1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

97 557 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm gần đây, sự gia tăng dân số và phát triển không ngừng của nền kinh tế xã hội dẫn đến nhu cầu khám chữa bệnh của người dân tăng lên. Sự quan tâm đến y tế cũng được chỉ rõ trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội từ năm 2011 – 2020 của Đại hội đảng lần thứ XI, trong đó đã đề ra mục tiêu phát triển mạnh sự nghiệp y tế, nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, tập trung phát triển hệ thống chăm sóc sức khỏe và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế. Định hướng chiến lược này đã khuyến khích hệ thống khám chữa bệnh trên cả nước, bao gồm bệnh viện và các cơ sở y tế từ trung ương đến địa phương phát triển cả về số lượng, chất lượng cũng như quy mô. Tuy nhiên, đi cùng những mặt tích cực thì việc phát sinh chất thải rắn từ hoạt động của các cơ sở y tế cũng là một nguyên nhân gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường, tác động tiêu cực đến sức khỏe con người.Theo ước tính của các chuyên gia môi trường (BTNMT, 2011) lượng chất thải rắn y tế thải ra môi trường trung bình khoảng 600 tấnngày. Chất thải rắn y tế có chứa các thành phần độc hại, các yếu tố truyền nhiễm gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe cho những người tiếp xúc. Tuy nhiên, việc quản lý, xử lý chất thải rắn y tế ở nước ta còn rất nhiều bất cập, chưa thực sự hiệu quả. Theo thông tin công bố của Cục quản lý Môi trường Y tế (Bộ Y tế) trong Hội thảo bàn về thực trạng và giải pháp cho rác thải y tế diễn ra tại TPHCM ngày 1992013: “Hiện mới có 69% bệnh viện, 32% cơ sở y tế dự phòng thuê xử lý chất thải hoặc tự xử lý. Các cơ sở còn lại đang xử lý nguồn rác thải y tế bằng cách chôn lấp, đốt thủ công… chủ yếu là những cơ sở ở vùng sâu vùng xa hoặc các trạm y tế phường xã”. Bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An nằm trên đường quốc lộ 1A thuộc địa phận xã Quỳnh Thạch, là một bệnh viện tuyến huyện có chất lượng khá cao trong số các bệnh viện của tỉnh, với quy mô 280 giường bệnh, đã và đang trở thành một địa chỉ khám chữa bệnh tin cậy của người dân trong toàn huyện. Tuy nhiên, cũng nằm trong tình trạng chung của cả nước, vấn đề môi trường cần giải quyết tại bệnh viện là tình trạng chất thải rắn y tế (CTRYT) phát sinh với khối lượng lớn trong khi hệ thống thu gom, quản lý lại còn nhiều hạn chế. Xuất phát từ vấn đề thực tiễn nói trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An”.

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

KHOA MÔI TRƯỜNG

- -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

TÊN ĐỀ TÀI:

“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP QUẢN

LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN

QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN”

Người thực hiện : NGUYỄN THỊ THU HÀLớp : MTA

Khóa : 56Chuyên ngành : Khoa học môi trườngGiáo viên hướng dẫn: TS NGÔ THẾ ÂN

Hà Nội – Năm 2015

Trang 2

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

KHOA MÔI TRƯỜNG

Chuyên ngành : Khoa học môi trường

Giáo viên hướng dẫn: TS Ngô Thế Ân

Địa điểm thực tập : Bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

Hà Nội – Năm 2015

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA CƠ SỞ THỰC TẬP

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được nhiều sự quan tâm giúp đỡ của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài trường

Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Môi trường cùng các thầy cô giáo Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã truyền đạt cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu

Đặc biệt tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến TS Ngô Thế

Ân là người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện

đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, Trưởng khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn, Phó phòng Tổ chức – Hành chính cùng toàn bộ cán bộ công nhân viên của bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong thời gian thực tập tại đây

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân và bạn bè đã luôn động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp

Tôi xin cam đoan khóa luận này là của riêng tôi, các số liệu công bố đã được sự cho phép của đơn vị thực tập và kết quả nghiên cứu là hoàn toàn trung thực

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội ngày 5 tháng 5 năm 2015

Ký tên

Nguyễn Thị Thu Hà

Trang 6

Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường

Bộ Tài nguyên môi trường

Bộ Y tếChị thịChất thải nguy hạiChất thải rắnChất thải rắn y tếChất thải y tếPolyetylenPolypropylenQuyết địnhQuy chuẩn Việt NamTiêu chuẩn Việt NamThông tư

Thủ tướng

Tổ chức Y tế thế giới

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Trang 8

DANH MỤC HÌNH Hình 2.1: Thành phần CTRYT dựa trên đặc tính lý, hóa, sinh

Hình 2.2: Thành phần CTRYT dựa theo tính chất nguy hại

Hình 2.3: Tình hình xử lý CTR tại một số cơ sở y tế

Hình 4.1: Vị trí địa lý của bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu 35

Hình 4.2: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của bệnh viện 41

Hình 4.3: Các nguồn phát sinh CTRYT tại bệnh viện 44

Hình 4.4: Một số hình ảnh về CTR y tế phát sinh tại bệnh viện 45

Hình 4.5: Hệ thống quản lý CTRYT tại bệnh viện 50

Hình 4.6: Sơ đồ quy trình quản lý CTR y tế tại bệnh viện 54

Hình 4.7: Công tác thu gom, phân loại CTR y tế tại bệnh viện 58

Hình 4.8: Công tác vận chuyển CTRYT tại bệnh viện 60

Hình 4.9: Khu lưu trữ rác thải sinh hoạt và nguy hại của bệnh viện 63

Hình 4.10: Kho lưu trữ rác tái chế của bệnh viện 63

Hình 4.11: Một số hình ảnh về lò đốt CTR y tế của bệnh viện 64

Trang 10

Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, sự gia tăng dân số và phát triển không ngừng của nền kinh tế - xã hội dẫn đến nhu cầu khám chữa bệnh của người dân tăng lên Sự quan tâm đến y tế cũng được chỉ rõ trong chiến lược phát triển kinh

tế xã hội từ năm 2011 – 2020 của Đại hội đảng lần thứ XI, trong đó đã đề

ra mục tiêu phát triển mạnh sự nghiệp y tế, nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, tập trung phát triển hệ thống chăm sóc sức khỏe và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế Định hướng chiến lược này đã khuyến khích hệ thống khám chữa bệnh trên cả nước, bao gồm bệnh viện

và các cơ sở y tế từ trung ương đến địa phương phát triển cả về số lượng, chất lượng cũng như quy mô Tuy nhiên, đi cùng những mặt tích cực thì việc phát sinh chất thải rắn từ hoạt động của các cơ sở y tế cũng là một nguyên nhân gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường, tác động tiêu cực đến sức khỏe con người

Theo ước tính của các chuyên gia môi trường (BTNMT, 2011) lượng chất thải rắn y tế thải ra môi trường trung bình khoảng 600 tấn/ngày Chất thải rắn y tế có chứa các thành phần độc hại, các yếu tố truyền nhiễm gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe cho những người tiếp xúc Tuy nhiên, việc quản lý, xử lý chất thải rắn y tế ở nước ta còn rất nhiều bất cập, chưa thực

sự hiệu quả Theo thông tin công bố của Cục quản lý Môi trường Y tế (Bộ Y tế) trong Hội thảo bàn về thực trạng và giải pháp cho rác thải y tế diễn ra tại TPHCM ngày 19/9/2013: “Hiện mới có 69% bệnh viện, 32% cơ sở y tế dự phòng thuê xử lý chất thải hoặc tự xử lý Các cơ sở còn lại đang xử lý nguồn rác thải y tế bằng cách chôn lấp, đốt thủ công… chủ yếu là những cơ sở ở vùng sâu vùng xa hoặc các trạm y tế phường xã”

Bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An nằm trên đường quốc lộ 1A thuộc địa phận xã Quỳnh Thạch, là một bệnh viện tuyến huyện

Trang 11

có chất lượng khá cao trong số các bệnh viện của tỉnh, với quy mô 280 giường bệnh, đã và đang trở thành một địa chỉ khám chữa bệnh tin cậy của người dân trong toàn huyện Tuy nhiên, cũng nằm trong tình trạng chung của cả nước, vấn đề môi trường cần giải quyết tại bệnh viện là tình trạng chất thải rắn y tế (CTRYT) phát sinh với khối lượng lớn trong khi hệ thống thu gom, quản lý lại còn nhiều hạn chế.

