1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

đề cương bảo tồn Tài nguyên thực vật

20 534 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 43,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

• Vai trò của tài nguyên cây gỗ đối với kinh tế - xã hội : - Gỗ là sản phẩm chủ yếu của hầu hết các loài thực vật đã tạo nên các loại rừng, nhất là các loài chiếm những vị trí chủ đạo ở

Trang 1

Câu 1: So sánh các đặc điểm khác nhau của thực vật Hạt trần và thực vật Hạt kín Tại sao nói thực vật Hạt kín tiến hóa hơn thực vật Hạt trần.

cơ quan

sinh

dưỡng

cơ quan

sinh sản

Thực vật hạt trần

Rễ cọc,

thân gỗ,

lá kim

Gỗ đồng nhất hơn và đơn giản hơn,

chưa có mạch điển hình (trừ dây

găm) và mô mềm ít Quản bào là

thành phần chính nhưng chưa có

sợi gỗ

Chưa có hoa và quả

cơ quan sinh sản là nón

hạt nằm trên lá noãn hở

thụ tinh đơn

Thực vật hạt kín

Rễ cọc, rễ chùm;

thân gỗ, thân cỏ ;

lá đơn, lá kép

Thân đại đa số có mô phân sinh thứ cấp, có mạch rây, mạch gỗ đảm bảo cho việc dẫn truyền tốt

Có hoa và quả

cơ quan sinh sản là hạt hạt nằm trong quả

Thụ tinh kép

Thực vật hạt kín tiến hóa hơn thực vật hạt trần vì:

Ở thực vật hạt kín noãn được bọc kín trong nhụy(bầu) của thực vật hạt kín, thụ tinh xảy ra trong nhụy(bầu), noãn phát triển thành hạt được bảo vệ trong quả sẽ có điều kiện nuôi dưỡng, bảo vệ và phát tán nòi giống tốt hơn

Thực vật hạt kín còn tiến hóa hơn thực vật hạt trần ở sự thụ tinh kép

Hệ thống dẫn của thực vật hạt kín hoàn thiện hơn thực vật hạt trần

Câu 2: Nêu vai trò của tài nguyên cây gỗ đối với kinh tế - xã hội Nguồn tài nguyên cây gỗ, tình hình khai thác sử dụng tài nguyên cây gỗ ở Việt Nam.

• Vai trò của tài nguyên cây gỗ đối với kinh tế - xã hội :

- Gỗ là sản phẩm chủ yếu của hầu hết các loài thực vật đã tạo nên các loại rừng, nhất là các loài chiếm những vị trí chủ đạo ở các tầng, các tán cây cao, đặc biệt là các tầng ưu thế Cho tới nay, hầu như toàn bộ khối lượng gỗ được chế biến, sử dụng, buôn bán… ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới đều khai thác từ rừng tự nhiên Do khai thác gỗ quá mức, rừng bị cạn kiệt, gây ra những thảm họa khôn lường, cho hệ sinh thái, cho môi trường sống không

Trang 2

chỉ đối với mỗi nước mà với toàn nhân loại Có thể nói gỗ là nguồn tài nguyên quan trọng nhất, chiếm vị trí chủ yếu và sinh khối lớn nhất rừng Đó không chỉ là nguồn nguyên liệu cho gỗ mà hơn thế nữa đó chính là những quần xã thực vật giữ vai trò rất quyết định đối với sự ổn định, sự bền vững của hệ sinh thái rừng

- Gỗ là nguồn nguyên liệu quan trọng, có quan hệ chặt chẽ với đời sống hàng ngày của con người Gỗ là một trong những loại vật kiệu giữ vị trí quan trọng không thể thiếu được trong các công trình kiến trúc, xây dựng nhà cửa, cầu cống, đường sắt, sản xuất các phượng tiện giao thông ( tàu thuyền, xe cộ…), sản xuất các đồ dùng gia dụng ( bàn ghế, giường tủ…), các công cụ cầm tay… Không những thế, đối với một bộ phận lớn dân cư ở nước nghèo, các nước chậm phát triển hoặc đang phát triển thì gỗ còn làn guồn chất đốt quan trọng bảo đảm cho sự ổn định cuộc sống hàng ngày của con người

- Gỗ của một số loài lại là nguồn nguyên liệu chủ yếu cho ngành công nghiệp giấy, sợi Theo tính toán của tổ chức FAO từ năm 1986- 1990 nhu cầu về các loại giầy các loại trên toàn thế giới đã tăng lên tới 10% Riêng năm

1990, toàn thế giới đã sử dụng đến 250 triệu tấn giấy Đồng thời với quá trình phát triển kinh tế- xã hội và tăng dân số thì nhu cầu giấy các loại ngày càng tăng gấp bội

- Riêng đối với các nước nhiệt đới, các nước nghèo, các nước chậm phát triển thì gỗ còn là nguồn sản phẩm thu về lượng kim ngạch xuất khẩu đáng kể trong thu nhập quốc dân ( các nước Trung và Nam châu Mỹ, các nước Đông Nam Á…)

• Nguồn tài nguyên cây gỗ, tình hình khai thác sử dụng tài nguyên cây

gỗ ở Việt Nam :

+ Nguồn tài nguyên cây gỗ :

- Theo thống kê sơ bộ của các nhà khoa học Việt Nam, chỉ riêng nhóm thực vật bậc cao có mạch ( trong đó có 2 ngành Thông và ngành Mộc lan chiếm

đa số) thì có khoảng trên 12.000 loài Trong hệ thực vật này, nhóm thực vật cho gỗ đã thống kê được khoảng trên 700 loài, trong đó có tới 400 loài là gỗ nhỏ, chỉ khoảng 200 loài thuộc cây gỗ có giá trị kinh tế là các loài thuộc về các họ : Hoàng đàn ( Cupressaceae), Dầu ( Dipterocarpaceae), Đậu ( Fabaceae),…

- Trong ngành Thông ( Pinophyta), các họ như Kim giao ( Podocarpaceae), Thông ( Pinaceae), Hoàng đàn ( Cupressaceae) đều có các loài cây cho gỗ quý, vân đẹp, hương thơm, rất bền ( không bị mối mọt mục), lại dễ gia công

Trang 3

chế biến Nhiều loại mọc thành các quần thụ thuần loại vùng núi cao, khí hậu thiên về Á nhiệt đới

- Ngành Mộc lan, có nhiều họ được các nhà Lâm học, các nhà kinh doanh, chế biến quan tâm Ví dụ như :

 Họ Mộc lan ( Magnoliaceae) chỉ có 5 chi và trên 25 loài, đều cho gỗ mềm mại, vân gỗ đẹp, có hương thơm, ít bị mối mọt Một số loài đã được gây trồng rộng rãi cho sản lượng gỗ lớn, phục vụ kinh tế cao Đa

số trong họ này đều phân bố ở vùng núi cao miền Bắc Việt Nam

 Họ Bồ đề ( Styracaceae) có 4 chi và trên 10 loài gỗ nhẹ, dễ chế biến, khá bền và được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp chế biến,các loài trong họ này đều mọc rộng rãi từ vùng trung du đến vùng núi cao của các tỉnh miền Bắc và miền Trung Một số loài được gây trồng thành rừng thuần loại cho năng suất cao, do mọc nhanh

 Họ Giẻ ( Fagaceae) chri có 5 chi và 100 loài hoàn toàn là cây gỗ lớn,

gỗ khá nặng, cứng, dùng rất phổ biến trong xây dựng, làm cầu phà, đóng tầu thuyền và các sản phẩm công nghiệp Đây là một họ đặc trưng cho khsi hậu ẩm ướt, mát lạnh vùng núi cao miền Bắc và Nam Trung Bộ

 Các họ như Bồ hòn ( Sapindanceae), họ xoan ( Meliaceae), họ Đậu ( Fabaceae) cũng có rất nhiều chi, loài đều là cây gỗ lớn, cho gỗ có vân đẹp, nặng rất thông dụng trong đời sống nhân dân như đóng đồ đạc gia đình, làm nhà, làm đồ mỹ nghệ… Nhiều loài trong những họ này đang trở thành loài quý hiếm cần bảo tồn và phát triển Đa số các

họ kể trên đặc trưng cho rừng rậm ẩm thường xanh mưa mùa nhiệt đới

từ Bắc vào Nam

+ Tình hình khai thác sử dụng tài nguyên cây gỗ ở Việt Nam:

- Trải qua nhiều năm chiến tranh ác liệt, vừa do bom đạn rải thảm, vừa do chất độc hóa học hủy diệt, vừa do nhu cầu khôi phục phát triển kinh tế của đất nước sau chiến tranh, chúng ta đã mất đi một diện tích rừng rất lớn và một khối lượng gỗ khủng lồ đã bị khai thác và sử dụng lãng phí Năm 1943, diện tích rừng tự nhiên là 14,3 triệu ha, độ che phủ của rừng là 43%, đến năm

1993 chỉ còn 9,3 triệu ha, chiếm 28 %, đến năm 2001, độ che phủ của rừng còn 26%, rừng nguyên sinh còn lại không tới 1% tổng diện tích lãnh thổ Như vậy, chỉ trong vòng nửa thế kỷ, chúng ta đã để mất đi 6 triệu ha rừng Đến 31/12/2005, diện tích rừng toàn quốc là 12.873.850 ha,trong đó có khoảng 10.410.141 ha rừng tự nhiên và 2.463.709 ha rừng trồng, được phân

Trang 4

chia theo 3 loại rừng như sau : Rừng đặc dụng- 2.202.888 ha, chiếm 17,1 %, Rừng phòng hộ - 5.628.789 ha, chiếm 40,9%, Rừng sản xuất- 5.402.173 ha, chiếm 42%, độ che phủ rừng là 38% Tổng trữ lượng gỗ là 813,3 triệu và khoảng 8,5 tỷ cây tre nứa Trữ lượng gỗ bình quân của rừng tự nhiên là 76,5 /ha và rừng trồng là 40,6/ha Gỗ tập trung chủ yếu ở 3 vùng là Tây Nguyên chiếm 33,8%, Bắc Trung Bộ 23% và Nam Trung Bộ 17,4% tổng trữ lượng Tổng diện tích lâm sản ngoài gỗ được gây trồng là 379.000 ha, chủ yếu tập trung ở 3 vùng Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Bắc

- Nhiều năm trước đây, việc khai thác gỗ, đặc biệt là các loại gỗ quý bừa bãi đồng thời với việc buôn bán xuất khẩu gỗ dạng nguyên liệu thô ồ ạt đã làm cạn kiệt nguồn tài nguyên cây gỗ ở nước ta

- Trước tình hình trên, Nhà nước đã có chủ trương xây dựng các khu rừng đặc dụng trên toàn quốc Đây là một quyết định đúng đắn, kịp thời

Câu 3 : Dựa trên cơ sở nào mà Nguyễn Đình Hưng ( 1995) chia gỗ thành các nhóm, nêu đặc điểm 5 nhóm chính, mỗi nhóm nêu 5 chi hoặc loài.

Dựa trên tiêu chuẩn thuuwong phẩm của sản phẩm cuối cùng, khả năng gia công chế biến, nhu cầu và thị hiếu của thị trường, độ bền tự nhiên của gỗ và khả năng cung cấp của rừng, Nguyễn Đình Hưng (1995) đã đề nghị một bảng phân loại gỗ của Việt Nam theo mục đích thương phẩm The cách phân chia này, Nguyễn Đình Hưng đưa các loài gỗ hiếm vào danh mục ngoại lệ phải bảo vệ, cấm khai thác để bảo tồn gen, gồm các loài :

- Bách xanh

- Dó trầm

- Hoàng đàn

- Kim giao

- Sam ba mũi

- Sam bong

- Sam đá vôi

- Sam lạnh

- Thông Đà Lạt

- Thông đỏ bắc

- Thông nước

- Thông pà cò

- Thông lá dẹt

- Thông tre

Những loại gỗ còn lại được tác giả xếp vào 5 nhóm:

Trang 5

• Nhóm 1: Gồm những loài cây gỗ có thể tạo ra được những sản phẩm cuối cùng có giá trị cao, có màu sắc, tính chất, cấu tạo, độ bền đạt chất lượng tốt, được dùng để sản xuất đồ mộc cao cấp, có công dụng đặc biệt mà thị trường ưa chuộng Nhóm này bao gồm tất cả các loại gỗ quý, đặc biệt, đắt tiền

- Gõ đỏ ( Afzelia xylocarpa ( Kurz) Craib)

- Dáng hương ( Pterocarpus macrocarpus Kurz)

- Đinh ( Markhamia stipulate Seem)

- Gụ các loài ( Sindora spp.)

