Mục tiêu nghiên cứu - Xác định tình hình nhiễm giun đũa lợn tại các địa điểm nghiên cứu - Xác định một số đặc điểm dịch tễ của bệnh giun đũa lợn - Xác định hiệu lực của thuốc hanmectin
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -o0o -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2011 – 2016
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -o0o -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú Y Lớp: K43 – TY – N02 Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2011 – 2016 Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Văn Sửu
Khoa Chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý của Ban Giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, thầy giáo hướng dẫn và sự nhất trí của phòng Nông nghiệp huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, em thực hiện nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu tình hình mắc bệnh giun đũa ở lợn tại một số xã của huyện Phú Lương – tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị”
Trong quá trình thực hiện đề tài, được sự giúp đỡ và chỉ bảo ân cần của các thầy cô giáo trong trường, khoa Chăn nuôi Thú y; lãnh đạo và toàn thể các cán bộ phòng Nông nghiệp huyện Phú Lương và thú y địa phương
Em xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu Nhà trường, khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình dìu dắt và dạy dỗ
em trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực tập
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn TS
Nguyễn Văn Sửu, đã trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quá trình thực tập và
hoàn thành bản khóa luận này
Qua đây em xin gửi lời cảm ơn tới ban lãnh đạo và toàn thể các cán bộ phòng Nông nghiệp huyện Phú Lương, gia đình chú Nguyễn Minh Tân đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập tại cơ sở
Một lần nữa, em xin kính chúc toàn thể các thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y sức khỏe hạnh phúc thành đạt
Thái Nguyên, ngày… tháng….năm 2015
Sinh viên
Phùng Thị Thế Anh
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 30
Bảng 4.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa lợn ở một số xã của huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 31
Bảng 4.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa theo lứa tuổi lợn 33
Bảng 4.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa qua các tháng kiểm tra 35
Bảng 4.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa theo tính biệt 36
Bảng 4.6 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa theo phương thức chăn nuôi 37
Bảng 4.7 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa theo giống lợn 40
Bảng 4.8 Triệu chứng khi lợn mắc giun đũa 41
Bảng 4.9 Hiệu lực điều trị giun đũa của một số loại thuốc 42
Trang 6MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.4 Ý nghĩa của đề tài 2
1.4.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.1.1 Đặc điểm sinh lý, tiêu hóa của lợn 3
2.1.2 Hiểu biết chung về loài giun ký sinh 6
2.1.3 Bệnh giun đũa lợn 8
2.1.4 Những hiểu biết về thuốc hanmectin – 25 và levamisol 7,5% 18
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 19
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 19
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 22
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 24
3.3 Nội dung nghiên cứu 24
3.3.1 Nội dung nghiên cứu 24
3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi 24
3.4 Phương pháp nghiên cứu 24
3.4.1 Phương pháp theo dõi và thu thập thông tin 24
3.4.2 Phương pháp lấy mẫu 25
Trang 73.4.3 Phương pháp xét nghiệm trứng giun đũa 25
3.4.4 Phương pháp tính các chỉ tiêu 26
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
4.1 Công tác phục vụ sản xuất 28
4.1.1 Công tác tuyên truyền 28
4.1.2 Công tác phòng bệnh 28
4.1.3 Công tác khác 30
4.2 Kết quả nghiên cứu 31
4.2.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa lợn tại một số xã của huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 31
4.2.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa theo lứa tuổi lợn 32
4.2.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa qua các tháng kiểm tra 34
4.2.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa theo tính biệt 36
4.2.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa theo phương thức chăn nuôi 37
4.2.6 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa theo giống lợn 39
4.2.7 Triệu chứng khi lợn mắc giun đũa 41
4.2.8 Hiệu lực điều trị giun đũa của một số loại thuốc 41
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 43
5.1 Kết luận 43
5.2 Kiến nghị 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
Trang 8Ngành chăn nuôi lợn có một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi ở các nước trên thế giới cũng như ở nước ta Chăn nuôi lợn không những cung cấp thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cho con người mà còn là nguồn cung cấp phân bón lớn cho ngành trồng trọt và là nguồn cung cấp các sản phẩm phụ:
Da, lông, mỡ… cho ngành công nghiệp chế biến Với những lợi ích như vậy, ngành chăn nuôi lợn nước ta ngày càng phát triển
Tuy nhiên trong những năm qua tình hình dịch bệnh đã gây thiệt hại lớn cho ngành kinh tế này cả về số lượng cũng như chất lượng đàn lợn Bên cạnh những bệnh truyền nhiễm có tính lây lan mạnh, gây thiệt hại lớn thì bệnh
ký sinh trùng cũng gây thiệt hại không nhỏ cho ngành chăn nuôi lợn Trong bệnh ký sinh trùng thì bệnh giun đũa là phổ biến ở lợn, bệnh ít khi làm lợn chết nhưng gây tổn thất lớn cho ngành chăn nuôi Khi lợn nhiễm giun đũa với
số lượng lớn sẽ làm lợn gầy còm, giảm tăng trưởng và có trường hợp chết do giun sán làm tắc ruột, thủng ruột, mất nước do ỉa chảy nếu không được điều trị kịp thời
Chính vì vậy việc nghiên cứu bệnh giun đũa ở lợn là rất cần thiết, để từ
đó làm cơ sở cho việc phòng và điều trị bệnh giun sán nói riêng và bệnh ký sinh trùng nói chung có hiệu quả, do đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “
Nghiên cứu tình hình mắc bệnh giun đũa ở lợn tại một số xã của huyện Phú Lương – Tỉnh Thái Nguyên và biện pháp điều trị”
Trang 91.2 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh giun đũa cho lợn
- Đề xuất quy trình phòng trị bệnh giun đũa lợn cho hiệu quả cao
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định tình hình nhiễm giun đũa lợn tại các địa điểm nghiên cứu
- Xác định một số đặc điểm dịch tễ của bệnh giun đũa lợn
- Xác định hiệu lực của thuốc hanmectin – 25 và levamisol 7,5 %
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về bệnh và quy trình phòng chống bệnh giun đũa ở lợn con, có một số đóng góp mới cho khoa học
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi cách nhận biết được lợn mắc bệnh giun đũa, để từ đó áp dụng quy trình phòng, trị bệnh giun đũa cho lợn, nhằm hạn chế tỷ lệ và cường độ nhiễm giun
ở lợn, hạn chế tác hại đối với lợn, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi lợn phát triển
Trang 10PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Bệnh ký sinh trùng đường tiêu hóa thường là những bệnh tiến triển ở thể mãn tính, triệu chứng của bệnh tiến triển không rõ ràng, thường bị các bệnh khác che khuất Điều đó cũng reo rắc mầm bệnh nhiều hơn ra bên ngoài
và lây lan sang con vật khác Nguồn bệnh phân tán rộng ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của đàn vật nuôi
2.1.1 Đặc điểm sinh lý, tiêu hóa của lợn
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [17], cơ quan tiêu hóa của lợn bao gồm: miệng, hầu, thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già Ngoài ra để tiêu hóa thức ăn còn có sự tham gia của các tuyến tiêu hóa: tuyến nước bọt, tuyến tụy, tuyến mật Các cơ quan này tiết ra các dịch tiêu hóa giúp cho quá trình tiêu hóa hoàn thiện
- Tiêu hóa ở miệng
Ở miệng của lợn quá trình tiêu hóa diễn ra chủ yếu dưới hai hình thức
cơ học (quá trình nhai thức ăn) và hóa học (dưới tác dụng của men tiêu hóa Amylaza ở trong nước bọt)
Lợn lấy thức ăn và nhai trong thời gian rất ngắn nên thời gian thức ăn dừng ở khoang miệng không lâu đã được chuyển xuống dạ dày Mặc dù vậy nước bọt của lợn vẫn được tiết ra với một lượng khá lớn khoảng 15 - 16 lít/ngày đêm Lượng nước bọt tiết ra phụ thuộc vào thức ăn và các chất kích thích khác như: HCL, axit lactic, axit axetic…
Tác dụng của nước bọt là làm ướt thức ăn giúp cho lợn dễ nhai, dễ nuốt thức ăn hơn Các men trong nước bọt (amylaza, mantaza) có ý nghĩa quan trọng trong việc tiêu hóa tinh bột
Trang 11- Tiêu hóa ở dạ dày
Tiêu hóa ở dạ dày gồm hai quá trình là cơ học và hóa học:
+ Cơ học: là sự co bóp nhào trộn thức ăn do cơ trơn của dạ dày thực hiện Quá trình này giúp cho thức ăn nát nhuyễn và làm cho thức ăn được thấm đều các men tiêu hóa để sự tiêu hóa được triệt để hơn
+ Hóa học: là quá trình tác động của các men tiêu hóa do dịch vị tiết ra
Ở dạ dày lợn có hai kiểu phân tiết dịch: một là sự phân tiết mang tính kiềm ở vùng thượng vị, ở đây dịch được tiết ra rất hạn chế so với tổng số dịch tiết Hai là sự phân tiết mang tính axit từ vùng thân vị và hạ vị, lượng phân tiết này rất lớn từ sau khi ăn thức ăn vào Trong dạ dày lợn có quá trình lên men vi sinh vật ở manh tràng tạo ra các axit béo, nhưng không đáng kể hàm lượng thấp chỉ khoảng 0,1%
Dạ dày lợn có đặc điểm nhu động yếu nên thức ăn được xếp thành từng lớp làm cho hoạt tính của men và độ axit của các lớp thức ăn không giống nhau Ở vùng hạ vị và phần thức ăn nằm sát thành dạ dày thức ăn được trộn với dịch vị tốt hơn Ở vùng lõi và thượng vị thức ăn giữ được môi trường nhiều kiềm và men tiêu hóa của nước bọt nên quá trình tiêu hóa tinh bột vẫn tiếp tục diễn ra
- Tiêu hóa ở ruột non
Thức ăn khi di chuyển đến ruột non sẽ được tiêu hóa triệt để nhờ tác dụng của các men của dịch tụy, dịch ruột và dịch mật
+ Dịch tụy: Lượng dịch tụy tiết ra thay đổi theo lứa tuổi, ở lợn con lượng dịch tụy tiết ra thấp chỉ khoảng 500 ml/ngày đêm, trong khi đó ở lợn có khối lượng 100kg tiết ra khoảng 8 lít/ ngày đêm Thành phần của dịch tụy tiết
ra cũng thay đổi theo thành phần thức ăn Ở lợn con lượng HCl trong dạ dày
ít, để bù cho việc tiêu hóa ở dạ dày kém thì ở ruột non hoạt tính tiêu hóa của dịch tụy tăng lên, thời kỳ này vật chất khô và vật chất hữu cơ trong dịch tụy cao hơn nhiều ở lợn trưởng thành
Trang 12Dịch tụy có ý nghĩa quan trọng đối với sự tiêu hóa Nó phân giải từ 60 – 80% protein, gluxit và lipit của thức ăn Dịch tụy bao gồm bicacbonat đó là yếu tố chính giảm độ axit của nhũ chấp trong tá tràng từ dạ dày xuống, ngoài
ra trong dịch tụy còn chứa các enzyme giúp cho quá trình tiêu hóa tinh bột, protit, chất béo và axit nucleic như trypsin, chimosin, lactaza, sacaraza, và men tiêu hóa mỡ gồm triacyglycerol, photpholipaza A2, cholesterol esteraza
+ Dịch mật: Dịch mật do tuyến mật tiết ra, có màu xanh thẫm Trong một ngày đêm, lợn tiết ra từ 2,4 – 3,8 lít mật Thành phần dịch mật bao gồm các sắc tố bilirubin và biliverdin, các axit như: colic, dezoxiclolic, glycolic Ngoài các sắc tố và axit còn có colestelin, photphotit, mỡ thủy phân và tự do, các sản phẩm phân giải protit (ure, axit uric, kiềm purin) muối natri, kali, canxi, photphat và các axit khác Ngoài ra trong dịch mật còn chứa lecithin, chất này vào ruột được men photpholipaza tuyến tụy biến đổi thành lycolecithin góp phần vào cắt đứt chuỗi phân tử của các chất béo
+ Dịch ruột: ở màng nhầy tá tràng có các tuyến bruner, các tuyến này tiết ra dịch ruột thuần khiết không màu và có độ kiềm rất cao Lượng dịch ruột tiết ra ở tá tràng lợn khoảng 12,8 – 13,7 ml/giờ Trong thành phần của dịch ruột lợn có các men như: aminopeptidaza, dipeptidaza, proldaza, lactaza Ngoài ra còn có một số các men khác hoạt động yếu như: nucleaza, lipaza, amilaza
Trong ruột non, ngoài sự tiêu hóa trong khoang đường tiêu hóa do tác dụng của các men còn có quá trình tiêu hóa nhờ sự tiếp xúc giữa thức ăn và màng nhầy ruột
- Tiêu hóa ở ruột già
Ruột già tiếp tục quá trình tiêu hóa những gì ruột non chưa tiêu hóa triệt để Ruột già chủ yếu tiêu hóa chất xơ do vi sinh vật ở manh tràng phân giải, hấp thu lại nước và chất khoáng Thời gian thức ăn lưu lại trong ruột già khoảng 12 – 16 giờ, mặc dù thời gian thức ăn lưu lại trong ruột già dài nhưng khả năng tiêu hóa thức ăn ở ruột già lại rất thấp
Trang 13Hoạt động tiêu hóa của lợn vào ban ngày thường lớn hơn ban đêm, thời gian thức ăn lưu lại trong đường tiêu hóa của lợn thường vào khoảng 24 giờ, tuy nhiên có một phần nhỏ thức ăn sẽ được thải trong vòng 4 – 5 ngày
2.1.2 Hiểu biết chung về loài giun ký sinh
Giun sán là động vật đa bào, có nhiều loài và hiện nay đã biết hơn 8000 loài sống ký sinh ở động vật Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9], cho biết
hiện nay đã biết hơn 5000 loài giun thuộc lớp giun tròn (Nematoda) trong đó
có hơn 1000 loài giun sống tự do, hơn 3000 loài giun sống ký sinh Các giun tròn ký sinh có liên quan nhiều tới thú y gồm 8 bộ phụ
1 Bộ giun đũa (Ascaridaza)
2 Bộ giun kim (Oxyurata)
3 Bộ phụ giun tóc (Trichocephalata)
4 Bộ phụ giun lươn (Rhabdiasata)
5 Bộ phụ giun xoăn (Stronggylata)
6 Bộ phụ giun chỉ (Filariata)
7 Bộ phụ giun đuôi xoắn (Spirurata)
8 Bộ phụ Dioctophymata
Trong đó giun đũa ký sinh ở gia súc, gia cầm thuộc bộ phụ Ascaridaza
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [14]; Phan Thế Việt và cs (1997) [25], giun đũa lợn có vị trí trong hệ thống phân loại động vật như sau:
Ngành Nemathelminthes Schneider, 1873
Lớp Nematoda Rudolphi, 1808
Phân lớp Rhabditia Pearse, 1942
Bộ Ascaridida Skrjabin et Schulz, 1940
Phân bộ Ascaridina Skjrabin, 1915
Họ Ascaridoidea Baird, 1853
Giống Ascaris Linneaus, 1758
Loài Ascaris suum Goeze, 1782
Trang 14Lợn bị nhiễm giun đũa thường dẫn đến những hậu quả sau:
- Cơ thể vật nuôi gầy còm, thiếu máu, niêm mạc nhợt nhạt dễ mắc các bệnh khác dẫn đến giảm sinh trưởng và phát triển
- Giảm sức đề kháng và khả năng hoạt động
- Làm tổn thương các tổ chức và hoạt động sinh lý của cơ thể
- Làm thiệt hại đến số lượng và chất lượng của sản phẩm vật nuôi
Sở dĩ có các tác hại trên là do 4 tác động sau đây của ký sinh trùng đến
cơ thể gia súc, gia cầm Tác động này phụ thuộc vào độc lực của ký sinh trùng sức chống đỡ của cơ thể ký chủ, giai đoạn phát dục của ký sinh trùng, ảnh hưởng của các vật môi giới
