Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, cấu trúc nội dung bài báo cáo của em được chia làm 3 chương chính như sau: Chương I- Tổng quan về Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Tây
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank) là một trong những ngân hàng thương mại đứng đầu cả nước về quy mô mạng lưới chi nhánh trải đều khắp đất nước cũng như chất lượng hoạt động kinh doanh của ngân hàng, trong đó có Ngân hàng Công Thương – Chi nhánh Tây Hà Nội Trải qua gần 10 năm đổi mới Ngân hàng Công Thương – Chi nhánh Tây Hà Nội đã đạt được nhiều thành tựu to lớn góp phần tích cực vào sự phát triển của Ngân hàng Công Thương nói riêng và nền kinh tế nói chung
Sau một thời gian học tập, nghiên cứu và quan sát tình hình thực tế tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Tây Hà Nội vừa qua, với sự quan tâm giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của ban lãnh đạo NH cũng như các cô chú, anh chị trong các phòng ban, em đã từng bước hoàn thành bản báo cáo thực tập này
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, cấu trúc nội dung bài báo cáo của em được chia làm 3 chương chính như sau:
Chương I- Tổng quan về Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Tây Hà Nội
Chương II- Thực trạng hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Tây Hà Nội
Chương III- Đánh giá chung về tình hình hoạt động kinh doanh của Chi nhánh, Đề xuất đề tài khóa luận tốt nghiệp
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhưng do kinh nghiệm thực tế còn hạn chế nên bài viết của em không thể tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy cô giáo cùng các anh (chị) đang công tác tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Tây Hà Nội để bài báo cáo thực tập của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 03 năm 2016Sinh viên thực hiện
Nguyễn Diệu Linh
Trang 2CHƯƠNG I- TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH TÂY HÀ NỘI
1.1 Giới thiệu Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Tây Hà Nội
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam
Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank) được thành lập từ năm
1988 sau khi tách ra từ NHNN Việt Nam và chính thức hoạt động kể từ ngày 8/7/1988 Ngày 25/12/2008, Ngân hàng Công thương Việt Nam tổ chức bán đấu giá cổ phần ra công chúng thành công và thực hiện chuyển đổi thành doanh nghiệp cổ phần
VietinBank là Ngân hàng thương mại lớn, giữ vai trò quan trọng, trụ cột của ngành ngân hàng Việt Nam VietinBank đã thiết lập quan hệ với gần 1.000 định chế tài chính của 90 quốc gia trên toàn thế giới, là Ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam mở chi nhánh tại Châu Âu, đánh dấu bước phát triển vượt bậc của nền tài chính Việt Nam trên thị trường khu vực và thế giới Đến năm 2014, VietinBank đã phát triển mạng lưới tại tất cả các tỉnh thành trong cả nước và vươn ra quốc tế với 152 chi nhánh, gồm 149 chi nhánh trong nước, 2 chi nhánh tại Đức và 1 chi nhánh tại Lào cùng trên 1.000 phòng giao dịch/Quỹ tiết kiệm
Qua 27 năm phát triển, tầm vóc của VietinBank thể hiện qua tốc độ tăng trưởng
ấn tượng Khi mới thành lập, quy mô tổng tài sản 718 tỷ đồng Đến hết năm 2014, tổng tài sản của VietinBank đạt 660 ngàn tỷ đồng – gấp hơn 3 lần so với năm 2008, tăng 14.6% so với năm 2013 Đồng thời tiếp tục là NH dẫn đầu về lợi nhuận với 7,300 tỷ đồng, là DN xếp thứ 6 (trong TOP 10) và đứng đầu trong hệ thống NH trong bảng xếp hạng 1.000 DN nộp thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2013 và năm
2014 Những kết quả kinh doanh đáng tự hào của VietinBank đã được khẳng định bởi các giải thưởng danh giá do các tổ chức trong và ngoài nước ghi nhận: 01 Huân chương Độc lập hạng Nhì, 3 năm liên tiếp nằm trong Bảng xếp hạng 2.000 doanh nghiệp lớn nhất thế giới, VietinBank cũng đã được Tạp chí Tài chính Châu Á bình chọn là NH huy động vốn tốt nhất Việt Nam
Trang 31.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Tây Hà Nội
Ngân hàng TMCP Công Thương – Chi nhánh Tây Hà Nội là một đơn vị thuộc trong hệ thống chi nhánh của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam, được thành lập từ ngày 24/02/2006 theo quyết định số 054 QĐ/HĐQT – NHCT1 của Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam trên cơ sở tách từ Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Cầu Giấy Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Tây Hà Nội có trụ sở tại Số 8 Đường Hồ Tùng Mậu, Mai Dịch, Cầu Giấy, TP Hà Nội
Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Tây Hà Nội mới chính thức hoạt động độc lập từ ngày 01/05/2006 Những năm đầu mới thành lập chi nhánh gặp rất nhiều khó khăn do thương hiệu mới, cơ sở vật chất chưa hoàn thiện, khách hàng chưa ổn định Trong khi đó, lực lượng cán bộ lại mỏng, chỉ khoảng hơn 50 người Địa bàn hoạt động tuy rộng nhưng lại có nhiều NHTM và các tổ chức tín dụng cùng hoạt động Tuy nhiên, hòa chung vào xu thế phát triển kinh tế của cả nước, Chi nhánh Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Tây Hà Nội mặc dù còn non trẻ nhưng cũng có những lợi thế nhất định, đó là có lượng KH quen thuộc thường xuyên đến giao dịch không ngại phải đi xa, có đội ngũ lãnh đạo dầy dạn kinh nghiệm, nhiệt tình với công việc và tâm huyết với nghề Bên cạnh đó, chi nhánh còn nhận được sự quan tâm hỗ trợ của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam về cơ sở vật chất kỹ thuật như máy móc, trang thiết bị công nghệ thông tin cũng như các công cụ khác phục
vụ cho hoạt động kinh doanh Chi nhánh đã mạnh dạn mở rộng mạng lưới hoạt động kinh doanh như mở thêm nhiều điểm giao dịch mới trên địa bàn, tính tới hết năm 2014
đã có 7 phòng giao dịch trực thuộc chi nhánh Tây Hà Nội Chính vì vậy đã tạo điều kiện thu hút được một lượng đông đảo KH đến giao dịch, từng bước chiếm lĩnh thị trường, tăng thị phần hoạt động kinh doanh Nhờ vậy, hoạt động kinh doanh của NH không ngừng phát triển cả về mạng lưới, quy mô và chất lượng NH luôn hoàn thành
và hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế hoạch được giao, trở thành một chi nhánh hoạt động hiệu quả trong hệ thống chi nhánh của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
Trang 41.2 Chức năng nhiệm vụ của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Tây Hà Nội
Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Tây Hà Nội là chi nhánh cấp 1 của trực thuộc Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, vì vậy Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Tây Hà Nội thực hiện toàn bộ những chức năng, nhiệm vụ theo sự ủy quyền của Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam
Chi nhánh VietinBank Tây Hà Nội có chức năng nhiệm vụ cơ bản sau:
Huy động vốn:
- Khai thác và nhận tiền gửi dưới dạng tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn bằng VNĐ
và ngoại tệ từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước
- Nhận tiền gửi tiết kiệm với nhiều hình thức phong phú và hấp dẫn: Tiết kiệm không
kỳ hạn và có kỳ hạn bằng VNĐ và ngoại tệ, tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm tích lũy
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá khác để huy động nguồn vốn, vay
từ các định chế tài chính trong nước và nước ngoài, vay từ NHNN, và các hình thức vay vốn khác theo quy định của NHNN
Cho vay, đầu tư
- Cho vay ngắn, trung và dài hạn bằng VNĐ và ngoại tệ
- Tài trợ xuất, nhập khẩu; chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất
- Đồng tài trợ và cho vay hợp vốn đối với những dự án lớn, thời gian vốn dài
- Cho vay tài trợ, ủy thác theo chương trình: Đài Loan (SMEDF), Việt Đức (DEG, KFW) và các hiệp định tín dụng khung
- Thấu chi, cho vay tiêu dùng
- Hùn vốn liên doanh, liên kết với các tổ chức tín dụng và các định chế tài chính trong nước và quốc tế
- Đầu tư trên thị trường vốn, thì trường tiền tệ trong nước và quốc tế Tài sản đầu tư bao gồm Trái phiếu chính phủ, Tín phiếu kho bạc, Tín phiếu NHNN, Công trái xây dựng Tổ quốc, Trái phiếu giáo dục, Trái phiếu Chính quyền địa phương, Trái phiếu NHTM, Trái phiếu doanh nghiệp v.v
Trang 5Cung ứng các dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
- Cung ứng các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt trong địa bàn cùng hệ thống và các địa bàn khác hệ thống
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong và ngoài nước cho khách hàng
- Thực hiện các dịch vụ thu hộ, chi hộ cho khách hàng
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam
Kinh doanh các dịch vụ ngân hàng khác:
- Cầm cố, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá theo quy định của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam
- Thực hiện đồng tài trợ, các hình thức bảo lãnh (bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán )
và các nghiệp vụ tài trợ thương mại khác theo quy định của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam
- Tư vấn tài chính, tín dụng cho khách hàng, tư vấn khách hàng xây dựng dự án
- Nghiên cứu, phân tích kinh tế liên quan đến hoạt động tiền tệ, tín dụng và đề ra kế hoạch kinh doanh phù hợp với kế hoạch kinh doanh của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – chi nhánh Tây Hà Nội và phát triển kinh tế của địa bàn
- Chấp hành đầy đủ các báo cáo, thống kê theo chế độ quy định và yêu cầu của Tổng giám đốc
Như vậy, VietinBank chi nhánh Tây Hà Nội đi vào hoạt động chính là huy động vốn và cho vay đối với các thành phần kinh tế và dịch vụ NH khác theo quy định và chịu sự giám sát của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam và của NHNN
1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Tây Hà Nội
Về cơ cấu tổ chức, VietinBank – Chi nhánh Tây Hà Nội có 10 phòng ban là:
Trang 6- Phòng tổng hợp
- Phòng tổ chức hành chính
- Phòng thông tin điện toán
- Phòng giao dịch
Sơ đồ 1.1 Cơ cấu tổ chức của VietinBank chi nhánh Tây Hà Nội
Nguồn: Phòng Tổ chức hành chính, Vietinbank – Chi nhánh Tây Hà Nội
Nhìn chung, sơ đồ tổ chức của VietinBank – Chi nhánh Tây Hà Nội khá rõ ràng,
cụ thể VietinBank – Chi nhánh Tây Hà Nội đã phân chia các phòng ban một cách cụ thể chi tiết để dễ dàng phân công công việc và trách nhiệm Đồng thời các phòng ban cũng có mối liên hệ ràng buộc với nhau khi cần thiết để có thể phối hợp thực hiện công việc Ví dụ như phòng khách hàng doanh nghiệp và phòng khách hàng cá nhân cũng có mối liên hệ mật thiết với phòng quản lý rủi ro và nợ có vấn đề, tất cả các phòng đều nhận sự hỗ trợ của khối hỗ trợ trong chi nhánh
Khối kinh
doanh
Khối quản lý rủi ro
Khối tác nghiệp Khối hỗ trợ
Phòng giao dịch
Phòng KH DN
Phòng kế toán
Phòng tiền
tệ kho quỹ
Phòng thanh toán, XNK
Phòng tổng hợp
Phòng tổ chức hành chính Phòng thông tin điện toán
Trang 7Chức năng của Giám đốc:
+ Chịu trách nhiệm quản lý, điều hành chung mọi hoạt động của chi nhánh
+ Tổ chức xây dựng, triển khai thực hiện và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của Chi nhánh theo quy định
+ Đề xuất, chỉ đạo thực hiện, trực tiếp tham gia xây dựng, bổ sung, hoàn chỉnh các cơ chế chính sách, quy định, quy trình nghiệp vụ
+ Thực hiện các quyền hạn khác theo sự phân công của Giám đốc Ngân hàng
Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam là nơi quyết định phương hướng kinh doanh, mục tiêu, kế hoạch cho chi nhánh, theo đó Giám đốc phải thực hiện nhiệm vụ
mà cấp trên giao phó và chỉ được độc lập hoạt động trong phạm vi nhất định nào đó.Giúp đỡ cho Giám đốc là các Phó giám đốc Phó giám đốc sẽ thực hiện các công việc trong từng lĩnh vực cụ thể mà Giám đốc giao phó để điều hành hoạt động của chi nhánh
Khối kinh doanh
- Phòng khách hàng doanh nghiệp
Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách hàng là các DN, để khai thác vốn bằng VNĐ và ngoại tệ; xử lý các nghiệp vụ liên quan đến cho vay, quản lý các sản phẩm cho vay phù hợp với chế độ hiện hành và hướng dẫn của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam
Chức năng:
+ Tìm kiếm, tiếp thị, tư vấn, hỗ trợ, chăm sóc khách hàng DN lớn, DN vừa và nhỏ.+ Phối hợp cùng các bộ phận liên quan, cung cấp trọn gói các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng cho khách hàng là doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ phù hợp với chế độ, quy định hiện hành của Ngân hàng nhằm đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng, tối đa hóa lợi ích mang lại cho ngân hàng
+ Theo dõi giám sát khoản vay, đôn đốc thu hồi nợ vay, đầu mối phối hợp với phòng quản lý rủi ro và nợ có vấn đề thu hồi các khoản nợ xấu, nợ ngoại bảng, nợ xử lý rủi ro
+ Quản lý khai thác hồ sơ, thông tin khách hàng doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ theo quy định của Ngân hàng
Trang 8+ Nghiên cứu, đề xuất, cải tiến sản phẩm, dịch vụ hiện có và phát triển sản phẩm, dịch
vụ mới cho khách hàng là doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ
- Phòng khách hàng cá nhân
Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách hàng là cá nhân để huy động vốn bằng VNĐ và ngoại tệ; xử lý các nghiệp vụ liên quan đến cho vay, quản lý các sản phẩm cho vay phù hợp với chế độ hiện hành của NHNN và hướng dẫn của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam; quản lý hoạt động các quỹ tiết kiệm, điểm giao dịch.Chức năng:
+ Tìm kiếm, tiếp thị, tư vấn, hỗ trợ chăm sóc khách hàng là cá nhân, hộ gia đình
+ Phối hợp cùng các bộ phận liên quan cung cấp trọn gói các sản phẩm, dịch vụ của Ngân hàng, kết hợp bán chéo, bán thêm các sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng, tối đa hóa lợi ích mang lại
+ Theo dõi, giám sát các khoản vay, đôn đốc thu hồi nợ vay; phối hợp với phòng quản
lý rủi ro và nợ có vấn đề nhằm thu hồi các khoản nợ xấu, ngoại bảng, nợ xử lý rủi ro.+ Quản lý, khai thác hồ sơ, thông tin KH là cá nhân, hộ gia đình theo quy định của Ngân hàng
+ Nghiên cứu, đề xuất cải tiến sản phẩm dịch vụ hiện có và phát triển sản phẩm, dịch
vụ mới cho khách hàng là cá nhân, hộ gia đình
Phòng quản lý rủi ro và nợ có vấn đề
Là phòng nghiệp vụ giúp cho Giám đốc về công tác quản lý rủi ro của chi nhánh, giám sát thực hiện danh mục cho vay, đầu tư, đảm bảo tuân thủ các giới hạn tín dụng cho khách hàng
Chịu trách nhiệm về quản lý và xử lý nợ xấu, nợ đã xử lý rủi ro, nợ được Chính phủ xử lý Khai thác và xử lý tài sản đảm bảo tiền vay theo quy định của Nhà nước nhằm thu hồi nợ xấu Thẩm định hoặc tái thẩm định KH, dự án, phương án đề nghị cấp tín dụng Thực hiện chức năng đánh giá, quản lý rủi ro trong toàn bộ các hoạt động của chi nhánh theo chỉ đạo của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam
Khối tác nghiệp
- Phòng kế toán
+ Thực hiện chức năng kiểm soát sâu đối với tất cả các giao dịch tài chính đã phát sinh tại đơn vị sau mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi quý và mỗi năm
Trang 9+ Thực hiện nghiệp vụ và các công việc liên quan đến công tác quản lý tài chính, chi tiêu nội bộ tại chi nhánh; quản lý, kiểm kê tài sản, công cụ dụng cụ…
+ Tổ chức kiểm soát và lưu trữ toàn bộ hồ sơ, chứng từ, liệt kê, báo cáo kế toán theo quy định
+ Trực tiếp giới thiệu, tư vấn, hỗ trợ và thực hiện các giao dịch, dịch vụ trực tiếp với khách hàng; cung cấp các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng liên quan đến nghiệp vụ thanh toán và các nghiệp vụ khác; xử lý hạch toán các giao dịch
+ Tổ chức công tác hạch toán kế toán, thực hiện các giao dịch tài chính và phi tài chính của toàn chi nhánh theo đúng quy định hiện hành của ngân hàng
- Phòng tiền tệ kho quỹ
+ Thực hiện nhiệm vụ quản lý, xuất nhập và bảo quản an toàn tuyệt đối Quỹ dự trữ phát hành, Quỹ nghiệp vụ phát hành và các tài sản khác trong kho quỹ tại chi nhánh.+ Điều hành và sử dụng tiền mặt tiết kiệm, hiệu quả Tổ chức thu, chi, giao, nhận, điều chuyển tiền mặt đáp ứng tốt nhu cầu giao dịch của khách hàng
+ Phân tích và đánh giá tình hình tài chính tại các phòng ban để có kế hoạch sử dụng hợp lý nguồn ngân quỹ
+ Điều hành, cân đối kinh doanh chung của toàn chi nhánh
+ Tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh của chi nhánh, thực hiện báo cáo tổng hợp, lưu trữ số liệu hoạt động chung toàn chi nhánh theo quy định của ngân hàng nhà nước, ngân hàng công thương
+ Thực hiện công tác thi đua tại chi nhánh theo đúng chủ trương, chính sách của nhà nước và quy định của ngân hàng
Trang 10- Phòng thông tin điện toán
Quản lý khai thác các ứng dụng công nghệ thông tin theo đúng định hướng, mục đích, chức năng hoạt động của ngân hàng và theo quy định của nhà nước
Phòng giao dịch
Là phòng thực hiện các giao dịch trực tiếp với KH, cung cấp các dịch vụ NH theo quy định của NHNN và Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Khai thác nguồn vốn bằng VNĐ và ngoại tệ, thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tín dụng; trực tiếp quảng cáo, tiếp thị, giới thiệu, tư vấn cho KH về sử dụng và bán các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng cho khách hàng
Với vị thế là một trong bốn trụ cột của ngành Ngân hàng Việt Nam, Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam đã ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình trong nền kinh tế cũng như năng lực cạnh tranh với các NHTM khác cả trong và ngoài nước Không chỉ tăng trưởng mạnh mẽ trong thời kỳ nền kinh tế hưng thịnh mà ngay
cả khi nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, VietinBank vẫn chứng tỏ khả năng phát triển của mình, trở thành ngân hàng được khách hàng tín nhiệm về lĩnh vực huy động vốn, tài trợ vốn và các dịch vụ tài chính tiện ích khác Đóng góp vào sự thành công đó, Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Tây Hà Nội cũng đã thể hiện
rõ bản lĩnh hoạt động kinh doanh, khả năng tự điều tiết và tuân thủ theo đúng định hướng mà Hội đồng quản trị đưa ra trong từng kỳ
Trang 111.4 Đánh giá khái quát về tình hình kinh doanh của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Tây Hà Nội giai đoạn 2012-2014
Kể từ khi hình thành và phát tiển, Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Tây Hà Nội đã tận dụng được tối đa thế mạnh của mình để kinh doanh một cách có hiệu quả, qua đó Ngân hàng đã tạo được niềm tin và sự hài lòng của đông đảo khách hàng bởi sự đa dạng và phong phú của các loại hình sản phẩm dịch vụ Kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh trong những năm 2012-2014 được tổng hợp qua bảng số liệu dưới đây:
Qua bảng kết quả kinh doanh trên, ta thấy, trong giai đoạn 2012-2014, tình hình hoạt động kinh doanh của VietinBank – Chi nhánh Tây Hà Nội có xu hướng tăng nhẹ
và không ổn định qua các năm Doanh thu từ hoạt động kinh doanh tăng lên qua các năm, cùng với đó tình hình chi phí cho hoạt động kinh doanh cũng có xu hướng tăng
và tốc độ tăng lên theo tốc độ tăng của doanh thu, điều đó đã làm cho lợi nhuận qua các năm của chi nhánh có tăng lên, nhưng mức tăng không nhiều Cụ thể như sau:
Về doanh thu: Năm 2013, tổng doanh thu của chi nhánh đạt 366,815 triệu đồng,
tăng 19,857 triệu đồng so với năm 2012, tốc độ tăng của doanh thu đạt 5.72% Sang năm 2014, tổng doanh thu của chi nhánh lại tăng thêm đạt 380,215 triệu đồng, tương ứng với mức tăng 13,400 triệu đồng và tỷ lệ tăng 3.65% so với cùng kỳ năm trước Nguyên nhân sự tăng lên của tổng doanh thu của chi nhánh là do NH đang ngày càng
mở rộng mạng lưới kinh doanh của mình, các sản phẩm mới được phát triển, cải tiến thu hút thêm được nhiều KH tiềm năng Bên cạnh đó, sự tăng lên của doanh thu trong hai năm gần đây một phần cũng là do Nhà nước đã áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt, làm giảm được lạm phát xuống mức ổn định (<7%), tăng trưởng tín dụng cũng tăng lên (8.83%) kích thích các tổ chức trong nền kinh tế phát triển, nhu cầu đi vay mở
Trang 12rộng quy mô kinh doanh, phục vụ cho hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp cũng tăng lên, điều đó đã làm cho tổng doanh thu của chi nhánh có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây.
