Chương 1 VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA CÁN BỘ VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC ĐÀO TẠO, SỬ DỤNG CÁN BỘ 1.1. Cán bộ quan niệm, vị trí, vai trò 1.2. Đào tạo, sử dụng cán bộ quan niệm, tầm quan trọng Chương 2 HỆ THỐNG QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ 2.1. Về ₫ào tạo cán bộ 2.1.1. Xây dựng tiêu chuẩn người cán bộ, ₫ảng viên 2.1.2. Đào tạo huấn luyện cán bộ 2.2. Về sử dụng cán bộ 2.2.1. Nhận thức ₫úng tầm quan trọng của việc sử dụng cán bộ 2.2.2. Sử dụng ₫úng cán bộ 2.2.3. Phải khéo dùng cán bộ 2.2.4. Điều kiện ₫ể sử dụng cán bộ tốt Chương 3 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI HIỆN NAY 3.1. Sự nghiệp ₫ổi mới và công tác ₫ào tạo, sử dụng cán bộ 3.1.1. Nhân tố tác ₫ộng 4 3.1.2. Thực trạng ₫ội ngũ cán bộ, ₫ảng viên 3.1.3. Nguyên nhân của thành tựu và hạn chế trong ₫ào tạo và sử dụng cán bộ 3.2. Học tập, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về ₫ào tạo và sử dụng cán bộ trong sự nghiệp ₫ổi mới hiện nay 3.2.1. Hồ Chí Minh với sự nghiệp ₫ào tạo và sử dụng cán bộ 3.2.2. Quan ₫iểm, nội dung vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về ₫ào tạo và sử dụng cán bộ trong giai ₫oạn hiện nay KẾT LUẬN
Trang 1TS PHẠM QUỐC THÀNH
VỀ ĐÀO TẠO
VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2CÁC CỘNG TÁC VIÊN
Nguyễn Phương An Lưu Xuân Công Nguyễn Anh Cường Nguyễn Ngọc Hân Trần Bách Hiếu Nguyễn Thị Kim Hoa Trần Thị Quang Hoa Đinh Ngọc Quý Đào Thành Trường
Đỗ Xuân Tuất Nguyễn Thanh Tùng
Trang 3
MỤC LỤC
Chương 1 9
VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA CÁN BỘ VÀ TẦM QUAN TRỌNG
CỦA VIỆC ĐÀO TẠO, SỬ DỤNG CÁN BỘ 9
1.1 Cán bộ - quan niệm, vị trí, vai trò 9
1.2 Đào tạo, sử dụng cán bộ - quan niệm, tầm quan trọng 21
Chương 2 41
HỆ THỐNG QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH
VỀ ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ 41
2.1 Về ₫ào tạo cán bộ 41
2.1.1 Xây dựng tiêu chuẩn người cán bộ, ₫ảng viên 42
2.1.2 Đào tạo - huấn luyện cán bộ 49
2.2 Về sử dụng cán bộ 74
2.2.1 Nhận thức ₫úng tầm quan trọng của việc sử dụng cán bộ 75
2.2.2 Sử dụng ₫úng cán bộ 79
2.2.3 Phải khéo dùng cán bộ 83
2.2.4 Điều kiện ₫ể sử dụng cán bộ tốt 98
Chương 3 122
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ
TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI HIỆN NAY 122
3.1 Sự nghiệp ₫ổi mới và công tác ₫ào tạo, sử dụng cán bộ 122
3.1.1 Nhân tố tác ₫ộng 122
Trang 43.1.2 Thực trạng ₫ội ngũ cán bộ, ₫ảng viên 127
3.1.3 Nguyên nhân của thành tựu và hạn chế
trong ₫ào tạo và sử dụng cán bộ 144
3.2 Học tập, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về ₫ào tạo và sử dụng cán bộ trong sự nghiệp ₫ổi mới hiện nay 151
3.2.1 Hồ Chí Minh với sự nghiệp ₫ào tạo và sử dụng cán bộ 151
3.2.2 Quan ₫iểm, nội dung vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh
về ₫ào tạo và sử dụng cán bộ trong giai ₫oạn hiện nay 167
KẾT LUẬN 175
Trang 5MỞ ĐẦU
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến cán bộ. Từ khi chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Người đã trực tiếp mở lớp huấn luyện cán bộ. Đến khi giành được chính quyền, việc huấn luyện cán bộ càng được chú trọng, quy mô huấn luyện ngày càng được mở rộng. Trước lúc đi xa, Người còn căn dặn: bồi dưỡng cán bộ cách mạng cho đời sau là một công việc quan trọng
và cần thiết. Nhận thức được tầm quan trọng và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ nói chung và việc huấn luyện cán bộ nói riêng, trong những năm qua, các nhà khoa học Việt Nam đã có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến
vấn đề này. Trong đó có các công trình tiêu biểu như: Hồ Chí Minh
với vấn đề đào tạo cán bộ (Đức Vượng, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 1995); Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề cán bộ và công
tác cán bộ trong sự nghiệp đổi mới hiện nay (Nxb. Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 1997); Luận cứ khoa học cho việc nâng cao đội ngũ cán bộ
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
(Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 2001); Tư tưởng Hồ Chí Minh về rèn luyện đạo đức cho cán bộ,
đảng viên (Phạm Quốc Thành, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
Trang 6chuẩn mực của cán bộ; Tuy nhiên, do hạn chế về chủ quan và khách quan mà nhiều vấn đề về cán bộ, đặc biệt là vấn đề đào tạo
và sử dụng cán bộ trong tư tưởng Hồ Chí Minh chưa được nghiên cứu thấu đáo.
Nội dung của cuốn sách phân tích vai trò của cán bộ và tầm quan trọng của việc đào tạo và sử dụng cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh; phân tích hệ thống các quan điểm Hồ Chí Minh về đào tạo và sử dụng cán bộ; phân tích làm sáng rõ giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo và sử dụng cán bộ.
Thực tiễn lịch sử Việt Nam và thế giới đã chứng minh rằng
sự thành công hay thất bại, tồn vong, thịnh suy của mọi quốc gia, chế độ đều phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ những người lãnh đạo, quản lý, điều hành và hiền tài của quốc gia.
Theo Hồ Chí Minh, cán bộ là những người đem chính sách của Đảng và Chính phủ giải thích cho dân hiểu và đem nguyện vọng của dân chúng báo cáo Chính phủ để đặt chính sách cho đúng. Người chỉ rõ, cán bộ là cái gốc của mọi công việc, muôn việc thành công hay thất bại là do cán bộ tốt hay kém. Chính vì vậy, đào tạo cán bộ theo nhu cầu của thực tiễn cách mạng và đòi hỏi của nhân dân luôn được đặt ra như một trong những vấn đề cốt yếu. Hồ Chí Minh luôn coi việc huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng.
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ, Đảng ta đã xây dựng được một đội ngũ cán bộ đông đảo làm nòng cốt trong việc giải phóng dân tộc thành công và xây dựng chế độ mới đạt nhiều thành tựu. Nước ta hiện nay đang đứng trước một thời kỳ mới, thời cơ nhiều và thách thức cũng không ít. Do vậy, hơn lúc nào hết, chúng ta ngày càng nhận thức đầy đủ hơn về ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác cán bộ nói chung và việc đào tạo và sử dụng cán bộ nói riêng. Mặt khác, thực tiễn sinh động nảy sinh nhiều vấn đề mới đòi hỏi chúng ta phải xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự “hồng” ‐ “chuyên” thì mới đáp
Trang 7ứng được đòi hỏi trước mắt cấp bách cũng như yêu cầu lâu dài của sự nghiệp cách mạng.
bộ trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam, bồi dưỡng cán bộ của nước ta trong giai đoạn hiện nay. Kết quả của cuốn sách này sẽ giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức sâu sắc hơn tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng của Người về đào tạo
và sử dụng cán bộ nói riêng và vận dụng tư tưởng đó vào thực tiễn cách mạng nước ta.
Từ yêu cầu công tác chuyên môn và tình hình nghiên cứu thực tế, tác giả đặt ra mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau: làm rõ vai trò của cán bộ và tầm quan trọng của việc đào tạo và sử dụng cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh; xây dựng được hệ thống các quan điểm Hồ Chí Minh về đào tạo và sử dụng cán bộ; nêu được giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo
và sử dụng cán bộ.