Xuất phát từ vấn đề thực tiễn nói trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An”.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Đánh giá hiện trạng công tác thu gom, quản lý và xử lý chất thải rắn

y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu

- Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện

- Đề xuất các giải pháp quản lý rác thải y tế tại bệnh viện đảm bảo an toàn và vệ sinh môi trường

1.3 Yêu cầu nghiên cứu

- Xác định nguồn gốc phát sinh, khối lượng, thành phần chất thải rắn

y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

- Đánh giá được ưu, nhược điểm của công tác quản lý CTRYT tại bệnh viện

- Các giải pháp được đề xuất phải có tính khả thi trong điều kiện của bệnh viện

Trang 12

Phần 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý thuyết về quản lý chất thải rắn y tế

2.1.1.Các khái niệm và thuật ngữ liên quan

- Chất thải: Là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ,

sinh hoạt hoặc các hoạt động khác (Luật Bảo vệ môi trường, 2014)

- Chất thải nguy hại: là chất thải chứa các yếu tố độc hại, phóng xạ, lây

nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại khác (Luật Bảo vệ môi trường, 2014)

Theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới:

- Chất thải y tế:được xác định là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế,

từ các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, phòng bệnh, nghiên cứu, đào tạo

- Chất thải y tế nguy hại:được xác định là chất thải có chứa một trong

các thành phần như máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận cơ quan của

cơ thể người, bơm kim tiêm và các vật sắc nhọn, dược phẩm, hóa chất và các chất phóng xạ được sử dụng trong y tế Những chất này không được xử lý đúng cách sẽ gây nguy hại cho môi trường và sức khỏe con người

Theo điều 3, Chương 1, Quy chế quản lý chất thải y tế năm 2007:

- Chất thải y tế: là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ

sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường

- Chất thải y tế nguy hại: là chất thải y tế chứa các yếu tố nguy hại cho

sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ,

dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy an toàn

- Quản lý chất thải y tế: là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban

đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện

- Giảm thiểu chất thải y tế: là các hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát

thải chất thải y tế, bao gồm: giảm lượng chất thải y tế tại nguồn, sử dụng các

Trang 13

sản phẩm có thể tái chế, tái sử dụng, quản lý tốt, kiểm soát chặt chẽ quá trình thực hành và phân loại chất thải chính xác

2.1.2 Phân loại chất thải y tế

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), chất thải y tế được phân thành

những loại chủ yếu sau:

- Chất thải thông thường: Đó là các chất thải không độc hại, về bản chất tương tự rác thải sinh hoạt

- Chất thải là bệnh phẩm: Mô, cơ quan, phần bào tử thai người, xác động vật thí nghiệm, máu, dịch thể

- Chất thải chứa phóng xạ: Chất thải từ các quá trình chiếu chụp X quang, phân tích tạo hình cơ quan trong cơ thể, điều trị và khu trị khối u…

- Chất thải hóa học: Có thuộc tính độc hại, ăn mòn, gây cháy hay nhiễm độc gen hoặc không độc

- Chất thải nhiễm khuẩn: Gồm các chất thải chứa tác nhân gây bệnh như vi sinh vật kiểm dịch , bệnh phẩm bệnh nhân bị các ly hoặc máu nhiễm khuẩn…

- Các vật sắc nhọn: Kim tiêm, lưỡi dao, kéo mổ, chai lọ vỡ…có thể gây thương tích cho người và vật

- Dược liệu: Dư thừa, quá hạn sử dụng…

Theo quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế ban hành (Quyết định

số 43/2007/QĐ – BYT ngày 30/11/2007), căn cứ vào các đặc điểm lý học, hóa

học, sinh học và tính chất nguy hại, chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm sau:

- Chất thải lây nhiễm

- Chất thải hóa học nguy hại

- Chất thải phóng xạ

- Bình chứa áp suất

- Chất thải thông thường

Trang 14

*)Nhóm chất thải lây nhiễm

Nhóm chất thải lây nhiễm được Bộ Y tế phân thành 4 phân nhóm chất thải lây nhiễm theo quyết định số 43/2007/QĐ – BYT ngày 30/11/2007

Bảng 2.1: Phân loại nhóm chất thải y tế lây nhiễm Nhóm

Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng,

có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác

Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người, các

nhau thai, bào thai

(Nguồn: Quy chế quản lý chất thải y tế – Bộ Y tế, 2007).

*) Chất thải hóa học nguy hại:

Nhóm chất thải hóa học nguy hại được Bộ Y tế phân thành các phân nhóm chất thải hóa học nguy hại theo quyết định số 43/2007/QĐ – BYT ngày 30/11/2007, trong đó bao gồm:

+ Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng

+ Các chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế

Trang 15

+ Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết ra từ tế bào được điều trị bằng hóa trị liệu.

+ Chất chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân

bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu trắng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chuẩn đoán hình ảnh, xạ trị)

Chất thải phóng xạ rắn Ống bơm tiêm, kim tiêm, kính bảo hộ, giấy

thấm, gạc sát khuẩn, ống nghiệm, chai lọ đựng chất phóng xạ

Chất thải phóng xạ lỏng Nước tiểu của người bệnh, các chất bài tiết,

nước súc rửa các dụng cụ có chứa phóng xạ.Chất thải phóng xạ khí Các khí thoát ra từ kho chứa chất phóng xạ

(Nguồn: Quy chế quản lý chất thải y tế, Bộ Y tế 2007).

*) Bình chứa áp suất

Bao gồm bình đựng Oxy, CO2, bình ga, bình khí, các bình này dễ cháy gây nổ khi thiêu đốt

*) Chất thải thông thường

Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:

+ Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly)

Trang 16

+ Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ, thủy tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bó bột trong gãy xương kín Những chất thải này không dính máu, dính dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại.

+ Chất thải phát sinh từ công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim

+ Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh

2.1.3 Một số đặc trưng của chất thải rắn y tế

2.1.3.1 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn y tế

Chất thải y tế phát sinh từ các cơ sở y tế khác nhau, bao gồm: các bệnh viện, trạm y tế, các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân, các trung tâm chăm sóc sức khỏe, các cơ sở nghiên cứu y dược, y tế dự phòng,…

Các loại chất thải rắn điển hình được tạo thành từ các hoạt động của bệnh viện bao gồm:

- Các chất thải rắn sinh hoạt

- Các phế thải trong quá trình phẫu thuật bao gồm các bộ phận cơ thể và các tổ chức nội tạng

- Các cặn cống nạo vét từ các hệ thống cống rãnh thoát nước

- Các bông băng gạc dính máu của bệnh nhân

- Các vật sắc nhọn và dễ gãy có tiếp xúc với máu mủ trong quá trình mổ

xẻ hoặc giấy thấm đã được sử dụng trong y tế, nha khoa

- Các loại thuốc quá hạn sử dụng (Nguyễn Thị Kim Thái, 2011)

Bảng 2.3: Các loại chất thải rắn đặc thù phát sinh từ các hoạt động của

bệnh viện.

Loại chất thải rắn Nguồn tạo thành

Chất thải sinh hoạt Các chất thải ra từ nhà bếp, các khu hành chính,

các loại bao gói,…

Chất thải chứa các vi

trùng gây bệnh

Các phế thải từ phẫu thuật, các cơ quan nội tạng của người sau khi mổ xẻ và của các động vật sau

Trang 17

quá trình xét nghiệm, các gạc bông lẫn máu mủ của bệnh nhân,…

Chất thải bị nhiễm bẩn Các thành phần thải ra sau khi dùng cho bệnh

nhân, các chất thải từ quá trình lau cọ sàn nhà,…Chất thải đặc biệt Các loại chất thải độc hơn các loại trên, các chất

phóng xạ, hóa chất dược,…

(Nguồn: BTNMT, 2011).

Nguồn phát sinh chất thải bệnh viện rất phong phú và đa dạng Thành phần và khối lượng của từng loại chất thải rắn y tế có đặc trưng theo chức năng và nhiệm vụ của từng bệnh viện Chúng có nguồn gốc chủ yếu từ các phòng khám, khoa chức năng, phòng hành chính – tổng hợp và khu dịch vụ trong bệnh viện Ví dụ: từ phòng bệnh nhân phát sinh nhiều chất thải rắn sinh hoạt như hộp cơm, vỏ trái cây,…; các trạm tiêm phát sinh nhiều chất thải sắc nhọn; trong khi đó các phòng mổ lại phát sinh nhiều chất thải nguy hại, chất thải lây nhiễm,…

2.1.3.2 Thành phần chất thải rắn y tế

Hầu hết các CTRYT là các chất thải sinh học độc hại và mang tính đặc thù so với các chất thải rắn (CTR) khác Thành phần của CTRYT có đặc trưng theo chức năng và nhiệm vụ chuyên môn của từng bệnh viện Theo nghiên cứu khảo sát của Tổ chức Y tế Thế giới tại các nước đang phát triển, thành phần chất thải rắn từ các hoạt động y tế như sau:

+ 80% là chất thải thông thường có thể xử lý như chất thải sinh hoạt hay chất thải đô thị

+ 15% là chất thải lây nhiễm và chất thải giải phẫu

+ 1% là chất thải sắc nhọn

+ 3% là chất thải dược, chất thải hóa học

+ Dưới 1% là các chất thải khác: chất thải phóng xạ, chất gây độc tế bào, bình chứa áp suất, chất thải chứa kim loại nặng (Nguyễn Thị Kim Thái, 2011)

*) Thành phần CTRYT dựa trên đặc tính lý, hóa, sinh học

•Thành phần vật lý:

+ Giấy: hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh,…

+ Đồ bông vải sợi: bông băng gạc, quần áo cũ, khăn lau, vải trải,…

+ Đồ thủy tinh: chai lọ, ống tiêm thủy tinh, ống nghiệm,…

Trang 18

+ Bệnh phẩm, máu mủ dính ở băng gạc,…

+ Đồ nhựa: hộp đựng, bơm tiêm Dây truyền máu, túi đựng hàng,…

+ Rác, lá cây, đất đá,… (Nguyễn Thị Kim Thái, 2009)

•Thành phần hóa học:

+ Những chất vô cơ: kim loại, bột bó, chai lọ thủy tinh, sỏi đá, hóa chất…+ Những chất hữu cơ: đồ vải sợi, giấy, bộ phận cơ thể, đồ nhựa…(Nguyễn Thị Kim Thái, 2009)

•Thành phần sinh học:

Gồm máu, các loại dịch tiết, những động vật làm thí nghiệm, bệnh phẩm

và các vi trùng gây bệnh (Nguyễn Thị Kim Thái, 2009)

Dựa trên các đặc tính lý, hóa, sinh học, CTR y tế có tỷ lệ các thành phần như sau:

Hình 2.1: Thành phần CTRYT dựa trên đặc tính lý hóa sinh

(Nguồn: BTNMT, 2011).