- Lát các loài ( Chukrasia spp.)

• Nhóm 2: Gồm những loại gỗ có giá trị sử dụng cao, được ứng dụng rộng rãi trong kinh tế ( đóng tàu, thuyền, xây dựng, đồ gỗ,…), nguồn nguyên liệu trong công nghiệp chế biến gỗ dán, gỗ bóc, lạng…, độ bền tự nhiên cao ( trên 10 năm) Thuộc nhóm cây này có các loài :

- Bằng lăng các loài ( Lagerstroemia spp.)

- Chò, Chai các loài ( Shorea spp.)

- Chò chỉ ( Parashorea chinensis H.Wang)

- Giổi các loài ( Michelia spp.)

- Gội các loài ( Aglaia spp.)

• Nhóm 3: Gồm những loại gỗ được thị trường ưa thích, giá cả vừa phải, gỗ có độ bền tự nhiên tốt ( trên 5 năm), có thể sử dụng trong nhiều lĩnh vực ( đồ gỗ gia dụng, xây dựng, đóng phương tiện vận tải…) Thuộc nhóm này có khoảng gần 90 loài, đáng chú ý là các nhóm loài sau:

- Bản xe các loài (Albizia spp.)

- Bời lời các loài (Litsea spp.)

- Cao su ( Hevea brasiliensis Pohl.)

- Dầu các loài ( Dipterocarpus spp.)

- Sồi các loài ( Lithocarpus spp.)

• Nhóm 4: Bao gồm những loại gỗ có khả năng sử dụng rộng rãi, dễ gia công chế biến, độ bền tự nhiên trung bình ( trên 3 năm), có thể sử dụng trong xây dựng, đóng đồ gia dụng, làm diêm, văn phòng phẩm…

Gỗ của khoảng trên 60 loài óc thể xếp vào nhóm này Đó là các loài:

- Bạch đàn các loài ( Eucalyptus spp.)

- Bồ đề ( Styrax tonkinensis Pierre)

- Dung các loài ( Symplocos spp.)

- Binh linh các loài ( Vitex spp.)

- Ràng ràng ( Ormosia spp.)

Trang 6

• Nhóm 5: Gồm những loại gỗ ít được ưa thích, khó gia công chế biến,

độ bền tự nhiên kém ( dưới 3 năm) Thuộc nhóm này, tác giả đã thống

kê ngót 50 loài, trong đó có thể kể tới các nhóm loài:

- Côm các loài (Elaeocarpus spp.)

- Máu chó các loài ( Knema spp.)

- Sung các loài ( Ficus spp.)

- Trâm các loài ( Syzygium spp.)

- Trôm các loài ( Sterculia spp.)

Câu 4: Nêu đặc điểm hình thái các họ trong bộ Long não (Laurales):

Bộ Long Não - Laurales

Đặc điển chung:

Gồm những cây gỗ lớn, cây gỗ trung bình, ít khi là cây thảo, chúng phân biệt với bộ Ngọc Lan bởi: - Không có lá kèm - Hoa xếp kiểu vòng, mẫu 3, lưỡng tính, đôi khi đơn tính, thường tập hợp thành cụm hoa - Gốc của các mảnh bao hoa và nhị thường dính thành một ống ngắn Nhưng chúng có quan hệ gần gũi với bộ Ngọc Lan qua cấu tạo gỗ; bộ nhụy còn có lá noãn rời; vỏ hạt phấn có cấu tạo một rãnh

Phân loại Bộ Long Não gồm 11 họ, ở nước ta có 4 họ: họ Kì Bạc, họ Tung,

họ Hoa Sói, họ Lạp Mai, họ Long Não

+ Họ Kì Bạc (monimiaceae) cây gỗ Lá đơn, mọc đối Rất đặc trưng bởi có

ống hoa hình chén do đế hoa hõm xuống tạo thành, chứa nhị và lá noãn ở trong, gần giống như ở một số chi của họ Rosaceae nhưng ở đây bao hoa rất thoái hóa, nhị mang 2 tuyến nhỏ ở gốc (dấu vét của bó 3 nhị) và bao phấn thường mở bằng van