Các tác giả
Trang 8Trang 9
Chương 1
VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA CÁN BỘ VÀ TẦM QUAN TRỌNG
CỦA VIỆC ĐÀO TẠO, SỬ DỤNG CÁN BỘ
1.1 Cán bộ - quan niệm, vị trí, vai trò
Cán bộ là một thuật ngữ được cho là du nhập vào nước ta từ
Trung Quốc với hai nghĩa cơ bản là: Nghĩa thứ nhất là cái khung, cái khuôn (khung ảnh), nghĩa thứ hai là người nòng cốt, những người chỉ huy quân đội, trong một cơ quan tổ chức làm nòng cốt.
Khi du nhập vào nước ta, thuật ngữ cán bộ đã biến đổi không còn
nguyên nghĩa gốc, song hàm nghĩa bộ khung, người làm nòng cốt, người làm chỉ huy luôn được lưu giữ và nhận thức.
Thuật ngữ cán bộ được sử dụng phổ biến ở Việt Nam từ sau
Cách mạng tháng Tám năm 1945, khi Đảng lãnh đạo nhân dân Tổng khởi nghĩa thắng lợi, giành chính quyền nhà nước, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Kể từ đây, Đảng trở thành Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội thực hiện những bước đầu tiên trong xây dựng chế độ mới, cuộc sống mới. Trong điều kiện đó, cán bộ là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt trước yêu cầu vừa cấp bách, vừa có tính cơ bản lâu dài của sự nghiệp cách mạng.
Cách hiểu được cho là rộng nhất về cán bộ, xem cán bộ gồm tất cả những người thoát ly, hưởng lương, phụ cấp từ ngân sách
Trang 10Nhà nước, làm việc trong bộ máy chính quyền, trong hệ thống chính trị. Đây là quan niệm thông dụng ở nước ta, đặt cơ sở đầu tiên phân biệt cán bộ với các thành phần khác trong xã hội, với những công dân là người lao động không hưởng lương, phụ cấp
Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008, tại Điều 4 nêu: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước,
tổ chức chính trị ‐ xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước”.
1 Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng ‐ Trung tâm Từ điển học
‐ Hà Nội ‐ Đà Nẵng, 2003, tr. 109.
2 Nguyễn Như Ý, Đại từ điển tiếng Việt, Nxb. Văn hoá thông tin, H, 1999, tr. 249.
Trang 11Trên thực tế xem xét cán bộ dưới góc độ hưởng lương, phụ cấp phân theo ngạch, bậc; phụ cấp trách nhiệm; phụ cấp nghiệp
vụ thì quan niệm “cán bộ” chưa bao quát hết. Để phát huy hết vai
trò, chức năng nghiệp vụ của cán bộ và luật pháp hóa công tác
quản lý cán bộ, khái niệm “cán bộ” đã được bổ sung và cụ thể hơn
bằng những khái niệm gần nghĩa như khái niệm công chức, viên chức Cũng tại Điều 4, Luật Cán bộ, công chức nêu:
‐ “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị ‐ xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong
bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị ‐ xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.
‐ “Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã)
là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị ‐ xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước”.
Trong thực tế, một số người đã hiểu lệch lạc cho rằng những
khái niệm trên độc lập với khái niệm cán bộ, thậm chí một số
Trang 12người còn cho rằng viên chức không phải là cán bộ hoặc cán bộ chỉ là những người được tuyển dụng, bầu làm lãnh đạo còn lại những người gọi theo chuyên môn, chức vụ không phải là cán bộ. Hiểu như vậy gây ra nhiều trở ngại trong tư duy thông thường của đại bộ phận quần chúng và quan niệm về cán bộ. Để đảm bảo nhận thức thống nhất, không phức tạp hóa vấn đề, không mâu thuẫn giữa cán bộ, công chức, viên chức với cán bộ cần có sự
thống nhất khái niệm coi “cán bộ” là khái niệm gốc, chung nhất.
Tiếp cận khái niệm cán bộ từ nhiều phương diện, có thể rút ra kết luận cần hiểu khái niệm cán bộ theo hai nghĩa:
Theo nghĩa rộng, cán bộ là tất cả những người đảm đương
một công việc nào đó hay giữ một chức trách, một cương vị trong Đảng, Nhà nước, cơ quan, ban ngành, tổ chức chính trị xã hội, đoàn thể, đơn vị sự nghiệp hưởng lương và phụ cấp từ ngân sách Nhà nước hoặc một phần từ ngân sách Nhà nước theo quy định của Hiến pháp, pháp luật và những chính sách hiện hành của Nhà nước. Họ là những người công bộc của dân, phục vụ nhân dân.
Theo nghĩa hẹp, cán bộ theo nghĩa hẹp vừa là cán bộ theo
nghĩa rộng, vừa có nét đặc thù do bầu cử, đề bạt, cân nhắc, bổ nhiệm theo quy trình của công tác tổ chức cán bộ và các cấp quản
lý ra quyết định, giao nhiệm vụ giữ cương vị trong bộ máy lãnh đạo của cơ quan Trung ương hoặc địa phương, hưởng phụ cấp
Trang 13Tựu trung lại, “Cán bộ” là từ chỉ tất cả những người được
đảm đương thực hiện, gánh vác một công việc, nhiệm vụ nào đó
do Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội, đoàn thể thông qua công tác tổ chức cán bộ và các cấp quản lý quyết định tuyển dụng, tiến cử, bổ nhiệm, đề bạt, cân nhắc giao cho, phân công cho nhiệm vụ nào đó để phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc. Lương
và phụ cấp của cán bộ được hưởng từ ngân sách hoặc một phần từ ngân sách Nhà nước theo quy định của Hiến pháp, pháp luật, pháp lệnh của Nhà nước cùng với những chính sách cụ thể do Nhà nước ban hành.
Theo quan niệm trên, cán bộ có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau tùy vào vị trí, vai trò, chức năng của từng loại cán bộ quy định.
Theo chức vụ phân công trong cơ quan đơn vị tổ chức có thể phân chia cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ chủ chốt.
Theo phân cấp hệ thống hành chính có thể phân chia thành cán bộ Trung ương, cán bộ địa phương cơ sở.
Theo nhiệm vụ trong hệ thống chính trị có thể phân chia thành cán bộ Đảng, cán bộ chính quyền, cán bộ đoàn thể. Theo chuyên môn nghiệp vụ có thể chia thành cán bộ hành chính, cán
bộ nghiệp vụ
Theo phân định công việc có thể chia thành cán bộ chuyên trách, cán bộ kiêm nhiệm, chuyên gia,
Chủ nghĩa Mác ‐ Lênin đặc biệt quan tâm đến vấn đề cán bộ, xem là khâu đặc biệt quan trọng quyết định việc hiện thực hóa lý luận khoa học và cách mạng. Những điều kiện hiện thực khiến cho Mác và Ăngghen chưa có thực tế để đề cập nhiều về vấn đề
Trang 14cán bộ và công tác cán bộ. Tuy nhiên, các ông rất quan tâm đến xây dựng đội ngũ những nhà tuyên truyền, cổ động, truyền bá tư tưởng cộng sản, gây dựng phong trào công nhân để lập ra những đảng cách mạng chân chính. Các ông không chỉ đề cập đến sự xuất hiện của những con người vĩ đại trong mỗi thời đại xã hội,
mà còn cho rằng “muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn”1. Những người sử dụng lực lượng thực tiễn, những nhà tuyên truyền, cổ động, truyền bá, gây dựng mà hai ông nói, thực chất, là những cán bộ chuyên nghiệp của Đảng trong điều kiện hoạt động bí mật.
C.Mác và Ph.Ăng ghen còn khẳng định trong cán bộ, có bộ phận những người cộng sản ưu tú là nhân tố tích cực để thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển theo con đường tự giác, các ông khái quát: “Về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên; về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản”2. V.I.Lênin đã bảo vệ và phát triển những quan điểm của C.Mác và khẳng định: “Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào dành được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra được hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiên phong
có đủ khả năng tổ chức lãnh đạo phong trào”3.
Từ việc xác định đường lối, nhiệm vụ chính trị đúng, cho đến khi biến đường lối nhiệm vụ chính trị đó thành hiện thực cách mạng thì phải trải qua một quá trình, trong quá trình này, vấn đề
tổ chức cán bộ có ý nghĩa quyết định. Nếu không có đội ngũ cán
1 C.Mác và Ăngghen, Toàn tập, t.2, Nxb. Chính trị Quốc gia, H. 2000, tr. 181.
2 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, t.4, sđd, tr. 614‐615.
3 V.I Lênin, Toàn tập, t.4, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1974, tr. 473.
Trang 15bộ tốt thì đường lối nhiệm vụ đề ra dù đúng cũng chỉ dừng lại trên giấy tờ. Lênin chỉ rõ: “Nghiên cứu con người, tìm những cán
bộ có bãn lĩnh, hiện nay là then chốt; nếu không thì tất cả mọi mệnh lệnh và quyết định sẽ chỉ là mớ giấy lộn”1.
Vì vậy, Lênin luôn luôn gắn vấn đề kiện toàn tổ chức và hoạt động của bộ máy với xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt của Đảng và Nhà nước. Người nhấn mạnh “Tổ chức, tổ chức
và tổ chức”, “nếu cho tôi tổ chức những người cách mạng, tôi sẽ làm đảo lộn được nước Nga”. Tổ chức mà Lênin nhắc đến bao gồm “những nhà chính trị của giai cấp thực sự của mình, những nhà chính trị vô sản và không thua kém các nhà chính trị của giai cấp tư sản”. Lênin còn chỉ rõ cán bộ cách mạng: “Là những người biết cách biến cái sắc lệnh từ trạng thái giấy lộn đầy bụi bặm thành thực tiễn cuộc sống”. Lênin khẳng định đội ngũ cán bộ là nhân tố đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản: “Người cộng sản chỉ có một cách duy nhất để chứng minh quyền lãnh đạo của mình đó là tìm cho được ngày càng nhiều những người phụ
tá, biết giúp đỡ họ làm việc, biết đề bạt họ, biết giới thiệu họ và chú ý đến kinh nghiệm của họ”2.
Trong quá trình hoạt động cách mạng, từ lúc ra đi tìm đường cứu nước đến khi sáng lập và lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta,
Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ cho sự nghiệp cách mạng. Trên cơ sở vận dụng sáng tạo những quan điểm của chủ nghĩa Mác ‐ Lênin về cán bộ
và công tác cán bộ, kế thừa và phát triển những tư tưởng tiến bộ trong lịch sử dân tộc, phù hợp với tiến trình cách mạng Việt Nam,
Hồ Chí Minh đã hình thành những quan niệm hết sức khúc chiết, sáng tạo và toàn diện về cán bộ và đội ngũ cán bộ.
1 V.I Lênin, Toàn tập, t.44, sđd, tr. 449.
2 V.I Lênin, Toàn tập, t.4, sđd, tr. 473.
Trang 16Hồ Chí Minh thường quan niệm về cán bộ với nghĩa bao quát nhất, phổ thông nhất. Theo Người, nói ngắn gọn, cán bộ là công bộc của nhân dân, “làm cán bộ tức là suốt đời làm đầy tớ trung thành của nhân dân”. Điều này hoàn toàn khác với “phụ mẫu chi dân”, chăn dắt người dân trong các triều đại phong kiến và bọn quan lại thực dân “đè đầu cưỡi cổ nhân dân” thời kỳ trước đây.
Thông qua các mối quan hệ, Hồ Chí Minh quan niệm về người cán bộ rất cụ thể, dễ hiểu, nhưng thể hiện chiều sâu lý luận. Trước hết và xuyên suốt, không chỉ đối với vấn đề cán bộ, mà toàn
bộ cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh thường xét trong mối quan
hệ với nhân dân. Từ nhận thức đúng đắn về vai trò và sức mạnh của nhân dân, Người khẳng định “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”. Muốn có cách mạng và để cách mạng thắng lợi,
Hồ Chí Minh đặt lên đầu tiên vấn đề giác ngộ nhân dân. “Cách mạng trước phải làm cho dân giác ngộ”. Công việc ấy cần có những người cách mạng “đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức
họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”. Người cách mạng đó ‐ tức là đội ngũ những người “giác ngộ dân chúng”, tập hợp và phát huy sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân – trước hết là cán bộ.
Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, với tinh thần như trên,
Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng”1. Cán
bộ không những chỉ là người có vai trò giác ngộ và hướng dẫn, lãnh đạo quần chúng mà còn là “chiếc cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là “công bộc” của nhân dân.
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.5, Sđd, tr. 269.
Trang 17để con người. Cũng chính từ chiều sâu triệt để ấy của cách mệnh, Nguyễn Ái Quốc xác định “Sửa cái xã hội cũ đã mấy ngàn năm làm
xã hội mới, ấy là rất khó”, bởi nó liên quan trực tiếp đến con người, khó nhận biết, khó giải quyết. Vì lẽ đó, việc cách mạng phải có sự đồng tâm, hiệp lực của nhiều người, phải tiến hành lâu dài, đời này làm chưa xong thì đời sau nối theo làm thì phải xong. Trong lực lượng đông đảo thực hiện việc cách mạng ấy, Hồ Chí Minh khẳng định “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; cây phải có gốc, không có gốc thì cây chết; việc cách mạng cũng như cây, cán bộ cách mạng là gốc cây, quyết định mọi sự thành bại; “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”1. Quan niệm này thể hiện chiều sâu tư duy chính trị của Hồ Chí Minh. Xét trong mối quan hệ với bộ máy (cơ quan, tổ chức, lãnh đạo, quản lý), Hồ Chí Minh quan niệm: “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ
dù tốt, toàn bộ máy cũng tê liệt. Cán bộ là người đem chính sách của Chính phủ, của Đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ
dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được”2. Đời sống kinh tế ‐ xã hội và toàn bộ sự nghiệp cách mạng là một cỗ máy khổng lồ. Trong cỗ máy đó, cán bộ là dây chuyền. Hồ Chí Minh quan niệm “dây chuyền” với ý nghĩa cán bộ và đội ngũ cán bộ là mắt xích liên kết các bộ phận của bộ máy, là hệ thống chuyển tải năng lượng đến từng bộ phận của bộ máy.
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.5, sđd, tr. 240.
2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.5, sđd, tr.54.
Trang 18Trong bộ máy tổ chức cách mạng, Đảng đóng vai trò quyết định. Hồ Chí Minh khẳng định cách mệnh “trước hết phải có Đảng cách mệnh”; “Đảng có vững cách mệnh mới thành công cũng như người cầm lái có vững, thuyền mới chạy”. Để lãnh đạo cách mạng, thì Đảng:
bộ, do nơi kiểm tra. Nếu ba điểm ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích”2. Với cách đặt vấn đề như vậy, Hồ Chí Minh
quan niệm “cán bộ là tiền vốn của Đoàn thể”. Có vốn mới làm ra
lãi. Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức là có lãi. Không có cán bộ tốt thì hỏng việc, tức lỗ vốn”3. Cũng với quan niệm ấy, Hồ Chí Minh nói “Cán bộ là tướng của đoàn thể”, người tướng ấy quyết định hoạt động của đoàn thể.
Trong quan niệm về cán bộ, Hồ Chí Minh cũng đồng thời chỉ
ra vị trí, vai trò của người cán bộ cách mạng. Luận điểm khái quát nhất của Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của cán bộ là: cán bộ vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Như vậy, vị trí, vai trò của cán bộ cũng được Hồ Chí Minh
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.5, sđd, tr.285.
2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.5, sđd, tr.154.
3 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.6, sđd, tr.46.
Trang 19xem xét chủ yếu trong mối quan hệ với nhân dân. Ở đây, dễ nhận thấy Hồ Chí Minh đồng thời nhắc đến yếu tố “lãnh đạo” và “đầy tớ” trong cùng một con người. Hai trong một đều thể hiện quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh khi nói đến vị trí, vai trò của cán
bộ. Nói đến lãnh đạo là nói đến quyền lãnh đạo của người cán bộ. Quyền ấy, xét cho cùng, do nhân dân ủy thác. Làm lãnh đạo, cũng
có nghĩa người cán bộ phải đứng ở vị trí tiên phong, đứng mũi chịu sào, đóng vai trò dẫn đường, tổ chức nhân dân. Nhưng lãnh đạo không phải để “vinh thân phì gia”, cốt sao mình béo mặc thiên hạ gầy, mà là để phục vụ nhân dân, tức muốn nói đến nghĩa
vụ, bổn phận của người cán bộ. Làm đầy tớ, cũng có nghĩa người cán bộ phải đứng ở vị trí lo trước cái lo của dân, hưởng sau cái hưởng của dân.
