1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thử nghiệm ảnh hưởng của Men TUAF – Multibio trên chim cút nuôi tại trại chăn nuôi gia cầm Khoa Chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.

68 1,2K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 862,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm gần đây, bên cạnh việc tăng nhanh sản lượng, chất lượng các sản phẩm chăn nuôi gia súc, gia cầm truyền thống như: trâu, bò, lợn, gà,… ngành chăn nuôi nước ta đã hòa nhập

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TRẦN THỊ HUỆ

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU THỬ NGHIỆM ẢNH HƯỞNG CỦA MEN TUAF – MULTIBIO TRÊN CHIM CÚT NUÔI TẠI TRẠI CHĂN NUÔI GIA CẦM KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Thái Nguyên - 2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TRẦN THỊ HUỆ

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU THỬ NGHIỆM ẢNH HƯỞNG CỦA MEN TUAF – MULTIBIO TRÊN CHIM CÚT NUÔI TẠI TRẠI CHĂN NUÔI GIA CẦM KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập lý thuyết tại trường, thực tập tốt nghiệp là khoảng thời gian rất cần thiết với mỗi sinh viên Đây là khoảng thời gian để cho tất cả sinh viên có cơ hội đem những kiến thức đã tiếp thu được trên ghế nhà trường ứng dụng vào thực tiễn sản xuất Sau thời gian tiến hành nghiên cứu nay em đã hoàn thành bản khoá luận tốt nghiệp Để hoàn thành được bản khoá luận này ngoài sự nỗ lực của bản thân, em luôn nhận được sự giúp đỡ chu đáo, tận tình của các cơ quan, các cấp lãnh đạo và các cá nhân Để đáp lại tình cảm

đó, qua đây em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc và kính trọng tới tất cả các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu

Trước tiên, em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi thú y cùng tập thể các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình dạy dỗ và dìu dắt em trong suốt thời gian học tại trường cũng như thời gian thực tập tốt nghiệp

Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, chỉ bảo và hướng dẫn tận tình của cô giáo hướng dẫnThS Phạm Thị Trang và thầy giáo PGS.TS Từ Trung Kiên trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp này

Qua đây em cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn tói gia đình, người thân và bạn

bè đã giúp đỡ và động viên em trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường Cuối cùng em xin trân trọng gửi tới các Thầy giáo, Cô giáo trong hội đồng chấm báo cáo lời cảm ơn chân thành và lời chúc tốt đẹp nhất

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015

Sinh viên Trần Thị Huệ

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 31

Bảng 4.1: Chế độ chiếu sáng cho đàn gà sinh sản 37

Bảng 4.2: Lịch phòng vaccine cho gà 40

Bảng 4.3: Tỷlệ nuôi sống của chim cút thí nghiệm 43

Bảng 4.4: Khối lượng chim cút thí nghiệm qua các tuần tuổi (g/con) 45

Bảng 4.5: Sinh trưởng tuyệt đối của chim cút qua các tuần tuổi (g/con/ngày) 47 Bảng 4.6: Sinh trưởng tương đối của chim cút qua các tuần tuổi (%) 49

Bảng 4.7: Tiêu thụ thức ăn của chim cút thí nghiệm (g/con/ngày) 51

Bảng 4.8: Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng của chim cút thí nghiệm (kg thức ăn/kg tăng khối lượng) 52

Bảng 4.9: Ảnh hưởng của men TUAF - Multibio đến tỷ lệ mắc bệnh cầu trùng ở chim cút thí nghiệm 53

Bảng 4.10: Chi phí cho 1 chim cút xuất bán 54

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 4.1: Biểu đồ sinh trưởng tích lũy của chim cút qua các tuần tuổi 46 Hình 4.2: Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của chim cút qua các tuần tuổi 48 Hình 4.3: Biểu đồ sinh trưởng tương đối của chim cút qua các tuần tuổi 49

Trang 7

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC HÌNH iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾTTẮT iv

MỤC LỤC v

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 3

1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học 3

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở khoa học 4

2.1.1 Giới thiệu chung về probiotic 4

2.1.2 Những hiểu biết về men TUAF – Multibio 9

2.1.3 Giới thiệu về chim cút 17

2.1.4 Đặc điểm hệ tiêu hóa ở chim cút 19

2.2 Tình hình nguyên cứu trong nước và ngoài nước 28

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 28

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 28

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 30

3.3 Nội dung nghiên cứu 30

3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 30

Trang 8

3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 30

3.4.2 Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp xác định 31

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34

4.1 Công tác phục vụ sản xuất 34

4.1.1 Công tác chăn nuôi 34

4.1.2 Công tác thú y 39

4.2 Kết quả và phân tích kết quả 43

4.2.1 Tỷ lệ nuôi sống của chim cút 43

4.2.2 Khả năng sinh trưởng 44

4.3 Khả năng sử dụng và tiêu thụ thức ăn 50

4.3.1 Tiêu thụ thức ăn của chim cút thí nghiệm 50

4.3.2 Tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng 51

4.3.3 Kết quả về tác dụng phòng bệnh đường tiêu hóa của men TUAF Multibio ở chim cút 53

4.4 Chi phí cho 1 chim cút xuất bán 53

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 55

5.1 Kết luận 55

5.3 Đề nghị 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO 56

Trang 9

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Chăn nuôi là ngành có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đặc biệt đối với Việt Nam là một nước có 2/3 dân số sống bằng nghề nông Hiện nay, do dân số tăng nhanh và quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ nên diện tích đất canh tác cho nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp Bên cạnh những tiến

bộ khoa học kỹ thuật để nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng thì việc chuyển dịch cơ cấu vật nuôi theo hướng mới, tận dụng triệt để mọi tiềm năng vốn có của vùng là hướng đi quan trọng cần được quan tâm

Trong những năm gần đây, bên cạnh việc tăng nhanh sản lượng, chất lượng các sản phẩm chăn nuôi gia súc, gia cầm truyền thống như: trâu, bò, lợn, gà,… ngành chăn nuôi nước ta đã hòa nhập với sự phát triển của nền chăn nuôi trên thế giới, bổ sung thêm nhiều đối tượng chăn nuôi mới như: đà điểu, bồ câu, chim cút,… làm phong phú thêm các sản phẩm chăn nuôi, đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường

Chim cút được coi là vật nuôi có giá trị kinh tế cao, đặc biệt đối với những

hộ chăn nuôi vừa và nhỏ, có thể xóa đói giảm nghèo Với chất lượng thịt thơm ngon, giàu chất dinh dưỡng, khả năng sản xuất thịt cao, giá thành bình quân trên thị trường là 60.000 – 80.000 đồng/kg, chỉ 5 – 6 tuần tuổi đã bắt đầu đẻ trứng và có thể đẻ đến 300 trứng/năm Với những đặc tính ưu việt đó, chim cút đang là đối tượng rất được các chủ trang trại và người nông dân chú ý đến Nhằm nâng cao số lượng cũng như chất lượng thịt để phục vụ cho nhu cầu sử dụng trong nước và xuất khẩu, thì việc áp dụng kỹ thuật vào chăn nuôi gia cầm là việc làm hết sức cần thiết Để cho gia cầm sinh trưởng và phát triển nhanh, người chăn nuôi đã sử dụng một số chế phẩm trộn vào thức ăn giúp cho gia cầm tiêu hóa tốt và phát triển nhanh hơn

Trang 10

Tuy nhiên, vì lợi nhuận một số nhà chăn nuôi đã sử dụng một số loại hoocmon tăng trưởng để đẩy nhanh sự sinh trưởng của gia cầm, nhưng điều

đó lại có thể gây tồn dư trong thịt làm ảnh hưởng đến chất lượng thịt và sức khỏe người tiêu dùng Hoocmon tăng trưởng tồn dư trong thịt làm giảm sức miễn dịch, ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em, tăng nguy cơ ung thư vú

và tuyến tiền liệt,… Một số loại thực phẩm như thịt bò, thịt lợn, thịt gà, cá,… khi xuất khẩu ra nước ngoài bị trả lại vì trong thịt có tồn dư hoocmon Vì vậy, hiện nay ngành chăn nuôi đang khuyến khích phát triển chăn nuôi theo hướng

“An toàn sinh học” nhằm đảm bảo an toàn dịch bệnh, chất lượng thịt và sức khỏe người tiêu dùng

Để nâng cao số lượng cũng như chất lượng đàn gia súc, gia cầm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu, việc nghiên cứu và đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng vào thực tiễn sản xuất là điều hết sức cần thiết Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên, các nhà khoa học Khoa Chăn nuôi thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã nghiên cứu và sản xuất thử nghiệm thành công chế phẩm men vi sinh TUAF – Multibio bổ sung thức ăn nhằm kích thích tiêu hóa và tăng khả năng sinh trưởng, tăng sức đề kháng cho vật nuôi

Để đánh giá hiệu quả của men TUAF – Multibio trước khi sản xuất và áp dụng ở quy mô rộng hơn, được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi thú y, giáo viên hướng dẫn, chúng tôi thực hiện

đề tài: “Nghiên cứu thử nghiệm ảnh hưởng của Men TUAF – Multibio trên

chim cút nuôi tại trại chăn nuôi gia cầm Khoa Chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

- Đánh giá ảnh hưởng của men TUAF – Multibio tới sức sống và khả năng sinh trưởng của chim cút

Trang 11

- Đánh giá ảnh hưởng của men TUAF – Multibio tới khả năng phòng bệnh đường tiêu hóa ở chim cút

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học

Kết quả của đề tài góp phần bổ sung thêm những thông tin vào tài liệu học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên ngành chăn nuôi và thú y của các trường đại học Nông Nghiệp

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

Kết quả của đề tài là cơ sở để khuyến khích người chăn nuôi sử dụng chế phẩm sinh học trong chăn nuôi vì chất lượng sản phẩm và sức khỏe người tiêu dùng

Trang 12

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học

2.1.1 Giới thiệu chung về probiotic

Từ "probiotic" được bắt nguồn từ Hy Lạp, có nghĩa là "dành cho cuộc sống" Probiotic là những vi sinh vật như vi khuẩn hay nấm men mà có thể thêm vào thực phẩm với mục đích điều chỉnh quần thể sinh vật đường ruột của sinh vật chủ (Parker, 1974) [16] Van De Kerkove (1979), Barrows và Deam (1985), Lestradet (1995) cùng cho rằng probiotic được sử dụng như một liệu pháp trong việc chữa trị bệnh tiêu chảy hay như là cách phòng bệnh

ở người và động vật để giảm đến mức tối thiểu sự phát tán của vi sinh vật đường ruột, sự kháng lại liệu pháp sinh học và sự di căn của chứng viêm dạ dày ruột

Probiotic cũng được nhận thấy là có những ảnh hưởng có lợi trên sức khỏe của sinh vật chủ (Fuller, 1989) [14] Năm 1992 Havenaar đã mở rộng định nghĩa về probiotic: Probiotic được định nghĩa như là sự nuôi cấy riêng lẻ hay hỗn hợp các vi sinh vật sống mà có ảnh hưởng có lợi cho sinh vật chủ bằng cách cải thiện những đặc tính của vi sinh vật bản địa

2.1.1.2 Cơ chế hoạt động của probiotic

Trong đường ruột của động vật, probiotic là nhóm vi khuẩn có lợi, hoạt động theo nhiều cơ chế khác nhau:

Trang 13

* Loại trừ, cạnh tranh: Nghĩa là cạnh tranh bám vào màng nhầy thành

ruột, qua đó tạo nên một hàng rào vật lý bảo vệ sự tấn công của các vi khuẩn gây bệnh (Nguyễn Thị Thúy Hiền, 2010) [4]

* Kháng khuẩn và khích thích hệ thống miễn dịch: Các probiotic sản xuất

ra hoạt chất kháng khuẩn và men kích thích hệ thống miễn dịch, ngăn cản sự phát triển của các vi khuẩn gây bệnh bằng cách sinh axit béo, peroxide và các kháng sinh In vitro, các vi khuẩn lactic ngăn cản sự phát triển của

Staphylococcus, Shigella, Klebsiella, Proteus, Pseudomonas, Salmonella và

các chủng E.coli gây bệnh Vi sinh vật probiotic làm giảm số lượng vi khuẩn

gây bệnh để ngăn chặn các mầm bệnh bằng cách tiết ra các chất kháng khuẩn

ức chế cả vi khuẩn Gram dương và Gram âm Đó là các axit hữu cơ như: Axit lactic, axit axetic Những hợp chất này có thể làm giảm không chỉ những sinh vật mang mầm bệnh mà còn ảnh hưởng đến sự trao đổi chất của vi khuẩn và

sự tạo ra các độc tố Điều này được thực hiện bằng cách giảm pH khoang ruột thông qua sự tạo ra các axit béo chuỗi ngắn dễ bay hơi, chủ yếu là axetate, propionate, butyrate, nhất là axit lactic

Probiotic như là phương tiện để phân phát các phân tử kháng viêm cho đường ruột, đẩy mạnh sự báo hiệu cho tế bào chủ để làm giảm đáp ứng viêm, tạo đáp ứng miễn dịch Vi khuẩn probiotic có khả năng huy động các tế bào miễn dịch, hoạt hóa các đáp ứng miễn dịch thích hợp nhờ một cơ chế phức tạp bắt đầu bằng sự tương tác giữa tế bào probiotic và tế bào của hệ miễn dịch

* Tăng cường tiêu hóa thức ăn: Vi khuẩn lactic sản xuất vitamin nhóm B

và các enzyme phân giải protein, lipit và chuyển hóa đường lactose trong sữa thành axit lactic, ngăn ngừa chứng tiêu chảy do không dung nạp đường lactose trong sữa

* Giảm cholesterol: Nhiều kết quả cho thấy, vi khuẩn lactic có tác dụng

làm giảm cholesterol trong máu Nguyễn Thị Thúy Hiền (2010) [4] cho biết vi

Trang 14

khuẩn lactic phân lập từ phân lợn có khả năng phân hủy cholesterol trong môi trường nuôi cấy Các báo cáo cho thấy nồng độ cholesterol trong máu thấp ở những con lợn được nuôi có bổ sung các chủng vi khuẩn lactic được phân lập trên

* Tác dụng trên biểu mô ruột: Vi sinh vật probiotic có khả năng bám

dính tốt lên tế bào biểu mô ruột, cạnh tranh nơi cư trú với các vi sinh vật gây bệnh và cạnh tranh dinh dưỡng Do đó, chúng có khả năng giảm kích thích bài tiết và những hậu quả do phản ứng viêm của sự lây nhiễm vi khuẩn, cũng như đẩy mạnh sự tạo ra các dòng phân tử phòng vệ như chất nhầy

* Tác dụng đến hệ vi sinh vật đường ruột: Theo nguồn goldenlab.vn

[21], Probiotic điều chỉnh thành phần của vi khuẩn đường ruột Khi tập trung

ở khoang ruột, chúng tạo nên sự cân bằng tạm thời của hệ sinh thái đường ruột sự thay đổi này được nhận thấy một vài ngày sau khi bắt đầu tiêu thụ thực phẩm có probiotic, phụ thuộc vào công dụng và liều lượng của giống vi khuẩn Kết quả chỉ ra rằng với sự tiêu thụ thường xuyên, vi khuẩn định cư một cách tạm thời trong ruột, một khi chấm dứt sự tiêu thụ thì số lượng vi sinh vật probiotic sẽ giảm xuống Điều này đúng cho tất cả các loại probiotic

Vi khuẩn probiotic điều hòa hoạt động trao đổi chất của sinh vật đường ruột Probiotic có thể làm giảm pH của bộ phận tiêu hóa và có thể theo cách đó sẽ gây cản trở cho hoạt động tiết ra enzyme của sinh vật đường ruột

Probiotic định cư ở ruột với những vi khuẩn có lợi và loại trừ bệnh gây

ra bởi các vi sinh vật như: E.coli, Salmonella và Clostridium ở những vị trí

lông nhung của ruột non, nơi mà vi khuẩn có hại sẽ phá hủy lông nhung Probiotic gia tăng sự kháng bệnh bằng cách tăng nhiệt độ cao của lông nhung

và tăng độ sâu của các khe nằm giữa lông nhung, theo cách đó sẽ gia tăng được diện tích bề mặt hấp thu chất dinh dưỡng Vì vậy, vật nuôi sẽ gia tăng hiệu quả hấp thụ thức ăn

Trang 15

Những nhà khoa học từ Viện nghiên cứu thực phẩm ở Norwich (nước Anh) báo cáo là những probiotic đặc biệt có thể tiêu diệt mầm bệnh vi khuẩn sống ở ruột gia cầm, do đó giúp loại bỏ mối đe dọa sự ngộ độc thực phẩm vi khuẩn từ chuỗi thức ăn (Nguyễn Thị Thúy Hiền, 2010) [4].

2.1.1.3 Vi sinh vật đóng vai trò là probiotic

Lactobacillus: là trực khuẩn Gram (+) không sinh bào tử Vi khuẩn có

dạng hình que hay hình cầu Thuộc dạng hiếu khí hay kị khí, ưa axit Xếp riêng lẻ hoặc thành chuỗi Môi trường sống chủ yếu trên chất nền chưa carbohydrate (lớp chất nhầy của người và động vật, chất thải và thực phẩm lên men hay hư hỏng)

Lactobacillus là vi khuẩn Gram dương, tạo axit lactic, tạo thành một

phần chính của vi khuẩn đường ruột thông thường ở người và động vật Những vi khuẩn "thân thiện" này đóng vai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh

sự kháng lại những sinh vật ngoại sinh nhất là sinh vật mang mầm bệnh

2.1.1.4 Vai trò của vi sinh vật probiotic

Theo nguồn vi.m.wikipedia.org [31], trong những năm gần đây, có rất nhiều phát hiện mới về vai trò của probiotic và tác động của những chất tiền sinh học của chúng lên đặc điểm sinh lý bên trong và bên ngoài của ruột của vật chủ Những ảnh hưởng của probiotic và hoạt động tiền sinh học bao gồm:

Sự đáp ứng điều hòa miễn dịch qua trung gian tế bào, sự hoạt hóa hệ thống mạng lưới nội chất, gia tăng các con đường cytokine và khích thích các con đường tiền viêm cũng như sự điều hòa các interlerkin và các yếu tố hủy hoại ung thư Vi sinh vật probiotic có khả năng cân bằng hệ vi sinh vật trong đường ruột và âm đạo bằng cách giảm pH môi trường và sản sinh ra các chất

có khả năng chặn vi khuẩn có hại Chúng rất phong phú trong tự nhiên và đem lại nhiều lợi ích cho cơ thể người và động vật như:

Trang 16

- Lợi ích về dinh dưỡng: Qua nhiều nghiên cứu y khoa cho thấy các thực

phẩm lên men với Lactobacillus làm tăng chất lượng, khả năng tiêu hóa và

đồng hóa các chất dinh dưỡng Các nghiên cứu trên chuột cho thấy sự cải

thiện về tốc độ tăng trưởng khi chuột được ăn sữa chua chứa Lactobacillus Mặc dù một số loài Lactobacillus cần vitamin B cho sự tăng trưởng, nhưng một

số loài có thể tự tổng hợp một số loại vitamin nhóm B Tương tự, khả năng hấp thu kim loại như đồng, sắt, kẽm cũng tăng lên khi chuột được ăn sữa chua Như

vậy, Lactobacillus được cho là nhân tố kích thích sự hấp thu dinh dưỡng

- Gia tăng khả năng tiêu hóa lactose: Tăng cường khả năng hấp thu các chất khó tiêu trong cơ thể, điển hình là lactose Đây là một loại đường mà cơ thể không thể hấp thu trực tiếp mà phải được chuyển hóa thành glucose và galactose nhờ enzyme lactase sẽ không thể tiêu hóa được và lưu lại trong ruột non Khi đó các vi khuẩn probiotic trong ruột chúng sinh trưởng và cung cấp enzyme galactosidase thủy phân lactose Lactose được chuyển hóa thành axit lactic giúp cơ thể hấp thu dễ dàng và làm giảm triệu chứng dị ứng lactose

- Làm giảm cholesterol trong máu: Các bệnh về van tim thường liên hệ đến lượng cholesterol cao trong huyết thanh Cao Thị Kim Yến, (2010) [25], khi nghiên cứu những người khỏe mạnh không có tiền sử về bệnh tim mạch

được ăn bổ sung với sữa chua có chứa Lb Acidiphiluscho thấy nồng độ

cholesterol trong huyết thanh giảm rõ rệt Các tác giả kết luận rằng chủng

Lactobacillus liên kết với cholesterol trong khoang ruột vì thế làm giảm hấp

thu nó vào máu

- Cải thiện nhu động của ruột: Vi khuẩn Lactobacillus có khả năng làm

giảm chứng táo bón và tăng nhu động của ruột Lactose không được thủy phân bởi disacharidase và không hấp thu được trong ruột nhưng nó được chuyển đổi chủ yếu trong ruột kết thành axit lactic và axit acetic bởi nhiều

loại vi sinh vật, trong đó có loài Lb acidophilus Độ axit và sự giảm pH là kết

Trang 17

quả của quá trình lên men lactose do vi khuẩn Lactic trong ruột có thể kích

thích sự nhu động ruột và làm giảm chứng táo bón

- Ngăn chặn và xử lí nhiễm khuẩn Helicobacter pylori: Helicobacter

pylori là một trong những loại vi khuẩn có khả năng sống trong niêm mạc dạ

dày, trong một số trường hợp chúng gây viêm hoặc ung thư dạ dày Rất nhiều

phương pháp được sử dụng để loại bỏ sự nhiễm Helicobacter pylori, bao gồm

cả việc sử dụng các chế phẩm probiotic Liệu pháp sinh học này thường được

sử dụng như một chất bổ sung cho các liệu pháp kháng sinh truyền thống trong việc điều trị bệnh Các thử nghiệm y học đã xác nhận tỷ lệ chết của

Helicobacter pylori và khả năng chịu đựng nhiều chế độ điều trị kháng sinh

tăng lên khi điều trị bằng phương pháp kháng sinh kết hợp với probiotic

Ngoài ra chúng có khả năng giúp cơ thể ngăn ngừa một số bệnh như:

Bệnh tiêu chảy, viêm loét, nhiễm khuẩn đường ruột, viêm loét đường hô hấp

2.1.2 Những hiểu biết về men TUAF – Multibio

Men TUAF – Multibiodo các nhà khoa học của Khoa Chăn nuôi thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã nghiên cứu và sản xuất thử nghiệm năm 2015 Men là một hỗn hợp các loại vi sinh vật có lợi để bổ sung vào đường tiêu hóa của gia súc, gia cầm

Thành phần men bao gồm:

- Chất mang vừa đủ ……… 1kg

- Kháng sinh, dược liệu ……… Không có

- Hoocmon ……… ……… Không có Men TUAF – Multibio là một loại chế phẩm vi sinh cao cấp Các vi khuẩn trong men hoạt động và tạo ra các loại vitamin và axit amin trong quá

Trang 18

trình lên men, ức chế các vi khuẩn có hại trong đường ruột làm cho chế phẩm

có tác dụng:

- Phòng chống tiêu chảy, viêm đại tràng, còi cọc cho lợn con và bê,…

- Giữ cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột, chống rối loạn tiêu hóa sau khi dùng kháng sinh

- Kích thích tiêu hóa, tăng khả năng chuyển hóa thức ăn giúp lợn, bò, dê, cừu, gà, vịt, ngan tăng trưởng nhanh, mau lớn

2.1.2.1 Vi khuẩn Bacillus subtillis

Bacillus subtilis được Ferdinand Cohn- một cộng sự của Robert Koch

mô tả và đặt tên năm 1872 [13] Đó là 1 loại vi khuẩn Gram dương, có khả năng mọc được khi có sự hiện diện của oxy và có thể tạo thành dạng đặc biệt

khi tế bào ở trạng thái nghỉ được gọi là nội bào tử (endospore) B.subtilis là vi khuẩn đại diện cho loài (genus) Bacillus của họ Bacillaceae (family) Năm

2004, dựa trên phương pháp phân tích 16S rRNA người ta phân chia loài Bacillus thành nhiều họ và loài vi khuẩn tạo bào tử khác nhau Những

thành viên của họ Bacillus được đề cập ở đây là loại vi khuẩn “ gram dương,

kỵ khí hay kỵ khí tùy tiện, tạo nội bào tử” Về cơ bản theo phân loại của

Bergey, B.subtilis thuộc:

- Giới (kingdom): Bacteria

Trang 19

Theo nguồn vi.m.wikipedia.org [28], loài Bacillus phân bố rộng rãi và đa

dạng trong tự nhiên Trong điều kiện sống khó khăn, chúng có khả năng tạo ra bào tử gần như hình cầu để tồn tại trong thời gian dài

*Đặc tính trị liệu

Từ lâu, người ta đã biết đến khả năng kháng khuẩn của B subtilis, những

người nông dân của nhiều nước từ xa xưa , mô ̣t cách vô tình ho ̣ đã dùng nước

của B subtilis là nguyên nhân chữa được bệnh này B subtilis có vai trò lớn

trong viê ̣c giữ ổn đi ̣nh thế quân bình vi khuẩn trong ruô ̣t bằng cơ chế ca ̣nh tranh sinh tồn và khả năng gây ức chế các vi khuẩn gây bệnh ở đường ruột do

subtilis có hệ thống men tương đối hoàn chỉnh có khả năng thủy phân gluxit,

lipit, protit, enzym cellulase biến đổi chất xơ thành các loa ̣i đường dễ tiêu , lecitinase thủy phân các chất béo phức hợp , enzym phân giải gelatin , enzym phân giải fibrin và mô ̣t loa ̣i enzym giống lysozym gây tác du ̣ng trực tiếp dung

giải một số typ vi khuẩn Proteus gây bê ̣nh trong đường ruột B subtilis còn

được đánh giá là mô ̣t trong những loại vi khuẩn an toàn và hiệu quả nhất để sử du ̣ng trong ngành công nghê ̣ sinh ho ̣c sản xuất các axit amin quan tro ̣ng như: lysine, valine, tyrozine, proline, threonine, isoleusine, aspastic…

Theo nguồn vi.m.wikipedia.org[29], B subtilis còn có khả năng tổng

hợp mô ̣t số chất kháng sinh có tác du ̣ng ức chế sinh trưởng hoă ̣c tiêu diê ̣t mô ̣t số vi sinh vâ ̣t khác , tác dụng lên cả vi khuẩn gram âm lẫn gram dương, nấm

gây bê ̣nh như : Bacitracin, Bacilysin, Baxilomicin (A,B,C,R), Bacillopectin,

Mycobacillin, Subtilin (A,B,C), Prolimicin… Nhơ ̀ các kháng sinh này mà B

subtilis có khả năng cạnh tranh tốt với các vi khuẩn khác và ngườ i ta đã ứng

dụng chúng để tái tạo lại sự cân bằng vi khuẩn trong ruột B subtilis còn có

khả năng đồng hóa một số vitamin như B2 (Riboflavin) đóng vai trò quan

Trang 20

trọng trong hoạt động sống của cơ thể động thực vật , có mặt trong tấ t cả các tế bào, tham gia vào các quá trình dinh dưỡng và hô hấp của sinh vâ ̣t Trong 1

gam sinh khối khô Bacillus có 7,8 µg riboflavin

Nhiều nước trên thế giới đã dùng B subtilis như là mô ̣t chế phẩm trợ

sinh hay còn go ̣i là prob iotic, chứa các vi sinh vâ ̣t sống có tác du ̣ng làm cải thiê ̣n hê ̣ vi sinh vâ ̣t ở cơ thể vâ ̣t chủ

Các chế phẩm từ B subtilis được bán ở hầu hết các nước châu Âu ngay khi còn biết ít về cơ chế tác du ̣ng của chúng Bào tử của B subtilis có thể qua

được rào chắn tiêu hóa , mô ̣t phần bào tử nảy mầm trong ruô ̣t non và sinh sôi

trong đường ruô ̣t Ngoài ra một số tác dụng lâm sàng của B subtilis đã được

biết như là tác nhân kích thích miễn di ̣ch , nhờ tác dụng kích thích tiết IgA , một loại globulin tiết có trên bề mặt tế bào biểu mô niêm mạc có khả năng ức chế, ngăn chặn vi sinh vật gây bệnh xâm nhập vào cơ thể

*Cơ chế tác dụng

Theo nguồn khoahoc.tv [23], Bacillus subtilis tồn ta ̣i trong sinh phẩm ở

trạng thái bào tử, nhờ vâ ̣y khi uống vào da ̣ dày nó không bi ̣ axit cũng như các men tiêu hóa ở di ̣ch vi ̣ phá hủy Ở ruột, bào tử nảy mầm và phát triển thành

thể hoa ̣t đô ̣ng Giai đoa ̣n này, B subtilis tổng hợp nhiều chất có hoạt tính sinh

Một số enzym như protease , α-amylase và mô ̣t số enzym khác hoa ̣t đô ̣ng mạnh có lợi cho tiêu hóa ở ruột, chúng có vai trò:

-Làm cho pH ở ruột ổn định, hạn chế sự phát triển của vi khuẩn sinh hơi

và vi khuẩn gây bệnh

- Cung cấp ngay cho cơ thể một số men cần thiết, làm cho tiêu hóa trở lại bình thường trong khi hệ vi khuẩn ở ruột chưa lập lại trạng thái cân bằng

Ở thành bào tử B subtilis có enzyme giống như lysozyme có khả năng dung

Trang 21

Các chất kháng sinh do B subtilis tiết ra có tác du ̣ng ức chế sự phát triển

và tiêu diê ̣t mô ̣t số loài vi khuẩn gây bê ̣nh ta ̣o điều kiê ̣n cho các vi khuẩn bình thường ở ruô ̣t phát triển tái lâ ̣p la ̣i tra ̣ng thái cân bằng Ở trong ruột, các chất

sinh ho ̣c này không chỉ được giải phóng khi B subtilis còn sống mà ngay cả

khi chúng đã chết , xác vi khuẩn vẫn tiếp tục giải phóng ra các enzym , kháng sinh, vitamin có lợi cho cơ thể

Theo nguồn bioone.vn [19],có nhiều nghiên cứu cho thấy rằng không nhất thiết là probiotic sống mới có lợi cho đa ̣i tràng vì tác du ̣ng này xảy ra gián tiếp qua chuỗi AND kích thích miễn dịch không methyl hóa Vi khuẩn

probiotic có thể ức chế viêm đại tràng thông qua các thành phần cấu trúc

được nhâ ̣n diê ̣n bằng thu ̣ thể đă ̣c hiê ̣u c ủa miễn dịch bẩm sinh như tương tự

thụ thể “Toll” B subtilis không nhân lên trong ruô ̣t , chúng chỉ chuyển từ

dạng bào tử sang dạng hoạt động rồi bị đào thải hoàn toàn Như vâ ̣y khả năng

cạnh tranh của B subtilis đối với vi khuẩn gây bê ̣nh không chỉ ở số lượng tế

những năm gần đây , khoa vi sinh vâ ̣t của bê ̣nh viê ̣n Ba ̣ch Mai đã đánh dấu

hỗn di ̣ch B subtilis bằng đồng vi ̣ phóng xạ trong điều trị bệnh đường ruột và kết luâ ̣n: “Hỗn dịch B subtilis sau khi vào cơ thể chuô ̣t lang , được tâ ̣p trung

rất nhiều trong ruô ̣t già, lưu giữ ta ̣i đó mô ̣t lượng đáng kể cho đến ngày thứ ba

và không đi vào máu” Như vâ ̣y để điều trị các bệnh đường ruô ̣t, khắc phu ̣c

mô ̣t vũ khí lợi ha ̣i , rẻ tiền, dễ sử du ̣ng, có thể áp dụng rộng rãi trong điều trị

Các chế phẩm trợ sinh từ B.subtilis khi đi vào cơ thể có tác du ̣ng theo bốn cơ

chế chủ yếu:

-Trung hòa đô ̣c tố

- Cạnh tranh với mầm gây bệnh

-Thay đổi chuyển hóa của vi sinh vâ ̣t

Trang 22

- Kích thích miễn dịch của cơ thể vật chủ

Nhờ các cơ chế tác dụng này B subtilis mang các đặc tính trị liệu và

hiện nay đã được sử du ̣ng rộng rãi làm chế phẩm sinh ho ̣c dưới da ̣ng men tiêu hóa sống

2.1.2.2 Vi khuẩn Lactobacillus spp

Gram dương Chúng là những vi khuẩn có dạng hình que dài, không sinh bào

tử, tế bào thường xếp đôi hoặc thành chuỗi, không di động Chủng nhóm chính của vi khuẩn axit lactic, hầu hết các chủng của chúng đều biến đổi đường thành lactose và những đường khác thành axit lactic Chúng là vi khuẩn rất phổ biến và thường là lành tính Ở người, chúng có mặt ở âm đạo và ruột Nhiều loài có ở thực vật đang phân rã Sự sản xuất axit lactic làm ngăn cản sự phát triển của một vài loài vi khuẩn có hại khác

Lactobacillus được sử dụng để sản xuất các chế phẩm công nghiệp như

sữa chua, phô mai, dưa cải, dưa chua, rượu, bia, kim chi và những thức ăn lên men khác, cũng như thức ăn ủ chua cho động vật

Vi khuẩn Lactobacillus là nhóm vi khuẩn được sử dụng nhiều nhất trong

các chế phẩm probiotic

* Đặc tính và chức năng sinh học

Theo nguồn webykhoa.org [30], đặc tính và chức năng sinh học của

Lactobacillus gồm:

- Phân giải protein:

Lactobacillus sản sinh enzym proteinase phân giải protein thành các

polypeptide mạch ngắn

Hoạt tính này của vi khuẩn giúp cho protein của cơ thể vật chủ tiêu hóa

dễ dàng Vì vây, các chế phẩm từ hoạt động lên men của Lactobacillus được

đánh giá là nguồn dinh dưỡng có giá trị cao cho các đối tượng: trẻ sơ sinh, người già, người đang dưỡng bệnh hay gia súc non

Trang 23

-Phân giải lipit:

Nhờ có enzym lipase, Lactobacillus có khả năng phân cắt chất béo ở

dạng triglyceride thành các axit béo và glycerol Điều này cũng có nghĩa về mặt dinh dưỡng đối với người và vật nuôi

-Phân giải đường lactose:

Lactobacillus mang enzym beta – galactosidase, glycolase và lactic

dehyrogenase có tác dụng chuyển hóa đường lactose thành axit lactic Đây là một axit hữu cơ có những đặc tính sinh học đặc biệt

- Sản xuất bacteriocin và các chất kháng khuẩn

Bacteriocin là protein hay hợp chất protein do vi khuẩn sản xuất có hoạt

tính diệt khuẩn trực tiếp Cơ chất này giúp vi khuẩn Lactobacillus thể hiện

được hoạt tính ức chế đối với các vi sinh vật gây thối trong hệ tiêu hóa Vi

khuẩn Lactobacillus còn có thể ức chế sự phát triển của các vi sinh vật gây

* Ứng dụng của vi khuẩn Lactobacillus

- Trong chăn nuôi:

Theo nguồn en.m.wikipedia.org [20], Lactobacillus có hiệu quả trong

phục hồi sự cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột và giúp hình thành hệ vi sinh vật dạ cỏ Nhờ vào sự giảm nồng độ NH3 và hạn chế vi sinh vật gây thối

nhiễm vào đường ruột, Lactobacillus có hiệu quả kích thích tăng trưởng ở

động vật

- Trong y học:

Lactobacillus cải thiện được tình trạng tiêu chảy, tăng nhu đông ruột,

chữa được chứng táo bón

Lactobacillus duy trì pH âm đạo khoảng 4 – 4,5 nhờ vào hoạt động lên

men glycoge thành axit lactic Môi trường này không thích hợp cho vi khuẩn phát triển

Trang 24

Các chế phẩm chứa Lactobacillus đều cho thấy hiệu quả trong chữa trị

những rối loạn và viêm nhiễm bao gồm: viêm ruột kết, đầy hơi, ung bướu, là

hạ cholesterol trong máu, đau đầu, viêm âm đạo không điển hình và cải thiện được tình trạng không sử dụng được lactose

2.1.2.3 Vi khuẩn Saccharomyces cerevisiae

Theo nguồn vi.wikipedia.org [27], Saccharomyces cerevisiaelà một loại

nấm men được biết đến nhiều nhất có trong bánh mì nên thường gọi là “men

bánh mì”, là một loại vi sinh vật thuộc chi Saccharomyces lớp Ascomycetes

ngành nấm Loài này có thể xem là loài nấm hữu dụng nhất trong đời sống con người từ hàng ngàn năm trước đến nay Nó được dùng rộng rãi trong lên men bánh mì, rượu, bia

Saccharomyces cerevisiae là một trong những loài sinh vật nhân chuẩn

được khoa học dùng nhiều nhất, cùng với E.coli là hai loài sinh vật mô hình

phổ biến nhất

* Đặc điểm hình thái

Theo nguồn 123doc.org [18], tế bào nấm men Saccharomyces cerevisiae

có dạng hình cầu hay hình trứng, có kích thước nhỏ, từ 5 – 14 µm

Thành tế bào dày khoảng 25 nm (chiếm khoảng 25% khối lượng khô tế bào), cấu tạo từ gucan và mannan

Thành tế bào chứa khoảng 10% protein, trong số protein này có một là enzyme Dưới lớp thành tế bào là lớp màng tế bào chất, cấu tạo chủ yếu gồm protein (50%), lipit (40%) và một ít polisaccarit

* Đặc tính sinh học

Saccharomyces cerevisiae là đơn bào nên có thể tiến hành thí nghiệm

như vi khuẩn, đồng thời có những đặc tính chủ yếu điển hình của Eukaryota

và có ty thể với bộ gen AND nhỏ, giống với vi khuẩn nên nó có thể nuôi trong môi trường dịch thể hay đặc và tạo khuẩn lạc trên môi trường thạch

Trang 25

Saccharomyces cerevisiae thích nghi trong môi trường chứa đường cao,

có tính acid cao Có thể nuôi tế bào nấm men quy mô lớn trong các nồi lên men và dễ dàng thu nhận sinh khối tếbào

*Sinh sản

Theo nguồn123doc.org [18], Saccharomyces cerevisiae sinh sản bằng

cách tạo chồi và tạo bào tử Nguồn dinh dưỡng chủ yếu của chúng là sử dụng đường glucose, galactose, saccharose, maltose như nguồn cacbon, chúng sử dụng axit amin và muối amon như nguồn nitơ

2.1.3 Giới thiệu về chim cút

* Nguồn gốc

Chim cun cút, gọi tắt là chim cút, có nguồn gốc ở châu Á, chúng thích hợp sống ở những vùng khí hậu ấm áp và hơi nóng Lần đầu tiên giống này được thuần hóa ở Nhật Bản từ thế kỷ thứ XI

Chim cút thuộc nhóm chim bay (Carinatae), gồm 25 bộ, trong đó có bộ

gà (Galliformes) gồm những loài chim như: gà, gà lôi, công, trĩ, chim cút,…

chúng có cánh ngắn, tròn nên bay kém, chân to, khỏe, móng cùn

Ở nước ta, nghề nuôi chim cút được nhập vào và phát triển mạnh ở miền Nam trong những năm 1985 – 1990, chủ yếu nuôi chim cút Pharaoh, nặng khoảng 180 – 200 g Vào khoảng năm 1980, nhập thêm giống cút pháp, to hơn cút Pharaoh, con trưởng thành nặng tới 250 – 300 g, có lông màu trắng hơn cút Pharaoh Ngoài ra, trên thị rường còn có một số chim cút Anh, khối lượng trung gian giữa cút Pháp và cút Pharaoh, trung bình nặng khoảng 220 –

250 g, có lông màu sẫm, rất khó phân biệt trống mái, chỉ phân biệt được khi

đã trưởng thành(Bùi Hữu Đoàn, 2010) [3]

Để đáp ứng nhu cầu chăn nuôi chim cút, tháng 04/1997 Viên Chăn Nuôi tiếp tục nhập chim cút Nhật Bản và chim cút Mỹ Hiện nay, thịt và trứng chim cút đã trở thành các thực phẩm quen thuộc trên thị trường và chăn nuôi chim

Trang 26

cút đã trở thành một nghề phổ biến của nhiều hộ nông dân với quy mô khác nhau từ vài trăm con tới hàng chục ngàn con

* Đặc điểm ngoại hình của chim cút

Chim cút, đầu màu vàng nghệ có các vết sọc đen chạy dọc trên lưng và cánh Lông bụng, lông cổ dưới ức có màu vàng nhạt, chân xám hồng có chấm đen mỏ xám đá, mắt đen, đôi khi có con có màu sắc lạ như hung, đen, trắng Chim trưởng thành lông ống phủ kín thân, lông lưng, đầu, cổ, đuôi có màu xám lẫn đen

* Phân biệt trống mái

Chim đực lông mặt cổ dưới diều và ngực có màu vàng nâu lẫn ít trắng Chim mái màu lông mặt cổ dưới xám lẫn ít đen, lông bụng trắng xám, mỏ đen xám, chân trắng xám và hơi hồng, mắt đen Chim cút đực trưởng thành hậu môn có một u lồi, chim mái không có Chim cút đực biết gáy còn chim mái không biết gáy Chim đực bé hơn chim mái (chim mái có khối lượng khoảng

197 g, chim đực có khối lượng khoảng 175 g) Năng xuất, sản phẩm: bắt đầu

đẻ từ 35 – 40 ngày tuổi Sản lượng trứng từ 260 – 270 quả/mái/năm

Người ta thường phân biệt giới tính chim cút sau 2 tuần tuổi khi các khác biệt về giới tính bắt đầu được biểu lộ Thông thường, toàn bộ chim cút đực và chim cút mái không đạt chuẩn sẽ được nuôi thịt

* Tập tính của chim cút

Chim cút có thị giác rất phát triển nên có khả năng nhận biết và chọn lọc thức ăn cao, nhưng vị giác và khứu giác lại kém phát triển nên khó nhận biết mùi vị thức ăn Vì vậy, cút dễ bị ngộ độc thức ăn do ăn phải thức ăn ôi, mốc Chim cút mặc dù đã được thuần hóa nuôi dưỡng từ lâu nhưng còn mang nhiều đặc tính hoang dã Đáng chú ý là vẫn sợ tiếng động, tiếng ồn, thường bay lên va vào thành lồng gây bị thương, chết

Trang 27

2.1.4 Đặc điểm hệ tiêu hóa ở chim cút

Theo nguồn huounaigiong.com [22], chim có tốc độ trao đổi chất và năng lượng cao hơn so với động vật có vú Cường độ tiêu hóa mạnh ở chim được xác định bằng tốc độ di chuyển của thức ăn qua ống tiêu hóa Ở chim non tốc độ này là 30 – 39cm trong vòng 1 giờ, ở chim lớn hơn là 32 – 40cm

và ở chim trưởng thành là 40 – 42cm Chiều dài của ống tiêu hóa ở chim không lớn, thời gian mà khối thức ăn được giữ lại trong đó không vượt quá 2 – 4 giờ, ngắn hơn rất nhiều so với động vật khác Do đó, để quá trình tiêu hóa thức ăn diễn ra thuận lợi và có hiệu quả cao, thức ăn cần phải phù hợp về lứa tuổi và trạng thái sinh lý, được chế biến thích hợp, đồng thời phải có hàm lượng chất xơ ở mức thấp nhất

* Tiêu hóa ở miệng

Theo nguồn huounaigiong.com [22], chim lấy thức ăn bằng mỏ Hình dáng và độ lớn của mỏ ở các loài gia cầm rất khác nhau Chim cút có mỏ ngắn, nhọn, cứng và hơi cong Lưỡi gia cầm nằm ở đáy khoang miệng, có hình dạng và kích thước tương ứng với mỏ Bề mặt phía trên của lưỡi có những gai rất nhỏ hóa sừng hướng về cổ họng, có tác dụng giữ khối thức ăn trong miệng và đẩy chúng về phía thực quản Các cơ quan thị giác và xúc giác kiểm tra sự tiếp nhận thức ăn Chim thực hiện mổ và nuốt thức ăn nhờ các động tác nâng lên, hạ xuống linh hoạt của đầu Số lượng thức ăn mà chim ăn được trong 1 đơn vị thời gian phụ thuộc vào mức độ hấn dẫn của thức ăn, loài

và tuổi của chim Khi đói, nó mổ nhanh và ăn nhiều Chim tiếp nhận thức ăn lỏng và nước bằng cách nâng đầu rất nhanh rồi ngửa cổ lên để nuốt

Việc điều khiển lượng thức ăn ở chim được thực hiện bởi các trung tâm thần kinh của vùng dưới đồi thị Các trung tâm này bị kích thích hoặc ức chế do ảnh hưởng của các yếu tố ngoại sinh (thành phần và tính chất của thức ăn, tần

số và thời gian cho ăn) và nội sinh (mức độ của các quá trình trao đổi chất)

Trang 28

Khi thức ăn đi trong khoang miệng, nó được thấm ướt nước bọt để dễ nuốt Các tuyến nước bọt của chim phát triển kém Động tác nuốt ở chim được thực hiện nhờ chuyển động rất nhanh của lưỡi, khi đó thức ăn được chuyển rất nhanh vào vùng trên của hầu vào thực quản Thanh quản được nâng lên phía trước và lên trên, lối vào thanh quản bị ép dưới đáy của xương dưới lưỡi và gốc lưỡi, ngăn không cho thức ăn rơi vào đường hô hấp Viên thức ăn thu nhận được ở cuống lưỡi được đẩy vào lỗ thực quản, sau đó do những co bóp nhu động của thành thực quản, nó được đẩy vào diều Khi chim đói, thức ăn được đẩy thẳng vào dạ dày, không qua diều Trong thành thực quản có các tuyến nhầy hình ống, tiết ra các chất nhầy có tác dụng làm ướt và trơn thức ăn khi nuốt.

* Tiêu hóa ở diều

Theo nguồn huounaigiong.com [22], ở chim cút, diều là một chỗ phình rộng hơn, hình túi Diều nằm bên phải, chỗ đi vào khoang ngực, ngay trước chạc ba nối liền 2 xương đòn phải trái Mặt ngoài của diều được tiếp xúc trực tiếp với cơ da, cơ này giúp cho nó giãn nở rộng khi thức ăn rơi vào Các lỗ dẫn vào và dẫn ra của diều rất gần nhau và có các cơ thắt Giữa các cơ thắt lại

có ống diều, khi chim đói thức ăn theo ống này đi thẳng vào dạ dày, không qua túi diều nữa

Thức ăn ở diều được làm mềm ra, quấy trộn và được tiêu hóa từng phần bởi các men của thức ăn và các vi khuẩn nằm trong thức ăn thực vật

* Tiêu hóa ở dạ dày

Theo nguồn huounaigiong.com [22], dạ dày chim gồm dạ dày tuyến và

dạ dày cơ Thức ăn từ diều được chuyển vào dạ dày tuyến, nó có dạng ống ngắn, vách dày, được nối với dạ dày cơ bằng một eo nhỏ Vách dạ dày tuyến

có cấu tạo gồm màng nhầy, cơ và mô liên kết Bề mặt của màng nhầy có những nếp gấp dễ thấy, đậm là liên tục Ở đáy màng nhầy có những tuyến

Trang 29

hình túi phức tạp Dịch dạ dày được tiết vào trong khoang của dạ dày tuyến,

có axit clohidric, enzym và musin Cũng như ở động vật có vú, pepsin được tiết ra ở dạng không hoạt động và được hoạt hóa bởi axit clohidric Các tế bào hình ống của biểu mô màng nhầy bài tiết ra một chất nhầy đặc rất giàu musin, chất này phủ lên bề mặt niêm mạc của dạ dày Sự tiết dịch dạ dày ở chim là liên tục, sau khi ăn thì tốc độ tiết tăng lên

Dịch dạ dày tinh khiết là một chất lỏng không màu hoặc hơi trắng đục,

có pH axit Độ pH của dịch dạ dày ở chim trung bình là 3,0; thường là 2,6 Độ

pH sẽ giảm xuống sau khi tiếp nhận thức ăn giàu chất kiềm, cacbonat canxi, bột xương

Ở chim, số lượng dịch dạ dày và độ axit tăng dần lên cùng với độ tuổi Ở chim con vài ngày tuổi, dịch dạ dày có tính axit (pH = 4,2 - 4,4) Axit clohidric tự do không thường xuyên được tìm thấy trong khối chứa trong dạ dày của chim con có độ tuổi từ 1 - 5 ngày

Dạ dày cơ (mề) có dạng hình đĩa, hơi bị bóp ở hai bên, nằm ở phía sau thuỳ trái của gan và lệch về khoang bụng trái Lối vào và lối ra ở dạ dày cơ rất gần nhau, nhờ vậy, thức ăn được giữ lại tại đây lâu hơn, chúng sẽ bị nghiền nát bằng cơ học, trộn lẫn với men và được tiêu hoá dưới tác dụng của các dịch

dạ dày cũng như enzym và chất tiết của vi khuấn Dịch tiêu hoá không được tiết ra ở dạ dày cơ

Niêm mạc của mề rất dày và được cấu tạo từ hai lớp: biểu bì cùng với lớp màng bằng sừng và một lớp nhầy đặc chắc từ mô liên kết

Trong việc tạo thành màng sừng có các tuyến của màng nhầy, biểu bì của những chỗ trũng ở dạ dày tham gia

Màng sừng của mề luôn bị mòn đi, nhưng nhờ sự dày lên ở đáy nên chiều dày của nó được ổn định Ngoài ý nghĩa cơ học, màng sừng còn giữ cho vách dạ dày khỏi bị tác động của những yếu tố bất lợi Màng sừng bền với pepsin, không bị hoà tan trong các axit loãng, kiềm và các dung môi hữu cơ

Trang 30

Các sản phẩm tiêu hoá, thức ăn, vi khuấn không được hấp thu qua màng sừng, vách dạ dày

Lớp cơ của mề cấu tạo từ mô cơ phẳng, một đôi cơ lớn chính có dạng hình tam giác hướng các đáy lại với nhau đã tạo nên khối cơ của vách mề

Sự co bóp nhịp nhàng của mề xảy ra trong 2 pha: trong pha đầu, 2 cơ chính co bóp và sau đó là các cơ trung gian (pha thứ 2) Thời gian của mỗi nhịp co của 2 đôi cơ trong khoảng 2 - 3 giây, còn cả chu kỳ co bóp là 20 giây Tần số co bóp phụ thuộc vào độ rắn của thức ăn Khi ăn thức ăn ướt có 2 lần

co bóp, còn thức ăn cứng có 3 lần trong 1 phút

Sỏi và các dị vật chứa trong dạ dày có một ý nghĩa nhất định trong việc nghiền và làm sạch những tiểu thể thức ăn trong khoang dạ dày Chúng làm tăng tác dụng nghiền của vách dạ dày

Đối với chim, sỏi tốt nhất là từ thạch anh, chúng bền với axit clohidric của dịch dạ dày Để hệ tiêu hoá hoạt động bình thường thì kích thước của các viên sỏi với chim con mới nở nên nhỏ (đường kính 2,5 – 3mm) và tăng lên theo tuổi Chim đã trưởng thành có thể nuốt được loại sỏi có đường kính đến 4-6 mm Không nên thay sỏi bằng cát, đá vôi, thạch cao, vỏ sò, vỏ ốc hến, phấn Cát sẽ đi rất nhanh từ dạ dày vào ruột và gây kích thích Những chất khác đã kể trên sẽ bị axit clohidric hoà tan và gây rối loạn tiêu hoá ở dạ dày, sau đó là ở ruột

Nếu không có sỏi trong dạ dày cơ thì sự hấp thu các chất dinh dưỡng và

hệ số tiêu hoá thức ăn bị giảm xuống Ở chim non, việc thiếu sỏi trong dạ dày làm giảm khối lượng tuyệt đối của dạ dày 30 - 35% Các cơ của dạ dày sẽ trở nên nhũn và xuất hiện những vết loét trên màng nhầy

Trong dạ dày cơ, ngoài việc nghiền thức ăn cơ học, còn sảy ra quá trình hoạt động của các men Dưới tác động của axit clohidric, các phân tử protein trở nên căng phồng và dễ bị phân giải

Trang 31

* Tiêu hóa ở ruột

Theo nguồn huounaigiong.com [22], quá trình tiêu hoá các chất dinh dưỡng đều xảy ra ở ruột non của chim Nguồn các men tiêu hoá quan trọng nhất là từ dịch dạ dày, cùng với mật đi vào manh tràng, chất tiết của các tuyến ruột có ý nghĩa kém hơn

Dịch ruột chim là một chất lỏng đục, có phản ứng kiềm yếu (pH - 7,42) với tỷ trọng 1,0076 Trong thành phần dịch ruột có các men proteolytic, aminolytic và lypolytic và các men enterokinaza

Dịch tuỵ là một chất lỏng không màu, hơi mặn, có phản ứng hơi toan hoặc hơi kiềm (pH 7,2 - 7,5) Trong chất khô của dịch, ngoài các men, còn có

Dịch tuỵ của chim trưởng thành có chứa các men tripsin, cacbosipeptidaza, amilaza, mantaza, invertaza và lipaza

Tripsin được bài tiết ra ở dạng chưa hoạt hoá là tripsinogen, dưới tác động của men dịch ruột enterokinaza, nó được hoạt hoá, phân giải các protein phức tạp ra các axit amin Men proteolytic khác là các cacbosipeptidazađược tripsin hoạt hoá cũng có tính chất này

Các men amilaza và mantaza phân giải các polysacarit đến các monosacarit như glucoza Lipaza được dịch mật hoạt hoá, phân giải lipit thành glyserin và axit béo

Cơ chế việc chế tiết tuyến tuỵ ở chim giống với động vật có vú Ở chim trưởng thành, trước khi cho ăn, tuyến tiết ra một lượng dịch nhỏ (sự chế tiết bình thường) Từ 5 - 10 phút sau khi cho ăn, mức độ chế tiết tăng 3 - 4 lần và giữ đến giờ thứ ba, sau đó việc tiết dịch dần dần giảm xuống, đến giờ thứ 9 -

10 sau khi cho ăn thì bằng mức độ ban đầu

Số lượng dịch và hoạt tính men thay đổi phụ thuộc vào thể tích và thành phần thức ăn Thức ăn giàu protein sẽ nâng hoạt tính proteolytic của dịch lên

Trang 32

đến 60%; thức ăn giàu lipit sẽ làm tăng cường hoạt tính lypolytic, hoạt tính này được giữ ở mức độ cao đến 10 giờ Bột đậu tương có chứa nhiều protein và dầu

sẽ nâng mức độ chế tiết của tuyến lên 85% và đồng thời cũng nâng cả hoạt tính proteolytic và hoạt tính lypolytic của dịch lên tương ứng đến 20% và 16% Mật được gan tiết ra không ngừng, một phần đi vào túi mật (gà, vịt, ngỗng), phần còn lại thì đổ trực tiếp vào tá tràng

Mật chim là một chất lỏng màu sáng hoặc xanh đậm, kiềm tính (pH 7,3 - 8,5) Dịch trong túi mật đậm đặc hơn và có màu đậm hơn Về thành phần mật,

ở các loài chim khác nhau không giống nhau Các thành phần điển hình của mật là các axit mật, sắc tố, và cholesterol, ngoài ra còn có gluxit, các axit béo

và các lipit trung tính, musin, các chất khoáng và các sản phẩm trao đổi chất

có chứa nitơ Ngoài sự tham gia vào quá trình tiêu hoá ở ruột, gan còn đóng vai trò quan trọng trong trao đổi protein, gluxit, lipit và khoáng Trong gan, các axit uric, các chất cặn bã khác, hồng cầu chết bị phân huỷ, chất độc hại được trung hoà và thải vào nước tiểu Trong các tế bào của gan có chứa glycogen, là nguyên liệu để tạo nên các vitamin quan trọng (A, D và các vitamin khác)

Các men trong ruột hoạt động trong môi trường axit yếu, kiềm yếu; pH dao động trong những phần khác nhau của ruột

Theo nguồn huounaigiong.com [22], Trong tá tràng, dưới tác động của axit clohidric và các men của dịch dạ dày (pepsin và chimosin), protein bị phân giải đến pepton và polypetit Các men proteolytic của dịch tuỵ tiếp tục phân giải chúng đến các axit amin trong hồi tràng; gluxit của thức ăn được phân giải đếncác monosacarit, do tác động của amilaza của dịch tuỵ và một phần do amilaza của mật và của dịch ruột Sự phân giải lipit được bắt đầu trong tá tràng, dưới tác động của dịch mật, dịch tuỵ và tạo ra các sản phẩm là monoglyserit, glyserin và axit béo

Trang 33

Các quá trình tiêu hoá và hấp thu ở ruột non xảy ra đặc biệt tích cực Sự phân giải các chất dinh dưỡng không chỉ có trong khoang ruột (tiêu hoá ở khoang), mà cả ở trên bề mặt các lông mao của các tế bào biểu bì (sự tiêu hoá

ở màng) Tiêu hoá ở khoang là sự thuỷ phân thức ăn, còn tiêu hoá ở màng là các giai đoạn tiếp theo, tạo ra các sản phẩm cuối cùng của sự tiêu hoá để hấp thu Các cấu trúc phân tử và trên phân tử của thức ăn có kích thước lớn được phân giải dưới tác động của các men trong khoang ruột, tạo ra các sản phẩm trung gian nhỏ hơn, chúng đi vào vùng có nhiều nhung mao của các tế bào biểu mô Ở đó, trên các nhung mao có các men tiêu hoá, tại đây diễn ra giai đoạn cuối cùng của sự thuỷ phân để tạo ra sản phẩm cuối cùng như axit amin, monosacarit chuẩn bị cho việc hấp thu Quan hệ qua lại của quá trình tiêu hoá

ở khoang, ở màng và vai trò của tiêu hoá màng ruột của chim hiện nay còn chưa được nghiên cứu đầy đủ

Sự tiêu hoá trong manh tràng của chim nhờ có các men đã đi vào cùng với dịch tiêu hóa từ ruột non và từ hệ vi khuẩn Các vi sinh vật bắt đầu thâm nhập vào manh tràng chim ngay từ lần tiếp nhận thức ăn đầu tiên Ở đây, các

vi khuẩn Streptococei, trực khuẩn ruột, Lactobasillus sinh sản rất nhanh

Trong manh tràng cũng sảy ra quá trình tiêu hoá protein, gluxit và lipit Ngoài

ra, các vi khuẩn còn tổng hợp các vitamin nhóm B

Khả năng tiêu hoá chất xơ của chim rất hạn chế Cũng như ở động vật có

vú, các tuyến tiêu hoá của gia cầm không tiết ra một men đặc hiệu nào để tiêu hoá xơ Một lượng nhỏ chất xơ được phân giải trong manh tràng bằng các men do vi khuấn tiết ra Những gia cầm nào có manh tràng phát triển hơn như

đà điểu, ngan, ngỗng thì các chất xơ được tiêu hoá nhiều hơn Ở các loại chim khác nhau thì chỉ có trung bình từ 10 - 30% cất xơ được phân giải Theo nguồn huounaigiong.com [22], ở chim các quá trình hấp thu chủ yếu xảy ra ở ruột non Ở đây các sản phẩm phân giải cuối cùng là protein, lipit

và gluxit, nước, các chất khoáng, các vitamin được hấp thu

Trang 34

Các chất chứa nitơ chủ yếu được hấp thu dưới dạng các các axit amin Cường độ hấp thu các axit amin riêng biệt không phụ thuộc vào khối lượng phân tử của chúng

Gluxit được hấp thu dưới dạng các đường đơn (monosacarit) và đường đôi (disacarit)

Hấp thu mỡ, trong ruột dưới tác động của men lipaza, mỡ được phân giải thành glyserin và axit béo Các sản phẩm của sự phân giải mỡ, về cơ bản được hấp thu trong phần mỏng của ruột Glyserin được hoà tan rất tốt trong nước và được hấp thu rất nhanh Các axit béo kết hợp với các axit mật, kali và natri tạo thành các hợp chất hoà tan được trong nước sau đó mới được hấp thu Người

ta cho rằng một phần nhỏ của lipit dưới dạng các nhũ tương có thể được hấp thu trực tiếp

Trong tương bào của biểu mô ruột, các axit béo bị tách ra khỏi các axit mật và một phần được tái tổng hợp thành các phân tử của lipit Các axit béo được giải phóng ra trong quá trình hấp thu kích thích sự hấp thu lẫn nhau, chẳng hạn, khi có các axit béo không bão hoà thì vận tốc hấp thu các axit béo bão hoà như palmitinic và stearinic được tăng lên trong ruột non chim con Hiệu quả của việc bổ sung lipit vào khẩu phần của chim con phụ thuộc vào tỷ

lệ giữa các axit béo bão hoà và không bão hoà trong khẩu phần

Hấp thu nước ở chim được thực hiện trong tất cả các phần ruột non và ruột già Có từ 30 - 50% nước uống được hấp thu, quá trình này phụ thuộc vào áp suất thẩm thấu trong ruột, trong máu và các mô Người ta đã xác định được rằng trong một số trường hợp, ở chim có sự tuần hoàn nước, một phần nước đã được hấp thu từ ruột vào máu rồi lại bị bài tiết trở lại vào diều, làm

nó căng phồng lên

Các chất khoáng được hấp thu trên toàn bộ chiều dài ruột non Diều, dạ dày và ruột già hấp thu các chất khoáng không đáng kể Các muối natri, kali

Ngày đăng: 21/12/2016, 08:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bùi Hữu Đoàn (2009), “Giáo trình Chăn nuôi đà điểu và chim”, NxbNông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình Chăn nuôi đà điểu và chim”
Tác giả: Bùi Hữu Đoàn
Nhà XB: NxbNông Nghiệp Hà Nội
Năm: 2009
3. Bùi Hữu Đoàn (2010), “Nuôi và phòng trị bệnh cho chim cút”, NxbNông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nuôi và phòng trị bệnh cho chim cút”
Tác giả: Bùi Hữu Đoàn
Nhà XB: NxbNông Nghiệp Hà Nội
Năm: 2010
4. Nguyễn Thị Thúy Hiền (2010), “Tìm hiểu tình hình nghiên cứu sản xuất và ứng dụng Probiotic trong thức ăn chăn nuôi”, Trường Đại học Kỹ Thuật Công Nghiệp Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tìm hiểu tình hình nghiên cứu sản xuất và ứng dụng Probiotic trong thức ăn chăn nuôi”
Tác giả: Nguyễn Thị Thúy Hiền
Năm: 2010
5. Võ Thị Lan, Trần Thông Thái, (2006), “Nuôi cú”, Nxb Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nuôi cú”
Tác giả: Võ Thị Lan, Trần Thông Thái
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 2006
6. Đào Đức Long (2002), “Sinh học về các giống gia cầm ở Việt Nam”, Nxb Khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Sinh học về các giống gia cầm ở Việt Nam”
Tác giả: Đào Đức Long
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2002
7. Nguyễn Thị Mai, Bùi Hữu Đoàn, Hoàng Thanh (2009), “Chăn nuôi gia cầm”, Nxb Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chăn nuôi gia cầm”
Tác giả: Nguyễn Thị Mai, Bùi Hữu Đoàn, Hoàng Thanh
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 2009
8. Nguyễn Quang Thạch (1990), “Kết quả bước đầu nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm E.M đến khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và một số chỉ tiêu sinh học của cây trồng, vật nuôi”, Báo cáo khoa học cấp nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kết quả bước đầu nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm E.M đến khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và một số chỉ tiêu sinh học của cây trồng, vật nuôi”
Tác giả: Nguyễn Quang Thạch
Năm: 1990
9. Phạm Công Thiếu, Đỗ Thị Ngọc Huyền, Phạm Thị Nga, Nguyễn Thùy Châu (2006), “Nghiên cứu khả năng ứng dụng Phytase từ Bacillus subtillis bổ sung vào thức ăn gà sinh sản”, tạp chí chăn nuôi (số 7), tr 22-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu khả năng ứng dụng Phytase từ Bacillus subtillis bổ sung vào thức ăn gà sinh sản”
Tác giả: Phạm Công Thiếu, Đỗ Thị Ngọc Huyền, Phạm Thị Nga, Nguyễn Thùy Châu
Năm: 2006
10. Nguyễn Văn Thiện (2008), “Phương pháp xử lý số liệu trong chăn nuôi”, Nxb Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp xử lý số liệu trong chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 2008
11. Phùng Đức Tiến, Nguyễn Hữu Cường, Cao Đình Tuấn (2006), “Ảnh hưởng của việc bổ sung enzyme Phytaza trong thức ăn nuôi gà sinh sản Lương Phượng”, đề tài cấp bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Ảnh hưởng của việc bổ sung enzyme Phytaza trong thức ăn nuôi gà sinh sản Lương Phượng”
Tác giả: Phùng Đức Tiến, Nguyễn Hữu Cường, Cao Đình Tuấn
Năm: 2006
12. Viện Chăn nuôi quốc gia (2000), Thành phần và giá trị dinh dưỡng thức ăn gia súc, gia cầm Việt Nam, Nxb Nông nghiệp - Hà Nội, trang 13 - 23.II. TÀI LIỆU TIẾNG NƯỚC NGOÀI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần và giá trị dinh dưỡng thức ăn gia súc, gia cầm Việt Nam
Tác giả: Viện Chăn nuôi quốc gia
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp - Hà Nội
Năm: 2000
13. Feldmann, Horst (2010), “Yeast. Molecular and Cell Biology. Wiley- Blackwell.ISBN 352732609X Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Yeast. Molecular and Cell Biology. Wiley-Blackwell
Tác giả: Feldmann, Horst
Năm: 2010
14. Fuller R (1989), “Probiotics in man and animals”, J Appl Bacteriol, pp 66-78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Probiotics in man and animals”
Tác giả: Fuller R
Năm: 1989
15. Cohn, Ferdinand (1872). "Uber Untersuchungen Bacterien" . Beitrage zur Biologie der PFLANZEN 1 . pp. 127-224 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Uber Untersuchungen Bacterien
16. Parker RB. “Probiotic, the other half of the antibiotic story”. Anm Nutr Health 1974, pp 4-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Probiotic, the other half of the antibiotic story”
17. Ravindran V., Hew L. I., Ravindran G. and Bryden W. L. (2004), “Endogenous amino acid flow in the avian ileum: quantification using three techniques”, British Journal of Nutriton (92), pp. 217 - 223.III. CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO TỪ INTERNET Sách, tạp chí
Tiêu đề: Endogenous amino acid flow in the avian ileum: quantification using three techniques”, "British Journal of Nutriton
Tác giả: Ravindran V., Hew L. I., Ravindran G. and Bryden W. L
Năm: 2004
1. Bessel (1987), Các hoạt động chiến dịch của FAO trong việc phát triểngia cầm. Người dịch: Đào Đức Long, Thông tin gia cầm (số 16), tr 546 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm - Nghiên cứu thử nghiệm ảnh hưởng của Men TUAF – Multibio trên chim cút nuôi tại trại chăn nuôi gia cầm Khoa Chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm (Trang 39)
Bảng 4.2: Lịch phòng vaccine cho gà  Ngày tuổi  Loại vaccine  Phương pháp dung - Nghiên cứu thử nghiệm ảnh hưởng của Men TUAF – Multibio trên chim cút nuôi tại trại chăn nuôi gia cầm Khoa Chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Bảng 4.2 Lịch phòng vaccine cho gà Ngày tuổi Loại vaccine Phương pháp dung (Trang 48)
Bảng 4.3: Tỷlệ nuôi sống của chim cút thí nghiệm - Nghiên cứu thử nghiệm ảnh hưởng của Men TUAF – Multibio trên chim cút nuôi tại trại chăn nuôi gia cầm Khoa Chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Bảng 4.3 Tỷlệ nuôi sống của chim cút thí nghiệm (Trang 51)
Bảng 4.4: Khối lƣợng chim cút thí nghiệm qua các tuần tuổi (g/con) - Nghiên cứu thử nghiệm ảnh hưởng của Men TUAF – Multibio trên chim cút nuôi tại trại chăn nuôi gia cầm Khoa Chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Bảng 4.4 Khối lƣợng chim cút thí nghiệm qua các tuần tuổi (g/con) (Trang 53)
Hình 4.1: Biểu đồ sinh trưởng tích lũy của chim cút qua các tuần tuổi - Nghiên cứu thử nghiệm ảnh hưởng của Men TUAF – Multibio trên chim cút nuôi tại trại chăn nuôi gia cầm Khoa Chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Hình 4.1 Biểu đồ sinh trưởng tích lũy của chim cút qua các tuần tuổi (Trang 54)
Bảng 4.5: Sinh trưởng tuyệt đối của chim cút qua các tuần tuổi - Nghiên cứu thử nghiệm ảnh hưởng của Men TUAF – Multibio trên chim cút nuôi tại trại chăn nuôi gia cầm Khoa Chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Bảng 4.5 Sinh trưởng tuyệt đối của chim cút qua các tuần tuổi (Trang 55)
Hình 4.2: Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của chim cút qua các tuần tuổi - Nghiên cứu thử nghiệm ảnh hưởng của Men TUAF – Multibio trên chim cút nuôi tại trại chăn nuôi gia cầm Khoa Chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Hình 4.2 Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của chim cút qua các tuần tuổi (Trang 56)
Bảng 4.6: Sinh trưởng tương đối của chim cút qua các tuần tuổi (%) - Nghiên cứu thử nghiệm ảnh hưởng của Men TUAF – Multibio trên chim cút nuôi tại trại chăn nuôi gia cầm Khoa Chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Bảng 4.6 Sinh trưởng tương đối của chim cút qua các tuần tuổi (%) (Trang 57)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm