Thông qua việc nghiên cứu đề tài "Nâng cao hiệu quả tín dụng hộ sản xuất tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Hoài Đức",em tập trung đi vào làm rõ và nghiên cứu một số
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế thế giới đang chứng kiến bước chuyển mình vô cùng nhanhchóng của các nước thuộc thế giới thứ ba, trong đó không thể không kể đến ViệtNam Nền kinh tế liên tục tăng trưởng khá cao đã làm cho Việt Nam được đánhgiá là một trong những con rồng đang lên của Châu Á Hoà trong nhịp phát triểnmau lẹ đó, ngành ngân hàng cũng đang có những bước tiến dài và nhanh chóngkhẳng định vị trí, vai trò của mình trong nền kinh tế nước nhà
Ngân hàng nói chung và tín dụng ngân hàng nói riêng có một vị tríquan trọng và có vai trò rất lớn trong công cuộc công nghiệp hoá – hiện đạihoá đất nước Với tư cách là trung gian tài chính quan trọng nhất, ngân hàngthương mại là đơn vị có khả năng tốt nhất có thể tập trung vốn từ nhữngngười thừa vốn và đem chúng đầu tư trở lại nền kinh tế dưới các hình thức tíndụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng không chỉ chiếm một vị trí quan trọngđối với nền kinh tế mà còn chiếm vị trí số một trong bản thân hoạt động củangân hàng thương mại Nó là tài sản quan trọng nhất và là nguồn đem lạidoanh thu chủ yếu, và lớn nhất cho các ngân hàng thương mại Chính vì tíndụng ngân hàng chiếm một vị trí vô cùng đặc biệt như vậy nên việc đi sâu tìmhiểu nghiên cứu nó đã trở thành vấn đề được đông đảo người quan tâm,nghiên cứu chứ không riêng gì chỉ có bản thân các ngân hàng thương mại
Với xuất phát điểm như vậy, cộng thêm thực tế hoạt động kinh doanhcủa Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hoài Đức – Hà Nội (HàTây cũ) càng làm em có mong muốn tìm hiểu sâu hơn về hoạt động tín dụngcủa ngân hàng thương mại Thông qua nghiên cứu số liệu về thực tế hoạtđộng kinh doanh 3 năm gần đây (2008 – 2010) của chi nhánh Ngân hàngnông nghiệp và phát triển nông thôn Hoài Đức – Hà Nội, em đã có thể phầnnào hoàn thiện, cụ thể hoá đề tài nghiên cứu của mình
Trang 2Thông qua việc nghiên cứu đề tài "Nâng cao hiệu quả tín dụng hộ sản xuất tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Hoài Đức",
em tập trung đi vào làm rõ và nghiên cứu một số nội dung quan trọng và đượccấu thành các chương như sau:
Chương I: Những vấn đề cơ bản về hộ sản xuất và hiệu quả tín dụng ngân hàng đới với hộ sản xuất.
Chương II: Thực trạng hiệu quả hoạt động tín dụng tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Hoài Đức.
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Hoài Đức.
Với việc nghiên cứu tình hình cho vay đối với hộ sản xuất tạiNHNo&PTNT huyện Hoài Đức, em mong sẽ góp phần tìm ra giải pháp đểthúc đẩy kinh tế hộ phát triển, khai thác tiềm năng sẵn có, tạo việc làm chongười lao động, thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế của Nhà Nước Em xinchân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các cô chú cán bộ nhân viên tập thể cán bộnhân viên NHNo&PTNT huyện Hoài Đức, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tìnhcủa TS Lê Hương Lan giúp em hoàn thành bài luận của mình
Do điều kiện thời gian và trình độ có hạn, bài viết của em không tránhkhỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp để em
có thể bổ sung, hoàn thiện đề tài hơn nữa
Trang 3CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỘ SẢN XUẤT VÀ HIỆU QUẢ TÍN
DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT.
1.1 Hộ sản xuất và vai trò của hộ sản xuất đối với phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn.
1.1.1 Khái niệm hộ sản xuất.
Nói đến sự tồn tại của các hộ sản xuất trong nền kinh tế trước hết ta cầnthấy rằng, hộ sản xuất không chỉ có ở nước ta mà còn có ở tất cả các nước cónền sản xuất nông nghiệp trên thế giới Hộ sản xuất đã tồn tại qua nhiềuphương thức và vẫn đang tiếp tục phát triển Do đó có nhiều quan niệm khácnhau về kinh tế hộ sản xuất
Có nhiều quan niệm cho rằng: Hộ sản xuất là một đơn vị kinh tế mà cácthành viên đều dựa trên cơ sở kinh tế chung, các nguồn thu nhập do các thànhviên cùng tạo ra và cùng sử dụng chung Quá trình sản xuất của hộ được tiếnhành một cách độc lập và điều quan trọng là các thành viên của hộ thường cócùng huyết thống, thường cùng chung một ngôi nhà, có quan hệ chung vớinhau, họ cũng là một đơn vị để tổ chức lao động
Một nhà kinh tế khác thì cho rằng: Trang trại gia đình là loại hình sơ
sở sản xuất nông nghiệp, các hộ gia đình nông dân là kiểu trang trại độc lập,sản xuất kinh doanh của từng gia đình có tư cách pháp nhân riêng do một chủ
hộ hoặc một người có năng lực và uy tín trong gia đình đứng ra quản lý, cácthành viên khác trong gia đình tham gia lao động sản xuất
Trên góc độ ngân hàng: "Hộ sản xuất" là một thuật ngữ được dùngtrong hoạt động cung ứng vốn tín dụng cho hộ gia đình để làm kinh tế chungcủa cả hộ Hiện nay, trong các văn bản pháp luật ở Việt Nam, hộ được xemnhư một chủ thể trong các quan hệ dân sự do pháp luật quy định và được định
Trang 4nghĩa là một đơn vị mà các thành viên có hộ khẩu chung, tài sản chung vàhoạt động kinh tế chung Một số thuật ngữ khác được dùng để thay thế thuậtngữ "hộ sản xuất" là "hộ", "hộ gia đình".
Ngày nay hộ sản xuất đang trở thành một nhân tố quan trọng của sựnghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước và là sự tồn tại tất yếu trongquá trình xây dựng một nền kinh tế đa thành phần theo định hướng xã hộichủ nghĩa Để phù hợp với xu thế phát triển chung, phù hợp với chủ trươngcủa Đảng và Nhà nước, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn banhành Phụ lục số 1 kèm theo Quyết định 499A ngày 2/9/1993, theo đó kháiniệm hộ sản xuất được hiểu như sau: "Hộ sản xuất là đơn vị kinh tế tự chủ,trực tiếp hoạt động kinh doanh, là chủ thể trong mọi quan hệ sản xuất kinhdoanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất của mình" Thànhphần chủ yếu của hộ sản xuất bao gồm: hộ nông dân, hộ tư nhân, cá thể, hộgia đình xã viên, hộ nông, làm trường viên
Như vậy, hộ sản xuất là một lực lượng sản xuất to lớn ở nông thôn Hộsản xuất hoạt động trong nhiều ngành nghề nhưng hiện nay phần lớn hoạtđộng trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn Các họ này tiếnhành sản xuất kinh doanh đa dạng kết hợp trồng trọt với chăn nuôi và kinhdoanh ngành nghề phụ Đặc điểm sản xuất kinh doanh nhiều ngành nghề nóitrên đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các hộ sản xuất ở nước ta
1.1.2 Đặc điểm hộ sản xuất.
Đặc trưng 1: Kinh tế hộ nông thôn nước ta đang chuyển từ kinh tế tựcấp, tự túc khép kín lên dần nền kinh tế hàng hoá Tiếp cận với thị trườngchuyển từ nghề nông thuần tuý sang nền kinh tế đa dạng theo xu hướngchuyên môn hoá Dưới sự tác động của các quy lụât kinh tế thị trường trongquá trình chuyển hoá tất yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh và hệ quả sẽ đến sự phânchia giàu nghèo trong nông thôn Từ đó vấn đề đặt ra đối với quản lý và điều
Trang 5hành phía Nhà nước là phải làm soa cho phép kinh tế hộ phát triển mà vẫnđảm bảo công bằng xã hội, tăng số hộ giàu, giảm hộ nghèo, tạo điều kiện để
hộ nghèo bớt khó khăn và vươn lên khá giả
Đặc trưng 2: Quy mô và cơ sở vật chất kỹ thuật của các hộ chênh lệchnhau khá lớn giữa các vùng và ngay cả trong một số vùng cùng có sự chênhlệch nhau giữa quy mô và diện tích đất đai, vốn và cơ sở vật chất kỹ thuật, laođộng và trình độ hiểu biết giữa các hộ do điều kiện khó khăn và thuận lợikhác nhau giữa các vùng Một tất yếu khác của sự phát triển kinh tế hộ sảnxuất là nảy sinh quá trình tích tụ và tập trung về ruộng đất, vốn, cơ sở vậtchất, kỹ thuật ngày càng tăng độ giảm bớt tính chất sản xuất phân tán, manhmún lạc hậu của kinh tế tiểu nông
Đặc trưng 3: Trong quá trình chuyển hoá kinh tế hộ sản xuất sẽ xuấthiện nhiều hình thức kinh tế khác nhau như: Hộ nhận khoán trong đó các
hộ là các thành viên của các tổ chức kinh tế đó Một loại hình kinh tế hôhkhác xuất hiện đó là các hộ nhận khoán nhận thầu Trong quá trình nhận thầunhìn chung phần lớn kinh tế các hộ nhận thầu phát triển nhanh thu nhập cao
rõ rệt, nhưng bên cạnh đó còn có hộ gặp rủi ro, thất bại
Một hình thức kinh tế hộ cao hơn đó là kinh tế trang trại Đây là hìnhthức phổ biến của các nước phát triển trên thế giới, có tác dụng tạo ra nhiềunông sản hàng hoá Ở nước ta hình thcs này còn ít và ở trình độ thấp ở một sốnơi như các vùng kinh tế mới hình thức kinh tế trang trại đã bắt đầu pháttriển và mang hiệu quả rõ rệt (cây cà phê, cây điều )
1.1.3 Phân loại hộ sản xuất.
Các hộ sản xuất dù hoạt động trong lĩnh vực nào của nền kinh tế cũng cónhững đặc trưng phát triển do bản thân nền sản xuất nông, lâm, ngư nghiệpquyết định Hộ sản xuất hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế hànghoá phụ thuộc rất nhiều vào trình độ sản xuất kinh doanh, khả năng kỹ thuật,
Trang 6quyền làm chủ tư liệu sản xuất và mức độ vốn đầu tư mỗi gia đình Việc phânloại hộ sản xuất cps căn cứ khoa học sẽ tạo điều kiện để xây dựng các chính sáchkinh tế - xã hội phù hợp nhằm đầu tư phát triển có hiệu quả kinh tế hộ sản xuất.