Theo đặc tính lý, hóa, sinh thì thành phần CTRYT chủ yếu là các rác hữu

cơ chiếm 52%, sau đó là đất đá và các loại vật chất khác chiếm 21%, ít nhất là các bệnh phẩm (0,6 %) và kim loại, các vỏ hộp chiếm (0,9%) Như vậy trong thành phần CTRYT có lượng lớn chất hữu cơ và thường có độ ẩm tương đối cao, ngoài ra còn có thành phần chất nhựa chiếm khoảng 10%, vì vậy khi lựa chọn công nghệ thiêu đốt cần lưu ý đốt triệt để và không phát sinh khí độc hại

*) Thành phần CTRYT dựa theo tính chất nguy hại.

Trang 19

Hình 2.2: Thành phần CTRYT dựa theo tính chất nguy hại

(Nguồn: Nguyễn Xuân Hoàng, 2013).

Dựa theo tính chất nguy hại thì CTR thông thường chiếm tỉ lệ cao nhất (78%), loại CTR này phát sinh do hoạt động sinh hoạt của bệnh nhân, người nhà bệnh nhân, các y, bác sĩ, từ các hoạt động khám chữa bệnh CTR lâm sàng chiếm 18%, bình áp suất chiếm 3% Ít nhất là CTR hóa học chiếm 1%.Như vậy, tuy thành phần nguy hại chỉ chiếm khoảng ¼ tổng lượng CTRYT nhưng nếu không được quản lý và xử lý tốt thì sẽ gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏe con người

2.1.4 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế tới môi trường và sức khỏe cộng đồng

2.1.4.1 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế tới môi trường

Khi CTRYT không được quản lý và xử lý đúng cách (chôn lấp, thiêu đốt không đúng quy chế, tiêu chuẩn) thì sẽ dẫn đến ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí Sự ô nhiễm này có thể gây ra những ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sức khỏe con người và hệ sinh thái

*) Ảnh hưởng đến môi trường nước.

CTRYT bao gồm cả rác thải sinh hoạt và rác thải y tế nguy hại, 2 loại này đều có tác động đến môi trường nước ở các mức độ khác nhau Đặc biệt là chất thải y tế nguy hại, với đặc tính chứa nhiều mầm bệnh và các chất độc hại nếu không được quản lý chặt chẽ sẽ lan truyền rất nhanh đến các nguồn nước và gây

Trang 20

ô nhiễm nguồn nước mặt Điều này sẽ gây ra tác động xấu đến cộng đồng khi sử dụng nguồn nước này (Health Survices Advisory Committee, 1999).

Mặt khác, khi chôn lấp CTRYT không hợp vệ sinh, đặc biệt là chất thải y

tế được chôn lấp chung với chất thải sinh hoạt có thể gây ô nhiễm nguồn nước ngầm (Trịnh Thị Thanh, 2002)

*) Ảnh hưởng đến môi trường đất

CTYT trước khi thải bỏ vào môi trường nếu không được xử lý đúng cách thì các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại, các vi khuẩn có thể ngấm vào môi trường đất gây nhiễm độc cho môi trường sinh thái, các tầng sâu trong đất, sinh vật kém phát triển, làm cho việc khắc phục hậu quả phía sau gặp khó khăn (Trịnh Thị Thanh, 2002)

*) Ảnh hưởng đến môi trường không khí

Chất thải bệnh viện từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều gây ra những tác động xấu đến môi trường không khí Khi phân loại tại nguồn, thu gom, vận chuyển chúng phát tán lượng rác, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơi dung môi, hóa chất vào không khí Ở khâu xử lý (đốt, chôn lấp) phát sinh ra các khí độc hại HX, NOx, dioxin, furan, từ lò đốt và CH4, NH3, H2S từ bãi chôn lấp Các khí này nếu không được thu hồi và xử lý sẽ gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe cộng đồng dân cư xung quanh (Trịnh Thị Thanh, 2002)

2.1.4.2 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế đến sức khỏe con người

*) Đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ CTRYT

Tất cả các cá nhân tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại là những người có nguy cơ bị ảnh hưởng đến sức khỏe cao, bao gồm những người làm việc trong các cơ sở y tế, những người ở ngoài các cơ sở y tế làm nhiệm vụ vận chuyển các chất thải y tế và những người trong cộng đồng bị phơi nhiễm với chất thải

do hậu quả của sự sai sót trong khâu quản lý Dưới đây là những nhóm đối tượng chính có nguy cơ bị ảnh hưởng tới sức khỏe:

+ Bác sỹ, y tá, hộ lý và các nhân viên hành chính của bệnh viện

+ Bệnh nhân điều trị nội trú hoặc ngoại trú

+ Khách tới thăm hoặc người nhà bệnh viện

Trang 21

+ Những công nhân làm việc trong các dịch vụ hỗ trợ phục vụ cho các cơ

sở khám chữa bệnh và điều trị (ví dụ: giặt là, lao công, vận chuyển bệnh nhân, )

+ Những người làm việc trong các cơ sở xử lý chất thải y tế (tại các bãi

đổ rác thải, lò đốt rác) và những người bới rác, thu gom rác, (Trịnh Thị Thanh, 2002)

*) Tác động từ CTRYT

Tác động đến sức khỏe con người của CTR y tế được gây ra từ nhiều loại chất thải khác nhau như từ chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn, từ chất thải hóa học và dược phẩm, từ chất thải gây độc tế bào hay từ chất thải phóng xạ Nhưng dù là từ nhóm chất thải nào thì ảnh hưởng của nó đối với con người là rất nguy hiểm và không thể xem nhẹ Một trong những mối hiểm họa mà CTR y tế gây ra cho con người là nguy cơ bị nhiễm HIV

từ các vật sắc nhọn như bơm kim tiêm Không những thế CTR y tế còn có thể dẫn đến khả năng mắc các bệnh từ vi sinh vật truyền nhiễm có chất thải như viêm gan B, viêm gan siêu vi B, viêm gan siêu vi C, và các bệnh

về đường hô hấp, viêm da hay có những biểu hiện bất thường như đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn,

Theo tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trong tổng số 35 triệu nhân viên y tế trên thế giới, mỗi năm có 2 triệu người tiếp xúc qua da với bệnh truyền nhiễm Trong đó khoảng 40% bị phơi nhiễm viêm gan B, 40% phơi nhiễm viêm gan C, 2,5% phơi nhiễm HIV do tổn thương vì kim đâm Cũng theo một cuộc khảo sát của Viên Y học lao động và môi trường ghi nhận 35% số cán bộ, nhân viên y tế bị thương tích do vật sắc nhọn gây nên và 70% trong số đó bị tổn thương do vật sắc nhọn trong sự nghiệp y tế (Nguyễn

Võ Hinh, 2013)

2.1.5 Quản lý chất thải rắn y tế

Quản lý chất thải y tế bắt đầu ngay từ quá trình sinh ra chất thải đến quá trình xử lý và khâu cuối cùng là thải bỏ chất thải Khi phát sinh chất thải cần

Trang 22

sử dụng các biện pháp để hạn chế tối đa việc phát thải chất thải nguy hại Sau

xử lý lượng chất thải thực sự phải thải bỏ cuối cùng cần được giải quyết để đảm bảo vệ sinh và an toàn

2.1.5.1 Giảm thiểu tại nguồn

Phương pháp làm giảm thiểu chất thải hiện tại đang được áp dụng là các hoạt động tái sinh, tái chế cũng như giảm thiểu tại nguồn Giảm thiểu tại nguồn là giảm về số lượng hoặc độc tính của bất kỳ một chất thải y tế nào đi vào dòng thải trước khi tái sinh, xử lý hoặc đưa vào môi trường Những cải tiến căn bản trong giảm thiểu tại nguồn là:

- Chọn nhà cung cấp hậu cần cho bệnh viện mà sản phẩm của họ ít phế thải hay giảm lượng CTRYT nguy hại phải xử lý đặc biệt

- Sử dụng các biện pháp khử trùng tẩy uế cơ lý học nhiều hơn các biện pháp hóa học sẽ làm giảm thiểu chất thải nguy hại

- Giảm thiểu chất thải, nhất là trong công tác khử trùng tẩy uế (BKHCN&MT, 1998)

2.1.5.2 Quản lý và kiểm soát ở bệnh viện

Việc quản lý và kiểm soát chất thải ở bệnh viện được thực hiện như sau:

- Tập trung quản lý thống nhất các loại thuốc, hóa chất nguy hại

- Giám sát sự luân chuyển, lưu hành hóa chất, dược chất ngay từ khâu nhận, nhập kho, sử dụng và tiêu hủy thải bỏ (BKHCN&MT, 1998)

2.1.5.3 Quản lý kho hóa chất, dược phẩm

Việc quản lý kho hóa chất và những dược phẩm cụ thể là:

- Thường xuyên nhập hàng từ lượng nhỏ hơn thay vì nhập quá nhiều một đợt sẽ dẫn đến thừa hay quá hạn

- Sử dụng các lô hàng cũ trước, hàng mới dùng sau

- Sử dụng toàn bộ thuốc, dược chất vật tư trong đợt rồi mới chuyển sang đợt mới

- Thường xuyên kiểm tra hạn sử dụng của các loại thuốc, dược chất, vật

tư tiêu hao ngay từ khi nhập hàng và trong quá trình sử dụng (BKHCN&MT, 1998)

2.1.5.4 Thu gom, phân loại và vận chuyển

•Tách, phân loại:

Trang 23

Điểm chủ yếu của biện pháp này là phân loại và tách ngay từ đầu một cách chính xác chất thải y tế nguy hại và chất thải rắn thông thường Việc tách

và phân loại chính xác chất thải y tế tạo điều kiện thuận lợi cho các quá trình tiếp theo như quá trình vận chuyển và lưu giữ tại bệnh viện, hay quá trình vận chuyển đến nơi tiêu hủy và quá trình tiêu hủy

Việc tách và phân loại CTRYT đòi hỏi phải có thùng chứa, túi lót trong thùng chứa được buộc chặt, hộp đựng vật sắc nhọn Yêu cầu màu sắc phải thống nhất theo quy định để dễ quản lý chất thải y tế đã được phân loại thu gom trong suốt quá trình lưu thông (BKHCN&MT, 1998)

Bảng 2.4: Bảng quy định màu sắc của túi, thùng đựng và nhãn chỉ chất

thải y tế.

Chất thải lây nhiễm cao Vàng, kí hiệu nhiễm

Thùng nhựa, túi nhựa bền

Vật sắc nhọn Vàng, đề chữ vật sắc nhọn Túi nhựa bền hoặc

hộp giấy, chai nhựaChất thải y tế có đồng

vị phóng xạ

Đen, logo có bức xạ theo quy định

Hộp chì, kim loại có dán nhãn bức xạ

Chất thải có khả năng

tái chế

Trắng, biểu tượng chất thải có thể tái chế

Túi nilong, thùng nhựa, kim loại

(Nguồn: Quy chế Quản lý chất thải y tế - Bộ Y tế, 2007).

•Thu gom và lưu giữ

Việc thu gom, lưu giữ chất thải tại nguồn trước khi xử lý là một mắt xích khép kín của chiến lược quản lý chất thải, kể cả việc cung cấp những trang thiết bị lưu chứa đầy đủ bao gồm: các thùng đựng, nơi chứa, thùng lưới, tạo điều kiện quản lý chất thải dễ dàng hơn (Nguyễn Thị Kim Thái, 2011)

Nhân viên y tế phân loại, tách CTYT ngay trong quá trình khám chữa bệnh như thay băng, tiêm truyền, Hoạt động này phải duy trì thường xuyên

Trang 24

liên tục Nhân viên chịu trách nhiệm thu gom chất thải y tế từ các khoa chuyên môn về thùng lưu giữ tập trung sau đó vận chuyển về khu vực lưu giữ chất thải

y tế nguy hại của bệnh viện hàng ngày Thùng chứa đã chứa đầy chất thải khi vận chuyển phải có nhãn ghi rõ chất thải từ khoa, bệnh viện, ngày giờ; và phải

có thùng, túi chứa rác đặt ngay vào vị trí khi đã chuyển thùng cũ đi

Xe vận chuyển chất thải phải đảm bảo các tiêu chuẩn: có thành, có nắp,

có đáy kín, dễ cho chất thải vào, dễ lấy chất thải ra, dễ làm sạch, dễ tẩy uế, dễ làm khô

Khu lưu giữ chất thải y tế phải được xây dựng riêng, tách biệt với khu khám chữa bệnh của bệnh viện Chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường phải lưu giữ trong các buồng riêng biệt Tốt nhất là vận chuyển CTRYT nguy hại đi xử lý ngay trong ngày Thời gian lưu giữ chất thải trong các cơ sở y tế không quá 48 giờ (BKHCN&MT, 1998)

2.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý chất thải rắn y tế

2.2.1 Hiện trạng phát sinh, quản lý, xử lý chất thải rắn y tế trên Thế giới

Trong nhiều năm trở lại đây, do lượng phát sinh ngày càng nhiều cùng với những đặc tính nguy hại của chúng, CTRYT đã trở thành một trong những đối tượng nghiên cứu của các nhà môi trường Nghiên cứu về chất thải

y tế đã được tiến hành tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở các nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật, Pháp Các nghiên cứu đã quan tâm đến nhiều lĩnh vực như tình hình phát sinh; phân loại CTYT; quản lý CTYT,…

2.2.1.1 Hiện trạng phát sinh CTRYT

Khối lượng CTYT không chỉ thay đổi theo từng khu vực địa lý mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khách quan khác như: cơ cấu bệnh tật bình thường, dịch bệnh, thảm họa đột xuất; loại và quy mô bệnh viện, phạm vi cứu chữa; số lượng bệnh nhân khám, chữa bệnh, tỷ lệ bệnh nhân điều trị nội trú và ngoại trú; điều kiện kinh tế xã hội của khu vực; phương pháp và thói quen chăm của nhân viên y tế trong việc khám, điều trị và chăm sóc; số lượng người nhà được phép đến thăm bệnh nhân (Nguyễn Huy Nga, 2004)

Trang 25

Khối lượng CTRYT cũng được ước lượng trên cơ sở số giường bệnh và

hệ số phát thải phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thay đổi theo mức thu nhập, theo loại bệnh viện, theo các khoa chuyên môn,

Bảng 2.5: Lượng chất thải y tế thay đổi theo mức thu nhập của từng

nước.

Đơn vị: Kg/giường bệnh/ngày đêm

viện nói chung

Chất thải y tế nguy

hại

(Nguồn: Phạm Ngọc Châu, 2004).

Ở các nước có thu nhập cao, lượng chất thải bệnh viện nói chung và chất thải y tế nguy hại nói riêng luôn cao hơn từ 2 – 4 lần so với các nước có thu nhập trung bình và thấp Sở dĩ có hiện tượng này là bởi vì đối với các nước có thu nhập cao, nhu cầu cũng như yêu cầu về sức khỏe và các dịch vụ liên quan đến y tế của họ rất cao, thêm vào đó là sự đầu tư các trang thiết bị y tế hiện đại để phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh của người dân ở đây rất được coi trọng, vì vậy số lượng người đến các trung tâm y tế để khám chữa bệnh rất lớn, điều đó dẫn đến lượng chất thải y tế phát sinh nhiều Còn ở các nước có thu nhập trung bình và thấp do cơ sở hạ tầng của các cơ sở y tế chưa thật sự đầy đủ, cùng với trở ngại về kinh tế làm cho số lượng người điều trị ngoại trú khá cao

Không những thế, lượng chất thải y tế phát sinh còn phụ thuộc theo tuyến, quy mô bệnh viện

Bảng 2.6: Chất thải y tế theo giường bệnh trên thế giới

Đơn vị: Kg/giường bệnh/ngày đêm

Trang 26

(Nguồn: Hoàng Thị Liên, 2009).

