Mục tiêu chung Đề tài góp phần đánh giá được hiện trạng khai thác, sử dụng các loài thực vật rừng làm thuốc, thực phẩm ở Khu BTTN Phong Quang làm cơ sở đề xuất những giải pháp giúp chín
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN BÁ TUYÊN
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHAI THÁC LÂM SẢN NGOÀI GỖ LÀM THUỐC VÀ THỰC PHẨM TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PHONG QUANG, TỈNH HÀ GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Thái Nguyên - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN BÁ TUYÊN
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHAI THÁC LÂM SẢN NGOÀI GỖ LÀM THUỐC VÀ THỰC PHẨM TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PHONG QUANG, TỈNH HÀ GIANG
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trần Quốc Hưng
Thái Nguyên - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Nguyễn Bá Tuyên
Học viên cao học khóa 22 Chuyên ngành: Lâm học Năm học 2014 - 2016 Tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Đến nay tôi đã hoàn thành luận văn nghiên cứu cuối khóa học Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2016
NGƯỜI LÀM CAM ĐOAN
Nguyễn Bá Tuyên
Trang 4LỜI CẢM ƠN!
Luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp khai thác Lâm sản ngoài gỗ làm thuốc và thực phẩm tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Quang, tỉnh Hà Giang” đã hoàn thành Trước hết tôi xin bày tỏ
lòng biết ơn tới Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, quý thầy giáo, cô giáo trong và ngoài trường đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình học tập và thực tập làm luận văn tốt nghiệp
Nhân dịp này, cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với những sự giúp
đỡ quý báu đó, đặc biệt tới PGS TS Trần Quốc Hưng cùng chuyên gia thực vật Lê Mạnh Tuấn - Viện Điều tra Quy hoạch rừng là những người luôn tận tình chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Bên cạnh đó, tôi cũng không quên gửi lời cảm ơn trân trọng nhất đến Ban lãnh đạo, cùng tập thể cán bộ Khu BTTN Phong Quang, Ban lãnh đạo Trường Cao đẳng nghề tỉnh Hà Giang và bạn bè đồng nghiệp đã động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả luôn luôn cố gắng hết sức mình, nhưng chắc chắn những thiếu sót và hạn chế là điều không thể tránh khỏi, tôi rất mong nhận được sự góp ý quý báu từ phía các nhà khoa học cùng bạn bè đồng nghiệp để bản luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng 9 năm 2016
TÁC GIẢ
Nguyễn Bá Tuyên
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN! ii
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
4 Ý nghĩa của của Đề tài 2
4.1 Ý nghĩa khoa học 2
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Khái quát về lâm sản ngoài gỗ 4
1.1.1 Một số khái niệm về lâm sản ngoài gỗ 4
1.1.2 Phân loại lâm sản ngoài gỗ 5
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 8
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 8
1.2.1.1 Tình hình nghiên cứu các loài LSNG làm thuốc 8
1.2.1.1 Tình hình nghiên cứu các loài LSNG làm thực phẩm, gia vị 10
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 10
1.2.2.1 Tình hình nghiên cứu các loài LSNG làm thuốc 10
1.2.2.2 Tình hình nghiên cứu các loài LSNG làm thực phẩm, gia vị 17
1.3.1.2 Địa hình 20
1.3.1.3 Địa chất đất đai 21
1.3.1.4 Khí hậu, thuỷ văn 22
1.3.1.5 Đa dạng sinh học 24
1.3.1.6 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên 27
1.3.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 27
1.3.2.1 Dân số, dân tộc và lao động 27
1.3.2.2 Hệ thống cơ sở hạ tầng 28
Trang 61.3.2.3 Thực trạng phát triển văn hóa xã hội 30
1.3.2.4 Đánh giá chung về kinh tế xã hội trong khu vực 31
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Nội dung nghiên cứu 32
2.2 Phương pháp nghiên cứu 32
2.2.1 Phương pháp thu thập và phân tích số liệu thứ cấp 32
2.2.2 Điều tra thực địa về các loại LSNG được sử dụng tại cộng đồng 32
2.2.3 Phương pháp đánh giá cho điểm 35
2.2.4 Phương pháp xử lý tài liệu 36
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37
3.1 Những loài LSNG được sử dụng làm thuốc và thực phẩm 37
3.1.1 Những loài thực vật được sử dụng làm thuốc và thực phẩm tại Khu BTTN Phong Quang 37
3.2 Thực trạng khai thác và sử dụng thực vật rừng làm thuốc, thực phẩm của người dân trên địa bàn 42
3.2.1 Các loài thực vật quý hiếm tại Khu BTTN Phong Quang 42
3.2.2 Mục đích của những loài LSNG được khai thác làm thuốc, thực phẩm tại khu vực nghiên cứu 45
3.2.3 Thực trạng khai thác nguồn tài nguyên cây thuốc, thực phẩm 46
3.2.4 Tình hình sử dụng và tiêu thụ nguồn tài nguyên cây thuốc, thực phẩm 58
3.3 Nguyên nhân làm suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc, thực phẩm 61
3.4 Giải pháp bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững những loài LSNG làm thuốc, thực phẩm 65
3.4.1 Lựa chọn loài LSNG ưu tiên trong bảo tồn và phát triển 65
3.4.2 Giải pháp để bảo tồn và phát triển các sản phẩm này 66
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 69
1 Kết luận 69
2 Đề nghị 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72 PHỤ LỤC
Trang 7BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BTTN: Bảo tồn thiên nhiên
ĐTQHR: Điều tra quy hoạch rừng
FAO: Food and Agriculture Organization of the United Nations - Tổ chức
Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Số liệu quan trắng Khí tƣợng thủy văn theo tháng tại trạm khí tƣợng
thành phố Hà Giang 23
Bảng 1.2 Các kiểu thảm thực vật rừng Khu BTTN Phong Quang 24
Bảng 1.3 Phân bố các taxon theo các ngành của hệ thực vật Phong Quang 26
Bảng 1.4 Hiện trạng dân số và lao động các xã năm 2014 28
Bảng 3.1 Bảng phân nhóm giá trị sử dụng của thực vật LSNG tại Khu BTTN Phong Quang 37
Bảng 3.2 Thống kê nhóm bộ phận sử dụng theo nhóm công dụng 39
Bảng 3.4 Danh sách các loài thực vật trong sách đỏ Việt Nam và IUCN 42
Bảng 3.5 Mục đích khai thác LSNG tại Khu BTTN Phong Quang, tỉnh Hà Giang 45 Bảng 3.6 Thực trạng các loài LSNG khai thác cả cây, thân và dây làm thuốc 47
Bảng 3.7 Thực trạng các loài LSNG khai thác lá làm thuốc 49
Bảng 3.8 Thực trạng các loài LSNG khai thác rễ, củ làm thuốc 50
Bảng 3.9 Thực trạng các loài LSNG khai thác vỏ, nhựa làm thuốc 51
Bảng 3.10 Thực trạng các loài LSNG khai thác quả, hạt làm thuốc 52
Bảng 3.11 Thực trạng các loài LSNG khai thác thân, lá làm thực phẩm 55
Bảng 3.12 Thực trạng các loài LSNG khai thác củ làm thực phẩm 56
Bảng 3.13 Thực trạng các loài LSNG khai thác quả làm thực phẩm 57
Bảng 3.14 Mục đích khai khác và mức độ khai thác 59
Bảng 3.15 Các nguyên nhân dẫn đến suy giảm các loài LSNG sử dụng làm thuốc và thực phẩm tại khu vực nghiên cứu 63
Bảng 3.16 Đánh giá nhóm LSNG chủ yếu để phát triển dƣợc liệu, thực phẩm 66
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Sơ đồ vị trí khu bảo tồn thiên nhiên Phong Quang 20
Hình 2.1 Đường cong xác định loài LSNG làm thuốc và thực phẩm trong một cộng đồng có thể dùng phỏng vấn khi số loài không tăng 33
Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ phân nhóm LSNG theo giá trị sử dụng tại Khu BTTN Phong Quang, tỉnh Hà Giang 38
Hình 3.2 Biểu đồ tỉ lệ sử dụng các bộ phận của các loài cây làm thuốc Khu BTTN Phong Quang, tỉnh Hà Giang 40
Hình 3.3 Biểu đồ tỉ lệ sử dụng các bộ phận của các loài cây làm thực phẩm Khu BTTN Phong Quang, tỉnh Hà Giang 40
Hình 3.4 Biểu đồ tỉ lệ sử dụng các bộ phận nhóm loài cây làm thuốc và thực phẩm tại Khu BTTN Phong Quang, tỉnh Hà Giang 41
Hình 4.1: Một số loài làm thuốc trong vùng 54
Hình 4.2 Một số loài làm thực phẩm trong vùng 58
Hình 4.3 Thu hái mẫu tiêu bản và phỏng vấn người dân 60
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Hệ thực vật Việt Nam rất đa dạng về thành phần loài, phong phú về chủng loại Tuy nhiên, những hiểu biết của chúng ta về thực vật, đặc biệt là hiểu biết về nhóm cây ăn được và cây làm thuốc, nhóm cây đóng một vai trò quan trọng đối với đời sống con người, đặc biệt đối với đồng bào các dân tộc sống ở trung du và miền núi Hơn nữa, tập quán người vùng cao là khai thác cây ăn được mọc hoang dại từ
tự nhiên chưa chú ý nhiều đến việc gieo trồng hay xây dựng một qui trình nhân giống nào đáng kể Ngày nay với sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là sinh học phân tử ứng dụng trong công nghệ sinh học thì những ứng dung nhằm phát triển nhóm cây ăn được tai địa phương thông qua các chính sách khuyến lâm là rất khả thi Nhưng trước hết đó phải là việc điều tra, nghiên cứu, bảo tồn sau đó mới phát triển dựa vào các thành tựu mới của khoa học
Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Phong Quang, tỉnh Hà Giang được ghi nhận là đa dạng về thành phần loài, về hệ sinh thái và trạng thái rừng với khu hệ động thực vật quí hiếm có giá trị bảo tồn nguồn gen Theo thống kê chưa đầy đủ, ở khu vực này có khoảng 1.133 loài thực vật bậc cao, trong đó có nhóm cây làm thực phẩm và cây thuốc Đây là nhóm cây được người dân khai thác dưới nhiều hình thức Hơn thế, trong khi thu hái người dân địa phương chưa chú ý đến khai thác bền vững nên cần có sự hướng dẫn của cán bộ địa phương cũng như tổ chức các đợt tuyên truyền để nhân dân khai thác một cách bền vững Khu vực Phong Quang thuộc vùng núi cao nằm dọc biên giới Việt Nam - CHDCND Trung Hoa, giao thông
đi lại khó khăn, các dân tộc sinh sống trong khu Bảo tồn thiên nhiên có dân tộc H’mông, Dao, do đó việc nghiên cứu các loài thực vật nói chung và các loài thực vật có thể ăn được, từ đó đề xuất một số biện pháp bảo tồn, phát triển một số loài có giá trị nhằm cải thiện cuộc sống và nâng cao nhận thức của người dân trong việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên là rất quan trọng
Trước thực trạng như vừa nêu ở trên, nhằm góp phần sử dụng hợp lý LSNG
và nâng cao hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học tại Khu BTTN, việc thực hiện đề tài:
Trang 11“Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp khai thác Lâm sản ngoài gỗ làm thuốc và thực phẩm tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Quang, tỉnh Hà Giang”
để đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm bảo vệ, phát triển nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ một cách có hiệu quả
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Đề tài góp phần đánh giá được hiện trạng khai thác, sử dụng các loài thực vật rừng làm thuốc, thực phẩm ở Khu BTTN Phong Quang làm cơ sở đề xuất những giải pháp giúp chính quyền địa phương, người dân xác định được hướng bảo tồn, phát triển những loài LSNG quý giá
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu các loài cây LSNG hiện có ở Khu Bảo tồn dùng làm thuốc, thực phẩm
- Địa điểm nghiên cứu: Tại các xã thuộc Khu BTTN Phong Quang, huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang;
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 7/2015 đến tháng 7/2016
4 Ý nghĩa của của Đề tài
4.1 Ý nghĩa khoa học
- Rèn luyện kĩ năng và phương pháp nghiên cứu khoa học
- Biết vận dụng những kiến thức đã học áp dụng vào thực tiễn, được rèn luyện những k năng làm việc và các k năng khác trước khi tốt nghiệp
Trang 12- Có cách nhìn khách quan hơn về các loài LSNG làm thuốc và thực phẩm,
từ đó có những cơ sở phục vụ cho nghiên cứu và đề xuất các giải pháp khai thác nhằm bảo tồn, phát triển
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Thấy được vai trò quan trọng của LSNG đối với đời sống người dân và những giá trị của chúng Từ đó đề xuất được một số giải pháp phù hợp cho Ban quản lý Khu BTTN Phong Quang nhằm bảo tồn và phát triển các loài LSNG làm thuốc, thực phẩm
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Khái quát về lâm sản ngoài gỗ
1.1.1 Một số khái niệm về lâm sản ngoài gỗ
- LSNG bao gồm “tất cả sản phẩm sinh vật (trừ gỗ tròn công nghiệp, gỗ làm dăm, gỗ làm bột giấy) có thể lấy ra từ hệ sinh thái tự nhiên, rừng trồng được dùng trong gia đình, mua bán, hoặc có ý nghĩa tôn giáo, văn hóa xã hội” Việc sử dụng hệ sinh thái cho mục đích giải trí, BTTN, quản lý vùng đệm… thuộc về lĩnh vực dịch
- “Thực vật rừng gồm tất cả các loài cây, loài cỏ, dây leo bậc cao và bậc thấp phân bố trong rừng Những loài cây không cho gỗ hoặc ngoài gỗ còn cho các sản phẩm quý khác như nhựa Thông, quả Hồi, vỏ Quế hoặc sợi Song mây là thực vật
đặc sản rừng” [10];
- LSNG là tất cả những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật không kể gỗ, cũng như các dịch vụ có được từ rừng và đất rừng Dịch vụ trong định nghĩa này như là những hoạt động từ du lịch sinh thái, làm dây leo, thu gom nhựa và các hoạt động liên quan đến thu hái và chế biến những sản phẩm này [5];
- LSNG bao hàm tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ, được khai thác từ rừng
tự nhiên phục vụ mục đích của con người Bao gồm các sản phẩm là động vật sống,
nguyên liệu thô và củi, song mây, tre nứa, gỗ nhỏ và sợi [5];
- LSNG là các sản phẩm nguồn gốc sinh vật, loại trừ gỗ lớn, có ở rừng, ở đất
rừng và ở các cây bên ngoài rừng [5];
- Theo Vũ Tiến Hinh và Phạm Văn Điển (2003) “LSNG bao gồm tất cả các sản phẩm có nguồn gốc sinh học và các dịch vụ thu được từ rừng hoặc từ bất kỳ vùng đất nào có kiểu sử dụng đất tương tự, loại trừ gỗ lớn ở tất cả các hình thái của nó” (Dẫn theo Nguyễn Thị Thoa, 2006) [28];
Trang 14Theo các định nghĩa như đã nêu ở trên, LSNG là một phần tài nguyên rừng Như vậy, đi tìm chỉ một định nghĩa cho LSNG là không thể Định nghĩa này có thể thay đổi phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, vào quan điểm sử dụng, phát triển tài nguyên và nhu cầu khác Các loại sản phẩm ngoài gỗ sẽ ngày càng được tăng lên
do sự tìm tòi, phát hiện giá trị của chúng để phục vụ cuộc sống cho con người, chúng gồm các sản phẩm qua chế biến hoặc không cần qua chế biến
1.1.2 Phân loại lâm sản ngoài gỗ
Hiện nay, có rất nhiều loại LSNG được điều tra, phát hiện, khai thác và sử dụng Đối tượng và mục tiêu sử dụng, nghiên cứu LSNG cũng rất đa dạng (người dân, thương nhân, nhà quản lý, nhà nghiên cứu…) Chính vì vậy, việc phân loại chúng có rất nhiều quan điểm khác nhau
Dưới đây sẽ trình bày một số phương pháp phân loại LSNG đang được sử dụng phổ biến hiện nay:
- Phương pháp phân loại LSNG theo hệ thống sinh: Đây là cách phân loại
các LSNG theo hệ thống tiến hóa của sinh giới Theo phân loại kinh điển, sinh giới được chia là hai giới chính: Động vật và thực vật Giới động vật và giới thực vật, tuy rất phong phú và đa dạng nhưng đều có thể sắp xếp một cách khách quan vào hệ thống các bậc phân loại từ lớn đến nhỏ: Giới\ngành\lớp\bộ\họ\loài Ưu điểm của cách phân loại này là thấy được mối quan hệ thân thuộc giữa các loài và nhóm loài cùng sự tiến hóa của chúng Phương pháp này chú ý nhiều đến đặc điểm sinh học của loài Nhược điểm là đòi hỏi người sử dụng phải có những hiểu biết nhất định về phân loại động, thực vật [9]
- Phương pháp phân loại LSNG theo nhóm giá trị sử dụng: Là cách phân
loại mà các LSNG khác nhau không kể nguồn gốc trong hệ thống sinh, nơi phân bố… có cùng giá trị sử dụng thì được xếp trong cùng một nhóm Ví dụ: Một hệ
thống phân loại LSNG thực vật theo nhóm công dụng như sau: Nhóm cây cho lương thực, thực phẩm; nhóm cây cho sợi; nhóm cây cho tananh; nhóm cây cho màu nhuộm; nhóm cây làm dược liệu; nhóm cây cho nhựa, sáp, sơn; nhóm cây dùng làm vật liệu nhẹ và thủ công mỹ nghệ; nhóm cây làm cản, cho bóng mát
Trang 15+ Ưu điểm của phương pháp này là đơn giản, dễ áp dụng và sử dụng nhiều kiến thức bản địa của người dân, nên người dân dễ nhớ, đồng thời khuyến khích được họ tham gia trong quá trình quản lý tài nguyên Ngoài ra phương pháp này cũng được các nhà kinh doanh, nhà nghiên cứu LSNG quan tâm;
+ Nhược điểm của phương pháp này chỉ mới nhấn mạnh tới giá trị sử dụng,
mà chưa đề cập đến đặc điểm sinh vật học (đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố…) của các loài, nên khả năng nhận biết các loài gặp nhiều khó khăn hơn nữa một số loài
có nhiều công dụng khi phân loại dễ bị trùng vào nhiều nhóm khác nhau
Hệ thống phân loại khác lại dựa vào các sản phẩm LSNG, như hệ thống phân
loại đã thông qua trong Hội nghị LSNG Thái Lan, tháng 11/1991 (Bài giảng LSNG,
2002 Dự án LSNG, Hà Nội) Trong hệ thống này LSNG được chia làm 6 nhóm:
Nhóm 1- Các sản phẩm có sợi: tre nứa, song mây, lá và thân có sợi và các loại cỏ;
Nhóm 2 - Sản phẩn làm thực phẩm: các sản phẩm nguồn gốc thực vật: thân, chồi, rễ, củ, lá, hoa, quả, quả hạch, gia vị, hạt có dầu và có nấm Các sản phẩm nguồn gốc động vật: mật ong, thịt động vật rừng, cá, trai ốc, tổ chim ăn được, trứng
Nhóm 6 - Các sản phẩm khác: như lá Bidi (lá thị rừng dùng gói thuốc lá ở
Trang 16Ở Ấn Độ người ta đề xuất một hệ thống phân loại LSNG tiêu chuẩn Hệ thống phân loại này được chia làm hai nhóm chính: nhóm các sản phẩm (I) và nhóm các dịch vụ (II);
Trong đó nhóm (I) bao gồm 3 nhóm sản phẩm phụ đó là: (a) LSNG có nguồn gốc từ thực vật; (b) LSNG có nguồn gốc từ động vật và (c) LSNG có nguồn gốc từ khoáng vật Nhóm II gồm các dịch vụ như: du lịch, giải trí, xem động vật hoang dã…;
Ở Việt Nam, khung phân loại LSNG đầu tiên được chính thức thừa nhận bằng văn bản đó là “Danh mục các loài đặc sản rừng được quản lý thống nhất theo ngành” Đây là văn bản kèm theo Nghị định 160-HĐBT ngày 10/12/1984 của Hội đồng bộ trưởng về việc thống nhất quản lý các đặc sản rừng
Theo danh mục này đặc sản rừng được chia làm 2 nhóm lớn: Hệ cây rừng và
Hệ động vật rừng Mỗi nhóm lớn lại chia nhiều nhóm phụ sau:
Mặc dù còn vài điểm chưa hợp lý, tuy nhiên có hệ thống phân loại LSNG trên là một mốc quan trọng, đánh giá sự tiến bộ về nhận thức, sự hiểu biết về LSNG của Việt Nam
Trang 171.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.2.1.1 Tình hình nghiên cứu các loài LSNG làm thuốc
Trên thế giới, nghiên cứu về cây thuốc có nhiều thành công và quy mô rộng phải kể đến Trung Quốc Có thể khẳng định Trung Quốc là quốc gia đi đầu trong việc
sử dụng cây thuốc để chữa bệnh Vào thế kỷ 16 Lý Thời Trân đưa ra “Bản thảo cương mục” sau đó năm 1955 cuốn bản thảo này đã được in ấn lại Nội dung cuốn sách đã đưa tới cho người cách sử dụng các loại cây cỏ để chữa bệnh Năm 1954 tác giả Từ Quốc Hân đã nghiên cứu thành công công trình “Dược dụng thực vật cấp sinh
lý học” Cuốn sách này giới thiệu tới người đọc cách sử dụng từng loại cây thuốc, tác dụng sinh lý, sinh hoá của chúng, công dụng, cách phối hợp các loài cây thuốc treo từng địa phương như “Giang Tô tỉnh thực vật dược tài chí”, “Giang Tô trung dược
danh thực đồ khảo”, “Quảng Tây trung dược trí” (Dẫn theo Phạm Thanh Huyền, Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Nguyễn Thuý Bình 2000 [17];
Năm 1992, J.H de Beer - một chuyên gia LSNG của tổ chức Nông lương thế giới - khi nghiên cứu về vai trò và thị trường của LSNG đã nhận thấy giá trị to lớn của thảo quả đối với việc tăng thu nhập cho người dân sống trong khu vực vùng núi nơi có phân bố thảo quả nhằm xoá đói giảm nghèo, đồng thời là yếu tố thúc đẩy sự phát triển KT-XH vùng núi và bảo tồn phát triển tài nguyên rừng Về nhu cầu thị trường của thảo quả là rất lớn, chỉ tính riêng ở Lào, hàng năm xuất khẩu khoảng 400 tấn sang Trung Quốc và Thái Lan Đây là công trình nghiên cứu tổng kết về vai trò thảo quả đối với con người, xã hội cũng như tình hình sản xuất buôn bán và dự báo thị
trường, tiềm năng phát triển của thảo quả (Dẫn theo Phan Văn Thắng, 2002) [31];
Năm 1996, Tiền Tín Trung, một nhà nghiên cứu về cây thuốc dân tộc tại Viện Vệ sinh dịch tễ công cộng Trung Quốc biên soạn cuốn sách “Bản thảo bức tranh màu Trung Quốc” Cuốn sách đã mô tả tới hơn 1.000 loài cây thuốc ở Trung Quốc, một trong số đó là thảo quả Nội dung đề cập là: Tên khoa học, một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học cơ bản, công dụng và thành phần hoá học của
thảo quả (Dẫn theo Phan Văn Thắng, 2002) [31];
Trang 18Năm 1999, trong cuốn “Tài nguyên thực vật của Đông Nam Á” L.S de Padua, N Bunyapraphatsara và R.H.M.J Lemmens đã tổng kết các nghiên cứu về các cây thuộc chi Amomum trong đó có thảo quả Ở đây tác giả đề cập đến đặc điểm phân loại của thảo quả, công dụng, phân bố, một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của thảo quả Tác giả cũng trình bày k thuật nhân giống, trồng, chăm sóc bảo
vệ, thu hái, chế biến, tình hình sản xuất và buôn bán thảo quả trên thế giới (Dẫn theo
Phan Văn Thắng, 2002) [31];
Theo ước tính của Qu Quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF) có khoảng 35.000-70.000 loài trong số 250.000 loài cây được sử dụng vào mục đích chữa bệnh trên toàn thế giới Nguồn tài nguyên cây thuốc này là kho tàng vô cùng quý giá của các dân tộc hiện đang khai thác và sử dụng để chăm sóc sức khoẻ, phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc của các nền văn hoá Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ngày nay có khoảng 80% dân số các nước đang phát triển có nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ban đầu phụ thuộc vào nguồn dược liệu hoặc qua các chất chiết xuất từ
dược liệu (Dẫn theo Nguyễn Văn Tập, 2006) [23];
Ngay từ những năm 1950 các nhà khoa học nghiên cứu về cây thuốc của Liên Xô đã có các nghiên cứu về cây thuốc trên quy mô rộng lớn Năm 1952 các tác giả A.l Ermakov, V.V Arasimovich, đã nghiên cứu thành công công trình
“Phương pháp nghiên cứu hoá sinh - sinh lý cây thuốc” Công trình này là cơ sở cho việc sử dụng và chế biến cây thuốc đạt hiệu quả tối ưu nhất, tận dụng tối đa công dụng của các loài cây thuốc Các tác giả A.F.Hammermen, M.D Choupinxkaia và A.A Yatsenko đã đưa ra được giá trị của từng loài cây thuốc (cả về giá trị dược liệu
và giá trị kinh tế) trong tập sách “Giá trị cây thuốc” Năm 1972 tác giả N G Kovalena đã công bố rộng rãi trên cả nước Liên Xô (cũ) việc sử dụng cây thuốc vừa mang lại lợi ích cao vừa không gây hại cho sức khoẻ của con người Qua cuốn sách
“Chữa bệnh bằng cây thuốc” tác giả Kovalena đã giúp người đọc tìm được loại cây
thuốc và chữa đúng bệnh với liều lượng đã được định sẵn (Dẫn theo Lã Đình Mỡi, 2003) [20];
Tiến s James A.Dule - nhà dược lý học người m đã có nhiều đóng góp cho
tổ chức Y tế Thế giới (WHO) trong việc xây dựng danh mục các loài cây thuốc, cách thu hái, sử dụng, chế biến và một số thận trọng khi sử dụng các loại cây thuốc (Dẫn
theo Trần Thị Lan, 2005) [19]
Trang 191.2.1.1 Tình hình nghiên cứu các loài LSNG làm thực phẩm, gia vị
Nhiều nước trên thế giới như Brazil, Colombia, Equado, Bolivia, Thái Lan, Inđonesia, Malaysia, Ấn Độ, Trung Quốc đã và đang nghiên cứu các sản phẩm LSNG, trong đó có các loại rau, quả rừng mang lại nhiều dinh dưỡng, nhằm nâng cao đời sống của người dân bản địa và bảo vệ đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng
địa phương [32];
Mendelsohn, 1989 đã căn cứ vào giá trị sử dụng của LSNG để phân thành 5 nhóm: Các sản phẩm thực vật ăn được, keo dán và nhựa, thuốc nhuộm và ta nanh, cây cho sợi, cây làm thuốc Ông cũng căn cứ vào thị trường tiêu thụ để phân LSNG thành 3 nhóm: Nhóm bán trên thị trường, nhóm bán ở địa phương và nhóm sử dụng trực tiếp bởi người thu hoạch Nhóm thứ ba thường chiếm tỷ trọng rất cao nhưng lại chưa tính được giá trị Theo Mendelsohn chính điều này đã làm cho LSNG trước đây bị lu mờ và ít được chú ý đến [31];
Theo Falconer, 1993, hầu hết mọi người đều thừa nhận LSNG như một yếu
tố quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội miền núi Ở Ghana, LSNG có vai trò cung cấp thực phẩm, thuốc chữa bệnh, vật liệu xây dựng, đồng thời cũng chiếm gần 90% nguồn thu nhập của các hộ gia đình [31]
Để thuận tiện cho việc nghiên cứu C Chandrasekhanran (1995) - một chuyên gia LSNG của FAO, đã chia LSNG thành 4 nhóm chính như sau:
A Cây sống và các bộ phận của cây;
B Động vật và các sản phẩm của động vật;
C Các sản phẩm được chế biến (các gia vị, dầu, nhựa thực vật );
D Các dịch vụ từ rừng [31]
Các nghiên cứu chỉ ra rằng rừng nhiệt đới không chỉ phong phú về tài nguyên
gỗ mà còn đa dạng về các loại thực vật cho sản phẩm ngoài gỗ Khi nghiên cứu đa dạng LSNG trong phạm vi một bản ở Thakek, Khammouan, Lào người ta đã thống kê được 306 loài LSNG trong đó có 223 loài làm thức ăn [31]
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.2.2.1 Tình hình nghiên cứu các loài LSNG làm thuốc
Vào những năm 1960 đến những năm 1980, một số nhà khoa học khi nghiên
Trang 20cứu về cây thuốc ở nước ta đề cập đến thảo quả Do thảo quả là cây “truyền thống”,
có đặc thù riêng khác với một số loài LSNG là có phạm vi phân bố hẹp, chúng được trồng chủ yếu dưới tán rừng ở các tỉnh phía Bắc như Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang nên
các nhà khoa học ít quan tâm Các công trình nghiên cứu liên quan còn tản mạn [31];
Sau năm 1975, Vằng đắng (Coscinium fenestrum) nguồn nguyên liệu cho
