1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài 8: Nguồn tài trợ của Doanh nghiệp

36 307 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 839,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vốn chủ sở hữu tại một thời điểm có thể được xác định bằng công thức sau: Vốn chủ sở hữu = Giá trị tổng tài sản – Nợ phải trả  Nợ phải trả: là thể hiện bằng tiền những nghĩa vụ mà doan

Trang 1

Mục tiêu Hướng dẫn học

 Cung cấp những kiến thức cơ bản tạo ra

tầm nhìn trong việc xem xét sử dụng các

nguồn tài trợ của doanh nghiệp

 Trang bị những kiến thức chủ yếu về nội

dung, đặc điểm, những điểm lợi và bất

lợi của các nguồn tài trợ đối với doanh

nghiệp trong nền kinh tế thị trường

Nội dung

 Tổng quan về nguồn tài trợ của doanh

nghiệp

 Mô hình nguồn tài trợ của doanh nghiệp

 Nguồn tài trợ ngắn hạn của doanh nghiệp

 Những điểm lợi và bất lợi sử dụng

 Nắm vững khái niệm, nội dung, đặc điểm, những điểm lơi và bất lợi của từng công cụ tài chính trong việc huy động vốn của doanh nghiệp

 Trong quá trình học cần đưa ra các trường hợp giả định đồng thời liên hệ với thực tế, xem xét tác động của của việc sử dụng các nguồn tài trợ đến khả năng sinh lời và rủi ro của doanh nghiệp

 Kết hợp nghiên cứu lý thuyết và vận dụng vào giải các bài tập, từ đó quay trở lại củng cố nhận thức về lý thuyết

 Kết hợp đọc các tài liệu tham khảo:

chính doanh nghiệp – Học viện Tài chính Chủ biên PGS TS Nguyễn Đình Kiêm &

TS Bạch Đức Hiển, NXB Tài chính, năm

2008

o Chượng 19, chương 20, chương 22, chương

25 – Tài chính doanh nghiệp hiện đại Chủ biên TS Trần Ngọc Thơ NXB Thống kê, năm 2007

BÀI 8: NGUỒN TÀI TRỢ CỦA DOANH NGHIỆP

Trang 2

TÌNH HUỐNG DẪN NHẬP

Công cụ tài chính

Một trong những nội dung chủ yếu và chức năng

riêng có của tài chính doanh nghiệp là huy động vốn

để tài trợ cho các hoạt động kinh doanh hiện tại và

cho sự tăng trưởng trong tương lai Sự phát triển của

thị trường tài chính đã tạo ra những công cụ tài chính

ngày càng đa dạng và phong phú Tuy nhiên, mỗi một

công cụ tài chính bao giờ cũng ẩn chứa hai mặt: Mặt

lợi và mặt bất lợi Vì thế; cái hay, cái tinh tế của nhà

quản trị tài chính giỏi chính là biết lựa chọn hay tạo ra

những công cụ tài chính mà luật pháp cho phép để

huy động vốn phù hợp với tình thế và có lợi cho doanh nghiệp, đồng thời việc huy động vốn ngày hôm nay không làm cạn kiệt nguồn tài trợ trong tương lai của doanh nghiệp Nội dung chủ yếu của bài này sẽ giúp cho bạn trả lời các câu hỏi:

Câu hỏi

1 Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp có những công cụ hay những nguồn tài trợ chủ

yếu nào?

2 Mỗi công cụ hay mỗi nguồn tài trợ có những điểm lợi và bất lợi gì khi sử dụng nó?

Trên cơ sở xem xét những vấn đề đó có thể giúp cho bạn suy ngẫm cách sử dụng tốt hơn công

cụ tài chính cho việc huy động vốn của doanh nghiệp

Trang 3

8.1 Tổng quan về nguồn tài trợ của doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, vốn là một yếu tố và là

tiền đề cần thiết cho việc hình thành và phát triển hoạt

động kinh doanh của một doanh nghiệp Để biến những

ý tưởng và kế hoạch kinh doanh thành hiện thực, đòi

hỏi phải có một lượng vốn nhất định nhằm hình thành

nên những tài sản cần thiết cho hoạt động của doanh

nghiệp nhằm đạt được mục tiêu đề ra Do vậy, đòi hỏi

doanh nghiệp phải tổ chức tốt nguồn vốn đáp ứng đầy

đủ, kịp thời nhu cầu vốn và với chi phí sử dụng vốn ở

mưc thấp Dưới đây sẽ xem xét tổng quan nguồn vốn

của một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

Dựa vào tiêu thức nhất định có thể chia nguồn vốn của doanh nghiệp thành nhiều loại khác nhau Thông thường trong công tác quản lý thường xem xét nguồn vốn của doanh nghiệp:

8.1.1 Nợ và vốn chủ sở hữu

Dựa vào quan hệ sở hữu vốn có thể chia nguồn vốn của doanh nghiệp thành hai loại: Vốn chủ sở hữu và nợ phải trả

Nợ Tài sản

Vốn chủ sở hữu

 Vốn chủ sở hữu: là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp, bao gồm

số vốn chủ sở hữu trực tiếp đầu tư và phần bổ sung từ kết quả kinh doanh Vốn chủ

sở hữu tại một thời điểm có thể được xác định bằng công thức sau:

Vốn chủ sở hữu = Giá trị tổng tài sản – Nợ phải trả

 Nợ phải trả: là thể hiện bằng tiền những nghĩa vụ mà doanh nghiệp có nghĩa vụ phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế khác như: Nợ vay, các khoản phải trả cho nhà cung cấp, các khoản phải nộp thực hiện nghĩa vụ với nhà nước, các khoản phải trả cho người lao động trong doanh nghiệp

Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao, thông thường một doanh nghiệp phải phối hợp cả hai nguồn: Vốn chủ sở hữu và nợ phải trả Sự kết hợp giữa hai nguồn này phụ thuộc vào đặc điểm của ngành mà doanh nghiệp hoạt động, tuỳ thuộc vào quyết định của người quản lý trên cơ sở xem xét tình hình kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp

8.1.2 Nguồn vốn tạm thời và nguồn vốn thường xuyên

Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng nguồn vốn tiêu thức này có thể chia nguồn vốn của doanh nghiệp ra làm hai loại: Nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời

Nợ ngắn hạn

Nguồn vốn tạm thời

Nợ dài hạn

Tài sản lưu động Tài sản

cố định Vốn chủ sở hữu Nguồn vốn thường xuyên

Trang 4

 Nguồn vốn thường xuyên: là tổng thể các nguồn vốn có tính chất ổn định mà

doanh nghiệp có thể sử dụng vào hoạt động kinh doanh Nguồn vốn này thường được sử dụng để mua sắm, hình thành tài sản cố định và một bộ phận tài sản lưu động thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp tại một thời điểm có thể được xác định bằng công thức:

Nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp = Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn

Hoặc:

Nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp = Giá trị tổng tài sản của doanh nghiệp – Nợ ngắn hạn

Trên cơ sở xác định nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp còn có thể xác định nguồn vốn lưu động thường xuyên (hay còn được gọi là vốn lưu động ròng) của doanh nghiệp

Nguồn vốn lưu động thường xuyên là nguồn vốn ổn định có tính chất dài hạn để hình thành hay tài trợ cho tài sản lưu động thường xuyên cần thiết trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (có thể là một phần hay toàn bộ tài sản lưu động thường xuyên tuỳ thuộc vào chiến lược tài chính của doanh nghiệp)

Nguồn vốn lưu động thường xuyên của doanh nghiệp tại một thời điểm có thể xác định theo công thức sau:

Nguồn vốn lưu động thường xuyên =

Tổng nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp –

Giá trị tài sản dài hạn

Hoặc có thể xác định bằng công thức sau:

Nguồn vốn lưu động thường xuyên = Tài sản lưu động – Nợ ngắn hạn

Có thể xem xét nguồn vốn thường xuyên qua sơ đồ sau:

Ví dụ: Theo bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp H có số liệu sau:

Đơn vị: triệu đồng

III Hàng tồn kho 996 - Nợ phải trả người bán 200

 Giá trị hao mòn luỹ kế (280) II Nguồn kinh phí và quỹ khác -

Nợ ngắn hạn

Nợ trung và dài hạn

Vốn chủ sở hữu

Nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp

Trang 5

Từ số liệu trên, có thể xác định:

Nguồn vốn lưu động thường xuyên của doanh nghiệp ở cuối năm N = 1.480 – 1.000 = 480 triệu đồng Hoặc = (2.000 + 1.000) – 2.520 = 480 triệu

Nguồn vốn lưu động thường xuyên tạo ra một mức độ an toàn cho doanh nghiệp trong kinh doanh, làm cho tình trạng tài chính của doanh nghiệp được đảm bảo vững chắc hơn Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp sử dụng nguồn vốn lưu động thường xuyên để đảm bảo cho việc hình thành tài sản lưu động thì doanh nghiệp phải trả chi phí cao hơn cho việc sử dụng vốn Do vậy, đòi hỏi người quản lý doanh nghiệp phải xem xét tình hình thực tế của doanh nghiệp để có quyết định phù hợp trong việc tổ chức vốn

 Nguồn vốn tạm thời: là các nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới một năm) doanh

nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các yêu cầu về vốn có tính chất tạm thời phát sinh trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn vốn thường bao gồm vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản nợ ngắn hạn khác

Việc phân loại này giúp cho người quản lý xem xét huy động các nguồn vốn phù hợp với thời gian sử dụng của các yếu tố cần thiết cho quá trình kinh doanh

8.1.3 Nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài

Căn cứ vào phạm vi huy động các nguồn vốn của doanh nghiệp có thể chia thành nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài Việc phân loại này chủ yếu để xem xét việc huy động nguồn vốn của một doanh nghiệp đang hoạt động

8.1.3.1 Nguồn vốn bên trong

Nguồn vốn bên trong là nguồn vốn có thể huy động được vào đầu tư từ chính hoạt động của bản thân doanh nghiệp tạo ra Nguồn vốn bên trong thể hiện khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp

 Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp bao gồm:

o Lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư

o Khoản khấu hao tài sản cố định

o Các khoản nợ phải trả có tính chu kỳ

o Tiền nhượng bán tài sản, vật tư không cần dùng hoặc thanh lý TSCĐ

 Doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn bên trong

có những điểm lợi và bất lợi chủ yếu sau:

o Những điểm lợi:

 Chủ động đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp, nắm bắt kịp thời các thời

cơ trong kinh doanh

Sử dụng lợi nhuận sau thuế cùng với nguồn khấu hao được hình thành trên

cơ sở trích khấu hao tài sản cố định, cho phép các doanh nghiệp chủ động hơn trong việc đáp ứng nhu cầu vốn cho các dự án đầu tư, các cơ hội đầu tư tăng trưởng Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp còn là nguồn tài trợ chủ yếu cho các dự án đầu tư mạo hiểm, các dự án có mức độ rủi ro cao như: phát triển sản phẩm mới, tìm kiếm thị trường mới…

Trang 6

 Tiết kiệm được chi phí sử dụng vốn Việc sử dụng các nguồn vốn bên trong cho phép các doanh nghiệp vừa tiết kiệm thời gian huy động vốn, vừa tiết kiệm nhiều chi phí huy động vốn do không phát sinh các chi phí quảng cáo, phí bảo lãnh phát hành chưng khoán

 Gữi được quyền kiểm soát doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu tăng vốn đầu tư dài hạn bằng cách tăng thêm các thành viên góp vốn mới, như phát hành thêm cổ phiếu, gọi vốn liên doanh, hoặc tiếp nhận vốn góp của các thành viên mới thì cũng đồng nghĩa với việc các chủ sở hữu hiện hừu của doanh nghiệp chấp nhận việc chia sẻ quyền quản lý và kiểm soát các hoạt động của doanh nghiệp cho các thành viên mới Điều này sẽ không xảy ra nếu như doanh nghiệp tự tài trợ đáp ứng nhu cầu đầu tư dài hạn bằng các nguồn vốn nội bộ

 Tránh được áp lực phải thanh toán đúng kỳ hạn Việc sử dụng các nguồn vốn nội bộ để tài trợ nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp còn giúp doanh nghiệp có thể tránh được áp lực từ phía các chủ sở hữu các nguồn vốn do phải thanh toán đúng kỳ hạn (cả gốc và lãi) Điều này có ý nghĩa giảm bớt căng thẳng về tài chính khi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp gặp khó khăn

kể dẫn đến hiệu quả sử dụng các dự án tài trợ bằng các nguồn vốn bên trong thường đạt hiệu quả không cao so với các dự án tài trợ bằng các nguồn vốn huy động bên ngoài

 Quy mô nguồn vốn huy động bị giới hạn

Nguồn vốn bên trong thường bị giới hạn ở một quy mô nhất định Nguồn vốn bên trong cho tăng trưởng của doanh nghiệp chủ yếu là phần lợi nhuận sau thuế để lại tái đầu tư Trong khi đó, lợi nhuận sau thuế để lại tái đầu tư chịu sự chi phối trực tiếp của kết quả kinh doanh hàng năm và chính sách phân chia, sử dụng lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp Đối các doanh nghiệp vừa và nhỏ số lợi nhuận sau thuế thường không lớn, vì thế nguồn vốn bên trong doanh nghiệp thường rất hạn chế, không đủ đáp ứng nhu cầu đầu tư dài hạn trong quá trình hoạt động của mình

Nguồn vốn huy động bên trong có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp Tuy nhiên, thông thường nguồn vốn bên trong không đủ đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư, nhất là đối với các doanh nghiệp đang trong quá trình tăng trưởng Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải tìm kiếm nguồn vốn từ bên ngoài doanh nghiệp

8.1.3.2 Nguồn vốn bên ngoài

Việc huy động nguồn vốn từ bên ngoài doanh nghiệp để tăng thêm nguồn tài chính cho hoạt động kinh doanh là vấn đề hết sức quan trọng đối với một doanh nghiệp Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã làm nảy sinh nhiều công cụ tài chính và hình thức, phương pháp mới cho phép doanh nghiệp có nhiều cơ hội lựa chonn huy động vốn từ bên ngoài

Trang 7

Nguồn vốn từ bên ngoài bao hàm một số nguồn vốn chủ yếu sau:

 Vay người thân (đối với doanh nghiệp tư nhân);

 Vay Ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính khác;

 Tín dụng thương mại của nhà cung cấp;

 Thuê tài sản;

 Huy động vốn bằng phát hành chứng khoán (đối với một số loại hình doanh nghiệp được pháp luật cho phép)

8.2 Mô hình về nguồn tài trợ

Để đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh đòi hỏi doanh nghiệp phải có chiến lược tài trợ hay nói cách khác doanh nghiệp phải có chiến lược trong việc tổ chức huy động nguồn vốn Hiện nay, doanh nghiệp ở các nước có ba mô hình tài trợ chủ yếu Mỗi

mô hình tài trợ có những ưu điểm và hạn chế khác nhau Doanh nghiệp cần lựa chọn mô hình tài trợ thích hợp cho doanh nghiệp mình

8.2.1 Mô hình tài trợ thứ nhất

 Tài sản lưu động thường xuyên và tài sản lưu động tạm thời

Để đảm bảo quá trình sản xuất – kinh doanh được tiến hành thường xuyên, liên tục thì tương ứng với một quy mô kinh doanh nhất định, thường xuyên phải có một lượng TSLĐ nhất định nằm trong các giai đoạn luân chuyển như các tài sản dự trữ về nguyên vật liệu, sản phẩm đang chế tạo, bán thành phẩm, thành phẩm và nợ phải thu

từ khách hàng Những tài sản lưu động này gọi là tài sản lưu động thường xuyên Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, không phải lúc nào cũng được tiến hành một cách bình thường, mà có những lúc xuất hiện những sự biến động làm nảy sinh thêm nhu cầu về tài sản lưu động có tính chất tạm thời

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hình thành bộ phận TSLĐ có tính chất tạm thời, các nguyên nhân chủ yếu là:

o Dự kiến giá cả vật tư, nguyên liệu trong tương lai tăng lên, do vậy doanh nghiệp đẩy mạnh việc mua vào vật tư, làm dự trữ tăng đột biến; từ đó, cần có nguồn vốn lưu động tạm thời để trang trải

o Nhận được đơn đặt hàng ngoài kế hoạch, đòi hỏi phải tăng thêm hàng tồn kho

 Nội dung mô hình tài trợ thứ nhất

Với mô hình này: toàn bộ TSCĐ, TSLĐ thường xuyên, một phần của TSLĐ tạm thời được đảm bảo bằng nguồn vốn thường xuyên và một phần TSLĐ tạm thời còn lại được đảm bảo bằng nguồn vốn tạm thời

Tiền

Nguồn vốn Thường xuyên

Nguồn vốn tạm thời

Thời gian

TSLĐ tạm thời

TSLĐ thường xuyên TSCĐ

0

Trang 8

Sử dụng mô hình này làm cho tài chính của doanh nghiệp vững chắc hơn và giảm thiểu đựoc rủi ro tài chính Tuy nhiên, doanh nghiệp phải sử dụng nhiều hơn khoản vay dài hạn và trung hạn, vì thế phải trả chi phí cao hơn cho việc sử dụng vốn

8.2.2 Mô hình tài trợ thứ hai

Theo mô hình này: toàn bộ TSCĐ và TSLĐ thường xuyên được đảm bảo bằng nguồn vốn thường xuyên, toàn bộ TSLĐ tạm thời được đảm bảo bằng nguồn vốn tạm thời

Với mô hình này giúp cho doanh nghiệp hạn chế được rủi ro trong thanh toán và giảm bớt được chi phí sử dụng vốn so với mô hình thứ nhất Tuy nhiên, mô hình này chưa tạo ra sự linh hoạt trong việc tổ chức sử dụng nguồn vốn Trong thực tế, doanh thu tiêu thụ sản phẩm thường xuyên biến động, khi gặp khó khăn trong kinh doanh, doanh nghiệp phải tạm thời giảm bớt quy mô kinh doanh, nhưng vẫn phải duy trì một lượng vốn thường xuyên khá lớn

8.2.3 Mô hình tài trợ thứ ba

Theo mô hình này: toàn bộ TSCĐ và một phần TSLĐ thường xuyên được bảo đảm bằng nguồn vốn thường xuyên, còn một phần TSLĐ thường xuyên và toàn bộ TSLĐ tạm thời được bảo đảm bằng nguồn vốn tạm thời

Sử dụng mô hình này giúp cho doanh nghiệp giảm bớt được chi phí sử dụng do sử dụng nhiều hơn nguồn vốn ngắn hạn Mặt khác, tạo ra sự linh hoạt hơn trong việc tổ chức nguồn vốn Tuy nhiên, với mô hình này đỏi hỏi doanh nghiệp phải có sự năng động hơn trong việc tổ chức nguồn vốn Điểm hạn chế chủ yếu của mô hình này là doanh nghiệp có khả năng gặp rủi ro cao hơn so với việc sử dụng 2 mô hình trên

Tiền

Nguồn vốn Thường xuyên

Nguồn vốn tạm thời

Thời gian

TSLĐ tạm thời

TSCĐ TSLĐ thường xuyên

Tiền

Nguồn vốn thường xuyên

Nguồn vốn tạm thời

Thời gian

TSLĐ tạm thời

TSLĐ thường xuyên TSCĐ

0

0

Trang 9

8.3 Nguồn tài trợ ngắn hạn của doanh nghiệp

8.3.1 Nợ phải trả có tính chất chu kỳ

Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

thường xuyên phát sinh các khoản phải trả, phải nộp

nhưng đến kỳ hạn thanh toán như:

 Các khoản thuế, BHXH phải nộp nhưng chưa

đến kỳ nộp

 Tiền lương hay tiền công phải trả cho người lao

động nhưng chưa đến kỳ trả

Đây là những khoản nợ ngắn hạn phát sinh lặp đi

lặp lại có tính chất chu kỳ Doanh nghiệp có thể sử

dụng tạm thời các khoản này để đáp ứng nhu cầu

vốn mà không phải trả tiền cho việc sử dụng vốn Tuy nhiên, điều cần chú ý trong việc

sử dụng các khoản này là phải đảm bảo thanh toán đúng thời hạn, tránh tình trạng nợ nần dây dưa

8.3.2 Tín dụng của nhà cung cấp

Trong nền kinh tế thị trường thường xuyên phát sinh việc mua chịu và bán chịu Doanh nghiệp có thể mua chịu nguyên vật liệu hoặc hàng hóa của nhà cung cấp vật tư, hàng hoá Khi đó, nhà cung cấp vật tư đã cấp một khoản tín dụng cho doanh nghiệp hay nói cách khác là doanh nghiệp đã sử dụng một khoản tín dụng của nhà cung cấp

để đáp ứng một phần nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh

Ví dụ: Một hợp đồng thương mại giữa nhà cung cấp vật tư với doanh nghiệp xác định

hình thức thanh toán “2/10 net 30” Điều đó có nghĩa là nhà cung cấp sẽ chiết khấu 2% trên giá trị của hóa đơn mua hàng nếu người mua (doanh nghiệp) trả tiền trong thời gian 10 ngày kể từ ngày giao hàng Nếu quá thời hạn 10 ngày mà người mua chưa thanh toán thì được chịu, thời gian được chịu tối đa là 30 ngày và phải thanh toán 100% giá trị trên hóa đơn mua hàng

Nhìn hình thức bề ngoài, doanh nghiệp không phải trả tiền cho việc sử dụng khoản tín dụng của nhà cung cấp Tuy nhiên cần phải tính đến chi phi cơ hội của việc sử dụng khoản tín dụng này

Chi phí sử dụng tín dụng thương mại có thể được xác định theo công thức sau:

Số ngày mua chịu – Thời gian được

hưởng chiết khấu

Những điểm lợi của việc sử dụng tín dụng của nhà cung cấp:

 Là nguồn vốn ngắn hạn quan trọng giúp cho doanh nghiệp giải quyết được tình trạng thiếu vốn mà chủ yếu là vốn lưu động

 Việc thực hiện khoản tín dụng này tương đối thuận lợi, nhất là đối với những doanh nghiệp đã có mối quan hệ thường xuyên, tín nhiệm với nhà cung cấp

Bất lợi chủ yếu của hình thức này là trong nhiều trường hợp sử dụng tín dụng thương mại của nhà cung cấp, doanh nghiệp phải trả chi phí cao hơn so với lãi suất vay vốn ngân hàng

Trang 10

thương mại Tuy vậy, nhiều doanh nghiệp vẫn ưa thích sử dụng tín dụng của nhà cung cấp, bởi lẽ nó dễ dàng được thực hiện hơn so với vay vốn của ngân hàng thương mại

8.3.3 Tín dụng ngắn hạn của ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính khác

Vay ngắn hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức

tài chính khác là một nguồn tài trợ rất quan trọng để

đáp ứng nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp

trong hoạt động kinh doanh Các tổ chức tín dụng

có thể cho các doanh nghiệp vay ngắn hạn với thời

gian tối đa là 12 tháng ( 1 năm) Thời hạn cho vay

cụ thể của từng doanh nghiệp được xác định phù

hợp với chu kỳ sản xuất, kinh doanh và khả năng trả

nợ của doanh nghiệp Lãi suất cho vay là lãi suất

thoả thuận theo cơ chế thị trường và phù hợp với

các quy định của ngân hàng Nhà nước, quy định của Luật về các tổ chức tín dụng về lãi suất cho vay khi ký kết hợp đồng tín dụng Để vay được nguồn vốn ngắn hạn từ Ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các doanh nghiệp cần thực hiện các thủ tục và chấp hành đầy đủ các nguyên tắc quy định hiện hành về tín dụng ngắn hạn

Sử dụng tín dụng ngắn hạn của ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính khác có những điểm lợi và hạn chế chủ yếu sau:

 Ưu điểm:

o Giúp doanh nghiệp giảm được những khó khăn do thiếu vốn đặc biệt là vốn lưu động

o Chi phí sử dụng vốn vay ngân hàng thường thấp hơn chi phí sử dụng các công

cụ tài chính khác

o Tiền lãi vay vốn doanh nghiêp phải trả được coi là một khoản chi phí hợp lý và được tính trừ vào thu nhập chịu thuế

 Hạn chế:

o Thủ tục vay vốn tương đối phức tạp

o Thông thường việc vay vốn của NHTM phải có tài sản thế chấp

o Tăng thêm nguy cơ rủi ro vỡ nợ của doanh nghiệp

8.3.4 Chiết khấu thương phiếu

Thương phiếu là chứng chỉ có giá trị nhận lệnh yêu cầu thanh toán hoặc cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định trong một thời gian nhất định

Các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu, thông thường muốn vay ngắn hạn cần thế chấp bằng khoản phải thu; nhưng thay vì việc dùng hình thức này để thế chấp, có thể

sử dụng thương phiếu để chiết khấu trên thị trường tiền tệ

Doanh nghiệp có thể đem chiết khấu các hối phiếu xuất khẩu trả tiền trước và hối phiếu xuất khẩu có thời hạn tại bộ phận tái chuyển khoản thuộc Ngân hàng để nhận được những khoản tiền vay ngắn hạn Nguồn vốn vay ngắn hạn này có mức chi phí thấp hơn hình thức vay ngắn hạn khác, vì mức lãi suất chiếu khấu thường thấp hơn lãi suất cho vay của các Ngân hàng thương mại

Số tiền thu được khi đem các thương phiếu đi chiết khấu có thể được tính theo công thức sau:

Trang 11

Trong đó:

M: Số tiền thu được khi đem thương phiếu đi chiết khấu

V: Là giá trị ghi trên thương phiếu (mệnh giá)

i: Là lãi suất chiết khấu (tính theo năm)

n: Số ngày chiết khấu

8.3.6 Các nguồn tài trợ ngắn hạn khác

Ngoài các nguồn vốn để tài trợ ngắn hạn trên, doanh nghiệp còn có thể sử dụng các nguồn khác để tài trợ nhu cầu tăng vốn lưu động tạm thời, như: các khoản tiền đặt cọc, tiền ứng trước của khách hàng

8.4 Những điểm lợi và bất lợi sử dụng nguồn tài trợ ngắn hạn

Trong các mô hình tổ chức nguồn tài trợ đã nêu ở phần

trên, cho thấy các doanh nghiệp thường sử dụng các

nguồn vốn tạm thời có tính chất ngắn hạn để đáp ứng

phần lớn nhu cầu về vốn lưu động Trong đó, một

nguồn vốn ngắn hạn chủ yếu mà các doanh nghiêp sử

dụng để đáp ứng nhu cầu vế vốn lưu động là nguồn

vốn tín dụng ngắn hạn Do vậy, một vấn đề rât quan

trọng trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp là

phải đánh giá được những điểm lợi và bất lợi khi sử

dụng nguồn vốn tín dụng ngắn hạn để tài trợ cho hoạt

động của doanh nghiệp Thông thường, việc sử dụng

nguồn vốn tín dụng ngắn hạn đối với doanh nghiệp có

những điểm lợi và bất lợi chủ yếu sau:

 Những điểm lợi:

o Việc sử dụng tín dụng ngắn hạn giúp cho doanh nghiệp có thể thực hiện dễ dàng, thuân lợi hơn so với việc sử dụng tín dụng dại hạn Vì thông thường, các điều kiện cho vay ngắn hạn mà ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính khác đưa ra đối với doanh nghiệp thường ít khắt khe hơn so với tín dụng dài hạn

o Chi phí sử dụng tín dụng ngắn hạn thường thấp hơn so với sử dụng tín dụng dài hạn

o Sử dụng tín dụng ngắn hạn giúp cho doanh nghiệp có thể dễ dàng, linh hoạt hơn điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp

 Những điểm bất lợi:

o Doanh nghiệp phải chịu rủi ro về lãi suất cao hơn; bởi lẽ, lãi suất tín dụng ngắn hạn biến động nhiều hơn so với lãi suất dài hạn

Trang 12

o Rủi ro vỡ nợ ở mức cao hơn: Sử dụng tín dụng ngắn hạn đòi hỏi doanh nghiệp phải có nghĩa vụ thanh toán lãi vay và hoàn trả vốn gốc trong một thời gian ngắn Nếu tình hình kinh doanh gặp khó khăn, doanh nghiệp dễ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn Việc sử dụng quá nhiều tín dụng ngắn hạn dễ dẫn đến tình trạng tài chính của doanh nghiệp luôn căng thẳng, nhất là đối với một số doanh nghiệp trong tình trạng sử dụng cả nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn

8.5 Nguồn vốn tài trợ dài hạn của doanh nghiệp

Ngoài nguồn vốn đầu tư ban đầu khi thành lập, để đáp ứng nhu cầu đầu tư tăng trưởng, mở rộng kinh doanh, các doanh nghiệp cũng cần phải bổ sung vốn đầu tư dài hạn vào các TSCĐ và tài sản lưu động thường xuyên

Theo phạm vi huy động, các nguồn tài trợ nhu cầu đầu tư dài hạn của doanh nghiệp được chia thành: Nguồn tài trợ bên trong (nguồn nội sinh) và nguồn tài trợ bên ngoài (ngoại sinh)

8.5.1 Nguồn tài trợ bên trong

Nguồn vốn huy động bên trong là nguồn vốn có thể huy động được vào đầu tư từ chính hoạt động của bản thân doanh nghiệp ngoài số vốn chủ sở hữu bỏ ra ban đầu Nguồn vốn bên trong thể hiện khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp, bao gồm:

 Lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư;

 Khoản khấu hao tài sản cố định

Ngoài hai nguồn kể trên, các doanh nghiệp còn có thể huy động một số nguồn vốn bên trong khác, như: tiền nhượng bán tài sản vật tư không cần dùng, hoặc khoản thu nhập ròng về thanh lý tài sản cố định để đáp ứng nhu cầu nguồn vốn đầu tư dài hạn của mình

8.5.2 Nguồn tài trợ bên ngoài

8.5.2.1 Cổ phiếu thường (cổ phiếu phổ thông)

Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp góp

vốn, trong đó số vốn điều lệ của công ty được

chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần

Số vốn chủ sở hữu ban đầu của công ty cổ phần

được hình thành thông qua việc phát hành cổ

phiếu Việc góp vốn cổ phần được thực hiện

dưới hình thức mua cổ phiếu Người nắm giữ

cổ phiếu được gọi là cổ đông

Cổ phiếu là chứng chỉ thể hiện quyền sở hữu của cổ đông trong công ty cổ phần và cho phép cổ đông được hưởng những quyền lợi của công ty Đối với Công ty cổ phần,

cổ phiếu là phương tiện để hình thành vốn chủ sở hữu ban đầu và cũng là phương tiện

để huy động tăng thêm vốn chủ sở hữu trong quá trình hoạt động của công ty Dựa vào quyền lợi mà cổ phiếu mang lại cho người nắm giữ có thể phân biệt cổ phiếu thường (cổ phiếu phổ thông) và cổ phiếu ưu đãi

 Đặc điểm cổ phiếu thường

Cổ phiếu thường là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu trong công ty và cho phép người sở hữu nó được hưởng các quyền lợi thông thường trong công ty cổ phần Thông thường, cổ đông thường – người sở hữu cổ phiếu thường của công ty cổ phần, được hưởng các quyền chủ yếu sau:

Trang 13

o Quyền trong quản lý và kiểm soát công ty: Tham dự Đại hội cổ đông và thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đại diện được uỷ quyền về các vấn đề quan trọng của công ty; mỗi cổ phần phổ thông có một quyền biểu quyết

o Quyền đối với tài sản của công ty: Được nhận cổ tức với mức theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông Khi công ty bị giải thể hoặc bị phá sản, cổ đông thường được quyền nhận một phần giá trị còn lại của công ty(nếu còn) sau khi đã thanh toán các khoản nợ, các khoản chi phí và thanh toán cho các cổ đông ưu đãi

o Quyền được ưu tiên mua cổ phần mới khi công ty phát hành bổ xung để huy động vốn, tương ứng với tỷ lệ cổ phần phổ thông mà cổ đông sở hữu trong công ty

o Quyền chuyển nhượng quyền sở hữu cổ phần: Cổ đông thường không được quyền rút vốn trực tiếp ra khỏi công ty, nhưng được quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông khác và cho người không phải là cổ đông, trừ trường hợp theo quy định của luật pháp

Ngoài các quyền chủ yếu kể trên, cổ đông thường còn được hưởng các quyền khác, như quyền được xem xét, tra cứu, trích lục hoặc sao chụp điều lệ công ty, sổ biên bản họp Đại hội đồng cổ đông, các nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, kiểm tra sổ sách kế toán Các quyền của cổ đông phải được quy định cụ thể trong điều lệ của công ty

Bên cạnh việc được hưởng các quyền lợi, các cổ đông thường cũng phải gánh chịu những rủi ro mà công ty gặp phải trong hoạt động của mình tương ứng với phần vốn góp

 Phương thức phát hành chứng khoán

Để đáp ứng nhu cầu tăng vốn mở rộng kinh doanh, Công ty cổ phần có thể lựa chọn phương pháp huy động tăng vốn bằng cách phát hành thêm cổ phiếu thường bán ra thu thêm tiền vốn Việc phát hành thêm cổ phiếu thường mới để huy động tăng tiền vốn: Thông thường ở những nước có thị trường chứng khoán phát triển, việc phát hành chứng khoán để huy động vốn được thực hiện theo hai phương thức: phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng

o Phát hành riêng lẻ Phát hành riêng lẻ là phương thức phát hành trong đó, chứng khoán được bán trong phạm vi một số nhà đầu tư nhất định (thông thường là các nhà đầu tư có tổ chức) với những điều kiện hạn chế và không chào bán rộng rãi ra công chúng Thủ tục phát hành riêng lẻ thường đơn giản hơn so với chào bán ra công chúng Việc lựa chọn phương thức phát hành riêng lẻ chủ yếu là do công ty không đủ tiêu chuẩn để chào bán ra công chúng hay số lượng vốn cần huy động không lớn; phát hành riêng lẻ còn nhằm tăng cường mối quan hệ với các đối tác

o Chào bán ra công chúng Chào bán chứng khoán ra công chúng là quá trình trong đó chứng khoán được chào bán rộng rãi cho tất cả các nhà đầu tư: gồm cả các nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư chuyên nghiệp – với những điều kiện và thời gian như nhau

Chào bán ra công chúng thường áp dụng cho những đợt phát hành có lượng vốn huy động lớn Việc phát hành chứng khoán ra công chúng phải chịu sự phối của pháp luật về chứng khoán Thủ tục chào bán chứng khoán ra

công chúng phức tạp hơn nhiều so với phương thức phát hành riêng lẻ

Trang 14

Phát hành cổ phiếu mới và dành quyền ưu tiên mua cho các cổ đông hiện hữu: Đây là cách phổ biến được các công ty cổ phần ở nhiều nước áp dụng khi quyết định tăng thêm vốn chủ sở hữu để mở rộng hoạt động kinh doanh Thông thường trong điều lệ của công ty cổ phần ở nhiều nước đều ghi rõ quyền này của cổ đông thường Đối với công ty cổ phần đại chúng, việc dành quyền ưu tiên mua cổ phần cho cổ đông hiện hữu (còn gọi là quyền mua cổ phần) khi công ty phát hành cổ phiều mới để tăng thêm tiền vốn cũng được coi là phát hành cổ phiếu ra công chúng

Quyền ưu tiên mua cổ phần là quyền của các cổ đông hiện hữu được mua cổ phần mới với giá bán ưu đãi Quyền ưu tiên mua cổ phần được phân phối cho

cổ đông hiện hữu tương ứng với tỷ lệ số cổ phần mà hiện họ đang sở hữu và

nó chỉ có hiệu lực trong một thời gian nhất định (thường là khá ngắn) của đợt phát hành

Việc áp dụng quyền ưu tiên mua cho cổ đông là nhằm bảo vệ lợi ích của các cổ đông hiện hữu Điều này được thể hiện cụ thể ở những điểm sau:

 Một là, bảo vệ quyên kiểm soát của cổ đông hiện hữu đối với công ty Việc dành quyền ưu tiên mua nhằm giúp họ duy trì và giữ vững tỷ lệ quyền sở hữu hiện hành trong công ty

 Hai là, giúp cho cổ đông tránh được sự thiệt hại do sự sụt giảm giá cổ phiếu trên thị trường khi công ty phát hành cổ phiếu mới Thông thường khi công

ty phát hành cổ phiếu mới để tăng vốn kinh doanh sẽ xảy ra hiện tượng loãng giá cổ phiếu

Khi quyết định dành quyền ưu tiên mua cổ phiếu mới phát hành cho các cổ đông hiện hành, công ty sẽ thông báo số quyền được mua một cổ phần mới, giá bán và thời hạn đăng ký mua Giá bán cổ phiếu mới theo quyền ưu tiên mua cho cổ đông là giá bán được xác định thấp hơn giá cổ phiếu hiện hành của công

ty Thời hạn đăng ký mua được xác định trong một khoảng thời gian nhất định của đợt phát hành Trong thời hạn đó, cổ đông có thể sử dụng quyền ưu tiên mua để mua thêm cổ phiếu mới, hay nhượng bán quyền đó cho người khác hoặc không sử dụng quyền Hết thời hạn quy định thì quyền mua sẽ không còn giá trị

Trên cơ sở số lượng vốn cần huy động và giá bán ưu đãi cổ phiếu mới dành quyền mua cho cổ đông (còn gọi là giá ghi bán), công ty xác định số cổ phiếu mới cần phát hành và số quyền mua cần thiết để mua một cổ phiếu mới

Số lượng cổ phiếu mới cần phát hành có thể xác định theo công thức sau:

Số vốn cần huy động

Số lượng cổ phiếu cần phát hành = Giá bán một cổ phiếu

Mỗi cổ phiếu đang lưu hành sẽ có một quyền mua Như vậy, số quyền mua cần thiết để được mua một cổ phần mới được xác định theo công thức sau:

Số cổ phiếu đang lưu hành

Số quyền mua cần thiết để được mua một cổ phiếu mới = Số cổ phiếu mới dự kiến phát hành

Như trên đã nêu, cổ đông hiện hữu được quyền mua cổ phiếu mới với giá ưu đãi thấp hơn so với giá thị trường cổ phiếu hiện hành, cổ đông có thể nhượng bán quyền này cho người khác Có thể xác định được giá trị một quyền mua (về mặt lý thuyết) bằng các công thưc ở phần dưới đây:

Trang 15

Ví dụ: công ty cổ phần Hồng Hà hiện có 1.000.000 cổ phiếu đang lưu hành, giá một cổ phiếu của công ty trên thị trường hiện tại là 50.000 đồng Công ty

dự kiến huy động thêm số vốn đầu tư là 4.000 triệu đồng bằng cách phát hành thêm cổ phiếu mới và dành quyền ưu tiên mua cho cổ đông hiện hữu với giá ghi bán 20.000 đồng/cổ phần Như vậy:

Phát hành (theo lý thuyết)

Hoặc có thể viết dưới dạng:

Pe – Pu

R =

N

(1) Trong đó:

R: Giá trị lý thuyết của một quyền mua

Pe: Giá thị trường của 1cổ phiếu (xét về lý thuyết) sau khi hoàn thành đợt phát hành cổ phiếu mới

Pu: Giá bán ưu đãi một cổ phiếu mới cho cổ đông hiện hữu

Po: Giá thị trường 1 cổ phiếu trước khi phát hành bổ sung cổ phiếu mới dành quyền ưu tiên mua cho cổ đông

N: Số quyền mua cần thiết (hoặc số cổ phiếu cũ cần thiết để được mua một cổ phiếu mới)

Trang 16

Từ ví dụ trên cũng cho thấy: Sau khi phát hành cổ phiếu mới, về mặt lý thuyết giá

cổ phiếu của công ty đã giảm là: 50.000 – 45.000 = 5.000 đồng; tuy nhiên, cổ đông hiện hữu của công ty không bị thiệt hại về quyền lợi vì cổ đông đã được hưởng quyền ưu tiên mua cổ phiếu mới Giá trị một quyền mua bằng 5.000 đồng, đúng bằng số chênh lệch giữa giá cổ phiếu trước và sau khi phát hành cổ phiếu mới Do vậy, có thể rút ra:

R = P0 – Pe (2.1)  Pe = P0 - R (2.2) Thay (2.2) vào (1) ta có:

 Một là: Công ty có thể mở rộng được hoạt động kinh doanh, nhưng các cổ đông hiện hữu vẫn giữ được quyền kiểm soát đối với công ty và bảo vệ được các quyền lợi kinh tế của cổ đông Đây là vấn đề hết sức quan trọng đối với các công ty nhỏ và công ty mới thành lập

 Hai là: Việc huy động tăng vốn kinh doanh được thực hiện tương đối dễ dàng Nếu hoạt động kinh doanh của công ty có triển vọng tốt, các cổ đông hiện hữu dễ dàng chấp nhận bỏ tiền mua thêm cổ phần mới, tăng vốn đầu tư vào công ty

 Ba là: Tiết kiệm chi phí phát hành cổ phiếu thường, do công ty không cần bỏ

ra chi phí quảng cáo Mặt khác, theo phương pháp này, công ty có thể tự phát hành, hoặc phát hành thông qua đại lý với chi phí hoa hồng ở mức thấp

 Bốn là: Giúp công ty tránh được áp lực của cổ đông do sự loãng giá cổ phiếu khi phát hành thêm cổ phiếu mới

Bên cạnh những điểm lợi kể trên, phương pháp huy động tăng vốn này cũng bộc

lộ những mặt hạn chế nhất định Do cổ phiếu mới phát hành chủ yếu được phân phối trong phạm vi các cổ đông hiện hữu của công ty; vì vậy, việc phát hành thêm cổ phiếu mới để tăng vốn này ít làm tăng tính hoán tệ của cổ phiếu công ty Mặt khác, với việc bán cổ phần mới cho cổ đông hiện hữu với giá ưu đãi làm cho lượng vốn có thể huy động được là thấp hơn so với hình thức chào bán rộng rãi

ra công chúng

o Chào bán rộng rãi cổ phiếu mới ra công chúng

Để huy động tăng thêm vốn đầu tư, công ty cổ phần có thể lựa chọn phát hành rộng rãi cổ phiếu mới ra công chúng Việc huy động vốn theo phương pháp này

có những điểm lợi chủ yếu sau:

 Tăng được vốn đầu tư dài hạn, nhưng công ty không có nghĩa vụ bắt buộc phải trả lợi tức cố định như sử dụng vốn vay: Khi công ty huy động vốn theo cách này để mở rộng kinh doanh nếu như thu được ít lợi nhuận hoặc bị lỗ, thì công

ty có thể tuyên bố tạm thời không trả cổ tức cho các cổ đông thường cho đến khi công ty thu được lợi nhuận và có khả năng trả lợi tức cổ phần Điều này giúp công ty giảm được nguy cơ phải tổ chức lại hoặc bị phá sản

Trang 17

 Không phải lo hoàn trả vốn gốc: Cổ phiếu là loại chứng khoán không có thời hạn hoàn trả Do vậy, huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu thường ra công chúng công ty không phải hoàn trả vốn gốc theo kỳ hạn cố định Điều này giúp công ty chủ động sử dụng vốn linh hoạt trong kinh doanh mà không phải lo gánh nặng “nợ nần” như sử dụng vốn vay

 Làm tăng thêm vốn chủ sở hữu và tăng thêm khả năng vay vốn của công ty trong tương lai: Huy động vốn bằng phát hành thêm cổ phiếu bán ra công chúng sẽ làm tăng thêm vốn chủ sở hữu, từ đó làm giảm hệ số nợ và tăng thêm mức độ vững chắc về tài chính của công ty, trên cơ sở đó làm tăng thêm khả năng vay vốn của công ty trong tương lai, thêm vào đó cũng làm tăng hệ

số tín nhiệm cho công ty Nếu công ty có triển vọng tốt thì cổ phiếu thường

được bán ra dễ dàng hơn so với cổ phiếu ưu đãi và trái phiếu: Cổ phiếu

thường có thể hấp dẫn một số nhóm các nhà đầu tư bởi hứa hẹn có mức lợi tức (không bị giới hạn) cao hơn so với cổ phiếu ưu đãi và trái phiếu Mặt khác, đối với nhà đầu tư thì cổ phiếu thường còn tạo ra rào chắn chống đỡ lạm phát tốt hơn so với cổ phiếu ưu đãi và trái phiếu Bởi vì, cổ phiếu thường đại biểu cho quyền sở hữu trong công ty, đầu tư vào cổ phiếu thường là đầu

tư vào một lượng tài sản thực trong công ty Do vậy, thông thường trong thời

kỳ lạm phát thì cổ phiếu thường không bị mất giá như trái phiếu

Bên cạnh những lợi thế kể trên, việc phát hành rộng rãi cổ phiếu thường ra công chúng để huy động tăng vốn kinh doanh cũng có thể đưa lại cho công ty những điểm bất lợi sau:

 Một là, việc phát hành thêm cổ phiếu thường ra công chúng làm tăng thêm

cổ đông mới, từ đó phải phân chia quyền biểu quyết, quyền kiểm soát công

ty, cũng như phải san sẻ số thu nhập cao cho các cổ đông mới

Điều này có thể gây bất lợi cho các cổ đông hiện hữu Vì vậy, các công ty mới thành lập, hoặc các công ty nhỏ thường né tránh việc phát hành thêm

cổ phiếu ra bên ngoài để không phải chia sẻ quyền kiểm soát công ty cho người khác

 Hai là, việc phát hành thêm cổ phiếu rộng rãi ra công chúng sẽ làm tăng số

cổ phiếu đang lưu hành, do vậy, sẽ dẫn đến hiện tượng “loãng giá” cổ phiếu của công ty và nếu như việc sử dụng vốn đầu tư kém hiệu quả, sẽ càng làm cho giá cổ phiếu của công ty bị sụt giảm mạnh hơn

 Ba là, chi phí phát hành cổ phiếu thường nói chung cao hơn so với chi phí phát hành cổ phiếu ưu đãi và trái phiếu Sở dĩ như vậy, là do đầu tư vào cổ phiếu thường có mức độ rủi ro cao hơn so với đầu tư vào các loại chứng khoán khác Để thực hiện thành công đợt phát hành cổ phiếu phải thu hút được người đầu tư trên diện rộng hơn; từ đó, các chi phí quảng cáo, chi phí phân phối cổ phiếu thường phải cao hơn

 Bốn là, theo cách đánh thuế thu nhập doanh nghiệp ở nhiều nước, lợi tức cổ phần hay cổ tức không được tính trừ vào thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp, trong khi đó, lợi tức trái phiếu hay lãi tiền vay được tính trừ vào thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp Điều này làm cho chi phí sử dụng cổ phiếu thường cao hơn nhiều so với chi phí sử dụng trái phiếu

Chính vì vậy, để đi đến quyết định phát hành thêm cổ phiếu thường đáp ứng nhu cầu tăng vốn dài hạn cho kinh doanh, công ty cần xem xét các điểm lợi và bất lợi đồng thời cân nhắc thêm các yếu tố khác

Trang 18

8.5.2.2 Cổ phiếu ưu đãi

 Những đặc trưng của cổ phiếu ưu đãi

Cổ phiếu ưu đãi là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu trong công ty cổ phần, đồng thời cho phép người nắm giữ loại cổ phiếu này được hưởng một số quyền lợi ưu đãi hơn so với cổ đông thường

Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán, ngày nay ở nhiều nước các công ty cổ phần phát hành nhiều loại cổ phiếu ưu đãi khác nhau Tuy nhiên, loại cổ phiếu ưu đãi mà công ty cổ phần ở nhiều nước sử dụng là loại cổ phiếu ưu đãi cổ tức, loại cổ phiếu này có các đặc trưng chủ yếu sau:

o Quyền ưu tiên về cổ tức và thanh toán khi thanh lý Công ty

Khác với cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi mang lại cho người nắm giữ nó được hưởng một khoản cổ tức cố định và đã được xác định trước, không phụ thuộc vào kết quả hoạt động của công ty Mặt khác, cổ đông ưu đãi còn được nhận cổ tức trước các cổ đông thường Ngoài ra, khi công ty bị thanh lý hoặc giải thể thì cổ đông ưu đãi được thanh toán trước các cổ đông thường

o Sự tích luỹ cổ tức

Phần lớn cổ phiếu ưu đãi của công ty phát hành đều là cổ phiếu ưu đãi tích luỹ Điều đó có nghĩa là, nếu trong một năm nào đó công ty gặp khó khăn trong kinh doanh, thì có thể tuyên bố hoãn trả cổ tức cổ phần ưu đãi Số cổ tức đó được tích luỹ lại, tức là được cộng dồn lại và chuyển sang kỳ kế tiếp Số cổ tức này phải được trả cho cổ đông ưu đãi trước khi công ty tuyên bố trả cổ tức cho các cổ đông thường Quy định này nhằm bảo vệ lợi ích cho các cổ đông ưu đãi

o Không được hưởng quyền biểu quyết

Khác với cổ đông thường, các cổ đông ưu đãi thường không được hưởng quyền

bỏ phiếu để bầu ra Hội đồng quản trị, cũng như không có quyền biểu quyết thông qua các vấn đề quan trọng trong quản lý Công ty

Với các đặc trưng nêu trên, cổ phiếu ưu đãi cổ tức (cổ tức cố định và không có quyền biểu quyết) được coi như là một loại chứng khoán lai ghép giữa cổ phiếu thường và trái phiếu Nói cách khác, cổ phiếu ưu đãi là một loại chứng khoán lai ghép hay lưỡng tính, nó vừa mang một số đặc điểm của cổ phiếu thường, vừa có một số đặc trưng của trái phiếu

o Những đặc trưng của cổ phiếu ưu đãi giống cổ phiếu thường là:

 Cùng thể hiện quyền sở hữu đối với Công ty

 Không có thời hạn thanh toán vốn gốc

 Lợi tức cổ phần ưu đãi không được giảm trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp

 Khi công ty gặp khó khăn trong kinh doanh, chỉ thu được ít lợi nhuận hoặc không thu được lợi nhuận thì có thể hoãn trả lợi tức cổ phần ưu đãi mà không bị đe doạ bởi nguy cơ phá sản

o Những đặc trưng giống trái phiếu là:

 Cổ tức của cổ phiếu ưu đãi được trả theo một mức cố định Khi Công ty thu được lợi nhuận cao thì cổ đông ưu đãi không được tham dự vào việc phân chia phần lợi nhuận cao đó Ngược lại, nếu công ty kinh doanh sút kém thì Công ty vẫn phải có trách nhiệm thanh toán lợi tức cho cổ đông ưu đãi, tuy nhiên Công ty có thể hoãn trả vào kỳ tiếp theo

Về cơ bản, cổ đông ưu đãi không có quyền biểu quyết

Ngày đăng: 23/12/2016, 10:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w