Tổng lượng chất thải y tế (CTYT), cũng như CTYT nguy hại giữa các tuyến bệnh viện là khác nhau, bệnh viện ở tuyến càng cao thì lượng CTYT phát sinh càng lớn, cụ thể: bệnh viện trung ương lượng phát sinh CTYT là 4,1 – 8,7 kg/giường bệnh, cao hơn so với bệnh viện tỉnh 2,1 – 4,2 kg/giường bệnh

và bệnh viện huyện 0,5 – 1,8 kg/giường bệnh, nguyên nhân của sự khác nhau này là do ở bệnh viện tuyến càng cao thì công nghệ, kỹ thuật cũng như trình

độ của các y bác sỹ sẽ cao hơn, cùng với tâm lý lựa chọn của người dân nên lượng bệnh nhân ở đây sẽ lớn hơn, dẫn đến lượng CTYT phát sinh lớn

Như vậy, trước tình hình phát sinh chất thải y tế khác nhau tại các quốc gia, khu vực trên thế giới, cùng với những tác hại của rác thải y tế đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng, mỗi nước cần nghiên cứu để tìm ra những biện pháp quản lý, xử lý phù hợp với điều kiện riêng của quốc gia mình Hiện nay

ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, việc quản lý loại rác thải này đang rất được quan tâm Có nhiều chính sách, quy định đã được ban hành và thực hiện một cách nghiêm ngặt nhằm kiểm soát chặt chẽ chất thải y tế

2.2.1.2 Hiện trạng quản lý, xử lý CTRYT

•Quá trình phân loại, thu gom và lưu trữ

Tuy có một số điều chỉnh để phù hợp với điều kiện của từng quốc gia nhưng nhìn chung cách phân loại CTRYT ở bệnh viện tương đối nhất quán theo quy định của tổ chức Y tế thế giới

Theo quy định của WHO cho các nước đang phát triển, việc thu gom chất thải y tế theo từng loại riêng biệt vào các loại túi nilon có màu sắc khác nhau được quy định cụ thể ở từng quốc gia Ví dụ ở Malaysia: Túi màu vàng đựng chất thải y tế phải đốt Ngoài các túi có vạch đựng mức 2/3 và dòng chữ “Không đựng quá vạch này” Dung tích tối thiểu 0,1m3, túi màu

Trang 27

đen đựng chất thải sinh hoạt và túi màu xanh đựng chất thải cần khử khuẩn trước khi tiêu hủy Thùng giấy/nhựa màu vàng có kí hiệu nguy hại đựng vật sắc nhọn Có khả năng chịu va đập có vạch định mức 2/3 Thùng có bọc chất dạng polime để tránh sự đâm thủng Mỗi phòng khám chữa bệnh, phòng bệnh nhân có thùng đựng rác được chia làm nhiều ngăn thuận tiện cho việc phân loại, phù hợp với lượng chất phát sinh hàng ngày Quy định nơi để thùng rác và giờ thu gom 2 - 3 lần/ngày, đồng thời thu gom khi cần Khu tập trung rác thải của bệnh viện có mái che, hệ thống thoát nước thuận tiện cho xe chuyên chở vào, có hàng rào bảo vệ…Khu lưu trữ chất thải y tế riêng biệt với khu chất thải sinh hoạt thông thường (WHO, 2000).

lý ngay được bảo quản trong phòng lạnh Đường vận chuyển chất thải tránh

đi qua các khu vực đông người Khi chất thải bị đổ nhân viên cần phải xử lý ngay Xe dùng vận chuyển là xe chuyên dụng, dễ cho chất thải vào, dễ làm

vệ sinh… Nhân viên có trang bị đồ bảo hộ đầy đủ, được học nội quy phòng cháy, thu gom rác Không để chung chất thải bệnh viện và chất thải sinh hoạt bình thường, hoặc có bồn để riêng Xe chuyên chở là xe chuyên dụng làm vệ sinh… Có hệ thống hóa đơn ghi chép về lượng, ngày chuyên chở chất thải, ghi chép được lưu trữ trong một năm (WHO, 2000)

•Quá trình xử lý

- Các phương pháp xử lý ban đầu:

Mục đích của việc xử lý ban đầu là biến chất thải nguy hại thành chất thải không nguy hại, tương tự chất thải sinh hoạt Chất thải rắn bệnh viện khi được khử khuẩn sẽ được tiêu hủy cuối cùng tại nơi xử lý

Trang 28

Giai đoạn được tiến hành tại nguồn phát sinh Tại một số nước, những vật sắc nhọn như kim tiêm được bẻ gập lại sau khi dùng, những dụng cụ bằng nhựa được phá hỏng trước khi cho vào thùng rác Những chất nhiễm khuẩn được tẩy uế tại nguồn bằng những chất tẩy uế như vôi bột, dụng cụ tiến hành xét nghiệm bệnh phẩm được tẩy hấp trước khi loại bỏ.

- Các phương pháp xử lý sau cùng:

+ Xu hướng hiện nay chủ yếu tập trung vào công nghệ thiêu đốt an toàn các loại chất thải bệnh viện ngay tại nguồn phát sinh, thiêu đốt tập trung Nhìn chung phương pháp đốt là phương pháp sạch nhưng chi phí cao

và đòi hỏi sự kiểm soát chặt chẽ Phương pháp này được áp dụng chủ yếu cho chất thải lây nhiễm, chất thải gây độc tế bào, không áp dụng cho các hóa chất có hoạt tính phản ứng, bình chứa khí có áp suất, các chất nhựa halogen như PVC vì phát thải Dioxin Có ba loại lò đốt được sử dụng để xử

lý chất thải y tế nguy hại: lò đốt một buồng, lò đốt nhiệt hai buồng, lò quay Hiện nay có một số công nghệ không đốt được sử dụng để xử lý chất thải y tế nguy hại như công nghệ sử dụng hóa chất, công nghệ vi sinh, công nghệ nhiệt khô, công nghệ nhiệt ẩm

+ Chôn lấp: chôn lấp các bệnh phẩm sau khi đã được xử lý sơ bộ, phương pháp này được sử dụng rộng rãi ở các nước kém phát triển, dễ làm,

ít tốn kém Nhưng thực chất phương pháp này không giải quyết được tận gốc được khả năng nguy hại của chất thải và ngày càng bộc lộ nhiều nhược điểm như tốn diện tích, dễ gây phát sinh ô nhiễm đất, ô nhiễm nguồn nước tại các bãi chôn lấp

Như vậy có thể thấy công tác quản lý chất thải rắn y tế đã và đang được coi trọng trên thế giới, cùng với đó ngày càng có nhiều hơn các phương pháp xử lý hiệu quả, chuyển chất thải y tế nguy hại có nguy cơ lây nhiễm cao thành các chất thải thông thường và có khả năng tái chế Mặc dù vậy,

Trang 29

công tác quản lý CTR y tế vẫn còn tồn tại một số thực trạng như sau:

Theo WHO có 18 – 64% cơ sở y tế chưa có biện pháp xử lý chất thải đúng cách, có khoảng 50% bệnh viện vận chuyển CTYT đi qua khu vực bệnh nhân và không đựng trong xe thùng có nắp Cũng theo H.Ô – ga –oa,

cố vấn Tổ chức Y tế Thế giới về sức khỏe, môi trường khu vực châu Á, phần lớn các nước đang phát triển không kiểm soát tốt CTYT, chưa có khả năng phân loại mà xử lý cùng với tất cả các loại chất thải Ở các nước phát triển đã có công nghệ xử lý CYTY đáng tin cậy như đốt rác lò vi sóng, tuy nhiên đây không phải là biện pháp hữu hiệu được áp dụng ở các nước đang phát triển Chính vì thế, dựa vào điều kiện của từng quốc gia mà lựa chọn những biện pháp xử lý khác nhau hay kết hợp nhiều công nghệ để mang đến hiệu quả cao nhất (Hoàng Thị Liên, 2009)

2.2.2 Hiện trạng phát sinh, quản lý, xử lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam

2.2.2.1 Hiện trạng phát sinh CTRYT

Kết quả tổng điều tra năm 2012 cho thấy: tính đến 1/7/2012 cả nước có

1065 bệnh viện, 1081 trung tâm y tế, 998 phòng khám đa khoa, 11121 trạm y

tế cấp xã/phường và 20961 cơ sở khám, chữa bệnh thuộc mọi thành phần kinh tế: nhà nước, ngoài nhà nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài So với năm

2007, mạng lưới cơ sở y tế đã được mở rộng từ trung ương đến địa phương trong đó số bệnh viện tăng 36%, trạm y tế cấp xã/phường tăng 24,5%, số cơ

sở cá thể thực hiện dịch vụ khám chữa bệnh tăng 20% Đi cùng với sự tăng lên về dịch vụ y tế thì lượng chất thải y tế phát sinh ngày càng nhiều đã và đang là mối lo lớn nhất trong công tác kiểm soát ô nhiễm đến mức thế giới xếp các cơ sở y tế là cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng (Tổng cục thống kê, 2012) Theo nghiên cứu điều tra của Cục Khám chữa bệnh - Bộ Y tế

và Viện Kiến trúc, Quy hoạch Đô thị và Nông thôn - Bộ Xây dựng, năm 2009

- 2010, tổng lượng CTRYT trong toàn quốc khoảng 100 - 140 tấn/ngày, trong

đó có 16 - 30tấn/ngày là CTRYT nguy hại Lượng CTR trung bình là 0,86

Trang 30

kg/giường/ngày, trong đó CTRYT nguy hại tính trung bình là 0,14 - 0,2 kg/giường/ngày.