Trong những mối quan hệ cụ thể với đường lối chính sách,
tổ chức (bao gồm cả bộ máy lãnh đạo, quản lý), công việc, Hồ Chí Minh chỉ ra vị trí, vai trò của cán bộ với những thuật ngữ minh họa dễ hiểu nhưng sâu sắc: gốc, dây chuyền, người đem (chính sách, tình hình), tướng, tiền vốn, Điều khẳng định đầu tiên, cán
bộ là thành phần của tổ chức, nhưng khác với thành phần khác trong tổ chức, hơn nữa là khác với nhân dân ở chỗ họ là thành phần ưu tú nhất, có vị trí là dây chuyền của bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân, “là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”. Cán bộ có vị trí chủ thể của sự nghiệp cách mạng nước ta do Đảng lãnh đạo. Vị trí lãnh đạo, vị trí chủ thể của cán bộ là do Đảng, Nhà nước, đoàn thể phân công, và quyền lực của cán bộ cũng như nhiệm vụ của người cán bộ là do nhân dân giao cho. Cán bộ luôn đứng đầu trong tổ chức cách mạng, khi thực hiện việc cách mạng. Hồ Chí Minh xem ʺCán bộ là tướng của đoàn thể”, quyết định hiệu quả
Trang 20hoạt động của đoàn thể. Hồ Chí Minh viết: “Cán bộ làm đúng kế hoạch của đoàn thể, có mưu trí, được quần chúng tin yêu, kiên quyết, gan góc, giữ đúng kỷ luật, biết làm cho dân chúng cùng đoàn thể sống chết mà không sợ nguy hiểm mới là tướng giỏi của đoàn thể. Như thế thì cách mạng nhất định chóng thành công”1.
Về vai trò của cán bộ, Hồ Chí Minh khẳng định rằng: cán bộ
là cái gốc của mọi công việc; muôn việc thành công hay thất bại đều là do cán bộ tốt hay kém. Với ý nghĩa như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng, cán bộ là lực lượng tinh tuý nhất của xã hội, có vị trí vừa tiên phong vừa là trung tâm của xã hội và có vai trò cực kỳ quan trọng của hệ thống chính trị nước ta.
Tóm lại, cán bộ theo quan niệm của Hồ Chí Minh là một khái niệm “mở”. Tư tưởng Hồ Chí Minh đề cập cán bộ ở nhiều góc độ, nhiều mối quan hệ và được thể hiện ở nhiều cách khác nhau, phù hợp các vị trí vai trò của họ trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng. Nhưng về cơ bản, Người xem: “cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng”2. Đó là những người hội đủ phẩm chất đạo đức và năng lực nhất định để đảm đương được yêu cầu và nhiệm vụ của
sự nghiệp cách mạng, vừa là người lãnh đạo vừa là đầy tớ thật trung thành của nhân dân. “Cán bộ” là một danh từ chỉ lớp người
là những chiến sĩ cách mạng, lớp người mới sẵn sàng chịu đựng gian khổ, hy sinh, gắn bó với nhân dân, phục vụ cho sự nghiệp cao cả giành độc lập, tự do và phát triển dân tộc. “Cán bộ” trở thành danh xưng mang ý nghĩa tôn vinh, để dấu ấn đẹp trong lịch
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, sđd, tr.515.
2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.5, sđd, tr.269.
Trang 211.2 Đào tạo, sử dụng cán bộ - quan niệm, tầm quan trọng
Đào tạo và sử dụng cán bộ là một bộ phận trong công tác cán
bộ của Đảng. Cũng giống như vấn đề cán bộ, Hồ Chí Minh quan tâm nhiều đến công tác cán bộ của Đảng, trong đó có khâu đào tạo
Hồ Chí Minh thường dùng nhiều thuật ngữ khác nhau để nói
về hoạt động đào tạo cán bộ của Đảng như: đào tạo, giáo dục, huấn
luyện, nuôi dạy, rèn luyện,… Trong đó, Người sử dụng phổ biến
thuật ngữ huấn luyện. Theo Hồ Chí Minh, huấn là dạy dỗ, luyện là rèn giũa cho sạch những vết xấu xa trong đầu óc. Huấn luyện, hiểu
rộng, là quá trình vừa giảng dạy, vừa hướng dẫn luyện tập.
Những luận chứng về vị trí, vai trò của đào tạo và sử dụng cán bộ thường gắn liền với công tác cán bộ ‐ cái mà đào tạo và sử dụng là khâu hợp thành.
Công tác cán bộ là một lĩnh vực hoạt động của Đảng, bao gồm: tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng,
Trang 22Lịch sử thế giới cũng như lịch sử Việt Nam đã để lại nhiều bài học, kinh nghiệm về việc đánh giá, lựa chọn, đào tạo, dùng người, dùng nhân tài. Sự thành công, thất bại của công việc hoặc
sự tồn vong, thịnh suy của mọi quốc gia, chế độ đều phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ những người lãnh đạo, quản lý, điều hành, vào hiền tài của quốc gia. Chính vua Lê Thánh Tông đã giao cho Thân Nhân Trung soạn thảo một bài văn bia đầu tiên ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội) để nói về ý nghĩa của khoa thi Hội năm
1442. Trong văn bia có đoạn: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì đất nước mạnh và càng lớn lao, nguyên khí suy thì thế nước yếu và càng xuống thấp. Bởi vậy, các bậc vua tài giỏi đời xưa, chẳng có đời nào lại không chăm lo nuôi dưỡng và đào tạo nhân tài bồi đắp thêm nguyên khí”. Trên văn bia khoa thi
1715 dựng tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội) có ghi: Cây ở đỉnh núi kia tươi tốt vì ở đó có ngọc, nước dòng suối kia êm đềm
vì ở dưới đó có châu, vận hội nước nhà được thịnh vượng, cơ đồ được vững vàng vì có hiền tài đông đúc như cây trong rừng. Đội ngũ những hiền tài, những người lãnh đạo, quản lý này không phải tự nhiên mà có, tự nhiên phát huy được, mà phải thông qua quá trình phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đánh giá,…, ngày nay gọi là công tác cán bộ.
C. Mác và Ph. Ăngghen đã nêu những tư tưởng cơ bản làm
cơ sở nền tảng cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ của giai cấp công nhân, cho công tác cán bộ của các chính đảng cộng sản. Trong điều kiện lịch sử cụ thể, cách mạng chưa nắm chính quyền, Mác
và Ăngghen đã quan tâm đến đội ngũ những nhà tuyên truyền cổ động, truyền bá tư tưởng cộng sản, lãnh đạo tổ chức các phong
Trang 23trào đấu tranh của giai cấp vô sản nhằm kết hợp với phong trào công nhân để lập ra chính đảng của giai cấp công nhân. Đó là đội ngũ cán bộ đầu tiên của giai cấp vô sản, chính họ là một trong những nhân tố cơ bản quyết định sự thành công hay thất bại của cách mạng, có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất
nước. Trong tác phẩm Gia đình thần thánh, C.Mác khẳng định:
“Muốn thực hiện tốt những tư tưởng thì cần có những con người vận dụng một lực lượng thực tiễn”. “Những con người” mà C.Mác, Ph.Ăngghen nói trong tác phẩm chính là người cán bộ có nhiệm vụ lãnh đạo quần chúng thực hiện những cuộc cải cách có ý nghĩa cách mạng sâu sắc. C.Mác đã đi đến kết luận rằng bất cứ một tư tưởng nào, dẫu cao siêu vĩ đại đến đâu thì vẫn mãi mãi là
tư tưởng nếu tư tưởng đó không có con người truyền bá, vận dụng nó trong đời sống xã hội.
