1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ

178 572 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 178
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 1 VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA CÁN BỘ VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC ĐÀO TẠO, SỬ DỤNG CÁN BỘ 1.1. Cán bộ quan niệm, vị trí, vai trò 1.2. Đào tạo, sử dụng cán bộ quan niệm, tầm quan trọng Chương 2 HỆ THỐNG QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ 2.1. Về ₫ào tạo cán bộ 2.1.1. Xây dựng tiêu chuẩn người cán bộ, ₫ảng viên 2.1.2. Đào tạo huấn luyện cán bộ 2.2. Về sử dụng cán bộ 2.2.1. Nhận thức ₫úng tầm quan trọng của việc sử dụng cán bộ 2.2.2. Sử dụng ₫úng cán bộ 2.2.3. Phải khéo dùng cán bộ 2.2.4. Điều kiện ₫ể sử dụng cán bộ tốt Chương 3 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI HIỆN NAY 3.1. Sự nghiệp ₫ổi mới và công tác ₫ào tạo, sử dụng cán bộ 3.1.1. Nhân tố tác ₫ộng 4 3.1.2. Thực trạng ₫ội ngũ cán bộ, ₫ảng viên 3.1.3. Nguyên nhân của thành tựu và hạn chế trong ₫ào tạo và sử dụng cán bộ 3.2. Học tập, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về ₫ào tạo và sử dụng cán bộ trong sự nghiệp ₫ổi mới hiện nay 3.2.1. Hồ Chí Minh với sự nghiệp ₫ào tạo và sử dụng cán bộ 3.2.2. Quan ₫iểm, nội dung vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về ₫ào tạo và sử dụng cán bộ trong giai ₫oạn hiện nay KẾT LUẬN

Trang 1

TS PHẠM QUỐC THÀNH

         

VỀ ĐÀO TẠO  

VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ 

 

      

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

CÁC CỘNG TÁC VIÊN

Nguyễn Phương An Lưu Xuân Công Nguyễn Anh Cường Nguyễn Ngọc Hân Trần Bách Hiếu Nguyễn Thị Kim Hoa Trần Thị Quang Hoa Đinh Ngọc Quý Đào Thành Trường

Đỗ Xuân Tuất Nguyễn Thanh Tùng

Trang 3

       

MỤC LỤC  

Chương 1 9

VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA CÁN BỘ VÀ TẦM QUAN TRỌNG

CỦA VIỆC ĐÀO TẠO, SỬ DỤNG CÁN BỘ 9

1.1 Cán bộ - quan niệm, vị trí, vai trò 9

1.2 Đào tạo, sử dụng cán bộ - quan niệm, tầm quan trọng 21

Chương 2 41

HỆ THỐNG QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH

VỀ ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ 41

2.1 Về ₫ào tạo cán bộ 41

2.1.1 Xây dựng tiêu chuẩn người cán bộ, ₫ảng viên 42

2.1.2 Đào tạo - huấn luyện cán bộ 49

2.2 Về sử dụng cán bộ 74

2.2.1 Nhận thức ₫úng tầm quan trọng của việc sử dụng cán bộ 75

2.2.2 Sử dụng ₫úng cán bộ 79

2.2.3 Phải khéo dùng cán bộ 83

2.2.4 Điều kiện ₫ể sử dụng cán bộ tốt 98

Chương 3 122

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ

TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI HIỆN NAY 122

3.1 Sự nghiệp ₫ổi mới và công tác ₫ào tạo, sử dụng cán bộ 122

3.1.1 Nhân tố tác ₫ộng 122

Trang 4

3.1.2 Thực trạng ₫ội ngũ cán bộ, ₫ảng viên 127

3.1.3 Nguyên nhân của thành tựu và hạn chế

trong ₫ào tạo và sử dụng cán bộ 144

3.2 Học tập, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về ₫ào tạo và sử dụng cán bộ trong sự nghiệp ₫ổi mới hiện nay 151

3.2.1 Hồ Chí Minh với sự nghiệp ₫ào tạo và sử dụng cán bộ 151

3.2.2 Quan ₫iểm, nội dung vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh

về ₫ào tạo và sử dụng cán bộ trong giai ₫oạn hiện nay 167

KẾT LUẬN 175

Trang 5

MỞ ĐẦU

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến cán bộ. Từ khi chuẩn  bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Người đã trực tiếp mở lớp huấn luyện cán bộ. Đến khi giành được chính quyền, việc huấn luyện cán bộ càng được chú trọng, quy mô huấn luyện ngày càng được mở rộng. Trước lúc đi xa, Người còn căn dặn: bồi dưỡng cán bộ cách mạng cho đời sau là một công việc quan trọng 

và  cần  thiết.  Nhận  thức  được  tầm  quan  trọng  và  giá  trị  của  tư tưởng  Hồ  Chí  Minh  về  công  tác  cán  bộ  nói  chung  và  việc  huấn luyện  cán  bộ  nói  riêng,  trong  những  năm  qua,  các  nhà  khoa  học Việt  Nam  đã  có  khá  nhiều  công  trình  nghiên  cứu  liên  quan  đến 

vấn đề này. Trong đó có các công trình tiêu biểu như: Hồ Chí Minh 

với vấn đề đào tạo cán bộ (Đức Vượng, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà 

Nội, 1995); Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề cán bộ và công 

tác cán bộ trong sự nghiệp đổi mới hiện nay (Nxb. Chính trị Quốc gia, 

Hà  Nội,  1997);  Luận  cứ  khoa  học  cho  việc  nâng  cao  đội  ngũ  cán  bộ 

trong  thời  kỳ  đẩy  mạnh  công  nghiệp  hóa,  hiện  đại  hóa  đất  nước 

(Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà 

Nội,  2001);  Tư  tưởng  Hồ  Chí  Minh  về  rèn  luyện  đạo  đức  cho  cán  bộ, 

đảng  viên  (Phạm  Quốc  Thành,  Nxb.  Chính  trị  Quốc  gia,  Hà  Nội, 

Trang 6

chuẩn  mực  của  cán  bộ;   Tuy  nhiên,  do  hạn  chế  về  chủ  quan  và khách quan mà nhiều vấn đề về cán bộ, đặc biệt là vấn đề đào tạo 

và sử dụng cán bộ trong tư tưởng Hồ Chí Minh chưa được nghiên cứu thấu đáo.  

Nội dung của cuốn sách phân tích vai trò của cán bộ và tầm quan trọng của việc đào tạo và sử dụng cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh; phân tích hệ thống các quan điểm Hồ Chí Minh về đào tạo và sử dụng cán bộ; phân tích làm sáng rõ giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo và sử dụng cán bộ. 

Thực tiễn lịch sử Việt Nam và thế giới đã chứng minh rằng 

sự thành công hay thất bại, tồn vong, thịnh suy của mọi quốc gia, chế độ đều phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ những người lãnh đạo, quản lý, điều hành và hiền tài của quốc gia.  

Theo Hồ Chí Minh, cán bộ là những người đem chính sách của Đảng và Chính phủ giải thích cho dân hiểu và đem nguyện vọng của dân  chúng báo  cáo Chính  phủ  để  đặt chính sách  cho  đúng. Người chỉ rõ, cán bộ là cái gốc của mọi công việc, muôn việc thành công hay thất bại là do cán bộ tốt hay kém. Chính vì vậy, đào tạo cán bộ theo nhu cầu của thực tiễn cách mạng và đòi hỏi của nhân dân luôn được đặt ra như một trong những vấn đề cốt yếu. Hồ Chí Minh luôn coi việc huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng. 

Thấm  nhuần  tư  tưởng  Hồ  Chí  Minh  về  cán  bộ  và  công  tác cán bộ, Đảng ta đã xây dựng được một đội ngũ cán bộ đông đảo làm  nòng  cốt  trong  việc  giải  phóng  dân  tộc  thành  công  và  xây dựng  chế  độ  mới  đạt  nhiều  thành  tựu.  Nước  ta  hiện  nay  đang đứng  trước  một  thời  kỳ  mới,  thời  cơ  nhiều  và  thách  thức  cũng không ít. Do vậy, hơn lúc nào hết, chúng ta ngày càng nhận thức đầy đủ hơn về ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác cán bộ nói chung và việc đào tạo và sử dụng cán bộ nói riêng. Mặt khác, thực tiễn  sinh  động  nảy  sinh  nhiều  vấn  đề  mới  đòi  hỏi  chúng  ta  phải xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự “hồng” ‐ “chuyên” thì mới đáp 

Trang 7

ứng  được  đòi  hỏi  trước  mắt  cấp  bách  cũng  như  yêu  cầu  lâu  dài của sự nghiệp cách mạng. 

bộ trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam, bồi dưỡng cán bộ của nước ta trong giai đoạn hiện nay. Kết quả của cuốn sách này sẽ giúp  cán  bộ,  đảng  viên  và  nhân  dân  nhận  thức  sâu  sắc  hơn  tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng của Người về đào tạo 

và sử dụng cán bộ nói riêng và vận dụng tư tưởng đó vào thực tiễn cách mạng nước ta.  

Từ  yêu  cầu  công  tác  chuyên  môn  và  tình  hình  nghiên  cứu thực tế, tác giả đặt ra mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau: làm rõ vai trò của cán bộ và tầm quan trọng của việc đào tạo và sử dụng cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh; xây dựng được hệ thống các quan điểm Hồ Chí Minh về đào tạo và sử dụng cán bộ; nêu được giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo 

và sử dụng cán bộ. 

Các tác giả 

Trang 8

 

Trang 9

Chương 1

VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA CÁN BỘ VÀ TẦM QUAN TRỌNG

CỦA VIỆC ĐÀO TẠO, SỬ DỤNG CÁN BỘ

1.1 Cán bộ - quan niệm, vị trí, vai trò

Cán bộ là một thuật ngữ được cho là du nhập vào nước ta từ 

Trung Quốc với hai nghĩa cơ bản là: Nghĩa thứ nhất là cái khung, cái  khuôn  (khung  ảnh),  nghĩa  thứ  hai  là  người  nòng  cốt,  những người chỉ huy quân đội, trong một cơ quan tổ chức làm nòng cốt. 

Khi du nhập vào nước ta, thuật ngữ cán bộ đã biến đổi không còn 

nguyên nghĩa gốc, song hàm nghĩa bộ khung, người làm nòng cốt, người làm chỉ huy luôn được lưu giữ và nhận thức. 