- Tác động cơ giới: Hầu hết các ký sinh trùng đều gây nên những biến động cơ giới, ngăn cản ít hay nhiều khí quan mà nó xâm nhập; hoặc làm tắc hoặc chèn ép và phá hoại các tổ chức, hoặc làm thủng, làm rách, hoặc do khí quan bám hút của ký sinh trùng làm tróc niêm mạc, xuất huyết Thường thấy gây viêm cấp tính, thứ cấp tính, mãn tính Viêm dẫn tới sản sinh một cái vỏ bằng tổ chức liên kết bọc lấy ký sinh trùng ; cái vỏ và ký sinh trùng bọc bên trong chết đi biến thành một cái hạt, thành vữa rồi thành vôi
- Tác động chiếm đoạt: Ký sinh trùng tự nuôi dưỡng bằng cách ăn tổ chức của ký chủ, cướp đi một phần thức ăn của ký chủ đã tiêu hóa, hút máu
ký chủ Tác động này tiếp diễn liên tục bởi rất nhiều ký sinh trùng, gây tổn hại rất lớn cho ký chủ (thiếu máu, gầy rạc)
- Tác động đầu độc: Trong quá trình ký sinh trùng ký sinh ở ký chủ, chúng thường xuyên tiết độc tố Ngoài ra, giun sán chết cũng là những độc tố gây rối loạn về bệnh lý cho cơ thể ký chủ Cả ấu trùng và thành trùng giun sán đều tiết ra độc tố, nhìn chung độc tố do ấu trùng bài tiết thường mạnh hơn so với thành trùng Các chất này ngấm vào máu ký chủ, gây ra những biến loạn khác nhau nhưng thường thấy là những biến loạn thần kinh như : Co giật, bại liệt Tác động đến tuần hoàn gây thiếu máu, bần huyết… Giun sán tiết ra độc
tố phá hoại hồng cầu và mạnh máu ngoại biên gây ra rối loạn tiêu hóa, ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất Nói chung chất độc do giun sán tiết ra có tác dụng đầu độc không rõ ràng, thường ở thể mãn tính
Trang 15- Tác động truyền bệnh: Một số loài tiết túc đốt súc vật làm con vật khó chịu, có thể bị viêm ngoài ra, nhưng không nguy hiểm mà cái nguy hiểm là chúng truyền những bệnh có thể thành dịch lưu hành giết hại nhiều súc vật Ví
dụ muỗi truyền bệnh sốt rét và bệnh sốt vàng ở người, ve truyền bệnh lê dạng trùng… Ngoài ra, giun sán cắn các niêm mạc gây thương tích, phá vỡ phòng tuyến thượng bì, mở đường cho các vi khuẩn trong môi trường, chung sống xâm nhập cơ thể (ruột), vi khuẩn gây một bệnh cùng ghép với bệnh ký sinh trùng Ký sinh trùng và vi trùng thường kết hợp làm tổn hại thêm cho ký chủ
2.1.3 Bệnh giun đũa lợn
Hình thái, cấu tạo giun đũa lợn
- Giun đũa lợn thuộc họ Ascaridea loài Ascaris suum ký sinh ở ruột
non lợn
- Giun đũa có màu trắng sữa, hình ống, hai đầu hơi nhọn Đầu giun đũa có ba môi bao quanh miệng, một môi ở phía lưng, hai môi ở phía bụng, trên rìa môi có một hàm răng cưa rất rõ Cấu tạo của răng này khác nhau giữa hai loài giun đũa, hàng răng cưa ở môi giun đũa người thường không thấy rõ bằng hàng răng cưa của giun đũa lợn
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [11], giun đực dài 10 - 22cm, giun cái dài 24 – 30cm Giun đực nhỏ đuôi cong về phía bụng, giun cái đuôi thẳng Giun đực có hai gai giao hợp bằng nhau (1,2 - 2mm) không có túi giao hợp
- Trứng giun đũa hình bầu dục, hơi ngắn, kích thước 0,056 - 0,087 x 0,046 – 0,067mm Vỏ trứng dày gồm 4 lớp: Lớp ngoài cùng là protit, màu vàng cánh gián, nhấp nhô làn sóng
Trang 16Hình 1.1 Ảnh cấu tạo môi giun đũa lợn, đuôi giun đũa đực
(nguồn: Phạm Văn Khuê, 1996 [8])
Theo Trịnh Văn Thịnh (1996) [22] giun đũa lợn có hình thái, kích thước như sau:
Giun đũa thân dài, hình trụ, hai đầu thót màu trắng sữa, thân cứng và đàn hồi Chóp đầu mang ba môi, bờ môi có răng cưa rất nhỏ, môi bọc lấy miệng, một môi ở phía lưng, đáy môi có hai gai thịt; hai môi kia ở giữa phía cạnh bụng và chỉ có một gai thịt
Con đực dài 15 – 20 cm, đường kính từ 3,2 – 4,4 mm Đoạn đuôi cong
về phía bụng mang hai gai giao hợp ngắn, bằng nhau, hơi cong Trên mặt bụng ở mỗi bên có từ 69 – 75 gai thịt sau hậu môn, những gai thịt xếp trên một hoặc hai hàng, một gai thịt lẻ ở trước hậu môn
Con cái dài từ 20 – 30 cm, đường kính từ 5 – 6 mm, đoạn sau thẳng Đuôi mang hậu môn về phía bụng (ở gần chóp đuôi) Hậu môn có hình dạng một cái khe ngang, bọc hai môi gồ lên Âm hộ có hình dáng một lỗ nhỏ hình bầu dục, gần về phía bụng khoảng một phần ba đoạn trước thân, ngang một vùng có một cái vòng thắt lại một chút (gọi là thắt lưng)
Trang 17 Vòng đời
Giun đũa lợn phát triển không cần ký chủ trung gian, giun cái đẻ mỗi ngày 200.000 trứng Trung bình mỗi giun cái đẻ 27 triệu trứng Trứng theo phân ra ngoài, trứng có phôi, ở nhiệt độ 24oc và độ ẩm thích hợp 80 – 95% thì sau hai tuần trong trứng có phôi, sau một tuần nữa thì phôi lột xác thành trứng
có sức gây bệnh Khi lợn phải trứng này thì ấu trùng ở ruột, sau đó chui vào mạch máu, niêm mạc rồi theo máu về gan Một số ấu trùng chui vào ống lâm
ba màng treo ruột, vào tĩnh mạch màng treo ruột rồi vào gan Sau khi nhiễm 4 – 5 ngày thì hầu hết các ấu trùng di hành tới phổi sớm nhất là sau 18 giờ, muộn nhất là sau 12 ngày vẫn có ấu trùng vào phổi, khi vào phổi ấu trùng lột xác kỳ 3, ấu trùng này từ mạch máu của phổi chui vào phế bào, qua khí quản