Từ khi xuất hiện trên vũ đài lịch sử và trong phong trào cách mạng của giai cấp công nhân, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng cần phải có một đội ngũ cán bộ vừa có lòng trung thành với lý tưởng của giai cấp, vừa có tri thức lý luận và năng lực tổ chức thực tiễn mới có thể đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đó. Muốn có được đội ngũ như vậy, thì phải quan tâm đến việc phát hiện, lựa chọn, đào tạo, rèn luyện nhà cách mạng (được hiểu là người cán bộ lãnh đạo) thông qua phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, đội ngũ cán bộ có một vị trí rất quan trọng cho sự ra đời của Đảng Cộng sản. Tuy nhiên, do những điều kiện lịch sử lúc ấy, chưa có một Đảng Cộng sản nào giành được quyền lãnh đạo, nên hai ông viết chưa nhiều về cán bộ
và công tác đào tạo cán bộ. Nhưng cuộc đời hoạt động cách mạng của C.Mác và Ph.Ăngghen trong những năm giữa đến cuối thế kỷ XIX đã để lại cho giai cấp vô sản, phong trào cộng sản quốc tế những tư tưởng quý báu, đặt tiền đề giúp cho chúng ta nghiên cứu, suy nghĩ về vấn đề cán bộ trong đó có công tác đào tạo cán bộ.
Trang 24Nghiên cứu những tác phẩm và tư tưởng của V.I.Lênin từ những ngày đầu thành lập Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, chúng ta thấy ông rất quan tâm đến công tác cán bộ, vì vậy V.I. Lê‐nin quyết định mở các trường đào tạo và Người trực tiếp giảng dạy ở các trường đó. Chính đội ngũ cán bộ được đào tạo đã góp phần làm nên thắng lợi cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga năm 1917 cũng như công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước Xô viết sau này.
Lênin kế thừa và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác, đã đặc biệt coi trọng “đội ngũ những nhà chính trị của giai cấp “thực sự của mình”, những nhà chính trị vô sản và không thua kém các nhà chính trị của giai cấp tư sản”. V.I.Lênin chỉ rõ: “Trong lịch sử chưa
hề có giai cấp nào giành được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiên phong có khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào”. Người luận giải rằng: “ Chính trị là một khoa học và một nghệ thuật không phải từ trên trời rơi xuống, mà đòi hỏi một sự cố gắng, rằng giai cấp vô sản muốn thắng giai cấp tư sản thì phải đào tạo lấy “những nhà chính trị giai cấp” thực sự của mình, những nhà chính trị vô sản và không thua kém các nhà chính trị của giai cấp tư sản”.
Khi có chính quyền lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội, Lênin khẳng định: “Nghiên cứu con người, tìm những cán bộ có bản lĩnh, hiện nay đó là then chốt; nếu không thế thì tất cả mọi mệnh lệnh và quyết định sẽ chỉ là mớ giấy lộn”. Lênin còn chỉ rõ, trong bất kỳ giai đoạn nào của cách mạng, “người cộng sản lãnh đạo chỉ có một cách duy nhất để chứng minh quyền lãnh đạo của mình, đó là tìm cho mình được nhiều, càng ngày càng nhiều những người phụ tá… biết giúp đỡ họ làm việc, biết đề bạt họ, biết giới thiệu và chú ý đến kinh nghiệm của họ”. Khi vào giai đoạn công nghiệp hóa xây dựng đất nước, Lênin đặc biệt coi trọng
Trang 25đội ngũ cán bộ khoa học – kỹ thuật và quan tâm tới đội ngũ trí thức của giai cấp công nhân, coi đây là điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội: “Không có sự chỉ đạo của các chuyên gia am hiểu các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và có kinh nghiệm, thì không thể nào chuyển lên chủ nghĩa xã hội được, vì chủ nghĩa xã hội đòi hỏi một bước tiến có ý thức và có tính chất quần chúng để đi tới một năng suất lao động cao hơn năng suất của chủ nghĩa tư bản dựa trên cơ
sở những kết quả mà chủ nghĩa tư bản đã đạt được”.
Trong quá trình xây dựng Đảng, công tác cán bộ là một trong những công tác chiếm vị trí quan trọng hàng đầu, có vai trò quyết định thành công tới toàn bộ công tác xây dựng lực lượng cách mạng của Đảng. Khi nào, nơi nào làm tốt công tác cán bộ thì khi
đó, nơi đó cách mạng sẽ có nhiều thuận lợi và giành được thắng lợi, và ngược lại. Hồ Chí Minh khẳng định: “Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ, và do nơi kiểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích”1. Công tác cán bộ phải xuất phát từ đường lối chính trị và nhiệm vụ tổ chức của Đảng trong từng thời kỳ và phục vụ đường lối, nhiệm vụ đó. Đường lối chính trị quyết định nhiệm vụ tổ chức, trong đó có công tác cán bộ. Có đường lối chính trị và nhiệm
vụ tổ chức đúng thì mới có phương hướng và nội dung đúng để xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh. Ngược lại, đội ngũ cán bộ
có chất lượng cao, bảo đảm cho tổ chức đảng và Nhà nước phát huy được hiệu lực và đường lối chính trị của Đảng được thực hiện thắng lợi.
Khi Đảng đã có đường lối chính trị đúng đắn thì công tác cán
bộ là nhân tố quyết định sự thành công của nhiệm vụ cách mạng. Phải từ đường lối chính trị mà suy nghĩ và giải quyết vấn đề cán
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.5, sđd, tr.250.
Trang 26bộ. Toàn bộ công tác cán bộ, chính sách cán bộ phải đảm bảo cho đường lối chính trị của Đảng được thực hiện thắng lợi trong cuộc sống. Nhiệm vụ cách mạng đòi hỏi Đảng ta phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ ngang tầm, bảo đảm thực hiện đường lối chính trị đổi mới của Đảng, tiêu biểu cho đường lối chính trị đó, tuyệt đối trung thành với đường lối chính trị đó, quán triệt sâu sắc, kiên quyết đấu tranh thực hiện thắng lợi đường lối chính trị
đó và những nhiệm vụ do Đảng đề ra với một lập trường, nguyên tắc không gì có thể lay chuyển được, với quyết tâm cao nhất, với đầy đủ những tri thức cần thiết, với khả năng chấp hành đường lối của Đảng một cách sáng tạo. Khả năng và hiệu lực hoạt động của những con người như thế phụ thuộc rất lớn vào công tác tổ chức nói chung, công tác cán bộ nói riêng, đặc biệt trong đó là khâu đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng.
Với quan điểm đó, cả cuộc đời mình, Hồ Chí Minh luôn luôn chú trọng đến công tác cán bộ, từ đánh giá, lựa chọn, huấn luyện, thử thách, rèn luyện, sử dụng, đãi ngộ. Sau năm 1920, khi đã trở thành người cộng sản, tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn,
Hồ Chí Minh đã tích cực chuẩn bị cả về tư tưởng chính trị và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Hồ Chí Minh là tìm kiếm những thanh niên Việt Nam yêu nước, đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện họ trong tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên; gửi những người ưu tú hoặc có nhiều triển vọng tốt vào đào tạo tại các trường của Trung Quốc và của Quốc tế Cộng sản. Từ khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930 trở đi, Hồ Chí Minh luôn luôn chú ý huấn luyện và xây dựng lực lượng cán bộ. Chính
do như vậy, cho nên Đảng đã lãnh đạo thành công Cách mạng tháng Tám năm 1945, lãnh đạo thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.
Trang 27Như vậy, công tác cán bộ là một trong những vấn đề có tầm quan trọng quyết định đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo, đối với sự hoạt động và trưởng thành của Đảng. Bởi vì, cán bộ của Đảng là người góp phần tích cực vào quá trình xây dựng, giữ gìn, cụ thể hóa, phát triển và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối chính sách của Đảng. Hội nghị Trung ương 3
khóa VIII Về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước đã khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự
thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng” (Nghị quyết số 3NQ/HNTW ngày 18 tháng 6 năm 1997).
“Cán bộ quyết định” nói cho cùng là công tác cán bộ quyết định. Công tác cán bộ là cơ sở quan trọng đầu tiên minh chứng tầm quan trọng của đào tạo và sử dụng cán bộ. Nói đến vị trí, vai trò của công tác cán bộ cũng bao hàm trong đó tầm quan trọng của các bộ phận hợp thành, trong đó có đào tạo và sử dụng. Trong các khâu của công tác cán bộ, đào tạo và sử dụng là mắt xích quan trọng, gắn liền với tuyển chọn và đánh giá cán bộ, đảm bảo cho công tác cán bộ được tiến hành suôn sẽ, nhịp nhàng, hiệu quả. Ngoài ra, việc xác định tầm quan trọng của đào tạo và sử dụng cán bộ còn xuất phát từ những cơ sở sau:
Một là, xuất phát từ vị trí, vai trò của giáo dục ‐ đào tạo đối với người cách mạng, tổ chức cách mạng, sự nghiệp cách mạng. Hồ Chí
Minh không chỉ được biết đến như là một nhà tổ chức kỳ tài, nhà văn hóa kiệt xuất, nhà tư tưởng lỗi lạc,…, mà còn trong vai trò nhà giáo dục vĩ đại. Chính Người đã “kế tục và phát triển cao hơn cuộc đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ, dân trí của thế hệ những người Việt Nam yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX”1
1 Theo bài viết “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục” trên trang http://www.cpv.org.vn
(Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam) ngày 09 tháng 01 năm 2006.
Trang 28và “dày công tìm kiếm, phát hiện và giới thiệu cho đất nước những nét tiến bộ mới của nền giáo dục kiểu mới của nhân dân lao động ‐ nền giáo dục Việt Nam xã hội chủ nghĩa mang tính nhân đạo và tính dân chủ cao cả, đảm bảo cho sự phát triển toàn diện những năng lực sẵn có của con người”1. Tổng kết sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều nhà khoa học nêu ra năm chữ
“dân” là dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc, dân trí nâng cao và dân chủ thực hành. Muốn đạt được năm chữ
“dân” đó, theo Hồ Chí Minh phải có những con người có ý chí, năng lực đầy đủ và mạnh mẽ ngang tầm với việc thực hiện thắng lợi ước vọng. Con người đó, chỉ có thể có được thông qua giáo dục
‐ đào tạo.
Hồ Chí Minh cho rằng “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”
vì vậy “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Theo Hồ Chí Minh, giáo dục – đào tạo có vai trò rất lớn cho cách mạng “không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế, văn hóa”2 và “xã hội càng đi tới, việc cũng nhiều, máy móc càng tinh xảo. Mình mà không chịu học thì lạc hậu, mà lạc hậu thì bị đào thải, tự mình đào thải mình”3.
Nhấn mạnh vai trò của giáo dục, trong thư gửi các học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam mới, Hồ Chí Minh khẳng định: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”4. Rõ ràng, Hồ Chí Minh đã
Trang 29Tổ quốc.
Để có những con người phát triển toàn diện, Hồ Chí Minh hướng đến một nền giáo dục ‐ đào tạo toàn diện. Nền giáo dục đó phải kết hợp một cách nhuần nhuyễn giữa đức dục, trí dục, thể dục nhằm đào tạo ra những con người toàn diện, vừa “hồng” vừa
“chuyên”, có tri thức, lý tưởng, đạo đức, sức khoẻ, thẩm mỹ, Theo Người, “Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, khoa học ‐
kỹ thuật, lao động và sản xuất”1. Con người được tạo bởi một nền giáo dục toàn diện, sẽ trở thành những chủ nhân thực hiện thắng lợi mục tiêu hiện thực hóa khát vọng về một nền hòa bình, độc lập,
tự do, dân chủ, phát triển giàu mạnh của toàn dân Việt Nam, qua
đó, góp phần xứng đáng vào thắng lợi của cuộc đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ và công bằng xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Cùng với việc nhận thức mỗi con người đều có thiện và ác trong lòng, phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy
nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi thì Hồ Chí Minh cũng thấy được vai trò to lớn của giáo dục. Người khẳng định:
Trang 30Phần nhiều do giáo dục mà nên” 1
Hồ Chí Minh nêu bật vai trò của yếu tố giáo dục đối với sự hình thành và phát triển nhân cách con người. Giáo dục là yếu tố chủ đạo trong việc hình thành và phát triển nhân cách bởi giáo dục có những đặc điểm và tính chất ưu việt: Một mặt, nó là sự tác động có mục đích, có hệ thống, theo một tổ chức chặt chẽ, nó định hướng cho sự phát triển bởi nó phác thảo trước mô hình nhân cách cần đạt đến; mặt khác, giáo dục truyền lại những thành tựu của nền văn minh xã hội theo con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất. Tuy vậy, Hồ Chí Minh không coi giáo dục là yếu tố vạn năng, là tất cả, mà chỉ là “phần nhiều”, phần chủ đạo trong các yếu tố trên. Tính ưu việt mà giáo dục có được không những không phủ nhận mà còn phát huy những lợi thế của các yếu tố bẩm sinh di truyền, của hoàn cảnh sống, bù đắp sự thiếu hụt và khiếm khuyết của các yếu tố trên, tạo điều kiện cho cá nhân thông qua các hoạt động giao lưu mà tự rèn luyện và giáo dục mình. Trong giáo dục lý luận, Hồ Chí Minh nhận thấy “lý luận là
sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là sự tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử”2. Không giống như nhiều người chỉ nhìn lý luận ở góc độ
lý luận chính trị. Với ý nghĩa đó, lý luận rất quan trọng vì nó định hướng hành động, là kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn của mỗi người, của tập thể người, của toàn thể quốc gia ‐ dân tộc. Vì bởi lý luận được tổng kết từ thực tiễn và quay trở lại chỉ đạo thực tiễn nên chủ thể của hoạt động đó cần phải nắm được quy luật này, nắm vững lý luận như người đứng trên vai mọi thế hệ trước
đã tổng kết và sáng tạo lý luận, để rồi tiếp tục thực hiện hoạt động
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, sđd, tr.383.
2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.8, sđd, tr.497.
Trang 31ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng đến việc giáo dục lý luận chính trị. Tầm quan trọng của việc học tập lý luận chính trị luôn được Người khẳng định. Hồ Chí Minh nói: “Không học lý luận thì chí khí kém kiên quyết, không trông xa, thấy rộng, trong lúc đấu tranh dễ lạc phương hướng, kết quả là “mù chính trị” thậm chí hủ hóa, xa rời cách mạng”1 và “ít nghiên cứu lý luận và nghiên cứu thực tiễn cho nên gặp thắng lợi thì lạc quan tếu, gặp khó khăn thì dao động, bi quan, lập trường cách mạng không vững vàng, thiếu tinh thần độc lập suy nghĩ và chủ động sáng tạo. Do đó gặp nhiều khó khăn trong công việc, tác dụng lãnh đạo hạn chế”2. Bác luôn dẫn câu nói của Lênin để nhắc nhở Đảng ta phải quan tâm đến công tác giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên: “Không
có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng” và “chỉ
có một đảng có lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có thể làm tròn được vai trò chiến sĩ tiền phong”3. Tất cả đều là sự nghiệp của giáo dục ‐ đào tạo.
Trong giáo dục thể chất, Hồ Chí Minh đã từng là trợ giáo môn thể dục tại Trường Dục Thanh một thời gian trước khi ra đi tìm đường cứu nước. Sau này, Người vẫn luôn nêu gương sáng về tinh thần rèn luyện thân thể cho sự phát triển hài hòa giữa trí lực
và thể lực. Hồ Chí Minh xác định giáo dục thể chất “là một trong những công tác cách mạng”, có vị trí xứng đáng trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Người khẳng định: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần
có sức khỏe mới làm thành công… Vậy nên luyện tập thể dục, bồi
bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi một người yêu nước”4. Cùng với
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.7, sđd, tr.234.
2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.11, sđd, tr.24.
3 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.8, sđd, tr.495.
4 Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, sđd, tr. 212.