Về chi phí: Tuy tổng doanh thu của chi nhánh có xu hướng tăng, nhưng tổng chi
phí cũng tăng lên không kém Cụ thể, năm 2012, tổng chi phí của chi nhánh là 272,210 triệu đồng, con số đó năm 2013 đã tăng 12,669 triệu đồng, tương đương với mức tăng 4.65% Sang năm 2014, khoản mục này lại tăng từ 284,879 triệu đồng lên 294,946 triệu đồng, tăng 10,067 triệu đồng, tương đương với 3.53% Nguyên nhân chủ yếu của
sự tăng lên đó là do sự tăng lên của lượng khách hàng qua các năm, vì có thêm nhiều khách hàng đến với NH hơn, nên song song với việc NH có thêm thu nhập thì cũng sẽ phát sinh thêm các chi phí để phát triển các sản phẩm mới và chi phí phục vụ KH Những chính sách của Nhà nước cũng là một nhân tố không nhỏ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của NH, giai đoạn 2012-2014 là giai đoạn nền kinh tế nước ta đang dần hồi phục, phát triển trở lại sau cuộc khủng hoảng thế giới, sự thay đổi chính sách phù hợp với nền kinh tế đã làm cho lượng KH gửi tiền tăng dần lên, chi phí cho các khoản tiền gửi cũng theo đó mà tăng lên không kém Bên cạnh đó, các khoản chi phí liên quan đến các hoạt động kinh doanh khác của NH như đầu tư, chi trả lương, thưởng cho nhân viên cũng tác động không nhỏ đến tổng chi phí của chi nhánh NH trong những năm này
Về lợi nhuận: Lợi nhuận của chi nhánh trong những năm vừa qua có xu hướng
tăng lên, nhưng mức tăng không nhiều Tuy nhiên, so với các chi nhánh khác trong
NH thì lợi nhuận của Chi nhánh Tây Hà Nội vẫn ở mức khá cao và là một trong những chi nhánh có đóng góp nhiều nhất vào sự phát triển của toàn NH Năm 2013, lợi nhuận sau thuế của Chi nhánh đạt 61,452 triệu đồng tức là tăng khoảng 5,391 triệu đồng tương đương với 9.62% Năm 2014, lợi nhuận sau thuế lại tiếp tục tăng thêm 2,837 triệu đồng lên 64,289 triệu đồng tương đương với tốc độ tăng 4.62% Điều này cho thấy hoạt động kinh doanh của Chi nhánh đang diễn ra rất tốt và hiệu quả
Tóm lại, trong ba năm trở lại đây, tình hình kinh tế thế giới và kinh tế Việt Nam
có nhiều biến động, gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của VietinBank nói chung và Chi nhánh Tây Hà Nội nói riêng Giai đoạn 2012-2014 vẫn
là giai đoạn khó khăn với nền kinh tế Việt Nam khi vẫn còn chịu tàn dư từ cuộc khủng
Trang 13hoảng kinh tế từ năm 2008 Thêm vào đó, thời gian này, kinh tế thế giới cũng đang trong giai đoạn khó khăn và điều đó cũng ít nhiều ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của nước ta, nhận thấy, tuy các chỉ tiêu doanh thu, lợi nhuận của Chi nhánh đều tăng nhưng tốc độ tăng vẫn chưa ổn định, mức tăng của năm 2014 so với năm 2013 tăng ít hơn mức tăng của năm 2013 so với năm 2012 Tuy nhiên, nhìn vào những kết quả đã đạt được, có thể thấy Chi nhánh đã cố gắng, nỗ lực hết sức để hoạt động kinh doanh diễn ra đạt hiệu quả nhất, VietinBank vẫn luôn là một địa chỉ uy tín với khách hàng trong thời gian qua Tuy vây, Chi nhánh vẫn cần phải cố gắng hơn nữa trong các hoạt động kinh doanh của mình để có thể tiếp tục phát triển các sản phẩm, dịch vụ gia tăng thêm nhiều lợi nhuận cho Chi nhánh, đóng góp vào sự phát triển của Ngân hàng trong những năm sắp tới.
Trang 14CHƯƠNG II- THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI NGÂN HÀNG
TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH TÂY HÀ NỘI
2.1 Thực trạng công tác huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Tây Hà Nội
2.1.1 Khái quát tình hình huy động vốn tại VietinBank – Chi nhánh Tây Hà Nội
Trong hoạt động kinh doanh của NH, có thể nói huy động vốn là một hoạt động
vô cùng quan trọng, là hoạt động đầu tiên và làm nền tảng cho các hoạt động khác của
NH Vốn quyết định quy mô hoạt động của NH, quyết định đến việc mở rộng hay thu hẹp loại hình hoạt động, quyết định năng lực cạnh tranh và vị thế của NH trong thương trường Đây chính là nguồn tài nguyên quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn tiền của NH Trong giai đoạn 2012-2014, với việc triển khai nhiều biện pháp tích cực trong tuyên truyền quảng cáo và đổi mới phong cách, tác phong giao dịch, tổ chức chỉ đạo điều hành đến các phòng giao dịch, phòng nghiệp vụ, tới từng cán bộ công nhân viên VietinBank – Chi nhánh Tây Hà Nội đã tạo được niềm tin với các KH có nhu cầu gửi tiền
Bên cạnh đó, Chi nhánh cũng kịp thời triển khai các hình thức huy động vốn do Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam ban hành, tiếp tục giao chỉ tiêu huy động vốn đến từng cán bộ nhân viên, có quy chế khen thưởng kịp thời cho cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác huy động vốn
Trang 15Số liệu bảng 2.1 về tình hình huy động vốn cho ta thấy tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Tây Hà Nội không ngừng tăng lên trong giai đoạn 2012-2014 và đã phản ánh đúng thực trạng của nền kinh tế nước ta qua các năm Bước qua thời kỳ khủng hoảng kinh tế những năm trước, tình hình hoạt động kinh doanh của NH dần có những bước khởi sắc và ổn định hơn Cuối năm 2012, tổng nguồn vốn huy động của Chi nhánh dừng ở mức 3,085,320 triệu đồng thì sang năm 2013, tổng vốn huy động đã tăng thêm 361,765 triệu đồng với tốc độ tăng đạt 11.73% lên 3,447,085 triệu đồng, không dừng lại ở đó, năm 2014, chi nhánh tiếp tục nỗ lực, chủ động triển khai thực hiện các biện pháp, cách thức huy động vốn
có hiệu quả hơn nữa, và kết quả không ngoài mong đợi, tổng nguồn vốn huy động toàn chi nhánh cuối năm đã đạt mức 3,968,966 triệu đồng, tăng thêm 521,881 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước, tốc độ tăng đạt mức 15.14% Nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến tình hình tăng giảm nguồn vốn huy động của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Tây Hà Nội trong những năm qua sẽ được trình bày và phân tích kỹ hơn ở những phần tiếp theo
2.1.2 Thực trạng tình hình huy động vốn tại VietinBank – Chi nhánh Tây Hà Nội
Nhìn vào bảng 2.1 – bảng diễn biến tình hình huy động vốn ở phần trên ta thấy, nguồn vốn huy động của Chi nhánh Tây Hà Nội thay đổi, biến động và có xu hướng tăng lên qua mỗi năm trong giai đoạn 2012-2014 Để tìm hiểu chi tiết hơn về các kênh huy động vốn của Chi nhánh, ta sẽ tiến hành phân tích từng khoản mục nguồn vốn huy động của Chi nhánh trong những năm qua
Nguồn vốn huy động theo kỳ hạn
Xét về mặt thời gian, Ngân hàng VietinBank – Chi nhánh Tây Hà Nội huy động vốn theo hai loại là không kỳ hạn và có kỳ hạn Hình thức có kỳ hạn của NH rất đa dạng, đáp ứng được mọi nhu cầu của người gửi tiền Hiện nay Chi nhánh đang huy động tiền gửi có kỳ hạn với các thời hạn sau: 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng và trên 12 tháng Thời hạn đa dạng đã đáp ứng mọi mục đích của người gửi tiền: gửi với mục đích sinh lợi, gửi với mục đích thanh toán, gửi với mục đích an toàn… NH luôn tạo mọi thuận lợi cho người gửi tiền và cũng nhận được sự tán thưởng, đánh giá cao của KH thể hiện qua kết quả huy động được trình bày dưới bảng sau:
Trang 16Để công tác phân tích số liệu được thuận lợi và chính xác nhất, ta chia nguồn vốn huy động theo kỳ hạn của VietinBank – Chi nhánh Tây Hà Nội thành 3 nhóm là nguồn vốn không kỳ hạn, nguồn vốn có kỳ hạn dưới 12 tháng và nguồn vốn có kỳ hạn trên 12 tháng Qua bảng số liệu và biểu đồ trên ta thấy nguồn vốn huy động tại Chi nhánh Tây
Hà Nội chủ yếu là tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng, nguồn vốn này có xu hướng tăng dần qua mỗi năm, còn lượng tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng thì chiếm tỷ trọng nhỏ và có xu hướng giảm dần qua mỗi năm trong giai đoạn 2012-2014