Lượng chất thải y tế phát sinh có xu hướng tăng lên theo thời gian.Theo thống kê, mức tăng chất thải y tế hiện nay là 7,6%/năm.Tính riêng cho các bệnh viện thuộc Bộ Y tế, theo khảo sát năm 2009, tổng lượng chất thải rắn phát sinh trong một ngày là 31.865 kg, trung bình là 1,53 kg/giường bệnh/ngày Lượng chất thải rắn phát sinh cao nhất tại bệnh viện Chợ Rẫy 3,72 kg/giường bệnh/ngày, thấp nhất là bệnh viện điều dưỡng và bệnh viện Tâm thần Trung ương 2 với 0,01 kg/giường bệnh/ngày (Bộ Tài nguyên Môi trường, 2011)

Lượng chất thải nguy hại (CTNH) y tế phát sinh khác nhau giữa các loại cơ sở y tế khác nhau Các nghiên cứu cho thấy các bệnh viện tuyến trung ương và tại các thành phố lớn có tỷ lệ phát sinh CTNH y tế cao nhất Tính trong 36 bệnh viện thuộc Bộ Y tế, tổng lượng CTNH y tế cần được xử lý trong 1 ngày là 5.122 kg, chiếm 16,2% tổng lượng CTR y tế Trong đó, lượng CTNH y tế tính trung bình theo giường bệnh là 0,25 kg/giường/ngày (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011)

Lượng CTR y tế phát sinh trong ngày khác nhau giữa các bệnh viện tùy thuộc

số giường bệnh, bệnh viện chuyên khoa hay đa khoa, các thủ thuật chuyên môn được thực hiện tại bệnh viện, số lượng vật tư tiêu hao được sử dụng

Bảng 2.7: Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện.

Đơn vị: Kg/giường bệnh/ngày.

Khoa

Tổng lượng chất thải phát sinh Tổng lượng chất thải y tế nguy hại

BV TW

BV Tỉnh

BV huyện

Trung bình

BV TW

BV Tỉnh

BV huyện

Trung bình

Trang 31

(Nguồn: Quy hoạch quản lý chất thải y tế, Bộ Y tế, 2009).

Như vậy lượng CTRYT phát sinh ngày càng gia tăng ở hầu hết các địa phương xuất phát từ nguyên nhân như: gia tăng số lượng cơ sở y tế và gia tăng số giường bệnh; thực hành y học hiện đại với nhiều phương pháp chuẩn đoán và điều trị mới tăng cường sử dụng các sản phẩm y tế một lần trong y tế; dân số tăng, người dân ngày càng tiếp nhận nhiều hơn với dịch vụ y tế Dự kiến đến năm 2015, tổng lượng chất thải rắn y tế là 600 tấn/ngày và năm 2020

là 800 tấn/ngày Với khối lượng chất thải y tế lớn như vậy, nếu không được

xử lý một cách triệt để chắc chắn sẽ gây tiềm ẩn những nguy cơ đối với môi trường và cuộc sống hàng ngày (BTNMT, 2011)

2.2.2.2 Hiện trạng quản lý, xử lý CTRYT

•Quá trình phân loại, thu gom và lưu giữ

Công tác phân loại, thu gom, lưu giữ CTRYT nói chung đã được quan tâm bởi các cấp từ Trung ương đến địa phương, thể hiện ở mức độ thực hiện quy định ở các bệnh viện khá cao Theo báo cáo của trung tâm y tế dự phòng các tỉnh, đa số các bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải ngay từ nguồn nhưng việc phân loại còn phiến diện và chưa thực sự hiệu quả do nhân viên tham gia công tác này chưa được đào tạo đủ tới mức trở thành kỹ năng Có

Trang 32

95,6% bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải trong đó 91,1% đã sử dụng dụng cụ tách riêng vật sắc nhọn Theo báo cáo kiểm tra của các tỉnh và nhận xét của đoàn kiểm tra liên Bộ, còn có hiện tượng phân loại nhầm chất thải, một số loại chất thải thông thường được đưa vào chất thải y tế nguy hại gây tốn kém trong xử lý Có 63,6% sử dụng túi nhựa làm bằng nhựa PE, PP; chỉ

có 29,3% sử dụng túi có thành dày theo quy chế Như vậy chỉ có khoảng 50% các bệnh viện phân loại, thu gom CTR y tế đạt yêu cầu theo quy chế quản lý CTYT (Bộ Tài nguyên Môi trường, 2011)

CTYT phát sinh từ các cơ sở y tế khám chữa bệnh trực thuộc sự quản lý của Bộ Y tế phần lớn được thu gom và vận chuyển đến khu vực lưu giữ sau

đó được xử lý tại các lò thiêu đốt nằm ngay trong cơ sở hoặc ký hợp đồng vận chuyển và xử lý đối với các cơ sở xử lý chất thải đã được cấp phép tại địa bàn

cơ sở khám chữa bệnh đó

Bảng 2.8: Hiện trạng thu gom, phân loại chất thải y tế tại các bệnh viện

trên địa bàn thành phố Hà Nội

(%)

1 Túi đựng chất thải đúng quy cách về bề dày và dung

2 Túi đựng chất thải đúng quy cách về màu sắc 30,67

3 Túi đựng chất thải buộc đúng quy cách 81,33

Trang 33

•Quá trình vận chuyển

CTRYT được thu gom rồi vận chuyển về khu trung chuyển tại bệnh viện Thực tế trong quy hoạch xây dựng cũng chưa có hướng dẫn cho việc xây dựng các khu vực trung chuyển CTR y tế Hầu hết các điểm tập trung CTR y

tế được bố trí trên một khu đất bên trong khuôn viện của bệnh viện thành một khu trung chuyển Các khu trung chuyển có điều kiện vệ sinh không đảm bảo,

có nhiều nguy cơ gây rủi ro do vật sắc nhọn rơi vãi, côn trùng dễ xâm nhập ảnh hưởng đến môi trường bệnh viện Một số điểm tập trung rác không có mái che, không có rào bảo vệ, vị trí lại gần nơi đi lại, nhưng người không nhiệm vụ dễ xâm nhập Có một số ít bệnh viện có nơi lưu trữ CTR đạt quy định Trong vận chuyển CTR y tế, chỉ có 53% số bệnh viện sử dụng xe có nắp đậy để vận chuyển chất thải y tế nguy hại; 53,4% bệnh viện có mái che để lưu giữ CTR đây là những yếu tố để đảm bảo an toàn cho người bệnh và môi trường (Bộ Tài nguyên Môi trường, 2011).

Nhìn chung các phương tiện vận chuyển chất thải y tế còn thiếu, chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn, đặc biệt là các xe chuyên dụng Hoạt động vận chuyển chất thải y tế nguy hại từ bệnh viện, cơ sở y tế đến nơi xử lý, chôn lấp hầu hết do Công ty môi trường đô thị đảm nhiệm, không có các trang thiết bị đảm bảo cho quá trình vận chuyển được an toàn

•Quá trình xử lý

CTRYT không nguy hại ở hầu hết các tỉnh, thành phố đều do Công ty môi trường đô thị thu gom, vận chuyển và được xử lý tại các khu xử lý CTR tập trung của địa phương Hoạt động thu hồi và tái chế CTRYT tại Việt Nam hiện đang thực hiện không theo đúng quy chế quản lý CTR y tế đã ban hành Chưa có các cơ sở chính thống thực hiện các hoạt động thu mua và tái chế các loại chất thải từ hoạt động y tế ở Việt Nam Năm 2010, đã phát hiện nhiều hiện tượng đưa CTR y tế ra ngoài bán, tái chế trái phép thành các vật dụng thường ngày Việc tái sử dụng các găng tay cao su, các vật liệu nhựa đã và đang tạo ra nhiều rủi ro cho những người trực tiếp tham gia như các nhân viên

Trang 34

thu gom, những người thu mua và tái chế phế liệu (Bộ Tài nguyên Môi trường, 2011).

Khối lượng CTRYT nguy hại được xử lý đạt tiêu chuẩn chiếm 68% tổng lượng phát sinh CTRYT nguy hại trên toàn quốc CTRYT xử lý không đạt chuẩn (32%) là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng Các thành phố lớn như Tp Hồ Chí Minh và Hà Nội đã có xí nghiệp xử lý CTRYT nguy hại vận hành tốt, tổ chức thu gom và xử lý, tiêu huỷ CTRYT nguy hại cho toàn bộ cơ sở y tế trên địa bàn CTRYT nguy hại của các tỉnh, thành phố khác hiện được xử lý và tiêu huỷ với các mức độ khác nhau Đến năm 2006, hơn 500 lò đốt đã được lắp đặt tại các cơ sở y tế tại Việt Nam, tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn Tuy nhiên, trong số đó có tới hơn 33% số lò không được hoạt động do nhiều

lý do (Bộ Tài nguyên Môi trường, 2011).

Thống kê về tình hình quản lý và xử lý CTYT của Cục Quản lý môi trường y tế năm 2009 cho thấy, đối với các cơ sở y tế nằm trong danh sách Quyết định 64/2003/QĐ-TTg thì công tác thu gom, xử lý CTYT đã được quan tâm, đầu tư kinh phí vận hành với các lò đốt chất thải hiện đại, được kiểm soát chất lượng Với tuyến y tế cấp tỉnh, CTRYT phần lớn được thuê xử lý (rủi ro, nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao, khó kiểm soát chất lượng), công tác tự xử lý bằng lò đốt chỉ chiếm số lượng không nhiều Còn với tuyến y tế cấp huyện, công tác xử lý CTYT hết sức đa dạng, phong phú với nhiều loại hình khác nhau và khó có thể kiểm soát

Trang 35

Hình 2.3: Tình hình xử lý chất thải rắn tại một số cơ sở y tế

(Nguồn: Cục quản lý môi trường, 2009).

Theo Báo cáo môi trường Quốc gia về chất thải rắn năm 2011 của Bộ Tài nguyên Môi trường, công tác xử lý CTR y tế tại một số vùng trên cả nước như sau:

+ Vùng Đồng bằng sông Hồng có 224 cơ sở khám chữa bệnh cấp địa phương trong đó 98 cơ sở có trang bị lò đốt CTR y tế (chiếm 40%), số lò đốt còn hoạt động tốt là 63 (chiếm 64%) Đối với các cơ sở y tế chưa được trang

bị lò đốt hoặc lò đốt không hoạt động, CTR y tế nguy hại được xử lý tập trung tại khu xử lý CTR chung

+ Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung có 236 cơ sở khám chữa bệnh cấp địa phương trong đó 168 cơ sở có trang bị lò đốt CTR y tế (chiếm 50%), số lò đốt còn hoạt động tốt là 79 (chiếm 47%) Có 12/14 tỉnh đã

bố trí xử lý CTR y tế tại khu xử lý CTR chung của tỉnh; 47% số cơ sở y tế xử

lý tại khu xử lý tại khu xử lý CTR tập trung Đối với bệnh viện tuyến Trung ương tập trung tại Đà Nẵng thì 100% CTR y tế nguy hại được đưa về lò đốt CTR tại khu xử lý Khánh Sơn

+ Vùng Tây Nguyên có 32/74 cơ sở khám chữa bệnh cấp địa phương trang bị lò đốt CTR y tế (43 %), trong đó 23 lò còn hoạt động tốt (chiếm 72%) Với 4/5 tỉnh đã bố trí xử lý CTR y tế tại khu xử lý CTR chung của tỉnh

và thành phố, 38 cơ sở (51%) xử lý tại khu xử lý CTR tập trung

Nhìn chung các lò đốt CTR y tế nguy hại còn nhiều hạn chế, tập trung vào các vấn đề sau: chi phí đầu tư, hiệu suất vận hành, chi phí xử lý khí thải lớn, giá nhiên liệu quá cao dẫn đến nhiều cơ sở không đốt hoặc đốt không đảm bảo Thiếu phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất đốt và chất thải (khí, tro, nước thải từ bồn ngưng tụ xử lý khí) Hơn nữa, do chất đốt thường được sử dụng là dầu Diezel nên rất khó đảm bảo đủ và đúng yêu cầu nhiệt độ khi vận hành (nhiệt trị của dầu thấp, và bắt buộc phải lưu thông khí

Trang 36

khi đốt) Nếu phân loại rác không đúng sẽ gây tốn kém, khi đốt cả rác thường không kiểm soát được khí thải lò đốt, dẫn đến phí xử lý khí thải lớn.

2.3 Cơ sở luật pháp về quản lý chất thải rắn y tế

2.3.1 Trên thế giới

Trên thế giới, quản lý chất thải y tế nói chung và rác thải y tế nói riêng đã được các quốc gia quan tâm và thực hiện một cách triệt để từ rất lâu Một loạt các chính sách, quy định được ban hành để kiểm soát chặt chẽ loại chất thải này Các hiệp ước quốc tế, các nguyên tắc, các hiệp ước và quy định về chất thải nguy hại trong đó bao gồm cả chất thải y tế cũng đã được công nhận và thực hiện ở hầu hết các quốc gia trên thế giới

- Công ước Basel: Được ký kết bởi hơn 100 quốc gia, quy định về sự

vận chuyển các chất độc hại qua biên giới, đồng thời áp dụng cả với chất thải y tế Công ước này đưa ra nguyên tắc chỉ vận chuyển hợp pháp chất thải nguy hại từ các quốc giakhông có điều kiện và công nghệ thích hợp sang các quốc gia có điều kiện vật chất kỹ thuật để xử lý an toàn một số chất thải đặc biệt

- Nguyên tắc polluter pay (người gây ô nhiễm phải trả tiền): Nêu rõ

mọi người, mọi cơ quan làm phát sinh chất thải phải chịu trách nhiệm về pháp luật và tài chính trong việc đảm bảo an toàn và giữ cho môi trường trong sạch

- Nguyên tắc proximity: Quy định rằng việc xử lý chất thải nguy hại

cần được tiến hành ngay tại nơi phát sinh càng sớm càng tốt Tránh tình trạng chất thải bị lưu giữ trong thời gian dài gây ô nhiễm môi trường

2.3.2 Tại Việt Nam

Ở nước ta, chất thải y tế đã được quản lý bằng hệ thống các văn bản pháp luật do Quốc hội, Chính phủ ban hành và hàng loạt các văn bản quản lý, hướng dẫn thực hiện của ngành Y tế Gồm một số văn bản sau:

- Luật Bảo vệ môi trường và các Nghị định hướng dẫn thực hiện Luật Điều 72, Luật Bảo vệ môi trường 2014 đã đưa ra các quy định về bảo vệ môi trường trong bệnh viện và các cơ sở y tế

Trang 37

- Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14 tháng 04 năm 2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại.

- Quyết định số 256/2003/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020

- Chính phủ về “Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở y tế gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng”

- Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007 của Bộ Y

tế về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tếQuyết định số 64/2003/QĐ- TTg ngày 22 tháng 04 năm 2003 của Thủ tướng

- Quyết định số 2038/QĐ-TTg ngày 15 tháng 11 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án tổng thể xử lý chất thải y tế giai đoạn

2011 đến 2015 và định hướng đến năm 2020

- Quyết định số 170/QĐ-TTg ngày 08 tháng 02 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt quy hoạch tổng thể hệ thống xử lý chất thải rắn y tế nguy hại đến năm 2025

- Chỉ thị số 17/2008/CT- TTg ngày 05 tháng 06 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về “Một số giải pháp cấp bách đẩy mạnh công tác xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số 64/2003/QĐ- TTg”

Ngoài ra còn nhiều các văn bản quy định, hướng dẫn khác đối với công tác quản lý CTYT như tiêu chuẩn khí thải lò đốt chất thải y tế, phí bảo vệ môi trường đối với nước thải,

- TCVN 5939-1999: Chất lượng không khí – Tiêu chuẩn khí thải đối với

lò đốt chất thải y tế: Các hạn mức (Bộ tiêu chuẩn này đã được thay thế bằng QCVN 02:2008/BTNMT)

- TCVN 7380-2004: Lò đốt chất thải rắn y tế - Yêu cầu kỹthuật

- TCVN 7381-2004: Lò đốt chất thải rắn y tế - Phương pháp đánh giá và thẩm định

Trang 38

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là chất thải rắn y tế và công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

- Phạm vi thời gian: 5/1/2015 – 5/5/2015

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Mô tả đặc điểm chung của bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

- Xác định nguồn gốc phát sinh, tính chất, thành phần và khối lượng của chất thải rắn y tế của bệnh viện

- Đánh giá hiện trạng phân loại, quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện

- Đề xuất một số giải pháp xử lý, quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện

đa khoa huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Trang 39

Thu thập và thống kê các tài liệu, các báo cáo nghiên cứu khoa học, các báo cáo môi trường quốc gia, sách báo, tạp chí môi trường, các bài luận tốt nghiệp liên quan đến đề tài

Thu thập số liệu thứ cấp từ các cơ quan chức năng của bệnh viện huyện Quỳnh Lưu về:

- Thông tin về đặc điểm, quy mô, cơ cấu tổ chức của bệnh viện

- Báo cáo hàng năm về tình hình khám chữa bệnh của bệnh viện

- Thông tin về hiện trạng phát sinh rác thải y tế, công tác thu gom, vận chuyển và quản lý

3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

3.4.2.1 Khảo sát thực địa:

- Quan sát chung về môi trường bệnh viện và xung quanh bệnh viện

- Quan sát cách thức thu gom, phân loại, vậnchuyển và xử lý của nhân viên vệ sinh

- Chụp ảnh làm tư liệu viết báo cáo.

3.4.2.2. Điều tra bảng hỏi:

- Nội dung phiếu điều tra tập trung vào các vấn đề:

+ Hiện trạng môi trường của bệnh viện

+ Hệ thống thu gom, phân loại và xử lý

+ Nhận thức của các y bác sỹ, nhân viên vệ sinh, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân về chất thải rắn y tế cũng như tình hình quản lý rác thải y tế của bệnh viện.

- Đối tượng phỏng vấn bao gồm: cán bộ phụ trách vấn đề môi trường của bệnh viện, các cán bộ y tế tại bệnh viện, hộ lý tại các khoa, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân.

