỉ tiêu số lợn con được cai sữa/nái/năm Do đó số con/ổ là tính trạng năng suất sinh sản rất quan trọng Người

ta thường quan tâm đến các chỉ tiêu số con trong ổ là số con đẻ ra, số con đẻ ra còn sống, số con cai sữa

Số con bị giảm dần là do các nguyên nhân:Một số trứng không được thụ tinh; Một số phôi bị tiêu ngay trong thời gian chửa của mẹ; Một số thai chết khi đẻ; Một

số lợn chết từ sơ sinh đến cai sữa

Người ta thống kê có khoảng 3 - 5% lợn con chết khi sơ sinh bao gồm do đẻ khó và lợn con chết trong giai đoạn chửa đẻ cuối cùng

Tỷ lệ chết của lợn sơ sinh đến cai sữa tùy thuộc vào ngày tuổi khác nhau: dưới 3 ngày tuổi: 50%, 3 - 7 ngày tuổi: 18%, 8 - 21 ngày tuổi: 17% và 22 - 56 ngày tuổi: 15% (Tính trong tổng số lợn con chết)

1.1.3.7 Thời gian cai sữa

Phân tích 14.925 lứa đẻ của 39 đàn lợn nái ở Mỹ (Xue và cộng sự, 1993 trích

từ IanGordon, 1997)[47], nhận thấy thời gian bú sữa của lợn con dài, lợn nái có số con sơ sinh/ổ, số con đẻ ra còn sống/ổ cao, thời gian động dục trở lại ngắn, thời gian động dục trở lại sau cai sữa dài, khoảng cách lứa đẻ dài

Lợn nái cai sữa ở 28-35 ngày, thời gian động dục trở lại 4-5 ngày có thể phối giống và có năng suất sinh sản tốt (Colin,1998)[33]

Lợn nái phối giống sau khi cai sữa sớm có số lượng trứng rụng thấp (15,9 so với 24,6) và số phôi ở ngày chửa thứ 1 1ít Lợn nái cai sữa sớm có tỷ lệ thụ thai thấp,

số phôi sống ít và thời gian động dục trở lại dài (Deckert và cộng sự, 1998) [37]

Việc xác định và cải thiện các nhân tố ảnh hưởng đến thành tích sinh sản góp phần phát huy tiềm năng vốn có của mỗi giống gia súc, nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi Trong quá trình nghiên cứu các nhà khoa học đã nhận thấy có rất nhiều yếu

tố ảnh hưởng trực tiếp cũng như gián tiếp tới năng suất sinh sản của lợn nái nhưng nguyên nhân chính được chia làm 2 loại là yếu tố di truyền và yếu tố ngoại cảnh

Trang 31

1.1.3.8 Ảnh hưởng của mùa vụ đến sức sản xuất của lợn nái

Khả năng sinh sản của lợn nái cũng bị ảnh hưởng trực tiếp của yếu tố mùa

vụ hay cụ thể hơn là nhiệt độ và độ ẩm của môi trường Mùa vụ có ảnh hưởng đến

số con đẻ ra/ổ Mùa có nhiệt độ cao là nguyên nhân làm năng suất sinh sản ở lợn nái nuôi chăn thả thấp: tỷ lệ chết ở lợn con cao, thu nhận thức ăn thấp, tỷ lệ hao hụt lợn nái tăng, tỷ lệ động dục trở lại sau cai sữa giảm và tỷ lệ thụ thai giảm Lợn nái phối giống vào các tháng nóng có tỷ lệ thụ thai thấp, làm tăng số lần phối giống, giảm khả năng sinh sản từ 5-20%

Nhiều nghiên cứu đã chỉ rõ ảnh hưởng của stress nhiệt đến khả năng sinh sản của lợn nái Nhiệt độ cao làm cho tỷ lệ loại thải nái cao (30-50%) và làm thiệt hại về kinh tế trong chăn nuôi nái sinh sản (Ian Gordon,1997) [47] Số con đẻ ra/ổ khi phối giống vào mùa hè có thể ít hơn một con so với khi phối giống vào mùa thu, mùa đông (Peltoniemi và cộng sự, 2000) [57] Các tác giả nhận thấy, về mùa hè nhiệt độ cao làm giảm tính nhạy cảm bình thường của chu kỳ động dục IanGordon (1997) [47], cho biết từ tháng 5 đến tháng 8, khoảng cách từ khi cai sữa đến động dục trở lại ở lợn nái tăng so với các tháng khác

1.1.4 Nước uống và vai trò của nước uống đối với sức sản xuất của lợn nái

1.1.4.1 Vai trò của nước đối với sức sản xuất của lợn nái

Nước cho lợn nói riêng hay tất cả các động vật nói chung đều vô cùng quan trọng, đặc biệt trong quá trình chăn nuôi đang ngày một hiện đại hóa, công nghiệp hóa Nước trong chăn nuôi đang dần được đưa vào tự động hóa, vậy nên có không ít người chăn nuôi hiện đại đang dần quên đi vai trò quan trọng của nước đối với sự thành bại trong chăn nuôi

Nước tuy không cung cấp trực tiếp năng lượng của động vật, nhưng ở mọi vật nuôi nó chiếm khoảng 60 – 75% khối lượng cơ thể Một con vật có thể mất toàn

bộ mỡ và 2/3 protein trong cơ thể (khoảng 40% khối lượng cơ thể) mà vẫn sống, nhưng không thể mất hơn 10% lượng nước trong cơ thể

Nước giúp duy trì và kiểm soát nhiệt độ cơ thể lợn bằng ba cách như thông qua hô hấp: nhiệt độ môi trường tăng → quá trình hô hấp tăng → thoát nhiệt

ra ngoài Nước tiểu giúp giảm nhiệt độ trong cơ thể lợn, khi nhiệt độ tăng nhu cầu

Trang 32

uống nước tăng, dẫn đến là tăng lượng nước tiểu Nước trong phân cũng giúp giảm nhiệt độ cơ thể lợn, sự thiếu nước sẽ làm chất độc trong quá trình chuyển hóa protein ở lợn tăng lên trong máu, làm lợn nhiễm độc nếu nặng có thể dẫn đến chết, nước là môi trường trung gian vận chuyển các chất đi khắp cơ thể và là môi trường