Nguồn vốn không kỳ hạn
Nguồn vốn huy động không kỳ hạn là các khoản tiền gửi thanh toán của các tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế và các cá nhân nhằm mục đích sử dụng tiện ích trong thanh toán Trong tổng nguồn vốn huy động của Chi nhánh, nguồn vốn không kỳ hạn luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong 3 năm: Năm 2012 chiếm 57.71%, năm 2013 chiếm 60.07%, năm 2014 chiếm 61.47% trên tổng nguồn vốn huy động Điều đó cho thấy trong giai đoạn 2012-2014, tiền gửi không kỳ hạn tại Chi nhánh luôn chiếm tỷ trọng
Trang 17lớn và có xu hướng biến động mạnh nhất theo chiều hướng tăng dần qua mỗi năm Cụ thể, năm 2012, tiền gửi không kỳ hạn là 1,780,538 triệu đồng, năm 2013 là 2,070,644 triệu đồng, tăng 290,106 triệu đồng tương ứng tăng 16.29% so với năm 2012 Đến năm 2014, nguồn vốn không kỳ hạn của Chi nhánh đạt mức 2,439,741 triệu đồng, tăng
so với năm 2013 là 369,097 triệu đồng với tốc độ tăng 17.83%, so với năm 2012 thì tốc độ tăng của nguồn vốn này đạt mức 37.02% Những con số này chứng tỏ nhu cầu tiền gửi với mục đích thanh toán đang ngày càng tăng so với trước kia, KH của chi nhánh hầu hết là những người có dân trí cao, nhu cầu thanh toán không dùng tiền mặt lớn Nguồn này có nhiều lợi thế do lãi suất huy động thấp (năm 2014 lãi suất tiền gửi không kỳ hạn là 0.3%/năm) và điều đó tạo thêm thu nhập cho NH nhờ phát sinh thêm nguồn thu từ phí thanh toán dịch vụ Tuy nhiên, tính ổn định của loại tiền gửi không
kỳ hạn này không cao và thường phụ thuộc và mức độ sử dụng vốn của người gửi
Nguồn vốn có kỳ hạn dưới 12 tháng
Nắm giữ tỷ trọng cao thứ 2 trong tổng nguồn vốn huy động là nguồn vốn có kỳ hạn dưới 12 tháng Nguồn vốn huy động từ loại tiền gửi này của Chi nhánh cũng có xu hướng tăng dần qua các năm bởi nguồn vốn này được huy động từ các dân cư, DN và được các NH khác điều chuyển đến Nếu như tiền gửi không kỳ hạn chủ yếu được các
tổ chức kinh tế sử dụng với mục đích phục vụ cho việc thanh toán thì tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng này chủ yếu phục vụ cho các dân cư – những người có nguồn tiền nhàn rỗi muốn gửi vào NH để lấy lãi và các DN gửi vào theo kỳ ngắn hạn khi đã tính toán kỹ lưỡng chu kỳ kinh doanh, muốn tìm ra giải pháp tối ưu để tối đa hóa lợi nhuận cho DN của mình Năm 2014, tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng chiếm tỷ trọng 31.60% trong tổng nguồn vốn huy động, tăng 0.28% so với tỷ trọng năm 2013 và 1.05% so với
tỷ trọng năm 2012 Không những tăng trưởng về tỷ trọng mà lượng tiền này còn tăng
cả về số tuyệt đối Năm 2013 nguồn tiền này đạt mức 1,079,627 triệu đồng tăng so với cùng kỳ năm trước là 137,062 triệu đồng, tốc độ tăng tương ứng là 14.54% Đến năm
2014, nguồn tiền này lại tiếp tục tăng lên đạt mức 1,254,193 triệu đồng, mức tăng tương ứng so với năm 2013 là 174,566 triệu đồng tương ứng với tốc độ tăng là 16.17% Sự tăng trưởng mạnh mẽ của nguồn vốn này là do cuộc chạy đua lãi suất huy động giữa các NH, ngân hàng áp dụng lãi suất huy động linh hoạt phù hợp với từng đối tượng KH, từng mức tiền gửi để thu hút các KH gửi tiền vào NH Mặc dù trong
Trang 18giai đoạn này, nhà nước đã đưa ra các chính sách nhằm ổn định lãi suất, song nguồn vốn này vẫn tiếp tục tăng lên, dự kiến trong những năm tới nguồn vốn có kỳ hạn dưới
12 tháng này sẽ còn tăng trưởng mạnh hơn nữa Nguồn vốn có kỳ hạn tăng lên qua các năm giúp đảm bảo hơn khả năng thanh toán của Chi nhánh và chứng tỏ uy tín, vị thế ngày càng được nâng cao của Chi nhánh trên thương trường, Chi nhánh Tây Hà Nội sẽ dần được nhiều KH biết đến và trở thành địa chỉ được ưu tiên hàng đầu mỗi khi khách hàng có nhu cầu gửi tiền
Nguồn vốn có kỳ hạn trên 12 tháng
Ngược lại với tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng, tiền gửi
có kỳ hạn trên 12 tháng lại chiếm tỷ trọng thấp nhất trong tổng nguồn vốn và có xu hướng giảm dần qua các năm Mặc dù vậy, nhưng nguồn tiền huy động này vẫn là quan trọng đối với bất cứ Chi nhánh NH nào Đây là nguồn chủ yếu để NH tiến hành cho vay trung và dài hạn, vì vậy dù có xu hướng giảm đi nhưng NH vẫn phải duy trì một lượng tiền nhất định qua các năm cho nguồn này Diễn biến tình hình nguồn vốn huy động có kỳ hạn trên 12 tháng của Chi nhánh như sau, năm 2012 tổng nguồn huy động được từ khoản tiền này là 362,217 triệu đồng, năm 2013 nguồn vốn này giảm 65,403 triệu đồng tương ứng giảm 18.06% so với năm 2012 còn 296,814 triệu đồng Sang năm 2014, nguồn vốn này lại giảm tiếp 21,782 triệu đồng, tỷ lệ giảm tương ứng
là 7.34% và đến cuối năm tổng nguồn vốn huy động được từ khoản này chỉ còn 275,032 triệu đồng Nguyên nhân chủ yếu của tình hình này là do kể từ năm 2012 cho tới nay, lãi suất tiền gửi giảm sâu, từ 11% xuống 6.3%/năm và điều đó đã tác động không nhỏ đến tình hình tổng nguồn vốn có kỳ hạn trên 12 tháng Tuy vậy, việc duy trì một tỷ lệ nhất định nguồn vốn trung và dài hạn này là điều cần thiết bởi nó có tính ổn định và an toàn cao giúp cho chi nhánh tài trợ cho hoạt động kinh doanh cũng như các khoản cho vay trung và dài hạn Tuy nhiên, việc duy trì phải ở một tỷ lệ nhất định nếu không hiệu quả sẽ làm tăng chi phí trả lãi của chi nhánh và có khả năng không tạo ra lợi nhuận vì phụ thuộc vào việc có giải ngân được vốn hay không
Từ những phân tích ở trên có thể thấy hoạt động huy động tiền gửi từ KH của Chi nhánh Tây Hà Nội chủ yếu tập trung ở nguồn tiền gửi không kỳ hạn Do đó, NH cần gia tăng tỷ trọng tiền gửi có kỳ hạn để góp phần giúp cho hoạt động cho vay của
NH trở nên hiệu quả, NH có thể an tâm đầu tư vào các dự án trung và dài hạn
Trang 19 Nguồn vốn huy động theo thành phần kinh tế
Xét theo thành phần kinh tế, nguồn vốn huy động chủ yếu của Chi nhánh Tây Hà Nội là từ tiền gửi của các tổ chức kinh tế và tiền gửi của dân cư, nguồn vốn huy động
từ tiền gửi của các tổ chức tín dụng chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động được của Chi nhánh NH Trong giai đoạn 2012-2014, tổng nguồn vốn huy động của Chi nhánh không ngừng tăng lên qua mỗi năm, sự tăng lên đó chủ yếu là do
sự tăng lên từ nguồn tiền gửi của dân cư và tiền gửi của tổ chức tín dụng; tiền gửi của
tổ chức kinh tế có xu hướng giảm qua mỗi năm tuy nhiên lượng giảm là ít, không đáng
kể Để tìm hiểu kỹ hơn về nguồn vốn huy động theo thành phần kinh tế, ta đi phân tích từng khoản mục cụ thể:
Tiền gửi của tổ chức kinh tế
Tiền gửi của tổ chức kinh tế, khoản tiền gửi này đa phần là của các DN, các cơ
sở sản xuất hay một số DN trên địa bàn Hà Nội hoạt động kinh doanh bất động sản thu tiền sử dụng đất, tiền bán căn hộ… Đây là số tiền tạm thời nhàn rỗi phát sinh trong quá trình kinh doanh của họ được gửi tại NH Nguồn vốn này có chi phí thấp, không phụ
Trang 20thuộc nhiều vào quyết định của đối tượng gửi tiền mà chủ yếu phụ thuộc vào chất lượng dịch vụ mà NH cung cấp Do vậy 3 năm trở lại đây tỷ trọng tiền gửi của tổ chức kinh tế chiếm phần lớn trong tổng nguồn vốn huy động: năm 2012 chiếm 75%, năm
2013 chiếm 61.61%, năm 2014 chiếm 47.98% Tuy nhiên, dựa trên bảng số liệu 2.3 ta thấy giai đoạn 2012-2014, tiền gửi từ tổ chức kinh tế đã có sự chuyển dịch theo xu hướng giảm dần qua mỗi năm: năm 2013 lượng tiền gửi của các tổ chức kinh tế là 2,123,784 triệu đồng giảm 190,170 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ giảm 8.22% so với năm 2012, năm 2014 nguồn vốn này tiếp tục giảm còn 1,904,292 triệu đồng, giảm so với năm 2013 là 219,492 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ giảm 10.33%
Nguyên nhân của sự giảm sút nguồn vốn huy động từ TCKT tại chi nhánh trong giai đoạn 2012-2014 là do trong những năm này nền kinh tế nước ta có nhiều biến động, thêm vào đó là việc cạnh tranh nguồn vốn huy động từ các DN ngày càng trở nên gay gắt, vậy nên NH đã chuyển hướng, tập trung chú trọng nhiều hơn đến việc huy động vốn từ tiền gửi của các cá nhân bởi NH nhận thấy lượng dân cư, nguồn tiền dồi dào và tiềm năng có thể huy động trong khu vực Chi nhánh NH hoạt động là rất lớn
Và kết quả là, mặc dù tiền gửi của các tổ chức kinh tế giảm 10.33% vào năm 2014 nhưng tiền gửi của dân cư lại tăng 73.8% bù đắp khoản tiền giảm từ nguồn huy động
từ tổ chức kinh tế đồng thời góp phần làm tăng tổng nguồn vốn huy động của NH
Tiền gửi của dân cư
Như đã phân tích ở trên, tiền gửi của dân cư là một trong những thành phần quan trọng và quyết định đến tình hình huy động vốn của toàn Chi nhánh qua các năm Giai đoạn 2012-2014, tổng nguồn vốn huy động được của Chi nhánh có xu hướng tăng dần qua các năm là do NH đã biết tận dụng được nguồn tiền nhàn rỗi từ các KH là dân cư sinh sống và làm việc trong khu vực Chi nhánh hoạt động để tăng dần tỷ trọng của nguồn vốn này mỗi năm: Năm 2012, nguồn vốn huy động được từ dân cư của chi nhánh chỉ đạt 520,527 triệu đồng, chiếm 16.87% tổng nguồn vốn huy động thì sang năm 2013, nguồn vốn này đã tăng thêm 442,044 triệu đồng tương ứng tỷ lệ tăng 84.92% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng nguồn vốn huy động từ dân cư lên 962,571 triệu đồng và đến cuối năm 2014 nguồn vốn này đã đạt mức 1,672,919 triệu đồng chiếm tỷ trọng 42.15% tổng nguồn vốn huy động, so với năm 2013 thì nguồn vốn huy động từ dân cư đã tăng 710,348 triệu đồng với tỷ lệ tăng tương ứng đạt
Trang 2173.8% Mặc dù phương thức huy động vốn từ tiền gửi của dân cư là nghiệp vụ truyền thống của NHTM Việt Nam, nhưng Chi nhánh Tây Hà Nội vẫn luôn thường xuyên đưa ra nhiều biện pháp nhằm nâng cao nguồn vốn huy động này Cụ thể, ban giám đốc giao chỉ tiêu trực tiếp tới từng cán bộ nhân viên của chi nhánh Lấy kết quả huy động vốn của từng cán bộ làm một trong những thang điểm quan trọng để bình xét thi đua Ngoài ra, trong thời gian này, có khá nhiều biến động trên thị trường vàng và bất động sản, chính vì vậy người dân đã tìm tới NH như một cách đầu tư tiết kiệm an toàn đảm bảo hơn Qua đó cũng cho thấy niềm tin của người dân vào VietinBank – Chi nhánh Tây Hà Nội ngày càng được nâng cao.
Tiền gửi từ tổ chức tín dụng
Ngược lại với tiền gửi từ tổ chức kinh tế hay tiền gửi từ dân cư, tiền gửi từ tổ chức tín dụng chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số vốn huy động được của toàn Chi nhánh NH Tuy có sự tăng nhẹ qua các năm nhưng nguyên nhân chính đến từ chính sách của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam là hạn chế nhận tiền gửi từ các tổ chức tín dụng Vì đây là nguồn vốn kém ổn định, các tổ chức tín dụng có nhu cầu rút tiền để thanh toán lớn dẫn đến khó khăn trong việc lập kế hoạch tài chính của NH Tuy vậy, trong giai đoạn 2012-2014 vừa qua, tiền gửi từ tổ chức tín dụng cũng đã phần nào góp phần giúp tổng nguồn vốn huy động của toàn chi nhánh NH được ổn định và tăng trưởng đều qua các năm, cụ thể năm 2012 lượng vốn huy động được qua hình thức này
là 250,839 triệu đồng, con số đó sang năm 2013 đã tăng lên mức 360,730 triệu đồng, mức tăng tương ứng là 109,891 triệu đồng với tốc độ tăng đạt 43.81% so với năm
2012, năm 2014 nguồn vốn này lại tiếp tục tăng nhẹ với con số 31,025 triệu đồng, tỷ lệ tăng tương ứng là 8.6% lên 391,755 triệu đồng so với năm 2013
Nguồn vốn huy động theo loại tiền tệ
Trang 22Xét theo loại tiền huy động thì NH thường phân chia nguồn vốn huy động thành nguồn vốn nội tệ và nguồn vốn ngoại tệ Trong giai đoạn 2012-2014, nguồn vốn huy động giữa 2 loại tiền này có sự chênh lệch nhau rất lớn, chủ yếu NH huy động vốn từ nguồn vốn nội tệ Và lượng tiền gửi từ nguồn vốn này có xu hướng liên tục tăng qua các năm Ngược lại với tiền gửi từ nguồn vốn nội tệ, lượng tiền gửi từ nguồn vốn ngoại tệ chiếm tỷ trọng ít mà lại có xu hướng giảm xuống Cụ thể tình hình huy động vốn theo loại tiền huy động tại Ngân hàng TMCP Công Thương – Chi nhánh Tây Hà Nội như sau:
Nguồn vốn nội tệ
Nguồn vốn nội tệ là nguồn vốn chủ yếu đối với hầu hết các NH Nó phụ thuộc vào mức thu nhập trong nước và lãi suất huy động trong từng thời kỳ Trong giai đoạn 2012-2014, lượng tiền gửi bằng VNĐ liên tục tăng qua mỗi năm và luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn huy động Năm 2014, nguồn vốn nội tệ của chi nhánh chiếm tỷ trọng 79.98% trong tổng nguồn vốn huy động, tăng 3.36% so với tỷ trọng năm 2013 và 6.92% so với tỷ trọng năm 2012 Không những tăng trưởng về tỷ trọng
mà nguồn tiền này còn tăng cả về số tuyệt đối Cụ thể, năm 2013, lượng tiền gửi bằng VNĐ tại Chi nhánh là 2,641,143 triệu đồng, tăng so với cùng kỳ năm trước là 386,924 triệu đồng, tốc độ tăng tương ứng là 17.16% Đến năm 2014, lượng tiền này lại tiếp tục tăng lên đạt mức 3,174,379 triệu đồng, mức tăng tương ứng so với năm 2013 là 533,236 triệu đồng tương ứng với tốc độ tăng là 20.19% Nguồn vốn bằng đồng nội tệ của Chi nhánh có xu hướng tăng lên qua mỗi năm nguyên nhân chủ yếu là do các sản
Trang 23phẩm, dịch vụ của Chi nhánh đa phần được phục vụ cho các hoạt động kinh doanh trong nước nên Chi nhánh vẫn tập trung vào hoạt động huy động vốn bằng đồng nội tệ
là chính
Nguồn vốn ngoại tệ
Như phân tích ở trên, thông thường thì nguồn huy động của NH chủ yếu vẫn là nguồn vốn nội tệ, nhưng do điều kiện kinh tế xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu thanh toán của các DN đòi hỏi phải dùng đồng ngoại tệ mạnh, đặc biệt là đồng USD, nên bên cạnh việc tăng cường công tác huy động đồng nội tệ thì Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Tây Hà Nội cũng rất chú trọng tới công tác huy động đồng ngoại tệ và mức huy động luôn được duy trì ở mức trên 20% tổng nguồn vốn huy động Điều này thể hiện tính chủ động của NH trong việc duy trì trạng thái huy động ngoại tệ bảo đảm cân đối và chủ động trong việc phát triển cho vay các KH hoạt động SXKD xuất nhập khẩu Diễn biến tình hình nguồn vốn ngoại tệ trong giai đoạn 2012-2014 như sau: Năm 2012, lượng tiền gửi bằng ngoại tệ của Chi nhánh là 831,101 triệu đồng chiếm tỷ trọng 26.94% tổng nguồn vốn huy động Sang năm 2013, nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ giảm còn 805,942 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 23.38%, giảm so với năm 2012 là 25,159 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ giảm 3.03%
Và đến năm 2014 thì lượng tiền huy động từ ngoại tệ của Chi nhánh chỉ còn 794,587 triệu đồng với tỷ trọng 20.02%, mức giảm so với cùng kỳ năm trước là 11,355 triệu đồng, tỷ lệ giảm tương ứng là 1.41% Nguyên nhân của tình hình đó là do DN có nhu cầu sử dụng đồng ngoại tệ để thanh toán XNK thường với quy mô nhỏ làm cho hiệu quả sử dụng đồng vốn của NH chưa cao Hơn nữa còn do tâm lý lo ngại sự biến động
về tỷ giá nên các DN đều hướng đến nhu cầu vay bằng đồng nội tệ Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế nước ta ngày càng phát triển và từng bước hội nhập với các nước trên thế giới qua việc tham gia và ký kết các hiệp định thương mại quốc tế thì việc duy trì
ổn định đồng ngoại tệ so với đồng nội tệ ở một tỷ trọng nhất định như tại Chi nhánh
NH vẫn là một quyết định đúng đắn của ban lãnh đạo NH
2.1.3 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động huy động vốn tại VietinBank – Chi nhánh Tây Hà Nội