Có nhiều cách phân loại hộ sản xuất khác nhau:
a Dựa trên các yếu tố tự nhiên.
Yếu tố tự nhiên đề cập đến đây là các đặc trưng địa lý kinh tế, xã hội
Có thể gặp hai kiểu phân loại chính: Một là thành thị - nông thôn; hai là vùngkinh tế
- Hộ sản xuất thành thị và nông thôn: Các hộ được phân công theo địabàn cư trú tương ứng là thành thị và nông thôn Nước ta có 80% số hộ nôngthôn và 20% hộ thành thị
- Hộ sản xuất theo vùng kinh tế: theo đó nước ta có 7 vùng chính đólà: Miền núi và trung du Bắc Bộ; Đồng bằng Sông Hồng; ven biển BắcTrung Bộ; ven biển Nam Trung Bộ; Tây Nguyên; Đông Nam Bộ; Đồngbằng Sông Cửu Long
Hoạt động kinh tế hộ sản xuất mang sắc thái và đặc trưng mỗi vùng
b Dựa trên các yếu tố kinh tế.
- Đây là hình thức phân loại thường gặp nhất, trong đó bao gồm nhiềudạng phân loại khác nhau Dựa vào thu nhập có thể chia ra hộ giầu - nghèo;hoặc hộ giầu, hộ khá - hộ trung bình - hộ nghèo Tuy nhiên, việc tính thu nhậpnhất là của người nông dân là điều rất phức tạp Mặt khác, tiêu chuẩn giầu,nghèo khác nhau giữa các khu vực như thành thị, nông thôn
- Dựa vào mức độ đa dạng hoá sản xuất co thể chia ra: hộ thuần nông,
hộ kinh doanh tổng hợp, hộ sản xuất phi nông nghiệp Từ sự phân hoá trên cóthể đưa ra những chính sách kinh tế phù hợp tại điều kiện khuyến khích các
hộ phát triển ngành nghề, tăng trưởng sản phẩm hàng hoá
Trang 71.1.4 Vai trò của hộ sản xuất trong phát triển kinh tế.
1.1.4.1 Hộ sản xuất là cầu nối trung gian để chuyển nền kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hoá.
Lịch sử phát triển sản xuất hàng hoá đã trải qua giai đoạn đầu tiên làkinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hoá nhỏ trên quy mô hộ gia đình; tiếp theo
là giai đoạn chuyển biến từ nền kinh tế hàng hoá nhỏ lên kinh tế hàng hoáquy mô lớn, đó là nền kinh tế hoạt động mua bán trao đổi bằng trung gian tiềntệ
Kinh tế hộ xs được coi là khâu trung gian có vai trò đặc biệt quantrong trong giai đoạn chuyển biến từ kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hoánhỏ tạo đà cho bước chuyển từ nền kinh tế hàng hoá nhỏ tạo đà cho bướcchuyển từ kinh tế hàng hoá nhỏ sang nền kinh tế hàng hoá quy mô lớn Bướcchuyển biến từ kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hoá nhỏ trên quy mô hộ giađình là một giai đoạn lịch sử mà nếu chưa trải qua thì khó có thể phát triểnsản xuất hàng hoá quy mô lớn giải thoát khỏi tình trạng nền kinh tế kém pháttriển
1.1.4.2 Hộ sản xuất góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lao động, giải quyết việc làm ở nông thôn.
Lao động là nguồn lực dồi dào nhất ở nước ta, là yếu tố năng động và
là động lực quyết định của nền kinh tế quốc dân Bởi lao động là một trongnhững yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất, lao động là nguồn gốc của giá trịthặng dư, lao động góp phần làm tăng của cải vật chất cho mọi quốc gia.Đặc biệt ở Việt Nam có 80% dân số sống ở mức thấp mặc dù từ khi đấtnước chuyển sang nền kinh tế hàng hoá với chủ trương mở cửa nền kinh tếcủa Đảng và nhà nước, trong những năm qua số lượng các công ty liêndoanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đã tăng lên nhanh chóng, nhưngyêu cầu đối với lao động nông thôn của các doanh nghiệp này đòi hỏi rất cao,
Trang 8do đó rất ít lao động của các doanh nghiệp này đòi hỏi rất cao, do đó rất ít laođộng nông thôn có cơ hội làm việc trong các doanh nghiệp này Hiện nay, ởnước ta có khoảng 12 triệu lao động chưa được sử dụng và quỹ thời gian củangười lao động ở nông thôn cũng chưa được sử dụng hết Các yếu tố tựnhiên chỉ mang lại hiệu quả thấp do có sự mất cân đối giữa lao động, giảiquyết việc làm ở nông thôn chúng ta cần phải phát triển kinh tế hộ sản xuất.Trên thực tế đã cho thấy trong những năm vừa qua hàng triệu cơ sở sản xuấtđược tạo ra bởi các hộ sản xuất trong khu vực nông nông nghiệp và nôngthôn.
Mặt khác, so cơ tạo hữu cơ thấp, quy mô sản xuất nhỏ, nên mức đầu tư chomột lao động trong kinh tế hộ sản xuất là thấp Qua khảo sát Việt Nam cho thấy :
- Vốn đầu tư cho hộ sản xuất: 1,5 triệu/1lao động/1 việc làm
- Vốn đầu tư cho 1 công ty tư nhân: 3,5 triệu/1lao động/1 việc làm
- Vốn đầu tư cho kinh tế quốc doanh địa phương: 3,5 triệu/1lao động/1việc làm (ở đây chỉ tính vốn đầu tư tài sản cố định)
Như vậy, chi phí cho một lao động ở trong hộ sản xuất là ít tốn kémnhất Điều này đặt trong hoàn cảnh đất nước ta còn là một nước nghèo, vốntích luỹ ít thì càng khẳng định hộ sản xuất là một hình thức tổ chức kinh tếphù hợp góp phần giải quyêts công ăn việc làm , nâng cao thu nhập cho lựclượng lao động trong cả nước nói chung và ở nông thôn nói riêng
1.1.4.3 Hộ sản xuất có khả năng thích ứng với cơ chế thị trường thúc đẩy sản xuất hàng hoá.
Ngày nay, hộ sản xuất hoạt động theo cơ chế thị trường có sự tự docạnh tranh trong sản xuất hàng hoá, là đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ, các hộsản xuất phải quyết định mục tiêu sản xuất kinh doanh của mình là sản xuấtcái gì? Sản xuất như thế nào để trực tiếp quan hệ với thị trường Để đạt đượcđiều này các đơn vị kinh tế nói chung và hộ sản xuất nói riêng đều phải không
Trang 9ngừng nâng cao chất lượng, mẫu mã sản phẩm cho phù hợp với nhu cầu vàmột số biện pháp khác để kích thích cầu từ đó mở rộng sản xuất đôngf thờiđạt được hiệu quả kinh tế cao nhất.
Với quy mô nhỏ, bộ máy quản lý gọn nhẹ, năng động, hộ sản xuất cóthể dễ dàng đáp ứng được những thay đổi của nhu cầu thị trường mà không
sợ ảnh hưởng đến tốn kém về mặt chi phí Thêm vào đó lại được Đảng vàNhà nước có các chính sách khuyến khích, hộ sản xuất không ngừng vươn lên
tự khẳng định vị trí trên thị trường, tạo điều kiện cho thị trường phát triển đầy
đủ, đa dạng thúc đẩy quá trình sản xuất hàng hoá Như vậy với khả năngnhạy bến trước nhu cầu thị trường, hộ sản xuất đã góp phần đáp ứng đầy đủnhu cầu ngày càng cao của thị trường tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất hànghoá phát triển cao hơn
1.1.4.4 Hộ sản xuất thúc đẩy sự phân công lao động dần tới chuyên môn hoá, tạo khả năng hợp tác lao động trên cơ sở tự nguyện cùng có lợi.
