1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số kinh nghiệm giảng dạy có hiệu quả tiết luyện tập hình học lớp 7

28 595 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 285,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong tiết luyện tập toán học sinh được thực hành vận dụng những kiếnthức đã học vào việc giải quyết các bài toán thực tế, các bài toán có tác dụng rènluyện kĩ năng tính toán, kĩ năng su

Trang 1

Sáng kiến kinh nghiệm:

“MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY CÓ HIỆU QUẢ

TIẾT LUYỆN TẬP HÌNH HỌC LỚP 7”

PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU.

Trong môn Toán sự thống nhất giữa hoạt động điều khiển của thầy và hoạtđộng học tập của học sinh có thể được thực hiện bằng cách quán triệt quan điểmhoạt động dạy học toán trong hành động và bằng hành động Dạy học toán theophương pháp đổi mới phải làm cho học sinh chủ động nghĩ nhiều hơn, làm nhiềuhơn, tham gia nhiều hơn trong quá trình chiếm lĩnh tri thức toán học Thực chất

là quá trình tái tạo khái niệm, tính chất, định lí, quy tắc gần giống với quá trìnhhình thành chính những kiến thức ấy trong lịch sử

Đặc điểm của môn toán là người học toán phải nắm chắc và hiểu rõ líthuyết thì mới vận dụng được để giải bài tập và có giải nhiều bài tập thì mớikhắc sâu và nhớ kĩ lí thuyết Do vậy, việc dạy học sinh giải bài tập toán trongcác tiết luyện tập là rất quan trọng

Trong tiết luyện tập toán học sinh được thực hành vận dụng những kiếnthức đã học vào việc giải quyết các bài toán thực tế, các bài toán có tác dụng rènluyện kĩ năng tính toán, kĩ năng suy luận lô gíc, qua đó phát triển tư duy sángtạo cho học sinh Trong thực tế, tiết luyện tập toán không chỉ giải quyết các bàitoán mà học sinh đã làm ở nhà hay như những bài toán thầy giáo đã cho trên lớp,

mà người thầy phải xác định trong tiết luyện tập vai trò của thầy và nhiệm vụcủa trò là như thế nào? Đó là “Thầy luyện, trò tập làm” Với tiết luyện tập, thầygiáo được tự do trong việc lựa chọn nội dung dạy học hơn so với tiết lí thuyết -Thầy có thể xác định được trọng tâm của bài sao cho cũng cố được lí thuyết đãhọc và vận dụng giải bài tập tốt đáp ứng mục đích, yêu cầu của bài Trong tiếtluyện tập thầy giáo có thể cho học sinh xác định yêu cầu của bài để tìm phươngpháp giải cho phù hợp, thầy chỉ là người hổ trợ, bổ sung để trò tìm ra hướng điđúng đắn nhất

Trang 2

Trong phân môn Hình học ở Trung học cơ sở, mọi vấn đề như: Chứngminh các cạnh bằng nhau, chứng minh các góc bằng nhau, chứng minh tam giácđặc biệt, chứng minh tứ giác đặc biệt, chứng minh tam giác đồng dạng, đềuxuất phát từ những vấn đề trọng tâm của Hình học 7, đó là: hai đường thẳngsong song, hai đường thẳng vuông góc, hai tam giác bằng nhau, các đường đồngquy trong tam giác, Chính vì vậy, làm thế nào để giúp các em học tốt phânmôn hình học nói chung và chương trình hình học lớp 7 nói riêng là điều trăntrở, suy nghĩ của bản thân tôi cũng như các giáo viên dạy toán.