Thuật ngữ cán bộ được sử dụng phổ biến ở Việt Nam từ sau 

Cách  mạng  tháng  Tám  năm  1945,  khi  Đảng  lãnh  đạo  nhân  dân Tổng khởi nghĩa thắng lợi, giành chính quyền nhà nước, lập nên nước  Việt  Nam  Dân  chủ  Cộng  hòa.  Kể  từ  đây,  Đảng  trở  thành Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội thực hiện những bước đầu tiên trong xây dựng chế độ mới, cuộc sống mới. Trong điều  kiện  đó,  cán  bộ  là  vấn  đề  có  tầm  quan  trọng  đặc  biệt  trước yêu  cầu  vừa  cấp  bách,  vừa  có  tính  cơ  bản  lâu  dài  của  sự  nghiệp cách mạng. 

Cách hiểu được cho là rộng nhất về cán bộ, xem cán bộ gồm tất cả những người thoát ly, hưởng lương, phụ cấp từ ngân sách 

Trang 10

Nhà  nước,  làm  việc  trong  bộ  máy  chính  quyền,  trong  hệ  thống chính trị. Đây là quan niệm thông dụng ở nước ta, đặt cơ sở đầu tiên  phân  biệt  cán  bộ  với  các  thành  phần  khác  trong  xã  hội,  với những công dân là người lao động không hưởng lương, phụ cấp 

Luật  Cán  bộ,  công  chức  được  Quốc  hội  nước  Cộng  hòa  xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008, tại Điều 4 nêu: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được  bầu  cử,  phê  chuẩn,  bổ  nhiệm  giữ  chức  vụ,  chức  danh  theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, 

tổ  chức  chính  trị  ‐  xã  hội  ở  trung  ương,  ở  tỉnh,  thành  phố  trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị  xã,  thành  phố  thuộc  tỉnh  (sau  đây  gọi  chung  là  cấp  huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước”.  

       

1 Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng ‐ Trung tâm Từ điển học 

‐ Hà Nội ‐ Đà Nẵng, 2003, tr. 109. 

2 Nguyễn Như Ý, Đại từ điển tiếng Việt, Nxb. Văn hoá thông tin, H, 1999,  tr. 249. 

Trang 11

Trên thực tế xem xét cán bộ dưới góc độ hưởng lương, phụ cấp  phân  theo  ngạch,  bậc;  phụ  cấp  trách  nhiệm;  phụ  cấp  nghiệp 

vụ thì quan niệm “cán bộ” chưa bao quát hết. Để phát huy hết vai 

trò,  chức  năng  nghiệp  vụ  của  cán  bộ  và  luật  pháp  hóa  công  tác 

quản lý cán bộ, khái niệm “cán bộ” đã được bổ sung và cụ thể hơn 

bằng những khái niệm gần nghĩa như khái niệm công chức, viên chức  Cũng tại Điều 4, Luật Cán bộ, công chức nêu: 

‐  “Công  chức  là  công  dân  Việt  Nam,  được  tuyển  dụng,  bổ nhiệm  vào  ngạch,  chức  vụ,  chức  danh  trong  cơ  quan  của  Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị ‐ xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân  dân  mà  không  phải  là  sĩ  quan,  quân  nhân  chuyên  nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong 

bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị ‐ xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương  từ  ngân  sách  Nhà  nước;  đối  với  công  chức  trong  bộ  máy lãnh  đạo,  quản  lý  của  đơn  vị  sự  nghiệp  công  lập  thì  lương  được bảo  đảm  từ  quỹ  lương  của  đơn  vị  sự  nghiệp  công  lập  theo  quy định của pháp luật”.  

‐ “Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) 

là  công  dân  Việt  Nam,  được  bầu  cử  giữ  chức  vụ  theo  nhiệm  kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó  Bí  thư  Đảng  ủy,  người  đứng  đầu  tổ  chức  chính  trị  ‐  xã  hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước”.  

Trong thực tế, một số người đã hiểu lệch lạc cho rằng những 

khái  niệm  trên  độc  lập  với  khái  niệm  cán  bộ,  thậm  chí  một  số 

Trang 12

người  còn  cho  rằng  viên  chức  không  phải  là  cán  bộ  hoặc  cán  bộ chỉ  là  những  người  được  tuyển  dụng,  bầu  làm  lãnh  đạo  còn  lại những người gọi theo chuyên môn, chức vụ không phải là cán bộ. Hiểu  như  vậy  gây  ra  nhiều  trở  ngại  trong  tư  duy  thông  thường của đại bộ phận quần chúng và quan niệm về cán bộ. Để đảm bảo nhận  thức  thống  nhất,  không  phức  tạp  hóa  vấn  đề,  không  mâu thuẫn  giữa  cán  bộ,  công  chức,  viên  chức  với  cán  bộ  cần  có  sự 

thống  nhất  khái  niệm  coi  “cán  bộ”  là  khái  niệm  gốc,  chung  nhất. 

Tiếp cận khái niệm cán bộ từ nhiều phương diện, có thể rút ra  kết luận cần hiểu khái niệm cán bộ theo hai nghĩa: 

Theo  nghĩa  rộng,  cán  bộ  là  tất  cả  những  người  đảm  đương 

một công việc nào đó hay giữ một chức trách, một cương vị trong Đảng,  Nhà  nước,  cơ  quan,  ban  ngành,  tổ  chức  chính  trị  xã  hội, đoàn  thể,  đơn  vị  sự  nghiệp   hưởng  lương  và  phụ  cấp  từ  ngân sách Nhà nước hoặc một phần từ ngân sách Nhà nước theo quy định  của  Hiến  pháp,  pháp  luật  và  những  chính  sách  hiện  hành của  Nhà  nước.  Họ  là  những  người  công  bộc  của  dân,  phục  vụ nhân dân. 

Theo  nghĩa  hẹp,  cán  bộ  theo  nghĩa  hẹp  vừa  là  cán  bộ  theo 

nghĩa  rộng,  vừa  có  nét  đặc  thù  do  bầu  cử,  đề  bạt,  cân  nhắc,  bổ nhiệm theo quy trình của công tác tổ chức cán bộ và các cấp quản 

lý ra quyết định, giao nhiệm vụ giữ cương  vị trong bộ máy lãnh đạo  của  cơ  quan  Trung  ương  hoặc  địa  phương,  hưởng  phụ  cấp 

Trang 13

Tựu  trung  lại,  “Cán  bộ”  là  từ  chỉ  tất  cả  những  người  được 

đảm đương thực hiện, gánh vác một công việc, nhiệm vụ nào đó 

do Đảng, Nhà nước,  các tổ chức chính trị xã hội, đoàn thể thông qua công tác tổ chức cán bộ và các cấp quản lý quyết định tuyển dụng, tiến cử, bổ nhiệm, đề bạt, cân nhắc giao cho, phân công cho nhiệm vụ nào đó để phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc. Lương 

và phụ cấp của cán bộ được hưởng từ ngân sách hoặc một phần từ ngân  sách  Nhà  nước  theo  quy  định  của  Hiến  pháp,  pháp  luật, pháp  lệnh  của  Nhà  nước  cùng  với  những  chính  sách  cụ  thể  do Nhà nước ban hành. 

Theo  quan  niệm  trên,  cán  bộ  có  thể  được  phân  loại  theo nhiều tiêu chí khác nhau tùy vào vị trí, vai trò, chức năng của từng loại cán bộ quy định. 

Theo chức vụ phân công trong cơ quan đơn vị tổ chức có thể phân chia cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ chủ chốt. 

Theo phân cấp hệ thống hành chính có thể phân chia thành cán bộ Trung ương, cán bộ địa phương cơ sở. 

Theo  nhiệm  vụ  trong  hệ  thống  chính  trị  có  thể  phân  chia thành  cán  bộ  Đảng,  cán  bộ  chính  quyền,  cán  bộ  đoàn  thể.  Theo chuyên môn nghiệp vụ có thể chia thành cán bộ hành chính, cán 

bộ nghiệp vụ  

Theo  phân  định  công  việc  có  thể  chia  thành  cán  bộ  chuyên trách, cán bộ kiêm nhiệm, chuyên gia,  

Chủ nghĩa Mác ‐ Lênin đặc biệt quan tâm đến vấn đề cán bộ, xem là khâu đặc biệt quan trọng quyết định việc hiện thực hóa lý luận  khoa  học  và  cách  mạng.  Những  điều  kiện  hiện  thực  khiến cho Mác và Ăngghen chưa có thực tế để đề  cập nhiều về vấn đề 

Trang 14

cán  bộ  và  công  tác  cán  bộ.  Tuy  nhiên,  các  ông  rất  quan  tâm  đến xây dựng đội ngũ những nhà tuyên truyền, cổ động, truyền bá tư tưởng cộng sản, gây dựng phong trào công nhân để lập ra những đảng  cách  mạng  chân  chính.  Các  ông  không  chỉ  đề  cập  đến  sự xuất  hiện  của  những  con  người  vĩ  đại  trong  mỗi  thời  đại  xã  hội, 

mà còn cho rằng “muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người  sử  dụng  lực  lượng  thực  tiễn”1.  Những  người  sử  dụng  lực lượng thực tiễn, những nhà tuyên truyền, cổ động, truyền bá, gây dựng  mà  hai  ông  nói,  thực  chất,  là  những  cán  bộ  chuyên  nghiệp của Đảng trong điều kiện hoạt động bí mật. 

C.Mác  và  Ph.Ăng  ghen  còn  khẳng  định  trong  cán  bộ,  có  bộ phận những người cộng sản ưu tú là nhân tố tích cực để thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển theo con đường tự giác, các ông khái  quát:  “Về  mặt  thực  tiễn,  những  người  cộng  sản  là  bộ  phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận  luôn  luôn  thúc  đẩy  phong  trào  tiến  lên;  về  mặt  lý  luận,  họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản”2. V.I.Lênin  đã  bảo  vệ  và  phát  triển  những  quan  điểm  của C.Mác và khẳng định: “Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào dành  được  quyền  thống  trị,  nếu  nó  không  đào  tạo  ra  được  hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiên phong 

có đủ khả năng tổ chức lãnh đạo phong trào”3. 

Từ  việc  xác  định  đường  lối,  nhiệm  vụ  chính  trị  đúng,  cho đến khi biến đường lối nhiệm vụ chính trị đó thành hiện thực cách mạng thì phải trải qua một quá trình, trong quá trình này, vấn đề 

tổ chức cán bộ có ý nghĩa quyết định. Nếu không có đội ngũ cán        

1 C.Mác và Ăngghen, Toàn tập, t.2, Nxb. Chính trị Quốc gia, H. 2000, tr. 181. 

2 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, t.4, sđd, tr. 614‐615. 

3 V.I Lênin, Toàn tập, t.4, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1974, tr. 473. 

Trang 15

bộ  tốt  thì  đường  lối  nhiệm  vụ  đề  ra  dù  đúng  cũng  chỉ  dừng  lại trên giấy tờ. Lênin chỉ rõ: “Nghiên cứu con người, tìm những cán 

bộ  có  bãn  lĩnh,  hiện  nay  là  then  chốt;  nếu  không  thì  tất  cả  mọi mệnh lệnh và quyết định sẽ chỉ là mớ giấy lộn”1. 

Vì vậy, Lênin luôn luôn gắn vấn đề kiện toàn tổ chức và hoạt động của bộ máy với xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt của Đảng và Nhà nước. Người nhấn mạnh “Tổ chức, tổ chức 

và tổ chức”, “nếu cho tôi tổ chức những người cách mạng, tôi sẽ làm  đảo  lộn  được  nước  Nga”.  Tổ  chức  mà  Lênin  nhắc  đến  bao gồm “những nhà chính trị của giai cấp thực sự của mình, những nhà chính trị vô sản và không thua kém các nhà chính trị của giai cấp tư sản”. Lênin còn chỉ rõ cán bộ cách mạng: “Là những người biết  cách  biến  cái  sắc  lệnh  từ  trạng  thái  giấy  lộn  đầy  bụi  bặm thành  thực  tiễn  cuộc  sống”.  Lênin  khẳng  định  đội  ngũ  cán  bộ  là nhân  tố  đảm  bảo  vai  trò  lãnh  đạo  của  Đảng  Cộng  sản:  “Người cộng sản chỉ có một cách duy nhất để chứng minh quyền lãnh đạo của mình đó là tìm cho được ngày càng nhiều những người phụ 

tá,  biết  giúp  đỡ  họ  làm  việc,  biết  đề  bạt  họ,  biết  giới  thiệu  họ  và chú ý đến kinh nghiệm của họ”2. 

Trong quá trình hoạt động cách mạng, từ lúc ra đi tìm đường cứu  nước  đến  khi  sáng  lập  và  lãnh  đạo  Đảng  và  Nhà  nước  ta,     

Hồ  Chí  Minh  đặc  biệt  quan  tâm đến  vấn  đề  cán  bộ  và xây  dựng đội  ngũ  cán  bộ  cho  sự  nghiệp  cách  mạng.  Trên  cơ  sở  vận  dụng sáng tạo những quan điểm của chủ nghĩa Mác ‐ Lênin về cán bộ 

và công tác cán bộ, kế thừa và phát triển những tư tưởng tiến bộ trong lịch sử dân tộc, phù hợp với tiến trình cách mạng Việt Nam, 

Hồ Chí Minh đã hình thành những quan niệm hết sức khúc chiết, sáng tạo và toàn diện về cán bộ và đội ngũ cán bộ. 

       

1 V.I Lênin, Toàn tập, t.44, sđd, tr. 449. 

2 V.I Lênin, Toàn tập, t.4, sđd, tr. 473. 

Trang 16

Hồ Chí Minh thường quan niệm về cán bộ với nghĩa bao quát nhất, phổ thông nhất. Theo Người, nói ngắn gọn, cán bộ là công bộc của nhân dân, “làm cán bộ tức là suốt đời làm đầy tớ trung thành của nhân  dân”. Điều  này hoàn  toàn khác với  “phụ mẫu chi dân”, chăn dắt người dân trong các triều đại phong kiến và bọn quan lại thực dân “đè đầu cưỡi cổ nhân dân” thời kỳ trước đây.  

Thông  qua  các  mối  quan  hệ,  Hồ  Chí  Minh  quan  niệm  về người cán bộ rất cụ thể, dễ hiểu, nhưng thể hiện chiều sâu lý luận. Trước hết và xuyên suốt, không chỉ đối với vấn đề cán bộ, mà toàn 

bộ cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh thường xét trong mối quan 

hệ với nhân dân. Từ nhận thức đúng đắn về vai trò và sức mạnh của  nhân  dân,  Người  khẳng  định  “cách  mạng  là  sự  nghiệp  của quần  chúng”.  Muốn  có  cách  mạng  và  để  cách  mạng  thắng  lợi,     

Hồ  Chí  Minh  đặt  lên  đầu  tiên  vấn  đề  giác  ngộ  nhân  dân.  “Cách mạng  trước  phải  làm  cho  dân  giác  ngộ”.  Công  việc  ấy  cần  có những người cách mạng “đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức 

họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”. Người cách mạng đó ‐ tức là đội ngũ những người “giác ngộ dân chúng”, tập hợp và phát huy sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân – trước hết là cán bộ. 

Trong  tác  phẩm  Sửa  đổi  lối  làm  việc,  với  tinh  thần  như  trên, 

Hồ  Chí  Minh  khẳng  định:  “Cán  bộ  là  những  người  đem  chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi  hành.  Đồng  thời  đem  tình  hình  của  dân  chúng  báo  cáo  cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng”1. Cán 

bộ  không  những  chỉ  là  người  có  vai  trò  giác  ngộ  và  hướng  dẫn, lãnh  đạo  quần  chúng  mà  còn  là  “chiếc  cầu  nối”  giữa  Đảng,  Nhà nước với nhân dân, là “công bộc” của nhân dân.  

       

1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.5, Sđd, tr. 269. 

Trang 17

để con người. Cũng chính từ chiều sâu triệt để ấy của cách mệnh, Nguyễn Ái Quốc xác định “Sửa cái xã hội cũ đã mấy ngàn năm làm 

xã hội mới, ấy là rất khó”, bởi nó liên quan trực tiếp đến con người, khó nhận biết, khó giải quyết. Vì lẽ đó, việc cách mạng phải có sự đồng tâm, hiệp lực của nhiều người, phải tiến hành lâu dài, đời này làm  chưa  xong  thì  đời  sau  nối  theo  làm  thì  phải  xong.  Trong  lực lượng  đông  đảo  thực  hiện  việc  cách  mạng  ấy,  Hồ  Chí  Minh     khẳng định “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; cây phải có gốc, không  có  gốc  thì  cây  chết;  việc  cách  mạng  cũng  như  cây,  cán  bộ cách  mạng  là  gốc  cây,  quyết  định  mọi  sự  thành  bại;  “Muôn  việc thành  công  hoặc  thất  bại,  đều  do  cán  bộ  tốt  hoặc  kém”1.  Quan niệm này thể hiện chiều sâu tư duy chính trị của Hồ Chí Minh. Xét  trong  mối  quan  hệ  với  bộ  máy  (cơ  quan,  tổ  chức,  lãnh đạo, quản lý), Hồ Chí Minh quan niệm: “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ 

dù tốt, toàn bộ máy cũng tê liệt. Cán bộ là người đem chính sách của Chính phủ, của Đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ 

dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được”2. Đời sống kinh  tế  ‐  xã  hội  và  toàn  bộ  sự  nghiệp  cách  mạng  là  một  cỗ  máy khổng  lồ.  Trong  cỗ  máy  đó,  cán  bộ  là  dây  chuyền.  Hồ  Chí  Minh quan niệm “dây chuyền” với ý nghĩa cán bộ và đội ngũ cán bộ là mắt xích liên kết các bộ phận của bộ máy, là hệ thống chuyển tải năng lượng đến từng bộ phận của bộ máy.  

       

1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.5, sđd, tr. 240. 

2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.5, sđd, tr.54. 

Trang 18

Trong bộ  máy tổ chức cách mạng, Đảng  đóng vai  trò quyết định.  Hồ  Chí  Minh  khẳng  định  cách  mệnh  “trước  hết  phải  có Đảng  cách  mệnh”;  “Đảng  có  vững  cách  mệnh  mới  thành  công cũng như người cầm lái có vững, thuyền mới chạy”. Để lãnh đạo cách mạng, thì Đảng: 

bộ,  do  nơi  kiểm  tra.  Nếu  ba  điểm  ấy  sơ  sài,  thì  chính  sách  đúng mấy  cũng  vô  ích”2.  Với  cách  đặt  vấn  đề  như  vậy,  Hồ  Chí  Minh 

quan niệm “cán bộ là tiền vốn của Đoàn thể”. Có vốn mới làm ra 

lãi. Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức là có lãi. Không có cán bộ tốt thì hỏng việc, tức lỗ vốn”3. Cũng với  quan  niệm  ấy,  Hồ  Chí  Minh  nói  “Cán  bộ  là  tướng  của  đoàn thể”, người tướng ấy quyết định hoạt động của đoàn thể. 

Trong quan niệm về cán bộ, Hồ Chí Minh cũng đồng thời chỉ 

ra vị trí, vai trò của người cán bộ cách mạng. Luận điểm khái quát nhất của Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của cán bộ là: cán bộ vừa là người  lãnh  đạo,  vừa  là  người  đày  tớ  thật  trung  thành  của  nhân dân. Như  vậy, vị  trí,  vai trò của cán bộ cũng được Hồ Chí  Minh 

       

1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.5, sđd, tr.285. 

2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.5, sđd, tr.154. 

3 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.6, sđd, tr.46. 

Trang 19

xem xét chủ yếu trong mối quan hệ với nhân dân. Ở đây, dễ nhận thấy Hồ Chí Minh đồng thời nhắc đến yếu tố “lãnh đạo” và “đầy tớ”  trong  cùng  một  con  người.  Hai  trong  một  đều  thể  hiện  quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh khi nói đến vị trí, vai trò của cán 

bộ. Nói đến lãnh đạo là nói đến quyền lãnh đạo của người cán bộ. Quyền ấy, xét cho cùng, do nhân dân ủy thác. Làm lãnh đạo, cũng 

có  nghĩa  người  cán  bộ  phải  đứng  ở  vị  trí  tiên  phong,  đứng  mũi chịu sào, đóng vai trò dẫn đường, tổ chức nhân dân. Nhưng lãnh đạo  không  phải  để  “vinh  thân  phì  gia”,  cốt  sao  mình  béo  mặc thiên hạ gầy, mà là để phục vụ nhân dân, tức muốn nói đến nghĩa 

vụ, bổn phận của người cán bộ. Làm đầy tớ, cũng có nghĩa người cán  bộ  phải  đứng  ở  vị  trí  lo  trước  cái  lo  của  dân,  hưởng  sau  cái hưởng của dân.  

Trong những mối quan hệ cụ thể với đường lối chính sách, 

tổ chức (bao gồm cả bộ máy lãnh đạo, quản lý), công việc, Hồ Chí Minh  chỉ  ra  vị  trí,  vai  trò  của  cán  bộ  với  những  thuật  ngữ  minh họa  dễ  hiểu  nhưng  sâu  sắc:  gốc,  dây  chuyền,  người  đem  (chính sách, tình hình), tướng, tiền vốn,  Điều khẳng định đầu tiên, cán 

bộ  là  thành  phần  của  tổ  chức,  nhưng  khác  với  thành  phần  khác trong  tổ  chức,  hơn  nữa  là  khác  với  nhân  dân  ở  chỗ  họ  là  thành phần  ưu  tú  nhất,  có  vị  trí  là  dây  chuyền  của  bộ  máy  Đảng,  Nhà nước,  đoàn  thể  nhân  dân,  “là  những  người  đem  chính  sách  của Đảng,  của  Chính  phủ  giải  thích  cho  dân  chúng  hiểu  rõ  và  thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”. Cán bộ có vị trí chủ thể của sự nghiệp cách mạng nước ta do Đảng lãnh đạo. Vị trí lãnh đạo, vị trí chủ thể của cán bộ là do Đảng, Nhà nước, đoàn thể  phân  công,  và  quyền  lực  của  cán  bộ cũng  như  nhiệm  vụ của người  cán  bộ  là  do  nhân  dân  giao  cho.  Cán  bộ  luôn  đứng  đầu trong  tổ  chức  cách  mạng,  khi  thực  hiện  việc  cách  mạng.  Hồ  Chí Minh  xem  ʺCán  bộ  là  tướng  của  đoàn  thể”,  quyết  định  hiệu  quả 

Trang 20

hoạt động của đoàn thể. Hồ Chí Minh viết: “Cán bộ làm đúng kế hoạch  của  đoàn  thể,  có  mưu  trí,  được  quần  chúng  tin  yêu,  kiên quyết,  gan  góc,  giữ  đúng  kỷ  luật,  biết  làm  cho  dân  chúng  cùng đoàn thể sống chết mà không sợ nguy hiểm mới là tướng giỏi của đoàn thể. Như thế thì cách mạng nhất định chóng thành công”1. 

Về vai trò của cán bộ, Hồ Chí Minh khẳng định rằng: cán bộ 

là  cái  gốc  của  mọi  công  việc;  muôn  việc  thành  công  hay  thất  bại đều  là  do  cán  bộ  tốt  hay  kém.  Với  ý  nghĩa  như  vậy,  chúng  ta  có thể hiểu rằng, cán bộ là lực lượng tinh tuý nhất của xã hội, có vị trí vừa  tiên  phong  vừa  là  trung  tâm  của  xã  hội  và  có  vai  trò  cực  kỳ quan trọng của hệ thống chính trị nước ta.  

Tóm lại, cán bộ theo quan niệm của Hồ Chí Minh là một khái niệm “mở”. Tư tưởng Hồ Chí Minh đề cập cán bộ ở nhiều góc độ, nhiều mối quan hệ và được thể hiện ở nhiều cách khác nhau, phù hợp  các  vị  trí  vai  trò  của  họ  trong  toàn  bộ  sự  nghiệp  cách  mạng của Đảng. Nhưng về cơ bản, Người xem: “cán bộ là những người đem  chính  sách  của  Đảng,  của  Chính  phủ  giải  thích  cho  dân chúng  hiểu  rõ  và  thi  hành.  Đồng  thời  đem  tình  hình  của  dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho  đúng”2.  Đó  là  những  người  hội  đủ  phẩm  chất  đạo  đức  và năng lực nhất định để đảm đương được yêu cầu và nhiệm vụ của 

sự  nghiệp  cách  mạng,  vừa  là  người  lãnh  đạo  vừa  là  đầy  tớ  thật trung thành của nhân dân. “Cán bộ” là một danh từ chỉ lớp người 

là những chiến sĩ cách mạng, lớp người mới sẵn sàng chịu đựng gian  khổ,  hy  sinh,  gắn  bó  với  nhân  dân,  phục  vụ  cho  sự  nghiệp cao  cả  giành  độc  lập,  tự  do  và  phát  triển  dân  tộc.  “Cán  bộ”  trở thành danh xưng mang ý nghĩa tôn vinh, để dấu ấn đẹp trong lịch 

       

1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, sđd, tr.515. 

2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.5, sđd, tr.269. 

Trang 21

1.2 Đào tạo, sử dụng cán bộ - quan niệm, tầm quan trọng

Đào tạo và sử dụng cán bộ là một bộ phận trong công tác cán 

bộ của Đảng. Cũng giống như vấn đề cán bộ, Hồ Chí Minh quan tâm nhiều đến công tác cán bộ của Đảng, trong đó có khâu đào tạo 

Hồ Chí Minh thường dùng nhiều thuật ngữ khác nhau để nói 

về hoạt động đào tạo cán bộ của Đảng như: đào tạo, giáo dục, huấn 

luyện,  nuôi  dạy,  rèn  luyện,…  Trong  đó,  Người  sử  dụng  phổ  biến 

thuật ngữ huấn luyện. Theo Hồ Chí Minh, huấn là dạy dỗ, luyện là  rèn giũa cho sạch những vết xấu xa trong đầu óc. Huấn luyện, hiểu 

rộng, là quá trình vừa giảng dạy, vừa hướng dẫn luyện tập. 

Những luận chứng về vị trí, vai trò của đào tạo và sử dụng cán bộ thường gắn liền với công tác cán bộ ‐ cái mà đào tạo và sử dụng là khâu hợp thành. 

Công  tác  cán  bộ  là  một  lĩnh  vực  hoạt  động  của  Đảng,  bao gồm: tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, 

Trang 22

Lịch sử thế giới cũng  như lịch sử Việt Nam đã để lại nhiều bài  học,  kinh  nghiệm  về  việc  đánh  giá,  lựa  chọn,  đào  tạo,  dùng người, dùng nhân tài. Sự thành công, thất bại của công việc hoặc 

sự tồn vong, thịnh suy của mọi quốc gia, chế độ đều phụ thuộc rất lớn  vào  đội  ngũ  những  người  lãnh  đạo,  quản  lý,  điều  hành,  vào hiền tài của quốc gia. Chính vua Lê Thánh Tông đã giao cho Thân Nhân  Trung  soạn  thảo  một  bài  văn  bia  đầu  tiên  ở  Văn  Miếu  – Quốc Tử Giám (Hà Nội) để nói về ý nghĩa của khoa thi Hội năm 

1442.  Trong  văn  bia  có  đoạn:  “Hiền  tài  là  nguyên  khí  quốc  gia, nguyên khí thịnh thì đất nước mạnh và càng lớn lao, nguyên khí suy thì thế nước yếu và càng xuống thấp. Bởi vậy, các bậc vua tài giỏi đời xưa, chẳng có đời nào lại không chăm lo nuôi dưỡng và đào tạo nhân tài bồi đắp thêm nguyên khí”. Trên văn bia khoa thi 

1715 dựng tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội) có ghi: Cây ở đỉnh núi kia tươi tốt vì ở đó có ngọc, nước dòng suối kia êm đềm 

vì ở dưới đó có châu, vận hội nước nhà được thịnh vượng, cơ đồ được vững vàng vì có hiền tài đông đúc như cây trong rừng. Đội ngũ  những  hiền  tài,  những  người  lãnh  đạo,  quản  lý  này  không phải tự nhiên mà có, tự nhiên phát huy được, mà phải thông qua quá  trình  phát  hiện,  tuyển  chọn,  đào  tạo,  bồi  dưỡng,  sử  dụng, đánh giá,…, ngày nay gọi là công tác cán bộ. 

C. Mác và Ph. Ăngghen đã nêu những tư tưởng cơ bản làm 

cơ sở nền tảng cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ của giai cấp công nhân,  cho  công  tác  cán  bộ  của  các  chính  đảng  cộng  sản.  Trong điều  kiện  lịch  sử  cụ  thể,  cách  mạng  chưa  nắm  chính  quyền,  Mác 

và Ăngghen đã quan tâm đến đội ngũ những nhà tuyên truyền cổ động,  truyền  bá  tư  tưởng  cộng  sản,  lãnh  đạo  tổ  chức  các  phong 

Trang 23

trào đấu tranh của giai cấp vô sản nhằm kết hợp với  phong trào công nhân để lập ra chính đảng của giai cấp công nhân. Đó là đội ngũ  cán  bộ  đầu  tiên  của  giai  cấp  vô  sản,  chính  họ  là  một  trong những nhân tố cơ bản quyết định sự thành công hay thất bại của cách  mạng,  có  vai  trò  quan  trọng  trong  sự  nghiệp  phát  triển  đất 

nước.  Trong  tác  phẩm  Gia  đình  thần  thánh,  C.Mác  khẳng  định: 

“Muốn thực hiện tốt những tư tưởng thì cần có những con người vận  dụng  một  lực  lượng  thực  tiễn”.  “Những  con  người”  mà C.Mác, Ph.Ăngghen nói trong tác phẩm chính là người cán bộ có nhiệm vụ lãnh đạo quần chúng thực hiện những cuộc cải cách có ý nghĩa  cách  mạng  sâu  sắc.  C.Mác  đã  đi  đến  kết  luận  rằng  bất  cứ một tư tưởng nào, dẫu cao siêu vĩ đại đến đâu thì vẫn mãi mãi là 

tư  tưởng  nếu  tư  tưởng  đó  không  có  con  người  truyền  bá,  vận dụng nó trong đời sống xã hội.  

Từ khi xuất hiện trên vũ đài lịch sử và trong phong trào cách mạng của giai cấp công nhân, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng cần phải có một đội ngũ cán bộ vừa có lòng trung thành với lý tưởng của giai cấp, vừa có tri thức lý luận và năng lực tổ chức thực tiễn mới có thể đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đó. Muốn có được đội ngũ như vậy, thì phải quan tâm đến việc phát hiện, lựa chọn, đào tạo,  rèn  luyện  nhà  cách  mạng  (được  hiểu  là  người  cán  bộ  lãnh đạo) thông qua phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, đội ngũ cán bộ có một vị trí rất  quan  trọng  cho  sự  ra  đời  của  Đảng  Cộng  sản.  Tuy  nhiên,  do những  điều  kiện  lịch  sử  lúc  ấy,  chưa  có  một  Đảng  Cộng  sản  nào giành được quyền lãnh đạo, nên hai ông viết chưa nhiều về cán bộ 

và công tác đào tạo cán bộ. Nhưng cuộc đời hoạt động cách mạng của C.Mác và Ph.Ăngghen trong những năm giữa đến cuối thế kỷ XIX  đã  để  lại  cho  giai  cấp  vô  sản,  phong  trào  cộng  sản  quốc  tế những tư tưởng quý báu, đặt tiền đề giúp cho chúng ta nghiên cứu, suy nghĩ về vấn đề cán bộ trong đó có công tác đào tạo cán bộ. 

Trang 24

Nghiên  cứu  những  tác  phẩm  và  tư  tưởng  của  V.I.Lênin  từ những ngày đầu thành lập Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, chúng  ta  thấy  ông  rất  quan  tâm  đến  công  tác  cán  bộ,  vì  vậy        V.I. Lê‐nin quyết định mở các trường đào tạo và Người trực tiếp giảng dạy ở các trường đó. Chính đội ngũ cán bộ được đào tạo đã góp  phần  làm  nên  thắng  lợi  cách  mạng  xã  hội  chủ  nghĩa  tháng Mười Nga năm 1917 cũng như công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước Xô viết sau này.  

Lênin kế thừa và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác, đã đặc biệt coi trọng “đội ngũ những nhà chính trị của giai cấp “thực sự của mình”, những nhà chính trị vô sản và không thua kém các nhà chính trị của giai cấp tư sản”. V.I.Lênin chỉ rõ: “Trong lịch sử chưa 

hề có giai cấp nào giành được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiên phong có khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào”. Người  luận  giải  rằng:  “ Chính  trị  là  một  khoa  học  và  một  nghệ thuật  không  phải  từ  trên  trời  rơi  xuống,  mà  đòi  hỏi  một  sự  cố gắng, rằng giai cấp vô sản muốn thắng giai cấp tư sản thì phải đào tạo  lấy  “những  nhà  chính  trị  giai  cấp”  thực  sự  của  mình,  những nhà chính trị vô sản và không thua kém các nhà chính trị của giai cấp tư sản”. 

Khi  có  chính  quyền  lãnh  đạo  xây  dựng  chủ  nghĩa  xã  hội, Lênin khẳng định: “Nghiên cứu  con người, tìm những cán bộ có bản  lĩnh,  hiện  nay  đó  là  then  chốt;  nếu  không  thế  thì  tất  cả  mọi mệnh lệnh và quyết định sẽ chỉ là mớ giấy lộn”. Lênin còn chỉ rõ, trong bất kỳ giai đoạn nào của cách mạng, “người cộng sản lãnh đạo chỉ có một cách duy nhất để chứng minh quyền lãnh đạo của mình,  đó  là  tìm  cho  mình  được  nhiều,  càng  ngày  càng  nhiều những  người  phụ  tá…  biết  giúp  đỡ  họ  làm  việc,  biết  đề  bạt  họ, biết  giới  thiệu  và  chú  ý  đến  kinh  nghiệm  của  họ”.  Khi  vào  giai đoạn công nghiệp hóa xây dựng đất nước, Lênin đặc biệt coi trọng 

Trang 25

đội  ngũ  cán  bộ  khoa  học  –  kỹ  thuật  và  quan  tâm  tới  đội  ngũ  trí thức  của  giai  cấp  công  nhân,  coi  đây  là  điều  kiện  xây  dựng  chủ nghĩa xã hội: “Không có sự chỉ đạo của các chuyên gia am hiểu các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và có kinh nghiệm, thì không thể nào chuyển lên chủ nghĩa xã hội được, vì chủ nghĩa xã hội đòi hỏi một bước tiến có ý thức và có tính chất quần chúng để đi tới một năng suất lao động cao hơn năng suất của chủ nghĩa tư bản dựa trên cơ 

sở những kết quả mà chủ nghĩa tư bản đã đạt được”. 

Trong quá trình xây dựng Đảng, công tác cán bộ là một trong những công tác chiếm vị trí quan trọng hàng đầu, có vai trò quyết định  thành  công  tới  toàn  bộ  công  tác  xây  dựng  lực  lượng  cách mạng của Đảng. Khi nào, nơi nào làm tốt công tác cán bộ thì khi 

đó, nơi đó cách mạng sẽ có nhiều thuận lợi và giành được thắng lợi, và ngược lại. Hồ Chí Minh khẳng định: “Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách  tổ  chức  công  việc,  nơi  lựa  chọn  cán  bộ,  và  do  nơi  kiểm  tra. Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích”1.  Công  tác  cán  bộ  phải  xuất  phát  từ  đường  lối  chính  trị  và nhiệm vụ tổ chức của Đảng trong từng thời kỳ và phục vụ đường lối,  nhiệm  vụ  đó.  Đường  lối  chính  trị  quyết  định  nhiệm  vụ  tổ chức, trong đó có công tác cán bộ. Có đường lối chính trị và nhiệm 

vụ tổ chức đúng thì mới có phương hướng và nội dung đúng để xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh. Ngược lại, đội ngũ cán bộ 

có  chất  lượng  cao,  bảo  đảm  cho  tổ  chức  đảng  và  Nhà  nước  phát huy được hiệu lực và đường lối chính trị của Đảng được thực hiện thắng lợi. 

Khi Đảng đã có đường lối chính trị đúng đắn thì công tác cán 

bộ là nhân tố quyết định sự thành công của nhiệm vụ cách mạng. Phải từ đường lối chính trị mà suy nghĩ và giải quyết vấn đề cán        

1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.5, sđd, tr.250. 

Trang 26

bộ. Toàn bộ công tác cán bộ, chính sách cán bộ phải đảm bảo cho đường lối chính trị của Đảng được thực hiện thắng lợi trong cuộc sống. Nhiệm vụ cách mạng đòi hỏi Đảng ta phải xây dựng được một  đội  ngũ  cán  bộ  ngang  tầm,  bảo  đảm  thực  hiện  đường  lối chính trị đổi mới của Đảng, tiêu biểu cho đường lối chính trị đó, tuyệt  đối  trung  thành  với  đường  lối  chính  trị  đó,  quán  triệt  sâu sắc, kiên quyết đấu tranh thực hiện thắng lợi đường lối chính trị 

đó và những nhiệm vụ do Đảng đề ra với một lập trường, nguyên tắc không gì có thể lay chuyển được, với quyết tâm cao nhất, với đầy  đủ  những  tri  thức  cần  thiết,  với  khả  năng  chấp  hành  đường lối của Đảng một cách sáng tạo. Khả năng và hiệu lực hoạt động của  những  con  người  như  thế  phụ  thuộc  rất  lớn  vào  công  tác  tổ chức  nói  chung,  công  tác  cán  bộ  nói  riêng,  đặc  biệt  trong  đó  là khâu đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng. 

Với quan điểm đó, cả cuộc đời mình, Hồ Chí Minh luôn luôn chú trọng đến công tác cán bộ, từ đánh giá, lựa chọn, huấn luyện, thử thách, rèn luyện, sử dụng, đãi ngộ. Sau năm 1920, khi đã trở thành  người  cộng  sản,  tìm  thấy  con  đường  cứu  nước  đúng  đắn, 

Hồ Chí  Minh đã  tích  cực chuẩn bị cả về tư tưởng chính trị và tổ chức  cho  sự  ra  đời  của  Đảng  Cộng  sản  Việt  Nam.  Một  trong những nhiệm vụ quan trọng của Hồ Chí Minh là tìm kiếm những thanh niên Việt Nam yêu nước, đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện họ trong  tổ  chức  Hội  Việt  Nam  Cách  mạng  Thanh  niên;  gửi  những người  ưu  tú  hoặc  có  nhiều  triển  vọng  tốt  vào  đào  tạo  tại  các trường  của  Trung  Quốc  và  của  Quốc  tế  Cộng  sản.  Từ  khi  thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930 trở đi, Hồ Chí Minh luôn luôn chú ý huấn luyện và xây dựng lực lượng cán bộ. Chính 

do  như  vậy,  cho  nên  Đảng  đã  lãnh  đạo  thành  công  Cách  mạng tháng  Tám  năm  1945,  lãnh  đạo  thắng  lợi  hai  cuộc  kháng  chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. 

Trang 27

Như vậy, công tác cán bộ là một trong những vấn đề có tầm quan  trọng  quyết  định  đối  với  toàn  bộ  sự  nghiệp  cách  mạng  do Đảng lãnh đạo, đối với sự hoạt động và trưởng thành của Đảng. Bởi vì, cán bộ của Đảng là người góp phần tích cực vào quá trình xây  dựng,  giữ  gìn,  cụ  thể  hóa,  phát  triển  và  tổ  chức  thực  hiện thắng lợi đường lối chính sách của Đảng. Hội nghị Trung ương 3 

khóa VIII Về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện 

đại hóa đất nước đã khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự 

thành  bại  của  cách  mạng,  gắn  liền  với  vận  mệnh  của  Đảng,  của đất  nước  và  chế  độ,  là  khâu  then  chốt  trong  công  tác  xây  dựng Đảng”  (Nghị  quyết  số  3NQ/HNTW  ngày  18  tháng  6  năm  1997). 

“Cán bộ quyết định” nói cho cùng là công tác cán bộ quyết định. Công  tác  cán  bộ  là  cơ  sở  quan  trọng  đầu  tiên  minh  chứng tầm quan trọng của đào tạo và sử dụng cán bộ. Nói đến vị trí, vai trò  của  công  tác  cán  bộ  cũng  bao  hàm  trong  đó  tầm  quan  trọng của các bộ phận hợp thành, trong đó có đào tạo và sử dụng. Trong các khâu của công tác cán bộ, đào tạo và sử dụng là mắt xích quan trọng,  gắn  liền  với  tuyển  chọn  và  đánh  giá  cán  bộ,  đảm  bảo  cho công tác cán bộ được tiến hành suôn sẽ, nhịp nhàng, hiệu quả. Ngoài  ra,  việc  xác  định  tầm  quan  trọng  của  đào  tạo  và  sử dụng cán bộ còn xuất phát từ những cơ sở sau: 

Một là, xuất phát từ vị trí, vai trò của giáo dục ‐ đào tạo đối với  người  cách  mạng,  tổ  chức  cách  mạng,  sự  nghiệp  cách  mạng.  Hồ  Chí 

Minh không chỉ được biết đến như là một nhà tổ chức kỳ tài, nhà văn hóa kiệt xuất, nhà tư tưởng lỗi lạc,…, mà còn trong vai trò nhà giáo  dục  vĩ  đại.  Chính  Người  đã  “kế  tục  và  phát  triển  cao  hơn cuộc  đấu  tranh  đòi  quyền  dân  sinh,  dân  chủ,  dân  trí  của  thế  hệ những người Việt Nam yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX”1        

1 Theo bài viết “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục” trên trang http://www.cpv.org.vn 

(Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam) ngày 09 tháng 01 năm 2006. 

Trang 28

và  “dày  công  tìm  kiếm,  phát  hiện  và  giới  thiệu  cho  đất  nước những  nét  tiến  bộ  mới  của  nền  giáo  dục  kiểu  mới  của  nhân  dân lao  động  ‐  nền  giáo  dục  Việt  Nam  xã  hội  chủ  nghĩa  mang  tính nhân đạo và tính dân chủ cao cả, đảm bảo cho sự phát triển toàn diện những năng lực sẵn có của con người”1. Tổng kết sự nghiệp của  Chủ  tịch  Hồ  Chí  Minh,  nhiều  nhà  khoa  học  nêu  ra  năm  chữ 

“dân”  là  dân  tộc  độc  lập,  dân  quyền  tự  do,  dân  sinh  hạnh  phúc, dân trí nâng cao và dân chủ thực hành. Muốn đạt được năm chữ 

“dân”  đó,  theo  Hồ  Chí  Minh  phải  có  những  con  người  có  ý  chí, năng lực đầy đủ và mạnh mẽ ngang tầm với việc thực hiện thắng lợi ước vọng. Con người đó, chỉ có thể có được thông qua giáo dục 

‐ đào tạo.  

Hồ Chí Minh cho rằng “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” 

vì  vậy  “bồi  dưỡng  thế  hệ  cách  mạng  cho  đời  sau  là  một  việc  rất quan  trọng  và  rất  cần  thiết”.  Theo  Hồ  Chí  Minh,  giáo  dục  –  đào tạo có vai trò rất lớn cho cách mạng “không có giáo dục, không có cán  bộ  thì  cũng  không  nói  gì  đến  kinh  tế,  văn  hóa”2  và  “xã  hội càng  đi  tới,  việc  cũng  nhiều,  máy  móc  càng  tinh  xảo.  Mình  mà không chịu học thì lạc hậu, mà lạc hậu thì bị đào thải, tự mình đào thải mình”3.  

Nhấn mạnh vai trò của giáo dục, trong thư gửi các học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam mới, Hồ Chí Minh  khẳng  định:  “Non  sông  Việt  Nam  có  trở  nên  tươi  đẹp  hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”4. Rõ ràng, Hồ Chí Minh đã        

Trang 29

Tổ quốc.  

Để  có  những  con  người  phát  triển  toàn  diện,  Hồ  Chí  Minh hướng đến một nền giáo dục ‐ đào tạo toàn diện. Nền giáo dục đó phải kết hợp một cách nhuần nhuyễn giữa đức dục, trí dục, thể dục nhằm  đào  tạo  ra  những  con  người  toàn  diện,  vừa  “hồng”  vừa 

“chuyên”, có tri thức, lý tưởng, đạo đức, sức khoẻ, thẩm mỹ,  Theo Người, “Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, khoa học ‐ 

kỹ thuật, lao động và sản xuất”1. Con người được tạo bởi một nền giáo dục toàn diện, sẽ trở thành những chủ nhân thực hiện thắng lợi mục tiêu hiện thực hóa khát vọng về một nền hòa bình, độc lập, 

tự do, dân chủ, phát triển giàu mạnh của toàn dân Việt Nam, qua 

đó,  góp phần xứng đáng vào thắng lợi của cuộc đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ và công bằng xã hội trên phạm vi toàn thế giới.     Cùng  với  việc  nhận  thức  mỗi  con  người  đều  có  thiện  và  ác trong lòng, phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy 

nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi thì Hồ Chí Minh cũng thấy được vai trò to lớn của giáo dục. Người khẳng định:  

Trang 30

Phần nhiều do giáo dục mà nên” 1  

Hồ Chí Minh nêu bật vai trò của yếu tố giáo dục đối với sự hình thành và phát triển nhân cách con người. Giáo dục là yếu tố chủ  đạo  trong  việc  hình  thành  và  phát  triển  nhân  cách  bởi  giáo dục có những đặc điểm và tính chất ưu việt: Một mặt, nó là sự tác động có mục đích, có hệ thống, theo một tổ chức chặt chẽ, nó định hướng  cho  sự  phát  triển  bởi  nó  phác  thảo  trước  mô  hình  nhân cách cần đạt đến; mặt khác, giáo dục truyền lại những thành tựu của  nền  văn  minh  xã  hội  theo  con  đường  ngắn  nhất,  hiệu  quả nhất.  Tuy  vậy,  Hồ  Chí  Minh  không  coi  giáo  dục  là  yếu  tố  vạn năng,  là  tất  cả,  mà  chỉ  là  “phần  nhiều”,  phần  chủ  đạo  trong  các yếu  tố  trên.  Tính  ưu  việt  mà  giáo  dục  có  được  không  những không  phủ  nhận  mà  còn  phát  huy  những  lợi  thế  của  các  yếu  tố bẩm  sinh  di  truyền,  của  hoàn  cảnh  sống,  bù  đắp  sự thiếu  hụt  và khiếm khuyết của các yếu tố trên, tạo điều kiện cho cá nhân thông qua các hoạt động giao lưu mà tự rèn luyện và giáo dục mình.  Trong giáo dục lý luận, Hồ Chí Minh nhận thấy “lý luận là 

sự  tổng  kết  những  kinh  nghiệm  của  loài  người,  là  sự  tổng  hợp những  tri  thức  về  tự  nhiên  và  xã  hội  tích  trữ  lại  trong  quá  trình lịch sử”2. Không giống như nhiều người chỉ nhìn lý luận ở góc độ 

lý luận chính trị. Với ý nghĩa đó, lý luận rất quan trọng vì nó định hướng  hành  động,  là  kim  chỉ  nam  cho  hoạt  động  thực  tiễn  của mỗi người, của tập thể người, của toàn thể quốc gia ‐ dân tộc. Vì bởi lý luận được tổng kết từ thực tiễn và quay trở lại chỉ đạo thực tiễn  nên  chủ  thể  của  hoạt  động  đó  cần  phải  nắm  được  quy  luật này, nắm vững lý luận như người đứng trên vai mọi thế hệ trước 

đã tổng kết và sáng tạo lý luận, để rồi tiếp tục thực hiện hoạt động        

1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, sđd, tr.383. 

2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.8, sđd, tr.497. 

Trang 31

ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng đến việc giáo dục lý luận chính trị. Tầm quan trọng của việc học tập lý luận chính trị luôn được Người khẳng định. Hồ Chí Minh nói: “Không học lý luận thì chí khí kém kiên quyết, không trông xa, thấy rộng, trong lúc đấu tranh dễ lạc phương hướng, kết quả là “mù chính trị” thậm chí hủ hóa, xa rời cách mạng”1 và “ít nghiên cứu lý luận và nghiên cứu thực tiễn cho nên gặp thắng lợi thì lạc quan tếu, gặp khó khăn thì dao động, bi quan, lập trường cách mạng không vững vàng, thiếu tinh thần độc lập suy nghĩ và chủ động sáng tạo. Do đó gặp nhiều khó khăn trong công việc, tác dụng lãnh đạo hạn chế”2. Bác luôn dẫn  câu  nói  của  Lênin  để  nhắc  nhở  Đảng  ta  phải  quan  tâm  đến công tác giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên: “Không 

có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng” và “chỉ 

có một đảng có lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có thể làm tròn được vai trò chiến sĩ tiền phong”3. Tất cả đều là sự nghiệp của giáo dục ‐ đào tạo.  

Trong  giáo  dục  thể  chất,  Hồ  Chí  Minh  đã  từng  là  trợ  giáo môn thể dục tại Trường Dục Thanh một thời gian trước khi ra đi tìm đường cứu nước. Sau này, Người vẫn luôn nêu gương sáng về tinh thần rèn luyện thân thể cho sự phát triển hài hòa giữa trí lực 

và thể lực. Hồ Chí Minh xác định giáo dục thể chất “là một trong những công tác cách mạng”, có vị trí xứng đáng trong sự nghiệp cách  mạng  của  Đảng,  của  dân  tộc.  Người  khẳng  định:  “Giữ  gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần 

có sức khỏe mới làm thành công… Vậy nên luyện tập thể dục, bồi 

bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi một người yêu nước”4. Cùng với        

1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.7, sđd, tr.234. 

2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.11, sđd, tr.24. 

3 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.8, sđd, tr.495. 

4 Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, sđd, tr. 212. 