và cùng với niêm dịch, ấu trùng lên hầu, rồi dược nuốt xuống ruột non Trải qua quá trình lột xác lần nữa và phát triển thành giun trưởng thành Thời gian
ấu trùng di hành là 2 – 3 tuần Trong khi di hành một số ấu trùng có thể vào lách, tuyến giáp trạng, não…
Thời gian hoàn thành vòng đời cần từ 54 – 62 ngày
Giun đũa sống nhờ vào chất dinh dưỡng của ký chủ, đồng thời tiết dịch tiêu hóa phân giải ở niêm mạc ruột và lấy tổ chức đó để nuôi bản thân Thời gian sống của giun đũa không quá 7 – 10 tháng Hết tuổi thọ giun đũa theo phân ra ngoài
Tuổi thọ của giun phụ thuộc vào “ lão hóa” của giun và tình trạng thay đổi sinh lý, sức đề kháng của lợn Khi điều kiện sống bất lợi (lúc ký chủ sốt cao)… thì tuổi thọ của giun sẽ ngắn đi, số lượng giun có thể vài nghìn con/1
cơ thể lợn (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999) [9]
Thời kỳ phát dục của phôi phụ thuộc vào nhiệt độ, độ ẩm, oxi của không khí
Trang 18 Dịch tễ học
Trứng giun đũa có sức đề kháng rất cao do có 4 lớp vỏ dày, trong điều kiện tự nhiên giun đũa sống được 1 - 2 năm Giun đũa có sức đề kháng mạnh với một số hóa chất như: Foocmon 2%, creolin 3% Ở nhiệt dộ 45 - 50oc thì trứng chết trong nửa giờ, trong nước nóng 60oc diệt được trứng trong 5 phút, còn nước nóng 70o
c chỉ cần 1 - 10 giây cũng diệt được Lợi dụng ưu điểm này để tuyên truyền cho các hộ chăn nuôi ủ phân theo phương pháp nhiệt sinh học thì sẽ tiêu diệt trứng giun đũa
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [11], bệnh giun đũa lợn là bệnh phổ biến ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển của Châu
Á và Châu Phi Trứng giun đũa cảm nhiễm có thể sống rất lâu từ 11 tháng đến
5 năm ở môi trường tự nhiên Nguyên nhân bệnh giun đũa phổ biến vì vòng đời của nó rất đơn giản có thể truyền trực tiếp và trứng có sức đề kháng cao
- Tuổi mắc bệnh giun đũa: Theo Chu Thị Thơm và cs (2006) [23], lợn nhiễm giun đũa tỉ lệ cao và cường độ lớn ở lứa tuổi 3 - 5 tháng Theo Bùi Quý Huy (2006) [5], lợn từ 2 - 6 tháng tuổi mắc với tỉ lệ cao, tuy nhiên mọi lứa tuổi đều mắc Nhìn chung lợn nhiễm giun đũa cao ở lứa tuổi từ 2 - 6 tháng tuổi, sau đó giảm dần
Nguyên nhân có tình trạng này là do điều kiện khí hậu nước ta nóng và
ẩm, thuận lợi cho trứng giun phát triển Mặt khác công tác thú y ở cơ sở chăn nuôi mặc dù đã được quan tâm nhưng chưa thực hiện tốt, chưa ủ phân, còn bón phân tươi vào ruộng trồng thức ăn cho lợn…
- Động vật cảm nhiễm: Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [13], lợn nhà
và lợn rừng ở các lứa tuổi 1 – 4 tháng tuổi nhiễm giun đũa với tỷ lệ cao nhất
và bị bệnh nặng hơn lợn trưởng thành Lợn con dưới 2 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm giun đũa 39,2%; 3 – 4 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm là 48,0%; trên 8 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 24,9%
Trang 19- Đường truyền bệnh: Bệnh được truyền chủ yếu qua đường miệng, qua thức ăn, nước uống có nhiễm trứng giun đũa (Nguyễn Xuân Bình, 2005) [2] Mặt khác lợn liếm gặm dụng cụ, máng ăn, nền chuồng và đất ở bãi chăn nên trứng dễ theo vào đường tiêu hóa Khi bón phân tươi cho cây trồng, thì trứng giun đũa sống được vài tháng, khi lợn ăn phải sẽ bị nhiễm bệnh Lợn con nhiễm bệnh do lúc bú nuốt phải trứng giun dính ở đầu vú mẹ
- Phương thức chăn nuôi: Thường 70% lợn nuôi ở các hộ gia đình theo phương thức cổ truyền như cho lợn ăn bèo, rau sống đều mắc bệnh giun sán đường ruột Lợn nuôi ở vùng đồi núi, trung du không cho ăn rau sống dưới nước, lợn con chưa ăn rau bèo cũng không mắc bệnh (Nguyễn Đức Lưu và cs, 2004) [15]
Cơ chế sinh bệnh
Trứng giun đũa lợn sau khi xâm nhập vào cơ thể ở thời kỳ ấu trùng hay trưởng thành đều gây bệnh Ấu trùng di hành gây tổn thương mở đường cho vi khuẩn vào cơ thể
Ấu trùng di hành qua phổi làm cho bệnh suyễn lợn càng nặng hơn,
và tỷ lệ phát bệnh có thể lên gấp 10 lần Theo Anderdahl (1997)[1], nếu cho lợn khỏe nuốt trứng giun đũa, sau 5 ngày cho nhiễm bệnh suyễn thì bệnh tích ở phổi rộng gấp 10 lần so với lợn chỉ bị suyễn Khi ấu trùng theo máu vào gan dừng lại ở mạch máu gây lấm tấm xuất huyết, đồng thời gây hoại tử tế bào gan
Khi ấu trùng từ mạch máu phổi chuyển tới phế bào gây vỡ mạch máu, ở phổi có nhiều điểm xuất huyết, phổi bị viêm, triệu chứng viêm phổi có thể kéo dài 5 - 14 ngày, có khi làm cho con vật bị chết Khi giun trưởng thành thì gây loét niêm mạc ruột non, lợn có triệu chứng đau bụng, khi số lượng giun nhiều sẽ dẫn đến tắc và thủng ruột, có khi chui vào ống mật làm tắc ống dẫn mật gây hiện tượng hoàng đản
Trang 20Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9], giun tiết ra độc tố gây nhiễm độc thần kinh trung ương và mạch máu, con vật có triệu chứng thần kinh (tê liệt hoặc hưng phấn)
Giun đũa lấy dinh dưỡng của ký chủ, thải cặn bã gây độc cho ký chủ, kết quả là ký chủ gầy còm, chậm lớn, ảnh hưởng tới năng xuất chăn nuôi (Phan Thế Việt và cs, 1997) [25]
Triệu chứng
Khi lợn nhiễm ít giun, triệu chứng không rõ Bệnh giun đũa thường biểu hiện rõ ở những lợn nuôi thiếu dinh dưỡng, thiếu vitamin, nhiễm nhiều giun (Chu Thị Thơm và cs, 2006) [23]
Phạm Sỹ Lăng (2007) [12], cho biết: bệnh giun đũa thường có triệu chứng rõ rệt và tác hại nhiều ở lợn 2 – 4 tháng tuổi
Giun ký sinh trong ruột của lợn, lấy chất dinh dưỡng từ ký chủ, tiết độc
tố Lợn trưởng thành biểu hiện lâm sàng không rõ, phần nhiều mang giun đũa trở thành nguồn reo rắc mầm bệnh: gầy, chậm lớn, sút cân, rối loạn tiêu hóa
Từ đó con vật gầy yếu suy nhược, còi cọc, thiếu máu Lúc này bệnh hay thể hiện ở thể mãn tính
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9], khi ấu trùng ở phổi gây viêm phổi (thân nhiệt cao, ăn kém, hô hấp nhanh, ho) Khi nhiều giun thì làm tắc, thủng ruột, đau bụng Một số con có triệu chứng thần kinh, nổi mẩn Lợn lớn thì triệu chứng không rõ
Thể cấp tính ít xảy ra, thường gặp ở giai đoạn ấu trùng di hành trong
cơ thể và trong điều kiện nuôi dưỡng kém Biểu hiện con vật suy nhược, kém ăn, ỉa chảy, chướng bụng, miêng hôi, sốt, gan sưng và đau, thiếu máu, vàng da và niêm mạc; đôi khi có triệu chứng thần kinh: Đi siêu vẹo, quay cuồng, kiệt sức
Lợn nhiễm giun đũa nặng có các biến chứng: Co giật do độc tố tác động đến hệ thần kinh trung ương, tắc ruột, tắc ống mật do quá nhiều giun đũa, đôi khi giun đũa chọc thủng ruột chui vào khoang bụng, con vật chết đột ngột, hoặc viêm phúc mạc cấp
Trang 21 Bệnh tích
Khi viêm phổi biểu hiện trên bề mặt phổi có đám xuất huyết màu hồng thẫm, có nhiều ấu trùng giun đũa phổi Khi giun trưởng thành thì thấy ở ruột non viêm cata, có nhiều giun ký sinh ở ruột non Trường hợp quá nhiều giun dẫn đến tắc và làm vỡ ruột, có bệnh tích viêm phúc mạc Mổ khám ở lợn bị nhiễm giun nặng thấy ruột có nhiều giun, niêm mạc có tổn thương tăng sinh Nếu có viêm cata thứ phát sẽ thấy viêm niêm mạc dạ dày, ruột có tụ huyết từng đám, đôi khi có vết loét (Nguyễn Thiện và cs, 2004)[19]
+ Cách tiến hành: lấy 10 - 15g phân cho vào cốc thủy tinh nhỏ rồi cho vào
đó 50 - 60ml dung dịch nước bão hòa, sau đó dùng đũa thủy tinh khuấy cho tan phân và lọc qua lưới lọc bằng thép để bỏ cặn bã thô, lấy nước lọc đó cho vào lọ nhỏ sao cho đầy lên đến miệng và hơi vồng lên 1 chút rồi lấy phiến kính khô đặt lên miệng lọ (sao cho phiến kính tiếp súc với bề mặt của dung dịch) để yên 15 -
20 phút rồi lấy phiến kính ra đặt dưới kính hiển vi để tìm trứng
Ngoài ra, để chẩn đoán trứng giun đũa còn có phương pháp khác là dùng phản ứng biến thái nội bì (dùng kháng nguyên pha loãng 1:200 tiêm nội bì vành ngoài tai hoặc nhỏ vào xoang kết mạc mắt) Phương pháp này rất tốt, không gây phản ứng chéo với các giun khác, có kết quả dương tính sau khi lợn nhiễm 8 –
10 ngày Phản ứng này duy trì được 110 – 140 ngày Thời gian phản ứng biến thái xuất hiện phù hợp với thời gian kháng thể tập trung trong máu sau khi nhiễm giun và không phụ thuộc vào giun trưởng thành ở ruột (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2007) [12]
Trang 22- Đối với lợn chết : tìm giun trưởng thành, ấu trùng và kiểm tra bệnh tích cách tiến hành mổ như sau (theo phương pháp mổ toàn diện của K.I.SKJABIN để chuẩn đoán bệnh giun sán)
Trước tiên lột da, xem kỹ tổ chức dưới da, lấy các cơ quan ra Chú ý không làm rối loạn các khí quan Tách các cơ quan tiêu hóa bài tiết, hô hấp, sinh dục, tim và các động, tĩnh mạch lớn Sau đó kiểm tra kỹ xoang ngực và xoang bụng, lấy nước các xoang này cho vào bình kiểm tra Lấy tủy sống, kiểm tra dịch trong mắt, kiểm tra dịch ở khớp xương, ở xoang mật, kiểm tra lưỡi, môi, rồi kiểm tra lần lượt các cơ quan:
+ Cơ quan tiêu hóa: Buộc chặt các bộ phận (thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già, manh tràng, gan, tuyến tụy) rồi tách ra và cho riêng vào thùng hoặc chậu
Thực quản: Dùng kéo cắt dọc thực quản Kiểm tra kỹ niêm mạc, nếu thấy sưng hoặc có mủ thì kiểm tra kỹ nơi đó Sau đó dùng phiến kính nạo niêm mạc thực quản rồi ép chất nạo giữa hai phiến kính trong suốt, soi kính hiển vi hoặc kính lúp, nếu thấy giun thì dùng kim hoặc bút lông lấy ra
Dạ dày: Cắt dọc theo chiều cong của dạ dày, lấy chất chứa cho vào thùng, dùng nước rửa thành dạ dày, nước rửa và chất cặn cho vào với nhau, dùng đũa khuấy, đợi lắng cặn đổ nước trên đi, lại cho nước vào khuấy để yên, lắng cặn… Làm nhiều lần đến khi nước trong suốt là được, đổ nước trên đi lấy cặn soi kính lúp
Ruột non, ruột già và manh tràng: Kiểm tra riêng ba bộ phận, dùng kéo cắt dọc theo chiều cong của ruột, dùng phương pháp gạn rửa sa lắng tìm giun sán trong chất chứa ở mỗi bộ phận Đồng thời dùng phiến kính nạo niêm mạc
Trang 23+ Cơ qua hô hấp: Dùng kéo cắt hầu, khí quản và nhánh khí quản Sau
đó nạo niêm mạc dịch soi kính lúp Còn phổi thì bóp nát ra cho vào nước, dùng phương pháp gạn rửa sa lắng để kiểm tra
+ Cơ quan bài tiết: Cắt thận làm đôi dùng mắt thường kiểm tra, sau đó nạo vét để thận để kiểm tra, lấy tổ chức thận ép lên phiến kính lúp
+ Cơ quan sinh dục: Với dịch hoàn, dùng dao cắt lát mỏng, ép giữa hai phiến kính tìm ký sinh trùng dưới kính hiển vi Với ống dẫn trứng, dùng kéo cắt dọc ống dùng phiến kính nạo vét niêm mạc ép giữa hai phiến kính, tìm ký sinh trùng dưới kính lúp hoặc dưới kính hiển vi
Phương pháp mổ khám không toàn diện: Vì giun đũa trưởng thành sống
ký sinh ở ruột non nên chỉ mổ khám ở ruột non
Lợn dưới hai tháng tuổi mổ khám tìm ấu trùng ở phổi vì giun chưa
+ silico fluorat natri: Không cần nhịn ăn trước và sau khi cho thuốc Trộn lẫn với thức ăn ngon cho lợn ăn hết liều Hiệu quả đạt 75 - 100%
Lợn 4 – 6 kg: 1,2g chia đều cho mỗi bữa 0,2g
Lợn 7 – 20 kg: 1,8g chia đều cho mỗi bữa 0,3g
Lợn 20 – 40 kg: 3,0g chia đều cho mỗi bữa 0,5g
+ piperazin hydrat: 250mg/kg TT Trộn thuốc vào thức ăn ngon cho lợn
ăn hoặc pha nước uống Nếu lợn trúng độc thì dùng atropin để giải độc
+ piperazin citrate: 150mg/kg TT.(cho uống hoặc trộn với thức ăn) + mebenvet: 0,2g/kg TT Trộn thức ăn
+ levamisol: 6 - 6,5mg/kg TT Tiêm bắp
Trang 24Theo Trịnh Văn Thịnh (1996) [22] nên tẩy giun cho lợn mẹ 1 tháng trước khi đẻ để khỏi lây bệnh sang con Lợn thịt phải được tẩy giun 2 lần: 1 lần sau cai sữa và 1 lần vào 4 tháng trước khi vỗ béo
Những thuốc trị bệnh giun sán thường dùng là:
+ Hạt cau 5 - 20g, tùy theo lợn lớn nhỏ
+ Sử quân tử (bột) 20g
+ Vỏ rễ xoan: 20g, cạo sạch, thái mỏng ngâm vào nước trong, để cách đêm, sáng hôm sau gạn lấy nước, hòa thêm bột diêm sinh 10g, cho lợn uống lúc đói Cho uống 3 sáng liền, liều này dùng cho lợn nặng trên 20 kg
+ Lá đu đủ tươi 200g, thái nhỏ trộn với cám cho lợn nặng 15 - 20kg, ăn vào buổi sáng, sau khi ăn cho lợn nhịn ăn 1 bữa
Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [11], cho biết: có thể tẩy giun đũa cho lợn bằng một trong các hóa dược sau:
menbedazol: 5mg/kg TT Cho uống
ivermectin: 0,3mg/kg TT Tiêm bắp
Theo kinh nghiệm của nhân dân thì nuôi lợn bằng bỗng rượu cùng hạn chế được sự phát triển của giun đũa
Phòng bệnh
- Định kỳ tẩy giun đũa cho lợn 2 - 3 tháng 1 lần
- Vệ sinh thức ăn, nước uống, dụng cụ chăn nuôi, chuồng trại
- Ủ phân để diệt trứng giun
- Không nuôi chung lợn nhiều lứa tuổi khác nhau trong cùng một khu vực
- Chú ý phòng bệnh cho lợn con mới đẻ đến 3 - 4 tháng tuổi (tắm rửa cho lợn mẹ trước khi đẻ, cho vào chuồng đẻ đã sát trùng bằng nước sôi Sau khi đẻ nhốt chung mẹ và con trong chuồng đẻ
Chu Thị Thơm và cs (2006) [23], cho biết để phòng bệnh có hiệu quả cần:
- Nền chuồng phải luôn khô ráo
- Tránh dội nước vào nền chuồng nhất là lợn con theo mẹ
Trang 25- Về mùa đông cũng như mùa hè, nền chuồng lợn nái nuôi con đều phải độn rơm rạ khô ráo
2.1.4 Những hiểu biết về thuốc hanmectin – 25 và levamisol 7,5%
hanmectin – 25
- Thuốc hanmectin – 25 do công ty Hanvet sản xuất, là biệt dược của Ivermectin Trong 10ml dung dịch hanmectin – 25 chứa 25mg ivermectin và các chất dung môi bảo quản
- Tính chất của ivermectin: ivermectin là thuốc chống ký sinh trùng có nguồn gốc từ vi sinh vật thuộc nhóm Imidazo-thiazd dẫn xuất của Imidazol ivermectin có dạng bột kết tinh màu trắng ngà vàng, không hòa tan trong nước, thuốc được bào chế dưới dạng dung dịch tiêm, dung dịch uống
- Tác dụng của ivermectin:
ivermectin có tác dụng diệt giun tròn và ngoại ký sinh trùng thông qua tác dụng gây liệt, tác dụng này thấy rõ trên các loại giun tròn ký sinh trong đường tiêu hóa, giun phổi và các loại ký sinh trùng ngoài da
ivermectin ức chế sự dẫn truyền thần kinh qua các synapse do kích thích tiết và giải phóng Gama Amino Benzoic Acid từ đầu mút dây thần kinh
ly tâm và gây liệt dây thần kinh ly tâm cảm nhận, từ đó làm ngừng trệ sự dẫn truyền các xung thần kinh, gây tê liệt và dẫn đến chết ký sinh trùng
- Động vật có vú dung nạp và chịu đựng tốt với ivermectin bởi Gama Amino Benzoic Acid chỉ phân bố ở hệ thần kinh trung ương, trong khi ivermectin không thể xâm nhập vào mạch máu não
- ivermectin có tác dụng diệt giun tròn kể cả giai đoạn trưởng thành cũng như giai đoạn ấu trùng giun di hành trong phổi Tác dụng của thuốc tương đối chậm và kéo dài
- Chỉ định: ivermectin dùng để điều trị các loại: Giun đũa, giun lươn, giun phổi, giun kết hạt…
Trang 26- Liều lượng: đối với lợn 1,2ml cho 10kg thể trọng
- Lưu ý: ngừng sử dụng thuốc 28 ngày trước khi giết mổ