Việc sử dụng chỉ tiêu đánh giá hoạt động huy động vốn là hết sức quan trọng đối với NH Từ những kết quả đó, NH sẽ biết được thực tế tình hình hoạt động nói chung
Trang 24và tình hình huy động vốn nói riêng của mình để tìm thấy những vấn đề cần quan tâm
Từ đó đề ra những giải pháp khắc phục khó khăn đồng thời để nâng cao vốn huy động của NH, góp phần đáp ứng đầy đủ nhu cầu tín dụng và cuối cùng là nâng cao hiệu quả hoạt động của NH
Chỉ tiêu tỷ trọng các loại tiền gửi theo từng sản phẩm huy động
Chỉ tiêu tỷ trọng các loại tiền gửi theo từng sản phẩm huy động thể hiện cơ cấu vốn huy động theo từng thành phần kinh tế, loại tiền gửi và kỳ hạn gửi tiền Bảng số liệu dưới đây sẽ cho ta thấy cơ cấu vốn huy động theo các tiêu thức khác nhau của Chi nhánh Tây Hà Nội trong giai đoạn 2012-2014
Xét theo thành phần kinh tế, tổng nguồn vốn huy động được của Chi nhánh được hình thành bởi nguồn tiền gửi từ các tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng và từ dân cư Trong đó, chủ yếu là tiền gửi của các tổ chức kinh tế, nguồn tiền này chiếm tỷ trọng 75% trong tổng nguồn vốn huy động được của toàn Chi nhánh trong năm 2012 Tuy nhiên trong những năm gần đây, nguồn tiền gửi từ tổ chức kinh tế lại có xu hướng giảm dần tỷ trọng qua mỗi năm Tính đến năm 2014, tỷ trọng tiền gửi từ nguồn này chỉ còn 47.98% trong tổng nguồn vốn huy động, giảm 13.63% so với tỷ trọng năm 2013
và so với năm 2012 tỷ trọng của nguồn tiền này đã giảm tới 27.02% Ngược lại với sự giảm xuống của tỷ trọng nguồn tiền từ tổ chức kinh tế, nguồn tiền từ tổ chức tín dụng
và từ dân cư lại có xu hướng tăng lên qua mỗi năm, tăng mạnh mẽ nhất phải kể đến là khoản tiền từ dân cư khi năm 2012 nguồn tiền này chỉ chiếm tỷ trọng 16.87% thì tới năm 2014 nguồn tiền này đã tăng vọt lên mức 42.15%, trở thành nguồn tiền đóng góp
Trang 25lớn thứ 2 trong sự tăng trưởng của tổng nguồn vốn huy động, chỉ sau nguồn tiền từ tổ chức kinh tế khi tỷ trọng thấp 5.83% Điều này cho thấy, Chi nhánh đang mở rộng chiến lược huy động từ việc tập trung chủ yếu vào kênh huy động từ tổ chức kinh tế sang việc mở rộng tìm kiếm nguồn tiền gửi từ dân cư Đây là hướng chiến lược đúng đắn của NH khi đối mặt với nền kinh tế có nhiều biến động trong những năm qua, NH cần tiếp tục phát huy và đề ra thêm nhiều hướng chiến lược mới có hiệu quả hơn trong hoạt động kinh doanh của mình trong thời gian sắp tới.
Xét theo loại tiền huy động thì nguồn vốn huy động giữa hai loại tiền chênh lệch nhau rất lớn, chủ yếu NH huy động từ tiền gửi nội tệ Và lượng tiền gửi này có xu hướng tăng dần tỷ trọng qua các năm Ngược lại với tiền gửi nội tệ, lượng tiền gửi ngoại tệ chiếm tỷ trọng thấp hơn và có xu hướng giảm xuống Mặc dù vậy, nhưng NH vẫn luôn có những chính sách huy động để thu hút nguồn vốn ngoại tệ bằng cách duy trì nguồn tiền này luôn ở mức trên 20% Điều cho thấy NH luôn chủ động trong việc duy trì trạng thái huy động ngoại tệ để đảm bảo cân đối và chủ động hơn trong việc phát triển cho vay với các khách hàng hoạt động SXKD xuất nhập khẩu
Xét theo kỳ hạn gửi tiền thì nguồn vốn huy động của Chi nhánh gồm có tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng và tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng Trong đó, nguồn vốn từ tiền gửi không kỳ hạn chiếm tỷ trọng cao nhất và có xu hướng tăng dần qua mỗi năm Nắm giữ tỷ trọng cao thứ hai trong tổng nguồn vốn là tiền gửi
có kỳ hạn dưới 12 tháng Nguồn vốn huy động từ loại tiền gửi này trong những năm qua đang tăng dần lên và nó cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu giúp cho tổng nguồn vốn huy động được của toàn Chi nhánh tăng đều qua các năm Ngược lại với hai loại tiền gửi trên là tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng, nguồn tiền từ khoản này chiếm tỷ trọng thấp nhất trong tổng nguồn vốn huy động được của toàn Chi nhánh và
có xu hướng giảm dần Điều đó cho thấy, trong giai đoạn vừa qua hoạt động huy động tiền gửi khách hàng của Chi nhánh chủ yếu tập trung ở nguồn vốn không kỳ hạn Hoạt động huy động từ nguồn tiền có kỳ hạn ngắn dưới 12 tháng và nguồn tiền trung, dài hạn vẫn chưa được chú trọng cho lắm Do đó, trong những năm tới NH cần gia tăng tỷ trọng tiền gửi có kỳ hạn bởi nó có tính ổn định và an toàn cao để góp phần giúp cho hoạt động kinh doanh cũng như các hoạt động cho vay của NH trở nên hiệu quả hơn,
NH có thể an tâm đầu tư vào các dự án trung và dài hạn
Trang 26 Chỉ tiêu vốn huy động và vốn điều chuyển trên tổng nguồn vốn
Để đánh giá chính xác hơn về hiệu quả hoạt động huy động vốn của NH TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Tây Hà Nội, ta tiến hành xem xét thêm một số chỉ tiêu sau:
Vốn huy động trên tổng nguồn vốn
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng huy động vốn của NH, tỷ lệ huy động vốn trên tổng nguồn vốn càng cao càng chứng tỏ hoạt động huy động vốn của NH đạt hiệu quả Qua 3 năm ta thấy tuy nguồn vốn huy động có chiều hướng tăng nhưng tỷ lệ vốn huy động trên tổng nguồn vốn lại có xu hướng tăng giảm không ổn định Cụ thể, năm 2012 vốn huy động trên tổng nguồn vốn chiếm tỷ trọng 44.13%, sang năm 2013 tỷ trọng này tăng lên 50.55% Đến năm 2013 chỉ tiêu này giảm xuống còn 49.82% Qua đó cho thấy hiệu quả huy động vốn của NH tuy tăng đều qua các năm nhưng nhìn chung chưa cao và còn lệ thuộc khá nhiều vào nguồn vốn điều chuyển Nguyên nhân là do nguồn thu nhập của người dân chưa đồng đều, một số có thu nhập cao thì thường thích đầu tư vào sản xuất hay chứng khoán, một số có thu nhập khá thì chưa có thói quen gửi tiền vào NH mà chọn các hình thức tiết kiệm khác như mua vàng, những người có thu nhập trung bình và thấp thì với giá cả leo thang lượng tiền nhàn rỗi của họ rất ít Bên cạnh
Trang 27đó, NH còn gặp sự cạnh tranh hết sức gay gắt của các TCTD khác Tuy nguồn vốn huy động đạt được có tỷ trọng chưa cao nhưng điều đáng khích lệ là doanh số huy động liên tục tăng Có được kết quả như vậy là do Chi nhánh luôn phấn đấu nỗ lực tìm mọi biện pháp tăng nguồn vốn huy động, để có thể cạnh tranh với các chi nhánh NH khác trong khu vực, gia tăng lượng vốn huy động trong tổng nguồn vốn NH cần tăng cường hơn nữa công tác huy động, gia tăng các dịch vụ tiền gửi để giữ chân KH truyền thống
và thu hút KH mới
Vốn điều chuyển trên tổng nguồn vốn
Sự hỗ trợ về vốn của hội sở là không thể thiếu đối với mỗi chi nhánh, với nguồn vốn điều chuyển từ Hội sở, Chi nhánh có thể sử dụng linh hoạt hơn trong hoạt động kinh doanh vì thời hạn trả vốn ổn định và Chi nhánh có thể tiếp tục quay vòng khi vẫn cần vốn để kinh doanh Nhưng nếu Chi nhánh có thể tự cân đối nguồn vốn tại chỗ bằng cách tăng cường khả năng huy động vốn thì sẽ tốt hơn vì nguồn vốn vay của hội
sở có lãi suất rất cao, và khi tự chủ được nguồn vốn thì NH sẽ nắm được thế chủ động trong kinh doanh, có khả năng cung cấp vốn kịp thời, đầy đủ và nhanh chóng cho KH Đồng thời gia tăng nguồn vốn huy động thì sẽ gia tăng lợi nhuận của NH nhờ sự chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay
Chỉ tiêu vốn điều chuyển trên tổng nguồn vốn phản ánh mức độ phụ thuộc về vốn của Chi nhánh vào Hội sở, chỉ tiêu này nhìn chung cả 2 năm 2013 và 2014 đều có giảm so với năm 2012 Cụ thể, năm 2012 tỷ lệ vốn điều chuyển chiếm tới 52/87% tổng nguồn vốn Đến năm 2013, tỷ lệ này có bước giảm mạnh, chỉ còn 49.45% nhưng năm
2014 do nhu cầu vốn quá lớn, tốc độ tăng của vốn huy động không đáp ứng được tốc
Trang 28độ tăng của doanh số cho vay nên vốn điều chuyển có xu hướng tăng nhẹ, chiếm 50.18% trong tổng nguồn vốn.