+ Họ Hoa Sói (Chloranthaceae) cỏ hay bụi nhỏ Thân thường chia đốt Lá

đơn, mọc đối, có lá kèm Hoa trần rất đặc trưng bởi có hoa lưỡng tính giả; những hoa đực trần dính vào bên các hoa cái (hoa cái có đài tiêu giảm hoặc đôi khi 3 răng, bầu hạ) cùng nhau tạo thành 1 bông; bộ nhị gồm 3 chiếc dính với nhau thành phiến xẻ thùy mang 4 đôi túi phấn, trong đó thùy giữa mang

2 đôi (mỗi bao phấn 2 ô) còn các thùy bên chỉ có 1 đôi (mỗi bao phấn 1 ô)

+ Họ Tung (Hernandiaceae) gỗ hoặc dây leo thân gỗ Lá mọc cách, đơn

hoặc lá kép 3 Rất đặc trưng bởi bộ nhị gồm 3 – 6 chiếc xếp thành 1 vòngđối diện với các lá bao hoa ngoài, ở gốc mỗi nhị mang 2 tuyến nhỏ (dấu vết của

Trang 7

bó 3 nhị) và bao phấn mở bằng 2 van Bầu hạ Qủa khô có 2-4 cánh hoặc có

2 cánh cong lên do các lá đài đồng trưởng hay quả nằm sâu trong đế hoa phình lớn (nhưng khi đó lá hình khiên)

+ Họ Lạp Mai ( Calycanthaceae) bụi hoặc gỗ nhỏ Lá đơn mọc đối, không

có lá kèm Rất đặc trưng bởi có cánh hoa hình chén, bao hoa gồm nhiều phiến xếp lợp lên nhau; nhị nhiều xếp thành 2 hàng ở trên miệng ống hoa, nhưng chỉ những chiếc vòng trong hữu thụ, bao phấn mở dọc

+ Họ Long Não ( Lauraceae) gỗ với lá đơn mọc cách, không có lá kèm,

hoặc hiếm khi là cỏ kí sinh không có lá Hoa thường mẫu 3 (ít khi mẫu 5 hay mẫu 2) Rất đặc trưng bởi bộ nhị nhiều hợp thành những bó 3 nhị, trong đó 2 nhị bên thường tiêu giảm thành nhị lép hay tuyến mật và bao bởi phần mở bằng 2 hoặc 4 van

Câu 5: Phương pháp xử lý mẫu thực vật; phương pháp khâu và hoàn thiện tiêu bản thực vật.

PP xử lý mẫu thực vật:

- Xử lý ở thực địa:

+ Sau khi đã ghi chép các thông tin liên quan đến mẫu (nơi thu, ngày thu, người hay nhóm người thu, đặc điểm tóm tắt của cây: dạng sống, màu hoa quả,…) vào 1 cuốn sổ gọi là Sổ điều tra thực vật, các mẫu thực vật thu thập phải xử lý ngay: nếu mẫu lớn quá khổ cần phải tỉa, cắt bỏ bớt hoặc gập lại + Nếu có điều kiện thì có thể sấy khô ngay tại hiện trường sẽ hạn chế được

sự biến đổi màu sắc (như màu xanh của lá, các màu khác của hoa quả) +Nếu không có điều kiện sấy khô thì dùng mỗi tờ báo xếp thành 1-2 mẫu tùy theo độ dày mỏng rồi buộc chặt hình chữ thập kép, cho vào túi nilon đổ dung dịch cồn và nước 55% (nếu mẫu mọng nước có thể tăng tỷ lệ cồn lên)

- Xử lý mẫu tại phòng tiêu bản:

+ Sấy khô: phơi hay sấy khô bằng bếp điện hay tủ sấy mẫu Tỉa hay cắt một phần quả theo cùng chiều phẳng với cành mẫu thì phải gập giấy ép vào các phần thấp hơn như lá, cành để làm cho lá phẳng khi khô Các mẫu để cách nhau không khi sấy các mẫu sẽ bị dính Tất cả các bộ phận phải được ép phẳng, bộ phận nào dày không ép phẳng được (như quả, phần gốc thân rễ các loài cây họ Ráy, Gừng,…) phải cắt lấy lát dọc, lát ngang thể hiện đặc điểm cần thiết Hạn chế các bộ phận (như lá chồng lên lá, hoa quả chồng lên lá,…) chồng lên nhau quá dày

Trang 8

+ Kẹp mắt cáo: Mẫu được ép trong kẹp mắt cáo và buộc chặt lại sẽ bảo đảm cho cành mẫu phẳng, các ô trống giữa các thanh gỗ sẽ thoát hơi nước trong quá trình sấy, làm mẫu khô nhanh hơn Sau khi đã buộc các kẹp mẫu, có thể sấy bằng nhiều phương pháp khác nhau: phơi nắng, sấy than, sấy bếp điện v.v Hàng ngày thay giấy báo ẩm bằng giấy báo khô để khô nhanh mẫu Hoàn thiên mẫu tiêu bản:

- Kích thước: kích thước của toàn bộ mẫu vật sau khi ép và sấy khô có chiều dài rộng không quá 42x30 cm

Hình thức: mẫu vật sấy khô phải bảo đảm được ép thành dạng phẳng

Số lượng mẫu: mỗi số hiệu gồm 5-10 tiêu bản được cắt từ 1 cây (đối với cây

gỗ, dây leo) hay từ cùng 1 bụi cây 

PP khâu:

- Mẫu có kích thước quá lớn

có thể cắt mẫu thành các đoạn, khâu vào 2-3 hay nhiều tờ bìa với nhãn đeo trên mẫu cùng một số hiệu, nhưng ký hiệu khác nhau (Xa; Xb, Xc,…) theo trình tự: thân, lá, hoa, quả,…

- Mẫu thực vật sau khi sấy khô, ép phẳng thì khâu vào bìa trắng cứng kích thước tiêu chuẩn 30 x 42 cm Mẫu vật phải bảo đảm hình dạng tự nhiên khi được khâu lên bìa để bảo quản, nếu lá rộng choán vào vị trí của hoa hay quả, thì xếp lá ở dưới, trên là hoa quả để nghiên cứu mẫu được thuận tiện, các lá sắp xếp có lá sấp, có lá ngửa

- Mẫu vật ép khô có thể khâu bằng chỉ, dán bằng băng dính hay gắn bằng nhựa (dùng súng gắn nhựa) đính mẫu trên bìa trắng cứng Nguyên tắc khâu mẫu là làm thế nào để chỉ khâu không lộ nhiều trên bìa cứng, các vị trí cần khâu là các phần chính, cứng của mẫu như đoạn thân, cành, gân chính của lá hay gân chính của lá chét

Câu 6: Khái quát về tài nguyên thực vật ở Việt Nam

_Hệ thực vật và sự đa dạng của nó là cơ sở quyết định sự phong phú về nguồn tài nguyên thực vật của đất nước ta

_Ở nước ta, trong “Thực vật chí đại cương Đông Dương” và các tập bổ sung tiếp theo đã mô tả và ghi nhận có khoảng trên 240 họ với khoảng trên 7.000 loài thực vật bậc cao có mạch Những năm gần đây, nhiều nhà thực vật đã

dự đoán con số đó có thể lên tới 10.000 đến 12.000 loài Trên cơ sở những thông tin mới nhất và những căn cứ chắc chắn, năm 1997, Nguyễn Tiến Bân

Trang 9

đã giới thiệu khái quát những đặc điểm cơ bản của 265 họ và khoảng 2.300 chi thuộc ngành Hạt kín ở nước ta Sau đó, Phan Kế Lộc (1998) đã kiểm kê

và ghi nhận trong Hệ thực vật VN đã biết được 9.653 loài thực vật bậc cao

có mạch mọc tự nhiên Chúng thuộc về 2.011 chi và 290 họ Nếu kể cả khoảng 733 loài cây trồng đã được nhập nội thì tổng số loài thực vật bậc cao

có mạch biết được ở VN hiện đã lên tới 10.386 loài, thuộc 2.257 chi và 305

họ, chiếm khoảng 7% tổng số loài, 15% tổng số chi và 57% tổng số họ của toàn thế giới Cũng do điều kiện khí hậu và địa hình đa dạng, đặc thù nên hệ thực vật nước ta có thành phần loài khá phong phú, mang cả yếu tố của thực vật nhiệt đới ẩm Indonexia- Malesia, yếu tố thực vật nhiệt đới gió mùa, thực vật ôn đới Nam Trung Hoa và yếu tố của thực vật Ấn Độ- Trung và Nam Tiểu Á

_Theo thống kê bước đầu của 1 số nhà khoa học thì có khoảng 1.800-2.000 loài cây mọc tự nhiên trong rừng đã được khai thác để lấy gỗ, đan lát, làm thuốc, trồng làm cây bóng mát hoặc làm cảnh Rất nhiều cây trồng từ lâu đời (khoảng 250 loài) là có nguồn gốc tại chỗ, song cũng có 1 số lượng lớn loài (khoảng trên 700 loài) được nhập từ những khu vực khác nhau trên thế giới Theo Vavilốp, Baranốp thì VN là 1 trong 9 trung tâm phát sinh nguồn gốc của các cây trồng trên thế giới và là nơi gặp gỡ của cả 2 trung tâm giàu loài nhất thế giới: Trung Quốc – Nhật Bản và Indostan

_Các cây trồng quan trọng có nguồn gốc ở VN có thể gồm : lúa, khoai sọ, khoai vạc, chuối, dứa, mít, gừng, riềng, rau dền, tre, cau, cọ

_Các cây trồng được nhập từ các vùng khác nhau trên thế giới thì chủ yếu lại

là những cây có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới Trung và Nam châu Mỹ ( ngô, khoai tây, sắn, cà chua, susu ); sau đó là từ cận nhiệt đới, ôn đới ẩm Trung Hoa- Nhật Bản (cam, quýt, vải, hồng, quất, tam thất ); từ vùng nhiệt đới châu Phi có vừng, thầu dầu, cà phê, xà cừ ; từ Địa Trung Hải có Đậu Hà lan, bắp cải, xu hào, thì là ; từ châu Úc có phi lao, bạch đàn các loại

Câu 7: Vai trò và giá trị sử dụng của dầu béo

1. Dầu béo đối với dinh dưỡng

_Dầu béo (lipid) cùng với protein và glucid là 3 thành phần dinh dưỡng cơ bản rất cần thiết cho con người Dầu béo là nguồn thức ăn giàu năng lượng

Trang 10

nhất trong dinh dưỡng so với các chất dinh dưỡng khác (protein, glucid) Dầu béo là chất hữu cơ mà phân tử có số lượng carbon nhiều nhất (76-79%) _Năng lượng tỏa ra khi đốt cháy 1g dầu béo thực vật thay đổi từ 9.300-9.400 calo ( trong khi đó từ tinh bột chỉ 4.123 calo, từ protein là 5.567 calo)

_Đối với cơ thể con người, dầu béo có nguồn gốc thực vật được hấp thu tốt nhất (94,5%), đồng thời tránh được bệnh xơ cứng động mạch (mà thường gặp khi ăn mỡ động vật) Một vài loại axit béo chưa no trong dầu béo thực vật còn có khả năng phòng ngừa phóng xạ hoặc chuyển hóa colesteron trong máu

2 Dùng làm thuốc hoặc pha chế thuốc (thuốc xổ giun, thuốc chữa các bệnh ngoài da )

3 Là nguồn nguyên liệu quan trọng trong công nghiệp sản xuất các loại sơn cao cấp, mau khô, sơn các phương tiện giao thông (oto, máy bay, tàu thuyền ), các thiết bị chinh phục vũ trụ

4 Nguyên liệu để sản xuất các hợp chất tẩy rửa tổng hợp (xà phòng, dầu gội đầu )

5 Nguyên liệu để chế biến các chất háo dẻo ( các loại nhựa, sợi, vật liệu cách điện, chống thấm )

6 Sản xuất các loại dầu bôi trơn động cơ

7 Tuyển nổi quặng, luyện kim

Câu 8: Đặc điểm hình thái các họ thuộc bộ Đậu (Fabales); So sánh sự giống nhau và khác nhau giữa họ Hoa hồng (bộ Hoa hồng) và họ Trinh nữ.

Cây gỗ, bụi hay cây thảo; lá đơn mọc cách, lá kép lông chim, đôi khi kép chân vịt Quả đặc trưng dạng quả đậu

Bộ đậu gồm 3 họ:

1 Họ Trinh nữ - Mimosaceae

2 Họ Vang - Caesalpinisaceae

3 Họ Đậu - Fabaceae

* Họ Trinh nữ:

Ngày đăng: 22/12/2016, 02:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w