MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại lợi nhuận chủ yếu cho các ngân hàng thương mại, nhưng cũng hàm chứa nhiều rủi ro. Rủi ro tín dụng có thể tác động rất lớn đến các hoạt động kinh doanh khác, gây tổn hại đến uy tín và vị thế của ngân hàng. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam phát triển dựa nhiều vào tín dụng ngân hàng, cho nên để tồn tại và phát triển, các ngân hàng thương mại phải xây dựng hệ thống quản trị rủi ro tín dụng phù hợp, thông qua hệ thống quản trị rủi ro các mục tiêu, nhiệm vụ trong chiến lược phát triển của ngân hàng được thực hiện hiệu quả và thành công (ở cả góc độ vĩ mô và vi mô). Muốn vậy, hệ thống quản trị rủi ro tín dụng chất lượng tại ngân hàng thương mại đảm bảo được các vai trò quan trọng như: tăng uy tín cạnh tranh thương mại, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng lợi nhuận ngân hàng và duy trì niềm tin của khách hàng/nhà đầu tư. Tuy nhiên, trước những biến động liên tục của môi trường kinh doanh, chất lượng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại Việt Nam bộc lộ nhiều hạn chế, biểu hiện khả năng quản trị kém, sử dụng không hiệu quả các nguồn lực của ngân hàng, các chính sách, quy định có khoảng cách xa so với thông lệ quốc tế về quản trị rủi ro tín dụng. Đánh giá chung công tác quản trị rủi ro tín dụng, các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện đang có năng lực quản trị rủi ro tín dụng ở mức trung bình, thậm chí dưới trung bình so với các thông lệ quốc tế về quản trị rủi ro tín dụng, thể hiện bởi chiến lược kinh doanh không bài bản, mô hình tổ chức không phân tách chức năng, quyền hạn rõ ràng, các công cụ đo lường rủi ro không đáp ứng được tiêu chuẩn do cơ sở dữ liệu thiếu cả về số lượng và chất lượng, nguồn nhân lực có chất lượng cao chưa được chuẩn bị sẵn sàng. Như vậy, các ngân hàng thương mại Việt Nam đứng trước nhiều thách thức, phải xây dựng hệ thống năng lực quản trị rủi ro tín dụng và có các giải pháp nâng cao khả năng, điều kiện sử dụng nguồn nhân lực của ngân hàng đảm bảo thực hiện quy trình quản trị rủi ro tín dụng, duy trì chất lượng quản trị rủi ro tín dụng tốt. Kể từ khi Ủy ban Basel II chính thức công bố các chuẩn mực Basel, đã có nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng và triển khai có hiệu quả Basel II, Basel III nhằm duy trì hoạt động bền vững của ngân hàng. Trong bối cảnh Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015 theo quyết định 254/QĐ-TTg đã hoàn thành giai đoạn 1, đạt được một số mục tiêu nhất định về lành mạnh hóa tình trạng tài chính và củng cố năng lực hoạt động của các tổ chức tín dụng. NHNN quyết định lựa chọn 10 ngân hàng thương mại triển khai Basel II vào cuối năm 2015 theo công văn số 1601/NHNN- TTGSNH, nghiên cứu ứng dụng các thông lệ quốc tế, trong đó có hệ thống các quy định Basel II nhằm nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng. Mặc dù, nhiều nghiên cứu tổng hợp và toàn diện về công tác quản trị rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam được thực hiện bởi cá nhân, tổ chức trên thế giới cũng như trong nước, tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây chưa đi sâu nghiên cứu năng lực quản trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại và chưa xây dựng một khung năng lực quản trị rủi ro tín dụng, đáp ứng yêu cầu Basel II và phù hợp với các thông lệ quốc tế. Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng theo thông lệ quốc tế tại ngân hàng thƣơng mại Việt Nam’’ để nghiên cứu làm luận án tiến sĩ.
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ VÂN ANH
N¢NG CAO N¡NG LùC QU¶N TRÞ RñI RO TÝN DôNG THEO TH¤NG LÖ QUèC TÕ
T¹I NG¢N HµNG TH¦¥NG M¹I VIÖT NAM
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số : 62.34.04.10
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 TS TÔ THỊ ÁNH DƯƠNG 2.TS LÊ THỊ KIM NGA
HÀ NỘI, 2016
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC NỘI DUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI .9
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài 9
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài 15
1.3 Vấn đề nghiên cứu của Luận án 20
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC THÔNG LỆ QUỐC TẾ VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ NĂNG LỰC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 22
2.1 Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng 22
2.2 Cơ sở lý luận về năng lực quản trị rủi ro tín dụng 38
2.3 Mối quan hệ biện chứng giữa quản trị rủi ro tín dụng và năng lực quản trị rủi ro tín dụng 46
2.4 Khung năng lực quản trị rủi ro tín dụng theo thông lệ quốc tế và chuẩn mực Basel II 48
2.5 Kinh nghiệm quốc tế về cách tiếp cận và ứng dụng chuẩn mực Basel II nhằm nâng cao năng lực quản trị rủi ro rín dụng 61
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG THEO THÔNG LỆ QUỐC TẾ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 69
3.1 Tổng quan về hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam 69
3.2 Thực trạng năng lực quản trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam theo thông lệ quốc tế và chuẩn mực Basel II 78
3.3 Kết luận chung về thực trạng năng lực quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam 109
3.4 Nguyên nhân của thực trạng năng lực quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam 112
Trang 3CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG THEO THÔNG LỆ QUỐC TẾ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM 114
4.1 Định hướng hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời gian tới 114
4.2 Điều kiện áp dụng khung năng lực quản trị rủi ro tín dụng 115
4.3 Hệ thống giải pháp đối với các ngân hàng thương mại để nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng 120
4.4 Kiến nghị đề xuất đối với Cơ quan quản lý, Ngân hàng nhà nước 141
KẾT LUẬN 147
TÀI LIỆU THAM KHẢO 151
PHỤ LỤC 157
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AIRB Phương pháp tiếp cận nội bộ nâng cao theo Basel II
Advance Internal Rating Based Approach
AMC Công ty quản lý tài sản của ngân hàng thương mại
Asset Management Company
BASEL Bộ quy định ngân hàng (Basel I,II,II) do Ủy ban Basel
về giám sát ngân hàng (BCBS) ban hành (gọi tắt là chuẩn mực Basel)
The Basel Accords
Center CNTT Công nghệ thông tin
CSDL Cơ sở dữ liệu
DATC Công ty trách nhiệm hữu hạn mua bán nợ Việt Nam
Debt and Aseet Trading Corporation
DPRR Dự phòng rủi ro
EAD Dư nợ tại thời điểm không trả được nợ Exposure At Default
EDF Xác suất vỡ nợ kỳ vọng của khoản vay/khách hàng
Expected Default Frequency
FIRB Phương pháp tiếp cận nội bộ cơ bản theo Basel II Foundation Internal
Rating Based Approach
HCS Hệ thống đánh giá sức khỏe hoạt động của Ngân hàng
Ấn Độ
The Heath Code Systems
ICAAP Quy trình đánh giá an toàn vốn nội bộ Internal Capital
Adequacy Assesment Process
IRB Phương pháp tiếp cận nội bộ theo Basel II Internal Rating Based KHCN Khách hàng cá nhân
KHDN Khách hàng doanh nghiệp
KSNB Kiểm soát nội bộ
KTNB Kiểm toán nội bộ
LGD Tổn thất của ngân hàng khi người vay không trả được nợ Loss Given Default MAS Cơ quan quản lý tiền tệ Singapore Monetary Authority of
Singapore NHNN Ngân hàng nhà nước
NHNNG Ngân hàng nước ngoài
NHTM Ngân hàng thương mại
Trang 5NHTM CP Ngân hàng thương mại cổ phần
NHTM NN Ngân hàng thương mại Nhà nước
NHTW Ngân hàng trung ương
OCBC
Tập đoàn ngân hàng hải ngoại Trung Quốc tại Singapore
Overseas Chinese Banking Corporation, Singapore
RIB Ngân hàng dự trữ quốc gia Ấn Độ
The Reserve Bank of India
RRT Hệ thống xếp hạng tín dụng của ngân hàng VPBank Risk Rating Tool
SA Phương pháp tiếp cận tiêu chuẩn theo Basel II Standardized Approach SRP Quy trình đánh giá hoạt động thanh tra, giám sát
TCTD Tổ chức tín dụng
TGĐ Tổng giám đốc
TSĐB Tài sản đảm bảo
TTGSNH Thanh tra giám sát ngân hàng
VAMC
Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam
Vietnam Asset Management Company
VPBank Ngân hàng Việt Nam thịnh vượng
XHTD Xếp hạng tín dụng
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Quy trình quản trị rủi ro tín dụng thông thường 26
Hình 2.2: Khung quản trị rủi ro chuẩn theo thông lệ quốc tế 29
Hình 2.3: Các mô hình quản trị rủi ro tín dụng 37
Hình 2.4 : Mô hình năng lực ASK 40
Hình 2.5 : Mô hình thẻ điểm cân bằng 40
Hình 2.6: Mô hình nhân tố năng lực quản trị ngân hàng 41
Hình 2.7: Khung năng lực quản trị rủi ro tín dụng theo thông lệ quốc tế và chuẩn mực Basel II 49
Hình 3.1: Tốc độ tăng trưởng tín dụng (2009 – 10/2015) 70
Hình 3.2: Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng 71
Hình 3.3: Tốc độ tăng trưởng tổng tài sản của các tổ chức tín dụng (2013 -2014) 73
Hình 3.4: Khó khăn trong quá trình triển khai Basel II tại 10 NHTM 79
Hình 3.5: Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ đo lường PD, LGD, EAD 82
Hình 3.6: Mô hình tính vốn cho rủi ro tín dụng 84
Hình 3.7: Chiến lược tín dụng và khẩu vị rủi ro tín dụng tại các NHTM 88
Hình 3.8: Mô hình quản lý rủi ro tại các NHTM Việt Nam 90
Hình 3.9: Những điểm mạnh của NHTM trong quá trình triển khai Basel II 93
Hình 3.10: Khảo sát hệ thống CNTT tại các NHTM 94
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: So sánh năng lực quản trị rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng 48
Bảng 2.2: Yêu cầu về thời gian thu thập số liệu để xây dựng mô hình 58
Bảng 3.1: Tỷ lệ an toàn vốn của 10 NHTM áp dụng Basel II 86
Bảng 3.2: Một số chỉ tiêu giới hạn rủi ro tín dụng 98
Bảng 3.3: Các thang điểm xếp hạng tín dụng khách hàng 99
Bảng 4.1: Định hướng phát triển hoạt động tín dụng (2010 – 2020) 114
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại lợi nhuận chủ yếu cho các ngân hàng thương mại, nhưng cũng hàm chứa nhiều rủi ro Rủi ro tín dụng có thể tác động rất lớn đến các hoạt động kinh doanh khác, gây tổn hại đến uy tín và vị thế của ngân hàng
Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam phát triển dựa nhiều vào tín dụng ngân hàng, cho nên để tồn tại và phát triển, các ngân hàng thương mại phải xây dựng hệ thống quản trị rủi ro tín dụng phù hợp, thông qua hệ thống quản trị rủi ro các mục tiêu, nhiệm vụ trong chiến lược phát triển của ngân hàng được thực hiện hiệu quả và thành công (ở cả góc độ vĩ mô và vi mô) Muốn vậy, hệ thống quản trị rủi ro tín dụng chất lượng tại ngân hàng thương mại đảm bảo được các vai trò quan trọng như: tăng uy tín cạnh tranh thương mại, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng lợi nhuận ngân hàng và duy trì niềm tin của khách hàng/nhà đầu tư
Tuy nhiên, trước những biến động liên tục của môi trường kinh doanh, chất lượng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại Việt Nam bộc lộ nhiều hạn chế, biểu hiện khả năng quản trị kém, sử dụng không hiệu quả các nguồn lực của ngân hàng, các chính sách, quy định có khoảng cách xa so với thông lệ quốc
tế về quản trị rủi ro tín dụng Đánh giá chung công tác quản trị rủi ro tín dụng, các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện đang có năng lực quản trị rủi ro tín dụng ở mức trung bình, thậm chí dưới trung bình so với các thông lệ quốc tế về quản trị rủi ro tín dụng, thể hiện bởi chiến lược kinh doanh không bài bản, mô hình tổ chức không phân tách chức năng, quyền hạn rõ ràng, các công cụ đo lường rủi ro không đáp ứng được tiêu chuẩn do cơ sở dữ liệu thiếu cả về số lượng và chất lượng, nguồn nhân lực có chất lượng cao chưa được chuẩn bị sẵn sàng
Như vậy, các ngân hàng thương mại Việt Nam đứng trước nhiều thách thức, phải xây dựng hệ thống năng lực quản trị rủi ro tín dụng và có các giải pháp nâng cao khả năng, điều kiện sử dụng nguồn nhân lực của ngân hàng đảm bảo thực hiện quy trình quản trị rủi ro tín dụng, duy trì chất lượng quản trị rủi ro tín dụng tốt
Kể từ khi Ủy ban Basel II chính thức công bố các chuẩn mực Basel, đã có nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng và triển khai có hiệu quả Basel II, Basel III nhằm duy trì hoạt động bền vững của ngân hàng
Trang 92
Trong bối cảnh Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011
- 2015 theo quyết định 254/QĐ-TTg đã hoàn thành giai đoạn 1, đạt được một số mục tiêu nhất định về lành mạnh hóa tình trạng tài chính và củng cố năng lực hoạt động của các tổ chức tín dụng NHNN quyết định lựa chọn 10 ngân hàng thương mại triển khai Basel II vào cuối năm 2015 theo công văn số 1601/NHNN- TTGSNH, nghiên cứu ứng dụng các thông lệ quốc tế, trong đó có hệ thống các quy định Basel II nhằm nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng
Mặc dù, nhiều nghiên cứu tổng hợp và toàn diện về công tác quản trị rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam được thực hiện bởi cá nhân, tổ chức trên thế giới cũng như trong nước, tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây chưa đi sâu nghiên cứu năng lực quản trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại và chưa xây dựng một khung năng lực quản trị rủi ro tín dụng, đáp ứng yêu cầu Basel
II và phù hợp với các thông lệ quốc tế
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Nâng cao năng lực
quản trị rủi ro tín dụng theo thông lệ quốc tế tại ngân hàng thương mại Việt Nam’’ để nghiên cứu làm luận án tiến sĩ
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu, Luận án sẽ thực hiện các nhiệm vụ:
Một là, hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng, năng lực quản
trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại theo thông lệ quốc tế, phân tích mối quan hệ biện chứng giữa năng lực quản trị rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín
dụng Luận án xác định những nhân tố tác động đến năng lực quản trị rủi ro tín dụng
của các ngân hàng thương mại theo thông lệ quốc tế, tổng hợp thành Khung năng lực quản trị rủi ro tín dụng
Hai là, Luận án đi sâu nghiên cứu các thông lệ quốc tế về quản trị rủi ro tín
dụng, kinh nghiệm một số nước về cách tiếp cận và áp dụng chuẩn mực Basel II nhằm nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng;
Trang 103
Ba là, Luận án nghiên cứu, đánh giá thực trạng năng lực quản trị rủi ro tín
dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam, so sánh với khung năng lực quản trị rủi ro tín dụng theo thông lệ quốc tế và chuẩn mực Basel II;
Bốn là, Luận án đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro
tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam theo thông lệ quốc tế và chuẩn mực Basel II
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu năng lực quản trị rủi ro tín dụng theo thông lệ quốc tế tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, trong đó bao gồm các chuẩn mực Basel II là các chuẩn mực đang được hầu hết các ngân hàng thương mại tiên tiến thế giới thừa nhận và áp dụng
Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu:
Luận án tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng, năng lực quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng, các thông lệ quốc tế, chuẩn mực quản trị rủi ro tín dụng theo Basel II, các chuẩn mực quốc tế khác chỉ
đề cập trong mối tương quan nhằm nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại
Luận án nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng theo thông lệ quốc tế và chuẩn mực Basel II tại các ngân hàng thương mại Việt Nam Hoạt động tín dụng ngân hàng rất rộng, bao gồm cả huy động vốn, bảo lãnh và cho vay tài trợ thương mại Tuy nhiên, Luận án chỉ giới hạn nghiên cứu trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại
- Không gian nghiên cứu:
Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam bao gồm nhóm ngân hàng cổ phần nhà nước, nhóm ngân hàng thương mại cổ phần, nhóm ngân hàng nước ngoài và ngân hàng chính sách Luận án chỉ tập trung nghiên cứu nhóm 10 ngân hàng thương mại được lựa chọn triển khai Basel II vào cuối năm 2015 theo công văn số 1601/NHNN- TTGSNH ngày 17/3/2014 của NHNN, đó là các NHTM: Vietcombank, Vietinbank, BIDV, VPBank, Techcombank, VIB, Maritime Bank, MB, Sacombank, ACB Các nhóm ngân hàng khác chỉ nghiên cứu trong mối tương quan so sánh
- Thời gian nghiên cứu:
Trang 114
Giai đoạn 2009 – 2014 là giai đoạn có nhiều biến động trong hoạt động kinh doanh của hệ thống NHTM Việt Nam, tỷ lệ nợ xấu cao, hàng loạt các ngân hàng thực hiện tái cơ cấu theo Đề án cơ cấu lại hệ thống các Tổ chức tín dụng giai đoạn
2011 – 2015, ban hành kèm theo Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 1/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ Do đó, luận án lựa chọn khoảng thời gian nghiên cứu trong giai đoạn 2009 - 2014, và cập nhật tình hình năm 2015
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính (phân tích, tổng hợp, diễn giải, quy nạp, so sánh, phỏng vấn chuyên gia)
Nguồn số liệu: Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Nhà nước, các NHTM, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, thông tin, dữ liệu của các tổ chức quốc tế, Ngân hàng thế giới (WB) và một số cơ quan kiểm toán quốc tế như E&Y, Deloitte Cách thức thu thập dữ liệu cho việc thực hiện mục đích nghiên cứu trong luận án bằng thiết kế bảng câu hỏi, phỏng vấn chuyên gia, sử dụng các nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp
Phương pháp nghiên cứu của Luận án được thực hiện cụ thể:
Phân tích tổng hợp: Từ các số liệu về tài sản, nguồn vốn, dư nợ, nợ quá hạn,
các số liệu liên quan hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam trong thời gian nghiên cứu (2009 - 2014) Luận án đưa các nhận định thực trạng về hoạt động kinh doanh ngân hàng, công tác QTRRTD giai đoạn này là: Nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc nặng nề vào khu vực ngân hàng; Tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh trước đây đã giảm mạnh; Nợ xấu tăng nhanh cả về quy
mô và tốc độ tại tất cả các nhóm ngân hàng;Tổng tài sản của hệ thống các TCTD tăng trưởng nhanh nhưng không đồng đều; Cơ cấu tài sản và nguồn vốn của hệ thống ngân hàng diễn biến chiều hướng xấu đi
Phương pháp so sánh: So sánh số liệu thống kê qua các năm để đánh giá
thực trạng quản trị rủi ro tín dụng (QTRRTD) của các NHTM trong thời gian thực hiện nghiên cứu; Từ kinh nghiệm của các nước đã áp dụng thông lệ quốc tế và chuẩn mực Basel II vào nâng cao năng lực QTRRTD, so sánh với điều kiện Việt Nam trong quá trình triển khai Basel II nhằm nâng cao năng lực QTRRTD cho các Ngân hàng thương mại Việt Nam;
Phương pháp khảo sát, phỏng vấn chuyên gia:
Tác giả đã tiến hành khảo sát về thực trạng tiệm cận và mức độ sẵn sàng triển khai Basel II tại 9/10 NHTM Việt Nam trong danh sách triển khai thí điểm thực hiện Basel II theo công văn số 1601/NHNN - TTGSNH ngày 17/3/2014 của NHNN Bảng
Trang 12Thành phần tham gia trả lời bảng khảo sát: Cán bộ quản lý cấp cao về QTRR, Giám đốc dự án triển khai Basel II, các chuyên gia cao cấp, thành viên các dự án về QTRRTD tại các NHTM
Kết quả khảo sát: Tác giả thu thập được thông tin của 9/10 NHTM (không tiếp cận được thông tin của ngân hàng ACB), với các thông tin nổi bật:
(i) Đánh giá mức độ sẵn sàng triển khai Basel II của các NHTM được khảo sát và phản hồi: 9/10 NHTM đã hoàn thành các báo cáo đánh giá hiện trạng; Các NHTM đều
có các dự án liên quan đến triển khai Basel II (12 dự án về Basel II đã, đang và sẽ thực hiện tại 9 NHTM); 9 NHTM đã liệt kê 15 điểm mạnh và tập hợp 21 khó khăn chính của ngân hàng trong quá trình triển khai Basel II; và 9/10 NHTM đưa ra 32 kiến nghị tổng hợp thành 7 kiến nghị chính đối với NHNN
(ii) Thực trạng tiệm cận Basel II nhằm nâng cao năng lực QTRRTD cho thấy:
Mô hình tổ chức hoạt động tín dụng có 6/9 ngân hàng đã tách biệt rõ ràng theo 3 lớp phòng thủ, 3/9 ngân hàng còn một số phòng ban còn hoạt động đồng thời
2 lớp Cơ cấu tổ chức về quản lý rủi ro các NHTM có xây dựng mô hình tổ chức QTRRTD hướng theo Basel II, có chiến lược và khẩu vị rủi ro, đang nghiên cứu xây dựng các công cụ đo lường rủi ro tín dụng, tính toán yêu cầu vốn theo phương pháp chuẩn Tuy nhiên, các nhân tố khung năng lực về QTRRTD của các ngân hàng đều chưa thể đáp ứng, hoặc đáp ứng rất ít các chuẩn mực Basel II
Kết quả khảo sát tháng 3/2016 cho thấy về cơ bản 6/9 (66%) NHTM được chọn đều có chiến lược và khẩu vị rủi ro được quy định chính thức và rà soát hàng năm, 2/9 Ngân hàng có quy định nhưng lại không rà soát hàng năm, và 1 ngân hàng không quy định nhưng có sự rà soát hàng năm Tuy nhiên, việc hoạch định chiến lược còn khá đơn giản ở tất cả các NHTM và chưa theo quy chuẩn quốc tế Chiến lược kinh doanh không bài bản, mang tính định tính theo kinh nghiệm mà không đánh giá mức độ rủi ro và khả năng quản trị tương xứng Chiến lược chỉ mang nội dung định hướng phát triển chung chứ chưa đưa ra được một danh mục tín dụng kế hoạch nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tập trung
Năng lực xây dựng và vận hành các công cụ đo lường rủi ro tín dụng: Chưa ngân hàng nào sử dụng Hệ thống XHTD nội bộ ước tính về PD, LGD, EAD trong
Trang 136
Basel II, tuy nhiên các NHTM này đang tiến hành xây dựng để đáp ứng lộ trình triển khai Basel II vào QTRRTD
Hệ thống cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin: Hệ thống khởi tạo khoản vay LOS,
Hệ thống quản lý tài sản đảm bảo, Hệ thống quản lý thu hồi nợ, Hệ thống quản lý văn bản, Công cụ tính toán vốn là các hệ thống mà trên 56% ngân hàng đã chuẩn bị để sẵn sàng tiếp cận Basel II Tuy nhiên, các công cụ quản lý rủi ro này chưa được ứng dụng hiệu quả do sự thiếu đồng bộ về cơ sở hạ tầng công nghệ và hệ thống dữ liệu
Để bổ sung cho kết quả khảo sát (3/2016) và hỗ trợ căn cứ các nhận định trong Luận
án, tác giả tham khảo kết quả “Khảo sát mức độ áp dụng các tiêu chuẩn an toàn và quản lý rủi ro tại các NHTM Việt Nam” do ngân hàng BIDV thực hiện 2013 Các kết quả khảo sát chính mà Luận án kế thừa bao gồm: (i) Cơ cấu tổ chức về QTRR: 90% ngân hàng khảo sát đã thành lập Ủy ban Quản lý rủi ro, 87% ngân hàng đã có bộ phận riêng để quản lý nợ; 77% các ngân hàng đã tách bạch các bộ phận theo các chức năng; (ii)
Hệ thống văn bản, chính sách: 60% ngân hàng được khảo sát có chính sách quản lý rủi ro tín dụng Tuy nhiên các chính sách còn chồng chéo, bất cập, thiếu đồng bộ giữa các phòng ban nghiệp vụ; (iii) Năng lực xây dựng và vận hành các công cụ
đo lường rủi ro tín dụng: 17% ngân hàng chủ động nghiên cứu và thực hiện xác suất vỡ nợ (PD); kiểm định giả thuyết (back testing), kiểm chứng kịch bản xấu (stress testing) Ngoài ra, có 66% ngân hàng đã triển khai và áp dụng hệ thống XHTD nội bộ, 26% ngân hàng thực hiện QTRRTD theo phương pháp chuẩn (SA); 2/30 ngân hàng chưa quan tâm đến các công cụ đo lường rủi ro hiện đại do hạn chế về năng lực tài chính; (iv) Quản trị rủi ro theo hạn mức tín dụng: Hiện nay, các NHTM Việt Nam chủ yếu sử dụng 03 công cụ truyền thống trong QTRRTD, đó là: Quản lý danh mục tín dụng được 89% ngân hàng áp dụng; Quản lý hạn mức, giới hạn tín dụng 96% và trích lập dự phòng rủi ro 88% Ngoài ra, 58% ngân hàng đã thiết lập hạn mức tín dụng theo ngành nghề, nhóm khách hàng, địa lý, sản phẩm
Ngoài ra, tác giả nghiên cứu một ngân hàng cụ thể (VPBank) khảo sát về quy trình phân tích, đánh giá chênh lệch năng lực so với thông lệ quốc tế và chuẩn mực Basel
II, với mục đích bổ sung căn cứ cho các nhận định của tác giả trong Luận án
Từ kết quả khảo sát và phỏng vấn chuyên gia, tác giả tổng hợp, phân tích, đánh giá thực trạng về năng lực QTRRTD theo thông lệ quốc tế và chuẩn mực Basel II Những nhận định về thực trạng năng lực QTRRTD căn cứ theo số liệu thu thập được lẫn kết quả khảo sát sẽ là cơ sở khoa học đưa ra các kiến nghị, đề xuất
Trang 147
giải pháp nhằm nâng cao năng lực QTRRTD tại các NHTM của Luận án
5 Những đóng góp mới của luận án
Thứ nhất, Luận án hệ thống hoá cơ sở lý luận về: Quản trị rủi ro tín dụng; Năng
lực quản trị rủi ro tín dụng, phân tích mối quan hệ biện chứng năng lực quản trị rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng
Thứ hai, Luận án xác định những nhân tố tác động đến năng lực quản trị rủi ro
tín dụng của các ngân hàng thương mại theo thông lệ quốc tế và chuẩn mực Basel II, tổng hợp thành Khung năng lực quản trị rủi ro tín dụng theo thông lệ quốc tế và chuẩn mực Basel II
Thứ ba, Luận án khảo sát nghiên cứu về năng lực quản trị rủi ro tín dụng, mức
độ sẵn sàng tiệm cận các chuẩn mực Basel II tại nhóm các ngân hàng thương mại chuẩn bị triển khai Basel II tại Việt Nam
Thứ tư, Luận án đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao các nhân tố năng
lực thành phần trong Khung năng lực quản trị rủi ro tín dụng
Thứ năm, Luận án đưa ra một số khuyến nghị đối với cơ quan quản lý nhà
nước, Ngân hàng Nhà nước, hỗ trợ về văn bản, chính sách, quy định liên quan đến triển khai Basel II cho các ngân hàng thương mại; Cải thiện công tác quản trị, giám sát ngân hàng
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Về mặt lý luận:
Luận án nghiên cứu, xác định và tổng hợp lại 8 nhóm nhân tố tác động đến năng lực quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Các nhân tố này trước đây chỉ được đánh giá riêng biệt chưa được nhận định trong mối quan hệ tổng thể Khung năng lực quản trị rủi ro tín dụng
Luận án làm rõ mối quan hệ biện chứng, tương tác cùng chiều giữa quản trị rủi ro tín dụng và năng lực quản trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại
Về thực tiễn:
Kết quả khảo sát về thực tế tiệm cận và mức độ sẵn sàng ứng dụng Basel II của nhóm 10 ngân hàng thương mại Việt Nam, đưa ra các nhận định liên quan đến thực trạng quản trị rủi ro tín dụng, năng lực quản trị rủi ro tín dụng, tiềm lực của các ngân hàng trong lộ trình triển khai Basel II nhằm nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng
Các nhóm giải pháp đối với các ngân hàng thương mại và kiến nghị đối với
cơ quản quản lý nhà nước, Ngân hàng Nhà nước là những khuyến nghị dưới góc
Trang 158
nhìn khoa học có thể sử dụng làm các gợi ý thay đổi và hoàn chỉnh chính sách quản
lý hoạt động quản trị rủi ro của ngân hàng
7 Kết cấu của luận án
Ngoài lời mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận án gồm 4 chương Cụ thể như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu các nội dung liên quan đến đề tài
Chương 2: Cơ sở lý luận, các thông lệ quốc tế về quản trị rủi ro tín dụng và
năng lực quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại
Chương 3: Thực trạng năng lực quản trị rủi ro tín dụng theo thông lệ quốc tế
tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Chương 4: Giải pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng theo thông
lệ quốc tế tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Trang 169
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC NỘI DUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài
1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản trị rủi ro tín dụng
Quản trị rủi ro trong ngân hàng bao gồm mọi khía cạnh của quản lý rủi ro và nhấn mạnh sự cần thiết phải hiểu những vấn đề khái niệm và thực thi của quản trị rủi ro và xem xét những kỹ thuật và vấn đề thực tế mới nhất, bao gồm: quản trị rủi
ro tại ngân hàng, quản lý nợ tài sản, quy định rủi ro và tiêu chuẩn kỹ thuật, các mô hình rủi ro, mô hình danh mục tín dụng, yêu cầu phân bổ vốn, quản lý danh mục đầu tư tín dụng Quản trị rủi ro nói chung trong đó có quản trị rủi ro tín dụng nói riêng được nhiều học giả và nhà khoa học nghiên cứu ở nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau, cụ thể một số nghiên cứu điển hình:
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu gần đây đã làm nổi bật lên một nhu cầu đối với tất cả những người tham gia vào hệ thống ngân hàng phải hiểu và tận dụng một cách khôn ngoan quản trị rủi ro, quản trị rủi ro chưa bao giờ quan trọng như hiện nay Được cập nhật và mở rộng, phiên bản mới “Quản trị rủi ro trong ngân hàng” tác giả Joel Bessis [52] là cẩm nang tốt về khái niệm và công cụ cần thiết để tránh các cuộc khủng hoảng tài chính Tái bản lần 3, 2012, cuốn sách đã được chỉnh sửa, cập nhật toàn diện để nghiên cứu gương mặt thay đổi của quản trị rủi ro Hoàn toàn được tái cấu trúc với những tài liệu, thảo luận mới về những sản phẩm tài chính mới, phái sinh, Basel II,
mô hình tín dụng dựa trên mô hình cường độ thời gian, thực thi những hệ thống rủi ro
và mô hình cường độ của vỡ nợ, nó còn bao gồm một mục về dưới chuẩn để nói về cơ chế khủng hoảng và những điều kiện tài chính khó khăn gần đây Cuốn sách cho rằng, những cách thức và kỹ thuật quản trị rủi ro vẫn rất quan trọng nếu được thực thi một cách đúng đắn và sự điều hành phù hợp Quản trị rủi ro trong ngân hàng khảo sát mọi khía cạnh của quản trị rủi ro từ tổng quát quản trị rủi ro tại ngân hàng đến các mô hình rủi ro cụ thể trong tác giả đề cập xuyên suốt từ mục 11 đến mục 15 chi tiết về rủi ro tín dụng từ rủi ro tín dụng riêng lẻ, rủi ro tín dụng theo danh mục, phân bổ vốn theo rủi ro tín dụng, quản lý các danh mục tín dụng Cuối cùng, cuốn sách đã tổng hợp một số kiến nghị từ diễn đàn ổn định tài chính dựa trên khái niệm “procyclicality‟‟, liên quan đến
độ phóng đại biên độ chu kỳ trong lĩnh vực tài chính, với 3 nhóm ưu tiên trong việc thực thi chính sách gồm: quy định về vốn, chính sách trích lập dự phòng ngân hàng,
Trang 1710
và tương tác giữa giá trị và đòn bẩy Nghiên cứu này về cơ bản đã trả lời được câu hỏi: „Làm cách nào để tiếp cận và ứng dụng các lý thuyết về quản trị rủi ro vào hoạt động kinh doanh nói chung và rủi ro tín dụng nói riêng?‟ và „Khả năng áp dụng thực tế các công cụ quản trị rủi ro, bao gồm rủi ro tín dụng trong kinh doanh ngân hàng‟, Nghiên cứu là một cái nhìn toàn diện về cách quản trị rủi ro mở rộng và tiến hóa phức tạp trong nghệ thuật quản trị rủi ro, cẩm nang cho các nhà quản trị rủi ro Tuy nhiên, cuốn sách chưa đi sâu nghiên cứu điều kiện của nền tài chính không phải G10 như các thị trường kinh tế đang phát triển, trong đó có Việt Nam Để có thể áp dụng các mô hình, công cụ tiên tiến (bao gồm các chuẩn mực Basel) thì các quốc gia đang phát triển phải tìm và lấp đi khoảng trống giữa mô hình quản trị hiện tại và
mô hình quản trị tiên tiến như thế nào
Sách “Credit Risk Measurement” tác giả Anthony Saunders & Linda Allen [81] do nhà xuất bản John Wiley & Sons, Inc phát hành năm 2002 Đây là cuốn sách đề cập chủ yếu về đo lường rủi ro danh mục, một nội dung nằm trong quản trị danh mục tài sản của ngân hàng thương mại Đặc biệt cuốn sách này tập trung vào phương pháp đo lường rủi ro thông qua các mô hình sử dụng thống kê toán Hai tác giả đã đi sâu tìm hiểu tính kỹ thuật của các phương pháp, các biến số, sự phụ thuộc các biến số liên quan đến dữ liệu hoạt động tín dụng, nhằm dự báo, tính toán xác suất rủi ro để có những biện pháp chủ động đối phó Từ đó, nâng cao năng lực quản trị rủi ro, quản trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng Hạn chế của cuốn sách là không bàn luận đến toàn bộ các nội dung thuộc quản trị danh mục/ quản trị danh mục cho vay, mà chỉ tập trung cho rủi ro và đo lường rủi ro, một nội dung trong toàn bộ các vấn đề về quản trị danh mục
Sách “Credit Portfolio Management” tác giả Charles W Smithson [82] do nhà xuất bản John Wiley & Sons, Inc phát hành năm 2002, và “Risk Management in Credit Portfolios: Concentration Risk and Basel II”, 2010, của Hibbeln [65] Đây là những tài liệu đề cập khá đầy đủ các vấn đề liên quan đến quản trị danh mục của ngân hàng Nội dung cuốn sách bao gồm tiến trình quản trị danh mục, các mô hình
đo lường và quản trị danh mục, các công cụ kỹ thuật sử dụng trong điều chỉnh danh mục Do được viết trong bối cảnh chủ yếu là hệ thống tài chính Mỹ, nên phạm vi bàn luận của cuốn sách gần như không/ít liên quan đến hệ thống tài chính của các nước ngoài Mỹ Tuy nhiên, hệ thống cơ sở lý luận được phân tích trong các nghiên cứu là căn cứ khoa học xây dựng quản trị rủi ro theo danh mục tín dụng cho các ngân hàng thương mại tiên tiến
Trang 1811
Nghiên cứu “How loan portfolio diversification affects risk, efficiency and capitalization: A managerial behavior model for Austrian banks” của Stefania P.S Rossi, Markus S Schwaiger và Gerhard Winkler [83] thực hiện năm 2009 Bài nghiên cứu về mức độ ảnh hưởng của việc đa dạng hóa danh mục cho vay đến rủi ro, tính hiệu quả và khả năng vốn hóa của các ngân hàng Úc Nội dung hai bài nghiên cứu trên đề cập đến đa dạng hóa danh mục cho vay, xem xét nó dưới góc độ là một cách thức/ phương tiện để giảm thiểu rủi ro trên danh mục cho vay của ngân hàng thương mại Mặc dù nội dung gần với quản trị danh mục cho vay hơn là hai cuốn sách đã đề cập trên đây, tuy nhiên trong khuôn khổ một bài báo nên cả hai ấn phẩm này không nghiên cứu toàn diện về quản trị danh mục cho vay, mà chỉ là một nội dung trong đó
Bên cạnh đó, các nghiên cứu liên quan như hoạt động tín dụng, rủi ro tín dụng, chất lượng tín dụng: Nghiên cứu của World Bank [84]: “ Cho vay tín dụng của Ngân hàng Thế giới: đánh giá độc lập - World Bank lending for lines of credit: An IEG evaluation”, 2006; Glen Bullivant [52] trong “Quản trị rủi ro tín dụng - Credit Management”, 2010 Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nguyên nhân phá sản của ngân hàng bắt đầu từ nợ xấu tăng cao, chất lượng tài sản kém, điển hình là nghiên cứu của Dermirgue-Kunt,1989 và Siems,1994 Các nghiên cứu khai thác nhiều khía cạnh về rủi ro tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại trên thế giới trước và sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, tổng kết nhiều vấn đề mang tính thực tiễn cao Một điểm nổi bật dễ nhận thấy trong các tài liệu nói trên là các nghiên cứu đó đều xuất phát từ các nước phát triển (Mỹ, Anh, Úc và Đức) nên không gắn với thực tiễn Việt Nam
1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về năng lực quản trị rủi ro tín dụng
H.Greuning & S.Bratanovic [63] là đồng tác giả cuốn sách " Phân tích rủi ro ngân hàng, Khung đánh giá công tác quản trị và rủi ro tài chính – Analyzing Banking Risk, A framework for Assessing Corporate Governence and Financial Risk", tái bản lần 3, 2009 Nghiên cứu cung cấp một cách nhìn tổng quan về việc phân tích, đánh giá và quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng Trong lần tái bản này, các tác giả đã làm rõ một số nhân tố đánh giá về năng lực quản trị rủi ro tín dụng như năng lực quản trị rủi ro tín dụng theo khoản cấp tín dụng, năng lực QTRRTD theo danh mục tín dụng, phân tích nhân tố năng lực vốn, tài chính, các tác động của nhân tố này đối với năng lực QTRRTD của ngân hàng thông qua yêu cầu về vốn quy định chi tiết theo các chuẩn mực Basel II [77] Ngoài ra, nhân tố
về năng lực Quản trị điều hành với việc xây dựng các khung quản trị rủi ro chung
và chi tiết theo mục tiêu của mỗi ngân hàng, vai trò của bộ phận kiểm tra, kiểm toán
Trang 1912
nội bộ Tác giả đã phân tích, năng lực quản trị điều hành rủi ro tín dụng được đánh giá: (i) Quy trình cấp tín dụng có được tuân thủ; (ii) Các chính sách rõ ràng trong quy trình nội bộ cũng như sổ tay hướng dẫn; (iii) Nhân sự đáp ứng yêu cầu về số lượng, trình độ thực hiện các chính sách cấp tín dụng; (iv) Mức độ sẵn có, kịp thời của thông tin trong suốt quá trình xét duyệt, cấp và quản lý tín dụng Tuy nhiên, nội dung đánh giá năng lực QTRRTD chỉ được nêu một cách khái quát chung với ba nhân tố: quy trình cấp tín dụng, con người và thông tin, chưa có sự đánh giá cụ thể
về chính sách chiến lược, cơ sở hạ tầng tin học và các công cụ đo lường rủi ro tín dụng là những thành phần quan trọng khi xây dựng và nâng cao năng lực QTRRTD cho các NHTM
Cuốn sách „Mô hình rủi ro, đánh giá và quản trị - Risk modeling, assessment, and management‟, tái bản lần thứ 4, 2016, của Y.Y Haimes [85] Với kết cấu hai phần : (i) Phần 1: Lý thuyết căn bản về mô hình rủi ro, đánh giá rủi ro và quản trị rủi
ro tín dụng; (ii) Phần 2 : Nâng cao về mô hình rủi ro, đánh giá rủi ro và quản trị rủi ro tín dụng Các công cụ quản trị rủi ro, đo lường rủi ro, đánh giá rủi ro từ mức cơ bản đến nâng cao Nghiên cứu bổ sung một trong những nhân tố quan trọng về năng lực QTRRTD: Năng lực các công cụ đo lường rủi ro tín dụng Đề ra cách xác định rủi ro,
đo lường; mô hình và cách thức ra quyết định
Hay cuốn sách “Mô hình xếp hạng tín dụng nội bộ - Internal Credit risk Models, Capital Allocation and Performance Measurement”, 2005, của Micheal Ong [77], đã nghiên cứu chi tiết về cách thức tiếp cận, xây dựng mô hình xếp hạng/đánh giá tín dụng tại các mục 2, 3, 12, cụ thể: ý nghĩa và các cấu thành rủi ro tín dụng, các phương pháp
đo lường khả năng không trả được nợ; xây dựng mô hình đo lường rủi ro tín dụng; các tiếp cận các mô hình xếp hạng nội bộ trong việc đánh giá rủi ro tín dụng (mô hình Monte Carlo, RAPM, RAROC) Các mô hình đo lường rủi ro tín dụng nhằm xây dựng
và quản lý danh mục tín dụng và xác định tổn thất dự kiến/không dự kiến cho các ngân hàng, từ đó đưa ra các quyết định phân bổ nguồn vốn và xếp hạng của ngân hàng Đây
là cơ sở để tác giả xây dựng nhân tố năng lực về xây dựng và vận hành các công cụ đo lường, năng lực về quản lý rủi ro theo danh mục tín dụng cho các NHTM
Các chuẩn mực về Basel được ra đời từ những năm 1988, qua nhiều lần chỉnh sửa, điều chỉnh, cải tiến phù hợp từ Basel I, Basel II và Basel III Trên bình diện quốc tế, hệ thống ngân hàng đang dần đưa các ứng dụng của Basel vào quản trị rủi ro, đánh giá vào nâng cao năng lực quản trị rủi ro Các nghiên cứu, bài viết về việc ứng dụng Basel nhằm nâng cao năng lực quản trị rủi ro, quản trị rủi ro tín dụng
có các nghiên cứu điển hình sau :
Trang 2013
Balthazar L.[50], trong nghiên cứu "Từ hiệp ước vốn Basel I đến III, sự tích hợp các cấp độ của mô hình rủi ro trong các quy định ngân hàng – From Basel I to III, the integration of State-of-art risk modeling in Banking regulation", 2006 Nghiên cứu phân tích được cụ thể các yêu cầu theo chuẩn mực của Basel trong công tác quản trị rủi ro, năng lực quản trị rủi ro đánh giá theo thông lệ chung, theo Basel,
sự tích hợp của các quy định này với các quy định thực tế tại ngân hàng Đây là một nghiên cứu tổng hợp về các chuẩn mực Basel (từ 1 đến 3), song chỉ dừng lại ở việc phân tích các lý thuyết, các yêu cầu ghi trong Basel, và đề xuất một số phương thức tiệm cận Basel II nhằm nâng cao năng lực QTRRTD cho các ngân hàng Cũng chính tính chất khuyến nghị trong các chuẩn mực Basel mà tác giả chưa xây dựng một lộ trình triển khai cho các khu vực, quốc gia, nhóm ngân hàng cụ thể
Ngoài ra, Cornford A.[55], với nghiên cứu "Phương pháp áp dụng toàn cầu của Basel II: Triển vọng và các vấn đề chính – The global implementation of Basel II: Prospects and Outstanding Problems", 2006 Hay tác giả Brenda G [53], với "Basel II, hướng dẫn áp dụng ngắn gọn – Basel II, a short guide on the main axions", 2014, là những nghiên cứu điển hình về nội dung các chuẩn mực Basel nói chung, chuẩn mực Basel II nói riêng cho quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng Các nghiên cứu này không chỉ giới thiệu được nội dung của các chuẩn mực của Basel
II, mà còn phân tích các vấn đề chính, khả năng ứng dụng các chuẩn mực này trong xây dựng mô hình quản trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại Đây là những nghiên cứu có tính chất hướng dẫn cụ thể, có thể làm cẩm nang cho các nhà quản trị áp dụng thực hiện mục đích nâng cao năng lực quản trị rủi ro, trong đó có rủi ro tín dụng theo các thông lệ Basel Tuy nhiên, các chuẩn mực Basel đều là các chuẩn mực tương đối phức tạp, đòi hỏi không chỉ về nguồn lực, nền tảng công nghệ mà còn cả yếu tố tài chính Nguồn lực cần gì, nền tảng công nghệ cụ thể cho thị trường tài chính mới và đang phát triển như Việt Nam tối thiểu như thế nào, yêu cầu về vốn cần đạt là bao nhiêu lại chưa được đề cập một cách chi tiết
Ngoài các nghiên cứu mang tính tổng quan về các chuẩn mực Basel II còn có nhiều nghiên cứu cụ thể về cách thức áp dụng các chuẩn mực Basel II vào thị trường tài chính riêng tại các nước châu Á Thái Bình Dương, các nền kinh tế đang phát triển Các nghiên cứu điển hình bao gồm nghiên cứu của tổ chức tư vấn Deloitte [57],"Lập
kế hoạch và triển khai ứng dụng các chuẩn mực của Basel II tại thị trường châu Á Thái Bình Dương: Từ mô hình đến thực tiễn – From framework to execution: Effective planning and implemation to the Basel II Accord in Asia Pacific", 2009, và nghiên cứu của tác giả Gottchalk R.[62] "Ứng dụng Basel II vào các quốc gia đang phát triển, sự
Trang 2114
tác động đối với sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ - Basel II implemantion
in developing countries, effects on SME development"
Trên các website chính thức của Ủy ban Basel (http://www.bis.org) hay các website của các cơ quan giám sát tài chính các quốc gia, phần lớn nội dung của các bài viết là hướng dẫn thực hiện áp dụng Basel II vào quản trị rủi ro tín dụng, những vấn đề, khó khăn gặp phải khi triển khai theo một số bài viết sau :
Trong bài viết số 15, 2006, chỉ ra rằng muốn xây dựng khung xếp hạng theo cách tiếp cận nội bộ cần thỏa mãn một số giả định như (i) Rủi ro hệ thống xuất phát chỉ từ một nguồn; (ii) Danh mục tín dụng của ngân hàng đã bao gồm rủi ro của từng khoản nhỏ riêng lẻ, các rủi ro riêng biệt tách ra khỏi danh mục Bài viết đưa ra một
số luận điểm cho thấy nếu chỉ một trong hai giả định không thỏa mãn thì cách tiếp cận nội bộ IRB có thể khó thực hiện Ngoài ra, nghiên cứu cung cấp một cách nhìn tổng quan về các vấn đề hiện nay tại các mẫu ngân hàng được lựa chọn nghiên cứu
và nổi bật một số chính sách, yêu cầu phát sinh trong bối cảnh của từng quốc gia cũng như của toàn bộ nền kinh tế thế giới Khoảng cách giữa quy định văn bản và thực tiễn đi kèm các giả định không được tuân thủ dẫn đến những sai lệch trong đánh giá trụ cột 1 (yêu cầu vốn tối thiểu) Và phát triển các công cụ phù hợp trong việc quản lý rủi ro tập trung Đây là một nguồn dữ liệu phân tích khá cụ thể chi tiết,
đi từ những khái niệm, quy định được nêu trong Basel II, phân tích quá trình thực hiện tại một số ngân hàng, đưa ra nhận định cụ thể với các giả định đi kèm hỗ trợ khung xếp hạng theo cách tiếp cận IRB
Bài viết “Đánh giá lại cách tiếp cận tiêu chuẩn cho quản trị rủi ro tín dụng”, 2012, trên diễn đàn của Ủy ban Basel, đưa ra được một số đề xuất sửa đổi nhằm nâng cao các quy định tiêu chuẩn về vốn, bao gồm (i) Giảm bớt sự phụ thuộc vào hệ thống xếp hạng tín dụng bên ngoài; (ii) tăng độ nhạy cảm với rủi ro; (iii) cập nhật cách xác định các trọng số rủi ro căn cứ vào các nghiên cứu định lượng; (iv) thêm lựa chọn về khái niệm và cách thức thực hiện theo phương pháp tiếp cận nội bộ IRB đối với cùng một khoản tín dụng; (v) cách tiếp cận dễ hiểu, rõ ràng hơn cho các NHTM muốn áp dụng Các vấn đề được đề cập đến trong bài viết từ rủi ro trong ngân hàng, rủi ro của doanh nghiệp, rủi ro khách hàng bán lẻ, rủi ro đến từ tài sản đảm bảo, các kỹ thuật giảm thiểu rủi ro tín dụng theo Basel II, điều chỉnh lại tần suất giám sát, cập nhật thêm các tiêu chí cho đối tượng bão lãnh Các phương pháp, đo lường kỹ thuật trong tài liệu là nguồn tài liệu rất cần thiết và hỗ trợ tốt cho các ngân hàng nói chung trong quá trình áp dụng Basel II nâng cao năng lực xác định, đo lường quản trị rủi ro tín dụng
Trang 2215
Khi triển khai Basel II, một trong những vấn đề các ngân hàng phải quyết định đó là chi phí sẵn sàng cho các quy định được ứng dụng một cách hiệu quả nhất Trong bài viết số 16, 2011, đề cập đến vấn đề chi phí quá cao khi áp dụng các kỹ thuật giảm thiểu rủi ro tín dụng: Tài sản đảm bảo, bảo lãnh, công cụ tín dụng phái sinh Khung vốn Basel thừa nhận rằng kỹ thuật giảm thiểu rủi ro có thể làm giảm đáng kể rủi ro tín dụng và có thể phục vụ như một công cụ quản lý rủi ro hiệu quả Tuy nhiên, các chi phí để sử dụng các kỹ thuật giảm thiểu này chưa được tính chi tiết vào, các ngân hàng cần phải phân tích tài liệu các đặc điểm các giao dịch sử dụng các
kỹ thuật giảm thiểu rủi ro này, chi phí sử dụng, tác động đến yêu cầu vốn của các ngân hàng ra sao Các phân tích và nhận định cần phải gắn liền với chiến lược rủi ro, cân đối giữa chi phí và lợi ích khi ứng dụng tại từng ngân hàng
Ngoài ra, các tổ chức tư vấn tài chính quốc tế cũng đưa ra các nghiên cứu chi tiết, cụ thể liên quan đến Basel II về QTRRTD, cách thức áp dụng các chuẩn mực này nhằm nâng cao năng lực QTRRTD cho các NHTM Các nghiên cứu của công ty
tư vấn Ernst&Young, PwC, KPMG, MVLCO, tổ chức đánh giá IBM không chỉ giới thiệu chung về chuẩn mực Basel II trong QTRRTD, mà có có những đánh giá về mức
độ sẵn sàng ứng dụng các chuẩn mực Basel II vào QTRRTD, phương thức ứng dụng vào QTRRTD tại các NHTM [53],[54],[55]
Đánh giá chung về các nghiên cứu nước ngoài về năng lực quản trị rủi ro theo các thông lệ quốc tế và chuẩn mực Basel II: (i) Các nghiên cứu đánh giá riêng lẻ từng nhân tố cấu thành năng lực QTRRTD như năng lực quản trị điều hành, nhân tố các công cụ đo lường rủi ro tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng theo từng khoản cấp tín dụng và theo danh mục tín dụng, nhân tố con người, tài chính, các mô hình xếp hạng; (ii) Các nghiên cứu đều được thực hiện tại các thị trường tài chính tiên tiến như Mỹ, Châu Âu, Nhật mà chưa có nhiều nghiên cứu tổng hợp nào về thị trường Việt Nam; (iii) Chưa có nghiên cứu tổng hợp nhóm các nhân tố năng lực, mối quan hệ biện chứng, giao thoa giữa các nhân tố này trong vai trò xây dựng và nâng cao năng lực QTRRTD cho các ngân hàng thương mại; (iv) Những nghiên cứu này nước ngoài tác giả kế thừa về mặt lý luận và thực tiễn trong quá trình xây dựng Khung năng lực QTRRTD cho các NHTM Việt Nam của Luận án
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài
1.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản trị rủi ro tín dụng
Lê Thị Kim Nga (2005): "Giải pháp nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong những năm trước mắt" [17], đã hệ thống
Trang 23Lê Thị Huyền Diệu (2010): "Luận cứ khoa học về xác định mô hình quản trị rủi
ro tín dụng tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam" [2], ngoài việc nghiên cứu hệ thống hóa lý luận quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn trước khủng hoảng tài chính, nghiên cứu cũng chỉ ra mô hình quản trị rủi ro tín dụng chung của các ngân hàng thương mại, ưu điểm và nhược điểm của các mô hình Nội dung đề tài này chủ yếu xem xét rủi ro và quản trị rủi ro tín dụng dưới góc độ rủi ro theo từng khoản cấp tín dụng, chưa đề cập đến rủi ro danh mục là một trong những nhân tố quan trọng xây dựng năng lực quản trị rủi ro tín dụng
Tác giả Dương Hữu Hạnh (2013): "Quản trị rủi ro ngân hàng trong nền kinh
tế toàn cầu"[10], bổ sung thêm các biện pháp chủ động điều chỉnh chiến lược quản trị rủi ro, trong đó có quản trị rủi ro tín dụng sao cho phù hợp với điều kiện của từng ngân hàng trong nền kinh tế, có sự nghiên cứu về thị trường tài chính tại Việt Nam, các mô hình định lượng hiện đại, các công cụ tài chính phái sinh Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ dừng lại việc đề xuất các mô hình, các công cụ mà chưa có phân tích cụ thể đến từng nhóm ngân hàng thương mại Việt Nam, nhất là nhóm 10 ngân hàng được yêu cầu triển khai Basel II
Tác giả Tô Thị Ánh Dương (2007): “Những giải pháp để hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam tiếp cận và áp dụng hệ thống các chuẩn mực đánh giá ngân hàng an toàn theo thỏa ước Basel”, [6] Đề tài nghiên cứu “Hiệp ước Basel mới
và vấn đề kiểm soát rủi ro trong các ngân hàng thương mại”, tác giả Nguyễn Thị Liên Hoa (2009), [12] Hay nghiên cứu “Ứng dụng Hiệp ước Basel II vào hệ thống quản trị rủi ro tại các ngân hàng thương mại Việt Nam”, tác giả Chu Thị Hương Giang (2011), [9] Các nghiên cứu này là nhóm những nghiên cứu đầu tiên giới thiệu về các chuẩn mực Basel, nghiên cứu ứng dụng Basel vào kiểm soát rủi ro nói chung, rủi ro tín dụng nói riêng tại các NHTM, từ đó, đề xuất các giải pháp, kiến nghị cho các NHTMViệt Nam nhằm cải thiện chất lượng và quy tình quản trị rủi ro tín dụng tại Các nghiên cứu này cũng được thực hiện tương đối lâu, từ lúc Basel còn là những khái niệm tương đối mới với các NHTM Việt Nam (2007, 2009) Ngoài ra, các nghiên cứu cũng
Trang 2417
chỉ dừng lại ở góc độ đánh giá và kiến nghị trong điều kiện NHTM mới chỉ đang loay hoay ở Basel I, hay Basel 1.5 (2011) Đề án tái cơ cấu các tổ chức tín dụng giai đoạn 1 (2011 - 2015) dần mang lại cho hệ thống các NHTM Việt Nam một bộ mặt mới, các yêu cầu mới, các kết quả nghiên cứu này giảm đi tính ứng dụng và cần phải cập nhật
Trần Thị San (2010): “Xây dựng quy trình áp dụng Basel II vào quản trị rủi ro hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam”,[43], nghiên cứu của tác giả Trần Thị San xây dựng quy trình áp dụng Basel II vào BIDV, đưa ra những khó khăn thuận lợi trong quá trình ứng dụng, và đề xuất giải pháp để khắc phục các khó khăn đó Nghiên cứu có tính ứng dụng thực tế cao và bám sát các chuẩn mực Basel II, đã xây dựng được quy trình áp dụng Basel II Tuy nhiên, nghiên cứu mới dừng lại áp dụng tại một ngân hàng và quy trình đề xuất là cho quản trị rủi ro của cả hệ thống bao gồm chứ không cụ thể cho rủi ro tín dụng
Ngoài ra, nội dung về các quy định trong Basel II, các biện pháp thực hiện Basel vào quản trị rủi ro được thảo luận trong các tọa đàm giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản như “Hội thảo bức tranh toàn cảnh Basel”, 2013, [27]; hay “Quy định Basel và các biện pháp được các ngân hàng Nhật Bản thực hiện, 2011”, [31] Thông qua các buổi tọa đàm, hội thảo, các báo cáo thì bức tranh toàn cảnh Basel được phác họa rõ nét, sát với tình hình thực tế về quản trị rủi ro, quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Tại các hội thảo khoa học, thời gian gần đây, có rất nhiều nghiên cứu về quản trị rủi ro trong đó có QTRRTD tại các NHTM Việt Nam, điển hình như tác giả Nguyễn Thị Mùi [16] với nghiên cứu: "Hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay: Những vấn đề đặt ra và một số khuyến nghị chính sách", 2015, và tác giả Lê Thị Kim Nga với nghiên cứu [17]: "Hệ thống quản trị rủi ro tại các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay", 2015 Cả hai nghiên cứu này đề cập đến tổng quan về hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay, thực trạng công tác quản trị rủi
ro tín dụng, tình hình tái cơ cấu của hệ thống các NHTM, các ưu điểm, nhược điểm
và đề xuất một số khuyến nghị về chính sách cho các ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập quốc tế của nền kinh tế Việt Nam
Bên cạnh đó, các hội thảo giữa ngân hàng nhà nước Việt Nam và các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Đức, tổ chức JICA (Nhật), tổ chức ATTF (Luxembourg) thảo luận về thông tư, quy định về yêu cầu tối đối với hệ thống QTRR, QTRRTD trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam trong giai đoạn hội nhập quốc tế
Nhìn chung, các nghiên cứu đã xây dựng được hệ thống các cơ sở lý luận đánh giá về QTRR nói chung, QTRRTD nói riêng Trong bối cảnh hội nhập quốc
Trang 2518
tế, các NHTM không chỉ tập trung đối phó chỉ vấn đề nợ xấu, mà đã nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực cạnh tranh (về vốn chủ sở hữu, khả năng phòng ngừa rủi ro chứ không chỉ dừng lại là xử lý rủi ro đã xảy ra, khả năng sinh lời
trong giới hạn rủi ro)
1.2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về năng lực quản trị rủi ro tín dụng
Thực tế hiện nay, nghiên cứu về QTRRTD hay đánh giá hiệu quả QTRRTD tại các NHTM tương đối nhiều, nhưng lại rất ít các nghiên cứu về năng lực QTRRTD Tất cả các đề tài, nghiên cứu cụ thể về Năng lực QTRRTD tại Việt Nam hầu như là chưa có theo như tìm hiểu của tác giả Đề cập đến đánh giá năng lực quản trị rủi ro có các nghiên cứu như:
“Quản trị rủi ro kinh doanh ngân hàng”, 2010, của Nguyễn Văn Tiến [47], không chỉ nêu khái quát các khái niệm liên quan đến quản trị rủi ro tín dụng, vai trò, nguyên nhân dẫn tới rủi ro tín dụng, tầm quan trọng của việc xây dựng quy trình quản trị rủi ro tín dụng cho từng khoản cấp tín dụng thông qua các chính sách, quy trình xét duyệt, hệ thống chấm điểm khách hàng Từ cơ sở lý luận, phân tích thực tế tại một số ngân hàng trong nước và trên thế giới là căn cứ để xây dựng các tiêu chí cấu thành năng lực QTRRTD theo từng khoản cấp tín dụng, theo danh mục tín dụng cho các NHTM Việt Nam
Hội thảo NHNN Việt Nam và Ngân hàng Đức Giz 2011, [30], đề cập đến tầm quan trọng của công nghệ, cơ sở hạ tầng để không chỉ tối đa hóa lợi nhuận và tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh, mà còn đảm bảo phát triển bền vững sẵn sàng đối phó với rủi ro có thể xảy ra Vai trò cũng như tác động của yếu tố cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin trong đánh giá năng lực QTRRTD được phân tích nhưng trong khuôn khổ của Hội thảo chưa thể làm rõ được thực trạng, giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năng lực
cơ sở hạ tầng tin học cho các ngân hàng, mối quan hệ giữa khả năng đáp ứng cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin với các năng lực khác trong tổng thể năng lực QTRRTD
Hội thảo “Triển khai Hiệp ước vốn Basel II – Những bài học từ thực tiễn cho các ngân hàng Việt Nam” (2014), nêu ra: (i) Tính cấp thiết trong việc triển khai Basel II nhằm nâng cao năng lực QTRR cho các NHTM; (ii) Một số bài học thực tiễn từ các quốc gia cho các NHTM Việt Nam trong quá tình triển khai Basel II; (iii) Các vấn đề khó khăn khi triển khai Basel II trong một số lĩnh vực cụ thể của NHTM Việt Nam như:
Trang 2619
lập kế hoạch chiến lược, kiểm tra sức chịu đựng, triển khai đánh giá tỷ lệ an toàn vốn nội
bộ Tại hội thảo các báo cáo đánh giá cũng cho thấy, NHTM Việt Nam đang đi đúng hướng trong việc nâng cao năng lực QTRRTD theo chuẩn mực Basel II, nhiều ngân hàng
đã tích cực phân tích khoảng chênh lệch, xây dựng lộ trình thực hiện, củng cố khuôn khổ QTRR trong lĩnh vực then chốt như rủi ro tín dụng để công tác quản trị rủi ro phù hợp với chuẩn mực Basel II và thông lệ quốc tế
Tại kỷ yếu Diễn đàn kinh tế mùa xuân 2013 [5], nghiên cứu “Tái cấu trúc ngân hàng thương mại – Nâng cao năng lực quản trị rủi ro” [41], Lê Xuân Nghĩa (2011) đã chỉ ra rằng yếu kém của các NHTM đa phần là năng lực quản trị điều hành, hệ thống công nghệ thông tin và quy trình quản trị rủi ro tín dụng Theo như kết quả nghiên cứu, tái cấu trúc NHTM là cần thiết, là trọng tâm của tái cấu trúc nền kinh tế: (i) Cuộc chạy đua vốn theo quy định 141 ảnh hưởng đến năng lực quản trị, chất lượng nguồn nhân lực không đáp ứng kịp với tốc độ tăng tài sản tương ứng Tái cấu trúc là sáp nhập tạo thành các NHTM có quy mô lớn chuẩn bị sẵn sàng vốn đối phó với rủi ro như : nợ xấu cao, tỷ suất sinh lời của vốn thấp; (ii) Hệ thống quản trị rủi ro không tuân theo chuẩn mực quốc tế, do đó không đo lường được chính xác rủi
ro để đưa ra biện pháp xử lý rủi ro tốt hơn; (iii) năng lực quản trị điều hành tại các NHTM thiếu và yếu: không tuân theo các chuẩn mực quốc tế từ bộ máy quản trị rủi
ro, quy trình chính sách, các công cụ vận hành, bộ máy kiểm toán nội bộ Đây là những nhận định sâu sắc và sát với thực tiễn năng lực QTRRTD tại các NHTM Việt Nam Tuy nhiên, tái cấu trúc NHTM nghiên cứu mới chỉ kết luận, tái cấu trúc là tập trung tăng quy mô vốn cho các ngân hàng thông qua sáp nhập, các nhân tố khác là kết quả của quá trình sau sáp nhập
Ngoài ra, các nghiên cứu về năng lực NHTM của ngân hàng sử dụng chất lượng nợ, nợ xấu, cách thức giảm thiểu, hạn chế nợ xấu là các đại lượng đo lường năng lực QTRRTD của các NHTM Đó là: tác giả Tô Ngọc Hưng (2012), "Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của các quốc gia và bài học cho Việt Nam"[13]; tác giả Ngô Trí Long (2012), "Nợ xấu và các giải pháp xử lý nợ xấu hiện nay"[14], cùng hàng loạt các luận án, đề án nghiên cứu Các nghiên cứu chỉ ra được những yếu kém của các NHTM dẫn đến tình trạng nợ xấu, các giải pháp xử lý nợ xấu hiệu quả tại các quốc gia, rút ra được những bài học kinh nghiệm Bên cạnh các nghiên cứu chung của toàn hệ thống, các nghiên cứu với trường hợp từng ngân hàng cụ thể như Viettinbank, Vietcombank, BIDV là các tài liệu mang nhiều ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn cho nghiên cứu hoạt động quản trị rủi ro tín dụng Báo cáo Ernst &Young
Trang 2720
[8] về “Tự đánh giá các nguyên tắc cơ bản Basel II, và Đánh giá mức độ sẵn sàng của Ngân hàng nhà nước và đề xuất lộ trình triển khai Basel II tại Việt Nam” (2011 – 2013), nội dung chính trong các báo cáo gồm: (i) đánh giá các nguyên tắc cơ bản của Basel II, (ii) thực trạng hiện nay tại các NHTM Việt Nam, (iii) mức độ sẵn sàng của cơ quan quản lý cao nhất của ngân hàng là NHNN Việt Nam, và (iv) lộ trình triển khai Basel II tại Việt Nam
Tuy nhiên, như phân tích ở các nghiên cứu trên, tác giả nhận thấy các đánh giá chỉ ở góc độ riêng lẻ, từng nhân tố năng lực QTRRTD nhưng chưa đầy đủ, chưa có một nghiên cứu tổng thể đánh giá năng lực QTRRTD tại các NHTM Việt Nam, với nhóm NHTM tác giả lựa chọn trong phạm vi không gian nghiên cứu
1.3 Vấn đề nghiên cứu của Luận án
Tất cả các đề tài nghiên cứu mà tác giả tìm hiểu trong điều kiện Việt Nam, đều chưa thấy đề cập nhiều tới năng lực quản trị rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại, đặc biệt là còn thiếu vắng các nghiên cứu định lượng nhằm đánh giá năng lực QTRRTD trong NHTM, cụ thể là nhận dạng và xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến năng lực QTRRTD trong ngân hàng Các đề tài, bài báo, bài nghiên cứu trong nước về năng lực QTRRTD cho các NHTM Việt Nam cũng chỉ dừng lại ở việc nêu vấn đề, còn các nghiên cứu nước ngoài chủ yếu xuất phát từ các nước phát triển, chưa gắn với thị trường tài chính Việt Nam Vì vậy, có thể khẳng định rằng đề tài của Luận án nghiên cứu về năng lực QTRRTD tại các NHTM Việt Nam không có sự trùng lắp với bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào đã xuất hiện tại Việt Nam cho đến thời điểm này Luận án có sự kế thừa, giao thoa nhưng vẫn có tính khác biệt so với nghiên cứu trước đây về năng lực QTRRTD, đó là:
Một là, các công trình nghiên cứu khoa học trước đây thường lồng ghép, đề
cập đồng thời năng lực QTRRTD và QTRRTD trong khi Luận án đã cố gắng làm rõ thuật ngữ và các nội dung có liên quan giữa năng lực QTRRTD và QTRRTD thông qua phần viết Mục 2.2 Cơ sở lý luận về năng lực QTRRTD và Mục 2.3 Mối quan
hệ biện chứng giữa năng lực QTRRTD và QTRRTD;
Hai là, môi trường kinh doanh luôn thay đổi theo hướng rủi ro xảy ra ngày càng
tinh vi phức tạp hơn, chính vì vậy thông lệ quốc tế, trong đó bao gồm cả các chuẩn mực Basel (Basel I, II,II) luôn được điều chỉnh, thay đổi Luận án đã cố gắng cập nhật những thông lệ quốc tế mới nhất nhằm nâng cao năng lực QTRRTD tại các NHTM thông qua việc xác lập rõ ràng một Khung năng lực QTRRTD nêu tại Mục 2.4 ( hình 2.7);
Ba là, cho đến nay, có rất nhiều công trình khoa học trong nước nghiên cứu về
QTRRTD, về QTRRTD theo thông lệ quốc tế và các chuẩn mực Basel II, Basel III
Trang 2821
Trong khi đối tượng nghiên cứu của Luận án là về năng lực QTRRTD theo thông lệ quốc tế, trong đó bao gồm các chuẩn mực của Basel là các chuẩn mực đang được hầu hết các NHTM tiên tiến trên thế giới thừa nhận và áp dụng
Để đạt được mục tiêu lấp khoảng trống tri thức của các nghiên cứu trước đây, tác giả sẽ tập trung trả lời các câu hỏi sau:
Thứ nhất, về mặt lý luận làm rõ các khái niệm tín dụng, năng lực quản trị rủi ro
tín dụng, quy trình quản trị rủi ro tín dụng, thước đo, các nhân tố ảnh hưởng Các nhân tố cấu thành nên năng lực QTRRTD theo thông lệ quốc tế
Thứ hai, về mặt thực tiễn, đánh giá mức độ áp dụng và nguyên nhân chưa đáp
ứng các tiêu chuẩn về năng lực QTRRTD của các NHTM Việt Nam theo thông lệ quốc
tế Các điều kiện có thể áp dụng các thông lệ quốc tế nhằm nâng cao năng lực QTRRTD tại các NHTM Việt Nam
Thứ ba, các giải pháp quản trị đồng thời ở góc độ cơ quan quản lý Nhà nước
và góc độ các NHTM Bên cạnh các giải pháp cho các NHTM, có các đề xuất NHNN nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện các giải pháp nâng cao năng lực QTRRTD tại các NHTM Việt Nam
Cơ sở lý thuyết của Luận án dựa trên nền tảng lý thuyết về quản trị rủi ro tín dụng tại các nước phát triển như Anh, Mỹ Những lý thuyết này chủ yếu thể hiện trong cuốn sách „Quản trị rủi ro trong ngân hàng – Risk management in Banking‟ của tác giả Joel Bessis (2012); "Phân tích và quản trị rủi ro ngân hàng, khuôn khổ đánh giá quản trị doanh nghiệp và rủi ro tài chính – Analyzing Banking Risk, A framework for Assessing Corporate Governence and Financial Risk" của H.v.Greuning & S.Bratanovic (2009) và cuốn “Mô hình xếp hạng tín dụng nội bộ
- Internal Credit risk Models, Capital Allocation and Performance Measurement”,
2005, của Micheal Ong Ngoài ra, khi xây dựng khung năng lực QTRRTD và đề xuất các giải pháp, tác giả bám sát các quy định của chuẩn mực Basel, cụ thể Basel
II và các nguyên tắc quản trị rủi ro do Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS) ban hành 2006, xem đó như là khung pháp lý cho các đề xuất của Luận án
Về giả thuyết nghiên cứu, để tìm hiểu thực trạng năng lực quản trị rủi ro tín dụng của các NHTM Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất ra các giải pháp phù hợp dựa trên một giả thuyết tổng quát: Hầu hết công tác quản trị rủi ro tín dụng của các NHTM Việt Nam chưa thực sự tuân thủ theo các thông lệ, chuẩn mực quốc tế, hoặc tuân thủ chưa đầy đủ Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp trên cơ
sở đó đề xuất các nhóm giải pháp phù hợp, nhằm đạt được các mục tiêu nghiên cứu
và câu hỏi nghiên cứu
Trang 292.1 Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng
2.1.1 Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng
2.1.1.1 Khái niệm
Theo H Greuning và S Brantanovic [64], tín dụng có nghĩa là sự tín nhiệm, tin tưởng lẫn nhau Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và chủ thể khác trong nền kinh tế như tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân Tín dụng ngân hàng vẫn mang bản chất chung của quan hệ tín dụng là quan hệ vay mượn hoàn trả cả gốc
và lãi sau một thời gian nhất định Cùng với sự phát triển của công nghệ ngân hàng, tín dụng ngân hàng ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của nó đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc gia nói riêng và kinh tế toàn cầu nói chung
Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 [15], tín dụng được định nghĩa là
“Việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền trong một thời gian nhất định theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ tín dụng, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”
Như vậy, khái niệm tín dụng, theo tác giả hiểu: “Tín dụng là quan hệ vay,
mượn có hoàn trả gốc và lãi sau một thời gian đã cam kết”
Thực tế trong quá trình kinh doanh hoạt động ngân hàng, rủi ro tín dụng (RRTD) là một đặc điểm luôn tồn tại của hoạt động tín dụng
Theo Besis [52], rủi ro tín dụng được định nghĩa là “Khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các nguồn thu nhập
dự tính mang lại từ khoản tín dụng của ngân hàng không thể thực hiện đầy đủ về cả
số lượng và thời gian”
Theo chuẩn mực quốc tế Basel II [51], không đưa ra một định nghĩa về RRTD cụ thể mà chỉ nêu “Rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng vay hoặc bên đối tác của ngân hàng không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận”, Basel II đưa
ra một số nguyên nhân dẫn đến RRTD trong đó bao hàm khái niệm về rủi ro: Một
là, các khoản nợ không được thanh toán đúng hạn theo quy định (Thời gian thanh toán nợ đối với KHDN là 90 ngày, khách hàng cá nhân có thể là 90 ngày hoặc hơn
Trang 3023
nhưng không quá 180 ngày); Hai là, khách hàng vay không có khả năng thanh toán nghĩa vụ trả nợ Các ngân hàng được khuyến nghị nên tự xây dựng cho mình khái niệm RRTD phù hợp với điều kiện và hoản cảnh của quốc gia cũng như các
tổ chức tài chính
Tại Việt Nam theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 [42] thì “Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”
Từ nhiều định nghĩa khác nhau, tác giả tóm lược định nghĩa về rủi ro tín dụng
như sau: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là rủi ro do bên được cấp tín dụng,
bên có nghĩa vụ hoặc đối tác không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết đã ký với ngân hàng”
2.1.1.2 Các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng
Theo các nghiên cứu về quản trị rủi ro của các ngân hàng thương mại đã đề cập đến các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng [34],[35],[10],[46],[64],[58], tác giả tổng hợp lại các nguyên nhân chính sau:
Từ phía khách hàng, Khách hàng là đối tượng, đối tác trong hoạt động tín
dụng và là nguyên nhân xuất phát rủi ro tín dụng Các nguyên nhân từ phía khách hàng bao gồm: (i) Rủi ro về nghành nghề kinh doanh; (ii) Rủi ro thị trường, quy luật cung cầu, giá cả thị trường, cơ chế chính sách của nhà nước; (iii) Rủi ro về năng lực quản trị kinh doanh kém của bản thân doanh nghiệp; (iv) Rủi ro về đạo đức của khách hàng, cố tình gian lận, che giấu thông tin [3], [4]
Từ phía ngân hàng: các nguyên nhân bao gồm: (i) Chiến lược và chính sách tín
dụng không phù hợp, xây dựng khung quản trị rủi ro, lựa chọn khẩu vị rủi ro tín dụng không theo điều kiện cụ thể của ngân hàng, dẫn đến các chính sách nhiều sơ hở về thủ tục cấp tín dụng; (ii) Bộ máy tổ chức cho hoạt động kiểm tra, kiểm soát chưa đảm bảo quản trị tốt rủi ro Hoạt động kiểm soát không được tiến hành định kỳ, thường xuyên; (iii) Năng lực, trình độ chuyên môn của cán bộ ngân hàng nói chung và cán bộ tín dụng nói riêng còn hạn chế Cán bộ tín dụng thiếu khả năng phân tích thẩm định
dự án, kiến thức thị trường, kiến thức xã hội hạn chế nên không đánh giá tốt được liệu
dự án hay phương án đó có khả thi không [77]; (iv) Thông tin tín dụng không đầy đủ, ngân hàng có một cái nhìn không toàn diện về bản thân khách hàng cũng như tình hình tài chính, cơ chế chia sẻ thông tin giữa các ngân hàng còn yếu, dẫn đến sự bất đối xứng về thông tin, khó khăn trong quá trình thẩm định khách hàng Chất lượng thẩm định khoản vay kém, định tính theo kinh nghiệm bản thân, ít các nhân tố định
Trang 3124
lượng Thông tin yêu cầu thẩm định chưa sát với phương án vay của khách hàng; (v) Chất lượng quản trị rủi ro tín dụng kém do phương pháp đo lường không thống nhất, chưa theo chuẩn mực chung
Từ môi trường kinh doanh, các nguyên nhân bao gồm: (i) Môi trường kinh
tế: Trong nền kinh tế thị trường, chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ đóng vai trò quyết định đối với hoạt động của nền kinh tế quốc dân nói chung và lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, tín dụng của các NHTM nói riêng; (ii) Môi trường pháp lý là điều kiện đảm bảo cho hoạt động kinh doanh, đặc biệt là các hoạt động tín dụng của các NHTM Nếu môi trường pháp lý chưa hoàn chỉnh thiếu đồng bộ sẽ gây khó khăn, bất lợi cho cả doanh nghiệp và ngân hàng [64]; (iii) Môi trường xã hội: Những thay đổi về chính trị có thể dẫn đến sự biến động cán cân thương mại quốc
tế, tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp và các NHTM [64],[77]
2.1.2 Quản trị rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại
2.1.2.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng
Trước hết, quản trị là một khái niệm rất rộng bao gồm nhiều lĩnh vực: quản trị hành chính (trong các tổ chức xã hội), quản trị kinh doanh (trong các tổ chức kinh tế) Trong lĩnh vực quản trị kinh doanh lại chia ra nhiều lĩnh vực: Quản trị tài chính, quản trị nhân sự, quản trị Marketing, quản trị sản xuất
Quản trị nói chung theo tiếng Anh là "Management" vừa có nghĩa là quản lý, vừa có nghĩa là quản trị, nhưng hiện nay được dùng chủ yếu với nghĩa là quản trị Tuy nhiên, khi dùng từ, chúng ta coi thuật ngữ quản lý gắn liền với với quản lý nhà nước, quản lý xã hội, tức là quản lý ở tầm vĩ mô Còn thuật ngữ quản trị thường dùng ở phạm vi nhỏ hơn đối với một tổ chức, một doanh nghiệp, ngân hàng
Có rất nhiều quan niệm về quản trị: Theo Koontz và O' Donnel: quản trị là thông qua nhiệm vụ của nó, cho rằng nhiệm vụ cơ bản của quản trị là "thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm
có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định" James Stoner và Stephen Robbins: “Quản trị là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra”
Ngoài ra, khái niệm về quản trị là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị nhằm đạt được những kết quả cao nhất với mục tiêu
đã định trước Quản trị là một quá trình nhằm đạt đến các mục tiêu đề ra bằng việc
Trang 3225
phối hợp hữu hiệu các nguồn lực của doanh nghiệp Theo quan điểm hệ thống, quản trị còn là việc thực hiện những hoạt động trong mỗi tổ chức một cách có ý thức và liên tục Quản trị trong một doanh nghiệp tồn tại trong một hệ thống bao gồm các khâu, các phần, các bộ phận có mối liên hệ khăng khít với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và thúc đẩy nhau phát triển
Đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng, theo Altman [43], quản trị rủi ro tín dụng (QTRRTD) là nhu cầu cấp thiết bởi sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng phụ thuộc đáng kể vào chất lượng tín dụng QTRRTD là đảm bảo rằng hệ thống đó hoạt động hiệu quả, kịp thời nhận biết được rủi ro tồn tại, phân tích và định lượng được để trên cơ sở đó sử dụng các công cụ, biện pháp phù hợp Do vậy, QTRRTD có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động quản trị kinh doanh của ngân hàng
Như vậy, từ các khái niệm, bản chất của quản trị, tính chất của QTRRTD, tác giả tóm lược khái niệm quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng như
sau:“Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình ngân hàng thương mại thực hiện liên tục
và đồng bộ các bước từ nhận diện rủi ro, đo lường rủi ro, quản lý và giám sát rủi
ro, phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro, nhằm khống chế tỉ lệ rủi ro tín dụng trong ngân hàng đến mức thấp nhất mà ngân hàng dự kiến”
2.1.2.2 Quy trình quản trị rủi ro tín dụng
Theo Besis [52] và Greuning – Brantanovic [64] quy trình QTRRTD là một quá trình tiếp cận rủi ro tín dụng một cách toàn diện, khoa học và được hệ thống hóa nhằm nhận biết, đo lường, quản lý, kiểm soát rủi ro, và những ảnh hưởng bất lợi từ hoạt động tín dụng Các bước trong quy trình QTRRTD có tính liên tục, kế thừa, quan hệ chặt chẽ với nhau (dữ liệu đầu ra của một bước sẽ là dữ liệu đầu vào cho bước tiếp theo lựa chọn, thực hiện và phản hồi thông tin) Chi phí vận hành hệ thống QTRRTD chiếm tỷ trọng không nhỏ trong tổng chi phí hoạt động ngân hàng, do đó, các NHTM căn cứ vào các quy định chung, xây dựng các quy định QTRRTD phù hợp với mục tiêu chiến lược hoạt động, khẩu vị rủi ro, khả năng chấp nhận rủi ro để kiểm soát RRTD Quy trình QTRRTD thông thường tại NHTM thể hiện qua hình 2.1
Trang 33RRTD nếu được xác định sớm, các ngân hàng sẽ chủ động trong việc phòng ngừa, hạn chế được những rủi ro mang tính chủ quan, xuất phát từ yếu tố con người
và những rủi ro tín dụng khác có thể kiểm soát được
(2) Đo lường rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng được đo lường bằng: Một là, đo lường RRTD thông qua
phân tích định tính (lịch sử, mô hình tổ chức quản trị điều hành, đánh giá tín nhiệm bên ngoài của các tổ chức như Moody‟s, S&P, đánh giá tín nhiệm nội bộ, các chế
độ kiểm toán, kế toán); Hai là, đo lường RRTD theo các phân tích định lượng sử dụng
nhóm chỉ tiêu tài chính, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ cấp tín dụng, tỷ lệ nợ xấu, nợ
quá hạn; Ba là, đo lường RRTD từ phân tích xu hướng (sử dụng số liệu lịch sử tối
thiểu 3 năm tính toán các mô hình đo lường rủi ro danh mục tín dụng, rủi ro từng
khoản tín dụng); Bốn là, đo lường RRTD theo phân tích ngành, và các yếu tố khác
(mức độ tập trung, tính đa dạng)
(3) Quản lý rủi ro tín dụng
Trang 3427
Quản lý rủi ro tín dụng với các nội dung cơ bản: Thứ nhất, tuân thủ các quy
định, nguyên tắc trong quản trị rủi ro tín dụng (QTRRTD) trong nước và các
nguyên tắc QTRRTD theo thông lệ quốc tế và chuẩn mực Basel II; Thứ hai, đánh giá rủi ro tín dụng, xác lập hạn mức liên quan và tính toán tỷ lệ vốn cho RRTD; Thứ ba,
quản lý RRTD là phải xây dựng văn hóa rủi ro trong tổ chức; Thiết lập chiến lược, chính sách, nguồn lực (con người, công nghệ thông tin, quy trình QTRRTD)
Quản lý rủi ro tín dụng thông qua việc đưa ra định hướng chính sách cấp tín dụng Các chính sách cấp tín dụng cần hợp lý, phù hợp với thực tế của nền kinh tế nói chung, tình hình của các ngân hàng nói riêng để hoạt động kinh doanh của ngân hàng tăng trưởng mà vẫn kiểm soát tốt RRTD
(4) Kiểm soát rủi ro tín dụng
Kiểm soát RRTD là bước cuối trong quy trình liên tục của QTRRTD gồm hoạt động giám sát và xử lý RRTD nhằm phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro: (i) Giám sát theo quy trình (trước, trong và sau giao dịch), kiểm toán nội bộ, các báo cáo rủi ro thực hiện định kỳ, tận dụng cơ chế giám sát bên ngoài (kiểm toán độc lập, cơ quan thanh tra giám sát); và (ii) Xử lý rủi ro: các quỹ dự phòng rủi ro, bán nợ, xử lý tài sản đảm bảo
Các biện pháp kiểm soát rủi ro giúp hạn chế, ngăn ngừa tổn thất (Tổn thất là thực tế khi rủi ro xảy ra) Hoạt động kiểm soát rủi ro tín dụng cần phải được thực hiện đồng bộ từ tổng thể từ hệ thống ngân hàng đến từng NHTM
2.1.2.3 Đánh giá hoạt động quản trị rủi ro tín dụng
Quản trị là nhân tố khó đánh giá và không thể đo lường được, đặc biệt đối với quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng Do đó, đánh giá hoạt động QTRRTD là đánh giá hiệu quả QTRRTD thông qua khả năng thực hiện các mục tiêu đặt ra của công tác QTRRTD
Hopkin [66], Cách tiếp cận “Những nhân tố cơ bản”, cho rằng việc đánh giá rủi ro tín dụng thường mang tính phán xét vì tính đa diện của nó, có quan hệ gần gũi Những nhân tố cơ bản nói về bất kỳ nhân tố nào quan trọng để hiểu điểm mạnh, điểm yếu của một người đi vay hay một đối tác trong giao dịch tín dụng Điều này bao gồm khả năng thanh toán nợ, dòng tiền của công ty và lịch sử thanh toán, hoạt động của công ty
Standard & Poors, Fitch, Moody‟s [73], xây dựng và ấn định xếp hạng rủi ro tín dụng ẩn chứa những thông tin quan trọng trong thị trường, cho phép các nhà đầu
tư dựa vào các đánh giá của cơ quan xếp hạng rủi ro tín dụng
Các thành tố rủi ro chỉ những thành phần cơ bản của rủi ro tín dụng, bao gồm
“xác suất vỡ nợ”, “nguy cơ vỡ nợ”, “thua lỗ nếu vỡ nợ” Định lượng rủi ro tín dụng
Trang 3528
chậm hơn so với các thước đo rủi ro khác vì những thông tin như vậy không sẵn có
và cần được mô phỏng Mô hình vỡ nợ cấu trúc, bắt đầu từ những đóng góp lý thuyết trước đó của Merton (1973) và được thực thi trong mô hình “Theo dõi Tín dụng KMV” của Moody‟s, mô phỏng sự kiện vỡ nợ như sự thiếu hụt tài sản so với nghĩa vụ trả nợ Hay mô hình rủi ro tín dụng riêng lẻ, dựa trên việc tái đánh giá toàn phần, mô phỏng sử dụng những ma trận chuyển hạng thông thường hoặc mô hình cấu trúc tạo ra một phân phối liên tục của các giá trị tài sản
Như vậy, quản trị nói chung, QTRRTD nói riêng là khái niệm hay đối tượng không thể đo lường, định lượng được, mà chỉ có thể đánh giá và đo lường được thông qua hiệu quả QTRRTD hay khả năng đạt được các mục tiêu QTRRTD
2.1.3 Thông lệ quốc tế về quản trị rủi ro tín dụng
Các nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng
Theo thông lệ quốc tế về quản trị rủi ro nói chung, quản trị rủi ro tín dụng nói riêng, các nguyên tắc khi các ngân hàng hoạch định chiến lược và chính sách QTRR là: (i) Chấp nhận và quản lý rủi ro cho phép (Khẩu vị rủi ro); (ii) Sự đánh đổi giữa mức độ rủi ro và thu nhập (risk – return tradeoff); (iii) Nguyên tắc phân tán rủi ro; (iv) Tính phù hợp với chiến lược chung của tổ chức; (v) Tính tương quan giữa các loại rủi ro (rủi ro này có liên quan đến rủi ro khác); (vi) Tính độc lập: bộ phận quản trị rủi ro báo cáo trực tiếp lên lãnh đạo ngân hàng; (vii) Tính liên tục: Đảm bảo thay đổi liên tục của thị trường; (viii) Tính cần thiết khi triển khai một sản phẩm mới
Các nguyên tắc này quy định cụ thể trong Basel II, bao gồm: (i) Xây dựng môi trường tín dụng thích hợp: Yêu cầu xem xét đánh giá RRTD phải là chiến lược xuyên suốt trong hoạt động ngân hàng (mức độ chấp nhận rủi ro, tỷ lệ nợ xấu), trên cơ sở đó phát triển các chính sách nhằm phát hiện, theo dõi và kiểm soát nợ xấu trong mọi hoạt động, đối với từng khoản cấp tín dụng cụ thể và nâng lên tầm soát rủi ro của cả danh mục đầu tư; (ii) Thực hiện cấp tín dụng lành mạnh: Các ngân hàng cần xác định rõ ràng các tiêu chí cấp tín dụng lành mạnh (xác định thị trường mục tiêu, đối tượng khách hàng tiềm năng, điều kiện cấp tín dụng) nhằm xây dựng các hạn mức tín dụng phù hợp cho từng loại khách hàng trên cơ sở các thông tin định lượng, định tính, kết quả XHTD nội bộ đối với khách hàng Ngân hàng phải có quy trình rõ ràng trong đề xuất tín dụng, phê duyệt và sửa đổi tín dụng, có sự phân tách nhiệm vụ rạch ròi giữa các bộ phận có liên quan đến công tác tín dụng Việc cấp tín dụng cần tuân thủ nguyên tắc cẩn trọng trên cơ sở giao dịch công bằng giữa các bên; (iii) Duy trì quá trình quản lý và theo dõi tín dụng phù hợp: Tuỳ theo quy
mô của từng ngân hàng để xây dựng hệ thống quản lý phù hợp, kịp thời nắm bắt các
Trang 3629
thông tin từ phía khách hàng như tình hình tài chính, tình hình hoạt động kinh doanh, mức độ thực hiện các cam kết để sớm phát hiện các dấu hiệu bất thường, kiểm soát tốt các khoản vay có vấn đề Ngân hàng cũng cần có các biện pháp quản
lý và khắc phục các khoản nợ xấu Vì thế, chính sách quản lý RRTD của ngân hàng phải chỉ rõ cách thức quản lý các khoản tín dụng có vấn đề
Khung quản trị rủi ro tín dụng theo thông lệ quốc tế
Các thông lệ quốc tế và chuẩn mực Basel II để giúp các NHTM trong quá trình xây dựng, hoạch định chiến lược và chính sách hướng tới các mục tiêu: (i) Đảm bảo phương pháp tính mức vốn an toàn của ngân hàng; (ii) Đo lường tách bạch các loại rủi
ro (rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường và rủi ro tín dụng); (iii) Tăng cường quản trị tài chính thống nhất giữa các quốc gia Xây dựng khung quản trị rủi ro tín dụng gồm Bước 1 – Xác định rủi ro: thông qua chính sách, quy trình, quy chế để nhận diện, tự phát hiện và đánh giá rủi ro) Bước 2 – Đo lường rủi ro: đánh giá định tính, định lượng các trọng số rủi ro tín dụng cụ thể và kiểm định chặt chẽ Dựa trên các thông
kê định lượng, kết hợp ý kiến chuyên gia, các ngân hàng thực hiện Bước 3 – Thiết
kế các biện pháp giảm nhẹ rủi ro và Bước 4 – Giám sát rủi ro: quản lý rủi ro một cách chủ động và tích cực
Hình 2.2: Khung quản trị rủi ro chuẩn theo thông lệ quốc tế
Nguồn: Basel II [51]
Mô hình bộ máy tổ chức quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại
Mô hình bộ máy quản trị giúp công tác QTRRTD tại các NHTM hoạt động một cách hiệu quả Trách nhiệm cao nhất đối với quản trị rủi ro, QTRRTD là của Hội đồng quản trị (HĐQT) của ngân hàng Hội đồng quản trị (HĐQT) có trách nhiệm nắm được rủi ro tín dụng của ngân hàng và đảm bảo rằng những rủi ro này được quản trị một cách phù hợp Các quy định ban hành trong Khẩu vị rủi ro, chiến lược và cơ chế chính sách kiểm soát và quản lý rủi ro phát sinh trong suốt quá trình
Đo lường rủi ro
Giảm nhẹ rủi ro
Xác định rủi ro
Giám sát rủi ro
Trang 3730
kinh doanh ngân hàng thông qua Ủy ban quản lý rủi ro; Ban điều hành, cụ thể là các phòng ban Hội sở, Phòng quản lý rủi ro hỗ trợ các hoạt động hàng ngày của Ủy ban quản lý rủi ro Chức năng cơ bản tại bộ phận này là đưa ra các khuyến nghị xây dựng chính sách, chiến lược, cơ chế, quy trình và giám sát việc tuân thủ của bộ phận kinh doanh (chi nhánh/đơn vị thành viên) đối với các quy định, hạn mức đã được thông qua
Các chính sách quản trị rủi ro tín dụng phải do Phòng/khối Quản trị rủi ro chuẩn bị cho Ủy ban quản lý rủi ro và phải được HĐQT định kỳ đánh giá và thông qua Các chính sách QTRRTD phải được xây dựng trong mối tương quan và năng lực thực tế của mỗi ngân hàng, đó là: (i) Chiến lược kinh doanh chung, phù hợp với quy mô, bản chất và khẩu vị rủi ro và mối quan hệ với các hoạt động kinh doanh trong ngân hàng; (ii) Phù hợp với các sản phẩm tín dụng, mức độ phức tạp liên quan đến hoạt động tín dụng của ngân hàng; (iii) Khả năng nhận diện, đo lường, kiểm soát rủi ro hoạt động tín dụng thông qua các kết quả kinh doanh và rủi ro trước đây; (iv) Trình độ chuyên môn của nguồn nhân lực thực hiện công tác quản trị rủi ro (cả
bộ phận kinh doanh và bộ phận quản trị rủi ro); (v) Năng lực công nghệ thông tin,
cơ sở dữ liệu của từng ngân hàng
Cơ cấu tổ chức ngân hàng phải có các tuyến báo cáo tạo điều kiện cho HĐQT giám sát và kiểm soát các hoạt động và rủi ro ngân hàng theo mô hình mô
hình “3 lớp phòng vệ” Toàn bộ các thành viên trong hệ thống đều phải tham gia
vào quá trình QTRR, đảm bảo mọi rủi ro trong mỗi tác vụ của ngân hàng được nhận
diện, kiểm soát và giảm thiểu ở mức thấp nhất (i) Lớp phòng vệ thứ nhất phải đảm
bảo môi trường kiểm soát thuận lợi trong từng bộ phận, thực hiện các chính sách QTRR theo vai trò, trách nhiệm của mình đặc biệt trong các hoạt động dẫn đến tăng trưởng của ngân hàng Các bộ phận này cần được nhận thức đầy đủ các yếu tố rủi ro phải được xem xét trong mọi quyết định và hành động, có thể thực hiện giám sát và duy trì tính minh bạch trong kiểm soát nội bộ của riêng bộ phận Năng lực QTRR, QTRRTD của ngân hàng tốt do rủi ro đo lường và kiểm soát ngay từ lớp phòng vệ đầu tiên hay cũng chính là các phân lớp kiến tạo rủi ro, phê duyệt rủi ro và báo cáo rủi ro Thực hiện tốt QTRR tại lớp phòng vệ đầu tiên thể hiện các chính sách quản trị ban hành được thực thi hiệu quả, rủi ro được rà soát trong khả năng, khẩu vị có thể chấp nhận của ngân hàng Đây là tiền đề, cơ sở để các lớp phòng vệ khác hoạt
động hiệu quả (ii) Lớp phòng vệ thứ hai là khối quản trị rủi ro, khối tuân thủ, quản
trị rủi ro hoạt động và pháp chế Lớp phòng vệ này có rất nhiều nhiệm vụ, trong đó quan trọng hơn cả là việc độc lập đánh giá và kiểm soát (kiểm tra và cân đối) tính hiệu quả của hệ thống ở lớp phòng vệ thứ nhất; quản lý rủi ro chính thông qua việc
Trang 38QTRR để thực thi tất cả các nhiệm vụ được giao; (iii) Lớp phòng vệ thứ ba là bộ
phận kiểm toán nội bộ (KTNB) Đây là bộ phận trực thuộc Ban kiểm soát và không thuộc Ban điều hành của Ngân hàng, nên việc đánh giá 2 lớp phòng vệ trước và các rủi ro có thể xảy ra được thực hiện độc lập và khách quan Lớp phòng vệ thứ ba chịu trách nhiệm giám sát một cách độc lập khuôn khổ QTRR của ngân hàng, bao gồm các chốt kiểm soát rủi ro, các chu trình, tính đầy đủ và hiệu quả của khuôn khổ QTRR KTNB phải đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định xem liệu công việc quản soát của ngân hàng có phù hợp với các chính sách quản lý rủi ro tín dụng đã được ban hành, đảm bảo rằng công tác kiểm soát là phù hợp và đầy đủ Các kiểm toán viên nội bộ phải được định kỳ kiểm toán, đánh giá quy trình quản lý rủi ro và kiểm soát nội bộ Ngoài ra, các kiểm toán viên độc lập phải đình kỳ xem xét và báo cáo với Ủy ban kiểm toán và HĐQT về tính đúng đắn và sự độc lập của các bộ phận giám sát và quản lý rủi ro, đánh giá sự tuân thủ đối với các chính sách và quy trình quản lý rủi ro tín dụng, bao gồm cả đánh giá các quy trình mô hình hóa và giám sát
rủi ro tối thiểu hàng năm
Các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng
Trên thế giới có nhiều mô hình tiêu chuẩn/tiêu chí đánh giá hoạt động kinh doanh ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng:
(i) Mô hình xếp hạng của các tổ chức xếp hạng quốc tế (Moody‟s, S&P) Moody‟s Investor Servicce (Moody‟s) [73] và Standar & Poor‟s (S&P) là hai tổ chức tín nhiệm có uy tín lâu đời tại Mỹ và cũng là các tổ chức tiên phong trong lĩnh vực xếp hạng tín nhiệm trên thế giới, sau đó có Fitch Investor Service (Fitch) Kết quả xếp hạng của các tổ chức này đều được đánh giá cao Phương pháp xếp hạng tín nhiệm này tập trung chủ yếu vào bốn lĩnh vực chính là đánh giá môi trường ngành, đánh giá tình hình tài chính, đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh, đánh giá khả năng quản trị doanh nghiệp, chú trọng quản trị rủi ro và kiểm soát nội bộ Các thang điểm xếp hạng từ cao xuống thấp (AAA – chất lượng cao nhất, C – chất lượng kém nhất)
(ii) Chấm điểm tín dụng, đây là phương pháp truyền thống, định tính để đánh giá rủi ro thông qua nghiên cứu hồ sơ khách hàng vay vốn, 3C, 4C, 5C, 6C là phương
Trang 3932
pháp các ngân hàng hay dùng Các chữ C bao gồm: Tư cách người vay (Character), năng lực người vay (Capacity), thu nhập của người vay (Cash), tài sản đảm bảo (Collateral), các điều kiện (Conditions) và kiểm soát (Control);
(iii) Mô hình cho điểm để lượng hóa rủi ro tín dụng [48]: Mô hình cho điểm
số Z (Z credit scoring model) dùng chấm điểm các doanh nghiệp do Altman nghiên cứu Đại lượng Z làm thước đo tổng hợp để phân loại RRTD đối với người vay, phụ thuộc vào chỉ số tài chính của người vay và tầm quan trọng của các chỉ số này với xác suất vỡ nợ của người vay trong quá khứ Đối với khách hàng cá nhân, các ngân hàng sử dụng mô hình các tiêu chí như nghề nghiệp, thu nhập, trạng thái nhà ở, kinh nghiệm nghề nghiệp, độ tuổi, tình trạng trả nợ trong quá khứ với các hạng mục gắn liền với các trọng số và điểm xếp hạng Đối với cả mô hình doanh nghiệp và cá nhân quyết định cấp tín dụng được đưa ra căn cứ vào tổng điểm của khách hàng, đây cũng chính là cơ sở để định giá – áp dụng lãi suất của khoản vay
(iv) Bộ tiêu chuẩn của Ủy ban Basel về giám sát hoạt động ngân hàng, thường gọi là Basel I (1988), Basel II (2004) và Basel III (2010) Mỗi phiên bản được cập nhật, bổ sung các tiêu chuẩn an toàn phù hợp với dự báo diễn biến hoạt động ngân hàng trên thế giới
Các nội dung cơ bản của Basel liên quan đến quản trị rủi ro tín dụng [51]
Ủy ban Basel của BIS đã ban hành ba hệ chuẩn mực, bao gồm Basel I (1998), Basel II (2004) và Basel III (2010)
Basel I cung cấp khung đo lường rủi ro tín dụng với tiêu chuẩn vốn tối thiểu 8% tính trên tổng tài sản có rủi ro Nội dung Basel I gồm 3 phần: (1) Các yếu tố tạo
thành vốn; (2) Hệ thống các tỷ trọng rủi ro; (3) Tỷ lệ vốn mục tiêu
(1) Các yếu tố tạo thành vốn: Thành tựu cơ bản của Basel I là đưa ra các định nghĩa mang tính quốc tế chung nhất về vốn của ngân hàng và tỷ lệ vốn an toàn ngân hàng Vốn của ngân hàng bao gồm vốn gốc (vốn cổ phần cơ bản, vốn cấp 1) và vốn bổ sung (vốn cấp 2) và vốn cấp 3 (dành cho rủi ro thị trường) Tiêu chuẩn này quy định: Vốn cấp 1 ≥ Vốn cấp 2+ Vốn cấp 3 [51, trang 17-21], trong đó: Vốn cấp 1 là lượng vốn dự trữ sẵn có và các nguồn dự phòng được công bố như các khoản dự phòng cho các khoản vay, bao gồm: vốn chủ sở hữu vĩnh viễn;
Dự trữ công bố (Lợi nhuận giữ lại); Lợi ích thiểu số (minority interest) tại các công ty con có hợp nhất báo cáo tài chính; Lợi thế kinh doanh (Goodwill); Vốn cấp 2: Lợi nhuận giữ lại (Dự trữ) không công bố; Dự phòng đánh giá lại tài sản ;
Dự phòng chung/dự phòng thất thu nợ chung; Công cụ vốn hỗn hợp; Vay với
Trang 40sánh giản đơn trước đây thì phương pháp này: (i) Tạo ra một cơ sở công bằng hơn để
so sánh trên bình diện quốc tế giữa các hệ thống ngân hàng khác nhau; (ii) Cho phép tính đến các khoản mục rủi ro ngoại bảng khi đo lường mức độ đủ vốn của ngân hàng;
(iii) Không cản trở việc các ngân hàng giữ tài sản có tính lỏng cao hoặc các tài sản khác
có mức độ rủi ro thấp
Công thức 2.1: Tài sản điều chỉnh rủi ro theo Basel I
RWABasel I = Tài sản x Trọng số rủi ro (2.1) (Trong đó : RWA là Risk Weighted Asset : Tài sản “có” điều chỉnh rủi ro) Theo Basel I, trọng số của tài sản có điều chỉnh rủi ro RWA được chia làm 4 mức là 0%, 20%, 50%, và 100% theo mức độ rủi ro của từng loại tài sản
(3) Tỷ lệ vốn mục tiêu
Công thức 2.2 : Tỷ lệ vốn tối thiểu trong Basel I
Tổng vốn
Tỷ lệ vốn tối thiểu (CAR) = 8% (2.2)
Tài sản có điều chỉnh rủi ro Theo Basel I, tỷ lệ vốn tối thiểu CAR sắp xếp các ngân hàng theo mức vốn từ tốt (CAR > 10%) đến mức vốn hợp lý tối thiểu (CAR ≥8%) và thiếu vốn trầm trọng (CAR < 2%) Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu mà các ngân hàng hoạt động quốc tế phải đạt được là 8%, trong đó phần vốn gốc phải chiếm đến ít nhất 4%
Như vậy, Basel I có một số hạn chế như sau: (i) Basel I chỉ bao gồm rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro lãi suất mà chưa đề cập đến rủi ro hoạt động; (ii) Giải thích không rõ ràng đối với chứng khoán bao gồm khoản nợ và phạm vi giới hạn nhằm điều chỉnh các sản phẩm tài chính mới; (iii) Trọng số rủi ro được quyết định bởi loại sản phẩm hoặc loại hình khách hàng (không có khác biệt theo xếp hạng tín dụng); (iv) Không có lợi ích từ việc đa dạng hóa; và (v) Chưa khuyến khích các ngân hàng nâng cao quản trị rủi ro bằng cách nắm giữ ít vốn hơn trong việc quản lý rủi ro hỗn hợp