- Tác dụng: thuốc không diệt được giun mà chỉ làm tê liệt giun rồi thải trừ qua phân Tác dụng này lâu trong 2 ngày do thuốc ức chế men suxxinodehydro gennaza của giun nên ngăn cản sự chuyển hóa của axit fumaric thành axit suxxinic Quá trình này cần thiết cho sự hoạt động bình thường của các cơ giun tròn, làm cho giun bị tê liệt
- Chỉ định: levamisol dùng để tẩy tất cả các loại giun tròn ký sinh ở đường ruột, phổi, ở tất cả các loại gia súc, gia cầm như: giun đũa, giun lươn, giun phổi, giun kim…
- Cách dùng và liều lượng:
+ Dùng tiêm bắp thịt hoặc tiêm dưới da
+ Liều dùng: Trâu, bò: 1ml/22kg TT
Dê, cừu, lợn: 1ml/10kg TT
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9], bệnh giun đũa lợn là một bệnh phổ biến ở nước ta, lợn mắc bệnh chủ yếu 2 – 7 tháng tuổi, sau đó giảm
dần Ở lợn dưới 2 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm thấp, bệnh do loài giun đũa Ascaris
suum gây nên, giun ký sinh ở lợn rừng và lợn nhà
Trang 27Nguyễn Thiện và cs (2004) [19] cho biết, trứng giun đũa lợn có khả năng sống rất lâu từ 11 – 24 tháng vì trứng có sức đề kháng rất mạnh với tất
cả các hóa chất (kiềm, axit), chống đỡ kém với thời tiết khô ráo và ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp Tuổi thọ của giun đũa lợn khoảng 7 – 10 tháng Hết tuổi thọ giun đũa theo phân ra ngoài Gặp điều kiện không thuận lợi (con vật
bị bệnh truyền nhiễm, sốt cao…) thì tuổi thọ của giun đũa ngắn lại Số lượng giun có thể vài con đến hàng nghìn con trên một cơ thể lợn
Nguyễn Xuân Bình (2005) [2] thì biện pháp phòng và trị bệnh giun đũa đối với lợn con từ sơ sinh đến 2,5 tháng tuổi phải tẩy giun một lần Sau 2 – 3 tháng phải tẩy giun lần 2 Nếu để nái phải tẩy giun lần 3 trước khi phối giống Nguyễn Phước Tương (2002) [24], cho rằng bệnh giun đũa có thể truyền qua người nhưng hiếm thấy Tuy vậy, bệnh giun đũa lợn do ấu trùng trên người không phải do giun trưởng thành thì khá nhiều, gây nên các phản ứng tăng dị ứng và hội chứng Loeffer Những người có thể trạng suy nhược, thiếu dinh dưỡng, suy giảm miễn dịch dễ mắc bệnh giun đũa lợn do nuốt phải đất hay thực vật nhiễm trứng giun đũa lợn chứa ấu trùng Chu kỳ phát triển của giun đũa trên người cũng giống như ở lợn
Theo Đoàn Văn Phúc và cs (2005) [16], người ta đã thí nghiệm 7 con lợn nuốt trứng giun đũa người, qua 66 ngày theo dõi tác giả cho thấy: Với liều 10.000 trứng có ấu trùng, lợn không có triệu chứng dấu hiệu khác thường Kết quả mổ khám 2 lợn và xét nghiệm phân của 7 lợn thì không thấy giun đũa và trứng giun đũa người Điều này cho thấy lợn không bị nhiễm giun đũa người
Phạm Văn Khuê và cs (1975) [7], đã nghiên cứu về khu hệ quy luật phân bố và biến động nhiễm giun sán theo lứa tuổi ở lợn một số tỉnh Quảng Ninh, Hà Bắc, Thanh Hóa, Hà Tĩnh và đã xác định được lợn nhiễm 4 lớp giun sán với tổng số là 17 loài
Trịnh Văn Thịnh, Đỗ Thái (1978) [20], cho biết ngay từ đầu thế kỷ 14 Tuệ Tĩnh đã đề ra cách trị giun đũa bằng dược liệu thuốc nam như dùng hạt cau, cỏ lanh ngâm
Trang 28Trịnh Văn Thịnh và Dương Công Thuận (1987) [21], điều tra bằng cách xét nghiệm phân lợn ở 10 địa điểm thuộc nhiều vùng khác nhau trong những điều kiện chăn nuôi khác nhau trên 2200 con lợn cho biết tỷ
lệ nhiễm giun đũa là 56%, tuổi của lợn bị nhiễm nặng nhất ở 2 – 6 tháng tuổi, trên một tỷ lệ nhiễm chung là 49,0% - 65,9%, riêng tỷ lệ nhiễm ở tuổi này là 38,3 – 54,9%
Theo Đào Trọng Đạt (1985) [3], trong quá trình điều tra nghiên cứu đã xác định được 49 loài giun sán mà lợn nước ta hay cảm nhiễm nhất, trong đó giun đũa lợn và sán lá ruột lợn là hai loài nguy hiểm nhất Cũng theo ông thì công tác nghiên cứu tập trung tìm hiểu chu trình sinh học, dịch tễ học và thử nghiệm các quy trình phòng trừ các bệnh về giun sán đã trở thành tiến bộ kỹ thuật được áp dụng rộng rãi theo quy trình này Một đời lợn chỉ cẩn tẩy 1 lần, lợn nái được tẩy khi tách con, còn lợn đực giống khi kiểm tra có trứng giun sán mới tẩy
Theo Phan Thế Việt và cs (1997) [25] đã nghiên cứu thành phần, đặc tính giun sán ký sinh ở lợn Nam Bộ cho thấy giun sán ký sinh ở lợn là 21 loài,
và biết tình hình nhiễm giun sán ký sinh ở lợn 2 miền Nam – Bắc có những điều kiện khác nhau
Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [8], mổ khám 140 con lợn và xét nghiệm phân 1032 con lợn các lứa tuổi khác nhau cho thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa ở lợn 2 – 6 tháng tuổi là cao nhất
Trịnh Văn Thịnh (1996) [22], đã điều tra nghiên cứu cho biết giun đũa sống bằng dưỡng chất của ký chủ, đồng thời tiết dịch tiêu hóa, phân giải tổ chức niêm mạc ruột và lấy tổ chức ở đó nuôi bản thân Tuổi thọ của giun đũa không quá 7 – 10 ngày
Bệnh có thiệt hại lớn về kinh tế, vì thường lan rộng ra toàn dân (do ăn uống phải trứng giun từ phân lợn ốm thải ra), khiến cả đàn sụt cân, tốn thức
ăn mà lợn không lớn không béo