berberin coi là có vùng phân bố rộng, có trữ lượng lớn Song chỉ sau hơn chục năm khai thác loài Vằng Đắng đã trở nên rất hiếm và ở tình trạng sẽ nguy cấp (V) trong
sách đỏ Việt Nam Ba Kích (Morinda offcinalis) là một cây thuốc có tác dụng tăng
cường khả năng sinh dục ở nam giới, chữa thấp khớp và một số bệnh khác đã bị khai thác mỗi năm vài chục tấn liên tục nên đã cạn kiệt [33];
Năm 1975, khi nghiên cứu về các vị thuốc Việt Nam Tác giả Đỗ Tất Lợi đã cho rằng: thảo quả là loài cây thuốc được trồng ở nước ta vào khoảng năm 1990 Trong thảo quả có khoảng 1-1,5% tinh dầu màu vàng nhạt, mùi thơm, ngọt, vị nóng cay dễ chịu có tác dụng chữa các bệnh đường ruột Đây là một công trình nghiên cứu khẳng định công dụng của thảo quả ở nước ta Tuy nội dung nghiên cứu về thảo quả của công trình còn ít, nhưng nó đã phần nào mở ra một triển vọng cho việc sản xuất và sử dụng thảo quả trong y học ở nước ta [31];
Năm 1982, Giáo sư Đoàn Thị Nhu công bố kết quả nghiên cứu của mình về
“Bảo vệ, khai thác nguồn tài nguyên cây thuốc thiên nhiên và phát triển trồng cây thuốc trên rừng ở Việt Nam” Trong đó tác giả kết luận: thảo quả là cây dược liệu quý
và thích nghi tốt ở điều kiện dưới tán rừng, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào về k thuật gây trồng thảo quả dưới tán rừng [31];
Theo kết quả điều tra của Viện Dược liệu Bộ Y tế năm 1985, nước ta có
1863 loài cây thuốc thuộc 236 họ thực vật Theo giáo sư Võ Văn Chi trong cuốn
“Từ điển cây thuốc” số loài cây thuốc ở Việt Nam là trên 3000 loài Trên 3/4 cây trong số này là những cây mọc tự nhiên, phần lớn sinh sống ở rừng Kết quả điều tra
sơ bộ ban đầu ở rừng một số tỉnh miền bắc cho thấy tỷ lệ cây làm thuốc thường chiếm tỷ lệ rất cao [33];
Trang 21Trong những năm qua, chỉ riêng ngành y học dân tộc cổ truyền nước ta đã khai thác một lượng dược liệu khá lớn Theo thống kê chưa đầy đủ thì năm 1995, chỉ riêng ngành đông dược cổ truyền tư nhân đã sử dụng tới 20.000 tấn dược liệu khô đã chế biến từ khoảng 200 loài cây Nhu cầu cho công nghiệp chế biến dược phẩm, m phẩm, hương phẩm cần khoảng 20.000 tấn Ngoài ra còn xuất khẩu khoảng trên 10.000 tấn nguyên liệu thô Việc khai thác liên tục, không có kế hoạch, không hợp lý đã đặt hàng trăm loài cây thuốc trước hoạ tuyệt chủng [33];
Khi phát hiện được tác dụng an thần rất ưu việt của I-tetrahudropalmatin từ
rễ củ của một số loài Bình vôi (Stephania spp) thì việc khai thác chúng đã được tiến
hành ồ ạt Để tách chiết một loại ancloit I-tetrahudropalmatin làm thuốc ngủ rotundin người ta đã khai thác một hỗn hợp củ của rất nhiều loại Bình vôi mà trong
đó có loại không chứa hoặc chỉ chứa hàm lượng I-tetrahydropalmatin không đáng
kể Do khai thác bừa bãi để chế biến trong nước hoặc bán nguyên liệu thô qua biên giới sang Trung Quốc mà nhiều loại Bình vôi đã trở nên rất hiếm Đến năm 1996, tuy mới biết được trên 10 loài thuốc chi Binh vôi (Stephania) thì đã có 4 loài phải đưa vào Sách đỏ Việt Nam [33];
Nguyễn Ngọc Bình và cs, 2001 trồng cây nông nghiệp, dược liệu và đặc sản dưới tán rừng, giới thiệu k thuật gây trồng các loài cây dưới tán rừng để tạo ra sản phẩm, tăng thu nhập cho các hộ gia đình nhận khoán, bảo vệ, khoanh nuôi rừng Tác giả đã giới thiệu giá trị kinh tế, đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố, k thuật gây trồng 28 loài LSNG như: Ba kích, sa nhân, thảo quả, trám trắng, mây nếp,…[4];
Phạm Thanh Huyền và cs, 2000 tìm hiểu việc khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn cây thuốc của người Dao xã Địch Quả - huyện Thanh Sơn - tỉnh Phú Thọ Kết quả nghiên cứu cho thấy kiến thức về việc sử dụng nguồn cây thuốc của đồng bào dân tộc Dao ở đây Với kiến thức đó, họ có thể chữa khỏi rất nhiều loại bệnh nan y bằng những bài thuốc cổ truyền Tuy nhiên, những kiến thức quý báu này chưa được phát huy và có cách duy trì hiệu quả, có tổ chức Tác giả đã chỉ rõ những loài thực vật rừng được người dân sử dụng làm thuốc, nơi phân bố, công dụng, cách thu hái chúng Thêm vào đó, họ còn đưa ra một cách rất chi tiết về mục đích, thời
vụ và các điều kiêng kị khi thu hái cây thuốc; đánh giá mức độ tác động của người dân địa phương, nguyên nhân làm suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc [18];
Trang 22Trước yêu cầu bảo tồn và trồng thêm Ba kích để làm thuốc, từ năm 1994 đến
2002, Viện Dược liệu đã phối hợp với một số hộ nông dân ở huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xây dựng thành công một số mô hình trồng cây Ba kích Trong đó có mô hình
Ba kích trồng xen ở vườn gia đình và vườn trang trại, mô hình trồng Ba kích ở đồi và đất nương rấy cũ Bước đầu các mô hình này đã đem lại những hiệu quả đáng kể [11];
Ở nước ta số loài cây làm thuốc được ghi nhận trong thời gian gần đây không ngừng tăng lên: Năm 1952: Toàn Đông Dương có 1.350 loài; Năm 1986: Việt Nam
đã biết có 1.863 loài; Năm 1996: Việt Nam đã biết có 3.200 loài; Năm 2000: Việt Nam đã biết có 3.800 loài [20];
Trần Khắc Bảo, 2003, Cây thuốc - nguồn tài nguyên LSNG đang có nguy cơ cạn kiệt, đã đưa ra một số nguyên nhân làm cạn kiệt nguồn tài nguyên cây thuốc như diện tích rừng bị thu hẹp, chất lượng rừng suy thoái hay quản lý rừng còn nhiều bất cập chồng chéo, kém hiệu quả Từ đó tác giả cho rằng chiến lược bảo tồn tài nguyên cây thuốc là bảo tồn các hệ sinh thái, sự đa dạng các loài (trước hết là các loài có giá trị y học và kinh tế, quý hiếm, đặc hữu, có nguy cơ tuyệt chủng) và sự đa dạng di truyền Bảo tồn cây thuốc phải gắn liền với bảo tồn và phát huy trí thức y học cổ truyền và y học dân gian gắn với sử dụng bền vững và phát triển cây thuốc [6];
Ninh Khắc Bản, 2003 khi nghiên cứu các biện pháp phát triển bền vững nguồn tài nguyên thực vật phi gỗ tại VQG Hoàng Liên, đã thống kê được 29 loài cây dùng làm thuốc và cây cho tinh dầu Trong đó tác giả đã lựa chọn được một số loài cây triển vọng để đưa vào phát triển: Thảo quả, Thiên niên kiện, Xuyên khung, [2];
Nguyễn Văn Thành và cs, 2004 nghiên cứu một số bài thuốc, cây thuốc dân gian của cộng đồng dân tộc thiểu số tại buôn Đrăng Phốk - Vùng lõi VQG Yok Đôn -
Huyện Buôn Đôn - Tỉnh Đak La, Nghiên cứu đã chỉ ra từ cộng đồng các bài thuốc,
cây thuốc dân gian dùng để trị các loại bệnh thường gặp trong cuộc sống từ đó lựa chọn các bài thuốc, cây thuốc hay, quan trọng để bảo tồn và phát triển nhân rộng dựa trên cơ sở sự lựa chọn có sự tham gia của người dân Đề tài đã ghi nhận được 46 bài thuốc với tổng cộng 69 loài cây làm thuốc mà người dân tại cộng đồng đã sử dụng để điều trị từ các bệnh thông thường đến các bệnh có thể gọi là nan y và đã sắp xếp thành 9 nhóm các bài thuốc theo nhóm bệnh [29];
Trang 23Ngô Quý Công và cs đề xuất về bảo tồn và phát triển nguồn cây thuốc tại VQG Tam Đảo, trong 2 năm 2004 - 2005 nhóm nghiên cứu đã tiến hành điều tra việc khai thác, sử dụng cây thuốc nam tại vùng đệm của Vườn quốc gia, nghiên cứu k thuật nhân giống, gây trồng một số loài cây thuốc quý nhằm bảo tồn và phát triển cho mục đích gây trồng thương mại Đề tài được Qu nghiên cứu của Dự án hỗ trợ chuyên ngành LSNG tại Việt Nam - pha II tài trợ, nghiên cứu chỉ rõ phương pháp thu hái cũng là vấn đề cần quan tâm, việc thu hái bằng cách đào cả cây do bộ phận dùng chủ yếu là rễ, củ làm cho số lượng loài suy giảm nhanh chóng và đây cũng là nguy cơ dẫn đến sự khan hiếm, thậm chí là sự tuyệt chủng của một số lớn các cây thuốc Vì vậy, việc nhân giống nhằm mục đích hỗ trợ cây giống cho người dân có thể trồng tại vườn nhà cũng như xây dựng các vườn cây thuốc tại địa phương để giảm áp lực thu hái cây thuốc trong rừng tự nhiên là việc làm rất cần thiết và đưa ra những giải pháp
và đề xuất hợp lý để bảo tồn và phát triển [8];
Theo tác giả Nguyễn Văn Tập (2005), để bảo tồn cây thuốc có hiệu quả cần phải tiến hành công tác điều tra quy hoạch, bảo vệ và khai thác bền vững, tăng cường bảo tồn cây thuốc trong hệ thống các khu rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, bảo tồn chuyển vị kết hợp với nghiên cứu gieo trồng tại chỗ, có như vậy thì các loại cây thuốc quý hiếm mới thoát khỏi nguy cơ bị tuyệt chủng, đồng thời lại tạo ra thêm nguyên liệu
để làm thuốc ngay tại các vùng phân bố vốn có của chúng [22];
Năm 2006 nhóm tác giả thuộc Trung tâm nghiên cứu Lâm đặc sản - Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam phối hợp với Viện Dược liệu đã tổ chức điều tra nguồn tài nguyên cây thuốc tại xã Đồng Lâm, huyện Hoàng Bồ, tỉnh Quảng Ninh và đã ghi nhận được 288 loài thuộc 233 chi, 107 họ và 6 ngành thực vật Tất cả đều là những cây thuốc mọc hoang dại trong các quần xã rừng thứ sinh và đồi cây bụi Trong đó có 8 loài được coi là mới (chưa có tên trong danh lục cây thuốc Việt Nam) [23];
Lê Thị Diên và cs, 2006 k thuật gây trồng một số loài cây thuốc nam dưới
tán rừng tự nhiên, , trong bối cảnh nguồn tài nguyên dược liệu thiên nhiên đang bị khai thác cạn kiệt cần thiết phải có các hoạt động bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây dược liệu do chính người dân sống gần rừng thực hiện nhằm sử dụng bền vững nguồn tài nguyên này trong tương lai K thuật tạo cây con và gây trồng
Trang 24các loài cây Bách bệnh, Bình vôi, Bồng Bồng, Lá khôi, Vàng đắng đã được người dân tại thôn Hà An áp dụng rộng rãi Các cây thuốc nam được gây trồng có tỷ lệ sống cao, sức sinh trưởng tốt, hứa hẹn sẽ đóng góp đáng kể vào nguồn thu nhập cho các hộ gia đình tham gia gây trồng Công trình nghiên cứu này nhằm cung cấp k thuật gây trồng một số loài cây thuốc nam được người dân sử dụng nhiều dựa trên kinh nghiệm của người dân kết hợp với những thử nghiệm từ đề tài phát triển cây thuốc nam tại thôn Hà An [12];
Thực trạng khai thác sử dụng và tiềm năng gây trồng cây thuốc tại VQG Tam Đảo và vùng đệm, 2008, Đỗ Hoàng Sơn và cs Qua điều tra họ thống kê được tại Vườn quốc Gia Tam Đảo và vùng đệm có 459 loài cây thuốc thuộc 346 chi và 119 họ trong 4 ngành thực vật là: Equisetophyta, Polypodiophyta, Pinophyta và Magnoliophyta Người dân thuộc vùng đệm ở đây chủ yếu là người Dao và Sán Dìu
sử dụng cây thuốc để chữa 16 nhóm bệnh khác nhau Trong đó trên 90% số loài được
sử dụng thu hái trong rừng tự nhiên Mỗi năm có khoảng hơn 700 tấn thuốc tươi từ Vườn quốc gia Tam đảo được thu hái để buôn bán Nguồn tài nguyên cây thuốc ở đây đang bị suy giảm khoảng 40% so với 5 năm trước đây Trên cơ sở các nghiên cứu tác giả đã đề xuất 26 loài cây thuốc cần được ưu tiên và đưa vào bảo tồn [21];
Từ nhiều năm qua, Viện Dược liệu đã thu thập hơn 500 loài cây thuốc đem
về trồng, nhân giống ở các vườn cây thuốc 65 loài có nguy cơ cao đã được trồng ở Trạm nghiên cứu trồng cây thuốc Sa Pa (Lào Cai), Vườn trạm nghiên cứu trồng cây thuốc Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Vườn Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến thuốc
Hà Nội (Thanh Trì), Vườn Trung tâm nghiên cứu dược liệu Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa) và vườn bảo tồn cây thuốc vùng cao Phó Bảng (Đồng Văn - Hà Giang) Các vườn thuốc này có đủ điều kiện giống như điều kiện sống tự nhiên của chúng và lý lịch thu thập, ngày trồng, tình hình sinh trưởng phát triển, ra hoa - quả được ghi lại để đánh giá khả năng bảo tồn [16];
Danh sách một số loài cây dược liệu có giá trị cao trên thị trường được người dân bán tại chợ Sapa do tổ chức y tế Thế giới (WHO) và Viện Đông y thống kê như sau: Bạch chỉ, Bạch thược, Bạch truật, Cam thảo, Đại táo, Đẳng sâm, Đỗ trọng, Đ-ương qui, Hà thủ ô đỏ, Hà thủ ô trắng, Liên nhục, Hoài sơn, Hoàng kỳ, Huyền sâm,
Trang 25Mạch môn, Ngũ gia bì chân chim, Ngũ gia bì gai, Ngu tất, Sâm nam, Thổ phục linh, Thục địa Trong số dược liệu này chỉ có một số rất nhỏ có nguồn gốc Trung Hoa như Đương qui, Đại táo, số còn lại là sản phẩm có nguồn gốc từ rừng của Việt Nam [28];
TS Lê S Trung và cs kiến thức bản địa trong bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc tại xã San Thành - thị xã Lai Châu Qua điều tra, nghiên cứu tác giả đã thống kê 51 loài cây thuốc đang được khai thác và sử dụng Xác định các loài cây thuốc được đưa vào bảo tồn và phát triển Thực trạng quản lý, bảo vệ, nguyên nhân làm suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc tại địa phương và đề xuất một số giải pháp chủ yếu cho việc quản lý, bảo vệ và phát triển [25];
Trồng Sương Sâm từ hạt bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, Lưu Hồng Trường,
2005 Sương Sâm là tên gọi một loài dây leo, có tên khoa học là Cyclea barbata
Miers (Cyclea wal-lichii Diels; C.cliiata Cb) thuộc họ menispermaceae Juss Ở
Miền Nam, Sương Sâm có tên gọi là dây sâm hay sâm lông Tất cả các phần của
dây Sương Sâm đều có thể được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau Phổ biến nhất là việc sử dụng lá (đôi khi cả dây) của dây Sương Sâm để chế biến thành một
loại nước giải khát rất thông dụng ở vùng núi nông thôn miền Nam Việt Nam Tác
giả đã nghiên cứu: canh tác dây Sương Sâm và tác động đến tài nguyên thiên nhiên, cách thu hoạch và bảo quản hạt Sương Sâm để làm giống, một số ưu điểm và nhược điểm của hai phương pháp trồng Sương Sâm trồng từ rễ và trồng từ hạt [26];
Vừa qua Viện Dược liệu và Bộ môn Dược liệu - Trường Đại học Dược Hà Nội đã tiến hành nghiên cứu định tính và định lượng một số nhóm chất trong cây Chè đắng mọc tại Cao Bằng Kết quả nghiên cứu cho thấy trong lá Chè đắng có 5 nhóm chất: Saponin tổng, flavonoid tổng, polysaccharid tổng, carotenoid và các axít hữu cơ Đây là những nhóm chất có nhiều tác dụng sinh học quan trọng và từ lâu đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu [26];
Phạm Minh Toại và cs, 2005 Dược thảo trong rừng mưa nhiệt đới, tác giả chỉ
ra: với mức độ mất rừng như hiện nay thì hệ thực vật và động vật giàu có ở vùng nhiệt đới, bao gồm cả các loài dược thảo đã biết hoặc đang ở dạng tiềm năng sẽ bị huỷ diệt và các kiến thức bản địa liên quan cũng ít có cơ hội tồn tại Việc mất rừng nhiệt đới rõ ràng đang đe doạ sự an toàn của loài người thông qua các tác động cùng
Trang 26tăng lẫn nhau như: trượt lở đất, lũ lụt và hoang mạc hoá, xói mòn đất và sự lây nhiễm một số bệnh tật Tuy nhiên, sự tuyệt chủng của những loài dược thảo và sự mất đi của những thầy thuốc nam giỏi ở địa phương (thầy lang) còn là một nguy cơ lớn hơn nhiều đối với sức khoẻ con người ở cả các nước đang phát triển và các nước phát triển [30];
Nguyễn Văn Tập, 2005 một số vấn đề bảo tồn cây thuốc mọc tự nhiên ở rừng Trong nguồn LSNG ở Việt Nam, cây thuốc chiếm một vị trí quan trọng về thành phần loài cũng như về giá trị sử dụng và kinh tế Theo kết quả điều tra cơ bản của Viện Dược liệu (Bộ Y tế) đến năm 2004 đã phát hiện được ở nước ta có 3.948 loài thuộc 1.572 chi và 307 họ thực vật (kể cả rêu và nấm) có công dụng làm thuốc Trong
số đó, trên 90% tổng số loài là cây thuốc mọc tự nhiên, chủ yếu trong các quần hệ rừng Rừng cũng là nơi tập hợp hầu hết cây thuốc quý có giá trị sử dụng và kinh tế cao Tuy nhiên, do khai thác không chú ý đến tái sinh trong nhiều năm qua, cùng với nhiều nguyên nhân khác, nguồn cây thuốc mọc tự nhiên ở Việt Nam đã bị giảm sút nghiêm trọng, đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng cao [22]
1.2.2.2 Tình hình nghiên cứu các loài LSNG làm thực phẩm, gia vị
Khi nghiên cứu về LSNG ở nước ta, các công trình nghiên cứu đều khẳng định: LSNG chính là một yếu tố cho phát triển kinh tế xã hội miền núi LSNG đã là nguồn cung cấp các thực phẩm, thuốc chữa bệnh phục vụ cho cuộc sống của người dân ở nông thôn miền núi Trong quá trình sử dụng, giá trị của LSNG được phát hiện ngày càng nhiều, vai trò của LSNG đối với phát triển KT-XH miền núi càng lớn [29];
Nguyễn Tiến Bân và cs, 1994 một số rau dại ăn được ở Việt Nam Các nhà nghiên cứu đã thống kê được 113 loài thực vật rừng làm thực phẩm, gia vị có ở Việt Nam và tìm hiểu giá trị dinh dưỡng, phân biệt rau ăn được và rau độc, đặc điểm nơi sống, cách thu hái, chế biến… Đây là một đề tài khoa học của nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu đã điều tra, khảo sát, tìm hiểu, trong một thời gian dài đầy công phu và
tỉ mỉ trên nhiều vùng sinh thái khác nhau [3];
Nguyễn Văn Sản và cs, 1999 khi nghiên cứu ở VQG Ba Vì đưa ra kết luận: LSNG là nguồn thu nhập quan trọng đối với cuộc sống của người dân nông thôn Tác giả cho rằng một trong những nguyên nhân mất rừng, làm suy thoái đa dạng
Trang 27sinh học có nguồn gốc từ đời sống khó khăn của người dân, LSNG bị sử dụng không hợp lý, cạn kiệt Một trong những giải pháp có hiệu quả để giải quyết vấn đề đời sống khó khăn của người dân mà vẫn bảo tồn và phát triển rừng bền vững ở nước ta là phát triển tài nguyên LSNG [31];
Năm 2001, Vũ Văn Dũng và cs đã đề xuất cách phân loại mới, theo các tác giả, LSNG được chia ra làm 6 nhóm chính bao gồm: Sản phẩm có sợi, sản phẩm dùng làm thực phẩm, các sản phẩm thuốc và m phẩm, các sản phẩm chiết xuất, động vật và các sản phẩm động vật khác làm thực phẩm, làm thuốc, các sản phẩm khác gồm cây cảnh, lá để gói thức ăn và hàng hoá, nhìn chung, mỗi cách phân loại đều có những tồn tại nhất định, nhưng chúng đều có ý nghĩa trong nghiên cứu về sự đa dạng, phong phú của LSNG, về tiềm năng phát triển ngành LSNG ở Việt Nam [31];
Năm 2001, trong quá trình thực hiện dự án “Sử dụng bền vững LSNG” tại vùng đệm Khu BTTN Kẻ Gỗ và vùng đệm VQG Ba Bể các nhà nghiên cứu kết luận rằng: phát triển LSNG là một trong những hướng đi đem lại hiệu quả kinh tế cao, đáp ứng mục tiêu nâng cao chất lượng sống cho người dân, từ đó xóa đói giảm nghèo và phát triển KT-XH trong khu vực [31];
Phạm Văn Thắng và cs, 2001 trong công trình nghiên cứu “Giá trị và sử dụng LSNG ở 2 tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn” cho thấy giá trị sử dụng của LSNG đối với người dân rất lớn, 90% số hộ dân sống dựa vào rừng Sản phẩm khai thác chủ yếu hiện nay là gỗ và LSNG như măng, tre, trúc, hồi, giẻ, và cây dược liệu Thu nhập từ LSNG trong mỗi hộ gia đình đứng thứ 2 trong cơ cấu thu nhập của hộ gia đình và chiếm trung bình khoảng 22% tổng thu nhập kinh tế [31];
La Quang Độ, 2001 tìm hiểu việc sử dụng thực vật rừng làm thuốc, rau của nhân dân các xóm Bản Cám, Nà Nặm thuộc Vườn quốc gia Ba Bể tỉnh Bắc Kạn Tác giả đã xác định được tên, giá trị sử dụng, đặc điểm sinh thái, nơi phân bố của 15 loài thực vật rừng làm rau ăn và kinh nghiệm của người dân tộc trong khai thác, sử dụng, chế biến các loài này Đề tài là một sự đóng góp quan trọng cho tỉnh Bắc Kạn trong việc đánh giá hiện trạng nguồn tài nguyên LSNG [15];
Nguyễn Hùng Thiện, 2005 Tập quán của người H’mông tỉnh Sơn La trong
thu hoạch và chế biến quả Sơn Tra Cây Sơn Tra là một loài LSNG có giá trị, quả
Trang 28Sơn Tra đang được thị trường trong và ngoài nước tiêu thụ khá mạnh Nhiều dự án trồng rừng và phát triển kinh tế vùng cao đang quan tâm và chú ý đầu tư phát triển loài cây này Vì vậy, nếu bảo đảm được k thuật tạo giống cây và trồng rừng, công nghệ sau thu hoạch được nghiên cứu hoàn thiện từ sơ chế sản phẩm đến chế biến công nghiệp, dự trữ đủ nguyên liệu sản xuất cho cả năm và tiêu thụ quanh năm thì đây là một loài cây rất có triển vọng Cây Sơn Tra (táo mèo) có tiềm năng lớn để phát triển trên diện rộng, góp phần tăng thu nhập để xoá đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường sinh thái Tác giả đã tìm hiểu kinh nghiệm thu hái, sơ chế và sử dụng quả Sơn tra của người H’mông tại xã Tà Xùa huyện Bắc Yên tỉnh Sơn La [27];
Phùng Tửu Bôi, 2005 trồng và chế biến Thạch đen - một nghề cổ truyền của dân tộc Tày Nùng Cây Thạch đen có nguồn gốc từ Trung Quốc nhưng được nhập vào ta từ rất lâu đời Ở Việt Nam cây đã được trồng ở một số nơi, hiện đang trồng nhiều ở Lạng Sơn và Cao Bằng, nhiều nhất là ở ba xã Chi Lăng, Kim Đồng và Tân Tiến thuộc huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn Theo tác giả Thạch đen là một loài LSNG có nhiều giá trị và triển vọng, cần có chính sách và k thuật hỗ trợ để người dân có thể phát triển lâu dài loại hàng hoá này [7];
Nguyễn Thị Thoa và cs, kiến thức bản địa của người dân trong việc khai thác
sử dụng các loài LSNG làm thực phẩm, gia vị tại xã Thần Sa -Võ Nhai, Tác giả đã xác định được 16 loài LSNG thường xuyên được sử dụng làm rau ăn, gia vị, tìm hiểu kinh nghiệm của người dân xã trong việc sử dụng các loài làm thực phẩm, gia
vị và đề xuất giải pháp bảo vệ, phát triển các loài này [27];
Ngoài ra cũng có nhiều cá nhân nghiên cứu nhiều chủ đề liên quan đến LSNG nhưng hầu hết các nghiên cứu này tập trung vào các loại tre trúc như: Thử nghiệm nhân giống Luồng của Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, nghiên cứu nhân giống và gây trồng các loài tre trúc lấy măng của Phân Viện Khoa học Lâm nghiệp Miền Nam; nghiên cứu nhân giống tre Lồ ô và Luồng của Khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông Lâm Huế; một số tác giả khác đã nghiên cứu về cây thuốc nam Ngoài ra có một số đề tài nghiên cứu về khai thác và sử dụng cũng như chế biến các loài LSNG của một số cộng đồng dân tộc thiểu số của sinh viên khoa Lâm nghiệp các trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Đại học Huế và Đại học Tây Nguyên
Trang 291.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu
1.3.1 Điều kiện tự nhiên
1.3.1.1 Vị trí địa lý
Khu BTTN Phong Quang thuộc
vùng biên giới phía bắc tỉnh Hà Giang nằm
trên địa bàn 05 xã: Xã Phong Quang, Minh
Tân, Thanh Thủy và Thuận Hòa, huyện Vị
Xuyên; Phường Quang Trung Thành phố
Hà Giang Cách trung tâm thành phố khoản
7km về phía Đông Nam Khu BTTN có tọa
độ địa lý VN2000 múi 3 độ như sau:
22052’05” - 23003’16” Vĩ độ Bắc
104049’07” - 105003’25” Kinh độ Đông
Phạm vi ranh giới:
- Phía Bắc tiếp giáp huyện Quản Bạ;
- Phía Đông tiếp giáp các xã Minh Tân, Thuận Hòa và phường Quang Trung, thành phố Hà Giang;
- Phía Nam tiếp giáp thành phô Hà Giang;
- Phía Tây tiếp giáp xã Thanh Thủy huyện Vị Xuyên và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
20 km Đây là vùng núi đá có địa hình hiểm trở, với các đỉnh nhọn liên tiếp hình răng cưa có độ cao từ 700 đến 1.076m so mực nước biển, là nơi còn giữ được hệ sinh thái rừng tự nhiên với hệ động, thực vật hết sức phong phú
- Kiểu địa hình đồi núi thấp: Phân bố ở Bản Hình và Pìn Sảng B, xã Minh Tân với các đỉnh cao dưới 450m
Hình 1.1 Sơ đồ vị trí khu bảo tồn thiên nhiên Phong Quang
Trang 30- Kiểu địa hình thung lũng: Chiếm phần nhỏ diện tích trong Khu BTTN, được tạo bởi giữa các dãy núi đá Hầu hết các thung lũng nhỏ này là nơi tập trung dân cư của các thôn nằm trong vùng lõi của Khu BTTN hoặc là khu vực được người dân khai phá trồng cây lương thực và hoa màu
1.3.1.3 Địa chất đất đai
a) Địa chất
Theo kết quả nghiên cứu của Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp xây dựng báo cáo thuyết minh bản đồ đất tỉnh Hà Giang thực hiện năm 2004 cho thấy, nền địa chất khu vực Khu BTTN Phong Quang có nguồn gốc kiến tạo chủ yếu vào thời kỳ Đêvon và Cacbon-pecmi Đá mẹ tạo đất chủ yếu là nhóm đá Macma axit và nhóm đá biến chất với các loại đá chính: Granit, Gnai, Đá vôi, đá cát, đôi chỗ còn lẫn Phiến thạch sét, Sa thạch, Trầm tích:
- Nhóm đá Macma axit là loại đá rất cứng, khó phong hóa, nghèo dinh dưỡng tiềm tàng trong đá, khi phong hoá cho mẫu chất thô to và đất nghèo dinh dưỡng, thành phần cơ giới nhẹ, dễ bị xói mòn và rửa trôi tầng đất mặt
- Nhóm đá biến chất là loại đá mềm và giàu dinh dưỡng tiềm tàng Quá trình phong hoá triệt để, đất tạo thành có thành phần cơ giới nặng đến trung bình, đất có tầng dầy, tơi xốp, độ thấm nước cao nên khó bị xói mòn rửa trôi
b) Đất đai
Theo kết quả điều tra nghiên cứu của Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp xây dựng bản đồ đất huyện Bắc Mê tỷ lệ 1/50.000 năm 1999 cho thấy, sự đa dạng về các loại đá mẹ đã tạo ra nhiều loại đất khác nhau, cụ thể trong Khu BTTN Phong Quang có các nhóm đất chính sau:
- Nhóm đất mùn vàng nhạt trên đá cát: Đất được hình thành do sản phẩm phong hoá của đá macma axít (granít, riolít) ở độ cao từ 900m trở lên
- Nhóm đất nâu đỏ trên đá vôi: Đất được hình thành trên sản phẩm phong hoá của đá vôi, đất có màu nâu đỏ làm chủ đạo Đất có thành phần cơ giới nặng, cấu trúc lớp đất mặt viên hoặc cục nhỏ, độ tơi xốp của đất khá, khả năng thấm nước rất nhanh
- Nhóm đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất: Đất được hình thành trên sản phẩm phong hoá của đá phiến sét và các loại đá biến chất như: Đá gơnai, phiến
Trang 31thạch mica, philít Đất có màu đỏ vàng hoặc vàng đỏ là chủ đạo, ở lớp đất mặt có cấu trúc là viên hoặc cục nhỏ, ở các tầng dưới cấu trúc thường là cục đến tảng
- Nhóm đất vàng nhạt trên đá cát: Chiếm diện tích nhỏ, đất được hình thành
trên sản phẩm phong hoá của đá mẹ cát kết và dăm cuội kết Đất có màu nâu vàng hoặc vàng nhạt là chủ đạo Thành phần cơ giới của đất từ thịt nhẹ đến trung bình, cấu trúc của đất thường là hạt rời hoặc viên, độ tơi xốp trung bình
- Nhóm đất phù sa phân bố chủ yếu ở ven sông Gâm, chất lượng phù sa tốt, giàu chất dinh dưỡng, thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt nhẹ
1.3.1.4 Khí hậu, thuỷ văn
a) Khí hậu
Khu BTTN Phong Quang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh, mưa mùa hè và có thời kỳ khô từ 0,1 đến 1 tháng Dưới đây là số liệu quan trắc khí tượng thủy văn tại trạm Hà Giang, số liệu quan trắc được tính trung bình trong 20 năm và mô hình hoá bằng biểu đồ nhiệt độ - lượng mưa ở bảng 01:
- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm 22,70c, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất đạt 27,80c, nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất 15,40c, sự chênh lệch nhiệt độ giữa tháng cao nhất và tháng thấp nhất là 12,40c Mùa hè chịu ảnh hưởng trực tiếp gió mùa Đông Nam nên thời tiết trong vùng thường nóng, khô và kéo dài 4-5 tháng Mùa đông bắt đầu tháng 12 đến tháng 3 năm sau và chịu ảnh hưởng trực tiếp gió mùa Đông Bắc Nhiệt độ trung bình các tháng luôn đạt trên 22,70c và nhiệt độ tối thấp 15,40c
- Lượng mưa: Qua số liệu quan trắc tại trạm Hà Giang có tọa độ địa lý
22049’ vĩ độ Bắc, 104059’ kinh độ Đông cho thấy trong vùng có lượng mưa tương đối lớn Tổng lượng mưa trong năm đạt 2.430,1mm Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 11 hàng năm và chiếm 93,48% tổng lượng mưa trong năm Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các loài thực vật sinh trưởng, phát triển nhưng cũng tạo ra dư thừa nước vào mùa mưa và khô hạn vào mùa khô Trong năm có 3 tháng có lượng mưa lớn nhất 6, 7 và 8 thường kèm theo lũ lụt, sạt lở đất trong vùng
Trang 32Bảng 1.1 Số liệu quan trắng Khí tượng thủy văn theo tháng tại trạm khí tượng
thành phố Hà Giang
Nguồn: Các biểu đồ sinh khí hậu Việt Nam
- Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí trong vùng tương đối cao, độ ẩm tương đối trung bình năm đạt 81 - 86% Độ ẩm tương đối cao nhất thường rơi vào các tháng 1, 7, 8 và 12; khô nhất rơi vào tháng 4 và 5 có giá trị 81-82% Như vậy, độ
ẩm không khí ở đây khá cao, ít gây ra hiện tượng thời tiết khô và nóng
- Chế độ gió: Trong năm có 02 loại gió chính, gió mùa Đông Bắc xuất hiện
từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau Gió mùa Đông Nam từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm, các xã ở vùng cao có khí hậu lạnh hơn so với các xã ở vùng thấp
b) Thủy văn
Khu BTTN Phong Quang là thượng nguồn của 2 con sông chính là sông Lô và sông Miện cùng nhiều chi lưu lớn nhỏ đổ vào hai dòng sông này Hầu hết các khe suối
đều có dòng chảy quanh năm vì phần lớn diện tích lưu vực còn có rừng che phủ
- Sông Lô bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy theo hướng Tây Nam giáp ranh giới phía Tây của Khu BTTN, chiều dài khoảng 10km, lòng sông nhỏ hẹp, nhiều ghềnh
đá, độ dốc dòng chảy lớn, lưu lượng nước chảy đổi theo mùa, độ xâm thực lớn
- Sông Miện, suối Pắc Xum, suối Bản Hình giáp ranh giới phía đông Khu BTTN chảy theo hướng Tây Nam dài trên 20 km, chảy về nhập với sông Lô ở thành phố Hà Giang Sông suối trong khu vực có dòng chảy rất quanh co, nhỏ hẹp, độ dốc
Trang 33lớn Do địa hình Karstơ nên các chi lưu đều chảy ngầm trong lòng đất nên lưu lượng nước nhỏ, độ xâm thực yếu, lượng phù sa trong nước ít Nhìn chung hệ thống thuỷ văn của Khu BTTN Phong Quang nghèo nàn cả về số lượng sông, suối và trữ lượng nước, chỉ có thể khai thác sử dụng nguồn nước đáp ứng cho nhu cầu sinh hoạt của nhân dân địa phương, nước phục vụ cho sản xuất nông lâm nghiệp còn hạn chế, chưa đáp ứng đủ nhu cầu, gây khó khăn và làm ảnh hưởng lớn đến sản xuất
1.3.1.5 Đa dạng sinh học
a) Thảm thực vật rừng
Trên quan điểm phân chia Thảm thực vật rừng Việt Nam năm 1978 của Thái Văn Trừng và dựa theo đặc điểm cấu trúc hiện trạng rừng tại Khu BTTN Phong Quang đã vận dụng linh hoạt để phân chia lớp thảm thực vật Phong Quang thành các kiểu chính và phụ sau:
Bảng 1.2 Các kiểu thảm thực vật rừng Khu BTTN Phong Quang
Ký
hiệu Kiểu thảm thực vật
Diện tích
Tỉ lệ
%
1 Kiểu rừng lá rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới
núi thấp < 700m 4.456,6 52,0
1.1 Kiểu phụ thổ nhưỡng rừng kín thường xanh nhiệt đới
1.2 Kiểu phụ thổ nhưỡng phục hồi trến đá vôi xương xẩu 484,51 5,7 1.3 Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới 361,04 4,2 1.4 Kiểu phụ thứ sinh phục hồi trên đất mất rừng 558,98 6,5
2 Kiểu rừng thường xanh mưa mùa lá rộng mưa ẩm
Á nhiệt đới núi thấp (700 – 1600m) 2.127,6 24,8
2.1 Kiểu phụ thổ nhưỡng rừng kín thường xanh á nhiệt đới
2.2 Kiểu phụ thổ nhưỡng phục hồi trến đá vôi xương xẩu 70,07 0,8 2.3 Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp 314,22 3,7 2.4 Kiểu phụ thứ sinh phục hồi trên đất mất rừng 130,49 1,5
Trang 34Ký
hiệu Kiểu thảm thực vật
Diện tích
thế giới, trong đó gần gũi nhất thuộc về: Đặc hữu Việt Nam 43 loài, Indonexia - Malaixia - úc đại dương 261 loài, Ấn Độ 161 loài, Đông Dương 154 loài, Nam Trung Quốc 89 loài, Indonexia - Malaixia, …
c) Khu hệ Động vật rừng
Khu hệ động vật có xương sống trên cạn ở Khu BTTN Phong Quang đã thống
kê được 197 loài động vật có xương sống ở cạn thuộc 84 họ và 26 bộ trong đó:
- Lớp thú - Mammalia ghi nhận được 43 loài thuộc 21 họ ở 08 bộ với 09 loài quý hiếm ở nhiều cấp độ khác nhau: sách đỏ Việt Nam 08 loài, sách đỏ thế giới 08 loài và Nghị định 32CP 06 loài;
Trang 35- Lớp chim - Aves ghi nhận đƣợc 144 loài thuộc 50 họ ở 15 bộ với 10 loài quý hiếm ở nhiều cấp độ khác nhau: sách đỏ Việt Nam 06 loài, sách đỏ thế giới 09 loài và Nghị định 32CP 06 loài;
- Khu hệ Bò sát (Reptilia) - ếch nhái (Amphibia) ghi nhận đƣợc 40 loài thuộc
13 họ ở 03 bộ với 06 loài quý hiếm ở nhiều cấp độ khác nhau: sách đỏ Việt Nam 06 loài, sách đỏ thế giới 03 loài và Nghị định 32CP 04 loài
d) Đa dạng về thành phần loài
Theo số liệu thống kê trong báo cáo hệ thực vật Khu BTTN Phong Quang, năm 2015 đã ghi nhận đƣợc 1.133 loài, 686 chi thuộc 175 họ của 06 ngành thực vật bậc cao có mạch và đƣợc thể hiện qua bảng 3.3
Bảng 1.3 Phân bố các taxon theo các ngành của hệ thực vật Phong Quang
Stt Ngành thực vật
Họ Chi Loài
Số lƣợng
Tỉ lệ
%
Số lƣợng
Tỉ lệ
%
Số lƣợng
Trang 36Trong số 06 ngành thực vật ghi nhận được tại Phong Quang, ngành có số lượng loài chiếm ưu thế trong cấu trúc hệ thống thực vật nơi đây thuộc về ngành Mộc lan - Magnoliophyta 991 loài chiếm 87,47% tổng số loài ghi nhận được, kế tiếp ngành Dương xỉ - Polypodiophyta 123 loài chiếm 10,86%, ngành Thông đất - Lycopodiophyta 11 loài chiếm 0,97%, ngành Thông - Pinophyta 06 loài chiếm 0,53%, sau cùng ngành có số lượng loài thấp nhất thuộc về Khuyết lá thông - Psilotophyta và Cỏ tháp bút - Equisetophyta cùng có 1 loài chiếm 0,09%
Tính đa dạng khu hệ thực vật Phong Quang còn được thể hiện qua tỷ trọng
số loài giữa hai lớp trong ngành Mộc lan – Magnoliophyta là 3,42/1 Như vậy cứ có
3,42 loài trong lớp Mộc lan – Magnoliopsida thì có 1 loài trong lớp Hành – Liliopsida Tỉ lệ trên thể hiện tính vượt trội về bậc phân loại của lớp Mộc lan so với
lớp Hành Tỉ lệ này gần tương đồng với hệ thực vật Bắc Việt Nam là 3,8/1 Cúc Phương 4/1 và cao hơn trung bình hệ thực vật Việt Nam 3,2/1 Tuy nhiên, tại các nước ôn đới như Litva, Extonia,… tỉ lệ này là 2,9/1 hay vùng bắc cực là 2,3/1 Kết quả này nằm trong nhận định của De Candolle khi nghiên cứu về tính đa dạng thực vật ở rừng nhiệt đới và tỉ lệ của lớp một lá mầm giảm xuống khi đi từ vùng bắc cực xuống vùng xích đạo [24]
1.3.1.6 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên
Khu BTTN Phong Quang chạy dài từ thành phố Hà Giang tới giáp vùng Công viên địa chất Cao nguyên đá Đồng Văn, dãy núi đá vôi răng cưa có quá trình tạo sơn đã hình thành nên những vách núi dựng đứng với các đỉnh nhọn cao vút, trên đó là các quần thể thực vật độc đáo
Với diện tích rừng đạt độ che phủ trên 85%, Khu BTTN Phong Quang có giá trị phòng hộ đầu nguồn xung yếu của hệ thống sông suối chảy qua các tỉnh Hà Giang, chúng đóng vai trò quan trọng trong việc điều hoà nguồn nước tưới tiêu cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp của các xã, huyện vung lân cận cũng như các tỉnh đồng bằng ở vùng hạ du
1.3.2 Đặc điểm kinh tế xã hội
1.3.2.1 Dân số, dân tộc và lao động
Trang 37Theo số liệu điều tra tháng 8/2015 tại 05 xã, phường có diện tích đất Khu BTTN Phong Quang phân bố cho thấy, tính đến ngày 31/12/2014 tổng số nhân khẩu
là 21.942 người, thuộc 5.011 hộ, và phân bố trên 51 thôn; bình quân từ 56 người/hộ Mật độ dân số trung bình trong khu vực là 70 người/km2, nhưng phân bố không đồng đều giữa các xã Tỷ lệ tăng dân số trung bình năm 2014 trong khu vực Khu BTTN là 1,41%, bao gồm cả tăng dân số tự nhiên và tăng dân số cơ học
Bảng 1.4 Hiện trạng dân số và lao động các xã năm 2014
Stt Huyện/ xã Số hộ
gia đình
Số nhân khẩu
Số lao động
Mật độ dân số (ng./km 2 )
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Vị Xuyên và thành phố Hà Giang năm 2014
Theo thống kê năm 2014, số người trong độ tuổi lao động trong 5 xã, phường
có diện tích Khu BTTN Phong Quang phân bố là 14.265 người, chiếm tỷ lệ 65,01% tổng dân số, trong đó lao động nữ chiếm 48,0%, lao động nam chiếm 52,0% Đây là
tỉ lệ tương đối cao so với một số vùng khác, nguyên nhân do cơ cấu dân số lứa tuổi trẻ chiếm tỉ lệ rất cao (trên 70% dân số là lứa tuổi dưới 34); Dự báo đến năm 2020
số người trong độ tuổi lao động trong địa bàn 5 xã, phường sẽ là 15.212 lao động
1.3.2.2 Hệ thống cơ sở hạ tầng
a) Cơ sở công trình sự nghiệp
Những năm qua, từ sự quan tâm đầu tư của Nhà nước và các chương trình mục tiêu quốc gia và Dự án giảm nghèo của Chính phủ, các xã vùng đệm đã chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng k thuật, trong đó có trụ sở làm việc của UBND các xã, nhà văn hóa xã, đã được xây dựng kiên cố
Trang 38b) Hệ thống giao thông
Hiện trên địa bàn các xã vùng đệm có tuyến quốc lộ số 2 và quốc lộ 4C đi qua với tổng chiều dài khoảng 25 km Ngoài ra còn có 15 km đường cấp phối của quốc phòng trong khu vực biên giới và các tuyến đường liên xã, liên thôn, nội thôn
đã tạo nên một hệ thống đường bộ hoàn chỉnh thuận lợi cho giao thông nội vùng và với bên ngoài Mật độ đường tương đối đồng đều giữa các xã, bình quân khoảng 1,0km/km2 Hiện tại các tuyến đường đến trụ sở Ủy ban nhân dân các xã đã có giải nhựa, còn lại, các tuyến đường liên thôn, nội thôn chưa được đầu tư xây dựng nên
đi lại rất khó khăn
c) Hệ thống thủy lợi
Kết quả điều tra cho thấy, trong khu vực các xã không có công trình thủy lợi lớn, chỉ là những đoạn kênh mương nhỏ được xây dựng do sự hỗ trợ đầu tư từ chương trình 135, chương trình kiên cố hóa kênh mương, chương trình định canh định cư và người dân địa phương tự làm Các hoạt động tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp không phát huy được hiệu quả, nhiều diện tích đất có thể đưa vào sản xuất nông nghiệp nhưng do thiếu nước nên đã bị bỏ hoang hoặc chỉ có thể sản xuất một vụ Nhìn chung, hiện tại hệ thống thủy lợi trong các xã trong Khu BTTN chỉ tạm thời đáp ứng được một phần nhu cầu canh tác của người dân trong vùng, tuy nhiên, trên thực tế các công trình thủy lợi tạm thường hay bị hư hỏng, xuống cấp đã ảnh hưởng nhiều tới kế hoạch sản xuất trên địa bàn
d) Điện, nước sinh hoạt
- Nước sinh hoạt: Trong những năm gần đây, hệ thống nước sạch đã được phát triển nhằm phục vụ tốt hơn cho đời sống nhân dân trong khu vực Các công trình cung cấp nước sinh hoạt chủ yếu do hỗ trợ của Nhà nước từ chương trình 135, UNICEP, ADB và một phần đóng góp của người dân trong vùng Tuy nhiên, tỉ lệ các hộ gia đình trong Khu vực dùng nước hợp vệ sinh còn thấp (67,97% tổng số hộ), nguyên nhân chính là do sự phân bố dân cư không tập trung
- Hệ thống thoát nước: Hầu hết các xã trong Khu BTTN Phong Quang chưa xây dựng hệ thống thoát nước, chủ yếu được chảy theo rãnh dọc các tuyến đường, nhưng do rãnh nhỏ, hướng dốc thay đổi, nên thoát nước trong các thôn rất chậm gây
Trang 39ứ đọng, ô nhiễm môi trường và ngập úng cục bộ Những nước bẩn từ các khu vệ sinh và chuồng trại chăn nuôi của các hộ gia đình trên địa bàn bằng con đường thẩm thấu tự nhiên nên gây ô nhiễm cho nguồn nước mặt Hộ được dùng điện lưới quốc gia tập trung ở các thôn, bản gần khu vực UBND xã Các hộ gia đình ở vùng sâu vùng xa chủ yếu dùng điện từ các máy thủy điện nhỏ, lợi dụng các khe suối trong vùng Tỉ lệ số hộ dùng điện chiếm 66,7%
1.3.2.3 Thực trạng phát triển văn hóa xã hội
a) Giáo dục và đào tạo
Trong những năm gần đây, nhận thức của người dân các xã vùng đệm khu BTTN về giáo dục đào tạo các thế hệ con em họ đã có nhiều thay đổi, hầu hết số lượng học sinh đến tuổi đi học đều đã được đến trường Theo số liệu thống kê năm học 2014 - 2015 trên địa bàn các xã vùng đệm: Cấp mầm non có 6 trường, 80 lớp, với 1.623 cháu và 120 giáo viên; cấp tiểu học có 7 trường, 130 lớp, với 2.299 học sinh và 199 giáo viên; cấp trung học cơ sở có 5 trường, 54 lớp, với 1.320 học sinh
và 134 giáo viên
Hệ thống trường, lớp và quy mô ngành học, bậc học đã đáp ứng được phần nào nhu cầu học tập của con em trong vùng; Số phòng học được xây dựng kiên cố chiếm trên 75%, còn lại là nhà cấp 4, chất lượng giáo dục có nhiều tiến bộ, năm
2014 tỷ lệ học sinh huy động vào lớp 1 đạt 98,8%, vào cấp 2 đạt 86,8%, vào cấp 3 đạt 38% Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp ở cấp tiểu học đạt 100%, cấp trung học cở sở đạt 98,7% số lượng học sinh khá giỏi các cấp tiếp tục tăng lên qua các năm
b) Y tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng
Trong những năm qua các chương trình quốc gia về y tế đã triển khai thực hiện trên địa bàn các xã vùng đệm Khu BTTN Phong Quang đã đạt được hiệu quả nhất định Công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân ngày càng được quan tâm Đội ngũ cán bộ y tế được quan tâm đào tạo để nâng cao chất lượng chuyên môn và trách nhiệm phục vụ Tính đến cuối năm 2014 hầu hết các xã vùng đệm đã có trạm
y tế, mỗi trạm có từ 5 - 6 phòng với diện tích sàn xây dựng bình quân là 293 m2/trạm và tất cả các phòng đều đảm bảo tiêu chuẩn của ngành y tế đặt ra Số cán
bộ y tế là 79, trong đó có 15 y sĩ, 13 y tá và nữ hộ sinh, 51 y tá thôn bản Bình quân
cứ 278 người dân/cán bộ y tế, 783 người dân/giường bệnh
Trang 40c) Đời sống văn hóa xã hội
Tính đến cuối năm 2014, hầu hết các xã đã có nhà bưu điện văn hoá, sóng truyền thanh, truyền hình đã phủ kín, nên rất thuận tiện cho công tác tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với người dân, cũng như công tác tuyên truyền cho những ngày lễ lớn của dân tộc, sản xuất nông - lâm nghiệp, phòng chống lụt bão, phòng chống dịch bệnh và công tác kế hoạch hoá gia đình Phong trào xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa được duy trì thường xuyên, cứ 02 năm xét công nhận một lần Đến năm 2014, tỷ lệ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa đạt trên 40%, thôn bản đạt danh hiệu làng văn hóa cấp huyện đạt trên 30% Tuy nhiên, hiện nay nhiều gia đình trong các xã vùng đệm chưa thực sự quan tâm về danh hiệu gia đình văn hóa, bên cạnh đó là sự động viên khen thưởng của UBND các xã chưa kịp thời nên động lực để phấn đấu đạt danh hiệu gia đình văn hóa còn hạn chế
1.3.2.4 Đánh giá chung về kinh tế xã hội trong khu vực
Số hộ nghèo và cận nghèo chiếm 47,63% tổng số hộ trong khu vực, hiện nay những hộ này có cuộc sống còn rất khó khăn, sản xuất nông nghiệp trong những năm tới chưa thể giải quyết được tình trạng đói nghèo của một bộ phận dân cư này,
vì thường là những hộ thiếu đất, thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm sản xuất, đồng bào dân tộc thiểu số
Phương thức canh tác lạc hậu, các giống cây trồng hầu hết là giống cổ truyền địa phương, các loài giống mới cho năng suất cao được đưa vào áp dụng trong sản xuất nông nghiệp chỉ mang tính chất thử nghiệm, chưa được áp dụng trong phạm vi lớn Do điều kiện tự nhiên là vùng núi đá vôi nên rất thiếu nước vì vậy năng suất các loại cây trồng hoàn toàn phụ thuộc vào tình hình thời tiết khí hậu
Nền kinh tế mang tính tự cung, tự cấp chưa phát triển thành kinh tế hàng hoá, đời sống của người dân phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên Khai thác lợi dụng rừng một cách tự phát đã trở thành tập quán của người dân và chiếm một vị trí rất quan trọng trong thu thập của mỗi hộ gia đình
Cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất và đời sống còn thiếu, chất lượng chưa cao, mạng lưới đường dân sinh nội vùng đi lại khó khăn nhất là về mùa mưa lũ, hệ thống kênh mương, hồ chứa chưa có Đời sống vật chất tinh thần của đồng bào các dân tộc ít người còn hết sức nghèo nàn, trình độ dân trí ở mức thấp