- Phương thức điều tra: Phỏng vấn trực tiếp theo 4 bảng hỏi cho 4 loại đối tượng với số phiếu (số lần nhắc lại) cụ thể như sau:

+ Cán bộ phụ trách vấn đề môi trường của bệnh viện: 1 phiếu

+ Cán bộ y tế tại bệnh viện: 10 phiếu

+ Hộ lý tại các khoa: 10 phiếu

+ Bệnh nhân và người nhà bệnh nhân: 60 phiếu.

(Các mẫu phiếu điều tra được đính kèm ở phần phụ lục).

3.4.3. Phương pháp cân khối lượng

Rác thải được định lượng bằng phương pháp cân trực tiếp Rác được cân liên tục trong 1 tuần để tính giá trị trung bình ngày Thời gian cân: từ Thứ 2, ngày 9/3/2015 đến Chủ nhật, ngày 15/3/2015.

Rác được cân riêng cho từng khoa, cân tại điểm tập trung rác và cân cho từng loại rác.

3.4.4 Phương pháp so sánh

Trang 40

Phương pháp này được áp dụng để so sánh giữa thực tế tuân thủ các quy định pháp luật về công tác quản lý chất thải rắn y tế của bệnh viện với quy chế Quản lý chất thải y tế, ban hành kèm theo quyết định số 43/2007/QĐ – BYT ngày 30/11/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế.

3.4.5 Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu điều tra, thu thập được tổng hợp và xử lý thống kê bằng phần mềm Excel 2010

Ngày đăng: 21/12/2016, 12:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường, Cục Môi trường (1998), Các biện pháp kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất thải, NXB xây dựng Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất thải
Tác giả: Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường, Cục Môi trường
Nhà XB: NXB xây dựng Hà Nội
Năm: 1998
5. Bộ Y tế (2007), Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế về quy chế quản lý chất thải y tế, NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế về quy chế quản lý chất thải y tế
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2007
7. Phạm Ngọc Châu (2004), Môi trường bệnh viện nhìn từ góc độ quản lý chất thải, Nhà xuất bản Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường bệnh viện nhìn từ góc độ quản lý chất thải
Tác giả: Phạm Ngọc Châu
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế giới
Năm: 2004
8. Hoàng Thị Liên (2009), Luận văn thạc sỹ y học: “Nghiên cứu thực trạng và một số yếu tố liên quan đến chất thải y tế tại bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên”, Đại học Y dược Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu thực trạng và một số yếu tố liên quan đến chất thải y tế tại bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên”
Tác giả: Hoàng Thị Liên
Năm: 2009
9. Nguyễn Đức Khiển (2003), Giáo trình Quản lý chất thải nguy hại, Nhà xuất bản Xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý chất thải nguy hại
Tác giả: Nguyễn Đức Khiển
Nhà XB: Nhà xuất bản Xây dựng
Năm: 2003
10. Nguyễn Huy Nga (2004), Bảo vệ môi trường trong các cơ sở y tế, Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ môi trường trong các cơ sở y tế
Tác giả: Nguyễn Huy Nga
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2004
11.Trần Hiếu Nhuệ, Ứng Quốc Dũng, Nguyễn Thị Kim Thái (2001), Quản lý chất thải rắn tập 1, Nhà xuất bản Xây Dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chất thải rắn tập 1
Tác giả: Trần Hiếu Nhuệ, Ứng Quốc Dũng, Nguyễn Thị Kim Thái
Nhà XB: Nhà xuất bản Xây Dựng
Năm: 2001
12. Niên giám thống kê 2010, Y tế, Văn hóa thể thao và mức sống dân cư, Tổng cục thống kê Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y tế, Văn hóa thể thao và mức sống dân cư
13. Trịnh Thị Thanh (2002), Sức khỏe môi trường, Đại học Quốc gia Hà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức khỏe môi trường
Tác giả: Trịnh Thị Thanh
Năm: 2002
15. Nguyễn Thị Kim Thái (2011), Quản lý chất thải rắn tập 2, Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chất thải rắn tập 2
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Thái
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2011
16. Trường Đại học Xây dựng (2001), Bài giảng Quản lý chất thải rắn, Nhà xuất bản Xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Quản lý chất thải rắn
Tác giả: Trường Đại học Xây dựng
Nhà XB: Nhà xuất bản Xây dựng
Năm: 2001
18. Vụ Điều trị - Bộ Y tế (2000), Tài liệu hướng dẫn thực hành quản lý chất thải y tế, Nhà xuất bản Y học.B. Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn thực hành quản lý chất thải y tế
Tác giả: Vụ Điều trị - Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học.B. Tài liệu tiếng Anh
Năm: 2000
19. Health Survices Advisory Committee (1999), Safe disposal of clinical waste, Sudbury: HSE books, Great Britian Sách, tạp chí
Tiêu đề: Safe disposal of clinical waste
Tác giả: Health Survices Advisory Committee
Năm: 1999
20. Miller, R.K and M.E. Rupnow (1992), Survey on medical waste management, Lilburn, GA: Future Technology surveys.C. Tài liệu web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Survey on medical waste management
Tác giả: Miller, R.K and M.E. Rupnow
Năm: 1992
22. Nguyễn Võ Hinh (2013), Viện sốt rét ký sinh trùng và côn trùng Quy Nhơn, Nguy cơ môi trường ô nhiễm ảnh hưởng sức khỏe do chất thải y tế.http://www.impeqn.org.vn/impeqn/vn/portal/InfoDetail.jsp?area=58&cat=1104&ID=6315, Thứ 6, 19/12/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: http://www.impeqn.org.vn/impeqn/vn/portal/InfoDetail.jsp?"area=58&cat=1104&ID=6315
Tác giả: Nguyễn Võ Hinh
Năm: 2013
23. Nguyễn Xuân Hoàng (2013), Hiện trạng và giải pháp quản lý rác thải bệnh viện.http://slidegur.com/doc/1078379/hiện trạng và giải pháp quản lý rác Link
1. Bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu (2014), Báo cáo tổng quan bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu Khác
2. Bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu (2014), Báo cáo kết quả quan trắc giám sát chất lượng môi trường Khác
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011), Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia Khác
6. Bộ Y tế (2009), Quyết định số 1783/QĐ-BYT ngày 28/05/2009 về việc phê duyệt kế hoạch bảo vệ môi trường ngành y tế giai đoạn 2009-2015, NXB Y học, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Thành phần CTRYT dựa trên đặc tính lý hóa sinh - Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Hình 2.1 Thành phần CTRYT dựa trên đặc tính lý hóa sinh (Trang 18)
Hình 2.2: Thành phần CTRYT dựa theo tính chất nguy hại - Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Hình 2.2 Thành phần CTRYT dựa theo tính chất nguy hại (Trang 19)
Bảng 2.7: Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện. - Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Bảng 2.7 Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện (Trang 30)
Hình 4.1: Sơ đồ vị trí bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu. - Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Hình 4.1 Sơ đồ vị trí bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu (Trang 41)
Hình 4.2: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của bệnh viện - Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Hình 4.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của bệnh viện (Trang 46)
Hình 4.3: Các nguồn phát sinh CTRYT tại bệnh viện. - Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Hình 4.3 Các nguồn phát sinh CTRYT tại bệnh viện (Trang 49)
Hình 4.4: Một số hình ảnh về CTRYT phát sinh tại bệnh viện. - Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Hình 4.4 Một số hình ảnh về CTRYT phát sinh tại bệnh viện (Trang 50)
Hình 4.5: Tỷ lệ thành phần CTRYT tại bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh - Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Hình 4.5 Tỷ lệ thành phần CTRYT tại bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh (Trang 52)
Hình 4.6: Khối lượng CTRYT phát sinh tại từng bộ phận của bệnh viện - Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Hình 4.6 Khối lượng CTRYT phát sinh tại từng bộ phận của bệnh viện (Trang 53)
Hình 4.7: Hệ thống quản lý CTRYT tại bệnh viện. - Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Hình 4.7 Hệ thống quản lý CTRYT tại bệnh viện (Trang 55)
Hình 4.8: Sơ đồ quy trình quản lý CTRYT tại bệnh viện. - Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Hình 4.8 Sơ đồ quy trình quản lý CTRYT tại bệnh viện (Trang 59)
Hình 4.9: Công tác thu gom, phân loại CTRYT tại bệnh viện. - Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Hình 4.9 Công tác thu gom, phân loại CTRYT tại bệnh viện (Trang 63)
Hình 4.10: Công tác vận chuyển CTRYT tại bệnh viện. - Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Hình 4.10 Công tác vận chuyển CTRYT tại bệnh viện (Trang 65)
Hình 4.11: Khu lưu trữ rác thải sinh hoạt và nguy hại của bệnh viện - Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Hình 4.11 Khu lưu trữ rác thải sinh hoạt và nguy hại của bệnh viện (Trang 68)
Hình 4.13: Một số hình ảnh về lò đốt CTRYT của bệnh viện. - Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Hình 4.13 Một số hình ảnh về lò đốt CTRYT của bệnh viện (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w