Kinh tế hộ đã từng bước tạo sự chuyển dịch cơ cấu nông thôn, củng cốquan hệ sản xuất, tăng cường lực lượng sản xuất tạo sự phân công lao độngtrong nông thôn từ nền sản xuất thuần nông lạc hậu, sản xuất hàng hoá kém pháttriển sang sản xuất hàng hoá phát triển hơn Tự sự phân công lao động dẫn đếnquá trình chuyên môn hoá trong các hộ sản xuất Đối với các hộ kinh doanh dịch
vụ thì sự chuyên môn hoá càng cao thì một yêu cầu tất yếu sẽ xuất hiện, đó là sựhợp tác lao động giữa các hộ sản xuất với nhau Nếu như chuyên môn hoá làmcho năng xuất lao động tăng cao, chất lượng sản phẩm tốt hơn thì hợp tác hoá sẽlàm cho quá trình sản xuất hàng hoá được hoàn thiện đáp ứng đầy đủ nhu cầucủa chính các hộ sản xuất và từ đó đáp ứng nhu cầu thị trường
1.2 Tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất.
1.2.1 Ngân hàng thương mại và hoạt động của ngân hàng thương mại.
1.2.1.1 Định nghĩa NHTM
Trang 10Luật tín dụng do quốc hội khóa X thông qua vào ngày 12 tháng 12 năm
1997 định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là một tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt đông ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan” Luật này còn định nghĩa: “Tổ chức tín dụng là loại hình doanh nghiệp được thành lập theo qui định của luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ làm dịch vụ ngân hang với nội dung nhận tiền gửi và
sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
Luật tổ chức tín dụng không có định nghĩa hoạt động ngân hàng vì kháiniệm này đã được định nghĩa trong luật ngân hàng nhà nước, cũng do quốc
hội khóa X thông qua cùng ngày Luật ngân hàng nhà nước định nghĩa: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền và sử dụng số tiền này để cấp tín dung, cung ứng dịch vụ thanh toán”.
1.2.1.2.Các hoạt động chủ yếu của NHTM
Chương III của luật tổ chức tín dụng nêu ra các hoạt động của tổ chứctín dụng, trong đó chủ yếu là NHTM, bao gồm:
- Hoạt động huy động vốn
- Hoạt động tín dụng
- Hoạt động dịch vụ thanh toán
- Hoạt động ngân quỹ
- Các hoạt động khác như góp vốn, mua cổ phần, tham gia thị trườngtiền tệ, kinh doanh ngoại hối, kinh doanh vàng, kinh doanh bất động sản, kinhdoanh dịch vụ và bảo hiểm, nghiệp vụ ủy thác và đại lý, dịch vụ tư vấn và cácdịch vụ khác liên quan đến hoạt động ngân hàng
a Hoạt động huy động vốn
Ngân hàng thương mại được huy động vốn dưới các hình thức sau:
Trang 11- Nhận tiền gửi của tổ chức cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dướihình thức tiền gửi không kì hạn, tiền gửi có kì hạn và các loại tiền gửi khác.
- Phát hàng chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huyđộng vốn của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước
- Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước
- Các hình thức huy động vốn khác của Ngân hàng Nhà nước
b Hoạt động tín dụng
Ngân hàng thương mại được cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhândưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác,bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngânhàng Nhà nước Trong các hoạt động cấp tín dụng, cho vay là hoạt động quantrọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất
Cho vay: Ngân hàng thương mại được cho các tổ chức cá nhân vay
Bảo lãnh: Ngân hàng thương mại được bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh
toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảolãnh ngân hàng bằng uy tín và bằng khả năng tài chính của mình với ngườinhận bảo lãnh Mức bảo lãnh đối với một khách hàng và tổng mức bảo lãnhcủa một ngân hàng thương mại không được vượt quá tỉ lệ so với vốn tự có củangân hàng thương mại
Chiết Khấu: Ngân hàng thương mại được chiết khấu thương phiếu và
cácgiấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với tổ chức, cá nhân và có thể tái chiếtkhấu các thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổchức tín dụng khác
Trang 12Cho thuê Tài chính: Ngân hàng thương mại được hoạt động cho thuê
tài chính nhưng phải thành lập công ty cho thuê tài chính riêng Việc thànhlập, tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính thực hiện theo Nghịđịnh của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê taì chính
c Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
Để thực hiện được các dịch vụ thanh toán giữa các doanh nghiệp thongqua ngân hàng, ngân hàng thương mại được mở tài khoản cho khách hàngtrong và ngoài nước Để thực hiện thanh toán giữa các ngân hàng với nhauthong qua ngân hàng Nhà nước, ngân hàng thương mại phải mở tài khoản tiềngửi tại Ngân hàng nhà nước nơi ngân hàng thương mại đặt trụ sở chính và duytrì tại đó số dư tiền gửi dự trữ bắt buộc theo quy định Ngoài ra chi nhánh củangân hàng thương mại được mở tài khoản tại chi nhánh ngân hàng Nhà nướctỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở của chi nhánh Hoạt động dịch vụ thanh toán vàngân quỹ của ngân hàng thương mại bao gồm các hoạt động sau:
- Cung cấp các phương tiện thanh toán
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng
- Thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của ngân hàngNhà nước
- Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được ngân hàng Nhà nướccho phép
- Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng
- Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toánliên ngân hàng trong nước
- Tham gia hệ thống thanh toán quốc tê khi được Ngân hàng nhà nướccho phép
d Các hoạt động khác.
Trang 13Ngoài các hoạt động chính bao gồm huy động tiền gửi, cấp tín dụng vàcấp dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, ngân hàng thương mại còn có thể thựchiện một số hoạt động khác, bao gồm:
Góp vốn và mua cổ phần: Ngân hàng thương mại được dùng vốn điều
lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các tổchức tín dụng khác trong nước theo quy định của pháp luật Ngoài ra ngânhàng thương mại còn được góp vốn, mua cổ phần và liên doanh với ngânhàng nước ngoài để thành lập ngân hàng liên doanh
Tham gia thị trường tiền tệ: Ngân hàng thương mại được tham gia thị
trường tiền tệ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, thong qua các hìnhthức mua bán các công cụ của thị trường tiền tệ
Kinh doanh ngoại hối: Ngân hàng thương maị được phép trực tiếp
kinh doanh hoặc thành lập công ty trực thuộc để kinh doanh ngoại hối vàvàng trên thị trường trong nước và thị trường quốc tế
Uỷ thác và nhận uỷ thác: Ngân hàng thương mại được uỷ thác, nhận
uỷ thác làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể
cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nướctheo hợp đồng uỷ thác, đại lý
Cung ứng dịch vụ bảo hiểm: Ngân hàng thương mại được cung ứng
dịch vụ bảo hiểm, được thành lập công ty trực thuộc hoặc liên doanh để kinhdoanh bảo hiểm theo quy định của pháp luật
Tư vấn tài chính: Ngân hàng thương mại được cung ứng các dịch vụ
tư vấn tài chính, tiền tệ cho khách hàng dưới hình thức tư vấn trực tiếp hoặcthành lập công ty tư vấn trực thuộc ngân hàng
Bảo quản vật quý giá: Ngân hàng thương mại được thực hiện các dịch
vụ bảo quản vật quý giá, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụkhác có liên quan theo quy định của pháp luật
Trang 141.2.2 Khái niệm tín dụng ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng là một phạm trù kinh tế hàng hoá Bản chất của tíndụng là quan hệ vay mượn có hoàn trả và lãi sau một thời gian nhất định, là quan
hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn, là quan hệ bình đẳng và hai bêncùng có lợi Trong nền kinh tế hàng hoá có nhiều loại hình tín dụng như : tíndụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước, tín dụng tiêu dùng
Tín dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụngnói chung Đó là quan hệ tin cậy lẫn nhau trong vay và cho vay giữa các ngânhàng, tổ chức tín dụng với các doanh nghiệp và các cá nhân khác, đượcthực hiện dưới hình thức tiền tệ và theo nguyên tắc hoàn trả và có lãi
Điều 20 luật các tổ chức tín dụng quy định :
"Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự
có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng"
"Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thoả thuận để khách hàng sửdụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ chovay, chiết khấu, cho thuê tài chính Bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụkhác"
Do đặc điểm riêng của mình tín dụng ngân hàng đạt được ưu thế hơncác hình thức tín dụng khác về khối lượng, thời hạn và phạm vi đầu tư Vớiđặc điểm tín dụng bằng tiền, vốn TDNH có khả năng đầu tư chuyển đổi vàobất cứ lĩnh vực nào của sản xuất và lưu thông hàng hoá Vì vậy mà tín dụngngân hàng ngày càng trở thành một hình thức tín dụng quan trọng trong cáchình thức tín dụng hiện có
Trong hoạt động tín dụng của ngân hàng còn sử dụng thuật ngữ "tíndụng hộ sản xuất" Tín dụng hộ sản xuất là quan hệ tín dụng ngân hàng giữamột bên ngân hàng với một bên là hộ sản xuất hàng hoá Từ khi được thừanhận là chủ thể trong mọi quan hệ xã hội, có thừa kế, quyền sở hữu tài sản, có
Trang 15phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả Có tài sản thế chấp thì hộ sản xuấtmới có khả năng và đủ tư cách để tham gia quan hệ tín dụng vơi ngân hàng.Đây cũng chính là điều kiện cần để đáp ứng điều kiện vay vốn ngân hàng.
Thực tế đã cho thấy hộ sản xuất sản xuất – kinh doanh có hiệu quảnhưng còn thiếu vốn để mở rộng tiến hành sản xuất kinh doanh Đứng trướctình hình đó, việc tồn tại một hình thức tín dụng ngân hàng đối với hộ sảnxuất là một yết tố phù hợp với cung cầu trên thị trường được môi trường
xã hội, pháp luật cho phép
1.2.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với kinh tế hộ sản xuất.
Trong nền kinh tế hàng hoá các doanh nghiệp khổng thể tiến hành sảnxuất kinh doanh nếu không có vốn Đặc biệt là trong điều kiện nước ta hiệnnay, thiếu vốn là hiện tượng thường xuyên xảy ra đối với các đơn vị kinh tế,không chỉ riêng đối với hộ sản xuất Vì vậy vốn tín dụng ngân hàng đóngvai trò hết sức quan trọng, nó trở thành "bà đỡ" trong quá trình phát triển củanền kinh tế hàng hoá
Nhờ có vốn tín dụng, các đơn vị kinh tế không những đảm bảo quátrình sản xuất kinh doanh bình thường mà còn mở rộng sản xuất, cải tiến
kỹ thuật, áp dụng kỹ thuật mới đảm bảo thắng lợi trong cạnh tranh Riêng đốivới hộ sản xuất, tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc pháttriển kinh tế hộ sản xuất
Tín dụng ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn cho hộ sản xuất để duy trì quá trình sản xuất liên tục, góp phần đầu tư phát triển kinh tế.
Sử dụng nguồn lực một cách có hiệu quả có ý nghĩa quan trọng đốivới sự tăng trưởng kinh tế Nếu như vốn tham gia vào quá trình đầu tư khôngđem lại hiệu quả sẽ không có sự tăng trưởng thậm chí còn gây sức ép tới lạmphát, tạo ra kết cục trái ngược Thực tế chó thấy, quá trình sản xuất luôntrải qua những giai đoạn khác nhau, vì vậy các doanh nghiệp nói chung và
Trang 16hộ sản xuất nói riêng có lúc thừa vốn có lúc thiếu vốn Việc vay bổ sungvốn lưu động sẽ giúp cho quá trình sản xuất được liên tục Mặt khác, vốnđầu tư từ bên ngoài vào còn giúp cho các thành phần kinh tế tham gia vàoquá trình đổi mới công nghệ nhất là trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiệnđại hoá đất nước như nước ta hiện nay.
Với đặc trưng sản xuất kinh doanh của hộ sản xuất với sự chuyênmôn hoá sản xuất trong xã hội ngày càng cao, đã dẫn đến tình trạng các hộsản xuất chưa thu hoạch sản xuất, chưa có hàng hoá để bán thì chưa cóthu nhập, nhưng trong khi đó họ vẫn cần tiềnđể trang trải cho các khoảnchi phí sản xuất, mua sắm đổi mới trang thiết bị và rất nhiều khoản chi phíkhác Trong những lúc này các hộ sản xuất cần có sự hỗ trợ giúp đỡ củatín dụng ngân hàng để có đủ vốn duy trì sản xuất được liên tục Nhờ có sự
hỗ trợ về vốn, các hộ sản xuất có thể sử dụng hiệu quả các nguồn lực sẵn cókhác như lao động, tài nguyên để tạo ra sản phẩm cho xã hội, thúc đẩyviệc sắp xếp tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý từ đónâng cao đời sống vật chất cũng như tình thần cho mọi người
Như vậy có thể khẳng định rằng tín dụng ngân hàng có vai trò rấtquan trọng đối với việc đáp ứng nhu cầu vốn cho hộ sản xuất ở nước tatrong giai đoạn hiện nay Nhu cầu vay vốn để phát triển sản xuất là cần thiết
và rất lớn, khu vực nông thôn trở thành một thị trường to lớn của tín dụngngân hàng cũng vì thế mà thị phần của các hộ sản xuất trong dư nợ củangân hàng nông nghiệp càng tăng
Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình tập trungvốn và tập trung sản xuất.
Trong cơ chế thị trường, vai trò tập trung vố tập trung sản xuất của tín dụngngân hàng đã được thực hiện ở mức độ cao hơn hẳn với cơ chế bao cấp cũ Hiệuquả hoạt động kinh doanh là vấn đề sống còn đối với các ngân hàng phải đảm bảo
Trang 17được độ an toàn và có lợi nhuận, tránh rủi ro trong cho vay.
Bằng cách tập trung vốn vào các doanh nghiệp, các hộ sản xuất kinhdoanh có hiệu quả, có nghĩa là vốn đã được bổ sung vào đúng chỗ cònthiếu, giúp cho các hộ sản xuất càng có điều kiện để mở rộng sản xuất cóhiệu quả hơn, đóng góp cho xã hội nhiều sản phẩm với chất lượng caothúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế và đồng thời ngân hàng cũng đảm bảotránh được rủi ro tín dụng
Thực hiện tốt chức năng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, ngânhàng phải quan tâm đến nguồn vốn đã huy động được để cho hộ sản xuấtvay Vì vậy ngân hàng sẽ thúc đẩy các hộ sử dụng vốn tín dụng có hiệuquả, tăng nhanh vòng quay vốn, tiết kiệm vốn cho sản xuất và lưu thông.trên cơ sở đó hộ sản xuất phải tập trng vốn như thế nào để sản xuất, gópphần tích cực vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn
Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện phát huy các ngành nghề truyền thống, ngành nghề mới giải quyết việc làm cho người lao động.
Việt Nam là một nước nông nghiệp, có nhiều làng nghề truyền thốg,nhưng chưa được quan tâm đến các ngành nghề truyền thống có khả năngđạt hiệu quả kinh tế đặc biệt trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá -hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Phát huy được làng nghề truyềnthống cũng chính là phát huy được nội lực của kinh tế hộ Và tín dụngngân hàng sẽ là công cụ tài trợ cho các ngành nghề mới thu hút được số laođộng nhàn rỗi giải quyết việc làm cho người lao động Từ đó góp phần làmphát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biếnnông - lâm - thuỷ sản, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuấtkhẩu, mở rộng thương nghiệp, du lịch, dịch vụ ở các thành thị và nông thôn,đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại
Do đó tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế kích thích các ngành
Trang 18nghề này phát triển một cách nhịp nhành và đồng bộ Như vậy, bằng độngtác gián tiếp ngân hàng đã kích thích các hộ sản xuất nâng cao hiệu quả sửdụng vốn, phải hoạch định kinh doanh để tính toán có hiệu quả, giảm chophí sản xuất hàng hoá, góp phần vào phát triển kinh tế hộ nói riêng và nềnkinh tế cả nước nói chung.
Vai trò của tín dụng ngân hàng về mặt chính trị - xã hội:
Tín dụng ngân hàng không những có vai trò quan trọng trong việcthúc đẩy phát triển kinh tế mà còn có vai trò to lớn về mặt xã hội
Thông qua việc cho vay mở rộng sản xuất đối với các hộ sản xuất
đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động Đó là mộttrong những vấn đề cấp bách hiện nay ở nước ta Có việc làm, người laođộng có thu nhập sẽ hạn chế được tiêu cực xã hội Tín dụng ngân hàngthúc đẩy các ngành nghề phát triển, giải quyết việc làm cho lao động thừa ởnông thôn, hạn chế những luồng di dân vào thành phố Thực hiện được vấn
đề này là do các ngành nghề phát triển sẽ làm tăng thu nhập cho nông dân,đời sống văn hoá, kinh tế xã hội tăng lên, khoảng cách giữa nông thôn vàthành thi càng nhích lại gần nhau, hạn chế bợt sự phân hoá bất hợp lý trong
xã hội, giữa vững an ninh chính trị
Ngoài ra, tín dụng ngân hàng thực hiện tốt các chính sách đổi mớicủa Đảng và Nhà nước, điển hình là chính sách xoá đói giảm nghèo Tíndụng ngân hàng thúc đẩy các hộ sản xuất phát triển nhanh, làm thay đổi bộmặt nông thôn, các hộ nghèo trở nên khá hơn, hộ khá trở nên hộ giàu Chính
vì lẽ đó các tệ nạn xã hội dần dần được xoá bỏ như: rượu chè, cờ bạc, mêtín dị đoan, nâng cao trình độ dân trí, trình độ chuyên môn của lực lượngkinh doanh Qua đây, chúng ta thấy được vai trò của tín dụng ngân hàngtrong việc củng cố lòng tin của nông dân nói chung và hộ sản xuất nói riêngvào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước
Trang 191.3 Hiệu quả tín dụng đối với hộ sản xuất.
1.3.1 Quan niệm về hiệu quả tín dụng đối với hộ sản xuất.
Trong nền kinh tế thị trường bất kì một loại sản phẩm nào sản xuất racũng phải là sản phẩm mang tính cạnh tranh Điều này có nghĩa là mọi sảnphẩm sản xuất ra đều phải có chất lượng Các nhà kinh tế đã nhận xét: “Chấtlượng là sự phù hợp mục đích của người sản xuất và người sử dụng về mộtlọai hàng hoá nào đó”
Cụm từ “Tín dụng” xuất phát từ gốc la-tinh “Credium” có nghĩa là sựtin tưởng tín nhiệm Tín dụng là phạm trù kinh tế mang tính lịch sử, ra đời vàtồn tại trong nền kinh tế sản xuất và trao đổi hàng hoá Nó là một trong nhữngsản phẩm chính của ngân hàng Đây là hình thức sản phẩm mang hình thái phivật chất, là dịch vụ đặc biệt Sản phẩm này chỉ có khả năng đánh giá được saukhi khách hàng đã sử dụng Do vậy có thể quan niệm hiệu quả tín dụng ngânhàng là việc đáp ững nhu cầu của khách hàng, đáp ứng nhu cầu phát triểnngân hàng và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội
Như vậy, hiệu quả tín dụng ngân hàng được thể hiện qua các quanđiểm sau:
Đối với khách hàng: Tín dụng ngân hàng đưa ra phải phù hợp với yêucầu của khách hàng về lãi suất, kỳ hạn, phương thức thanh toán, hình thứcthanh toán, thủ tục đơn giản thuận tiện nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc tíndụng ngân hàng
Đối với ngân hàng: Ngân hàng đưa ra các hình thức cho vay phù hợpvới phạm vi, mức độ, giới hạn của bản thân ngân hàng để luôn đảm bảo cạnhtranh, an toàn, sinh lời theo nguyên tắc hoàn trả đầy đủ và có lợi nhuận
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tín dụng đối với hộ sản xuất
Hiện nay, tín dụng vẫn chiểm khoảng 60% - 70% trong tổng tài sản có
Trang 20của các Ngân hàng thương mại Vì thế sự tồn tại và phát triển của các Ngânhàng phụ thuộc rất nhiều vào tín dụng và chất lượng tín dụng Việc đánh giáchất lượng tín dung ở các Ngân hàng hiện nay thông qua các chỉ tiêu cơ bảnsau:
a) Chỉ tiêu định tính
• Đảm bảo nguyên tắc cho vay:
Mọi tổ chức kinh tế hoạt động đều dựa trên các nguyên tắc nhất định
Do đặc thù của Ngân hàng là một tổ chức kinh tế đặc biệt, hoạt độngcủa nó ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước,
do vậy có các nguyên tắc khác nhau Trong đó nguyên tắc cho vay là mộtnguyên tắc quan trọng đố với mỗi Ngân hàng
Để đánh giá chất lượng một khoản cho vay, điều đầu tiên phảixem xét là khoản vay đó có đảm bảo nguyên tắc cho vay hay không ?
Khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng phải đảm bảo:
- Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thảo thuận trong hợp đồng (mụcđích sử dụng vốn vay hợp pháp, phù hợp với chương trình phát triển kinh tế
xã hội của địa phương, phù hợp với giấy phép kinh doanh)
- Phải có dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả
- Phải trả gốc và lãi tiền vay theo đúng thoả thuận trong hợp đồng tíndụng Nếu không thực hiện đúng thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật vàngân hàng có quyền bán tài sản đảm bảo theo thoả thuận trong hợp đồng đểthu nợ theo quy định của pháp luật
Những nguyên tắc cho vay trên là nguyên tắc tối thiểu mà bất cứ mộtkhoản cho vay nào cũng phải đảm bảo
• Quá trình thẩm định:
Thẩm định cho vay là công việc hết sức quan trọng, là tiền đề quyếtđịnh việc cho vay và hiệu quả vốn đầu tư Thẩm định là quá trình phân tích
Trang 21đánh giá dự án trên cơ sở những chuẩn mực, nhằm rút ra những kết luận làmcăn cứ cho đưa ra quyết định cho vay.
Quá trình thẩm định là cách tốt nhất để Ngân hàng nắm được thông tin
về năng lực pháp luật, đạo đức, tình hình tài chính, khả năng trả nợ của kháchhàng … Đây là khâu không thể thiếu trong quá trình quyết định cho vay vàtheo dõi khoản vay Quá trình thẩm định phải tuân theo nguyên tắc, các căn
cứ, các quy trình và nội dung thẩm định của từng Ngân hàng Một khản vay
có chất lượng là khoản vay đã được thẩm định và phải đảm bảo các bước củaquá trình thẩm định
Quá trình thẩm định một khoản vay cho hộ sản xuất rất phức tạp do đặcđiểm sản xuất kinh doanh của hộ sản xuất là kinh doanh tổng hợp Vì vậy đòihỏi cán bộ thẩm định, tái thẩm định phải tinh thông nghiệp vụ, hiểu biết phápluật, nắm bắt kịp thời nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ,các thông tin dự báo, thông tin kinh tế kỹ thuật, thị trường và khả năng phântích tài chính có như vạy mới có thể giúp lãnh đạo quyết định cho vay mộtcách có hiệu quả và đảm bảo chất lượng một khoản vay
a) Chỉ tiêu định lượng
Chỉ tiêu định lượng giúp cho Ngân hàng có cách đánh giá cụ thể hơn vềmặt chất lượng tín dụng, giúp các Ngân hàng có biện pháp xử lý kịp thờinhững khoản vay kém chất lượng Các chỉ tiêu cụ thể mà các Ngân hàngthường dùng là:
• Doanh số cho vay hộ sản xuất.
Doanh số cho vay hộ sản xuất là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng thể sốtiền Ngân hàng cho hộ sản xuất vay trong thời kỳ nhất định thường là một năm
Ngoài ra Ngân hàng còn dùng chỉ tiêu tương đối phản ánh tỷ trọng chovay hộ sản xuất trong tổng số cho vay của Ngân hàng trong một năm
Doanh số cho vay HSX x 100%
Trang 22Tỷ trọng cho vay hộ sản xuất = Tổng doanh số cho vay
• Doanh số thu nợ hộ sản xuất.
Doanh số thu nợ hộ sản xuất chỉ là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng sốtiền Ngân hàng đã thu hồi được sau khi đã giải ngân cho hộ sản xuất trongmột thời kỳ
Tỷ lệ thu nợ hộ sản xuất =
Doanh số thu nợ HSXTổng dư nợ của HSX x 100%
Để phản ánh tình hình thu nợ hộ sản xuất, Ngân hàng còn sử dụng chỉtiêu tương đối phản ánh tỷ trọng thu hồi được trong tổng doanh số cho vay hộsản xuất của Ngân hàng trong thời kỳ
Chỉ tiêu này cũng được tính bằng công thức:
Tỷ lệ thu nợ hộ sản xuất =
Doanh số thu nợ HSXDoanh số cho vay HSX x 100%
• Dư nợ quá hạn hộ sản xuất.
Dư nợ quá hạn hộ sản xuất là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng thể sốtiền Ngân hàng chưa thu hồi được sau một thời gian nhất định kể từ ngàykhoản vay đựoc cho vay đến hạn thanh toán thời điểm đang xem xét
Bên cạnh chỉ tiêu tuyệt đối Ngân hàng cũng thường xuyên sử dụng cácchỉ tiêu như:
Tỷ lệ quá hạn hộ sản xuất = Dư nợ quá hạn HSX
Tổng dư nợ của HSX x 100%
Đây là chỉ tiêu là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả tín dụng hộsản xuất và chất lượng tín dụng đầu tư cho vay đối với hộ sản xuất Dư nợquá hạn càng nhỏ, tỷ lệ nợ quá hạn thấp thì chất lượng tín dụng càng cao
Hoạt động Ngân hàng nói chung và TDNH nói riêng đều chứa đựng
Trang 23nhiều rủi ro tác động đến lợi nhuận và sự an toàn trong kinh doanh của Ngânhàng Do đó việc đảm bảo thu hồi đủ vốn cho vay đúng hạn, thể hiện qua tỷ lệ
nợ quá hạn thấp là vấn đề quan trọng trong quản ký Ngân hàng tác động trựctiếp đến sự tồn tại của các Ngân hàng
Để đánh giá khả năng không thu hồi được nợ người ta sử dụng chỉ tiêu
Trang 24b) Một số chỉ tỉêu khác.
- Chỉ tiêu 1: số tiền vay mỗi lượt của hộ sản xuất.
Doanh số cho vay HSXTổng số lượt HSX vay vốnChỉ tiêu này phản ánh số tiền vay mỗi lượt của hộ sản xuất Số tiền vaycàng cao chứng tỏ hiệu quả cũng như chất lượng cho vay càng tăng lên Điều
đó thể hiện sức sản xuất cũng như quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh của
hộ sản xuất tăng lên cao Đồng thời thể hiện chất lượng cho vay có xu hướngtăng, bởi thế Ngân hàng cho một lượt hộ sản xuất vay nhiều hơn mà vẫn đảmkhả năng thu hồi và có lãi
- Chỉ tiêu 2: tỷ lệ cho vay trung và dài hạn hộ sản xuất.
Hai chỉ tiêu trên phản ánh hiệu quả tín dụng Ngân hàng đối với việcphát triển kinh tế hộ sản xuất qua đó đánh giá được chất lượng tín dụng củaNgân hàng
Trang 251.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tớn dụng đối với hộ sản xuất.
Việc nâng cao hiệu quả TDNH đối với hộ sản xuất có ý nghiã rất lớnđối với Ngân hàng vì nó quyết định đến sự thành bại của Ngân hàng Do vậy,phải nâng cao hiệu quả tín dụng hộ sản xuất là một yêu cầu thường xuyên đốivới Ngân hàng Để làm tốt điều đó cần phải xem xét các yếu tố ảnh hưởngđến chất lượng tín dụng hộ sản xuất
1.4.1 Nhân tố khách quan.
Yếu tố môi trường:
Môi trường là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến chấtlượng tín dụng hộ sản xuất Đặc biệt ở nước ta hoạt động nông nghiệp cònmang tính thời vụ phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên thì điều kiện tự nhiên
có ảnh hưởng rất lớn
- Môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên tác động trực tiếp đến quá trình sản xuất kinhdoanh của hộ sản xuất nhất là những hộ sản xuất nông nghiệp phụ thuộc chủyếu vào điều kiện tự nhiên Nếu ‘ mưa thuận gió hoà’ thì sản xuất nôngnghiệp gặp nhiều thuận lợi, người dân được mùa sản xuất kinh doanh gặpnhiều thuận lợi … Hộ sản xuất có khả năng tài chính ổn định từ đó khoản tíndụng được đảm bảo Ngược lại nếu thiên tai bất ngờ xẩy ra thì sản xuất gặpnhiều khó khăn gây ra thiệt hại lớn về kinh tế cho hộ sản xuất …Dẫn đếnkhảon tín dụng là có vấn đề
- Môi trường kinh tế xã hội
Môi trường kinh tế xã hội có ảnh hưởng gián tiếp đến chất lượng tíndụng hộ sản xuất Môi trường kinh tế ổn định và phát triển sẽ tạo điều kiệncho hộ sản xuất làm ăn có hiệu quả, do vậy hộ sản xuất sẽ vay nhiều hơn, cáckhoản vay đều được hộ sản xuất sử dụng đúng mục đích mang lại hiệu quảkinh tế Từ đó, các khoản vay được hoàn trả đúng thời hạn cả gốc và lãi làm
Trang 26cho chất lượng tín dụng hộ sản xuất được nâng lên.
- Môi trường chính trị – Pháp lý
Ngân hàng là một trong những ngành phải chịu sự giám sát chặt chẽ của
cơ quan pháp luật và cơ quan chức năng Do vạy, việc tạo ra môi trường pháp lýhoàn thiện sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng tín dụng
Môi trường pháp lý ổn định, tạo điều kiện và cơ sở pháp lý ssể hoạtđộng tín dụng Ngân hàng cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ sảnxuất được tiến hành một cách thuận lợi Những quy định cụ thể của pháp luật
về tín dụng và các lĩnh vực khác có liên quan đến hoạt động tín dụng là cơ sở
để xử lý, giải quyết khi xẩy ra các tranh chấp tín dụng một cách hữu hiệunhât Vì vậy môi trường chính trị – pháp lý có ảnh hưởng lớn đến hoạt độngtín dụng hộ sản xuất
Yếu tố thuộc về khách hàng.
- Trình độ của khách hàng bao gồm cả trình độ sản xuất và trình độquản lý của khách hàng Với một trình độ sản xuát phù hợp và trình độ quản
lý khoa học, khách hàng có thể đạt được kết quả sản xuất kinh doanh tốt, sẽ
có khả năng tài chính để trả nợ Ngân hàng Ngược lại thì khả năng trả nợNgân hàng là khó khăn
- Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích:
Đây là yếu tố thuộc về chủ quan của khách hàng Rất khó để cho Ngânhàng kiểm soát từ đầu vì đây là ý định của khách hàng
1.4.2 Nhân tố chủ quan.
Các yếu tố thuộc về Ngân hàng.
Quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng và khách hàng một mặt cũng giốngnhư các quan hệ tín dụng khác trong cơ chế thị trường, nhưng mặt khác đócòn là chính sách các quy định … của Ngân hàng
- Chính sách tín dụng Ngân hàng
Trang 27Chính sách tín dụng Ngân hàng có ảnh hương trực tiếp đến chất lượngtín dụng Đó là một trong những chính sáchCó chính sách tín dụng đúng đắn
sẽ đưa ra được hình thức cho vay phù hợp với nhu cầu, thu hút được kháchhàng , đồng thời cũng khuyến khích khách hàng trả nợ đúng hạn
- Chấp hành quy chế tín dụng
Việc chấp hành các quy chế tín dụng của cán bộ làm công tác Ngânhàng nói chung và tín dụng nói riêng là nguyên nhân để các chỉ tiêu định tínhdánh giá chất lượng tín dụng Ngân hàng có thực hiện đưọc hay không Việcchấp hành các quy định, các văn bản của Luật các tổ chức tín dụng các quyđịnh của bản thân mỗi Ngân hàng của khi cho vay của mỗi cán bộ tín dụngcẩn phải được tuân thủ
- Trình độ cán bộ tín dụng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng khoảnvay Chất lượng một khoản cho vay được xác định ngay từ khi khoản vayđược quyết định
- Kiểm tra , kiểm soát của Ngân hàng nếu việc làm này được tiến hànhmột cách kịp thời đồng bộ sẽ nắm bắt và sử lý được những khoản vay có vấn đề
- Hệ thống thông tin Ngân hàng sẽ tạo điều kiện để Ngân hàng nắm bắtđược thông tin của khách hàng trước khi quyết định một khoản cho vay Yếu
tố này rất quan trọng bởi vì nó góp phần ngăn chặn những khoản cho vay cóchất lượng không tốt ngay từ khi chưa xẩy ra
Như vậy, có thể khẳng định tín dụng Ngân hàng có vai trò hết sức quantrọng đối với hộ sản xuất Nó được coi là công cụ đắc lực của nhà nước, làđòn bẩy kinh tế, động lực thúc đẩy sản xuất phát triển một cách toàn diện,thúc đảy quá trình CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn cũng như với nền kinh
tế quốc dân Nhưng thực tế cho thấy, chất lượng tín dụng Ngân hàng đối với
hộ sản xuất còn nhiều vấn đề cần giải quyết và tháo gỡ Do đó, việc nâng caochất lượng tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất hiện nay là vấn đề quan
Trang 28trọng đối với Ngân hàng nói chung và NHNo&PTNT nói riêng.
Chương II: Thực trạng huy động và sử dụng vốn tín dụng ngân hàng đểphát triển kinh tế hộ sản xuất ở huyện Hoài Đức
2.1 Khái quát về NHNo&PTNT huyện Hoài Đức
2.1.1 Một số nét về NHNo&PTNT huyện Hoài Đức
NHNo&PTNT huyện Hoài Đức được thành lập năm 1988, là chi nhánhthuộc NHNo&PTNT Hà Nội Đến tháng 9 năm 1991 đã được NHNo&PTNT
Hà Nội bàn giao về NHNo&PTNT Hà Tây, và là chi nhánh thuộcNHNo&PTNT Hà Tây cho đến nay
Trụ sở chính: Thị trấn Trôi, Hoài đức, Hà Nội
Các chi nhánh:
* Ngân hàng cấp 3 Cát Quế: Cát Quế, Hoài đức, Hà Nội
* Ngân hàng cấp 3 Sơn Đồng: Kim Chung, Hoài Đức, Hà Nội
* Ngân hàng cấp 3 Ngãi Cầu: Ngãi Cầu, An Khánh, Hoài Đức, Hà Nội.Sau 20 năm phấn đấu, xây dựng và từng bước trưởng thành,NHNo&PTNT Hoài Đức đã đi những bước vững chắc với sự phát triển toàndiện trên các mặt huy động nguồn vốn, tăng trưởng đầu tư và nâng cao chấtlượng tín dụng, thu chi tiền mặt, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, phát triển
đa dạng hoá dịch vụ Cụ thể các sản phẩm và dịch vụ mà NH cung cấp nhưsau:
Các hình thức tiền gửi.
Hiện nay NHNo & PTNT huyện Hoài Đức có các sản phẩm huy độngvốn như sau:
- Tiền gửi tiết kiệm thông thường
- Tiền gửi tiết kiệm bậc thang: Khách hàng gửi một lần vào loạinày khi rút ra được ngân hàng trả lãi theo thời gian và số dư thực tế Kháchhàng có thể rút tiền bất cứ lúc nào với bất cứ khoản tiền nào trong phạm vi số
Trang 29dư thực tế Khi rút, khách hàng sẽ được nhận lãi của khoản tiền rút ứng vớithời gian thực tế đã gửi khoản tiền đó Khoản tiền còn lại (nếu chưa rút hết) sẽtiếp tục được tính lãi tiếp với kỳ tính lãi trước đó Các mức lãi suất được ghingay vào sổ tiết kiệm bậc thang khi khách hàng gửi tiền vào.
Cho vay
Ngân hàng hiện đang cung cấp các sản phẩm cho vay sau:
+ Cho vay vốn ngắn hạn, trung hạn, dài hạn để phục vụ sản xuất kinhdoanh đối với mọi thành phần kinh tế
+ Cho vay trả góp để mua sắm máy móc thiết bị, phương tiệnvận tải…
+ Cho vay tiêu dùng để xây dựng nhà cửa, mua sắm phương tiện
đi lại và mọi tiện nghi sinh hoạt
+ Thực hiện bảo lãnh ngân hàng: bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thựchiện hợp đồng, bảo lãnh thanh toán…
+ Cho vay cầm cố các giấy tờ có giá Khách hàng có thể vay cầm
cố sổ tiền gửi tiết kiệm, sổ tiết kiệm bưu điện với lãi suất ưu đãi
- Kinh doanh đối ngoại:
+ Thanh toán quốc tế xuất nhập khẩu theo các hình thức: Thư tíndụng (L/C), nhờ thu, chuyển tiền…
Trang 30+ Mua bán ngoại tệ USD, EUR.
+ Chi trả kiều hối dịch vụ chuyển tiền nhanh quốc tế WesternUnion cho các cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài gửi tiền về nước chongười thân
- Phát hành thẻ ATM, thẻ tín dụng…
Ngân hàng làm đại lý phát hành thẻ cho NHNo & PTNT ViệtNam Khách hàng khi đến đăng ký làm thẻ sẽ được nhận thẻ của NHNo &PTNT Việt Nam
- Là đại lý bảo hiểm cho bảo hiểm nông nghiệp ABIC, ngoài ra thu phícho hãng bảo hiểm prudential
2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT huyện HoàiĐức
Trang 31Qua số liệu bảng trên ta thấy tổng thu nhập các năm có sự tăng trưởngkhá cao Năm 2010, tổng thu nhập đạt 60.003 triệu đồng, tăng trưởng 52,99%
so với năm 2009 và gấp hơn 2 lần năm 2008 (27.561 triệu đồng) Trong khi
đó, tốc độ tăng trưởng tổng chi phí lại ở mức thấp hơn Năm 2010, tổng chiphí là 35.273 triệu đồng, tăng 32,65% so với năm 2009 và gấp 1,7 lần so vớinăm 2008
Chính vì tốc độ tăng trưởng tổng thu nhập lớn hơn tốc độ tăng trưởngtổng chi phí đã làm cho tốc độ tăng trưởng lợi nhuận các năm rất lớn Năm
2010, lợi nhuận thu được bằng 24.730 triệu đồng, tốc độ tăng trưởng là95,83% và gấp hơn 3,5 lần lợi nhuận thu được năm 2008 Lợi hàng năm đềutăng trưởng gần bằng 100% chứng tỏ hoạt động kinh doanh của ngân hàng cóhiệu quả tốt
Tiền gửi dưới 12 tháng 65.448 97.203 95.920 88.930 Tiền gửi >=12 tháng 97.380 104.545 180.579 288.399
Trang 32Từ bảng số liệu trên ta có được một số phân tích như sau:
- Tốc độ tăng trưởng tổng nguồn vốn huy động trung bình qua các nămđạt 34,31%, tốc độ tăng trưởng các năm khá cao và đồng đều, không có sựcách biệt lớn Điều đó chứng tỏ ngân hàng đã duy trì được một tốc tộ tăngtrưởng nguồn vốn ổn định qua các năm
- Nguồn vốn huy động phần lớn là tiền gửi từ 12 tháng trở lên Trongkhi tốc độ tăng trưởng trung bình của nguồn tiền gửi dưới 12 tháng là 12,94%thì của nguồn tiền gửi từ 12 tháng trở lên tỷ lệ này là 51,97%, điều đó cànglàm gia tăng số dư nguồn tiền gửi từ 12 tháng trở lên Tỷ trọng nguồn tiền gửi
từ 12 tháng trở lên trên tổng nguồn huy động 4 năm từ năm 2007 đến năm
2010 lần lượt là: 59,81%, 51,82%, 65,31%, 76,43%, trung bình đạt 63,34%
Dễ nhận thấy nguồn vốn huy động từ 12 tháng trở lên chỉ chiếm trên phầnnửa tổng nguồn huy động không nhiều, tuy nhiên tỷ trọng này lại có xu hướngtăng qua các năm và đến năm 2010 nó đã chiếm đến 76,43% tổng nguồn huyđộng Có được kết quả đó chứng tỏ ngân hàng đã tập trung phát triển nguồntiền gửi từ 12 tháng trở lên và đã đạt được những kết quả đáng mừng
- Tương tự như vậy, tốc độ tăng trưởng trung bình của nguồn tiền gửiđồng nội tệ và đồng ngoại tệ lần lượt là 36,02% và 25,02% Tốc độ tăngtrưởng đồng nội tệ lớn hơn tuy nhiên sự cách biệt là không lớn Qua 4 năm từnăm 2007 đến năm 2010 trung bình nguồn huy động bằng đồng nội tệ chiếm
Trang 3386,40% trong tổng nguồn huy động Tỷ trọng này lần lượt qua 4 năm là:85,91%, 85,32%, 86,83%, 87,54% Có thể thấy nguồn huy động bằng đồngnội tệ chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn huy động Tỷ trọng này qua cácnăm là khá ổn định và có chiều hướng tăng nhẹ không đáng kể.
- Theo thành phần kinh tế, tốc độ tăng trưởng nguồn vốn trung bìnhhuy động được từ dân cư và từ các tổ chức kinh tế tương ứng là 38,02% và30,62%, tỷ lệ này cũng tương đối xấp xỉ nhau Tuy nhiên tiền gửi dân cư vẫn
có tốc độ tăng trưởng chậm hơn Về tỷ trọng, nguồn vốn dân cư trong tổngnguồn qua 4 năm từ năm 2007 đến năm 2010 lần lượt là 86,69%, 80,39%,75,49% và 85,3% Ta có thể thấy tiền gửi của dân cư cũng đóng góp một tỷtrọng rất lớn trong tổng nguồn huy động Tỷ trọng nguồn tiền gửi dân cư có
xu hướng giảm qua các năm, tuy nhiên trong 2 trở lại đây là năm 2009 và năm
2010 tỷ lệ này có xu hướng tăng Những phân tích trên cho thấy ngân hàng đãthu hút được một lượng lớn nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư Tỷ trọng nguồntiền gửi của các tổ chức kinh tế tương ứng đạt trung bình ở mức 18,03% tổngnguồn huy động trong 4 năm Điều này là do nguyên nhân đại bộ phận các tổchức kinh tế trên địa bàn huyện Hoài Đức là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, sốlượng doanh nghiệp không lớn cũng như nguồn vốn lưu động không phải lànhiều
- So với kế hoạch, hầu hết các năm nguồn vốn huy động được đều đạt
và vượt kế hoạch Tuy nhiên, năm 2008 thực hiện trong năm chỉ đạt 98,41%
kế hoạch, không đạt kế hoạch đề ra Năm có vượt kế hoạch cao nhất là năm
2009 thì thực hiện vượt kế hoạch 17,66%
Từ những phân tích trên ta có thể nhận thấy NHNo & PTNT huyệnHoài Đức luôn duy trì một cơ cấu nguồn khá ổn định qua các năm Công tác
mở rộng nguồn vốn huy động đã đạt được những thành công nhất định, gópphần mang lại thành công cho hoạt động của ngân hàng
Trang 342.1.2.3 Hoạt động cho vay
Tình hình hoạt động cho vay toàn ngân hàng 4 năm qua:
Bảng 2.3: Hoạt động cho vay vốn các năm 2007 – 2010
Trang 35Nguồn: Tổng hợp từ các Báo cáo tín dụng và Báo cáo tổng kết cuối năm của NHNo & PTNT huyện Hoài Đức từ năm 2007 đến năm 2010
Từ bảng số liệu trên ta tính toán và phân tích một số chỉ tiêu nhưsau:
+ Tốc độ tăng trưởng tổng dư nợ bình quân 4 năm từ năm 2007 đếnnăm 2010 khá cao ở mức 29,73%, trong đó cụ thể lần lượt qua từng năm là:46,55%, 16,32%, 22,93% và 33,10% Tốc độ tăng trưởng tổng dư nợ có xuhướng tăng trong những năm gần đây, tuy nhiên đến năm 2010 tốc độ tăngtrưởng tổng dư nợ đạt ở mức 33,10% vẫn chưa bằng tốc độ đó của năm 2007.Tổng dư nợ liên tục tăng qua các năm là do điều kiện kinh tế địa phươngmang lại Chính sách phát triển kinh tế thông thoáng góp phần thúc đẩy nềnkinh tế của huyện Hoài Đức phát triển, thành lập thêm nhiều doanh nghiệpmới và đưa vào hoạt động cũng góp phần làm tăng nhu cầu vốn để phát triển
+ So với kế hoạch thì tổng dư nợ thực hiện các năm hầu hết là đều đạt
và vượt kế hoạch Tuy nhiên, trong 2 năm 2008 và năm 2010 đã không đạt kếhoạch, tỷ lệ đạt kế hoạch 2 năm lần lượt là 90,60% và 99,98%
+ Theo ngành kinh tế:
Dư nợ ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao nhất Tuy nhiên, tỷ lệ này
có xu hướng giảm từ năm 2009 Tỷ trọng dư nợ ngành nông nghiệp trongtổng dư nợ năm 2007, 2008 lần lượt là 50,37% và 47,15% đến năm 2009 vànăm 2010 tỷ lệ này giảm xuống lần lượt là 28,5% và 16,1%
Khác với nông nghiệp, dư nợ trong công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ liên tục tăng cả về số tuyệt đối và tỷ trọng Nếu như
2 năm 2007, 2008 tỷ trọng dư nợ ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệptrong tổng dư nợ trung bình là 35,5% thì tỷ lệ này đã tăng lên 54% vào 2 năm
2009 và 2010
Trang 36Tương tự như vậy nhưng với tốc độ tăng chậm hơn trong dư nợ ngànhthương mại và dịch vụ với tỷ trọng dư nợ trung bình trong tổng dư nợ 3 năm
2007 – 2010 là 16,4% đến năm 2010 tỷ trọng này đã tăng lên 29,9%
Những số liệu đã tính toán và phân tích ở trên là phù hợp với việc HoàiĐức đang chuyển dịch mạnh mẽ về cơ cấu ngành kinh tế theo hướng giảmmạnh tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, thươngnghiệp và dịch vụ
+ Theo thành phần kinh tế:
Dư nợ chủ yếu tập trung vào hộ sản xuất với tỷ trọng dư nợ trung bìnhtrong tổng dư nợ 4 năm qua là 82% Tốc độ tăng trưởng trung bình dư nợ hộsản xuất trong tổng dư nợ 4 năm qua là 27% trong khi tỷ lệ này ứng với doanhnghiệp ngoài quốc doanh là 45%
Dư nợ doanh nghiệp quốc doanh năm 2006 là 200.000.000VNĐ chiếm0,13% tổng dư nợ Tuy nhiên từ năm 2007 đến năm 2010 tỷ trọng dư nợdoanh nghiệp quốc doanh trong tổng dư nợ là 0%
Kết quả trên là do tình hình phát triển kinh tế địa phương mang lại Nềnkinh tế huyện Hoài Đức là nền kinh tế nông nghiệp, sản xuất nhỏ lẻ, manhmún Tuy nhiên trong thời gian gần đây địa phương đã có kế hoạch phát triểnnền kinh tế sản xuất hàng hoá quy mô lớn, tập trung, phát triển mô hình doanhnghiệp nhỏ và vừa Mô hình sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hoá, tậptrung, quy mô lớn bắt đầu được triển khai, điển hình là khu trồng hoa thươngphẩm ở Sơn Đồng đã đem lại hiệu quả kinh tế lớn và mang lại thu nhập ổnđịnh cho người lao động Số lượng các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng ngàycàng tăng Khu công nghiệp hiện có được mở rộng diện tích (Khu côngnghiệp An Khánh), quy hoạch khu công nghiệp mới (Khu công nghiệp KimChung) được thực hiện đã tạo điều kiện cho mở rộng số lượng các doanhnghiệp trên địa bàn
Trang 37+ Theo thời hạn vay:
Dư nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao trong tổng dư nợ, trung bình tỷ lệnày là 80,44% trong khi dư nợ trung, dài hạn chỉ chiếm trung bình 19,56%tổng dư nợ Điều này là phù hợp với tình hình kinh tế địa phương chủ yếu làsản xuất nông nghiệp ngắn hạn, các doanh nghiệp là các doanh nghiệp nhỏ vàvừa Tốc độ tăng trưởng dư nợ ngắn hạn và trung, dài hạn trung bình lần lượt
là 35,34% và 9,82%
Tuy tốc độ tăng trưởng dư nợ ngắn hạn trung bình 4 năm qua lớn hơnnhiều so với tốc độ tăng trưởng dư nợ trung, dài hạn, song tốc độ tăng trưởngqua các năm của cả hai loại lại không ổn định Tốc độ tăng trưởng dư nợ ngắnhạn năm 2007 là 53,87%, giảm mạnh còn 24,91% năm 2008 và sau đó lạităng nhẹ vào các năm 2009 và 2010 đạt 27,06% và 35,52% Năm 2010, dư nợngắn hạn mới chỉ gấp 2,15 lần dư nợ ngắn hạn năm 2007
Tốc độ tăng trưởng dư nợ trung, dài hạn cũng không ổn định Năm
2007, tốc độ tăng trưởng dư nợ trung, dài hạn đạt ở mức 27,03%, ngay sau đó,năm 2008, dư nợ trung, dài hạn không tăng mà còn giảm, tốc độ tăng trưởnggiảm xuống còn – 11,45% Hai năm 2009 và 2010 tốc độ này có sự tăngtrưởng ổn định đạt ở mức 15%/năm
+ Theo hình thức cấp:
Cho vay trực tiếp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ, bình quân
4 năm 2007 – 2010 cho vay trực tiếp chiếm tỷ trọng 95% tổng dư nợ Tuy chovay gián tiếp chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng dư nợ (bình quân chiếm5%), nhưng cho vay gián tiếp lại chiếm một lượng khách hàng đáng kể so vớitổng số khách hàng của NHNo & PTNT Hoài Đức Hai năm 2008 và 2009,tổng dư nợ (theo số liệu bảng 2.3) chưa bao gồm dư nợ của Ngân hàng chínhsách chuyển sang, mà hoạt động cho vay chủ yếu của Ngân hàng chính sách
là cho vay gián tiếp Năm 2009, vay gián tiếp qua tổ nhóm chiếm 2,6% tổng
Trang 38dư nợ, bằng 1.083 khách hàng, chiếm 17,09% tổng số khách hàng Đến năm
2010, vay gián tiếp qua tổ nhóm chiếm 4,6% tổng dư nợ, bằng 2.119 kháchhàng, chiếm 31,50% tổng số khách hàng Cho vay gián tiếp đã tạo điều kiệngiúp cán bộ tín dụng có nhiều thời gian hơn để tập trung vào các khoản đầu tưlớn, đem lại hiệu quả cao hơn cho hoạt động tín dụng
+ Tỷ lệ nợ quá hạn trung bình là 0,82% là một tỷ lệ thấp so với quyđịnh 5% của NHNN Điều này đã được các đoàn kiểm tra của NHNo &PTNT Hà Tây và kiểm toán nhà nước kiểm tra trực tiếp và khẳng định Tuynhiên tỷ lệ này có xu hướng tăng qua 4 năm và tăng cao nhất là 1,44% năm
2010 Sở dĩ tỷ lệ nợ quá hạn liên tục tăng là do khoản nợ quá hạn của công tyTNHH Đức Phương từ năm 2007 tồn tại và tăng đến năm 2010 là 1,466 tỷđồng chiếm tỷ lệ 77,36% tổng nợ quá hạn
Nhìn chung hoạt động tín dụng toàn NHNo & PTNT huyện HoàiĐức trong những năm qua là tương đối tốt Hầu hết các chỉ tiêu đều đạt vàvượt kế hoạch Tuy nhiên cần chú ý hơn đến phần nợ quá hạn để có các biệnpháp và chính sách thu hồi nợ quá hạn hiệu quả
2.2 Đặc điểm tình hình huyện Hoài Đức
Hoài Đức là huyện nằm ở khu vực miền trung của tỉnh Hà Tây cũ PhíaBắc giáp huyện Đan Phượng Phía Nam giáp huyện Quốc Oai và quận HàĐông Phía Tây giáp huyện Quốc Oai và phía Đông giáp Từ Liêm
Địa hình của huyện nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền núi và đồngbằng, gồm 3 vùng đồi núi, đồng bằng, vùng bãi Trong vùng có một số núi sótnhư núi Voi, vua Bà, núi Thầy, Hoàng Xá (núi đá vôi) Trong huyện có sôngTích và sông Đáy chảy qua Huyện có vùng là đồng bằng châu thổ, bằngphẳng, độ cao trung bình là 5m
Về mặt hành chính, huyện có 1 thị trấn là thị trấn Trạm Trôi và và 19
xã gồm: An Khánh, An Thượng, Cát Quế, Di Trạch, Dương Liễu, Đắc Sở,
Trang 39Đông La, Đức Giang, Đức Thượng, Kim Chung, La Phù, Lại Yên, MinhKhai, Song Phương, Sơn Đồng, Tiền Yên, Vân Canh, Vân Côn, Yên Sở.
Hoài Đức là huyện nằm trong quy hoạch phát triển Từ trước đến nay,huyện đã nổi danh với những làng nghề truyền thống đa dạng và phong phúnhư ghề tạc tượng ở Sơn Đồng, làm bánh kẹo, dệt len ở La Phù, nhiếp ảnh ởKim Chung…Đây là điều kiện cơ bản để Hoài Đức phát triển mạnh côngnghiệp - tiểu thủ công nghiệp Bên cạnh đó, với lợi thế là nằm trong khu tamgiác trọng điểm phía Bắc, lại có hệ thống đường giao thông thuận lợi và hiệnđại nối với vùng trung tâm Hà Nội cũng như toả đi các tỉnh phía Bắc nói riêng
và cả nước nói chung nên Hoài Đức là địa chỉ hấp dẫn các nhà đầu tư trong vàngoài nước
Hoài Đức nằm kề với thủ đô Hà Nội về phía Đông và quận Hà Đông ởphía Nam, có đường cao tốc Láng – Hoà Lạc và quốc lộ 32 đi qua Sông Đáychảy ở phía Tây của huyện Tận dụng lợi thế cận giang, cận thị, những nămgần đây, Hoài Đức đã mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng côngnghiệp hóa, hiện đại hóa Trong đó, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp làngành kinh tế mũi nhọn Tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp bình quân đạt15,2%/năm Sự thay đổi về cơ cấu ngành kinh tế này đã góp phần vào sự pháttriển kinh tế - xã hội của huyện đồng thời đem lại mức thu nhập ổn định chongười dân
Bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp - tiểu thủ côngnghiệp, hoạt động thương mại, dịch vụ của huyện cũng phát triển khá đồng
bộ Trong những năm qua, ngành thương mại dịch vụ đã có mức tăng trưởngkhá cao, đáp ứng nhu cầu về đầu ra, đầu vào của các ngành sản xuất côngnghiệp - xây dựng cơ bản và nhu cầu của thị trường Hà Nội Hàng năm, HoàiĐức cung cấp khoảng 10% nhu cầu về rau quả, các sản phẩm nông nghiệp đãqua chế biến cho Hà Nội
Trang 40Xác định rõ lợi thế và vị trí của mình nên trong thời gian tới, huyệnHoài Đức đặt ra nhiệm vụ trọng tâm là tập trung mọi nguồn lực cho phát triểnkinh tế, để từng bước đưa huyện trở thành một trung tâm kinh tế của Hà Nội.
Về công nghiệp, xác định đây là ngành kinh tế mũi nhọn nên huyện đãchủ trương khai thác tiềm năng của từng cơ sở, từng ngành, từng vùng, từngthành phần kinh tế để phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp theohướng kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, đáp ứng nhu cầu đời sống, phục vụxuất khẩu, giải quyết việc làm, đảm bảo nâng cao đời sống nhân dân Đểphục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu trên, huyện đã tiến hành quy hoạch
15 cụm điểm công nghiệp và xây dựng các vùng công nghiệp tập trung
Về thương mại và dịch vụ, huyện đã chủ trương tổ chức lại hệ thốnglưu thông hàng hoá và các tổ chức thương mại - dịch vụ, xây dựng các chợnông thôn, các trung tâm mua bán và cải tạo sông Đáy để phát triển các loạihình du lịch
Về nông nghiệp, huyện chủ trương phát triển theo hướng sản xuất hànghoá hiệu quả và bền vững trên cơ sở giải quyết tốt nhu cầu lương thực, thựcphẩm của nhân dân trên địa bàn Theo đó, huyện đã tiến hành chuyển dịch cơcấu cây trồng, vật nuôi, quy hoạch các vùng sản xuất hàng hoá phù hợp vớitiềm năng, thế mạnh của từng vùng như vùng trồng cây ăn quả ở ven sôngĐáy và dọc theo các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ, vùng rau sạch ở Vân Côn …
2.3 Thực trạng hiệu quả tín dụng đối với kinh tế hộ sản xuất củaNHNo&PTNT huyện Hoài Đức
2.3.1 Nhu cầu vay vốn tín dụng ngân hàng của hộ sản xuất ở huyệnHoài Đức
Hoài Đức có 183.484 nhân khẩu trong đó khu vực nông nghiệp nôngthôn là 178.987 nhân khẩu với 92.658 lao động Tổng số hộ trên địa bàn43.584 hộ, trong đó: