TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC NGUYỄN DƯƠNG THÙY DUNG XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN CHO NỘI DUNG DẠY HỌC PHÂN SỐ TRONG CHƯƠNG TRÌNH TOÁN 4 K
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
NGUYỄN DƯƠNG THÙY DUNG
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN CHO NỘI DUNG DẠY HỌC PHÂN SỐ TRONG CHƯƠNG TRÌNH TOÁN 4
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Giáo dục Tiểu học
Hà Nội - 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
NGUYỄN DƯƠNG THÙY DUNG
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN CHO NỘI DUNG DẠY HỌC PHÂN SỐ TRONG CHƯƠNG TRÌNH TOÁN 4
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Giáo dục Tiểu học
Người hướng dẫn khoa học
TS Phạm Đức Hiếu
Hà Nội - 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý của Khoa Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Sư Phạm Hà
Nội 2 và sự đồng ý của thầy giáo hướng dẫn Phạm Đức Hiếu, em đã thực hiện
đề tài “Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan cho nội dung dạy học phân số trong chương trình Toán 4”
Để hoàn thành được khóa luận này, em xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học, trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2 đã tận tình giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện tại trường
Đặc biệt, em xin trân trọng cảm ơn thầy giáo hướng dẫn Phạm Đức Hiếu đã
tận tình, chu đáo hướng dẫn em thực hiện khóa luận này
Đồng thời, em xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo trường Tiểu học Lũng Hòa, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình đánh giá Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới bố mẹ của em, người đã
có công sinh thành, dưỡng dục, cho em có cơ hội được bước chân vào giảng đường Đại học Cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn luôn ở bên cạnh động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường đại học
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất, song do buổi đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, tiếp cận với thực
tế giảng dạy cũng như hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh được những thiếu sót mà bản thân em chưa thể thấy được Em rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy, cô giáo để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2016
Người thực hiện đề tài
Nguyễn Dương Thùy Dung
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của TS Phạm Đức Hiếu Những kết quả và số liệu trong
đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự cam đoan này
Hà Nội, tháng 5 năm 2016
Người thực hiện đề tài
Nguyễn Dương Thùy Dung
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Phạm vi nghiên cứu 4
6 Cấu trúc khóa luận 4
Khóa luận gồm: 3 chương 4
PHẦN NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
1.1 Trắc nghiệm khách quan 5
1.1.1 Khái niệm trắc nghiệm khách quan 5
1.1.2 Tình hình sử dụng trắc nghiệm khách quan trên thế giới và Việt Nam 5
1.1.3 Hình thức của trắc nghiệm khách quan 7
1.1.4 Đặc điểm của trắc nghiệm khách quan 7
1.1.5 Vai trò của trắc nghiệm khách quan 8
1.1.6 Các loại bài tập trắc nghiệm khách quan thông dụng 9
1.1.7 Nguyên tắc khi xây dựng bài tập trắc nghiệm khách quan 14
Trang 71.1.8 Những lưu ý cần tránh khi khi xây dựng bài tập trắc nghiệm khách
quan 14
1.2 Nội dung dạy học về phân số trong chương trình Toán 4 16
1.2.1 Nội dung chủ yếu về dạy học phân số trong chương trình Toán 4 16
1.2.2 Đặc điểm dạy học phân số trong chương trình Toán 4 17
1.2.3 Chuẩn kiến thức kỹ năng phân số trong chương trình Toán 4 18
CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN CHO NỘI DUNG PHÂN SỐ TRONG CHƯƠNG TRÌNH TOÁN 4 20
2.1 Xây dựng quy trình thiết kế hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan 20 2.1.1 Yêu cầu khi thiết kế hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan 20
2.1.2 Quy trình thiết kế hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan 20
2.2 Bảng ma trận các câu hỏi trắc nghiệm khách quan cho nội dung phân số trong chương trình Toán 4 23
2.3 Hệ thống các bài tập trắc nghiệm khách quan cho nội dung phân số trong chương trình Toán 4 27
2.3.1 Phân số và tính chất cơ bản của phân số 27
2.3.2 So sánh phân số 30
2.3.3 Các phép tính về phân số 31
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN CHO NỘI DUNG DẠY HỌC PHÂN SỐ TRONG CHƯƠNG TRÌNH TOÁN 4 36
3.1 Mục đích đánh giá 36
3.2 Nội dung đánh giá 36
Trang 83.3 Tiến hành đánh giá 36
3.3.1 Lựa chọn đối tượng và địa bàn đánh giá 36
3.3.2 Phương pháp đánh giá 36
3.3.3 Thời gian và quy trình đánh giá 36
3.4 Tiến trình đánh giá 37
3.5 Kết quả đánh giá 40
PHẦN KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 43
1 Kết luận 43
2 Kiến nghị 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
Trang 9MỤC LỤC BẢNG
Trang Bảng 2.2 Bảng ma trận các câu hỏi TNKQ cho nội dung phân số
trong chương trình Toán 4……… 23 Bảng 3.5 Bảng thống kê khảo sát ý kiến GV về mức độ khả thi của
hệ thống bài tập TNKQ nội dung phân số lớp 4……… 37
Trang 10MỤC LỤC HÌNH
Trang Hình 2.1.2 Quy trình thiết kế hệ thống bài tập TNKQ………… 20
Trang 11cố lịch sử, việc đào tạo nhân tài vẫn luôn được coi trọng hàng đầu Cũng bởi lẽ vậy, giáo dục và đào tạo luôn là vấn đề được toàn xã hội quan tâm dù ở bất kì quốc gia nào Trong thời đại xã hội phát triển như ngày nay, khi khoa học công nghệ tác động đến mọi mặt của cuộc sống, đất nước ta đang trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giáo dục cũng phải đổi mới toàn diện để giải quyết kịp thời các nhiệm vụ mà xã hội đặt ra, đó là giáo dục con người phát triển một
cách toàn diện, hài hòa đủ các mặt tri thức, đạo đức, thẩm mĩ, thể chất
Cấp Tiểu họclà bậc học nền tảng của giáo dục Điều 2, chương I, Luật phổ cập giáo dục Tiểu học (1991) có ghi: “Giáo dục Tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ xậy dựng và phát triển tình cảm đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và thể chất của trẻ em nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện nhân cách cho con người Việt Nam XHCN” Mỗi môn học ở Tiểu học đều góp phần hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu về nhân cách của con người Việt Nam Cùng với Tiếng Việt, Toán là môn học có vai trò vô cùng quan trọng trong nhà trường Tiểu học
Toán học cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản, hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo Toán học, qua đó phát triển tư duy lôgic, bồi dưỡng và phát triển những thao tác trí tuệ cần thiết để nhận thức thế giới khách quan về mặt số lượng và hình dạng như trừu tượng hóa, khái quát hóa, phân tích, tổng hợp… nhờ đó biết cách hoạt động có hiệu quả trong cuộc sống Môn Toán rèn cho HS phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề
Trang 122
có căn cứ khoa học, linh hoạt, sáng tạo Môn Toán còn góp phần hình thành và phát triển các phẩm chất của người HS như kiên trì, nhẫn nại, cẩn thận, ý thức vượt khó khăn và làm việc một cách có khoa học, hệ thống Đồng thời nó cũng
là công cụ để giúp HS học tập các bộ môn khác
Ở bậc Tiểu học, môn Toán ở mỗi lớp có một vị trí, yêu cầu và nhiệm vụ khác nhau Riêng môn Toán lớp 4 có vai trò quan trọng đặc biệt vì nó hệ thống, khái quát lại nội dung Toán ở lớp 1, 2, 3 đồng thời nâng cao, mở rộng và bổ sung các kiến thức khác chưa có ở các lớp dưới Môn Toán ở lớp 4 mở đầu cho giai đoạn học tập sâu Nội dung Toán 4 bao gồm 4 mạch kiến thức cơ bản là: Số học; Đại lượng và đo đại lượng; các yếu tố hình học và giải toán có lời văn Trong đó, mạch kiến thức về Số học đóng vai trò trọng tâm cốt lõi, chiếm khoảng 70% nội dung kiến thức toàn bộ chương trình Toán 4
Phân số là một mảng kiến thức quan trọng của tuyến kiến thức trọng tâm Số học HS được làm quen với phân số từ lớp 2 và đưa vào dạy hoàn chỉnh ở lớp
4 Mảng kiến thức này có liên quan rất nhiều đến các nội dung như: Phân số thập phân, số thập phân, các phép tính của số thập phân , mà các em sẽ học ở lớp 5 sau này Tuy rất quan trọng trong chương trình dạy học cũng như trong thực tế cuộc sống, nhưng nội dung kiến thức về phân số tương đối khó, mang tính trừu tượng cao nên đa phần HS Tiểu học gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp thu như nhầm lẫn các kiến thức và không nắm được bản chất của phân số Trong thực tế, nhiều GV chỉ chú trọng mục tiêu cung cấp kiến thức mà chưa chú ý đến việc phát huy tính tích cực trong học tập của HS Việc sử dụng hệ thống bài tập trong quá trình dạy học của GV còn lúng túng, chưa phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS Do đó đòi hỏi phải có một hệ thống bài tập vừa rèn luyện được kiến thức, kĩ năng của HS, vừa phát huy được tính tích cực trong học tập của các em Hiện nay trên thế giới có một hình thức
Trang 13Xuất phát từ những yêu cầu đổi mới và cơ sở lý luận trên, nghiên cứu này thực hiện đề tài “Xây dựng hệ thống bài tập TNKQ cho nội dung dạy học phân
số trong chương trình Toán 4”
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
a Mục đích nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu nhằm mục đích xây dựng hệ thống bài tập TNKQ cho nội dung dạy học phân số trong chương trình Toán 4
b Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài, gồm: Lí luận về bài tập TNKQ; mục tiêu, nội dung dạy học phân số trong chương trình Toán 4
- Nhiệm vụ 2: Xây dựng quy trình thiết kế hệ thống bài tập TNKQ
- Nhiệm vụ 3: Thiết kế hệ thống bài tập TNKQ cho nội dung dạy học phân
số trong chương trình Toán 4
Trang 144
- Nhiệm vụ 4: Đánh giá hệ thống bài tập TNKQ đã xây dựng từ đó điều chỉnh hoàn thiện hệ thống
3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống bài tập TNKQ trong nội dung dạy học phân số lớp 4 Toán 4
b Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học phân số trong chương trình Toán 4
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu phân tích tài liệu
- Phương pháp nghiên cứu tổng hợp tài liệu
- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
5 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài giới hạn ở nội dung phân số trong chương trình Toán 4 cấp Tiểu học được ban hành bởi Bộ Giáo dục và Đào tạo năm học 2005 – 2006
6 Cấu trúc khóa luận
Khóa luận gồm: 3 chương
- Chương 1: Cơ sở lý luận
- Chương 2: Xây dựng hệ thống bài tập TNKQ cho nội dung dạy học phân
số trong chương trình Toán 4
- Chương 3: Đánh giá hệ thống bài tập TNKQ cho nội dung dạy học phân số trong chương trình Toán 4
Trang 155
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Trắc nghiệm khách quan
1.1.1 Khái niệm trắc nghiệm khách quan
Theo Từ điển Tiếng Việt (2009) của viện Ngôn ngữ học, NXB Trung Tâm
từ điển, theo nghĩa chữ Hán, "trắc" có nghĩa là "đo lường", "nghiệm" là "suy xét", "chứng thực"
Trắc nghiệm theo nghĩa rộng là một hoạt động được thực hiện để đo lường năng lực của các đối tượng nào đó nhằm những mục đích xác định
TNKQ là phương pháp mà người ta dùng những bài tập ngắn có kèm theo câu trả lời để thực hiện những mục đích xác định (kiểm tra hoạt động nhận thức, năng lực trí tuệ, kỹ năng của HS sau khi học xong một bài, một phần kiến thức,…) [1; 55]
TNKQ là hình thức HS sử dụng các ký hiệu đơn giản như A, B, C,… để đưa
ra câu trả lời đúng Thông thường có nhiều câu trả lời được đưa ra cho mỗi câu hỏi nhưng chỉ có một câu trả lời đúng nhất là đáp án của câu hỏi Điểm của bài trắc nghiệm được chấm bằng cách đếm số lần HS chọn câu trả lời đúng Vì không phụ thuộc vào người chấm nên việc cho điểm mang tính khách quan cao
1.1.2 Tình hình sử dụng trắc nghiệm khách quan trên thế giới và Việt Nam
a Thế giới
Phương pháp này được sử dụng rất thịnh hành ở các nước phương Tây, đặc biệt là ở Mỹ Ngay từ đầu thế kỷ XIX, người ta đã sử dụng phương pháp này
để phát hiện ra năng khiếu và xu hướng nghề nghiệp của học sinh Sang thế kỷ
XX, họ đã bắt đầu áp dụng phương pháp trắc nghiệm vào quá trình dạy học E.Thorn Dike là người đầu tiên đã dùng trắc nghiệm như một phương pháp:
“khách quan và nhanh chóng” để đo trình độ, kiến thức của HS
Trang 166
Ở Pháp, năm 1905 nhà tâm lý học A.Binet cộng tác với bác sĩ T.Simon để xây dựng trắc nghiệm trí tuệ của trẻ từ 3 – 15 tuổi Trắc nghiệm Binet – T.Simon
là trắc nghiệm được tiêu chuẩn hóa đầu tiên không chỉ ở nội dung trắc nghiệm
mà còn ở cả thủ tục thực hiện và cách xử lý những tài liệu thu được Hiện nay, phương pháp này được sử dụng trong các kỳ thi đặc biệt là ngoại ngữ và lựa chọn nghề
Ở Anh, hiện nay đã thành lập Hội đồng toàn quốc hàng năm quyết định các mẫu trắc nghiệm cho các trường trung học
Ở Trung Quốc, kỳ thi tuyển sinh Đại học đã thống nhất toàn quốc bằng phương pháp TNKQ
b Việt Nam
Trong thập kỷ 70 (thế kỷ XX) đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến việc sử dụng TNKQ như: Thử dùng phương pháp Test để điều tra tình hình nhận thức của HS về một số khái niệm trong chương trình sinh vật học đại
cương của GS Trần Bá Hoành (1971) hay đề tài: “Bước đầu nghiên cứu nhận
thức tâm lý của sinh viên Đại học Sư phạm” (1976) của Nguyễn Như An
Năm 1993, trường Đại học Bách khoa Hà Nội có Hội thảo khoa học nghiên cứu về trắc nghiệm và ứng dụng của nó ở bậc Đại học
Sau đó, một số tác giả đã viết và in thành sách như cuốn: “Những cơ sở kiểm
tra trắc nghiệm” của Lâm Quang Thiệp hay “Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập” của Dương Triệu Thống
Kỳ thi tốt nghiệp và tuyển sinh vào các trường Đại học – Cao đẳng năm
2006, lần đầu tiên hình thức thi TNKQ được áp dụng với môn Ngoại ngữ
PGS.TS Nguyễn Hữu Lân đánh giá đó là: “Một khâu đột phá, một cuộc cách
mạng đầu tiên trong chiến lược cải cách giáo dục nói chung”
Trang 171.1.3 Hình thức của trắc nghiệm khách quan
Một đề thi TNKQ gồm nhiều câu hỏi, thời gian dành cho HS trả lời mỗi câu hỏi ít Mỗi câu hỏi TNKQ thường gồm hai phần: phần thông tin và phần lựa chọn
1.1.4 Đặc điểm của trắc nghiệm khách quan
a Ưu điểm
- Trắc nghiệm cho phép trong một thời gian ngắn kiểm tra được nhiều kiến thức cụ thể, đi vào những khía cạnh khác nhau của một kiến thức, chống khuynh hướng học tủ
- Trắc nghiệm tốn ít thời gian thực hiện, đặc biệt là khâu chấm bài
- Trắc nghiệm đảm bảo tính khách quan
- Các câu hỏi, đáp án được quy định về số lượng, nội dung và đã chuẩn hóa nên dễ dàng sử dụng phương pháp thống kê toán học để tổng hợp và xử lý kết quả
- Trắc nghiệm nếu được sử dụng thích hợp có thể gây được hứng thú và tính tích cực học tập cho HS
b Hạn chế
- Các bài tập trắc nghiệm chủ yếu rèn trí nhớ máy móc
- Trắc nghiệm kiến thức không cho GV biết tư tưởng, sự nhiệt tình, thái độ, hứng thú của HS với vấn đề được nêu ra
- Khó soạn các câu hỏi
Trang 188
- Các câu trắc nghiệm có thể không đo được khả năng phán đoán tinh vi và khả năng giải quyết vấn đề khéo léo một cách hiệu nghiệm bằng câu hỏi tự luận soạn kỹ
- Tốn nhiều giấy để in loại câu hỏi này so với các câu hỏi khác và HS cần nhiều thời gian để đọc câu hỏi
- Không đánh giá được kĩ năng trình bày văn bản của HS
1.1.5 Vai trò của trắc nghiệm khách quan
TNKQ dùng trong kiểm tra đánh giá có hiệu quả cao hơn so với các phương pháp khác như:
- Phạm vi kiến thức rộng, bao quát, tránh được việc học lệch, học tủ của HS
- Đánh giá chính xác mức độ nhận thức của HS trong quá trình dạy học
- Không mất nhiều thời gian
Hiện nay, với quan điểm dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm thì TNKQ được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau:
- Sử dụng vào việc lập kế hoạch giảng dạy: TNKQ được sử dụng nhằm mục đích kiểm tra mức độ nhận thức của HS sau một năm học đồng thời giúp nhà trường tìm những điểm yếu kém trong giảng dạy để nâng cao chất lượng dạy học
- Sử dụng trong việc tự học của HS: HS làm những bài tập TNKQ sau khi học bài mới sẽ tạo cho các em thói quen học bài cũ theo một cách mới không còn thụ động nữa Mặt khác tạo hứng thú cho các em trong việc tìm kiếm và lĩnh hội kiến thức
- Sử dụng trong khâu học bài mới: GV có thể cho HS làm câu hỏi TNKQ, cho HS lựa chọn phương án nào là đúng nhất và phát vấn thêm HS tại sao lại chọn câu đó Từ đó HS phải tìm tòi tài liệu mới trả lời được GV phải khéo léo dẫn dắt HS vào bài mới và đây là biện pháp rất có hiệu quả
Trang 199
- Sử dụng trong khâu ôn tập, củng cố, hoàn thiện và nâng cao: Sau mỗi bài, mỗi chương đều nên có những bài kiểm tra bằng hình thức TNKQ sẽ giúp HS nhớ lâu kiến thức mà không phải học vẹt như trước đây
Như vậy, để đổi mới PPDH một trong những phương pháp có hiệu quả là sử dụng bài tập TNKQ
1.1.6 Các loại bài tập trắc nghiệm khách quan thông dụng
a Trắc nghiệm Đúng – Sai (Yes/No Questions)
Trước một câu dẫn xác định (thông thường không phải là câu hỏi), HS đưa
ra nhận định và lựa chọn một trong hai phương án trả lời Đúng hoặc Sai
Ưu điểm: Là loại câu hỏi đơn giản dùng để TNKQ kiến thức về sự kiện,
vì vậy viết loại câu hỏi này tương đối dễ dàng, ít phạm lỗi, mang tính khách quan khi chấm
Nhược điểm: HS có thể đoán mò vì vậy độ tin cậy thấp HS Giỏi có thể không thoả mãn khi buộc phải chọn Đúng – Sai khi câu hỏi viết chưa kỹ càng VD: Đúng ghi Đ, sai ghi S vào ô trống:1
b Trắc nghiệm nhiều lựa chọn (Multiple choise questions)
Đây là loại trắc nghiệm thông dụng nhất Loại này thường có hai phần: Phần đầu được gọi là phần dẫn, nêu ra vấn đề, cung cấp thông tin cần thiết hoặc nêu một câu hỏi Phần sau là các phương án để chọn thường được đánh dấu bằng các chữ cái A, B, C, D hoặc các con số 1, 2, 3, 4 Trong các phương án đã chọn chỉ có duy nhất một phương án đúng hoặc một phương án đúng nhất còn các phương án khác được đưa vào với tác dụng gây nhiễu Khi soạn thảo loại trắc
Trang 20 Xác định mối tương quan nhân quả
Nhận biết các điều sai lầm
Ghép các kết quả hay các điều quan sát được với nhau
Định nghĩa các khái niệm
Tìm nguyên nhân của một số sự kiện
Nhận biết điểm tương đồng hay khác biệt giữa 2 hay nhiều vật
Xác định nguyên lý hay ý niệm tổng quát từ những sự kiện
Xác định thức tự hay cách sắp đặt nhiều vật
Xét đoán vấn đề đang được tranh luận dưới nhiều quan điểm
Độ tin cậy cao hơn: Yếu tố đoán mò hay may rủi giảm đi nhiều lần so với các loại TNKQ khác khi số phương án chọn lựa tăng lên
Tính giá trị tốt hơn với bài trắc nghiệm có nhiều câu lựa chọn, người ta có thể đo được các khả năng nhớ, áp dụng nguyên lý, định luật, tổng quát hoá rất hữu hiệu
Nhược điểm:
Loại câu hỏi này khó soạn vì phải tìm câu trả lời đúng nhất, còn những câu còn lại (câu nhiễu) cũng có vẻ hợp lý Ngoài ra cần soạn câu hỏi để đo được mức trí năng cao hơn mức biết, nhớ, hiểu
Trang 2111
Có những HS có óc sáng tạo, tư duy tốt, có thể tìm ra những câu trả lời hay hơn đáp án thì sẽ làm cho HS đó cảm thấy không thoả mãn
Các câu hỏi nhiều lựa chọn có thể không đo được khả năng phán đoán tinh
vi và khả năng giải quyết vấn đề khéo léo, sáng tạo một cách hiệu nghiệm bằng loại câu hỏi trắc nghiệm tự luận soạn kỹ
Khi thiết kế loại câu hỏi trắc nghiệm này cần lưu ý:
- Câu dẫn cần có nội dung ngắn ngọn, rõ ràng, lời văn sáng sủa và diễn đạt
rõ ràng một vấn đề Tránh dùng các từ phủ định, nếu không tránh được thì cần phải được nhấn mạnh để HS không bị nhầm Câu dẫn phải là câu hỏi trọn vẹn
để HS hiểu được mình đang được hỏi vấn đề gì
- Câu chọn cũng phải rõ ràng và dễ hiểu và phải có cùng loại quan hệ với câu dẫn, có cấu trúc song song
- Nên có tốt nhất từ 3 - 5 câu lựa chọn trở lên, nếu số phương án lựa chọn
ít thì yếu tố đoán mò hay may rủi được tăng lên Nhưng ngược lại nếu có quá nhiều phương án lựa chọn thì người soạn khó soạn và HS mất nhiều thời gian
để đọc câu hỏi
- Phải chắc chắn chỉ có một phương án trả lời đúng, các phương án còn lại thật sự nhiễu Nhưng cần cố gắng sau phần nhiễu này không nhằm mục đích chính là gây nhiễu hay gài bẫy HS mà là để phân loại HS
- Không được đưa vào hai câu chọn cùng ý nghĩa, mỗi câu kiểm tra chỉ nên viết một kiến thức nào đó
- Các câu trả lời đúng nhất cần phải được đặt ở vị trí khác nhau, sắp xếp theo thứ tự ngẫu nhiên
- Trong một số trường hợp chúng ta có thể có thêm một số phương án như: không có câu trả lời nào là đúng nhất hoặc 2 câu trả lời nào đó là đúng nhất để
HS còn lưỡng lự sẽ lựa chọn
Trang 2212
VD: Khoanh vào chữ cái đặt trước câu trả lời đúng:
Trong các phân số sau, phân số lớn nhất là:
c Trắc nghiệm điền khuyết (Supply items) hoặc trả lời ngắn (Short Answer)
Đây là dạng TNKQ có câu trả lời tương đối tự do Thường chúng ta nêu ra một mệnh đề có khuyết một bộ phận, HS nghĩ ra nội dung trả lời thích hợp để điền vào chỗ trống, thường là những câu trả lời có nội dung ngắn ngọn hoặc một vài từ
Ưu điểm: HS có cơ hội trình bày những câu trả lời khác thường, phát huy óc sáng kiến HS không có cơ hội đoán mò mà phải nhớ, nghĩ ra, tìm câu trả lời Việc chấm điểm dạng này cũng tương đối nhanh hơn tự luận và cách soạn cũng phần nào dễ hơn trắc nghiệm nhiều lựa chọn, song thường rắc rối và khó khăn hơn những dạng TNKQ khác
Nhược điểm: Khi soạn dạng trắc nghiệm này thường dễ mắc phải sai lầm là trích nguyên văn các câu và từ trong SGK Đồng thời phạm vi kiểm tra của câu hỏi này thường chỉ giới hạn ở những chi tiết vụn vặt Việc chấm bài cũng mất thời gian hơn
Lưu ý khi soạn câu trắc nghiệm này: Mỗi câu nên chủ có một hoặc hai chỗ trống ở giữa hoặc ở cuối câu Các khoảng trống nên có độ dài thích hợp và bằng nhau đề hạn chế sự đoán mò của HS
VD: Viết thương của mỗi phép chia sau (theo mẫu):
3 : 5 = 3
5 : Ba phần năm a) 7: 11 = ………
b) 9 : 14 = ………
c) 12 : 17 = ………
Trang 2313
d) 21 : 50 = ………
d Trắc nghiệm ghép đôi (Matching items)
Đây là một dạng đặc biệt của dạng TNKQ nhiều lựa chọn, dạng câu hỏi này thường gồm hai cột thông tin, một cột là những câu hỏi (hay câu dẫn) một cột
là những câu trả lời (hay còn gọi là câu lựa chọn), yêu cầu HS phải tìm cách ghép các câu trả lời ở cột này với câu hỏi ở cột khác sau cho hợp lý
Ưu điểm: Câu hỏi TNKQ ghép đôi dễ viết, dễ dùng, loại này thường phù hợp tâm lý HS Chúng ta có thể dùng dạng câu hỏi này để đo (đánh giá) các loại trí năng khác nhau Nó đặc biệt hữu hiệu trong việc đánh giá khả năng nhận biết các hệ thức hay lập các mối tương quan
Nhược điểm: Loại câu hỏi này không thích hợp cho việc thẩm định các khả năng như sắp đặt và vận dụng kiến thức Muốn soạn loại câu hỏi này để đạt được mục đích đánh giá trí năng cao đòi hỏi rất nhiều công phu Ngoài ra nếu chúng ta tạo danh sách mỗi cột dài thì HS tốn nhiều thời gian cho HS đọc mỗi cột trước khi ghép đôi
Lưu ý khi soạn câu trắc nghiệm ghép đôi:
- Dãy thông tin nêu ra không nên quá dài, nên thuộc cùng một loại và có liên quan với nhau (HS có thể dễ nhầm lẫn)
- Cột câu hỏi và cột câu trả lời không nên bằng nhau, nên tạo nên những câu trả lời dư ra để tạo cho HS sự cân nhắc khi lựa chọn
- Thứ tự các câu trả lời không nên ăn khớp với thứ tự các câu hỏi để HS cần suy nghĩ khi lựa chọn, tránh đoán mò
Trang 2414
VD: Nối mỗi phép chia với thương của nó viết dưới dạng phân số:
1.1.7 Nguyên tắc khi xây dựng bài tập trắc nghiệm khách quan
- Câu trắc nghiệm phải đảm bảo đánh giá được mức độ tối thiểu về kiến thức
lý thuyết theo tiêu chuẩn kỹ năng nghề đã đề ra
- Câu trắc nghiệm phải đảm bảo tính khách quan, độ tin cậy, độ phân biệt và
- Chưa kiểm tra ngữ pháp Tiếng việt lần cuối, chưa kiểm tra câu hỏi đã được
sử dụng ở kì kiểm tra trước đó hay chưa? Độ khó của câu hỏi như thế nào?
- Ra hàng loạt câu hỏi rồi sau đó mới đưa ra câu trả lời cho từng câu hỏi
93 : 43
9343
41 : 50
2009 : 2010
415020092010
Trang 2515
- Xây dựng câu hỏi một cách chủ quan theo ý của người ra câu hỏi, không dựa vào kết cấu của chương trình học Cơ cấu câu hỏi phải dựa vào tầm quan trọng của từng chương, bài
- Phần đáp án hoặc quá rõ (HS không có kiến thức vẫn có thể trả lời được) hoặc quá chung chung (gây tranh cãi)
- Các câu trả lời loại bỏ nhau
- Viết các câu trả lời cùng một lúc Các câu trả lời đúng nên viết trước
- Thiếu căn cứ đối với các câu trả lời sai Các câu trả lời sai phải hợp lý, nên dùng các từ quen thuộc đối với người làm bài trong các câu trả lời sai, nếu có
từ dễ nhận trong câu trả lời đúng thì nên để các từ này xuất hiện trong các câu trả lời sai
- Dùng nhiều các từ thái quá, mang tính tuyệt đối hóa như “tất cả”, “luôn luôn”, “ không bao giờ”, “ hiếm khi”, … hoặc các từ có ý nghĩa mập mờ như:
“thường là”, “tiêu biểu là”, “có lẽ” hoặc các từ nhóm “tất cả những câu trên là đúng”, “không câu nào trên đây là đúng”, … cần thận trọng khi dùng các từ/cụm
từ vừa nêu
- Dùng các câu phủ định 2 lần
- Đưa ra quá nhiều câu trả lời, tối đa nên 4
- Hình thức bên ngoài của các câu trả lời khác xa nhau Các câu trả lời dạng lựa chọn nên có cùng độ dài và cấu trúc ngữ pháp
- Phần đáp án có các nội dung quá sát nhau
- Một số câu hỏi cho gợi ý trả lời cho các câu hỏi khác
- Lặp lại nội dung hỏi trong các câu hỏi khác nhau (toàn bộ câu hỏi hoặc một phần câu hỏi) tuy hình thức trình bày các câu hỏi khác nhau
- Dùng từ địa phương trong các câu hỏi
Trang 2616
- Tránh dùng từ quá chuyên sâu, phạm vi sử dụng quá hẹp ở các kỳ kiểm tra cấp thấp
- Xây dựng câu hỏi trong thời gian quá ngắn
- Thiếu hướng dẫn cơ bản cho người làm bài
- Câu hỏi mang tính giải thích, dài, nhiều mệnh đề Nên dùng câu ngắn, có kết cấu câu rõ rang (chủ ngữ, vị ngữ,…)
- Trích nguyên toàn bộ một câu, một cụm từ có sẵn trong SGK hoặc trong phần câu hỏi vào phần đáp án
- Sự không đồng nhất về khung câu các câu hỏi (phông chữ, kích thước chữ, )
1.2 Nội dung dạy học về phân số trong chương trình Toán 4
1.2.1 Nội dung chủ yếu về dạy học phân số trong chương trình Toán 4
Dạy học phân số trong chương trình Toán 4 có các nội dung sau:
a Phân số và tính chất cơ bản của phân số
- Khái niệm cơ bản của phân số
- Phân số và phép chia số tự nhiên
- Tính chất cơ bản của phân số - phân số bằng nhau
- Rút gọn phân số
- Quy đồng mẫu số
b So sánh phân số
- So sánh hai phân số cùng mẫu số
- So sánh hai phân số khác mẫu số
c Các phép tính về phân số
- Phép cộng phân số
- Phép trừ phân số
- Phép nhân phân số
Trang 2717
- Tìm phân số của một số
- Phép chia phân số
1.2.2 Đặc điểm dạy học phân số trong chương trình Toán 4
Môn Toán lớp 4 là một bước chuyển từ tư duy cụ thể của lớp 1, 2, 3 sang tư duy tổng quát trừu tượng ở lớp 4 Đối với chương trình toán ở tiểu học từ khối
1 đến khối 3 HS được học những kiến thức sơ giản ban đầu về toán học nên HS
dễ nắm bắt kiến thức, vận dụng kiến thức vào để rèn kĩ năng tính cũng nhẹ nhàng hơn phù hợp với tâm lí lứa tuổi của HS Bắt đầu từ lớp 4, kiến thức toán học được nâng cao lên rõ rệt ở tất cả các mạch kiến thức như đại lượng, yếu tố hình học, số học,… nhưng mới nhất đối với HS khối lớp 4 đó là mạch kiến thức
về phân số Từ lớp 1 đến lớp 4 hết học kỳ I, HS được học về số tự nhiên Việc đưa phân số vào dạy ở học kỳ II ở lớp 4 sẽ giúp cho HS mở rộng được kiến thức về số hữu tỷ, trong đó mỗi số hữu tỷ đều được viết dưới dạng đơn giản Đối với HS tiểu học chỉ học về phân số ở dạng đơn giản nhưng là cơ sở để lên các lớp cao hơn, các em học về số hữu tỷ được dễ dàng hơn
Đặc điểm của HS tiểu học hiện nay là rất hiếu động, thích khám phá Việc tiếp nhận tri thức của các em ngày càng được nâng cao, tư duy ngày càng phát triển hơn so với trước, với HS lớp 4 thì năng lực nhận thức, tiếp nhận tri thức của các em đã được nâng cao rõ rệt Phân số là một tuyến kiến thức mới lạ, hấp dẫn đối với các em và phù hợp với trình độ của HS Việc dạy học phân số ở lớp
4 là cần thiết, nó sẽ giúp các em phát triển tư duy, giúp việc ứng dụng vào bài toán hình học, giải toán có lời văn được dễ dàng hơn, từ đó làm phong phú hơn
về nội đung dạy học toán ở tiểu học
Phân số là nội dung khó đối với GV và HS Trước khi học phần này các em
đã được học về dấu hiệu chia hết cho 2, 3, 5 và 9 Nhưng đến chương phân số với các tính chất và các phép toán của phân số, đặc biệt là vận dụng các phép
Trang 2818
toán để giải các bài toán bốn phép tính về phân số, các bài toán có lời văn liên quan đến phân số HS còn gặp nhiều khó khăn Đây là nội dung mà HS thường mắc sai lầm trong khi thực hành luyện tập nhưng cũng là những dạng toán giúp
HS rèn luyện tư duy, bộc lộ về năng khiếu toán của mình
Nội dung dạy học được triển khai theo định hướng tăng cường thực hành vận dụng, gắn liền với thực tế đời sống Thông qua việc giải các bài toán, HS không chỉ được rèn luyện các kĩ năng môn toán mà còn được cung cấp nhiều tri thức
bổ ích Qua đó thấy được ứng dụng thực tiễn của Toán học Nhận thức về phân
số kết hợp với số học, hình học sẽ góp phần phát triển trí tưởng tượng, khả năng phân tích – tổng hợp, khái quát hóa – trừu tượng hóa, tác phong làm việc khoa học, hình thành những phẩm chất tốt ở HS
1.2.3 Chuẩn kiến thức kỹ năng phân số trong chương trình Toán 4
a Phân số và tính chất cơ bản của phân số
- Bước đầu nhận biết về phân số; biết phân số có tử số, mẫu số; biết đọc, viết phân số
- Biết được thương của phép chia một số tự nhiên cho một số tự nhiên (khác 0) có thể viết thành một phân số: tử số là số bị chia, mẫu số là số chia
- Bước đầu biết so sánh phân số với 1
- Bước đầu nhận biết được tính chất cơ bản của phân số, phân số bằng nhau
- Bước đầu biết cách rút gọn phân số và nhận biết được phân số, phân số bằng nhau
- Rút gọn được phân số
- Biết quy đồng mẫu số hai phân số
b So sánh phân số
- Biết so sánh hai phân số cùng mẫu số
- Nhận biết một số lớn hơn hoặc bé hơn
Trang 2919
- So sánh được hai phân số có cùng mẫu số
- So sánh được một phân số với 1
- Biết viết các phân số theo thứ tự từ bé đến lớn
- Biết so sánh hai phân số khác mẫu số
c Các phép tính về phân số
- Biết cộng, trừ hai phân số cùng mẫu; biết cộng, trừ hai phân số khác mẫu
- Thực hiện được cộng, trừ hai phân số, cộng (trừ) một số tự nhiên với (cho)
một phân số, cộng (trừ) một phân số với (cho) một số tự nhiên
- Biết tìm thành phần chưa biết trong phép cộng, phép trừ phân số
- Biết giải bài toán liên quan đến phép cộng và phép trừ phân số
- Biết thực hiện phép nhân hai phân số, nhân phân số với số tự nhiên, nhân
số tự nhiên với phân số
- Biết cách giải bài toán dạng: Tìm phân số của một số
- Biết thực hiện phép chia hai phân số
- Thực hiện được phép chia hai phân số, chia số tự nhiên cho phân số
- Biết cách tính và viết gọn phép chia một phân số cho số tự nhiên
- Biết tìm thành phần chưa biết trong phép nhân, phép chia phân số
- Biết giải bài toán liên quan đến phép nhân và phép chia phân số