Xuất phát từ những nhận thức trên bản thân đã và đang giảng dạy môn

Toán lớp 7, tôi mạnh dạn đưa ra “Một số kinh nghiệm giảng dạy có hiệu quả

tiết luyện tập hình học lớp 7” góp phần nâng cao chất lượng dạy và học bộ

môn

Trang 3

PHẦN 2: NỘI DUNG

I CƠ SỞ LÍ LUẬN:

Toán học có vai trò rất quan trọng trong đời sống con người và đối với cácngành khoa học khác Một nhà tư tưởng Anh RBê-cơn đã nói: “Ai không hiểubiết toán học thì không thể biết bất cứ một môn khoa học nào khác và cũngkhông thể phát hiện ra sự dốt nát của bản thân mình” Trong nhà trường phổthông các kiến thức và phương pháp toán học là công cụ thiết yếu giúp học sinhhọc tốt các môn khoa học khác, giúp học sinh hoạt động có hiệu quả trong mọilĩnh vực Phần nữa môn Toán cũng là một trong những môn học để xét tốtnghiệp và thi vào đầu cấp Thế nhưng hiện nay việc học toán của các em còn rấtnhiều hạn chế đặc biệt là hình học các em còn yếu về kĩ năng vẽ hình, dựng hìnhcũng như sự tư duy phán đoán Mà ở tiết luyện tập học sinh có thể cũng cố, đàosâu, hệ thống hoá kiến thức và rèn luyện kĩ năng cũng như vận dụng những kiếnthức đã học vào những vấn đề cụ thể

Về măt lí thuyết, luyện tập là lặp đi lặp lại những hành động nhất định nhằmhình thành và cũng cố những kĩ năng , kĩ xảo cần thiết được thực hiện một cách

có tổ chức, có kế hoạch Vì thế qua các tiết luyện tập học sinh được nâng caotính độc lập sáng tạo, hiểu bài sâu hơn, chắc hơn, năng lực tư duy và phẩm chấttrí tuệ phát triển tốt hơn Các bài tập toán trong tiết luyện tập cũng có thể là mộtđịnh lí giúp học sinh mở rộng tầm hiểu biết của mình Luyện tập toán còn có tácdụng hình thành thế giới quan duy vật biện chứng, hứng thú học tập và niềm tin,hình thành phẩm chất người lao động mới Qua việc giải bài tập toán mà đánhgiá được mức độ, kết quả dạy của giáo viên, kết quả học của học sinh

Dựa vào tâm lí lứa tuổi học sinh, các em ở lứa tuổi đang “tập làm người lớn”nên rất tích cực tham gia vào các hình thức học tập sáng tạo, độc lập Đó là tiền

đề cho sự tự giác, tự khám phá, phát hiện và giải quyết vấn đề dưới sự tổ chức,hướng dẫn của giáo viên

Hình học là môn học có tính trừu tượng cao, hệ thống kiến thức rộng, cáckiến thức có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Môn hình học có rất nhiều ứng dụng

Trang 4

trong thực tế, việc học tốt môn hình học sẽ giúp hình thành ở học sinh tính cẩnthận, phán đoán chính xác, suy luận logíc

Một tiết luyện tập toán cần đạt được 3 yêu cầu chủ yếu đó là:

- Tiết luyện tập giúp học sinh hoàn thiện hoặc nâng cao ở mức độ phổ thôngcho phép đối với phần lý thuyết của những tiết học trước thông qua hệ thống cácbài tập (bài tập trong sách giáo khoa, sách bài tập và các bài tập tự chọn của giáoviên) sao cho hợp lý theo kế hoạch dạy học

- Tiết luyện tập rèn luyện cho học sinh kỹ năng, nguyên tắc giải toán dựa trên

cơ sở nội dung lý thuyết đã học và phù hợp với trình độ tiếp thu của đại đa sốhọc sinh trong lớp thông qua hệ thống các bài tập đã được giáo viên lựa chọn.Đây thực chất là sự vận dụng lý thuyết để giải các bài tập nhằm hình thành các

kỹ năng cần thiết cho học sinh

- Thông qua việc giải các bài tập rèn luyện cho các em nề nếp làm việc khoahọc, tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập, rèn luyện các thao tác tư duy cầnthiết

II CƠ SỞ THỰC TIỄN:

Hai năm học trước (năm học 2006 – 2007, 2007-2008) tôi trực tiếp giảngdạy môn Toán 7, Toán 8 tại trường THCS Phú Thuỷ và đến năm học 2008 –

2009 tôi được phân công giảng dạy bộ môn Toán 7, Toán 9 tại trường THCSSơn Thuỷ Qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy:

* Đối với học sinh:

- Việc học môn hình học của học sinh là rất khó khăn, các em không biết phải

bắt đầu từ đâu để chứng minh một bài toán hình, trong quá trình chứng minh nênvận dụng những kiến thức nào và trình bày lời giải như thế nào cho phù hợp,đúng trình tự Chính những khó khăn đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến chấtlượng môn toán nói chung và bộ môn hình nói riêng, các em không thích học bộmôn hình học nên lơ là trong việc học cũng như chuẩn bị bài

- Một số em còn coi nhẹ tiết luyện tập, trong giờ học chỉ chờ bài giải mẫu đểchép, ít chịu suy nghĩ, tìm tòi lời giải Một số em quan điểm rằng tiết luyện tập

Trang 5

chẳng có gì phải học, chẳng qua chỉ là tiết chữa bài tập Chính vì quan điểm đó

mà học sinh chưa thực sự chú ý vào tiết học

- Với sự phát triển của ngành công nghệ thông tin các điểm Internet mọc lênnhư nấm đó cuốn hỳt cỏc em học sinh vào những trũ chơi giải trí dẫn đến việcchán nản lơ là việc học hành

- Một bộ phận không nhỏ học sinh lười học bài cũ dẫn đến hổng kiến thức

cơ bản, có chăng cũng chỉ học qua loa hời hợt

- Một số em do sự phát triển tâm sinh lý không bình thường nên khó tậptrung trong học tập, tiếp thu bài chậm, thường nhút nhát, một số em khác do quáhiếu động, nghịch ngơm, khó bảo, hành động theo bản năng, thiếu suy nghĩ nêndẫn đến kết quả học tập môn toán nói chung và hình học nói riêng còn thấp

- Một bộ phận gia đình học sinh có hoàn cảnh khó khăn, ít quan tâm đếnviệc học tập của con em, không mua đủ dụng cụ học tập cho học sinh nhưcompa, êke, thước thẳng, thước đo độ nên các tiết luyện tập hình học các emngồi chơi hoặc làm việc riêng dẫn đến không nắm được bài

* Đối với giáo viên:

Trong quá trình giảng dạy cũng gặp một số khó khăn như bài tập toán hình

đa dạng, phong phú, nếu không có thời gian nghiên cứu và phương pháp lựachọn thích hợp thì dể bị phiến diện, chọn bài tập dễ quá hoặc khó quá, không đủthời gian làm dễ gây cho học sinh tâm lí “sợ toán hình” hoặc chán nản Từ đóchỉ chú ý vào thủ thuật giải mà quên rèn luyện phương thức tư duy

Trước đây tôi cũng như nhiều giáo viên dạy toán khác nghĩ tiết luyện tậpchẳng qua chỉ là tiết chữa bài tập nờn khi dạy tiết luyện tập cố gắng chữa càngnhiều bài tập càng tốt, khụng cần chỳ ý đến các dạng toán và cũng không cầnchuẩn bị bảng phụ, đèn chiếu vỡ hầu như hỡnh vẽ và đề bài tập đều có sẵn trongsách giáo khoa Giáo viên cũng không quan tâm học sinh nắm được gỡ, rốnluyện được kỹ năng nào? Dạy theo phương pháp thầy giảng trũ chộp là chớnh

Vì vậy chất lượng môn toán qua kiểm tra khảo sát thấp

* Kết quả khảo sát chất lượng:

Trang 6

Kết quả kiểm tra chương I hình học 7 ở lớp 7A trường THCS Phú Thuỷnăm học 2007- 2008 như sau:

bộ môn Tôi đã thử áp dụng một số biện pháp để tiết luyện tập Hình học 7 đạthiệu quả, đó là:

+ Yêu cầu học sinh nắm chắc phần kiến thức

+ Trong tiết luyện tập chọn giải tại lớp một số bài tập cần thiết

+ Mỗi bài tập thường thực hiện qua 4 bước: Tìm hiểu đề bài, tìm tòi lời giải,trình bày lời giải, nghiên cứu thêm về lời giải

+ Ra thêm một số bài tập ở ngoài

Nhờ đó chất lượng kiểm tra cuối năm đạt cao hơn

Đầu năm học 2008 - 2009, sau khi dạy tiết luyện tập về hai đường thẳngsong song tôi cho học sinh lớp 7A trường THCS Sơn Thuỷ kiểm tra bài 15 phút

Đề bài là một bài tập vận dụng dấu hiệu nhận biết hai đường thẳng song song đểchứng tỏ rằng hai đường thẳng song song Kết quả cho thấy số học sinh đạt điểmkhá giỏi chưa cao (22,9 %), vẫn còn nhiều học sinh bị điểm yếu, kém (42,9%)

Như vậy nếu không thay đổi phương pháp và đưa ra giải pháp cụ thể thỡ cú

lẽ kết quả mụn toỏn núi chung và phõn mụn hỡnh học núi riờng cũn thấp hơnnữa Vì thế, tôi tiếp tục áp dụng các biện pháp dạy học tiết luyện tập Hình học

đã thử nghiệm ở năm học trước và suy nghĩ tìm thêm các biện pháp dạy học phù

Trang 7

hợp nhằm mục đích giúp học sinh có hứng thú trong việc học Hình học và nângcao chất lượng dạy học bộ môn.

III CÁC BIỆN PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC CỦA TIẾT LUYỆN TẬP HÌNH HỌC LỚP 7:

* Biện pháp 1:

Đầu tư thời gian cho việc soạn bài, cần chuẩn bị kĩ hệ thống bài tập và câu

hỏi nhằm gieo tình huống, hướng dẫn từng bước cách giải quyết vấn đề phù hợpvới các đối tượng học sinh, dự kiến những khó khăn trở ngại, những “cái bẩy”

mà học sinh cần vượt qua

Muốn vậy giáo viên cần nắm vững nội dung tiết dạy gồm những kiến thứcmới nào được bổ sung, kĩ năng nào cần rèn luyện, bài tập nào khó, bài tập nào làtrọng tâm, có thể phát triển năng lực trí tuệ cho học sinh Giáo viên còn phảinắm được kiến thức, kĩ năng cụ thể đã có sẵn ở học sinh với mức độ nào, từ đóxây dựng một hệ thống bài tập từ dễ đến khó, chọn các thể loại bài tập đa dạngứng với từng phần lí thuyết cần kiểm tra, loại bài tập cần rèn luyện kĩ năng, loạibài tập vận dụng toán học vào thực tế, loại bài tập mở với mức độ vừa phải,thích hợp trình độ học sinh, giúp các em tự tin ở mình, không sao chép lời giải

có sẵn

* Ví dụ: Đối với tiết luyện tập về Tổng ba góc trong một tam giác, trước tiên

giáo viên chọn một bài tập dễ là tính số đo góc trong hình vẽ có sẵn để Hs đượccũng cố kiến thức lí thuyết cơ bản: Tính số đo x ở các hình sau:

M A

1 x

x

60 55

Trang 8

N P B C

Sau đĩ giáo viên chọn các bài tập rèn luyện kĩ năng vẽ hình, chứng minh hai đường thẳng song song nhờ việc vận dụng định lí về tổng ba gĩc trong một tam giác để tính số đo hai gĩc so le trong bằng nhau Cụ thể: - Bài tập 8/109 Sgk Tốn 7/1: Cho tam giác ABC cĩ ∠B =∠C = 400 Gọi Ax là tia phân giác của gĩc ngồi đỉnh A Hãy chứng tỏ rằng Ax // BC Gv xây dựng hệ thống câu hỏi: Để chứng minh Ax // BC ta làm thế nào? Từ đĩ yêu cầu Hs tính số đo gĩc ∠A2 rồi vận dụng dấu hiệu nhận biết hai đường thẳng song song để suy ra điều cần chứng minh Giải y GT ∆ABC:Bˆ =Cˆ = 40 0