Tóm lại, qua phân tích các chỉ số trên, ta thấy khả năng huy động vốn của NH ngày càng được nâng cao, cơ cấu giữa các khoản tiền gửi là khá hợp lý nhưng NH vẫn cần nâng cao hơn nữa tỷ lệ vốn huy động trong cơ cấu nguồn vốn của mình trong những khoảng thời gian sắp tới
2.2 Thực trạng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Tây Hà Nội
2.2.1 Khái quát tình hình hoạt động tín dụng tại VietinBank – Chi nhánh Tây Hà Nội
Trong những năm qua, cùng với sự nỗ lực trong công tác huy động vốn NH không ngừng đẩy mạnh công tác cho vay Hoạt động cho vay luôn là vấn đề trọng tâm, góp phần thúc đẩy sự phát triển, đồng thời tạo lợi nhuận chính cho NH Để đánh giá hoạt động tín dụng của Chi nhánh, ta dựa vào các chỉ tiêu: Doanh số cho vay, Doanh
số thu nợ, Dư nợ, Nợ quá hạn Từ các chỉ tiêu này, ta có thể khái quát tình hình tín dụng của Chi nhánh, trong 3 năm qua, Chi nhánh Tây Hà Nội đã đạt được những kết quả đáng kể, những kết quả đó được thể hiện dưới bảng số liệu sau đây:
Bảng 2.7 ở trên cho ta thấy diễn biến tình hình hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công Thương – Chi nhánh Tây Hà Nội trong giai đoạn 2012-2014 Mặc dù trong giai đoạn này, nền kinh tế nước ta vẫn còn nhiều biến động tuy nhiên với sự nỗ lực của toàn thể cán bộ công nhân viên trong chi nhánh cùng với sự chỉ đạo sâu sát của các cấp lãnh đạo, Chi nhánh NH đã tranh thủ kịp thời nguồn vốn điều chuyển từ Hội
sở chính kết hợp với nguồn vốn huy động được qua các năm để đáp ứng kịp thời nhu
Trang 29cầu vốn cho nền kinh tế và đem lại những kết quả khả quan trong hoạt động tín dụng của toàn chi nhánh NH
Đầu tiên, phải kể đến đó là doanh số cho vay của Chi nhánh NH Doanh số cho vay của Chi nhánh Tây Hà Nội trong giai đoạn 2012-2014 có xu hướng tăng lên qua các năm Năm 2012 đạt 5,460,616 triệu đồng, năm 2013 tăng lên 6,231,665 triệu đồng, mức tăng tương ứng đạt 771,049 triệu đồng tương đương với tốc độ tăng 14.12% Sang năm 2014, tốc độ tăng của doanh số cho vay giảm nhẹ, chỉ đạt mức 11.57% với
số tiền là 6,952,960 triệu đồng Tuy doanh số cho vay chỉ tăng nhẹ và năm sau tăng ít hơn năm trước nhưng qua đó cũng đã có thể thấy được sự cố gắng của NH vì trong thời buổi nền kinh tế khó khăn mà NH vẫn duy trì được lượng KH ổn định và có chiều hướng tăng dần qua các năm
Bên cạnh việc cho vay, công tác thu nợ cũng là một việc vô cùng quan trọng, nó đảm bảo cho tính luân chuyển đồng vốn của NH Thu nợ còn là một nghệ thuật, nó đòi hỏi trình độ, bản lĩnh, năng lực, kinh nghiệm của người cán bộ tín dụng Đó là sự kết hợp giữa tính sáng tạo khéo léo và nghiệp vụ chuyên môn của CBTD Thực tế 3 năm qua cho thấy tình hình thu nợ của Chi nhánh có tiến triển khá khả quan Năm 2012, doanh số thu nợ tại Chi nhánh là 4,649,340 triệu đồng Năm 2013 tăng thêm 636,770 triệu đồng lên mức 5,286,110 triệu đồng, tốc độ tăng đạt 13.7% Sang năm 2014, doanh số thu nợ chạm mốc 5,997,333 triệu đồng, mức tăng tương ứng là 711,223 triệu đồng, tốc độ tăng đạt 13.45%
Nợ quá hạn là những món nợ mà KH mất khả năng chi trả trong nhất thời hoặc không có khả năng chi trả, đây là nhóm nợ không mong muốn của NH Tại chi nhánh,
nợ quá hạn có xu hướng giảm qua các năm Năm 2012, tổng nợ quá hạn là 6,428 triệu đồng Năm 2013 là 6,126 triệu đồng, giảm 302 triệu đồng, tương đương 4.7% so với năm 2012 Sang năm 2014, nợ quá hạn chỉ còn 4,711 triệu đồng, giảm 1,415 triệu đồng so với năm 2013, tương đương với tỷ lệ giảm 23.1% Đây là dấu hiệu đáng mừng chứng tỏ trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ tín dụng ngày càng được nâng cao
và đồng vốn NH đã thực sự mang lại hiệu quả cho KH
Dư nợ là số tiền NH đã giải ngân cho KH nhưng chưa đến hạn thu hồi, chỉ tiêu này đánh giá quy mô tín dụng của NH tại một thời điểm nhất định, cho biết tình hình cho vay, thu nợ đạt hiệu quả như thế nào và số nợ của KH mà Chi nhánh còn phải thu
Trang 30là bao nhiêu Với cơ cấu nguồn vốn ngày một tăng kết hợp với việc mở rộng quy mô tín dụng đã góp phần làm tăng tổng dư nợ của Chi nhánh Cụ thể, năm 2012 dư nợ bình quân là 2,306,946 triệu đồng, năm 2013 là 3,185,362 triệu đồng, tăng 878,416 triệu đồng tương đương 38.08% so với năm 2012 Sang năm 2014, mức dư nợ bình quân đạt 4,135,953 triệu đồng, tăng 950,591 triệu đồng so với năm 2013, tương đương 29.84% Đây là cơ sở quan trọng để NH mở rộng hơn nữa đối tượng xét duyệt cho vay vốn, ngày càng hoàn thiện tốt hơn vai trò, chức năng của mình thúc đẩy nền kinh tế khu vực phát triển.
