1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con giai đoạn 1 – 21 ngày tuổi tại công ty TNHH MTV lợn giống lạc vệ,, so sánh tác dụng của hai loại thuốc colistin 1200 và hancotmix forte trong điều trị bệnh

59 1,2K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 795,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHAN THỊ CƯƠNG Tên đề tài: TÌNH HÌNH MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON GIAI ĐOẠN 1 – 21 NGÀY TUỔI TẠI CÔNG TY TNHH MTV LỢN GIỐNG LẠC VỆ, HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH, SO SÁNH TÁC DỤNG CỦA HAI

Trang 1

PHAN THỊ CƯƠNG

Tên đề tài:

TÌNH HÌNH MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON GIAI ĐOẠN 1 – 21 NGÀY TUỔI TẠI CÔNG TY TNHH MTV LỢN GIỐNG LẠC VỆ, HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH, SO SÁNH TÁC DỤNG CỦA HAI LOẠI THUỐC COLISTIN - 1200 VÀ HANCOTMIX-FORTE

TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khoá học: 2011 – 2016

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 2

PHAN THỊ CƯƠNG

Tên đề tài:

TÌNH HÌNH MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON GIAI ĐOẠN 1 – 21 NGÀY TUỔI TẠI CÔNG TY TNHH MTV LỢN GIỐNG LẠC VỆ, HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH, SO SÁNH TÁC DỤNG CỦA HAI LOẠI THUỐC COLISTIN - 1200 VÀ HANCOTMIX-FORTE

TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Lớp: K43 - TY

Khoa: Chăn nuôi Thú y Khoá học: 2011 – 2016 Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Hùng Nguyệt Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này trước hết em xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể các thầy cô giáo Khoa Chăn nuôi – Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu và bổ ích trong suốt những năm học vừa qua

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo, TS Nguyễn Hùng

Nguyệt đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo trong suốt quá trình thực tập để em

hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn tới các thầy cô giáo trong Khoa Chăn nuôi - Thú

y, đặc biệt là các thầy cô giáo trong bộ môn Vi sinh vật - Giải phẫu – Bệnh lý,

đã giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới Xí nghiệp lợn giống Lạc Vệ - Bắc Ninh, đã tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình

Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện, giúp đỡ, động viên em trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực tập tốt nghiệp

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 11 năm 2015

Sinh viên

Phan Thị Cương

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Để hoàn thành chương trình học tập trong nhà trường, thực hiện phương

châm “Học đi đôi với hành”, “Lý thuyết gắn liền với thực tiễn sản xuất” Giai đoạn thực tập rất quan trọng đối với mỗi sinh viên, để củng cố và hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã học, nâng cao tay nghề Đồng thời, tạo cho mình sự tự lập, lòng yêu nghề, có phong cách làm việc đúng đắn, năng lực làm việc đáp ứng nhu cầu của thực tiễn sản xuất Nắm được phương pháp tổ chức và tiến hành nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, sáng tạo khi ra trường sẽ trở thành một người cán bộ khoa học có chuyên môn, đáp ứng nhu cầu thực tiễn, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển đất nước

Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, của Thầy giáo hướng dẫn, được sự tiếp nhận của cơ sở, em tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con giai đoạn 1 – 21 ngày tuổi tại công ty TNHH MTV lợn giống Lạc Vệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, so sánh tác dụng của hai loại thuốc Colistin - 1200 và Hancotmix-Forte trong điều trị bệnh”

Trong thời gian thực tập tại Xí nghiệp lợn giống Lạc Vệ - Bắc Ninh, được sự giúp đỡ tận tình của cán bộ công nhân viên trong Xí nghiệp, cùng thầy giáo hướng dẫn

và sự cố gắng nỗ lực của bản thân, em đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Mặc dù đã cố gắng nhưng do thời gian có hạn, kinh nghiệm còn thiếu trong thực tiễn sản xuất, kiến thức còn hạn hẹp nên khóa luận của em không tránh khỏi những thiểu sót Em rất mong được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến quý báu

của các thầy cô giáo và các bạn để khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Sinh viên

Phan Thị Cương

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 4.1 Lịch tiêm phòng vắc xin cho lợn con của Xí nghiệp lợn giống Lạc Vệ

29

Bảng 4.2a Lịch tiêm phòng vắc xin cho lợn nái hậu bị của Xí nghiệp lợn giống Lạc Vệ 30

Bảng 4.2b Lịch tiêm phòng vắc xin cho lợn nái củaXí nghiệp lợn giống Lạc Vệ 31

Bảng 4.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 32

Bảng 4.4 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con trong giai đoạn từ 1 – 21 ngày tuổi qua các tháng theo dõi tại Công ty 33

Bảng 4.5 Kết quả theo dõi bệnh phân trắng lợn con theo ngày tuổi 34

Bảng 4.6 Bệnh phân trắng lợn con theo giống tại công ty 37

Bảng 4.7 Kết quả điều trị bệnh LCPT bằng hai loại thuốc 39

Bảng 4.8 Thời gian điều trị và tái phát 41

Bảng 4.9 Hạch toán trong điều trị bệnh phân trắng lợn con 43

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Trang

Hình 4.1 Tỷ lệ mắc bệnh PTLC giai đoạn từ 1 – 21 ngày tuổi 33Hình 4.2 Tỷ lệ lợn con mắc bệnh ỉa phân trắng theo ngày tuổi 35Hình 4.3 Tỷ lệ mắc bệnh lợn con theo giống 38Hình 4.4 So sánh tác dụng của hai loại thuốc kháng sinh Colistin-1200 và

Hancotmix-Forte 39Hình 4.5 Tỷ lệ tái phát và tỷ lệ khỏi bệnh sau tái phát của hai loại thuốc 41

Trang 7

: Xí nghiệp

Trang 8

MỤC LỤC

Trang

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2

Phần 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

2.1 Cơ sở lý luận 3

2.1.1 Đặc điểm sinh lý của lợn con ở giai đoạn theo mẹ 3

2.1.2 Tìm hiểu về bệnh phân trắng lợn con 7

2.1.3 Khái quát về vi khuẩn E.coli 14

2.1.4 Cơ chế gây bệnh của vi khuẩn E.coli 14

2.1.5 Triệu chứng của bệnh 15

2.1.6 Bệnh tích của bệnh 16

2.1.7 Phương pháp phòng bệnh và trị bệnh phân trắng lợn con 16

2.1.8 Một số đơn thuốc được sử dụng trong điều trị bệnh LCPT tại Xí nghiệp lợn giống Lạc Vệ - Bắc Ninh 19

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 20

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 20

2.2.2 Nghiên cứu ngoài nước 22

Phần 3 : ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 23

3.3 Nội dung nghiên cứu 23

Trang 9

3.3.1 Theo dõi tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con nuôi tại Xí nghiệp lợn giống

Lạc Vệ - Bắc Ninh 23

3.3.2 So sánh tác dụng của hai loại thuốc Colistin–1200 và Hancotmix-Forte 23

3.3.3 Kết quả điều trị sau tái phát, thời gian và chi phí trung bình điều trị của hai loại thuốc Colistin – 1200 và Hancotmix-Forte 23

3.4 Phương pháp tiến hành 23

3.4.1 Bố trí thí nghiệm 23

3.4.2 Phương pháp xác định các chỉ tiêu theo dõi 25

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 26

Phần 4 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27

4.1 Công tác phục vụ sản xuất 27

4.1.1 Công tác vệ sinh phòng bệnh 27

4.1.2 Công tác điều trị bệnh ở lợn 31

4.1.3 Công tác khác 32

4.2 Kết quả nghiên cứu 33

4.2.1 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con trong giai đoạn từ 1 – 21 ngày tuổi 33

4.2.2 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo ngày tuổi 34

4.2.3 Tỷ lệ mắc bệnh lợn con theo giống 37

4.2.4 So sánh tác dụng của hai loại thuốc kháng sinh Colistin-1200 và Hancotmix-Forte trong điều trị bệnh LCPT (giai đoạn 1 – 21 ngày) 39

4.2.5 Tỷ lệ tái phát và kết quả điều trị sau tái phát 41

4.2.6 Hạch toán giá thành trong điều trị 42

Phần 5 : KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44

5.1 Kết luận 44

5.2 Đề nghị 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 10

ta đang ngày càng phát triển với mục đích và yêu cầu của nền kinh tế thị trường sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Từ đó làm cho số lượng lợn tăng rất nhanh chóng Để đảm bảo cho lợn sinh trưởng và phát triển tốt đem lại hiệu quả kinh tế cao thì công tác phòng chống dịch bệnh rất quan trọng, cần được chú ý ngay từ khi lợn sơ sinh đến

lúc lợn trưởng thành

Tuy nhiên, với điều kiện thời tiết nước ta thì quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng cho lợn cũng vấp phải những khó khăn đáng kể Một trong những bệnh thường xảy ra với lợn con giai đoạn 1-21 ngày tuổi là bệnh phân trắng, bệnh rất dễ xảy ra và khi xảy ra nó sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển của lợn con Nếu không chữa trị kịp thời lợn sẽ chết rất nhanh gây thiệt hại lớn đến ngành chăn nuôi

Từ thực tế trên, để đánh giá tình hình nhiễm bệnh và khả năng mẫn cảm của lợn con giai đoạn 1-21 ngày tuổi Nhằm đề ra các biện pháp phòng chống hạn

chế phát sinh bệnh phân trắng ở lợn con, em tiến hành đề tài: ““Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con giai đoạn 1 – 21 ngày tuổi tại công ty TNHH MTV lợn giống Lạc Vệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, so sánh tác dụng của hai loại thuốc Colistin - 1200 và Hancotmix-Forte trong điều trị bệnh”

Trang 11

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu tình hình chăn nuôi của Xí nghiệp lợn giống Lạc Vệ - Bắc Ninh

- Tìm hiểu tình hình dịch bệnh xảy ra trên đàn lợn của Xí nghiệp lợn giống Lạc Vệ - Bắc Ninh

- Tìm hiểu tình hình bệnh lợn con phân trắng (LCPT) của Xí nghiệp lợn giống Lạc Vệ - Bắc Ninh

- Thử nghiệm hai loại thuốc kháng sinh điều trị bệnh LCPT tại Xí nghiệp lợn giống Lạc Vệ - Bắc Ninh

- Kết quả thử nghiệm hai loại thuốc kháng sinh điều trị LCPT tại Xí nghiệp lợn giống Lạc Vệ - Bắc Ninh

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

- Các kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo về bệnh lợn con phân trắng

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

- Các kết quả nghiên cứu điều trị bệnh và đánh giá hiệu quả điều trị bằng 2 loại thuốc góp phần phục vụ sản xuất ở trại

Trang 12

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Đặc điểm sinh lý của lợn con ở giai đoạn theo mẹ

* Đặc điểm tiêu hoá của lợn con

Lợn con mới sinh ra sống nhờ vào sữa mẹ , sau khi cai sữa cơ thể lợn trải qua một quá trình thay đổi không ngừng về hình thái , cấu tạo và sinh lý của ống tiêu hoá để thích ứng với điều kiện mới

Sau khi sinh ra, ở lợn con chức năng tiêu hoá của dạ dày còn hạn chế,

dễ gây rối loạn trao đổi chất mà hậu quả là rối loạn tiêu hoá, gây tiêu chảy, còi cọc, thiếu máu và chậm lớn

Lợn con trước 1 tháng tuổi, có hàm lượng HCl tự do trong dạ dày rất ít, giai đoạn này gọi là giai đoạn thích ứng cần thiết tự nhiên giúp cơ thể thẩm thấu được các kháng thể miễn dịch trong sữa đầu của lợn mẹ Dịch vị không

có hoạt tính phân giải protein mà chỉ có hoạt tính làm vón sữa đầu, albumin

và globulin được chuyển xuống ruột để vào máu

Theo Đào Trọng Đạt và cs (1986) [6], lợn con trên 14 - 16 ngày tuổi tình trạng thiếu HCl ở dạ dày không còn là sự cần thiết cho sinh lý bình thường nữa Vì vậy, việc tập cho lợn con ăn sớm đã rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl, giúp hoạt hoá hoạt động tiết dịch, tạo khả năng xây dựng nhanh chóng các đáp ứng miễn dịch của cơ thể

Sau 20 ngày lượng sữa mẹ giảm dần trong khi nhu cầu của lợn con tăng lên Vì vậy, lợn con rất dễ rơi vào trạng thái khủng hoảng Để khắc phục tình trạng này cần tập cho lợn con tập ăn sớm để bổ sung thêm chất dinh dưỡng,

có tác dụng kích thích tăng tiết dịch, tăng hàm lượng HCl và men tiêu hóa; sự phát triển của dạ dày và ruột để đáp ứng kịp thời với chế độ sau cai sữa

Trang 13

* Đặc điểm thích ứng của lợn con

Sự thích ứng của lợn con khi thay đổi môi trường sống là rất kém Đặc biệt ở giai đoạn lợn con chuyển từ môi trường sống trong bụng mẹ ra môi trường bên ngoài, từ nuôi dưỡng qua sữa mẹ đến chế độ tập ăn sớm

Hơn nữa, sự thành thục và thiếu hoàn chỉnh về chức năng của các cơ quan nội tạng, nhất là bộ máy tiêu hoá, liên quan mật thiết đến sự phát triển của hệ vi sinh vật có lợi hoặc có hại trong ruột và sức đề kháng của cơ thể chống lại bệnh tật Quá trình tuần hoàn chuyển từ tuần hoàn máu qua nhau thai sang tuần hoàn nhờ tim phổi, toàn bộ máu ở mạch máu rốn qua gan Sự cân bằng nhiệt của lợn con cũng phải tự thiết lập để thích ứng với môi trường bên ngoài, không thể nhờ vào cân bằng nhiệt lượng của cơ thể mẹ như trong giai đoạn bào thai

Theo Đào Trọng Đạt và cs (1986) [6], quá trình chuyển hoá, cân bằng năng lượng từ giai đoạn bào thai sang giai đoạn sau khi sinh rất chậm, chưa thích nghi ngay nên dễ bị tác động bởi môi trường Nhờ quá trình oxy hoá mô

mỡ nên lợn con điều chỉnh được thân nhiệt Khả năng điều chỉnh thân nhiệt khác nhau ở lợn con là do mức độ phát triển khác nhau của mô mỡ ở từng cá thể, từng loại gia súc Lợn con có nhu cầu dinh dưỡng rất cao Axit amin là nguyên liệu chủ yếu cho sự sinh trưởng và phát triển của lợn con Tốc độ sinh trưởng của gia súc non rất nhanh, trong vòng 10 đến 14 ngày, thể trọng tăng gấp 1,3 lần; sau 2 tháng tuổi khối lượng lợn con có thể tăng 14 đến 15 lần so với sơ sinh Nếu sữa mẹ không đảm bảo đủ chất lượng, trong khẩu phần ăn thiếu đạm, sự sinh trưởng của cơ thể sẽ bị chậm hoặc ngừng lại, khả năng chống đỡ bệnh tật rất kém nên cơ thể dễ bị nhiễm bệnh

* Hệ vi sinh vật đường ruột ở lợn con

Ở gia súc trưởng thành, trong đường ruột có hệ vi sinh vật có lợi thường trực cộng sinh có khả năng khống chế sự xâm nhập và nhân lên của

Trang 14

các loài vi sinh vật khác lạ từ môi trường bên ngoài, đồng thời tham gia vào quá trình tiêu hoá hấp thu Trong đường ruột của gia súc non, hệ vi sinh có lợi

- vi sinh vật đối kháng với vi khuẩn gây bệnh chưa hình thành, chức năng tiêu hoá chưa thành thục, môi trường sống, điều kiện ngoại cảnh, chăm sóc không tốt đều là những stress đối với gia súc non Khi chuyển từ bào thai sang nuôi dưỡng bằng sữa mẹ và chế độ tập ăn, tiếp xúc thường xuyên với môi trường bên ngoài và nhất là điều kiện không vệ sinh, vi sinh vật gây bệnh dễ dàng xâm nhập và gây bệnh đường ruột cho gia súc non, có thể ở dạng cấp tính hay mãn tính

Ở trạng thái sinh lý bình thường, giữa cơ thể vật chủ và hệ vi sinh vật trong đường tiêu hoá cũng như giữa các loài vi sinh vật trong khu hệ vi sinh vật với nhau luôn luôn ở trạng thái cân bằng, sự cân bằng này là cần thiết cho sức khoẻ của vật chủ Họ vi khuẩn đường ruột là một họ lớn, bao gồm các trực khuẩn gram âm sống trong ống tiêu hoá của người và động vật Chúng có thể gây bệnh hoặc không gây bệnh, hiếu khí hoặc hiếu khí tuỳ tiện, bao gồm

vi khuẩn sinh axit lactic, vi khuẩn bifidium, một số loại cầu khuẩn đường ruột

có khả năng ức chế và tiêu diệt vi khẩn Salmonella, Proteus vulgaris và các loại vi khuẩn sinh thối rữa, vi khuẩn Lactobacillus, Bacilus subtilis Ở gia súc

sơ sinh, chưa hình thành hoặc hình thành không ổn định hệ vi sinh vật có lợi này, có nghĩa là chưa có vi khuẩn ức chế và tiêu diệt sự xâm nhập của vi khuẩn gây bệnh đường tiêu hoá

Hệ vi sinh vật có hại hay gặp trong đường ruột là vi khuẩn Salmonella

spp, E.coli, một số chủng Clostridium spp, Shigella Cho đến nay nhiều công

bố nghiên cứu khoa học đã cho biết nguyên nhân gây tiêu chảy ở gia súc non

gồm 3 loại chính là E.coli, Salmonella spp, Clostridium perfrigens

Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2001) [13], trong hệ vi khuẩn đường

ruột, vi khuẩn E.coli là phổ biến nhất và chúng xuất hiện sớm trong đường

Trang 15

ruột của người, động vật sơ sinh, thường ở phần sau của ruột, đôi khi còn thấy

ở niêm mạc của nhiều bộ phận trong cơ thể Clostridium perfrigens typ C

gây bệnh viêm ruột hoại tử cho lợn ở lứa tuổi 1 đến 14 ngày tuổi, đặc biệt xảy ra trầm trọng ở 1 đến 7 ngày tuổi, tỷ lệ chết cao (50%), bệnh lây nhiễm qua phân

Tiêu chảy ở lợn con do Salmonella cholerasuis gây ra thường thể hiện

ở 2 dạng là bại huyết và thần kinh Khi mổ khám chúng ta thấy có hiện tượng viêm ruột hoại tử có xuất huyết ở ruột, màng treo ruột, viêm màng ruột, đoạn trước trực tràng phình to

* Khả năng đáp ứng miễn dịch của lợn con

Khả năng miễn dịch của cơ thể là khả năng phản ứng của cơ thể đối với các chất lạ khi xâm nhập vào cơ thể Các chất lạ có thể là mầm bệnh, các mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể gia súc non tương đối dễ do các cơ quan bảo

vệ cơ thể phát triển chưa hoàn chỉnh Hệ thống tiêu hoá của lợn con lượng enzym tiêu hoá và lượng HCl tiết ra chưa đáp ứng đủ cho quá trình tiêu hoá, gây rối loạn trao đổi chất, tiêu hoá và hấp thu dinh dưỡng kém Do

vậy, các mầm bệnh như E.coli, Salmonella dễ dàng xâm nhập vào cơ thể

qua đường tiêu hoá và gây bệnh

Ở lợn con, các yếu tố miễn dịch như bổ thể, profecdin và lysozim được tổng hợp còn ít, khả năng thực bào kém Vì vậy, việc cho lợn con bú sữa đầu

là rất cần thiết do trong sữa đầu có rất nhiều globulin miễn dịch, bảo vệ cơ thể lợn con chống lại mầm bệnh Hai giờ sau khi đẻ, lợn con phải được bú sữa đầu để hấp thu được nhiều globulin từ sữa đầu vào máu trong thời gian 24- 36 giờ, nhờ đó có đủ kháng thể trong 5 tuần đầu tiên

Tuy nhiên còn một yếu tố quan trọng nữa là sự phát triển của hệ vi sinh vật trong đường ruột gia súc non có những đặc thù riêng Việc cân bằng khu

hệ vi sinh vật có lợi trong đường ruột nhằm khắc phục, hạn chế sự loạn khuẩn

Trang 16

trong quá trình phát triển và trưởng thành của cơ thể lợn con là rất quan trọng Sử dụng chế phẩm sinh học để phòng và trị tiêu chảy cho lợn con là rất cần thiết

2.1.2 Tìm hiểu về bệnh phân trắng lợn con

Ở nước ta bệnh xảy ra quanh năm nhưng chủ yếu vào mùa đông xuân, nhất là sau những trận mưa rào lớn, những ngày có độ ẩm cao và khi thời tiết thay đổi đột ngột

Ở các trại chăn nuôi tập trung bệnh xảy ra rất nhiều, mặc dù đã thực hiện tốt các khâu về chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho lợn con, lợn

mẹ nhưng bệnh vẫn xảy ra lúc lẻ tẻ, lúc ồ ạt gây thiệt hại kinh tế

* Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh phân trắng lợn con đã và đang được rất nhiều tác giả nghiên cứu

và đưa ra những nhận định về nguyên nhân theo nhiều hướng khác nhau song tập trung vào 2 hướng:

- Quan điểm thứ nhất cho rằng bệnh phân trắng lợn con không phải bệnh nhiễm trùng mà là chứng khó tiêu, hậu quả của các yếu tố ngoại cảnh như thời tiết khí hậu, chất lượng sữa mẹ, vệ sinh chuồng trại, chăm sóc nuôi dưỡng lợn con, lợn mẹ kém…gây nên

- Quan điểm thứ hai cho là bệnh nhiễm trùng đường tiêu hoá, chủ yếu

do vi khuẩn E.coli gây ra

Gần đây nhiều nhà nghiên cứu cho rằng bệnh do nhiều nguyên nhân phối hợp, liên quan đến hàng loạt các yếu tố Do đó việc phân chia nguyên nhân nào là chính, nguyên nhân nào là phụ để có biện pháp điều trị hiệu quả

+ Yếu tố ngoại cảnh

Trong điều kiện sinh lý bình thường có sự cân bằng giữa sức đề kháng của cơ thể đối với các yếu tố gây bệnh Khi sức đề kháng của cơ thể giảm, thì cân bằng này mất đi, làm cho cơ thể rơi vào trạng thái bệnh lý

Trang 17

Theo Đào Trọng Đạt và Phan Thanh Phượng (1986) [5], khi còn nằm trong bụng mẹ, sự cân bằng nhiệt của bào thai do thân nhiệt của cơ thể mẹ quy định Sau khi sinh ra cơ thể lợn con chưa thể bù đắp được lượng nhiệt mất đi do ảnh hưởng của môi trường bên ngoài Lúc này, các yếu tố bất lợi làm giảm sức đề kháng của cơ thể, tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh phát sinh

và phát triển Trong những yếu tố về khí hậu thì yếu tố về nhiệt độ, độ ẩm là quan trọng nhất Nhiệt độ 28o

C- 30oC, độ ẩm từ 75%- 85% là thích hợp cho lợn con Vì vậy vào những tháng giao mùa, tháng mưa nhiều, độ ẩm cao 86%- 90%, nhiệt độ thay đổi thất thường lợn con sẽ mắc bệnh nhiều, có khi tỷ lệ bệnh phân trắng lợn con trong đàn 90% - 100%

Nhiều tác giả cho rằng nguyên nhân của bệnh phân trắng lợn con không

có tính đặc hiệu nhưng mang tính tổng hợp, trong đó các yếu tố lạnh, ẩm được đánh giá là yếu tố hàng đầu của bệnh Lạnh, ẩm làm hệ thống điều hoà bị rối loạn, dẫn đến rối loạn trao đổi chất của các cơ quan, các mô bào, các tế bào của cơ thể, làm giảm sức đề kháng, tạo điều kiện cho virus, vi khuẩn có sẵn trong đường ruột hay từ ngoài vào có cơ hội phát triển tăng nhanh về số lượng

và tăng cường độc lực gây bệnh

Theo Sử An Ninh (1993) [9], ở gia súc non các men tiêu hoá chưa hoàn chỉnh, đặc biệt trong dịch vị chưa có đủ lượng HCl tự do nên không hoạt hoá được men pepsin Vì vậy không tiêu hoá được hết sữa mẹ trong khi sữa mẹ là môi trường phát triển tốt của nhiều loại vi khuẩn