Ax laứ phãn giaực goực x 1

ngoaứi tái A 2

KL Ax//BC

Chứng minh: Xét tam giác ABC cĩ B 40 40 C ∠B = ∠C = 400(GT) ∠yAB =∠B + ∠C = 40 0 + 40 0 = 80 0 (định lí về goực ngoaứi cuỷa tam giaực ) Ax laứ phãn giaực cuỷa ∠yAB => ∠A1= ∠A2 = ∠yAB : 2=400 Vaọy ∠B = ∠A2 =400 maứ ∠B vaứ ∠A2 ụỷ vũ trớ so le trong => Ax // BC (ẹũnh lyự 2 đường thẳng song song) - Bài tập áp dụng thực tế: Bài 9\109 SgkTốn 7/1: Hình 59 biễu diễn mặt cắt ngang của một con đê Để đo gĩc nhọn MOP tạo bởi mặt nghiêng của con đê với phương nằm ngang, người ta dùng thức chữ T và đặt như hình vẽ (OA ⊥ AB) Tính gĩc MOP, biết rằng dây dọi BC tạo với trục BA một gĩc ∠ABC = 320 * Biện pháp 2: Giáo viên cần phải tạo cho học sinh cĩ một động cơ ham muốn khám phá cách giải mới, một phát hiện mới trong tiết luyện tập hình học Đây là biện pháp cần thiết tạo nên tính tích cực, chủ động sáng tạo trong học tập cho học sinh Muốn vậy ta cĩ thể lật ngược vấn đề, xét tính tương tự, giải quyết một mâu thuẫn của bài tốn hoặc xuất phát từ một nhu cầu thực tế của xã hội

A

Trang 9

Giáo viên cần tập cho học sinh biết mở rộng bài toán, tìm mối liên hệ với cácbài toán khác, học sinh biết ra các đề toán tương tự.

Để thực hiện biện pháp này cần dành một số thời gian thích đáng cho họcsinh suy nghĩ thảo luận với nhau theo nhóm (khoảng 2 – 4 em), học sinh có thể

tự do tranh luận với nhau hoặc tranh luận trực tiếp với giáo viên về một vấn đềcần giải quyết, trình bày ý tưởng mới của bản thân

* Ví dụ: Ở bài tập 8 trên Gv đưa ra câu hỏi để lật ngược vấn đề: Nếu tia Ax

không phải là tia phân giác của góc yAB thì Ax có song song với BC không? Vìsao? Hoặc nếu ∠B ≠ ∠C thì Ax có song song với BC không? Vì sao?

Từ đó GV hướng dẫn HS có thể mở rộng bài toán này: Nếu ∠B =∠C = no

và với các giả thiết của bài toán thì luôn có Ax // BC

Để học sinh tích cực tư duy hơn nữa tôi còn chấm bài cho học sinh trong tiếtluyện tập Với các bài tập ngắn, học sinh làm bài trong thời gian khoảng 5 phút,tôi chấm bài của một số em, qua đó đánh giá được sự tiến bộ, mức độ nhận thức,năng lực tư duy của học sinh

* Biện pháp 3:

Dạy tìm đường lối giải bài toán chứng minh hình học.

Một trong những biện pháp giúp học sinh phát triển năng lực tư duy là dùngphương pháp phân tích đi lên khi dạy học sinh chứng minh hình học Với hệthống câu hỏi chọn lọc và bằng phương pháp vấn đáp, gợi mở, tôi hướng dẫn đểhọc sinh tự nêu ra được sơ đồ chứng minh đi từ giả thiết đến kết luận Trongnhững tiết dạy mà lượng kiến thức nhiều học sinh chỉ cần ghi lại sơ đồ đó rồi vềnhà tự trình bày bài giải Sau khi giải bài toán, tôi khuyến khích học sinh giảibằng cách khác, tập cho học sinh tóm tắt lời giải thành từng bước theo sơ đồ củaquá trình tư duy (dựa vào sơ đồ phân tích đi lên) để học sinh dễ nhớ, chỉ ra phầnmấu chốt, quan trọng của bài toán, học sinh nhận dạng được bài toán và xếp nóvào hệ thống bài tập đã học

*Ví dụ: Trong tiết luyện tập của bài tam giác cân Toán7/1:

GV đưa ra bài tập: Cho tam giác ABC cân tại A, hai đường cao BH và CK cắtnhau tại I (H∈AC; I ∈ AB) Chứng minh ∆BIC là tam giác cân.

Trang 10

GV hướng dẫn để học sinh tự nêu ra được sơ đồ chứng minh:

* Biện pháp 4:

Tác động đến cả ba đối tượng học sinh bằng các câu hỏi và bài tập hợp lí

sao cho tất cả học sinh trong lớp đều tích cực suy nghĩ, tích cực trả lời Chú ýchọn lọc để nội dung được tinh giản và kết hợp với phương pháp sáng tạo saocho học sinh không cảm thấy nặng nề khi học tiết luyện tập Do đối tượng thựcnghiệm là học sinh lớp 7 nên phần vẽ hình, ghi giả thiết, kết luận là rất quantrọng Các em mới làm quen với dạng bài tập chứng minh hình học nên cần tăngcường bài giải mẫu, trình bày rõ ràng, vẽ hình chính xác, đẹp, lập luận có căn

cứ Trong quá trình dạy cần khắc phục ngay những chỗ sai sót, những chỗ họcsinh thường mắc lỗi khi nói, khi viết

Ví dụ: Trong bài luyện tâp về ba trường hợp bằng nhau của tam giác GV

đưa ra bài tập 43Sgk T7/1:

Cho góc xOy khác góc bẹt Lấy các điểm A, B thuộc tia Ox sao cho OA <

OB Lấy các điểm C, D thuộc tia Oy sao cho OA = OC, OD = OD Gọi E là giaođiểm của AD và BC Chứng minh rằng:

a) AD = BC ;

b) ∆EAB = ∆ECD

c) OE là tia phân giác của góc xOy

Trang 11

Sau khi cho học sinh vẽ hình, ghi giả thiết, kết luận giáo viên yêu cầu đốitượng học sinh yếu kém làm câu a, học sinh trung bình làm câu b và đối tượnghọc sinh khá giỏi làm câu c Gọi các đối tượng học sinh lên bảng giải, cho họcsinh nhận xét, GV chữa kỹ bài cho học sinh, củng cố, khắc sâu kiến thức cho cácem.

* Biện pháp 5:

Tiến hành bài giảng theo quy trình của tiết luyện tâp Phần kiểm tra

miệng nên kết hợp với phần chữa bài tập hoặc làm các bài tập mới để tiết kiệmthời gian Với đặc điểm “vừa ôn, vừa luyện” của tiết luyện tập, học sinh phảinêu được các định lí, quy tắc đã học được áp dụng trong lời giải Việc đánhgiá, cho điểm học sinh cần đúng mức, tôn trọng ý kiến nhận xét giữa các họcsinh với nhau

Phần chữa bài tập về nhà cho một vài học sinh lên bảng trình bày, học sinh

cả lớp nhận xét lời giải của bạn, tự tổng kết ưu khuyết điểm, học sinh tự chođiểm lẫn nhau, và dựa vào đó để giáo viên cho điểm học sinh Sau đó giáo viênchốt lại vấn đề qua bài tập này Giáo viên đưa ra bài giải mẫu và các bài tập mới

có thể làm lại bài tương tự cho đối tượng học sinh trung bình - yếu, bài tập mởcho học sinh khá - giỏi, bài tập tổng hợp hệ thống kiến thức cho cả ba đối tượng.Nhưng phải chú ý đến số lượng bài tập, dự kiến thời gian và những vấn đề cầnchốt lại sau khi giải bài tập này Hết sức chú trọng kĩ năng tính toán, kĩ năng suyluận logíc, thuật toán

Phần cũng cố cần cho học sinh tự nêu ra được kiến thức cơ bản, kĩ năngcần rèn luyện phương pháp giải bài toán trong tiết dạy Những bài tập cho vềnhà cần được lựa chọn cẩn thận, hướng dẫn từng bài tập cho học sinh yếu kém,học sinh giỏi Số lượng bài tập cần hạn chế sao cho đủ dạy và học sinh đủ thờigian làm bài Việc giải bài tập ở nhà là một hoạt động độc lập của học sinh nênyêu cầu học sinh học kĩ lí thuyết trước khi làm bài tập Giáo viên nên dành ítphút hướng dẫn giải bài tập ở nhà cho học sinh

* Cụ thể tôi lần lượt thực hiện các bước của tiết luyện tập như sau:

Trang 12

1 Đưa ra mục tiêu của tiết học:

Mục tiờu của tiết luyện tập Hỡnh học đơn giản là củng cố về kiến thức củatiết học trước, rèn luyện những kĩ năng cơ bản về vẽ hỡnh, tính toỏn trờn hỡnh,rốn luyện khả năng phân tích và tổng hợp, kĩ năng chứng minh hỡnh học, pháttriển tư duy logic

Ví dụ: Mục tiêu của tiết Luyện tập về trường hợp bằng nhau thứ hai cạnh

-góc - cạnh (tiết 1) là:

- Về kiến thức: Cũng cố và khắc sâu cho học sinh nắm chắc trường hợp

bằng nhau thứ hai cạnh - góc - cạnh của hai tam giác

- Về kĩ năng: Học sinh rèn kĩ năng vẽ hình, ghi giả thiết kết luận, kĩ năng

phân tích đề toán để tìm hướng chứng minh và trình bày lời giải bài tập hình.Biết vận dụng trường hợp bằng nhau cạnh - góc - cạnh vào các bài tập chứngminh các tam giác bằng nhau, các đoạn thẳng bằng nhau, các góc bằng nhau

- Về thái độ: Có thái độ học tập nghiêm túc, tự giác, cẩn thận, chính xác khi

làm bài tập

2 Chuẩn bị:

2.1 Đối với giáo viên:

Để đảm bảo cho tiết luyện tập giáo viên cần chuẩn bị những vấn đề sau:Giáo án, thước kẻ, com pa, ê ke, thước đo độ, phấn màu, bảng phụ …

Ở lớp 7, khi học sinh mới bắt đầu học hỡnh học cú hệ thống việc làm cỏcbài tập miệng trờn cỏc hỡnh vẽ sẵn (giỏo viờn chuẩn bị trờn bảng phụ hoặc trờngiấy trong) có tác dụng rất tốt luyện tập cho học sinh nhận biết khái niệm, luyệntập kỹ năng, hoặc bước đầu làm quen với phộp chứng minh hỡnh học

Vớ dụ tiết luyện tập 1 sau khi học sinh học về “ Trường hợp bằng nhau thứhai của tam giỏc cạnh - gúc - cạnh” có thế cho học sinh làm bài tập miệng sauđây: Trờn mỗi hỡnh sau cỏc tam giỏc nào bằng nhau? Vỡ sao?

Trang 13

Bài tập 25 Toỏn 7 tập 1 (bảng phụ hoặc giấy trong): Hỡnh 82, 83, 84/118SGK

Nhưng góc M2 khụng phải là gúc xen giữa hai cạnh MP và PQ

Nờn trong hỡnh 84 khụng cú hai tam giỏc nào bằng nhau

A

C B

N

P

Q

Trang 14

Hoặc bảng phụ (giấy trong) cú thể là một bài chứng minh hỡnh học ỏpdụng khi giỏo viờn phõn tớch gợi mở học sinh đưa ra hướng chứng minh bằng

miệng Giáo viên tổng hợp lại thành bài chứng minh hoàn chỉnh ( bằng bảng

phụ) mục đích cho học sinh nắm bài giải mẫu và rèn cho học sinh kĩ năng trỡnh

bày một bài chứng minh hỡnh học

Vớ dụ: Bài tập nâng cao: Cho tam giác ABC có ba góc nhọn vẽ AD vuông

góc với AB, AD = AB và D khác phía C đối với AB, vẽ AE vuông góc với AC,

AE = AC và E khác phía B đối với AC,

Suy ra DC = BE (hai cạng tương ứng)

b) Gọi H là giao điểm của DC và BE

Trong tam giác ADB có ∠DAB = 900 nên ∠ADB + ∠ABD = 900

Vì ∠ADH = ∠ABH (hai góc tương ứng) nên

Ngày đăng: 22/12/2016, 21:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w