Trang 32

việc kêu gọi toàn dân rèn luyện thân thể, Hồ Chí Minh cũng quan tâm  sâu  sắc  đến  thể  dục  trong  nền  giáo  dục  ‐  đào  tạo  quốc  dân. Khi  trực  tiếp  là  người  thầy  giảng  dạy  hay  sau  này  trên  cương  vị lãnh  đạo  cách  mạng  thì  Hồ  Chí  Minh  vẫn  chú  trọng  việc  truyền thụ nhận thức vị trí, vai trò của thể dục, nội dung và phương pháp thể dục, xem đó như là một trong những giải pháp quan trọng cho phong trào toàn dân rèn luyện thân thể, hướng đến tạo ra những con người phát triển toàn diện. Hồ Chí Minh còn chỉ rõ: “Đào tạo cán  bộ  để  xây  dựng  nước  nhà,  giữ  gìn  sức  khỏe  nhân  dân,  phát triển thuần phong mỹ tục”1. Quan điểm này của Hồ Chí Minh đã 

mở ra triển vọng thúc đẩy công tác thể dục nước nhà phát triển, thực  hiện  tốt  vai  trò  phục  vụ  sức  khỏe  nhân  dân,  phục  vụ  sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

Khi  nói  về  các  đối  tượng,  thành  phần  cụ  thể  trong  xã  hội,   

Hồ  Chí  Minh  nêu  ra  những  quan  điểm  riêng  về  vai  trò  của  giáo dục ‐ đào tạo đối với trẻ em, đối với thanh niên, , đặc biệt là đối với  cán  bộ,  đảng  viên.  Theo  Hồ  Chí  Minh,  chỉ  có  qua  giáo  dục  ‐ đào tạo, mỗi người mới trở thành cán bộ, thành cán bộ rồi thì ngày một tốt hơn. Chính Hồ Chí Minh đã gầy dựng nên thế hệ cán bộ cách mạng đầu tiên cũng như mãi về sau này bằng các lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ cách mạng. Người cũng quan tâm đặc biệt đến những lớp đào tạo, huấn luyện cán bộ trong các trường Đảng, quân  đội,  đại  học  quốc  dân,…  Theo  Người,  giáo  dục  ‐  đào  tạo cung cấp, bồi dưỡng, củng cố, nâng cao cho người cán bộ lý tưởng cách  mạng,  lập  trường  giai  cấp  vô  sản,  tri  thức  chuyên  môn,  kỹ năng công tác để hoàn thành nhiệm vụ được giao.  

Hồ  Chí  Minh  nhận  thấy  vai  trò  giáo  dục  ‐  đào  tạo  rất  quan trọng  trong  việc  nâng  cao  trình  độ  dân  trí.  Người  chỉ  rõ  “một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc lúc này là nâng cao        

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, sđd, tr.341. 

Trang 33

dân  trí”,  bởi  không  một  quốc  gia  nào  có  thể  tiến  hành  xây  dựng chế độ xã hội mới và bảo vệ Tổ quốc thành công trong điều kiện văn  hoá,  dân  trí,  đạo  đức,  tinh  thần  xã  hội  lại  thấp  kém.  Đây  là nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục ‐ đào tạo, phải thông qua giáo dục 

‐ đào tạo để nâng cao dân trí, để dân tộc ngày một mạnh lên. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong cuộc họp Hội đồng Chính phủ (ngày 3 tháng 9 năm 1945), một trong các nhiệm vụ cấp bách được nêu ra là “chống giặc dốt”, Hồ Chí Minh chú trọng kêu gọi giáo  dục  lại  tinh  thần  nhân  dân,  nâng  cao  trình  độ  dân  trí,  năng lực làm chủ cho toàn dân ta.  

Trong việc tạo nên con người phát triển một cách toàn diện, trước hết là người cán bộ, thì Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của giáo dục ‐ đào tạo. Đó là một trong những phương pháp cách mạng  hàng  đầu,  quan  trọng  và  hữu  hiệu.  Đào  tạo  con  người  xã hội  chủ  nghĩa  không  có  con  đường  nào  khác  ngoài  giáo  dục  tri thức  khoa  học  và  lý  tưởng,  đạo  đức  xã  hội  chủ  nghĩa.  Đó  là  nền 

giáo  dục  nhằm  phát  triển  con  người  toàn  diện,  vừa  “hồng”  vừa 

“chuyên” trong thời đại mới.  

Hai là, xuất phát từ tính hiện thực triệt để của cách mạng. Sinh ra 

đã phải làm nô lệ, cuộc sống bần cùng của người dân mất nước để lại trong tâm trí Nguyễn Tất Thành niềm khao khát giải thoát cho dân  tộc  mình.  Suốt  quá  trình  theo  cha  đến  nhiều  vùng  của  Tổ quốc, không ít lần nghe cha chú bàn việc nước, Nguyễn Tất Thành càng  nung  nấu  quyết tâm  tìm  ra  một  con  đường  cứu  nước  đúng đắn  cho  dân  tộc  mình.  Quyết  tâm  đó  cùng  với  tư  duy  nhạy  bén của  một  thiên  tài  luôn  trăn  trở  mưu  cuộc  giải  phóng  dân  tộc  đã thúc đẩy Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911) với hy vọng tìm hiểu chính kẻ thù mình để đánh đuổi chúng. Từ 

năm 1911 đến trước khi tiếp xúc với bản Sơ thảo lần thứ nhất những 

luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin, Nguyễn 

Ái Quốc làm rất nhiều nghề, tham gia cuộc vận động cách mạng 

Trang 34

tự do của dân tộc mình. Qua nghiên cứu, khảo sát thực tiễn xã hội các  nước,  Nguyễn  Ái  Quốc  dần  nắm  bắt  được  xu  hướng  và  đặc điểm  của  thời  đại.  Trong  điều  kiện  lịch  sử  mới,  mỗi  thuộc  địa  là một  mắt  khâu  của  hệ  thống  đế  quốc  nên  cuộc  đấu  tranh  giải phóng dân tộc không còn là hành động riêng lẻ của mỗi quốc gia 

mà đã trở thành một bộ phận của cuộc đấu tranh chung chống chủ nghĩa đế quốc quốc tế. Sự thất bại của các con đường cứu nước ở Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX một phần là do chưa hiểu được đặc điểm này của thời đại. 

Trên  hành  trình  tìm  đường  cứu  nước,  Nguyễn  Ái  Quốc  đã đặt  chân  đến  nhiều  nước,  đặc  biệt  là  các  quốc  gia  tư  bản  phát triển. Thực tế xã hội tại những chính quốc đi “khai hóa” văn minh thuộc địa cho thấy “dù màu da có khác nhau, trên đời cũng chỉ có hai  giống  người:  bóc  lột  và  bị  bóc  lột”.  Tình  cảnh  nhân  dân  lao động chính quốc phơi bày trước mắt, cộng với việc chủ động khảo sát  lịch  sử  các  cuộc  cách  mạng  tư  sản  tiêu  biểu  như  cách  mạng Anh, cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy các cuộc cách mạng ấy đều là “cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng  hòa  và  dân  chủ,  kỳ  thực  trong  thì  nó  tước  lục  công  nông, ngoài  thì  nó  áp  bức  thuộc  địa”.  Do  đó,  cách  mạng  tư  sản  không phải là con đường giải phóng cho nhân dân Việt Nam. Cách mạng Việt Nam cần có con đường phải khác về chất, tức là phải mang tính  triệt  để  hơn  tất  cả  các  con  đường  trước  đó.  Sau  sự  kiện  bản Yêu sách của nhân dân An Nam không được các nước đế quốc để 

ý,  Nguyễn  Ái  Quốc  tiến  thêm  một  bước  trong  nhận  thức  về  con đường  cách  mạng  Việt  Nam.  Theo  Người,  con  đường  đó  phải  là con đường cách mạng tự chủ: “Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào bản thân mình”. 

Tháng 7 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc được bản Sơ thảo lần 

thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của 

Trang 35

Lênin. Luận cương đã “khai trí” cho Người về một con đường cứu nước  duy  nhất  đúng  đắn  ‐  con  đường  cách  mạng  vô  sản.  Người thấy  rõ:  “Muốn  cứu  nước  và  giải  phóng  dân  tộc  không  có  con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Kể từ đó, Nguyễn 

Ái Quốc đi theo Lênin, theo con đường mà Lênin chỉ dẫn. 

Tháng  2  năm  1930,  Nguyễn  Ái  Quốc  chủ  trì  Hội  nghị  hợp nhất các tổ chức cộng sản nước ta, sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam.  Trong  cương  lĩnh  đầu  tiên  của  Đảng,  Nguyễn  Ái  Quốc  đã hoàn  thiện  cơ  bản  tư  tưởng  về  con  đường  cách  mạng  Việt  Nam. 

Đó là con đường cách mạng vô sản diễn ra theo trình tự “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi đến xã hội cộng sản”.  

Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1945‐1954), 

Hồ  Chí  Minh  chủ  trương  thực  hiện  kháng  chiến  kiến  quốc.  Chủ trương này vừa giúp chúng ta thắng lợi trước thực dân Pháp, vừa mang lại cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hình thành đường lối tiến hành đồng thời cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền  Nam  và  cách  mạng  xã  hội  chủ  nghĩa  ở  miền  Bắc  giai  đoạn sau  1954.  Sự  hoàn  thiện  tư  tưởng  về  con  đường  cách  mạng  Việt Nam của Hồ Chí Minh soi sáng cuộc đấu tranh chống Mỹ‐ngụy, thống nhất đất nước. Đó là con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. 

Đi  theo  con  đường  cách  mạng  vô  sản  dưới  ánh  sáng  soi đường của chủ nghĩa Mác – Lênin, trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh hướng đến một cuộc cách mạng triệt để bằng những minh chứng hiện thực. Tính triệt để của cách mạng được thể hiện ở mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con  người  bằng  hiện  thực,  chứ  không  dừng  lại  ở  khẩu  hiệu.  Sự nghiệp ấy là to lớn, vẻ vang, khó khăn, gian khổ, là sự nghiệp của con người và vì con người. Con người ấy không phải được dừng lại 

Trang 36

ở con người lý luận. Hồ Chí Minh nhắc nhở “Trường Đảng là một trường  học  để  đào  tạo  những  chiến  sĩ  tiên  tiến  phấn  đấu  cho  sự nghiệp  của  giai  cấp  vô  sản.  Các  đồng  chí  đều  là  những  cán  bộ những cán bộ cốt cán của Đảng. Việc học tập lý luận của các đồng chí không phải nhằm biến các đồng chí thành những người lý luận suông,  mà  nhằm  làm  thế  nào  cho  công  tác  của  các  đồng  chí  tốt hơn”. Đích đến của con người cách mạng là con người thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, con người hiện thực hóa những mục tiêu, 

lý tưởng của cách mạng. Chủ nghĩa Mác – Lênin gọi đó là những con người biết sử dụng lực lượng thực tiễn. 

Rõ ràng, việc tuyển chọn và đào tạo người cách mạng không dừng lại ở nhà trường, ở cơ sở đào tạo, mà phải đưa họ vào thực tiễn cách mạng một cách hợp lý, đúng đắn để kết quả của tuyển chọn, đào tạo được phát huy cao độ, đóng góp cho sự phát triển thắng lợi của cách mạng. Muốn thế, nhất thiết phải thông qua sử dụng người cách mạng, trong đó nòng cốt là cán bộ.  Cách mạng chỉ có thể là thắng lợi trong hiện thực khi biết sử dụng cán bộ để hiện thực mục tiêu, lý tưởng. 

Ba là, xuất phát từ phương thức tồn tại của Đảng. Quá trình sinh 

tồn  của  vạn  vật  luôn  phải  gắn  sinh  thành  với  chăm  lo,  nuôi dưỡng. Không chăm lo, nuôi dưỡng tất yếu sẽ diệt vong. Đảng ta cũng không nằm ngoài quy luật đó. Nhìn lại lịch sử của Đảng, quá trình chuẩn bị thành lập chỉ khoảng 10 năm, nhưng xây dựng, rèn luyện thì kéo dài mãi kể khi Đảng ra đời. Đó là yêu cầu tự thân, là phương thức tồn tại của Đảng.  

Hồ Chí Minh khẳng định: Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là việc rất quan trọng và rất cần thiết. Nó như cung cấp thêm sức sống của Đảng. Bồi dưỡng là để sử dụng, nếu không thì Đảng cũng  không  tồn  tại  được.  Trong  quan  niệm  của  Hồ  Chí  Minh,  bồi dưỡng và sử dụng gắn liền với sự tồn tại của Đảng; còn Đảng, còn 

Trang 37

hoạt động còn cần phải làm. Trong khi chỉ ra tính tất yếu phải “có Đảng”  thì  Hồ  Chí  Minh  cũng  luôn  đi  kèm  theo  đó  tính  tất  yếu phải  “Đảng  vững”.  Điều  này  diễn  ra  trước  cả  khi  Đảng  ra  đời, kéo  dài  xuyên  suốt  quá  trình  tồn  tại  của  Đảng.  Đảng  là  sự  tập hợp  của  những  con  người,  là  một  cơ  thể  sống.  Đảng  không  thể nào tồn tại nếu chỉ hình thành xong rồi buông xuôi, bỏ mặc. Khi Đảng được thành lập cũng là lúc công tác đào tạo, sử dụng được quy định tất yếu.  

Trong xây dựng và chỉnh đốn Đảng, Hồ Chí Minh đặt lên hàng đầu  xây  dựng  và  chỉnh  đốn  đội  ngũ  cán  bộ,  trong  đó  nhấn  mạnh khâu  đào  tạo,  huấn  luyện  cán  bộ.  Thông  qua  huấn  luyện,  cán  bộ ngày  càng  vươn  lên  ngang  tầm,  Đảng  biết  dùng  cán  bộ  hợp  lý  để làm nòng cốt, tiên phong trong “tổ chức và giáo dục nhân dân thành một  đội  quân  thật  mạnh,  để  đánh  đổ  kẻ  địch,  tranh  lấy  chính quyền”. Không có quá trình đào tạo, huấn luyện, không biết sử dụng cán bộ đúng cách, Đảng không thể có đội ngũ những người tổ chức 

và giáo dục nhân dân, đem sức dân, tài dân, lực dân làm nên thắng lợi trong đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. 

Bốn là, xuất phát từ những tác động tiêu cực đến đội ngũ cán bộ,  nhất là trong điều kiện Đảng cầm quyền. Hồ Chí Minh xem Đảng là 

một  “cơ  thể  sống”  tập  hợp  những  con  người  cụ  thể,  là  một  bộ phận hợp thành cơ cấu của xã hội. Tác động của môi trường bên ngoài  đến  Đảng  là  tất  yếu.  Nó  diễn  ra  liên  tục,  phức  tạp,  nhiều chiều, cả cái tốt và cái xấu, tích cực, tiến bộ và tiêu cực, lạc hậu, cái hay và cái dở. Nó vừa tạo ra thời cơ, thuận lợi, vừa gây trở ngại, thách  thức.  Để  tồn  tại  và  phát  triển,  Đảng  chỉ  có  con  đường  duy nhất là nhận ra và tiếp biến được những tác động tích cực, hạn chế 

đi  đến  “miễn  nhiễm”  trước  tác  động  tiêu  cực.  Muốn  thế,  Đảng phải  không  ngừng  nâng  cao  bản  lĩnh  thông  qua  đào  tạo  và  rèn luyện cán bộ, đảng viên trong thực tiễn. 

Trang 38

Ở  mỗi  bước  chuyển  của  cách  mạng,  Chủ  tịch  Hồ  Chí  Minh lại nhấn mạnh trước hết nhiệm vụ đào tạo, huấn luyện cán bộ, chú trọng đổi mới cách dùng người. Người nhận thấy, cách mạng luôn chuyển biến theo hướng đặt ra yêu cầu có tính chất và nội dung ngày  càng  cao,  nhiệm  vụ  ngày  càng  nặng  nề,  mới  mẻ,  phức  tạp, quy mô rộng lớn, phạm vi tác động sâu sắc. Đào tạo và sử dụng cán bộ là để Đảng không tụt hậu trước những chuyển biến đó, trái lại “bồi bổ” thêm phẩm chất và năng lực để ngang tầm, thậm chí vượt  lên,  chủ  động  trước  thời  cuộc.  Vị  trí,  vai  trò  lãnh  đạo  của Đảng vì thế được giữ vững.  

Đào tạo, rèn luyện là nhu cầu tự hoàn thiện của cán bộ, đảng viên, giúp cho Đảng tránh được cái chết từ bên trong. Đào tạo được người cán bộ không dễ, nhất là cán bộ tốt. Muốn có được phải mất nhiều thời gian, tâm trí và công phu từ việc lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng đến việc đề bạt, cất nhắc, rất tốn công, tốn của. Bởi thế cán 

bộ là vốn quý của Đảng, của dân. Trong quá trình đấu tranh cách mạng rất dễ hao tổn cán bộ. Có cán bộ hy sinh anh dũng cho cách mạng, nhưng cũng có cán bộ bị suy thoái, biến chất. Do đó, đào tạo, huấn luyện giúp cho Đảng củng cố và phát triển đội ngũ là gốc của mọi công việc. Có như thế cách mạng mới thành công. 

Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Hồ Chí Minh xem đào tạo, 

sử dụng cán bộ là công việc thường xuyên. Người thấy được tính hai mặt vốn có của quyền lực: Một mặt, quyền lực có sức mạnh to lớn để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nếu biết sử dụng đúng; Mặt khác, quyền lực cũng có sức phá hoại ghê gớm, vì con người nắm quyền lực có thể  thoái  hóa  biến  chất  rất  nhanh  chóng,  nếu  đi  vào  con  đường ham muốn, chạy theo, tranh giành quyền lực; và khi đã có quyền lực thì lợi dụng quyền lực, lạm quyền, lộng quyền, đặc quyền, đặc lợi, biến quyền lực của dân thành đặc quyền cá nhân. Vì vậy, đào tạo và sử dụng cán bộ là để sử dụng và phát huy quyền lực đúng 

Trang 39

Sự  ra  đời  của  Đảng  là  tất  yếu  lịch  sử.  Vai  trò  lãnh  đạo  của Đảng  được  toàn  dân  tộc  thừa  nhận.  Điều  đó  không  dễ  dàng  có được. Để có một Đảng “vĩ đại như biển rộng, như núi cao” là cả quá  trình  đấu  tranh  với  mồ  hôi  và  xương  máu,  vật  chất  và  tinh thần của lớp lớp những người Việt Nam yêu nước, những người cộng  sản  chân  chính.  Bồi  dưỡng  thế  hệ  cách  mạng  cho  đời  sau không chỉ là nhiệm vụ mà còn là nghĩa cử thiêng liêng của những người đi sau đối với thế hệ đi trước.  

Nói chuyện tại lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng, sau khi  ca  ngợi  Đảng  ta  thật  vĩ  đại,  Chủ  tịch  Hồ  Chí  Minh  viết:  “Ăn quả phải nhớ người trồng cây. Trong cuộc tưng bừng, vui vẻ hôm nay, chúng ta phải nhớ đến những anh hùng, liệt sĩ của Đảng ta, của nhân dân ta. [ ] Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách  mạng  thêm  đỏ  chói.  Sự  hy  sinh  anh  dũng  của  các  liệt  sĩ  đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập kết quả tự do. Nhân dân 

ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt qua tất cả mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt 

sĩ đã chuyển lại cho chúng ta”1. Đó vừa là lời nhắc nhở, vừa là lời thề, biểu thị quyết tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong đào tạo và 

sử dụng đội ngũ cán bộ. 

Tầm  quan  trọng  của  đào  tạo  và  sử  dụng  cán  bộ,  xét  cho cùng, xuất phát từ vị trí, vai trò của cán bộ. Quá trình vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác ‐ Lênin và sự nghiệp cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cụ thể hoá quan điểm về vai trò của cán bộ, Người khẳng định “Cán bộ là gốc của công việc, 

       

1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.10, sđd, tr.3. 

Trang 40

công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”1. Nếu cán bộ tốt, cán bộ ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ thì việc xây dựng đường lối, chính sách sẽ đúng đắn và là điều kiện tiên quyết  đưa  sự  nghiệp  cách  mạng  đi  lên  thắng  lợi.  Không  có  đội ngũ  cán  bộ  tốt,  không  biết  dùng  cán  bộ  thì  dù  đường  lối  chính sách  có  đúng  đến  đâu  cũng  khó  có  thể  biến  thành  hiện  thực được. Đào tạo và sử dụng là khâu quan trọng trong công tác cán 

bộ,  là  công  việc  gốc  của  Đảng,  nhiệm  vụ  trọng  tâm  của  cách mạng và là nguồn cội quyết định chất lượng cũng như tính hiện thực của việc cách mạng.  

         

       

1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.38, sđd, tr.563. 

Ngày đăng: 22/12/2016, 19:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w