+ Do vi khuẩn

- Vi khuẩn E.coli

Theo Biehl và Hoefling (1986) [20], vai trò của vi khuẩn gây tiêu chảy

ở lợn con đã và đang được nhiều nhà khoa học quan tâm Nhưng trong đó vi

khuẩn E.coli là nguyên nhân quan trọng nhất trong hội chứng tiêu chảy của lợn con mới sinh và sau cai sữa E.coli là một loại trực khuẩn đường ruột sống

ở ruột già, chỉ một vài giờ sau khi sinh và tồn tại đến khi con vật chết

Trang 18

Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2001) [13], thì bệnh lợn con phân trắng là một hội chứng hay nói cách khác là một trạng thái lâm sàng đa dạng, đặc biệt là viêm dạ dày ruột, tiêu chảy và gầy sút nhanh

Hầu hết E.coli gây bệnh cho ký chủ nhờ yếu tố bám dính và độc tố đường ruột E.coli bám dính vào niêm mạc ruột rồi sản sinh độc tố đường ruột Các chủng E.coli gây bệnh đều sản sinh ra một hay nhiều kháng nguyên

bám dính, chúng nằm trên Fibriae- một cấu trúc giống sợi lông, xuất phát từ một đĩa giống trong màng nguyên sinh chất của tế bào vi khuẩn Chính các yếu tố bám dính cùng với các độc tố đường ruột đã gây quá trình sinh bệnh

đặc trưng của E.coli

Năm 1995 các nhà khoa học đã phân lập được các chủng E.coli gây bệnh phân trắng cho lợn con và đã chọn được 7 chủng E.coli mang các yếu

tố gây bệnh như K88, Enterotoxin, Hly và R để chế tạo vắcxin Vắcxin này rất an toàn (100%) và hiệu lực bảo hộ so với đối chứng đạt 40% đến 59%

trên động vật thí nghiệm

- Vi khuẩn Salmonella

Salmonella có mặt trong thức ăn, nước uống, môi trường thiên nhiên và

trong cơ thể động vật, có khả năng gây bệnh khi gặp điều kiện thuận lợi

Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2001) [13], Salmonella cũng đóng vai

trò rất quan trọng trong nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy ở lợn con vì vi khuẩn này là nguyên nhân gây bệnh phó thương hàn ở lợn bao gồm

Salmonelle cholera suis (chủng kunzendorf) và Salmonella typhy suis (chủng

Trang 19

- Vi khuẩn Clostridium perfrigens

Một trong những nguyên nhân quan trọng khác đóng vai trò kế phát

gây bệnh là vi khuẩn yếm khí Cl perfrigens hình thành độc tố gây dung

huyết, gây hoại tử, tổ chức phần mềm và gây chết Vi khuẩn có khả năng gây

ra các chứng nhiễm độc, viêm ruột xuất huyết trầm trọng ở lợn con

Các chủng Cl perfrigens sản sinh ra nhiều độc tố và enzym khác nhau,

mỗi chủng có những đặc điểm riêng trong việc sản sinh ra một vài loại độc tố hay enzym nào đó

Theo Bergeland và Taylor (1992) [19], những độc tố gây bệnh chủ yếu

do Cl perfrigens bao gồm độc tố α, β, δ Dựa vào hầu hết các đặc điểm mô tả thì Cl perfrigens typ C gây ra viêm ruột hoại tử Cl perfrigens typ C sản sinh

ra độc tố α, β chủ yếu là độc tố β, nhân tố quan trọng nhất trong sinh bệnh học

của bệnh viêm ruột hoại tử do Cl perfrigens typ C gây ra Bệnh xảy ra chủ

yếu trên lợn con ở giai đoạn theo mẹ, lứa tuổi mắc phổ biến nhất là 12 giờ sau khi sinh ra đến 7 ngày tuổi, hay gặp nhất ở 1 đến 3 ngày tuổi Ngoài ra bệnh cũng có thể xảy ra đối với lợn con từ 2 đến 4 tuần tuổi và cả khi cai sữa, lợn mắc bệnh thường bị chết ở những ổ lợn mẹ không được tiêm phòng, tỷ lệ khỏi rất thấp, tỷ lệ chết có thể lên tới 100%

+ Do virus

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu đến vai trò của virus Một đại diện của virus được chú ý nhiều trong hội chứng tiêu chảy của lợn đó

là Transmissble gastroenteritis virus (TGE) TGE (viêm dạ dày ruột truyền

nhiễm), là một bệnh có tính truyền nhiễm cao, biểu hiện đặc trưng là nôn mửa

và tiêu chảy nghiêm trọng, bệnh thường xảy ra ở các cơ sở chăn nuôi tập trung khi thời tiết rét lạnh

Virus TGE xâm nhập chủ yếu qua đường tiêu hoá Virus này gây bệnh cho lợn ở các lứa tuổi khác nhau, ở lợn virus nhân lên mạnh nhất ở trong niêm mạc của không tràng rồi đến hồi tràng, chúng không sinh sản trong dạ dày và kết tràng

Trang 20

Một số virus như cornavirus, paravirus, rotavirus và adenovirus đều có

tính hướng đến các tế bào ruột Các tế bào niêm mạc ruột bị phá huỷ do lông nhung bị teo dẫn đến sự tiêu hoá và hấp thu kém Những chất không tiêu hoá được trong ruột non sẽ kéo theo chất lỏng vào xoang ruột non Khi được vận chuyển vào ruột già, một số được tiêu hoá hoặc không tiêu hoá đều có thể tham gia vào quá trình gây tiêu chảy

+ Do ký sinh trùng

Các bệnh ký sinh trùng ở đường tiêu hoá cũng là nguyên nhân dẫn đến tiêu chảy ở lợn con cũng như ở một số gia súc khác Nguyên nhân này xảy ra chủ yếu ở lợn lứa tuổi sau cai sữa, còn lợn con theo mẹ ít gặp hơn vì đa số tỷ

lệ nhiễm ký sinh trùng tăng theo độ tuổi của lợn

Tác hại của ký sinh trùng là do chúng ký sinh, phát triển trong đường tiêu hoá, cướp chất dinh dưỡng của cơ thể, tiết độc tố, quá trình bám dính và di hành chúng làm tổn thương niêm mạc ruột, giảm sức đề kháng của cơ thể lợn

Tất cả các yếu tố trên tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn xâm nhiễm, bội nhiễm và gây bệnh

Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [11], Giun đũa lợn

(Ascarisuum), sán lá ruột lợn (Fassiolopsis buski), ký sinh trùng đường máu như tiên mao trùng (T.evansi) với triệu chứng tiêu chảy cấp tính hoặc

mãn tính

+ Do độc tố nấm mốc

Độc tố nấm mốc với hàm lượng cao có thể gây chết hàng loạt gia súc, với biểu hiện là nhiễm độc đường tiêu hoá, gây tiêu chảy dữ dội Ngoài ra việc gây tiêu chảy cho gia súc, độc tố nấm mốc còn gây độc trực tiếp cho người dùng thực phẩm bị nhiễm nấm mốc hoặc gián tiếp từ những độc tố tồn dư trong thực phẩm

Trang 21

+ Do điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng

Tình trạng sức khoẻ và chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng lợn mẹ ảnh hưởng đến dinh dưỡng bào thai và tích luỹ chất dinh dưỡng để tạo ra sữa trong giai đoạn cuối Việc nuôi dưỡng lợn nái chửa kỳ cuối rất quan trọng, nó quyết định trọng lượng sơ sinh của lợn con - một trong những chỉ tiêu để nâng cao năng suất của đàn nái sinh sản, đồng thời nói lên sức khoẻ của lợn con sơ sinh

Các chất dinh dưỡng cung cấp cho lợn mẹ, ngoài việc đáp ứng nhu cầu năng lượng và protein còn cung cấp các vitamin, khoáng, đặc biệt là protein tạo kháng thể chống lại các vi khuẩn có hại

Lợn con khi sinh không ngừng sử dụng protein để xây dựng các mô bào mới trong quá trình phát triển, đồng thời khôi phục và tu bổ lại tế bào cũ

Vì vậy, nếu khẩu phần ăn của lợn mẹ không đủ protein, thiếu khoáng đa lượng, vi lượng, dẫn đến thiếu dinh dưỡng, lượng sữa giảm, chất lượng sữa giảm, ảnh hưởng đến sức khoẻ của lợn con

Thân nhiệt của lợn mới sinh ra là 38,9o

C– 39,1oC, nhưng sau 30 phút giảm xuống còn 36,7o

C- 37,1oC Trong vòng 1 giờ sau khi sinh, nếu con vật được bú sữa đầu thì sau 8- 12 giờ thân nhiệt của lợn con sẽ được ổn định trở lại, nếu lợn con không được bú sữa đầu thì sự mất nhiệt sẽ là nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con

Trong sữa đầu hàm lượng vitamin A, D, B1, C cao hơn rất nhiều so với sữa thường Ngoài ra, trong sữa đầu còn có MgSO4 có tác dụng tẩy rửa các chất cặn bã trong đường tiêu hoá Đặc biệt còn có hàm lượng kháng thể γ - globulin, do đó cho lợn con bú sữa đầu đầy đủ rất cần thiết nhằm cung cấp hàm lượng kháng thể đáng kể chống lại sự xâm nhập của các vi khuẩn gây bệnh, tăng sức đề kháng của cơ thể

Trang 22

+ Đặc điểm sinh lý lợn con

Khi mới sinh ra, cơ thể lợn con phát triển để dần hoàn chỉnh về cấu tạo, chức năng hệ tiêu hóa và hệ miễn dịch Lợn con trước một tháng tuổi không

có HCl tự do trong dịch vị vì lúc này lượng axit tiết ra và nhanh chóng liên kết với dịch nhầy Đây là điều kiện để vi sinh vật phát triển gây bệnh dạ dày - ruột ở lợn con Hơn nữa vì thiếu axit HCl nên pepsinogen tiết ra không trở thành pepsin hoạt động được gây rối loạn tiêu hóa sữa, sữa bị kết tủa dưới dạng casein gây rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy màu phân trắng (màu của casein chưa được tiêu hóa)

Mặt khác khi mới sinh vỏ não và các trung tâm điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh Hơn nữa lượng mỡ dưới da của lợn con mới sinh chỉ có khoảng 1% Lúc khí hậu thay đổi lợn con mất cân bằng giữa hai quá trình sản nhiệt và thải nhiệt Đặc điểm này đã lý giải tại sao bệnh lại hay xảy ra hàng loạt ồ ạt khi thời tiết thay đổi thất thường

Theo Cù Xuân Dần (1996) [4], lượng sữa mẹ từ khi đẻ tăng đến ngày thứ 15 là cao nhất, đến ngày thứ 20 đột ngột giảm xuống thấp trong khi nhu cầu về sữa mẹ của lợn con tăng lên Do đó nếu ở giai đoạn này lợn mẹ mà thiếu chất dinh dưỡng thì lợn con lại càng thiếu sữa, cơ thể lợn con trở nên suy nhược, giảm sức đề kháng, lợn dễ bị stress

Một trong các nguyên nhân quan trọng nhất gây bệnh đường tiêu hóa là

do thiếu sắt Khi còn là bào thai lượng sắt cần thiết được mẹ cung cấp Khi ra ngoài môi trường sống, sữa mẹ chỉ cung cấp được 1/6 lượng sắt mà cơ thể non yêu cầu Trong khi cơ thể sơ sinh cần tới 40- 50 mg sắt/ngày, nhưng lợn con chỉ nhận được 1mg/ngày thông qua sữa mẹ Vì vậy, cần bổ sung thêm ít nhất là 200- 250mg/con để lợn con tránh thiếu máu Trong sữa mẹ không những chỉ thiếu sắt mà còn thiếu cả Coban, Vitamin B12 tham gia vào quá trình tạo máu, tổng hợp và hoạt hóa một số enzym Do đó lợn con dễ sinh bần huyết, cơ thể suy yếu, sức đề kháng giảm, lợn con dễ mắc bệnh phân trắng

Trang 23

2.1.3 Khái quát về vi khuẩn E.coli

Trực khuẩn E.coli biểu hiện các đặc tính sinh vật học rõ rệt, một quy

luật thường thấy đó là trực khuẩn đường ruột lên men lactoza tạo a.xít và sinh hơi Đó là đặc tính chủ yếu của vi khuẩn đường ruột với các loại vi khuẩn khác nhau thuộc họ Entero bacteria ceae

Trực khuẩn đường ruột E.coli có khả năng lên men các loại đường có

nhiều phân tử rượu như: Glucoza, Mannit, Duxit, Saccaroza, Arabonosa Phần lớn chúng tạo ra Indol làm sữa có màu quỳ tím

Kháng nguyên O: Là kháng nguyên thân chịu nhiệt ở 1000

C trong vòng 2giờ 30 phút vẫn giữ được tính kháng nguyên, vẫn giữ được khả năng ngưng kết và kết hợp

Kháng nguyên K: Là kháng nguyên bề mặt chúng bao gồm 3 loại L, A, B Kháng nguyên H: Là kháng nguyên không có tính chịu nhiệt Tuy nhiên đun sôi 150 phút thì tính kháng nguyên, khả năng ngưng kết, kết hợp của kháng nguyên đều bị phá huỷ

Kháng nguyên L: Là kháng không chịu được nhiệt, dưới tác dụng

100oC trong vòng một giờ thì kháng nguyên sẽ mất khả năng ngưng kết

Kháng nguyên B: Là kháng nguyên không chịu được nhiệt, dưới tác dụng 100oC trong vòng 1giờ thì kháng nguyên sẽ bị phá huỷ

Kháng nguyên A: Là kháng nguyên vỏ chịu nhiệt không bị phá huỷ khi đun sôi ở 100o

C trong vòng 30 phút

2.1.4 Cơ chế gây bệnh của vi khuẩn E.coli

Theo Phạm Ngọc Thạch (2006) [17], khi bị bệnh, đầu tiên dạ dày giảm tiết dịch vị, nồng độ HCl giảm, làm giảm khả năng diệt trùng và khả năng tiêu hóa protein Khi độ kiềm trong đường tiêu hóa tăng cao tạo điều kiện cho các

vi khuẩn trong đường ruột phát triển mạnh, làm thối rữa các chất chứa trong

Trang 24

đường ruột và sản sinh nhiều chất độc Những sản phẩm trên kích thích vào niêm mạc ruột làm tăng nhu động ruột, con vật sinh ra ỉa chảy Khi bệnh kéo dài, con vật bị mất nước (do ỉa chảy) gây nên rối loạn trao đổi chất trong cơ thể như nhiễm độc toan hoặc mất cân bằng các chất điện giải, làm cho bệnh trở nên trầm trọng, gia súc có thể chết

2.1.5 Triệu chứng của bệnh

Bệnh thường xảy ra ở lợn con, đặc biệt ở lợn mới sinh đến 21 ngày tuổi, có con mắc sớm hơn, ngay sau khi sinh ra 1 đến 3 giờ và mắc muộn khi 4 tuần tuổi

Lợn con mắc bệnh đa số thân nhiệt tăng sau 2 đến 3 ngày thì hạ xuống

do ỉa chảy mất nước nhiều Trong 1 đến 2 ngày đầu mắc bệnh lợn vẫn bú sau

đó gầy tọp nhanh, lông xù, đuôi rũ, da nhăn nheo, nhợt nhạt, hai chân sau dúm lại và run rẩy, đuôi và khoeo dính đầy phân

Tiêu chảy ở mức độ nhẹ lợn không có biểu hiện mất nước nhưng cũng

có thể tiêu chảy nặng Khối lượng cơ thể bị giảm 30- 40% do mất nước Cơ bụng hóp lại, lợn gầy, suy kiệt và đi siêu vẹo, mắt trũng sâu, da tái xám và nhợt nhạt Trong trường hợp mãn tính, da vùng hậu môn có thể đỏ lên do tiếp xúc với phân kiềm tính, lợn ít bị mất nước và nếu điều trị tích cực thì có thể khỏi bệnh

Ngoài việc chẩn đoán dựa vào triệu chứng trên thì bệnh còn được xác định chủ yếu dựa vào trạng thái biến đổi của phân Về trạng thái phân có thể chia làm 3 giai đoạn:

- Giai đoạn đầu kể từ 12- 24 giờ trước khi bị bệnh (thời kỳ nung bệnh), lúc này thấy lợn đi ỉa khó khăn, phân táo đen và nhỏ như hạt đỗ đen

- Giai đoạn tiếp theo phân táo bón chuyển sang dạng sền sệt, màu vàng,

2 đến 3 ngày sau phân chuyển sang màu trắng như vôi hoặc trắng xám Phân

Trang 25

ngày một lỏng hơn, trong phân có lẫn những hạt sữa chưa tiêu hoá, lổn nhổn như vôi hoặc có nhiều bột Có trường hợp mắc bệnh đến ngày thứ 3 phân đã loãng như nước, tháo tung toé Lúc này lợn con mất nước nặng, nếu kiểm tra phân dưới kính hiển vi sẽ thấy trong phân có những hạt mỡ chưa tiêu hoá, các

tế bào niêm mạc ruột hoặc có thể lẫn một ít hồng cầu

- Giai đoạn bệnh chuyển sang lành, phân từ màu trắng xám chuyển thành xám đen Phân đặc dần thành khuôn như phân lợn khoẻ

2.1.7 Phương pháp phòng bệnh và trị bệnh phân trắng lợn con

* Phòng bệnh

+ Phòng bệnh bằng vệ sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng

Thực hiện tốt khâu vệ sinh (chuồng trại, các thiết bị, dụng cụ ở chuồng

nuôi lợn đẻ) nhằm hạn chế E.coli gây bệnh, đảm bảo độ thông thoáng hợp lý

để duy trì nhiệt độ, độ ẩm thích hợp cho lợn ở từng giai đoạn, ấm về mùa đông, thoáng mát vào mùa hè, vệ sinh sạch sẽ Nếu phát hiện lợn con bị tiêu

chảy do E.coli thì cần nhanh chóng điều trị bằng thuốc

Theo Sử An Ninh (1995) [10], cần hạn chế dùng nước tắm rửa cho lợn

ở giai đoạn lợn con theo mẹ cũng như cai sữa, ẩm độ thích hợp cho lợn con được khuyến cáo là 70- 85%

Trang 26

Theo Phạm Khắc Hiếu và Trần Thị Lộc (1998) [7], lợn con sau khi đẻ

ra cần được sưởi ấm ở nhiệt độ 34oC trong tuần lễ đầu tiên sau đó giảm dần xuống nhưng không được thấp hơn 30oC Như vậy lợn sẽ tránh được stress lạnh ẩm

Thiết kế chuồng đẻ về kích thước, độ cao nền chuồng, bề mặt nền chuồng cũng rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến tỷ lệ lợn con bị phân trắng

Chăm sóc, nuôi dưỡng tốt đàn lợn con và lợn mẹ nhằm nâng cao sức đề kháng tự nhiên cho lợn con, phải cho lợn con bú sữa đầu càng sớm càng tốt Phải đảm bảo các thành phần dinh dưỡng trong khẩu phần ăn đặc biệt là các khoáng và vitamin… Nên cho lợn con tập ăn sớm vào ngày tuổi thứ 7- 8

Lợn con ở giai đoạn bú sữa thường có triệu chứng thiếu máu do thiếu sắt, đây là một trong những nguyên nhân gây rối loạn tiêu hoá và gây tiêu chảy nên phải tiêm bổ sung sắt cho lợn vào ngày tuổi thứ 3 và thứ 10

+ Phòng bệnh bằng vắcxin

Những vắcxin sản xuất đại trà sử dụng cho lợn mẹ thường được sản xuất bằng cách dùng toàn bộ hoặc những tiểu phần tinh chế của vi khuẩn làm kháng nguyên Thành phần chủ yếu của vắcxin là những yếu tố bám dính Bằng công nghệ tái tổ hợp có thể sản xuất một lượng kháng nguyên lông tinh chế cần thiết cho sản xuất vắcxin Vắcxin này thường dùng cho lợn chửa 5 tuần và 2 tuần trước khi đẻ Trong các trại chăn nuôi tập trung hiện nay đang phổ biến dùng vắcxin Litter Guard, loại vắcxin vô hoạt bằng phương pháp hoá học dùng cho lợn nái mang thai khoẻ mạnh để phòng tiêu chảy cho lợn

con theo mẹ gây ra bởi độc tố β của vi khuẩn Cl perfingens chủng C và các chủng E.coli sản sinh độc tố không chịu nhiệt LT, có kháng nguyên bám dính

K99, K88, 987P, F41 Kháng thể thụ động được truyền cho lợn con thông qua sữa đầu

Theo Bergeland và Taylor (1992) [19], để phòng bệnh do Clostridium

perfingens ở lợn con có thể sử dụng giải độc tố yếm khí Cl perfingens typ C

Trang 27

để tiêm cho lợn mẹ 2 lần trong thời kỳ mang thai (lần tiêm thứ nhất vào giữa

kỳ và nhắc lại lần 2 trước khi đẻ 2- 3 tuần) Lợn con sẽ được bảo vệ bởi globulin miễn dịch trong sữa đầu tác dụng phòng bệnh có thể kéo dài đến sau khi cai sữa

Ngoài ra có thể dùng thuốc nam để phòng bệnh: Để phòng bệnh, có thể hái khoảng 200 g cây nhọ nồi cho lợn mẹ ăn sống hoặc nấu chín cùng thức ăn,

cứ 2 – 3 ngày một lần như vậy lợn con sẽ không bị ỉa phân trắng

* Điều trị

Hiện nay các vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học là hiệu quả điều trị bệnh Nhiều nghiên cứu đã kết luận: Cần điều trị sớm, kết hợp nhiều biện pháp tổng hợp nhằm khống chế, khắc phục rối loạn tiêu hoá và hấp thu, chống loạn khuẩn đường ruột, đồng thời phải kết hợp điều trị nguyên nhân với điều trị triệu chứng

Để điều trị có hiệu quả phải đảm bảo toàn diện các hướng sau:

- Chống viêm ở niêm mạc đường tiêu hoá

- Thực hiện tốt vệ sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng

+ Điều trị bằng kháng sinh, hoá dược

Để có hiệu quả điều trị cao, điều quan trọng nhất là phải xác định được vai trò của vi khuẩn gây bệnh và sự mẫn cảm của chúng đối với kháng sinh và hoá dược sẽ dùng trong điều trị Trong thực tế, nên sử dụng loại kháng sinh phổ rộng ngay từ lúc đầu trong khi chờ kết quả của kháng sinh đồ Sử dụng phương pháp bổ sung kháng sinh Colistin, Oxytetracylin với liều 50ppm và 100ppm vào thức ăn cho nái chửa 7 ngày trước khi đẻ và sau đẻ 14 ngày, đã làm giảm tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy ở lợn con khi sinh ra

Trang 28

Dùng kháng sinh cầm ỉa chảy như: Sulfathiazon 10% tiêm dưới da, Streptomycin uống, Kanamycin tiêm bắp, Neomycin cho uống, Norfloxacin, Enrofloxacin… (Phạm Ngọc Thạch, 2006) [17]

+ Điều trị triệu chứng

Lợn con bị tiêu chảy nặng thường dẫn đến tình trạng mất nước và có biểu hiện rối loạn nghiêm trọng các chất điện giải Do đó kết hợp với điều trị bằng thuốc cần phải kịp thời chống mất nước và chất điện giải cho lợn con, đồng thời nên trợ tim cho lợn con bằng Cafein 20%, bổ sung đường glucose, tăng cường các vitamin đặc biệt là các vitamin nhóm B

+ Khôi phục hệ vi sinh vật đường ruột

Khôi phục và ổn định trạmg thái cân bằng của hệ vi sinh vật đường ruột

sẽ có ảnh hưởng tốt đến hiệu quả điều trị

Theo Đỗ Trung Cứ và cs (2000) [2], sử dụng chế phẩm Biosubtyl để điều trị tiêu chảy cho lợn con trước và sau cai sữa cho tỷ lệ lợn con mắc tiêu chảy giảm, khả năng tăng trọng tốt

Theo Tạ Thị Vịnh và Đặng Thị Hòe (2004) [18], cho biết khi sử dụng chế phẩm VITOM 1 và VITOM 3 để phòng và trị tiêu chảy cho lợn con từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi cho kết quả tốt, ngoài tác dụng điều trị, chế phẩm còn góp phần kích thích tăng trọng lợn

2.1.8 Một số đơn thuốc được sử dụng trong điều trị bệnh LCPT tại Xí nghiệp lợn giống Lạc Vệ - Bắc Ninh

* Colistin - 1200

Colistin - 1200 là sản phẩm của công ty Hanvet, thuốc dạng bột uống 100g + Thành phần: mỗi gói 100g chứa Colistin 120.000.000IU (dùng dạng Colistin Sulfat)

+ Chỉ định: đặc trị ỉa chảy do E.coli và Salmonella: phân trắng, phân

xanh, phân vàng, thương hàn, phó thương hàn, tụ huyết trùng ở gà, vịt, lợn,

bê, nghé,

Trang 29

+ Cách dùng: gia súc 1g/10kg TT/ngày, uống hoặc trộn thức ăn

Gia cầm 1g/10-15kg TT/ngày, hoặc 1g pha với 1 lít nước uống

Dùng liên tục 3-5 ngày, liều phòng bằng 1/2 liều chữa

Gia súc: chữa bệnh ỉa chảy nói chung như: ỉa phân trắng lợn con, nhiễm

độc bại huyết do E.coli, bệnh thương hàn, tụ huyết trùng, suyễn lợn, viêm

phổi, phế quản, đặc biệt bệnh ở gia súc non

+ Liều lượng và cách dùng:

Liều cơ bản cho các loại gia súc:1gam bột/5kg TT/ngày

Gia cầm: pha nước uống hoặc trộn thức ăn, dùng 3-6 ngày

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Bệnh phân trắng lợn con ở nước ta đã được nghiên cứu từ năm 1959 tại các cơ sở chăn nuôi tập trung (trại chăn nuôi và các nông trường quốc doanh)

Theo Lê Văn Tạo và cs (1993) [12], đã nghiên cứu các yếu tố gây bệnh

của các chủng E.coli gây bệnh, chọn chủng E.coli để chế tạo vắcxin chết dưới

dạng cho uống Vắcxin dùng cho lợn con sau đẻ 2 giờ, uống với liều 1ml/con, liên tục trong 3- 5 ngày Kết quả làm giảm tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con

từ 30- 35% so với đối chứng

Ngày đăng: 20/12/2016, 15:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Xuân Bình, Trần Thị Hạnh (2002), “Phân lập, định typ, lựa chọn chủng vi khuẩn E.coli, Cl.perfigens để chế tạo sinh phẩm phòng bệnh cho lợn con giai đoạn theo mẹ”, Báo cáo khoa học Chăn nuôi Thú y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân lập, định typ, lựa chọn chủng vi khuẩn E.coli, Cl.perfigens để chế tạo sinh phẩm phòng bệnh cho lợn con giai đoạn theo mẹ
Tác giả: Đặng Xuân Bình, Trần Thị Hạnh
Nhà XB: Báo cáo khoa học Chăn nuôi Thú y
Năm: 2002
2. Đỗ Trung Cứ, Trần Thị Hạnh, Nguyễn Quang Tuyên (2000), “Sử dụng chế phẩm sinh học Biosubtyl để phòng và trị bệnh tiêu chảy ở lợn con trước và sau cai sữa”, Tạp chí Khoa học và Kỹ thuật, Hội Thú y Việt Nam, tập 7, số 2, tr. 58 – 62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng chế phẩm sinh học Biosubtyl để phòng và trị bệnh tiêu chảy ở lợn con trước và sau cai sữa
Tác giả: Đỗ Trung Cứ, Trần Thị Hạnh, Nguyễn Quang Tuyên
Nhà XB: Tạp chí Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2000
3. Đoàn Thị Kim Dung (2003), Sự biến đổi một số vi khuẩn hiếu khí đường ruột, vai trò của E.coli trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ, các phác đồ điều trị, Luận án Tiến sỹ Nông nghiệp, Viện Thú y Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự biến đổi một số vi khuẩn hiếu khí đường ruột, vai trò của E.coli trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ, các phác đồ điều trị
Tác giả: Đoàn Thị Kim Dung
Nhà XB: Viện Thú y Quốc gia
Năm: 2003
5. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng (1986), Bệnh lợn con ỉa phân trắng, Nxb Nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh lợn con ỉa phân trắng
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng
Nhà XB: Nxb Nông thôn
Năm: 1986
6. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng (1986), Bệnh ở lợn nái và lợn con, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 44 – 48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ở lợn nái và lợn con
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1986
7. Phạm Khắc Hiếu, Trần Thị Lộc (1998), Stress trong đời sống của người và vật nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stress trong đời sống của người và vật nuôi
Tác giả: Phạm Khắc Hiếu, Trần Thị Lộc
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1998
8. Lý Thị Liên Khai (2001), “Phân lập, xác định độc tố ruột của các chủng E.coli gây tiêu chảy cho heo con”, Tạp chí Khoa học và Kỹ thuật, Hội Thú y Việt Nam, số 2, tr. 13 – 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân lập, xác định độc tố ruột của các chủng E.coli gây tiêu chảy cho heo con
Tác giả: Lý Thị Liên Khai
Nhà XB: Tạp chí Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2001
9. Sử An Ninh (1993), Kết quả bước đầu tìm hiểu nhiệt độ, ẩm độ thích hợp phòng bệnh phân trắng lợn con, Kết quả nghiên cứu Khoa học và Kỹ thuật Chăn nuôi thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả bước đầu tìm hiểu nhiệt độ, ẩm độ thích hợp phòng bệnh phân trắng lợn con
Tác giả: Sử An Ninh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1993
10. Sử An Ninh (1995), Các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu, nước tiểu và hình thái đại thể một số tuyến nội tiết ở lợn con mắc bệnh phân trắng, Luận án Phó tiến sỹ Nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu, nước tiểu và hình thái đại thể một số tuyến nội tiết ở lợn con mắc bệnh phân trắng
Tác giả: Sử An Ninh
Nhà XB: Trường Đại học Nông nghiệp
Năm: 1995
11. Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996), Ký sinh trùng thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng thú y
Tác giả: Phạm Văn Khuê, Phan Lục
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
12. Lê Văn Tạo, Khương Bích Ngọc, Nguyễn Thị Vui, Đoàn Băng Tâm (1993), “Nghiên cứu chế tạo vắcxin E.coli uống phòng bệnh phân trắng lợn con”, Tạp chí Nông nghiệp và Công nghiệp Thực phẩm, Hà Nội, số 9, tr. 324 – 325 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chế tạo vắcxin E.coli uống phòng bệnh phân trắng lợn con
Tác giả: Lê Văn Tạo, Khương Bích Ngọc, Nguyễn Thị Vui, Đoàn Băng Tâm
Nhà XB: Tạp chí Nông nghiệp và Công nghiệp Thực phẩm
Năm: 1993
13. Nguyễn Như Thanh, Nguyễn Bá Hiên, Trần Thị Lan Hương (2001), Vi sinh vật thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 72 – 96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi sinh vật thú y
Tác giả: Nguyễn Như Thanh, Nguyễn Bá Hiên, Trần Thị Lan Hương
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
14. Nguyễn Như Thanh (1997), Miễn dịch học thú y, (Giáo trình cao học Thú y), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miễn dịch học thú y
Tác giả: Nguyễn Như Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
15. Đỗ Ngọc Thúy, Cù Hữu Phú, Darren Trott, Ian Wilkie (2002), “Đặc tính kháng nguyên và vai trò gây bệnh của vi khuẩn Enterotoxigenic Escherichia coli gây bệnh tiêu chảy lợn con ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam”, Báo cáo khoa học Chăn nuôi Thú y, tr. 68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc tính kháng nguyên và vai trò gây bệnh của vi khuẩn Enterotoxigenic Escherichia coli gây bệnh tiêu chảy lợn con ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Đỗ Ngọc Thúy, Cù Hữu Phú, Darren Trott, Ian Wilkie
Nhà XB: Báo cáo khoa học Chăn nuôi Thú y
Năm: 2002
16. Trịnh Quang Tuyên (2005), Xác định các yếu tố gây bệnh của vi khuẩn Escherichia coli gây Colibacillosis ở lợn con các trại chăn nuôi tập trung, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định các yếu tố gây bệnh của vi khuẩn Escherichia coli gây Colibacillosis ở lợn con các trại chăn nuôi tập trung
Tác giả: Trịnh Quang Tuyên
Nhà XB: Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp
Năm: 2005
17. Phạm Ngọc Thạch (2006), Bệnh nội khoa gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh nội khoa gia súc
Tác giả: Phạm Ngọc Thạch
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2006
18. Tạ Thị Vịnh, Đặng Thị Hòe (2004), “Kết quả sử dụng chế phẩm sinh học VITOM 1 – 1 và cao mật lợn phòng trị bệnh đường tiêu hóa cho lợn con”, Tạp chí Khoa học và Kỹ thuật, Hội Thú y Việt Nam, tập XI, số 1, tr. 90 – 91.III. Tài liệu tiếng anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả sử dụng chế phẩm sinh học VITOM 1 – 1 và cao mật lợn phòng trị bệnh đường tiêu hóa cho lợn con
Tác giả: Tạ Thị Vịnh, Đặng Thị Hòe
Nhà XB: Tạp chí Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2004
19. Bergeland M.E., D.J Taylor (1992), Clostridial infections. Diseases of swine, IOWA State University Press/Ames, pp.454 – 468 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diseases of swine
Tác giả: Bergeland M.E., D.J Taylor
Nhà XB: IOWA State University Press
Năm: 1992
20. Bieh L.G. and Hoefling D.C. (1986), Diagnosis and treatment of diarrhea in 7-to 14 day old pigs, J. Am. Vet. Assoc., 188, pp.1144 – 1146 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diagnosis and treatment of diarrhea in 7-to 14 day old pigs
Tác giả: Bieh L.G. and Hoefling D.C
Năm: 1986
21. Fairbrother J.M. (1992), Enteric Colibacillosis Diseases of swine. IOWA state university press/amess. IOWA. USA. 7th edition. pp.489 – 497 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Enteric Colibacillosis
Tác giả: Fairbrother J.M
Nhà XB: IOWA state university press/amess
Năm: 1992