2.2.2 Thực trạng tình hình hoạt động tín dụng tại VietinBank – Chi nhánh Tây
Hà Nội
Doanh số cho vay
Cùng với sự gia tăng nguồn vốn, NH ngày càng đẩy mạnh công tác cho vay đến tất cả các thành phần trong nền kinh tế NH đã đưa ra rất nhiều sản phẩm tín dụng đa dạng phù hợp với từng loại hình, thành phần kinh tế khác nhau tạo ra bước chuyển mạnh mẽ trong hoạt động tín dụng Để nắm rõ hơn doanh số cho vay của NH ta sẽ tiến hành xem xét doanh số cho vay theo thời hạn tín dụng, doanh số cho vay theo thành phần kinh tế và doanh số cho vay theo loại tiền tệ
Doanh số cho vay theo thời hạn tín dụng
Trang 31Doanh số cho vay theo thời hạn tín dụng cho ta biết tỷ lệ cho vay ngắn hạn, trung
và dài hạn so với tổng doanh số cho vay của NH qua các năm Những số liệu ở trên cho ta thấy doanh số cho vay ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu cho vay theo thời hạn của NH Năm 2012, doanh số cho vay ngắn hạn chiếm 85.22%, năm
2013 tỷ trọng này tăng lên 90.36% và năm 2014 khoản mục này lại tiếp tục tăng lên chiếm đến 93.72 trong tổng doanh số cho vay của NH
Nguyên nhân chủ yếu là do lãi suất cho vay ngắn hạn thấp hơn lãi suất cho vay trung và dài hạn nên được nhiều khách hàng lựa chọn, thông thường đối với các hộ sản xuất kinh doanh, các DN vừa và nhỏ thì hoạt động sản xuất của họ đều mang tính chất chu kỳ, vì vậy, họ có nhu cầu vốn ngắn hạn để bổ sung nguồn vốn tạm thời thiếu hụt của mình, bên cạnh đó thời hạn cho vay càng dài thì rủi ro càng cao nên với thời hạn cho vay ngắn NH sẽ có thể thu hồi vốn nhanh, quay vòng đồng vốn của mình nhanh hơn, rủi ro thấp hơn so với cho vay trung và dài hạn Ta thấy rõ phương hướng cho vay của Chi nhánh nghiêng về cho vay ngắn hạn, tỷ lệ cho vay ngắn hạn trong tổng doanh số cho vay của Chi nhánh luôn lớn hơn 85% Cụ thể, năm 2012 doanh số cho vay ngắn hạn đạt 4,653,537 triệu đồng, năm 2013 tăng thêm 977,396 triệu đồng lên mức 5,630,932 triệu đồng, tốc độ tăng tương ứng là 21% Năm 2014 doanh số cho vay lại tiếp tục tăng lên đạt 6,516,314 triệu đồng, tăng so với cùng kỳ năm trước là 885,382 triệu đồng, tương ứng với tốc độ tăng 15.72%
Về cho vay trung và dài hạn, thì mục đích của KH khi vay các khoản này là nhằm phát triển cơ sở hạ tầng, mở rộng mua sắm thiết bị Các khoản vay này có thời gian thu hồi vốn tương đối lâu lại có độ rủi ro lớn nên NH rất thận trọng trong công tác thẩm định và xét duyệt cho vay Năm 2012, doanh số cho vay trung và dài hạn đạt mức 807,079 triệu đồng, sang năm 2013 doanh số cho vay giảm còn 600,733 triệu đồng và đến năm 2014 chỉ còn 436,646 triệu đồng Ta thấy rằng chỉ tiêu này giảm dần qua các năm, điều đó cho thấy đây không phải là nhóm KH trọng tâm mà Chi nhánh hướng đến, Chi nhánh đang có xu hướng giảm dần cho vay trong nhóm này và chỉ cho vay khi thấy KH hoàn toàn có khả năng trả nợ, giá trị cầm cố hoặc thế chấp của KH tương đối lớn và những KH này đã từng có quan hệ tín dụng tốt với NH
Trang 32 Doanh số cho vay theo thành phần kinh tế
Để hoạt động đầu tư của NH đạt hiệu quả cao và có thể đánh giá chính xác tình hình cho vay của NH thì ngoài việc phân tích doanh số cho vay theo thời hạn thì việc phân tích doanh số cho vay theo thành phần kinh tế cũng là một phần không thể thiếu Tình hình doanh số cho vay theo thành phần kinh tế tại Chi nhánh Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Tây Hà Nội được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Chiếm một tỷ trọng khiêm tốn trong bảng số liệu đó là cho vay đối với DNNN Nguyên nhân là do thành phần kinh tế Nhà nước ở khu vực Chi nhánh hoạt động phát triển chậm, với số lượng không đáng kể Trong đó, đa số là làm ăn thua lỗ, chỉ có vài
DN làm ăn có hiệu quả và có khả năng trả nợ vay tốt cho NH Do vậy NHCT – Chi nhánh Tây Hà Nội đã phải lựa chọn, xem xét kỹ lưỡng những DNNN có triển vọng phát triển ổn định để quan hệ tín dụng, nhằm mục đích bảo đảm hiệu quả và an toàn tín dụng Cụ thể, tình hình cho vay đối với DNNN giảm liên tục qua 3 năm Năm 2013 giảm 53,705 triệu đồng, tương ứng 13.4% so với năm 2012, sang năm 2014 lại tiếp tục giảm so với năm 2013, chỉ đạt 160,613 triệu đồng
Đi ngược với xu hướng chậm phát triển của DNNN đó là tốc độ tăng nhanh của thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, luôn chiếm tỷ trọng cao trong doanh số cho vay
Trang 33Cụ thể, tỷ trọng của thành phần này qua 3 năm lần lượt là 62.4% - 65.4% - 66.9% Đối tượng KH thuộc thành phần kinh tế này khá đa dạng (cán bộ công nhân viên, cá nhân, công ty, xí nghiệp.…) Đây là thành phần kinh tế rất linh hoạt và nhạy bén trong kinh doanh, vốn đầu tư của họ luôn được quay vòng rất nhanh nên nhu cầu vay vốn cũng khá cao Thực tế như sau, năm 2012 doanh số cho vay đối với thành phần kinh tế này đạt 3,404,694 triệu đồng, chiếm 62.4% trong tổng doanh số cho vay, năm 2013 tăng 671,438 triệu đồng, tương ứng 19.72% so với năm 2012 Năm 2014, doanh số cho vay tiếp tục tăng thêm 573,312 triệu đồng lên mức 4,649,444 triệu đồng, chiếm 66.9% tổng doanh số cho vay của toàn chi nhánh với tốc độ tăng tương ứng là 14.07%.
Góp phần vào sự gia tăng của tổng doanh số cho vay toàn Chi nhánh trong giai đoạn vừa qua còn có doanh số cho vay cá thể Các cá thể chủ yếu là các hộ SXKD buôn bán nhỏ Trong những năm gần đây, các hộ SXKD trong khu vực Chi nhánh hoạt động phát triển và mở rộng lên rất nhiều và điều đó cũng chính là nguyên nhân thúc đẩy doanh số cho vay của khoản mục này tăng lên qua các năm Năm 2012, doanh số cho vay cá thể của Chi nhánh đạt 1,655,113 triệu đồng, chiếm 30.3% tổng doanh số cho vay thì năm 2013 doanh số cho vay này đã tăng lên đạt 1,808,429 triệu đồng, mức tăng tương ứng là 153,316 triệu đồng, tương đương với 9.26% Sang năm 2014, doanh
số cho vay cá thể tiếp tục tăng thêm 11.57% nữa lên mức 2,142,902 triệu đồng với mức tăng trong năm là 721,295 triệu đồng
Đạt được doanh số cho vay khả quan như vậy là do NH có chính sách kinh doanh thích hợp đối với KH truyền thống của mình, đồng thời cũng có chính sách ưu đãi nhằm khuyến khích KH mới đến giao dịch Ngoài ra, NH nên tiếp tục duy trì và phát huy nhằm thỏa mãn nhu cầu vốn cho đầu tư kinh doanh của mọi đối tượng KH, góp phần kích thích các thành phần kinh tế phát triển, nhất là thành phần kinh tế ngoài quốc doanh
Doanh số cho vay theo loại tiền tệ
Để quản lý tốt hoạt động cho vay của mình, ngoài việc phân doanh số cho vay theo thời hạn và theo thành phần kinh tế, Ngân hàng còn phân doanh số cho vay theo loại tiền tệ Hoạt động cho vay của Ngân hàng phân theo loại tiền tệ trong giai đoạn 2012-2014 diễn ra với tình hình sau:
Trang 34Trong cơ cấu cho vay theo loại tiền tệ, ta thấy doanh số cho vay theo đồng nội tệ
và đồng ngoại tệ tại Chi nhánh Tây Hà Nội trong giai đoạn vừa qua đều có xu hướng tăng lên qua các năm Tuy nhiên tốc độ tăng của đồng nội tệ tăng nhanh hơn tốc độ tăng của đồng ngoại tệ và đồng nội tệ vẫn là loại tiền chủ yếu trong tổng doanh số cho vay của NH khi tỷ trọng qua các năm của loại tiền này luôn được duy trì ở mức trên 80% Cụ thể, năm 2012 mức cho vay bằng đồng nội tệ là 4,437,297 triệu đồng, chiếm 81.3% trong khi đó đồng ngoại tệ chỉ đạt mức 1,023,319 triệu đồng với tỷ trọng 18.7% Sang năm 2013, tỷ trọng của đồng nội tệ tăng lên mức 81.4%, cùng với đó là đồng ngoại tệ bị giảm tỷ trọng xuống còn 18.6% Tương tự như xu hướng năm 2013, năm 2014 tỷ trọng của đồng ngoại tệ vẫn tiếp tục giảm thay thế cho sự tăng lên của tỷ trọng đồng nội tệ Tuy giảm tỷ trọng, nhưng cả hai năm doanh số cho vay của đồng ngoại tệ vẫn tăng lên với giá trị 1,157,220 triệu đồng năm 2013 và 1,277,954 triệu đồng năm 2014 Nguyên nhân của xu thế biến động đó là do nguồn vốn kinh doanh chủ yếu của NH là đồng nội tệ và dù cho ngoại tệ là loại tiền chiếm tỷ trọng thấp hơn nhưng nó vẫn mang lại doanh thu rất khả quan cho NH trong giai đoạn vừa qua Điều
đó chứng tỏ Chi nhánh Tây Hà Nội có hoạt động kinh doanh rất tốt, NH cần tiếp tục phát huy tình trạng này trong những giai đoạn sắp tới
Trang 35 Doanh số thu nợ
Doanh số thu nợ là tổng số tiền NH thu hồi được từ các khoản giải ngân trong một thời gian nhất định Thu hồi nợ là một công tác rất quan trọng trong hoạt động tín dụng của NH Việc thu hồi nợ giúp cho vốn đầu tư của NH quay nhanh hơn, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển tiền trong lưu thông
Một NH muốn hoạt động có hiệu quả thì không chỉ cần nâng cao doanh số cho vay mà còn phải chú trọng tới tình hình thu nợ của mình Để xem xét Chi nhánh Tây
Hà Nội hoạt động có hiệu quả hay không, ta đi vào phân tích tình hình thu nợ tại Chi nhánh qua ba năm 2012-2014
Doanh số thu nợ theo thời hạn tín dụng
Tình hình thu nợ tại Chi nhánh trong giai đoạn vừa qua được biểu hiện đầu tiên qua chỉ tiêu doanh số thu nợ ngắn hạn Doanh số thu nợ ngắn hạn có xu hướng tăng lên nhanh chóng qua mỗi năm Cụ thể như sau, năm 2012 doanh số này là 4,074,217 triệu đồng, chiếm 87.63% tổng doanh số thu nợ, năm 2014 đạt 4,582,529 triệu đồng, tăng 508,312 triệu đồng tương ứng với tốc độ tăng 12.48% so với cùng kỳ năm trước nhưng tỷ trọng trong doanh số thu nợ giảm còn 86.69% Đến năm 2014 tỷ trọng doanh
số thu nợ ngắn hạn đã tăng trở lại, chiếm tỷ trọng 90.13% tổng doanh số thu nợ của chi nhánh, đạt 5,405,396 triệu đồng, tăng tương đương 17.96% so với cùng kỳ năm trước