để bài thải chất độc qua đường nước tiểu, điều chỉnh sự cân bằng kiềm, axit trong

cơ thể, nước được sử dụng trong tổng hợp protein Quá trình tiêu hóa sẽ không hoạt động nếu không có nước Nếu nước bị hạn chế sẽ ảnh hưởng đến các chức năng quan trọng này

Với lợn nái, lợn nái mang thai và lợn nái nuôi con có nhu cầu về lượng nước khác nhau rất lớn Nhu cầu nước uống của lợn nái mang thai thường chỉ bằng 1/2 lợn nái nuôi con và tăng theo lượng thức ăn ăn vào, trung bình một lợn nái (khi không có chửa) tiêu thụ 11,5 lít/ngày, lợn nái chửa giai đoạn cuối tiêu thụ khoảng

20 lít/ngày Sở dĩ lợn nái nuôi con cần nhiều nước hơn bởi không chỉ đáp ứng nhu cầu trao đổi chất của cơ thể mà còn để bù đắp cho lượng sữa tiết ra hàng ngày cho lợn con Nhu cầu nước tối thiểu lợn nái nuôi con cần từ 12 - 40 lít nước/ngày và

trung bình là 18 - 25 lít nước/ngày (http://www.profeed.vn) [46]

1.1.4.2 Việc cung cấp nước uống cho lợn nái

Nhu cầu nước uống hàng ngày của lợn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Giống, lứa tuổi, khẩu phần ăn, chất lượng thức ăn (hàm lượng dinh dưỡng), chủng loại thức ăn (hỗn hợp dạng viên), nhiệt độ môi trường, nhiệt độ chuồng nuôi, tình trạng sức khỏe và sinh lý của con vật, mật độ chuồng nuôi, phương thức chăn nuôi (nuôi nhốt, nuôi thả)

Đối với lợn con cai sữa, trong giai đoạn đầu, khoảng 5 ngày sau cai sữa lượng nước tiêu thụ dao động ít phụ thuộc vào tình trạng sinh lý và ít liên quan tới

sự tăng trọng cơ thể Lượng nước tiêu thụ trong 3 - 6 tuần đầu sau cai sữa là: 0,49; 0,89; 1,46 lít/ngày/con và tỷ lệ thuận với lượng thức ăn tiêu thụ

Đối với lợn nuôi thịt, lợn choai lượng nước tiêu thụ có mối tương quan thuận với lượng thức ăn ăn vào và trọng lượng cơ thể Nhu cầu nước tối thiểu cho lợn có trọng lượng từ 25 - 90kg là 2,5 lít nước/kg thức ăn tiêu thụ Song, với cách cho ăn khác nhau thì lượng nước tiêu thụ cũng khác nhau, nếu cho ăn tự do, lượng nước

Trang 33

tiêu thụ là 2,5 lít/kg thức ăn, trong khi cho ăn hạn chế lượng nước cần thiết tối thiểu

Đối với lợn nái chửa, nhu cầu nước uống ở lợn nái chửa tăng theo lượng thức

ăn ăn vào, trung bình lợn nái (nái không chửa) tiêu thụ 11,5 lít/ngày, lợn nái chửa giai đoạn cuối tiêu thụ khoảng 20 lít/ngày

Đối với lợn nái nuôi con, lợn nái nuôi con cần nhiều nước không chỉ để trao đổi chất như các lứa tuổi khác mà còn để bù đắp số lượng 8 - 16 kg sữa tiết mỗi ngày Nhu cầu tối thiểu lợn nái nuôi con cần từ 12 - 40 lít nước/ngày, trung bình 18

kg protein là 16%, 35 - 60 kg protein là 14%, 60 - 100 kg protein là 13% Dựa vào nhu cầu protein cho lợn ở từng khối lượng mà ta có sự điều chỉnh sao cho phù hợp, trung bình cứ tiêu thụ 1gam protein thì cần cung cấp cho lợn 10 ml nước sạch Trên thực tế chăn nuôi hiên nay, với lợn sau cai sữa đang sử dụng thức ăn có protein 20%

Trang 34

thì 1 kg thức ăn cần cung cấp 3 lít nước Cụ thể trong 1 kg thức ăn đó có 200 g protein (1000 g thức ăn x 20%), thì cần 2 lít nước (200 g x 10 ml) Số lượng 1 lít nước còn lại được sử dụng trong quá trình tiêu hóa, hấp thu, bài tiết, duy trì nhiệt độ

cơ thể

Trong điều kiện bình thường, nhu cầu nước uống của lợn như sau: Lợn trong giai đoạn sinh trưởng từ 8 – 12 tuần tuổi là 3,5 lít/con/ngày, 13 – 18 tuần tuổi là 6 lít/con/ngày, 19 – 24 tuần tuổi là 7,5 lít/con/ngày, 25 tuần tuổi trở lên là 8 lít/con/ngày Đối với lợn nái chửa 3 tháng đầu nhu cầu nước uống là 10 - 15 lít/con/ngày, chửa giai đoạn cuối là 20 – 25 lít/con/ngày Lợn nái đang tiết sữa nuôi con: 5 -7 con nhu cầu nước uống là 20 - 25 lít/ngày, 8 – 10 con là 22 – 27 lít/ngày,

11 – 14 con là 28 - 35 lít/ngày và đối với lợn đực là 20 – 25 lít/ngày

Một vấn đề rất đáng quan tâm hiện nay đó là chất lượng nước sử dụng trong chăn nuôi, bởi nước dùng trong chăn nuôi kém chất lượng sẽ làm ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như năng suất chăn nuôi Nước dùng trong chăn nuôi yêu cầu nước mát, sạch, không chứa khoáng chất độc, vi sinh vật có hại Ở những vùng nước bị nhiễm mặn, nhiễm phèn (phèn sắt, phèn nhôm) sẽ có ảnh hưởng xấu đến sự tăng trưởng và sức đề kháng bệnh của lợn, pH trong nước thích hợp là từ 6,8 - 7,2, nếu quá kiềm (pH > 8) hay quá axit (pH < 6) thì đều có hại cho lợn (http://www.profeed.vn) [46]

1.1.5 Tiểu khí hậu chuồng nuôi và ảnh hưởng của chất đệm lót đến sức sản xuất của lợn nái

1.1.5.1 Tiểu khí hậu chuồng nuôi lợn nái (Nhiệt độ, ẩm độ, thông thoáng )

Giai đoạn sinh đẻ và nuôi con, nhiệt độ thích hợp cho lợn nái là từ 55 đến

75oF (khoảng 13 - 24oC), nếu nhiệt độ chuồng nuôi cao hơn phạm vi nhiệt độ này thì tính thèm ăn và năng suất của lợn nái có thể giảm Đối với dạng chuồng làm bằng nền cứng hoặc nền chuồng xẻ rãnh, không có đệm lót, lợn con nên được nuôi

ở nhiệt độ 90 - 95oF (32 - 35oC) trong vài ngày đầu tiên, sau đó giảm nhiệt độ xuống còn 70 - 80oF (21 - 27oC) cho đến lúc cai sữa, khoảng 3 - 6 tuần tuổi

Đảm bảo độ thông thoáng thích hợp ở mọi thời điểm sẽ tốt hơn đối với nái được nuôi dưỡng trong chuồng mát khi vào mùa nóng Theo kết quả nghiên cứu từ Trường Đại học bang Kansas, lắp đặt hệ thống vòi phun sương trong chuồng đẻ để làm mát vùng cổ và vùng vai của nái luôn mang lại kết quả tốt Mỗi vòi phun cung cấp 0,8 gallon/giờ (1 gallon = 3,78 lít) và chỉ nên để vòi phun hoạt động khi nhiệt độ

Trang 35

cao hơn 85oF (30oC) Nái được nuôi dưỡng trong chuồng nuôi thoáng mát sẽ giảm nhịp hô hấp, tăng lượng thức ăn tiêu thụ mỗi ngày, giảm được khối lượng hao hụt trong giai đoạn tiết sữa nuôi con hơn so với nái không được nuôi trong chuồng mát (http://www.profeed.vn) [46]

1.1.5.2 Chất đệm lót và ảnh hưởng của nó đến năng suất sinh sản của lợn nái

- Bản năng làm ổ đẻ của lợn nái

Dưới những điều kiê ̣n có sẵn, những con lợn nái thuần chủng xây dựng các tổ (Ổ đẻ)với bản năng tự nhiên mà tổ tiên chú ng đã làm được miêu tả bởi (Stolba & Wood Gush, 1989; Jensen, 1986) [60; 50] Đầu tiên, những con lợn nái tìm đi ̣a điểm xây ổ đẻ hợp lý, tránh xa đám đông Và sau đó, chúng bắt đầu xây dựng ổ đẻ bằng việc đào một cái hố nông trên mă ̣t đất Sau đó, cỏ, rác và các nhánh cây được thu thập bằng miệng và được mang tới hố làm thành ổ đẻ Khi hoàn thành, những con

lợn nái này nằm xuống bên trong ổ và quá trình sinh đẻ lợn con sẽ diễn ra, lợn con được sinh ra sẽ được lợn mẹ giữ ở trong ổ đẻ này (Jensen, 1986) [50] Trong môi trường cằn cỗi không có vâ ̣t liê ̣u để làm ổ, hành vi này được chuyển hướng tới nền trần (Jarvis và cộng sự, 2002) [49] Dựa trên những nghiên cứu, chỉ thi ̣ của liên minh châu Âu 2008/120/EC đã nói rằng “trước thời gian dự kiến viê ̣c sinh sản của những lợn nái, chúng phải được cung cấp đủ vâ ̣t liê ̣u để làm ổ đẻ” Tuy nhiên chỉ có

một số ít người chăn nuôi làm được điều đó

Lợn nái làm ổ đẻ là một cách bảo vệ sự tồn ta ̣i cho lợn con Về bản chất, xây

dựng mô ̣t cái tổ (Ổ đẻ) tốt thực sự cần thiết để cho những lợn con có thể tồn ta ̣i Khả năng chống chịu với môi trường của lợn con khi còn nhỏ là rất ha ̣n chế vì bô ̣ lông củ a chúng rất thưa thớt, nó có rất ít chất béo dưới da và thâ ̣m chí với những chất di ̣ch của thai non Hơn nữa, lợn con được sinh ra thân nhiệt thường bị giảm xuống, quá trình giảm phụ thuộc vào khối lượng sơ sinh, chất dinh dưỡng thu được sau khi sinh và nhiệt độ của môi trường Sau khi đẻ 1 giờ, nếu lợn con được bú sữa đầu thì 8-12 giờ sau thân nhiệt của chúng ổn định Nếu 4 giờ mới được bú sữa đầu thì sau 18-24 giờ thân nhiệt mới đạt mức bình thường Như vậy, quy định không quá 2 giờ nếu lợn nái chưa đẻ xong phải cho những con đã đẻ bú sữa đầu (Herpin P

và cs, 2002) [43] Lợn con rất mẫn cảm với nhiệt độ vì ở chúng cơ quan điều tiết nhiệt chưa hoàn chỉnh Khả năng tự điều hòa thân nhiệt của lợn con tăng chậm từ

Trang 36

khi mới sinh cho đến 2 tuần tuổi, do vậy trong 2 tuần đầu sau sinh chúng rất dễ mẫn cảm với sự thay đổi nhiệt độ của môi trường bên ngoài Nếu không có sự bảo vê ̣, cơ

hội cho viê ̣c tồn ta ̣i của lợn con là rất thấp, đă ̣c biê ̣t là trong thời tiết ẩm ướt và la ̣nh Trong môi trường bán tự nhiên, những ổ đẻ làm bằng rơm phu ̣c vu ̣ cho viê ̣c sinh sản được xây dựng bởi những lợn nái thuần chủng đã được chứng minh là có thể chống

lại thời tiết la ̣nh giá (Algers & Jensen, 1990) [29] Mă ̣c dù ngày nay quá trình sinh

sản của lợn nái được diễn ra ở bên trong ổ đẻ, tuy nhiên sự suy giảm đô ̣t ngô ̣t về nhiệt đô ̣ của môi trường xung quanh khi lợn nái mới sinh đã gây ra sự giảm nhiê ̣t đô ̣

cơ thể mô ̣t cách nhanh chóng, khoảng 2oC trong vòng 20 phút (Malmkvist et al., 2006; Newland et al., 1952) [53] Sau đó nhiê ̣t đô ̣ cơ thể từ từ gia tăng tới 39 oC trong 48 giờ Mức đô ̣ của sự suy giảm nhiệt độ và đô ̣ dài của sự phu ̣c hồi nhiệt độ

cơ thể của mỗi cá thể lợn là khác nhau, phu ̣ thuô ̣c vào mô ̣t vài yếu tố như nhiê ̣t

đô ̣ môi trường, tro ̣ng lươ ̣ng lúc sơ sinh, thiếu oxi, và sự tiêu hóa sữa non (Herpin

et al., 2002) [43] Thờ i tiết la ̣nh lúc mới sinh làm giảm sức sống của lơ ̣n con, do đó viê ̣c cho lợn con bú sữa đầu sớm, không phải ca ̣nh tranh với những lợn con khác trong đàn trong thời kỳ sơ sinh là rất cần thiết Nếu không lợn con sẽ không

có sức đề kháng để có thể tồn tại, chúng dần còi cọc, yếu ớt dẫn đến chết (Herpin

et al., 2002) [43]

- Vai trò của chất đệm lót đối với lợn nái sinh sản

Đệm lót là chất độn chuồng bằng lá cây, cỏ hay rơm để cho lợn nái sử dụng làm ổ đẻ trong thời điểm chuẩn bị đẻ và nuôi con nhằm bảo vệ đàn lợn con không bị ảnh hưởng những tác động của môi trường sống khi mới sinh cho đến khi cai sữa lợn con

Chiến lược trong phát triển chăn nuôi lợn nái là làm thế nào để lợn nái sinh

sản nhiều nhất có thể, tỷ lê ̣ lợn con chết ít (Hiện tại, tỷ lệ lợn con chết giai đoạn từ

sơ sinh đến cai sữa dao động trong khảng từ 12-25%) Mă ̣c dù có thững sự thay đổi

về kỹ thuâ ̣t và cải thiê ̣n về chăn nuôi, thiết kế chuồng tra ̣i và những biê ̣n pháp phòng ngừa nhưng tỷ lê ̣ lợn con chết vẫn còn, đó là mô ̣t vấn đề lớn quyết định hiệu quả kinh tế Những chiến lược thương ma ̣i thường xuyên tâ ̣p trung vào viê ̣c tăng năng suất sinh sản của lợn nái và sự chăm sóc nuôi dưỡng của con người nhằm

Trang 37

giảm tỷ lệ chết ở lợn con trong thời kỳ lợn con theo mẹ (Edwards, 2002)[40] Tuy nhiên phần lớ n những lợn con cai sữa thành công do tâ ̣p trung vào tăng năng suất sinh sản của lợn nái nhiều hơn là giảm tỉ lê ̣ chết ở lợn con (Kirkden et al., 2013) [51] Đa số lợn con chết 3 ngày sau sinh do đói và khó tiêu hóa đã được kết luận là

một trong những nguyên nhân chính (Marchant et al., 2000; Dyck & Swierstra, 1987) [54] Tuy nhiên, những nguyên nhân cơ bản làm giảm sức sống chẳng ha ̣n như sự ha ̣ thân nhiê ̣t được mô tả ở phía trên hoă ̣c sự thiếu oxy như là kết quả của sự nghẹt thở trong suốt quá trình đẻ của lợn nái là nguyên nhân ảnh hưởng lớn nhất trong tất cả những nguyên nhân dẫn đến cái chết của lợn con (Alonso Spilsbury et al., 2007) [30] Theo Baxter et al., (2008) [32], đặc điểm về bản năng sinh tồn của những lợn con là tìm vú me ̣, do đó tiêu hóa sữa non nhằm cung cấp các nhu cầu về năng lượng, duy trì bản năng sinh tồn Không giống như các loa ̣i đô ̣ng vâ ̣t có vú khác, những lợn con được sinh ra ở tra ̣ng thái khỏe mạnh, chúng ngay lâ ̣p tức có thể bước, bú, tương tác với môi trường và những lợn con cùng lứa Do vâ ̣y, chăm sóc nuôi dưỡng lợn me ̣ tốt rất quan trọng cho sự sinh tồn của lợn con (Fraser, 1980) [41] Những ví du ̣ về đă ̣c điểm hành vi về khả năng đáp ứng với những cử chỉ từ những lợn con và hoa ̣t đô ̣ng cho bú của lợn mẹ Cũng như những lợn nái bi ̣ nuôi nhốt, thì bản năng của con me ̣ thì cũng rất quan tro ̣ng Trong mô ̣t nghiên cứu về những lợn nái nhà nuôi thả (Andersen et al., 2005) [31], đã tìm thấy rằng những con

lợn mẹ mà không đè con trong 4 ngày đầu sau sinh thì đã cho thấy khả năng bảo vê ̣ con tốt hơn là so với những lợn mẹ đè chết một hoă ̣c nhiều hơn Đối với những lợn

nái này, ngay từ rất sớm sau khi sinh con đã cho thấy sự phản ứng la ̣i với tiếng kêu

củ a con và đánh hơi nhiều hơn trong suốt quá trình thay đổi tư thế Chúng cũng bắt đầu xây ổ đẻ từ 6 - 8 tiếng trước khi bắt đầu sinh đẻ Mô ̣t mối liên kết giữa sự gia tăng xây ổ đẻ và khả năng làm me ̣ đã được đề xuất bởi ông Yun et al., (2013) [61] kết quả kết luận rằng những con lợn nái nhà nuôi con khéo hơn, những con lợn biết

sử du ̣ng vâ ̣t liê ̣u làm tổ đẻ so với những con mà không làm ổ đẻ nuôi con cũng khéo hơn Tuy nhiên, không có đầy đủ chứng cứ cho sự kết luâ ̣n rõ ràng về mối liên hệ giữa viê ̣c xây ổ đẻ và giảm tỉ lê ̣ lợn con chết Theo Damm et al., (2005) [35], không đưa ra được kết luận chính xác về sự hiê ̣u quả của 2,5 kg rơm là mô ̣t vâ ̣t liê ̣u xây ổ

Trang 38

đẻ bên ngoài và tỷ lê ̣ đè chết lợn con của lợn nuôi trong những trang tra ̣i nuôi công nghiệp Tuy nhiên kết luâ ̣n rằng điều này hoàn toàn có thể xảy ra bởi vì quá ít những vâ ̣t liê ̣u đã được cung cấp Tác giả cũng đã khẳng đi ̣nh được nhu cầu cho những nghiên cứu xa hơn về loa ̣i vâ ̣t liê ̣u làm ổ đẻ

Chiến lược sử du ̣ng rơm vào viê ̣c sinh đẻ cho lợn nái: Bản ghi chú được viết

bở i Ông Peter Hernquist (1726 - 1808), bác sỹ thú y đầu tiên người Thu ̣y Điển đề

cập đến viê ̣c cung cấp rơm cho lợn trở nên quan tro ̣ng trong sự cải thiê ̣n vê ̣ sinh cho lợn nái sinh sản (Hernquist, 1790) [42] Ngày nay, viê ̣c sử du ̣ng sàn có lỗ hoă ̣c sàn gỗ đã được gợi ý sử dụng (Baxter, 1984) [32], và như mô ̣t hê ̣ quả, viê ̣c sử du ̣ng rơm

bị ha ̣n chế trong quá trình chăn nuôi lợn sinh sản công nghiệp Kết hợp với vê ̣ sinh,

các tính chất vật lý của sàn có ảnh hưởng quan tro ̣ng cho sức khỏe của đô ̣ng vâ ̣t, đă ̣c biệt là lợn con mới sinh Lợn sinh trên sàn gỗ có nguy cơ cao hơn trong viê ̣c ha ̣ thân nhiệt kéo dài Trong mô ̣t nghiên cứu về lợn nái nuôi thả và đẻ trong ổ đẻ, 11% con

lợn sinh ra ở trên sàn gỗ, những con lợn này nhiê ̣t đô ̣ trực tràng giảm trong suốt 30 phú t đầu sau sinh so với những lợn con mà sinh ở trên sàn bê tông hút nhiê ̣t (Pedersen et al., 2013)[56] Đồng thời những sàn thô như bê tông có thể dễ dàng gây ra những vết thương lên tứ chi và móng chân trong suốt quá trình bú sữa (Mouttotou & Green, 1999; Penny et al., 1971)[55] Ở Thụy Điển với mô ̣t vài trường hợp đă ̣c biê ̣t, sàn nhà của những chuồng đẻ ít hơn 50% bê tông Lợn con bị

bầm tím móng chân và tứ chi là vấn đề quan tro ̣ng, là mô ̣t nguyên nhân chủ yếu của việc què chân của lợn con sơ sinh Theo Holmgren et al., (2008)[45], trong mô ̣t cuộc khảo sát có hơn 50% của 5408 những con lợn thí nghiê ̣m trong 20 đàn cho thấy sự trầy xước da, cổ chân và 10% đã được điều tri ̣ chân khâ ̣p khiễng trong vòng

10 ngày tuổi Mô ̣t số lượng lợn con bi ̣ thương tương tự đã được báo cáo ta ̣i Vương Quốc Anh Mouttotou et al., (1999) [55] Theo kết quả cuô ̣c khảo sát (Holmgren et al., 2008) [45] đã đề xuất mô ̣t phương pháp sử du ̣ng rơm trong quá trình sinh đẻ

cù ng với mô ̣t vài người nông dân Mu ̣c tiêu là để cung cấp mô ̣t “giường êm” cho toàn bô ̣ đàn lợn con sau khi sinh đẻ để bảo vê ̣ da và móng chân của lơ ̣n con Trong những đàn lơ ̣n này, ho ̣ bắt đầu cung cấp khoảng 15-20kg rơm đã đươ ̣c băm nhỏ, cho vào 2 ngàytrước khi đẻ Số lươ ̣ng rơm đã đươ ̣c di chuyển đến cống thoát qua

Trang 39

sàn và sau đó đươ ̣c thay thế bằng 0,5-1kg rơm mới mỗi ngày phù hơ ̣p với thói quen quản lý của người Thu ̣y Điển Những người nông dân đã sớm kết luận rằng, việc điều tri ̣ đau chân cho những lợn con không những giảm đi mô ̣t cách đáng kể

mà nó còn giúp chúng tăng tro ̣ng lươ ̣ng và những lơ ̣n nái trở nên bình tĩnh hơn và thoải mái hơn

Giả thuyết về việc sử dụng rơm (15-20kg cho mô ̣t lần, 2 ngày trước khi đẻ),

so sánh với một số lượng ha ̣n chế (0,5-1kg) hàng ngày sẽ thúc đẩy những lợn nái

làm ổ đẻ sớm hơn và chuẩn bị trước khi sinh Mô ̣t lượng vật liê ̣u làm ổ đẻ sẽ làm

hài lòng những nhu cầu cần thiết của những lợn nái và do đó chúng hoàn thiê ̣n ổ đẻ trước khi bắt đầu sinh đẻ, kết quả của nó sẽ được quan sát sau khi sinh con đầu tiên

Sự thoải mái sẽ làm cho chúng ít căng thẳng hơn trong suốt quá trình sinh và thời gian sinh đẻ ngắn hơn Do đó, ít lợn con bi ̣ chết hơn Nó cũng ảnh hưởng tốt đến việc sản xuất sữa và thúc đẩy những lợn nái phát triển bản năng làm me ̣ sau khi sinh Điều này cũng làm giảm tỷ lệ chết của lợn con do bi ̣ chết đói hay bi ̣ lợn mẹ đè chết Những chiếc “giường” êm ái trong suốt quá trình sinh đẻ và ngày đầu tiên cho con bú đem la ̣i từ viê ̣c sử du ̣ng rơm sẽ làm giảm stress đối với lợn mẹ Lợn con được bảo vê ̣ không bị trầy xước da và tứ chi Lợn nái tránh được tổn thương về

vù ng vai Chiếc “giường” êm ái sẽ ta ̣o ra tiểu khí hâ ̣u phù hợp cho lợn con và giảm

sự rủi ro đói, yếu và hạ thân nhiê ̣t kéo dài Sử du ̣ng rơm làm ổ đẻ cho lợn nái tương đối khả thi ở trong chuồng nhựa và chuồng bằng kim loa ̣i

1.1.6 Khái quát về khả năng sinh trưởng của lợn con

Sinh trưởng là quá trình tự nhiên của sinh vật, sự tăng lên về kích thước, khối lượng, thể tích của từng bộ phận hay của toàn cơ thể con vật trong giai đoạn còn non cho đến khi thành thục về thể vóc Thực chất của sự sinh trưởng chính là sự tăng trưởng và phân chia của các tế bào trong cơ thể vật nuôi

Sau khi được sinh ra khỏi cơ thể mẹ, lợn con sẽ phải trải qua 4 giai đoạn (bú sữa, thành thục, trưởng thành, già cỗi) Giai đoạn bú sữa rất quan trọng, nó ảnh hưởng tới khối lượng lợn con cai sữa Nếu nuôi dưỡng tốt ở giai đoạn này sẽ làm tăng khả năng sinh sản của lợn mẹ và làm cơ sở cho quá trình sinh trưởng của lợn con những giai đoạn tiếp theo Khả năng sinh trưởng của lợn con có liên quan chặt

Trang 40

chẽ và ảnh hưởng mang tính quyết định tới khối lượng cai sữa và khối lượng xuất chuồng sau này

Đặc điểm sinh trưởng của lợn con: Lợn con có khả năng sinh trưởng rất mạnh, thể hiện bằng khả năng tăng khối lượng của cơ thể Sau khi đẻ ra một tuần khối lượng lợn con gấp 2 lần khối lượng sơ sinh, đến khi cai sữa ở 60 ngày tuổi gấp

10 - 15 lần Khối lượng cai sữa chịu ảnh hưởng và có liên quan chặt chẽ với khối lượng sơ sinh Khối lượng sơ sinh càng cao thì khả năng khối lượng cai sữa càng lớn Trong chăn nuôi lợn nái chửa, việc chăm sóc nuôi dưỡng tốt để có khối lượng

sơ sinh cao là cần thiết, làm tiền đề cho khối lượng cai sữa Tốc độ sinh trưởng của lợn con lớn nhất ở 21 ngày tuổi, sau đó giảm dần và giảm nhanh hơn ở 60 ngày tuổi Điều này phù hợp với quy luật tiết sữa của lợn mẹ (cao nhất về số lượng và chất lượng ở 21 ngày sau đẻ, giảm dần đến 45 ngày sau đó giảm rất nhanh) Mặt khác sau 21 ngày tuổi, lượng sắt trong máu lợn con rất thấp do lượng dự trữ trong gan đã hết làm cho lợn con mắc bệnh thiếu máu, ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát dục của lợn Để giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng mà dinh dưỡng từ sữa mẹ giảm, cần tập cho lợn con ăn sớm vào giai đoạn

7 - 10 ngày tuổi, việc này có tác dụng rất lớn trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, vừa đảm bảo đáp ứng dinh dưỡng cho con vừa làm giảm sự hao mòn của lợn mẹ, đồng thời làm cho lợn con quen dần với các loại thức ăn sau này Lợn thuộc các giống có

tỷ lệ nạc càng cao thì khả năng tăng khối lượng ngày càng cao

Để theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng của vật nuôi cần định lượng chúng định

kỳ bằng cân, đo,… toàn cơ thể con vật Khoảng cách giữa các lần cân, đo,… này phụ thuộc vào loài vật nuôi và mục đích theo dõi

Đánh giá khả năng sinh trưởng của lợn từ giai đoạn sơ sinh đến 56 ngày tuổi thường đánh giá qua các chỉ tiêu:

- Khối lượng sơ sinh/ổ (kg)

- Khối lượng 21 ngày/ổ (kg)

- Khối lượng cai sữa/ổ (kg)

- Tăng trọng từ sơ sinh đến cai sữa (g)

- Tăng trọng từ cai sữa đến 56 ngày tuổi (g)

Ngày đăng: 23/12/2016, 15:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Thị Bình An (2010), Đánh giá năng suất sinh sản của hai dòng lợn VCN02 (Landrace) và VCN05 (Meishan) qua các thế hệ tại trạm nghiên cứu nuôi giữ giống lợn hạt nhân tam điệp, Luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp, Đại học Thái Nguyên,tr. 43-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá năng suất sinh sản của hai dòng lợn VCN02 (Landrace) và VCN05 (Meishan) qua các thế hệ tại trạm nghiên cứu nuôi giữ giống lợn hạt nhân tam điệp
Tác giả: Đào Thị Bình An
Năm: 2010
2. Lê Thị Biên, Võ Văn Sự và Phạm Sỹ Tiệp (2006), “Nuôi lợn Sóc”, “Kỹ thuật chăn nuôi một số giống lợn quý hiếm”, Nxb Lao động xã hội, tr. 36-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nuôi lợn Sóc”, “Kỹ thuật chăn nuôi một số giống lợn quý hiếm”
Tác giả: Lê Thị Biên, Võ Văn Sự và Phạm Sỹ Tiệp
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2006
3. Đặng Vũ Bình (1999), “Phân tích một số nhân tố ảnh hưởng tới các tính trạng năng suất sinh sản trong một lứa đẻ của lợn nái ngoại”, Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật khoa Chăn nuôi -Thúy (1996-1998), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr.5-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phân tích một số nhân tố ảnh hưởng tới các tính trạng năng suất sinh sản trong một lứa đẻ của lợn nái ngoại”
Tác giả: Đặng Vũ Bình
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
4. Đặng Vũ Bình (2001), “Đánh giá các tham số thống kê di truyền và xây dựng chỉ số phán đoán đối với các chỉ tiêu năng suất sinh sản ở lợn nái ngoại nuôi tại các cơ sở giống Miền Bắc”, Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài cấp Bộ, mã số B 99-32- 40, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đánh giá các tham số thống kê di truyền và xây dựng chỉ số phán đoán đối với các chỉ tiêu năng suất sinh sản ở lợn nái ngoại nuôi tại các cơ sở giống Miền Bắc”
Tác giả: Đặng Vũ Bình
Năm: 2001
5. Đinh Văn Chỉnh, Đặng Vũ Bình, Trần Xuân Việt, Vũ Ngọc Sơn (1995), “Năng suất sinh sản của lợn nái Yorkshire và Landrace nuôi tại trung tâm giống gia súc Hà Tây”, Kết quả nghiên cứu khoa học, Khoa Chăn nuôi-Thú y (1991- 1995), Trường Đại học Nông Nghiệp I, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 70-72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Năng suất sinh sản của lợn nái Yorkshire và Landrace nuôi tại trung tâm giống gia súc Hà Tây”
Tác giả: Đinh Văn Chỉnh, Đặng Vũ Bình, Trần Xuân Việt, Vũ Ngọc Sơn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1995
6. Đinh Văn Chỉnh, Phan Xuân Hảo, Đỗ Văn Trung (2001), “Đánh giá khả năng sinh của lợn Landrace và Yorkshire nuôi tại Trung tâm giống vật nuôi Phú Lãm-Hà Tây”, Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật Khoa Chăn nuôi - thú y (1999-2001), Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đánh giá khả năng sinh của lợn Landrace và Yorkshire nuôi tại Trung tâm giống vật nuôi Phú Lãm-Hà Tây”
Tác giả: Đinh Văn Chỉnh, Phan Xuân Hảo, Đỗ Văn Trung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2001
7. Nguyễn Như Cương (2004), “Nuôi lợn Ỉ giữ quỹ gen trong khu vực nông dân ở Thanh Hóa”, Hội nghị bảo tồn quỹ gen vật nuôi 1990-2004, tr. 234-237 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nuôi lợn Ỉ giữ quỹ gen trong khu vực nông dân ở Thanh Hóa”
Tác giả: Nguyễn Như Cương
Năm: 2004
8. Lê Đình Cường và Trần Thanh Thủy (2006), “Nghiên cứu khảo nghiệm một số kỹ thuật thích hợp chăn nuôi lợn sinh sản nông hộ ở huyện Mai Sơn - Sơn La”, Tạp chí khoa học kỹ thuật chăn nuôi, số 2, Viện chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khảo nghiệm một số kỹ thuật thích hợp chăn nuôi lợn sinh sản nông hộ ở huyện Mai Sơn - Sơn La”, "Tạp chí khoa học kỹ thuật chăn nuôi
Tác giả: Lê Đình Cường và Trần Thanh Thủy
Năm: 2006
9. Lê Đình Cường (2008), “Lợn Mường Khương, Kỹ thuật nuôi giữ quỹ gen một số động vật quý hiếm”, Nxb Nông Nghiệp, tr. 40-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lợn Mường Khương, Kỹ thuật nuôi giữ quỹ gen một số động vật quý hiếm”
Tác giả: Lê Đình Cường
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2008
10. Trịnh Phú Cử (2011), “Đặc điểm ngoại hình, khả năng sinh sản, sinh trưởng và cho thịt của giống lợn 14 vú nuôi tại Mường Lay tỉnh Điện Biên”, Luận văn thạc sỹ nông nghiệp, Trường Đại học Nông Nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm ngoại hình, khả năng sinh sản, sinh trưởng và cho thịt của giống lợn 14 vú nuôi tại Mường Lay tỉnh Điện Biên”
Tác giả: Trịnh Phú Cử
Năm: 2011
11. Trần Văn Do (2008), “Lợn Vân Pa”, Kỹ thuật nuôi giữ quỹ gen một số động vật quý hiếm, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội, tr. 34-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lợn Vân Pa”, Kỹ thuật nuôi giữ quỹ gen một số động vật quý hiếm
Tác giả: Trần Văn Do
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2008
13. Nguyễn Văn Đức, Tạ Thị Bích Duyên, Giang Hồng Tuyến, Nguyễn Văn Hà và Lê Viết Ly (2001), “Kết quả chọn lọc lợn Móng Cái về tăng khối lượng, tiêu tốn thức ăn và tỷ lệ nạc”, Báo cáo Hội nghị Khoa học Bộ Nông nghiệp &amp; PTNT 1999-2000, Phần chăn nuôi gia súc, tr. 189-196 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả chọn lọc lợn Móng Cái về tăng khối lượng, tiêu tốn thức ăn và tỷ lệ nạc
Tác giả: Nguyễn Văn Đức, Tạ Thị Bích Duyên, Giang Hồng Tuyến, Nguyễn Văn Hà và Lê Viết Ly
Năm: 2001
14. Nguyễn Văn Đức, Đặng Đình Trung, Nguyễn Văn trung, Vi Chí Sáng, Phạm Thị Huyền, Vũ Chí Cương và Jean Charles Maillard (2008), “Một số đặc điểm ngoại hình, sinh sản, sinh trưởng, chất lượng thịt của giống lợn đen Lũng Pù Hà Giang”, Tạp chí khoa học công nghệ Chăn nuôi, số 2, tr. 90-92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm ngoại hình, sinh sản, sinh trưởng, chất lượng thịt của giống lợn đen Lũng Pù Hà Giang”, "Tạp chí khoa học công nghệ Chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Đức, Đặng Đình Trung, Nguyễn Văn trung, Vi Chí Sáng, Phạm Thị Huyền, Vũ Chí Cương và Jean Charles Maillard
Năm: 2008
15. Lê Thanh Hải, Chế Quang Tiến, Phan Xuân Giáp (1997), Những vấn đề kỹ thuật và quản lý trong sản xuất heo hướng nạc,Nxb Nông nghiệp - TP Hồ Chí Minh,tr. 98-100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề kỹ thuật và quản lý trong sản xuất heo hướng nạc
Tác giả: Lê Thanh Hải, Chế Quang Tiến, Phan Xuân Giáp
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp - TP Hồ Chí Minh
Năm: 1997
16. Nguyễn Tiến Hải (2013), “Nghiên cứu khả năng sinh sản của lợn nái địa phương và sức sản xuất của con lai F 1 (♀ địa phương x ♂ rừng) nuôi tại nông hộ Yên Sơn- Tuyên Quang”, Luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu khả năng sinh sản của lợn nái địa phương và sức sản xuất của con lai F"1"(♀ địa phương x ♂ rừng) nuôi tại nông hộ Yên Sơn- Tuyên Quang”
Tác giả: Nguyễn Tiến Hải
Năm: 2013
17. Phan Xuân Hảo, Ngọc Văn Thanh (2010), “Đặc điểm ngoại hình và tính năng sản xuất của lợn Bản nuôi tại Điện Biên”, Tạp chí khoa học và Phát triển, Trường Đại học Nông Nghiệp I, 8 (2), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 239-246 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm ngoại hình và tính năng sản xuất của lợn Bản nuôi tại Điện Biên”", Tạp chí khoa học và Phát triển
Tác giả: Phan Xuân Hảo, Ngọc Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2010
18. Đinh Hồng Luận (1980), “Ưu thế lai qua các tổ hợp lai kinh tế lợn”,Tuyển tập các công trình Nghiên cứu Khoa học Nông nghiệp(Phần Chăn nuôi-Thú y), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 29-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ưu thế lai qua các tổ hợp lai kinh tế lợn
Tác giả: Đinh Hồng Luận
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1980
19. Trịnh Xuân Lương (1998), Nghiên cứu đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái ngoại giống thuần nuôi tại xí nghiệp lợn giống Tiệu Yêu - Thanh hóa, Kết quả nghiên cứu khoa học, Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Viêt Nam, III, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái ngoại giống thuần nuôi tại xí nghiệp lợn giống Tiệu Yêu - Thanh hóa
Tác giả: Trịnh Xuân Lương
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1998
20. Nguyễn Ngọc Phục (2003),“Ưu thế sinh sản của lợn cái Meishan”, Thôngtin Khoa học Kỹ thuật Chăn nuôi, (số 6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ưu thế sinh sản của lợn cái Meishan
Tác giả: Nguyễn Ngọc Phục
Năm: 2003
21. Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo, 2004. Giáo trình chăn nuôi lợn. Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ bố trí thí nghiệm theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh, được trình bày tại  bảng 2.2 - Nghiên cứu ảnh hưởng của việc cung cấp nước uống và rơm làm ổ đẻ đến năng suất sinh sản của lợn nái địa phương nuôi tại CHDCND lào
Sơ đồ b ố trí thí nghiệm theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh, được trình bày tại bảng 2.2 (Trang 45)
Bảng 2.1. Khẩu phần thức ăn của lợn thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của việc cung cấp nước uống và rơm làm ổ đẻ đến năng suất sinh sản của lợn nái địa phương nuôi tại CHDCND lào
Bảng 2.1. Khẩu phần thức ăn của lợn thí nghiệm (Trang 45)
Bảng 3.2. Kết quả nghiên cứu về khối lượng của lợn nái tại các thời điểm - Nghiên cứu ảnh hưởng của việc cung cấp nước uống và rơm làm ổ đẻ đến năng suất sinh sản của lợn nái địa phương nuôi tại CHDCND lào
Bảng 3.2. Kết quả nghiên cứu về khối lượng của lợn nái tại các thời điểm (Trang 52)
Bảng 3.4. Kết quả nghiên cứu về số con đẻ ra/lứa và số lợn con chết từng thời - Nghiên cứu ảnh hưởng của việc cung cấp nước uống và rơm làm ổ đẻ đến năng suất sinh sản của lợn nái địa phương nuôi tại CHDCND lào
Bảng 3.4. Kết quả nghiên cứu về số con đẻ ra/lứa và số lợn con chết từng thời (Trang 59)
Bảng 3.5. Kết quả nghiên cứu về tỷ lệ sống của lợn con trong giai đoạn theo mẹ - Nghiên cứu ảnh hưởng của việc cung cấp nước uống và rơm làm ổ đẻ đến năng suất sinh sản của lợn nái địa phương nuôi tại CHDCND lào
Bảng 3.5. Kết quả nghiên cứu về tỷ lệ sống của lợn con trong giai đoạn theo mẹ (Trang 63)
Hình 3.1. Đồ thị sinh trưởng tích lũy của lợn con thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của việc cung cấp nước uống và rơm làm ổ đẻ đến năng suất sinh sản của lợn nái địa phương nuôi tại CHDCND lào
Hình 3.1. Đồ thị sinh trưởng tích lũy của lợn con thí nghiệm (Trang 67)
Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối của lợn con thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của việc cung cấp nước uống và rơm làm ổ đẻ đến năng suất sinh sản của lợn nái địa phương nuôi tại CHDCND lào
th ị sinh trưởng tuyệt đối của lợn con thí nghiệm (Trang 71)
Bảng 3.8. Kết quả nghiên cứu về tiêu tốn thức ăn/kg lợn con - Nghiên cứu ảnh hưởng của việc cung cấp nước uống và rơm làm ổ đẻ đến năng suất sinh sản của lợn nái địa phương nuôi tại CHDCND lào
Bảng 3.8. Kết quả nghiên cứu về tiêu tốn thức ăn/kg lợn con (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w