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Lịch tiêm phòng vắc xin cho lợn con của - Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con giai đoạn 1 – 21 ngày tuổi tại công ty TNHH MTV lợn giống lạc vệ,, so sánh tác dụng của hai loại thuốc colistin   1200 và hancotmix   forte trong điều trị bệnh
Bảng 4.1. Lịch tiêm phòng vắc xin cho lợn con của (Trang 38)
Bảng 4.2a. Lịch tiêm phòng vắc xin cho lợn nái hậu bị của - Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con giai đoạn 1 – 21 ngày tuổi tại công ty TNHH MTV lợn giống lạc vệ,, so sánh tác dụng của hai loại thuốc colistin   1200 và hancotmix   forte trong điều trị bệnh
Bảng 4.2a. Lịch tiêm phòng vắc xin cho lợn nái hậu bị của (Trang 39)
Bảng 4.2b. Lịch tiêm phòng vắc xin cho lợn nái của - Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con giai đoạn 1 – 21 ngày tuổi tại công ty TNHH MTV lợn giống lạc vệ,, so sánh tác dụng của hai loại thuốc colistin   1200 và hancotmix   forte trong điều trị bệnh
Bảng 4.2b. Lịch tiêm phòng vắc xin cho lợn nái của (Trang 40)
Bảng 4.3. Kết quả công tác phục vụ sản xuất - Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con giai đoạn 1 – 21 ngày tuổi tại công ty TNHH MTV lợn giống lạc vệ,, so sánh tác dụng của hai loại thuốc colistin   1200 và hancotmix   forte trong điều trị bệnh
Bảng 4.3. Kết quả công tác phục vụ sản xuất (Trang 41)
Bảng 4.4. Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con trong giai đoạn từ 1 – 21 - Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con giai đoạn 1 – 21 ngày tuổi tại công ty TNHH MTV lợn giống lạc vệ,, so sánh tác dụng của hai loại thuốc colistin   1200 và hancotmix   forte trong điều trị bệnh
Bảng 4.4. Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con trong giai đoạn từ 1 – 21 (Trang 42)
Bảng 4.5.  Kết quả theo dõi bệnh phân trắng lợn con theo ngày tuổi - Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con giai đoạn 1 – 21 ngày tuổi tại công ty TNHH MTV lợn giống lạc vệ,, so sánh tác dụng của hai loại thuốc colistin   1200 và hancotmix   forte trong điều trị bệnh
Bảng 4.5. Kết quả theo dõi bệnh phân trắng lợn con theo ngày tuổi (Trang 43)
Hình 4.2. Tỷ lệ lợn con mắc bệnh ỉa phân trắng theo ngày tuổi - Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con giai đoạn 1 – 21 ngày tuổi tại công ty TNHH MTV lợn giống lạc vệ,, so sánh tác dụng của hai loại thuốc colistin   1200 và hancotmix   forte trong điều trị bệnh
Hình 4.2. Tỷ lệ lợn con mắc bệnh ỉa phân trắng theo ngày tuổi (Trang 44)
Hình 4.3. Tỷ lệ mắc bệnh lợn con theo giống - Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con giai đoạn 1 – 21 ngày tuổi tại công ty TNHH MTV lợn giống lạc vệ,, so sánh tác dụng của hai loại thuốc colistin   1200 và hancotmix   forte trong điều trị bệnh
Hình 4.3. Tỷ lệ mắc bệnh lợn con theo giống (Trang 47)
Bảng 4.7. Kết quả điều trị bệnh LCPT bằng hai loại thuốc - Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con giai đoạn 1 – 21 ngày tuổi tại công ty TNHH MTV lợn giống lạc vệ,, so sánh tác dụng của hai loại thuốc colistin   1200 và hancotmix   forte trong điều trị bệnh
Bảng 4.7. Kết quả điều trị bệnh LCPT bằng hai loại thuốc (Trang 48)
Bảng 4.8 Thời gian điều trị và tái phát - Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con giai đoạn 1 – 21 ngày tuổi tại công ty TNHH MTV lợn giống lạc vệ,, so sánh tác dụng của hai loại thuốc colistin   1200 và hancotmix   forte trong điều trị bệnh
Bảng 4.8 Thời gian điều trị và tái phát (Trang 50)
Bảng 4.9. Hạch toán trong điều trị bệnh phân trắng lợn con - Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con giai đoạn 1 – 21 ngày tuổi tại công ty TNHH MTV lợn giống lạc vệ,, so sánh tác dụng của hai loại thuốc colistin   1200 và hancotmix   forte trong điều trị bệnh
Bảng 4.9. Hạch toán trong điều trị bệnh phân trắng lợn con (Trang 52)
Hình 1: Đỡ đẻ lợn - Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con giai đoạn 1 – 21 ngày tuổi tại công ty TNHH MTV lợn giống lạc vệ,, so sánh tác dụng của hai loại thuốc colistin   1200 và hancotmix   forte trong điều trị bệnh
Hình 1 Đỡ đẻ lợn (Trang 58)
Hình 3: Chuồng đẻ lợn nái   Hình 4: Lợn con có triệu chứng - Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con giai đoạn 1 – 21 ngày tuổi tại công ty TNHH MTV lợn giống lạc vệ,, so sánh tác dụng của hai loại thuốc colistin   1200 và hancotmix   forte trong điều trị bệnh
Hình 3 Chuồng đẻ lợn nái Hình 4: Lợn con có triệu chứng (Trang 58)
Hình 5: Triệu chứng của bệnh lợn con phân trắng - Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con giai đoạn 1 – 21 ngày tuổi tại công ty TNHH MTV lợn giống lạc vệ,, so sánh tác dụng của hai loại thuốc colistin   1200 và hancotmix   forte trong điều trị bệnh
Hình 5 Triệu chứng của bệnh lợn con phân trắng (Trang 59)
Hình 6: Các loại thuốc sử dụng trong đề tài - Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con giai đoạn 1 – 21 ngày tuổi tại công ty TNHH MTV lợn giống lạc vệ,, so sánh tác dụng của hai loại thuốc colistin   1200 và hancotmix   forte trong điều trị bệnh
Hình 6 Các loại thuốc sử dụng trong đề tài (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w