Trang 32việc kêu gọi toàn dân rèn luyện thân thể, Hồ Chí Minh cũng quan tâm sâu sắc đến thể dục trong nền giáo dục ‐ đào tạo quốc dân. Khi trực tiếp là người thầy giảng dạy hay sau này trên cương vị lãnh đạo cách mạng thì Hồ Chí Minh vẫn chú trọng việc truyền thụ nhận thức vị trí, vai trò của thể dục, nội dung và phương pháp thể dục, xem đó như là một trong những giải pháp quan trọng cho phong trào toàn dân rèn luyện thân thể, hướng đến tạo ra những con người phát triển toàn diện. Hồ Chí Minh còn chỉ rõ: “Đào tạo cán bộ để xây dựng nước nhà, giữ gìn sức khỏe nhân dân, phát triển thuần phong mỹ tục”1. Quan điểm này của Hồ Chí Minh đã
mở ra triển vọng thúc đẩy công tác thể dục nước nhà phát triển, thực hiện tốt vai trò phục vụ sức khỏe nhân dân, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Khi nói về các đối tượng, thành phần cụ thể trong xã hội,
Hồ Chí Minh nêu ra những quan điểm riêng về vai trò của giáo dục ‐ đào tạo đối với trẻ em, đối với thanh niên, , đặc biệt là đối với cán bộ, đảng viên. Theo Hồ Chí Minh, chỉ có qua giáo dục ‐ đào tạo, mỗi người mới trở thành cán bộ, thành cán bộ rồi thì ngày một tốt hơn. Chính Hồ Chí Minh đã gầy dựng nên thế hệ cán bộ cách mạng đầu tiên cũng như mãi về sau này bằng các lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ cách mạng. Người cũng quan tâm đặc biệt đến những lớp đào tạo, huấn luyện cán bộ trong các trường Đảng, quân đội, đại học quốc dân,… Theo Người, giáo dục ‐ đào tạo cung cấp, bồi dưỡng, củng cố, nâng cao cho người cán bộ lý tưởng cách mạng, lập trường giai cấp vô sản, tri thức chuyên môn, kỹ năng công tác để hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Hồ Chí Minh nhận thấy vai trò giáo dục ‐ đào tạo rất quan trọng trong việc nâng cao trình độ dân trí. Người chỉ rõ “một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc lúc này là nâng cao
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, sđd, tr.341.
Trang 33dân trí”, bởi không một quốc gia nào có thể tiến hành xây dựng chế độ xã hội mới và bảo vệ Tổ quốc thành công trong điều kiện văn hoá, dân trí, đạo đức, tinh thần xã hội lại thấp kém. Đây là nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục ‐ đào tạo, phải thông qua giáo dục
‐ đào tạo để nâng cao dân trí, để dân tộc ngày một mạnh lên. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong cuộc họp Hội đồng Chính phủ (ngày 3 tháng 9 năm 1945), một trong các nhiệm vụ cấp bách được nêu ra là “chống giặc dốt”, Hồ Chí Minh chú trọng kêu gọi giáo dục lại tinh thần nhân dân, nâng cao trình độ dân trí, năng lực làm chủ cho toàn dân ta.
Trong việc tạo nên con người phát triển một cách toàn diện, trước hết là người cán bộ, thì Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của giáo dục ‐ đào tạo. Đó là một trong những phương pháp cách mạng hàng đầu, quan trọng và hữu hiệu. Đào tạo con người xã hội chủ nghĩa không có con đường nào khác ngoài giáo dục tri thức khoa học và lý tưởng, đạo đức xã hội chủ nghĩa. Đó là nền
giáo dục nhằm phát triển con người toàn diện, vừa “hồng” vừa
“chuyên” trong thời đại mới.
Hai là, xuất phát từ tính hiện thực triệt để của cách mạng. Sinh ra
đã phải làm nô lệ, cuộc sống bần cùng của người dân mất nước để lại trong tâm trí Nguyễn Tất Thành niềm khao khát giải thoát cho dân tộc mình. Suốt quá trình theo cha đến nhiều vùng của Tổ quốc, không ít lần nghe cha chú bàn việc nước, Nguyễn Tất Thành càng nung nấu quyết tâm tìm ra một con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc mình. Quyết tâm đó cùng với tư duy nhạy bén của một thiên tài luôn trăn trở mưu cuộc giải phóng dân tộc đã thúc đẩy Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911) với hy vọng tìm hiểu chính kẻ thù mình để đánh đuổi chúng. Từ
năm 1911 đến trước khi tiếp xúc với bản Sơ thảo lần thứ nhất những
luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin, Nguyễn
Ái Quốc làm rất nhiều nghề, tham gia cuộc vận động cách mạng
Trang 34tự do của dân tộc mình. Qua nghiên cứu, khảo sát thực tiễn xã hội các nước, Nguyễn Ái Quốc dần nắm bắt được xu hướng và đặc điểm của thời đại. Trong điều kiện lịch sử mới, mỗi thuộc địa là một mắt khâu của hệ thống đế quốc nên cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc không còn là hành động riêng lẻ của mỗi quốc gia
mà đã trở thành một bộ phận của cuộc đấu tranh chung chống chủ nghĩa đế quốc quốc tế. Sự thất bại của các con đường cứu nước ở Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX một phần là do chưa hiểu được đặc điểm này của thời đại.
Trên hành trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã đặt chân đến nhiều nước, đặc biệt là các quốc gia tư bản phát triển. Thực tế xã hội tại những chính quốc đi “khai hóa” văn minh thuộc địa cho thấy “dù màu da có khác nhau, trên đời cũng chỉ có hai giống người: bóc lột và bị bóc lột”. Tình cảnh nhân dân lao động chính quốc phơi bày trước mắt, cộng với việc chủ động khảo sát lịch sử các cuộc cách mạng tư sản tiêu biểu như cách mạng Anh, cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy các cuộc cách mạng ấy đều là “cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”. Do đó, cách mạng tư sản không phải là con đường giải phóng cho nhân dân Việt Nam. Cách mạng Việt Nam cần có con đường phải khác về chất, tức là phải mang tính triệt để hơn tất cả các con đường trước đó. Sau sự kiện bản Yêu sách của nhân dân An Nam không được các nước đế quốc để
ý, Nguyễn Ái Quốc tiến thêm một bước trong nhận thức về con đường cách mạng Việt Nam. Theo Người, con đường đó phải là con đường cách mạng tự chủ: “Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào bản thân mình”.
Tháng 7 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc được bản Sơ thảo lần
thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của
Trang 35Lênin. Luận cương đã “khai trí” cho Người về một con đường cứu nước duy nhất đúng đắn ‐ con đường cách mạng vô sản. Người thấy rõ: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Kể từ đó, Nguyễn
Ái Quốc đi theo Lênin, theo con đường mà Lênin chỉ dẫn.
Tháng 2 năm 1930, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản nước ta, sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong cương lĩnh đầu tiên của Đảng, Nguyễn Ái Quốc đã hoàn thiện cơ bản tư tưởng về con đường cách mạng Việt Nam.
Đó là con đường cách mạng vô sản diễn ra theo trình tự “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi đến xã hội cộng sản”.
Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1945‐1954),
Hồ Chí Minh chủ trương thực hiện kháng chiến kiến quốc. Chủ trương này vừa giúp chúng ta thắng lợi trước thực dân Pháp, vừa mang lại cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hình thành đường lối tiến hành đồng thời cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc giai đoạn sau 1954. Sự hoàn thiện tư tưởng về con đường cách mạng Việt Nam của Hồ Chí Minh soi sáng cuộc đấu tranh chống Mỹ‐ngụy, thống nhất đất nước. Đó là con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Đi theo con đường cách mạng vô sản dưới ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác – Lênin, trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh hướng đến một cuộc cách mạng triệt để bằng những minh chứng hiện thực. Tính triệt để của cách mạng được thể hiện ở mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người bằng hiện thực, chứ không dừng lại ở khẩu hiệu. Sự nghiệp ấy là to lớn, vẻ vang, khó khăn, gian khổ, là sự nghiệp của con người và vì con người. Con người ấy không phải được dừng lại
Trang 36ở con người lý luận. Hồ Chí Minh nhắc nhở “Trường Đảng là một trường học để đào tạo những chiến sĩ tiên tiến phấn đấu cho sự nghiệp của giai cấp vô sản. Các đồng chí đều là những cán bộ những cán bộ cốt cán của Đảng. Việc học tập lý luận của các đồng chí không phải nhằm biến các đồng chí thành những người lý luận suông, mà nhằm làm thế nào cho công tác của các đồng chí tốt hơn”. Đích đến của con người cách mạng là con người thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, con người hiện thực hóa những mục tiêu,
lý tưởng của cách mạng. Chủ nghĩa Mác – Lênin gọi đó là những con người biết sử dụng lực lượng thực tiễn.
Rõ ràng, việc tuyển chọn và đào tạo người cách mạng không dừng lại ở nhà trường, ở cơ sở đào tạo, mà phải đưa họ vào thực tiễn cách mạng một cách hợp lý, đúng đắn để kết quả của tuyển chọn, đào tạo được phát huy cao độ, đóng góp cho sự phát triển thắng lợi của cách mạng. Muốn thế, nhất thiết phải thông qua sử dụng người cách mạng, trong đó nòng cốt là cán bộ. Cách mạng chỉ có thể là thắng lợi trong hiện thực khi biết sử dụng cán bộ để hiện thực mục tiêu, lý tưởng.
Ba là, xuất phát từ phương thức tồn tại của Đảng. Quá trình sinh
tồn của vạn vật luôn phải gắn sinh thành với chăm lo, nuôi dưỡng. Không chăm lo, nuôi dưỡng tất yếu sẽ diệt vong. Đảng ta cũng không nằm ngoài quy luật đó. Nhìn lại lịch sử của Đảng, quá trình chuẩn bị thành lập chỉ khoảng 10 năm, nhưng xây dựng, rèn luyện thì kéo dài mãi kể khi Đảng ra đời. Đó là yêu cầu tự thân, là phương thức tồn tại của Đảng.
Hồ Chí Minh khẳng định: Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là việc rất quan trọng và rất cần thiết. Nó như cung cấp thêm sức sống của Đảng. Bồi dưỡng là để sử dụng, nếu không thì Đảng cũng không tồn tại được. Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, bồi dưỡng và sử dụng gắn liền với sự tồn tại của Đảng; còn Đảng, còn
Trang 37hoạt động còn cần phải làm. Trong khi chỉ ra tính tất yếu phải “có Đảng” thì Hồ Chí Minh cũng luôn đi kèm theo đó tính tất yếu phải “Đảng vững”. Điều này diễn ra trước cả khi Đảng ra đời, kéo dài xuyên suốt quá trình tồn tại của Đảng. Đảng là sự tập hợp của những con người, là một cơ thể sống. Đảng không thể nào tồn tại nếu chỉ hình thành xong rồi buông xuôi, bỏ mặc. Khi Đảng được thành lập cũng là lúc công tác đào tạo, sử dụng được quy định tất yếu.
Trong xây dựng và chỉnh đốn Đảng, Hồ Chí Minh đặt lên hàng đầu xây dựng và chỉnh đốn đội ngũ cán bộ, trong đó nhấn mạnh khâu đào tạo, huấn luyện cán bộ. Thông qua huấn luyện, cán bộ ngày càng vươn lên ngang tầm, Đảng biết dùng cán bộ hợp lý để làm nòng cốt, tiên phong trong “tổ chức và giáo dục nhân dân thành một đội quân thật mạnh, để đánh đổ kẻ địch, tranh lấy chính quyền”. Không có quá trình đào tạo, huấn luyện, không biết sử dụng cán bộ đúng cách, Đảng không thể có đội ngũ những người tổ chức
và giáo dục nhân dân, đem sức dân, tài dân, lực dân làm nên thắng lợi trong đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Bốn là, xuất phát từ những tác động tiêu cực đến đội ngũ cán bộ, nhất là trong điều kiện Đảng cầm quyền. Hồ Chí Minh xem Đảng là
một “cơ thể sống” tập hợp những con người cụ thể, là một bộ phận hợp thành cơ cấu của xã hội. Tác động của môi trường bên ngoài đến Đảng là tất yếu. Nó diễn ra liên tục, phức tạp, nhiều chiều, cả cái tốt và cái xấu, tích cực, tiến bộ và tiêu cực, lạc hậu, cái hay và cái dở. Nó vừa tạo ra thời cơ, thuận lợi, vừa gây trở ngại, thách thức. Để tồn tại và phát triển, Đảng chỉ có con đường duy nhất là nhận ra và tiếp biến được những tác động tích cực, hạn chế
đi đến “miễn nhiễm” trước tác động tiêu cực. Muốn thế, Đảng phải không ngừng nâng cao bản lĩnh thông qua đào tạo và rèn luyện cán bộ, đảng viên trong thực tiễn.
Trang 38Ở mỗi bước chuyển của cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại nhấn mạnh trước hết nhiệm vụ đào tạo, huấn luyện cán bộ, chú trọng đổi mới cách dùng người. Người nhận thấy, cách mạng luôn chuyển biến theo hướng đặt ra yêu cầu có tính chất và nội dung ngày càng cao, nhiệm vụ ngày càng nặng nề, mới mẻ, phức tạp, quy mô rộng lớn, phạm vi tác động sâu sắc. Đào tạo và sử dụng cán bộ là để Đảng không tụt hậu trước những chuyển biến đó, trái lại “bồi bổ” thêm phẩm chất và năng lực để ngang tầm, thậm chí vượt lên, chủ động trước thời cuộc. Vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng vì thế được giữ vững.
Đào tạo, rèn luyện là nhu cầu tự hoàn thiện của cán bộ, đảng viên, giúp cho Đảng tránh được cái chết từ bên trong. Đào tạo được người cán bộ không dễ, nhất là cán bộ tốt. Muốn có được phải mất nhiều thời gian, tâm trí và công phu từ việc lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng đến việc đề bạt, cất nhắc, rất tốn công, tốn của. Bởi thế cán
bộ là vốn quý của Đảng, của dân. Trong quá trình đấu tranh cách mạng rất dễ hao tổn cán bộ. Có cán bộ hy sinh anh dũng cho cách mạng, nhưng cũng có cán bộ bị suy thoái, biến chất. Do đó, đào tạo, huấn luyện giúp cho Đảng củng cố và phát triển đội ngũ là gốc của mọi công việc. Có như thế cách mạng mới thành công.
Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Hồ Chí Minh xem đào tạo,
sử dụng cán bộ là công việc thường xuyên. Người thấy được tính hai mặt vốn có của quyền lực: Một mặt, quyền lực có sức mạnh to lớn để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nếu biết sử dụng đúng; Mặt khác, quyền lực cũng có sức phá hoại ghê gớm, vì con người nắm quyền lực có thể thoái hóa biến chất rất nhanh chóng, nếu đi vào con đường ham muốn, chạy theo, tranh giành quyền lực; và khi đã có quyền lực thì lợi dụng quyền lực, lạm quyền, lộng quyền, đặc quyền, đặc lợi, biến quyền lực của dân thành đặc quyền cá nhân. Vì vậy, đào tạo và sử dụng cán bộ là để sử dụng và phát huy quyền lực đúng
Trang 39Sự ra đời của Đảng là tất yếu lịch sử. Vai trò lãnh đạo của Đảng được toàn dân tộc thừa nhận. Điều đó không dễ dàng có được. Để có một Đảng “vĩ đại như biển rộng, như núi cao” là cả quá trình đấu tranh với mồ hôi và xương máu, vật chất và tinh thần của lớp lớp những người Việt Nam yêu nước, những người cộng sản chân chính. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau không chỉ là nhiệm vụ mà còn là nghĩa cử thiêng liêng của những người đi sau đối với thế hệ đi trước.
Nói chuyện tại lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng, sau khi ca ngợi Đảng ta thật vĩ đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Ăn quả phải nhớ người trồng cây. Trong cuộc tưng bừng, vui vẻ hôm nay, chúng ta phải nhớ đến những anh hùng, liệt sĩ của Đảng ta, của nhân dân ta. [ ] Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập kết quả tự do. Nhân dân
ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt qua tất cả mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt
sĩ đã chuyển lại cho chúng ta”1. Đó vừa là lời nhắc nhở, vừa là lời thề, biểu thị quyết tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong đào tạo và
sử dụng đội ngũ cán bộ.
Tầm quan trọng của đào tạo và sử dụng cán bộ, xét cho cùng, xuất phát từ vị trí, vai trò của cán bộ. Quá trình vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác ‐ Lênin và sự nghiệp cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cụ thể hoá quan điểm về vai trò của cán bộ, Người khẳng định “Cán bộ là gốc của công việc,
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.10, sđd, tr.3.
Trang 40công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”1. Nếu cán bộ tốt, cán bộ ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ thì việc xây dựng đường lối, chính sách sẽ đúng đắn và là điều kiện tiên quyết đưa sự nghiệp cách mạng đi lên thắng lợi. Không có đội ngũ cán bộ tốt, không biết dùng cán bộ thì dù đường lối chính sách có đúng đến đâu cũng khó có thể biến thành hiện thực được. Đào tạo và sử dụng là khâu quan trọng trong công tác cán
bộ, là công việc gốc của Đảng, nhiệm vụ trọng tâm của cách mạng và là nguồn cội quyết định chất lượng cũng như tính hiện thực của việc cách mạng.
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.38, sđd, tr.563.