1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

TÀI LIỆU ÔN TẬP NGỮ VĂN 9 ÔN THI VÀO 10 (THEO CT GIẢM TẢI MỚI CỦA BỘ)

55 831 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 637 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngòi bút miêu tả khách quan nhưng vẫn hàm chứatâm trạng hả hê sung sướng của người viết cũng như của dân tộc trước thắng lợi của quân TâySơn... Cốt cách duyên dáng

Trang 1

PHẦN I: ÔN TẬP VĂN HỌC TRUNG ĐẠI Bảng hệ thống các tác giả, tác phẩm văn học trung đại đã học ở lớp 9.

- Ông học rộng, tài cao nhưng chỉ làm quan một năm rồi cáo về, sống ẩn dật ở vùng núi Thanh Hóa Đó là cách phản kháng của nhiều trí thức tâm huyết đương thời

- CNCGNX là truyện thứ 16 trong số 20 truyện nằm trong tp "Truyền kì mạn lục" Truyện có

nguồn gốc từ một truyện cổ dân gian "Chuyện chàng Trương".

- Khẳng định vẻ đẹp tâm hồn truyền thống của người phụ nữ VN

- Thể hiện niềm cảm thương số phận

bi kịch của họ dưới chế độ PK.

- Truyện truyền kì viết bằng chữ Hán.

- Kết hợp những yếu tố hiện thực và yếu tố kì ảo, hoang đường với cách kể chuyện, xây dựng nv rất thành công

- Ngô Gia Văn Phái : một nhóm tg thuộc dòng

họ Ngô Thì, ở làng Tả Thanh Oai, nay thuộc huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây Trong đó có hai

tác giả chính là Ngô Thì Chí(1758- 1778) làm quan thời Lê Chiêu Thống, và Ngô Thì

Du(1772 - 1840) làm quan dưới triều Nguyễn

- Tp viết bằng chữ Hán, ghi chép về sự thống nhất của vương triều nhà Lê vào thời điểm Tây Sơn diệt Trịnh, trả lại Bắc Hà cho vua Lê.Có

thể coi đây là cuốn tiểu thuyết lịch sử viết theo lối chương hồi Nó tái hiện một giai đoạn lịch sử đầy biến động của XHPKVN 30 năm cuối

TK 18- đầu TK 19

- Cuốn tiểu thuyết có 17 hồi, đoạn trích thuộc hồi 14, viết về sự kiện vua Quang Trung đại phá quân Thanh

- Hình ảnh người anh hùng dân tộc Quang Trung với cuộc hành quân thần tốc, chiến thắng vĩ đại, đại phá quân Thanh mùa xuân năm 1798.

- Sự thất bại thảm hại của quân tướng Tôn Sĩ Nghị và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống phản nước hại dân

- Tiểu thuyết lịch sử chương hồi viết bằng chữ Hán.

- Cách kể chuyện nhanh gọn, chọn lọc sự việc, khắc họa nhân vật chủ yếu qua hành động và lời nói

4 Truyện

Kiều

- Nguyễn Du (1765 - 1820), tên chữ là Tố

Như, quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, sinh trưởng trong gia đình đại quý

tộc ( SGK/77, 78).

- "Truyện Kiều" dựa theo cốt truyện "Kim Vân Kiều truyện" của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc) nhưng phần sáng tạo của Nguyễn Du rất lớn (2354 câu lục bát)

- Cuộc đời, tính cách Nguyễn Du; vai trò, vị trí của ông trong lịch sử VHVN.

- Tóm tắt truyện Giá trị nội dung, nghệ thuật của truyện (SGK/79,80).

- Ca ngợi vẻ đẹp, tài năng của chị em

TK và dự cảm về kiếp người tài hoa bạc mệnh.

- NT ước lệ cổ điển: lấy thiên nhiên làm chuẩn mực để tả vẻ đẹp con người.

6 Cảnh Nguyễn Du - Bức tranh thiên nhiên, lễ hội mùa

1

Trang 2

xuân

xuân tươi đẹp, trong sáng.

- Tả cảnh bằng tự ngữ, hình ảnh giàu chất tạo hình

8 Kiều ở

lầu

Ngưng

Bích

lòng thủy chung, hiếu thảo rất đáng thương, đáng trân trọng của Kiều.

- Miêu tả nội tâm nhân vật ; bút pháp tả cảnh ngụ tình.

- Tóm tắt cốt truyện LVT(sgk/113).

- Khát vọng hành đạo giúp đời của tg, khắc họa những phẩm chất đẹp đẽ của hai nv: LVT tài ba, dũng cảm, trọng nghĩa khinh tài; KNN hiền hậu, nết na, ân tình

- NT kể chuyện, miêu tả rất giản dị, mộc mạc, giàu màu sắc Nam Bộ

BÀI 1: CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG (Trích" Truyền kì mạn lục - Nguyễn Dữ)

I TÁC GIẢ, TÁC PHẨM:

1 Tác giả: (xem bảng hệ thống VHTĐ)

2 Tác phẩm:

a) Xuất xứ: là truyện thứ 16 trong 20 truyện nằm trong tp nổi tiếng nhất của Nguyễn Dữ

"Truyền kì mạn lục".Truyện có nguồn gốc từ truyện cổ tích "Chuyện chàng Trương"

b) Thể loại: truyện truyền kì (những chuyện kì lạ được lưu truyền), viết bằng chữ Hán c) Chủ đề: thể hiện niềm thương cảm đối với số phận oan nghiệt, đồng thời ca ngợi vẻ đẹp

truyền thống của những phụ nữ VN dưới chế độ PK

d) Tóm tắt - bố cục:

* Tóm tắt.

- Nàng Vũ Nương quê ở Nam Xương đẹp người đẹp nết, lấy chồng là Trương Sinh con nhàgiàu ít học, tính hay đa nghi, hay ghen Gia đình đang yên ấm hạnh phúc thì chàng Trương phải rờinhà đi lính

- Ở nhà, Vũ Nương sinh con trai đặt tên là Đản Nàng chăm sóc con và mẹ chồng chu đáo,

lo thuốc thang, cầu khấn thần phật khi mẹ chồng ốm, lo ma chay chu tất khi mẹ chồng mất

- Sau khi đi lính trở về, TS nghe lời con trẻ nghi ngờ vợ phản bội VN một mực phân trần,giải thích nhưng TS không nghe, thậm chí còn mắng nhiếc và đánh đuổi vợ đi VN không tự minhoan được bè trẫm mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn Sau đó, nhờ lời nói của bé Đản, TS biếtđược vợ bị oan

- VN không chết vì được thần rùa Linh Phi và các tiên nữ cứu Dưới thủy cung, tình cờnàng gặp người cùng làng là Phan Lang cũng được cứu sống Khi Phan Lang trở về trần gian, VNnhờ gửi chiếc hoa vàng nhắn chàng Trương lập đàn giải oan cho nàng Trương Sinh nghe theoliền lập đàn giải oan, VN trở về nói lời cảm tạ rồi bóng nàng từ từ biến mất

- Bố cục: 3 phần:

Trang 3

+ P1: của mình: Giới thiệu về Vũ Nương và phẩm hạnh của nàng.

+ P2: qua rồi: Nỗi oan khuất và cái chết bi thảm của Vũ Nương

+ P3: còn lại: Vũ Nương được giải oan

II GIÁ TRỊ CỦA TÁC PHẨM:

1 Giá trị nội dung:

+Cách cư xử hồ đồ, độc đoán của TS khi gặp tình huống bất ngờ là lời nói của bé Đản đã

chứa đựng đầy những dữ kiện đáng ngờ Hành động vũ phu của TS đã bức tử VN phải chết mộtcách bi thảm

> Nhân vật TS là hiện thân của chế độ PK bất công Sự độc đoán, chuyên quyền đã làm tê liệt lí trí, đã giết chết tình người và dẫn đến bi kịch

* Phản ánh số phận con người chủ yếu qua số phận người phụ nữ: chịu nhiều oan khuất và bế tắc

+ Hạnh phúc mà VN được hưởng mong manh như ây khói, còn những ngang trái, đauthương luôn đè nặng lên cuộc đời nàng Nàng phải chịu nỗi oan khuất, bị chồng nghi ngờ là thấttiết và phải chết một cách oan uổng, đau đớn

+ Cái chết của VN là sự đầu hàng số phận nhưng lại là điều tất yếu:

# Mong ước duy nhất của VN là thú vui nghi gia nghi thất nhưng hạnh phúc đã tanvỡ, chồng ruồng rẫy, nàng đã mất tất cả nên cuộc sống với nàng chẳng còn ý nghĩa gì

# VN không có chỗ dung thân, bị dồn vào bước đường cùng, đức hạnh trong trắngthủy chung của nàng đã bị nghi ngờ, không giải thích, không minh oan được, nàng đã gặng hỏi, đãphân trần thanh minh bằng những lời rớm máu nhưng TS không tin, nàng đành phải chấp nhậnsố phân sau mọi cố gắng không thành

# VN vốn là người trọng danh tiết, giờ đây lại bị vu oan, một nỗi oan tày trời.Nỗi oanấy chính là nỗi nhục không bày tỏ được nên phải tìm đến cái chết để giải oan Với nàng, danh dựcòn lớn hơn cả mạng sống thì không thể chung sống với những điều tiếng nhơ nhuốc nỗi đaukhổ của nàng đã lên đến tột cùng Hành động tự trẫm mình là hành động quyết liệt để bảo toàndanh dự, có nỗi tuyệt vọng đắng cay nhưng cũng có sự chỉ đạo của lí trí (d/c: chi tiết "tắm gội chaysạch" và lời nguyện cầu của nàng không phải là hành động bột phát trong cơn nóng giận nhưtruyện cổ tích miêu tả "VN chạy một mạch ra bến Hoàng Giang đâm đầu xuống nước")

+ Dù cho câu chuyện có cách kết thúc phần nào có hậu, VN đã được sống một cuộc sốngkhác, ở một thế giới khác, giàu sang, được tôn trọng, được yêu thương, dù cho VN có trở về trongrực rỡ, uy nghi nhưng cũng chỉ thấp thoáng, ẩn hiện và ngậm ngùi tạ từ "Thiếp đa tạ tình chàng,thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa" Tất cả chỉ là ảo ảnh, người đã chết không thể sốnglại, hạnh phúc thực sự đâu có thể làm lại được nữa Đó chính là bi kịch

> Bi kịch của VN là một lời tố cáo XHPK xem trọng quyền uy của kẻ giàu và của người đàn ông trong gia đình, đồng thời bày tỏ niềm cảm thương của tg đối với số phận oan nghiệt của người phụ nữ

* Phản ánh XHPK với những cuộc c/tranh phi nghĩa liên miên, làm cho cuộc sống của ng ười dân càng rơi vào bế tắc

b) Giá trị nhân đ ạo:

* Ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ VN thông qua nv Vũ Nương.

- Là người con gái thuỳ mị, nết na, tư dung tốt đẹp.

- Là người vợ thuỷ chung:

3

Trang 4

+ Mới về nhà chồng: hiểu T.Sinh có tính đa nghi, nàng luôn giữ gìn khuôn phép.+ Khi tiễn chồng đi lính: nàng chỉ tha thiết mong ngày trở về mang theo hai chữ bìnhyên.

+ Khi chồng đi lính: nhớ chồng da diết, chỉ bóng mình trên tường (nói là cha Đản) đểvơi đi nỗi nhớ chồng

+ Khi bị nghi oan: tìm mọi cách để xoá bỏ ngờ vực trong lòng T.Sinh, cố tìm mọi cáchđể hàn gắn tình cảm vợ chồng

+ Sống dưới thuỷ cung: vẫn nặng tình với quê hương, với chồng con

- Là người con dâu hiếu thảo:

+ Thay chồng chăm sóc mẹ

+ Mẹ chồng ốm, nàng thuốc thang, thành tâm lễ bái, nói lời ngọt ngào khuyên l ơn.(Lời mẹ chồng trước khi mất đã k/định tấm lòng hiếu thảo hết mực của Vũ Nương)

+Mẹ chồng mất: hết lòng thương xót, lo việc ma chay chu đáo như với cha mẹ đẻmình

- Là người mẹ hết lòng yêu thương con:

+ Yêu thương, một mình chăm sóc, nuôi nấng con

+ Chỉ cái bóng trên tường để dỗ dành con

- Là người phu nữ trọng nhân phẩm và tình nghĩa:

+ Khi bị nghi oan: Vũ Nương đã cố găng giải thích để tự minh oan cho mình

+ Chọn cái chết để tự minh oan, để bảo vệ nhân phẩm

+ Dù nhớ thương về quê hương, nàng vẫn quyết giữ lời hứa với Linh Phi > coi trọngtình nghĩa

* Thể hiện niềm thương cảm đối với số phận oan nghiệt của người phụ nữ và ước mơ về một cuộc sống công bằng, hạnh phúc cho họ.

( Đoạn truyện dưới thuỷ cung > sáng tạo của Nguyễn Dữ)

* Gián tiếp lên án, tố cáo XHPK bất công:

- XHPK với chế độ nam quyền đã dung túng, bênh vực những suy nghĩ, hành động củaTrương Sinh, đẩy Vũ Nương đến cái chết bi thảm

- XHPK với những cuộc c.tranh phi nghĩa chia cách tình cảm vợ chồng, cha con > gây ra

bi kịch cho Vũ Nương

- XHPK không có chỗ cho những người tốt đẹp như Vũ Nương được sống > nàng khôngthể trở về

2 Giá trị nghệ thuật:

* NT xây dựng tình huống truyện độc đáo, đặc biệt là chi tiết chiếc bóng.

* NT dựng truyện: trên cơ sở truyện cổ tích, tg đã sáng tạo thêm và sắp xếp các tình tiết

làm cho diễn biến của truyện tự nhiên, dẫn dắt tình huống truyện hợp lí Chi tiết chiếc bóng và đấumối của câu chuyện lại chỉ xuất hiện 1 lần duy nhất ở cuối truyện, tạo sự bất ngờ, bàng hoàng chongười đọc và tăng tính bi kịch cho câu chuyện

* NT xây dựng nhân vật: Nhân vật được khắc họa tâm lí và tính cách thông qua đối thoại

và độc thoại

* Sử dụng yếu tố kì ảo làm nổi bật giá trị nhân đạo của tác phẩm.

* Kết hợp các phương thức biểu đạt: tự sự + biểu cảm.

BÀI 3: HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ

(Hồi thứ 14) Ngô Gia Văn Phái

I TÁC GIẢ, TÁC PHẨM:

Trang 5

1 Tác giả: Do một số người cùng trong dòng họ Ngô Thì ở huyện Thanh Oai - Hà Tây viết Có 2

2 Tác phẩm : viết bằng chữ Hán Tp có 17 hồi.

a) Nhan đề: ghi chép về sự thống nhất của vương triều nhàLê vào thời điểm Tây Sơn diệt

Trịnh, trả lại Bắc Hà cho vua Lê.(Tp còn tái hiện một gia đoạn lịch sử đầy biến động của XHPK VNvào 30 năm cuối TK 18 và mấy năm đầu TK 19)

b) Thể loại: chí: một lối văn ghi chép sự vật, sự việc Được coi là cuốn tiểu thuyết lịch sử

viết theo kiểu chương hồi Phương thức biểu đạt: tự sự

c) Đại ý: Chiến thắng lừng lẫy của vua Quang Trung, sự thảm bại của quân tướng nhà

Thanh và số phận lũ vua quan phản nước, hại dân

- P3: Còn lại: Sự thảm bại của quân Thanh và bọn vua tôi bán nước Lê Chiêu Thống

e) Tóm tắt hồi thứ 14:

- Quân Thanh kéo vào Thăng Long Trước thế mạnh của giặc, tướng Tây Sơn là NgôVăn Sở lui quân về vùng núi Tam Điệp và cho người vào Phú Xuân cấp báo với Nguyễn Huệ

- Nhận được tin, ngày 25 tháng chạp, Nguyễn Huệ lên ngôi vua lấy hiệu là QuangTrung rồi tự mình đốc suất đại binh tiến ra Bắc diệt giặc

- Ngày 29 tháng chạp, quân Tây Sơn ra đến Nghệ An Vua Quang Trung cho dừng lạimột ngày để tuyển thêm hơn 1 vạn binh, mở một cuộc duyệt binh lớn Nhà vua chia quân thànhcác đạo, chỉ dụ tướng lĩnh, mở tiệc khao quân vào ngày 30 tháng chạp, hẹn đến ngày mồng 7 tếtthắng giặc mở tiệc ăn mừng ở Thăng Long

- Rạng sáng ngày 3 tết, quân Tây Sơn bí mật vây dồn Hà Hồi và dùng mưu để quânThanh đầu hàng ngay

- Rạng sáng 5 tết, nghĩa quân tấn công đồn Ngọc Hồi Hai bên đánh nhau quyếtliệt .Cuối cùng quân Thanh phải chịu đầu hàng, viên thái thú Sầm Nghi Đống thắt cổ tự tử

- Trưa 5 tết, vua Quang Trung dẫn quân tiến thẳng vào Thăng Long Tướng nhàThanh là Tôn Sĩ Nghị tháo chạy về nước Vua tôi Lê Chiêu Thống cùng gia quyến chạy trốn theo

II PHÂN TÍCH:

1 Hình ảnh người anh hùng dân tộc Quang Trung:

a) Hành động mạnh mẽ, quyết đoán:

- Từ đầu đến cuối đoạn trích, Nguyễn Huệ luôn là con người hành động một cách xông xáo,nhanh gọn có chủ đích và rất quyết đoán

- Nghe tin giặc đã đánh chiếm đến tận Thăng Long, mất cả một vùng đất đai rộng lớn màông không hề nao núng "định thân chinh cầm quân đi ngay:

- Rồi chỉ trong vòng hơn 1 tháng, ông đã làm được vao nhiêu việc lớn: tế cáo trời đất, lênngôi hoàng đế, đốc suất đại binh ra Bắc, gặp gỡ người cống sĩ ở huyện La Sơn là Nguyễn Thiếpđể hỏi kế sách, tuyển mộ quân sĩ và mở cuộc duyệt binh lớn ở Nghệ An, dích thân dụ tướng sĩ,định kế hoạch tấn công đúng vào dịp tết Nguyên Đán Và cả kế hoạch đối phó với nhà Thanh sauchiến thắng

b) Trí tuệ sáng suốt, nhạy bén trước thời cuộc:

- Sáng suốt trong việc lên ngôi: Trước biến cố lớn của đất nước, Nguyễn Huệ đã quyết

định lên ngôi để "chính vị hiệu", "yên kẻ phản trắc và giữ lấy lòng người", tập hợp sức mạnh đoànkết, hội tụ anh tài để đánh đuổi giặc

5

Trang 6

- Sáng suốt trong việc nhận định tình hình địch và ta:

+ Qua lời dụ tướng sĩ trước lúc lên đường ở Nghệ An, vua Quang Trung đã khẳng định

chủ quền của dân tộc ta và lên án hành động xâm lăng phi nghĩa, trái đạo trời của giặc ( đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng ), nêu bật dã tâm của giặc (người phương Bắc không phải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt khác giết hại nhân dân, vơ vét của cải).

+ Vua Quang Trung đã khích lệ tướng sĩ dưới quyền bằng việc nhắc lịa truyền thốngchống giặc ngoại xâm của dân tộc ta từ xưa qua những tấm gương hiến đấu dũng cảm: Trưng nữVương, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành

+ Quang Trung đã dự kiến được việc Lê Chiêu Thống về nước có thể làm cho một số

người phù Lê "thay lòng đổi dạ" với mình nên ông đã có lời dụ với quân lính vừa chí tình, vừa nghiêm khắc "Các ngươi đều là những kẻ có lương tri, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực để dựng lên công lớn Chớ quen thói cũ ăn ở hai lòng, nếu như việc phát giác sẽ bị giết ngay tức khắc, không tha một ai". > Lời phủ dụ có thể xem như một bài hịch ngắn gọn mà ý tứ thật phong phú,

sâu xa, có tác động kích thích lòng yêu nước và truyền thống quật cường của dân tộc

- Sáng suốt trong việc xét đoán, dùng người:

+ Trong dịp hội quân ở Tam Điệp, qua lời nói của Quang Trung với Sở và Lân, ta thấy rõ:ông rất hiểu việc rút quân của hai vị tướng giỏi này "Đúng ra quân thua tại tướng", nhưng ông hiểulòng họ, sức mình ít không địch nổi đội quân hùng tướng hổ nhà Thanh nên đành phải bỏ thànhThăng Long rút về Tam Điệp để tập hợp lực lượng Vậy Sở và Lân không bị trừng phạt mà cònđược ngợi khen

+ Đối với Ngô Thì Nhậm, ông đánh giá rất cao và sử dụng như một vị quân sư "đa mưutúc trí" Việc Sở và Lân rút chạy, Quang Trung cũng đoán là do Nhậm chủ mưu, vừa là để bảo toànlực lượng, vừa gây cho địch sự chủ quan Ông đã tính đến việc dùng Nhậm là người biết dùng lờikhéo léo để dẹp việc binh đao, hi vọng tài năng của Ngô Thì Nhậm sẽ thể hiện trong việc ngoạigiao với nhà Thanh sau khi chiến thắng

c) Ý chí quyết thắng và tầm nhìn xa trông rộng:

- Thể hiện ở kế sách vừa tiến quân vừa tuyển binh sĩ, tạo nên cuộc hành quân thần tốckhiến cho kẻ địch không thể ngờ được mà đối phó Vừa mới khở binh đánh giặc, chưa giành đượctấc đất nào, vậy mà vua QT đã nói chắc như đinh đóng cột "phương lược tiến đánh đã có tínhsẵn","chẳng qua hơn mười ngày có thể đuổi được giặc Thanh"

- Biết trước kẻ thù "lớn gấp mười nước mình", "bị thua một trận ắt lấy làm thẹn mà lo mưu báo thù khiến việc binh đao không bao giờ dứt" nên vua QT còn tính sẵn cả kế hoạch ngoại giao sau chiến thắng để có thời gian "yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng" làm cho nước giàu dân mạnh

d) Là vị tướng có tài thao lược, dụng binh như thần:

- Cuộc hành quân thần tốc do QT chỉ huy đến nay vẫn còn làm cho chúng ta kinh ngạc Vừahành quân, vừa đánh giặc mà vua QT định kế hoạch từ 25 tháng chạp đến mùng 7 tháng giêng sẽvào ăn tết ở Thăng Long Trong thực tế đã vượt mức 2 ngày

- Hành quân xa, liên tục như vậy nhưng đội quân vẫn chỉnh tề cũng do tài tổ chức của ngườicầm quân

e) Oai phong, lẫm liệt trong chiến trận:

- Hoàng đế QT là một vị tổng chỉ huy, thân chinh cầm quân ra trận, vừa hoạch định chiếnlược, sách lược, vừa trực tiếp tổ chức quân sĩ bài binh bố trận, vừa tự mình thống lĩnh một mũi tiếncông, cưỡi voi đi đốc thúc, xông pha nơi trận tiền

- Đội quân của vua QT không phải toàn là lính thiện chiến, lại vừa phải trải qua nưhngx ngàyhành quân cấp tốc, không có thì giờ nghỉ ngơi, vậy mà dưới sự lãnh đạo tài tình của vị tổng chỉ huy

này đã đánh những trận thật đẹp, thắng áp đảo đối phương (bắt sống hết quân do thám của địch ở Phú Xuyên, giữ được bí mật để tạo thế bất ngờ, vây kín làng Hà Hồi, công phá đồn Ngọc Hồi) Khí thế của đội quân này làm cho kẻ thù phải khiếp vía (tưởng như "tướng ở trên trời xuống, quân chui dưới đất lên".

- Hình ảnh người anh hùng QT được khắc họa thật lẫm liệt (trong cảnh khói tỏa mù trời,

cách gang tấc không thấy gì, nổi bật hình vảnh nhà vua "cưỡi voi đi đốc thúc").

Trang 7

=> Hình ảnh người anh hùng được khắc họa thật đậm nét với tính cách mạnh mẽ, trí tuệ sáng suốt, nhạy bén, tài dùng binh như thần, là người tổ chức và là linh hồn của chiến công vĩ đại

2 Hình ảnh bọn cướp nước và lũ bán nước.

a) Quân tướng nhà Thanh : bại trận.

- Tôn Sĩ Nghị rất kiêu căng, tự mãn, chủ quan: kéo quân vào Thăng Long rất dễ dàng như

"đi trên đất bằng", cho là vô sự, không đề phòng gì, chỉ lảng vảng bên bờ sống, lấy thanh thế

suông để dọa dẫm.Lính thì rời doanh trại để đi kiếm củi, buôn bán ở chợ; tướng thì suốt ngày loyến tiệc, cờ bạc, không lo gì đến việc bất trắc

- Khi bị quân Tây Sơn tiến công bất ngờ, không kịp trở tay "rụng rời sợ hãi" xin hàng hoặc

"bỏ chạy tán loạn, giày xéo lên nhau mà chết", "thây chất đầy đống, máu chảy thành suối" đến nỗi

"nước sông Nhị Hà vì thế mà tắc nghẽn không chảy được nữa".

- Nhục nhã nhất là hình ảnh tướng giặc Sầm Nghi Đống phải thắt cổ tự tử Tôn Sĩ Nghị " sợ mất mật ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp, dẫn bọn lính kị mã của mình chuồn trước qua cầu phao rồi nhằm hướng bắc mà chạy" Cả đội quân hùng tướng mạnh chỉ còn

biết tháo chạy, mạnh ai nấy chạy, đêm ngày đi gấp không dám nghỉ ngơi

* NT: kể chuyện xen kẽ những chi tiết tả thực thật cụ thể, chi tiết, sinh động với nhịp điệu nhanh

dồn dập, gấp gáp gợi sự hoảng hốt của kẻ thù Ngòi bút miêu tả khách quan nhưng vẫn hàm chứatâm trạng hả hê sung sướng của người viết cũng như của dân tộc trước thắng lợi của quân TâySơn

b) Số phận thảm bại của bọn vua tôi phản nước hại dân Lê Chiêu Thống:

- Khi có biến, quân Thanh tan rã, Lê Chiêu Thống vội vã cùng mấy bề tôi thân tín chạy bán

sống bán chết, cướp cả thuyền dân để qua sông, "luôn mấy ngày không ăn" May gặp người thổ

hào thương tình đón về cho ăn và chỉ đường cho chạy trốn Đuổi kịp Tôn Sĩ Nghị, vua tôi chỉ cònbiết nhìn nhau than thở, oán giận chảy nước mắt Và sau khi sang đến Trung Quốc phải cạo đầu,tết tóc, ăn mặc giống người Mãn Thanh và cuối cùng gửi nắm xương tàn nưoi đất khách quêngười

* NT: Xen kẽ kể với tả sinh động, cụ thể, gây ấn tượng mạnh Ngòi bút đậm chút xót thương của

tác giả - bề tôi trung thành của nhà Lê

III TỔNG KẾT:

BÀI 4: TRUYỆN KIỀU Nguyễn Du

I TÁC GIẢ NGUYỄN DU (1765- 1820):

- Tên là Tố Như, hiệu: Thanh Hiên, quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh

- Là đại thi hào dân tộc, danh nhân văn hóa TG, đỉnh cao nhất của VHTĐ VN

- Sáng tác nhiều tp chữ Hán và chữ Nôm 3 tập thơ chữ Hán gồm 243 bài Tp chữ Nôm xuất sắcnhất là "Đoạn trường tân thanh" còn gọi là Truyện Kiều

1 Thời đại:

ND sinh trưởng trong 1 thời đại có nhiều biến động dữ dội: XHPK VN bước vào thời kìkhủng hoảng trầm trọng, phong trào khởi nghĩa nông dân nổ ra liên tục mà đỉnh cao là cuộc khởinghĩa Tây Sơn đánh đổ tập đoàn Lê- Trịnh, quét sạch hai mươi chín vạn quân Thanh xâm lược.Sau đó, phong trào Tây Sơn thất bại, chế độ PK triều Nguyễn được thiết lập

=> Những thay đổi kinh thiên động địa ấy đã tác động mạnh tới tình cảm, nhận thức của ND để ông hướng ngòi bút của mình vào hiện thực

7

Trang 8

- Khi Nguyễn Ánh lên ngôi, ông làm quan bất đắc dĩ triều Nguyễn và đã từng được cử đi sứsang Trung Quốc, qua nhiều vùng đất Trung Hoa rộng lớn với nền văn hóa rực rỡ.

=> Tất cả những điều đó đều ảnh hưởng tới sáng tác của nhà thơ

- Sự từng trải trong cuộc đời đã tạo cho ND một vốn sống phong phú và một trái tim giàulòng yêu thương, thông cảm sâu sắc với những đau khổ của nhân dân Chính nhà thơ đã từng viết

"Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài" Mộng Liên Đường trong lời tựa "Truyện Kiều" cũng đề cao tấm lòng của ND với con người, với cuộc đời "Lời văn tả ra hình như có máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm trên tờ giấy khiến ai đọc đều cũng phải thấm thía, ngậm ngùi, đau đớn đến đứt ruột " Nếu không phải có con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời thì làm

sao có được bút lực ấy!

II TÁC PHẨM "TRUYỆN KIỀU":

1 Hoàn cảnh: sáng tác đầu TK 19 (1805-1809).

2 Nguồn gốc cốt truyện: Mượn từ tiểu thuyết chương hồi văn xuôi chữ Hán của Trung Quốc

"Kim Vân Kiều truyện" của Thanh Tâm Tài Nhân

3 Nhan đề:

- "Đoạn trường tân thanh": tiếng kêu mới về nỗi đau thương thương đứt ruột > bộc lộ chủđề tp (tiếng kêu cứu cho số phận của Kiều, số phận người phụ nữ)

- "Truyện Kiều": tên nhân vật chính- Thúy Kiều ( tên này do nhân dân đặt)

4 Những sáng tạo của Nguyễn Du: rất lớn.

- ND: từ câu chuyện tình ở TQ đời Minh biến thành một khúc ca đau lòng thương người bạc

mệnh (vượt xa Thanh Tâm Tài nhân ở tinh thần nhân đạo)

- Thể loại: chuyển thể văn xuôi sang lục bát (3254 câu).

- Nghệ thuật:

+ Giữ nguyên cốt truyện, nhân vật

+ Thay đổi, sáng tạo các chi tiết, ngôn ngữ, nghệ thuật xây dựng nv, miêu tả thiên nhiên,đặc biệt là bút pháp tả cảnh ngụ tình

5 Tóm tắt: sgk/

III GIÁ TRỊ TÁC PHẨM:

1 Giá trị nội dung:

a) Giá trị hiện thực:

a1) Truyện Kiều phản ánh bộ mặt tàn bạo của tầng lớp thống trị và những thế lực hắc ám chà đạp lên quyền sống của con người.

* Bọn quan lại:

- Viên quan xử kiện vụ án Vương ông vì tiền chứ không vì lẽ phải

- Quan tổng đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến là kẻ bất bài, nham hiểm, bỉ ổi và trâng tráo

* Thế lực hắc ám:

- MGS, Sở Khanh, Tú Bà là những kẻ táng tận lương tâm Vì tiền, chúng sẵn sàng chàđạp lên nhân phẩm và số phận người lương thiện

> Tác giả lên tiếng tố cáo bộ mặt xấu xa bỉ ổi của chúng

a2) Truyện Kiều phơi bày nỗi khổ đau của những con người bị áp bức, đặc biệt là người phụ nữ.

- Vương Ông bị mắc oan, cha con bị đánh đạp dã man, gia đình tan nát

Trang 9

- Đạm Tiên, Thúy Kiều là những người phụ nữ đẹp, tài năng, vậy mà kẻ thì chết trẻ, ngườithì bị đọa đầy, lưu lạc suốt 15 năm.

> Truyện Kiều là tiếng kêu thương của những người lương thiện bị áp bưc, đọa đầy

b) Giá trị nhân đạo:

- Viết Truyện Kiều, Nguyễn Du bộc lộ niềm thương cảm sâu sắc trước những đau khổ củacon người Ông xót thương cho Thúy Kiều, một người con gái tài sắc mà phải lâm vào cảnh bị đầyđọa "Thanh lâu hai lượt thanh y hai lần"

- Là tiếng nói ngợi ca những giá trị, phẩm chất cao đẹp của con người như nhan sắc, tàihoa, trí dũng, lòng hiếu thảo, trái tim nhân hậu, vị tha

- Trân trọng, đề cao vẻ đẹp, ước mơ và khát vọng chân chính của con ngư ời: tình yêu,hạnh phúc, công lí, tự do

- Tố cáo các thế lực bạo tàn chà đạp lên quyền sống của những con người lương thiệnkhiến họ phải khổ sở, điêu đứng

> Phải là người giàu lòng yêu thương, biết trân trọng và đặt niềm tin vào con người, NDu mớisáng tạo nên Truyện Kiều với giá trị lớn lao như thế

2 Giá trị nghệ thuật:

* Về ngôn ngữ: Tiếng Việt trong Truyện Kiều đã đạt tới đỉnh cao ngôn ngữ NT: không chỉ có chức

năng biểu đạt (phản ánh), biểu cảm (bộc lộ cảm xúc) mà còn có chức năng thẩm mĩ (vẻ đẹp củanghệ thuật ngôn từ)

* Với Truyện Kiều , NT tự sự đã có bước phát triển vượt bậc:

- Ngôn ngữ kể chuyện có 3 hình thức: trực tiếp (lời nhân vật), gián tiếp (lời tác giả), nửa trực

tiếp (lời tác giả mang suy nghĩ, giọng điệu nhân vật) Nhân vật trong truyện xuất hiện với cả conngười hành động và con người cảm nghĩ, có biểu hiện bên ngoài và thế giới nội tâm phong phú

- Thành công ở thể loại tự sự, có nhiều cách tân sáng tạo, phát triển vượt bậc trong ngôn ngữ và thể thơ truyền thống

- NT xây dựng nhân vật: Khắc họa nhân vật qua phương thức tự sự, miêu tả :chỉ bằng vài

nét chấm phá, mỗi nhân vật hiện lên như một chân dung sống động

+ nhân vật chính diện thường được xây dựng theo lối lí tưởng hóa, được miêu tả bằngnhững biện pháp ước lệ, nhưng rất sinh động

+ Nhân vật phản diện của Nguyễn Du chủ yếu được khắc họa theo lối hiện thực hóa, bằngbút pháp tả thực, cụ thể và rất hiện thực (miêu tả qua ngoại hình, ngôn ngữ, hành động củanhân vật)

* NT miêu tả thiên nhiên đa dạng: bên cạnh những bức tranh chân thực, sinh động (cảnh ngày

xuân) là những bức tranh tả cảnh ngụ tình đặc sắc

-BÀI 5: CHỊ EM THÚY KIỀU

I TÌM HIỂU CHUNG:

1 Vị trí đoạn trích: thuộc phần thứ nhất của "Truyện Kiều": gặp gỡ và đính ước.

2 Kết cấu đoạn trích: 4 phần.

- 4 câu đầu: giới thiệu khái quát hai chị em TK

- 4 câu tiếp: Chân dung Thúy Vân

- 12 câu tiếp: Chân dung Thúy Kiều

- 4 câu cuối: nhận xét chung về cuộc sống của 2 chị em TK

> Kết cấu chặt chẽ, thể hiện cách miêu tả nhân vật tinh tế của Nguyễn Du: Từ ấn tượng chung vềvẻ đẹp của hai chị em, nhà thơ gợi tả vẻ đẹp của TV làm nền để tả vẻ đẹp của TK

3, Nội dung, NT:

- ND: Khắc h ọa rõ nét chân dung tuyệt mĩ của hai chị em TK, ca ngợi vẻ đẹp, tài năng và dự cảmvề kiếp người tài hoa bạc mệnh của TK là biểu hiện của cảm hứng nhân văn ở NDu

9

Trang 10

- NT: + NT ước lệ: lấy vẻ đẹp của thiên nhiên để miêu tả vẻ đẹp của con người.

+ không miêu tả cụ thể mà chủ yếu là gợi tả Sử dụng NT đòn bẩy để làm nổi bật hình ảnhTK

4 Phương thức biểu đạt: tự sự + miêu tả, biểu cảm.

5 Sáng tạo của NDu:

- Ở "Kim Vân Kiều truyện": Thanh Tâm tài nhân chủ yếu kẻ về hai chị em Kiều, còn NDu thiên vềgợi tả sắc đẹp của Thúy Vân, tài sắc của Thúy Kiều

- Thanh Tâm Tài Nhân kể về Kiều trước, Vân sau, còn NDu lại gợi tả vẻ đẹp của TV trước để làmnền tôn lên vẻ đẹp của TK

II PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH:

1 Bốn câu đầu: Giới thiệu chung về hai chị em:

- Giới thiệu ngắn gọn mà đầy đủ bằng bút pháp ước lệ: hai người con gái họ Vương đều đẹp (haiả tố nga), chị là Thúy Kiều, em là Thúy Vân Cốt cách duyên dáng, thanh cao như mai, tinh thầntrong trắng như tuyết Cả hai đều đến độ hoàn mĩ "mười phân vẹn mười" nhưng mỗi người có mộtvẻ đẹp riêng

2 Chân dung Thúy Vân: 4 câu tiếp

- Câu thơ đầu vừa giới thiệu, vừa khái quát vẻ đẹp của TV: "trang trọng" gợi vẻ đẹp cao sang,quý phái

- Những câu thơ tiếp theo lần lượt miêu tả từng nét đẹp của TV một cách cụ thể Bằng bút phápước lệ, trong thiên nhiên có bao nhiêu cái đẹp, NDu chọn những cái đẹp nhất để so sánh với vẻđẹp của Thúy Vân: trăng, hoa, ngọc, mây, tuyết

+ Cụ thể trong thủ pháp liệt kê: chân dung TV được miêu tả toàn vẹn từ khuôn mặt, nétmày, làn da, mái tóc đến nụ cười, giọng nói, phong thái ứng xử nghiêm trang, đứng đắn

+ Cụ thể trong việc sử dụng từ ngữ để làm nổi bật vẻ đẹp riêng của đối tượng miêu tả: đầy đặn, nở nang, đoan trang

+ Những biện pháp nghệ thuật so sánh, ẩn dụ và ngôn ngữ thơ chọn lọc, chau chuốt đều

nhằm thể hiện vẻ đẹp đoan trang, phúc hậu mà quý phái của TV: gương mặt đầy đặn, tươi sáng, dịu hiền như vầng trăng tròn, lông mày sắc nét như con ngài, miệng cười tươi thắm như hoa, giọng nói trong trẻo như ngọc, mái tóc đen óng ả hơn mây trời, làn da trắng hơn tuyết.

- Chân dung TV là chân dung mang tính cách và số phận: Vân đẹp hơn những gì mĩ lệ nhất củathiên nhiên nhưng tạo sự hòa hợp êm đềm với xung quanh: mây thua, tuyết nhường Bức chândung ấy ngầm thông báo về một tính cách dịu hiền, một số phận bình lặng, êm đềm

3 Chân dung Thúy Kiều: 12 câu tiếp

- Cũng như lúc tả Vân, câu thơ đầu khái quát đặc điểm nhân vật rất tài tình: Kiều sắc sảo về trítuệ và mặn mà về tâm hồn

- Ngòi bút NDu tiếp tục dùng những hình tượng NT ước lệ để gợi tả sắc đẹp tuyệt trần của Kiều:thu thủy, xuân sơn, hoa, liễu Tả Kiều, nhà thơ không liệt kê nhiều chi tiết như khi tả Vân mà nét vẽcủa thi nhân thiên về gợi, để tạo một ấn tượng chung về vẻ đẹp của một giai nhân tuyệt thế Nhàthơ đặc tả đôi mắt theo lối điểm nhãn - vẽ hồn cho nhân vật, bởi đôi mắt là nơi thể hiện phần tinhanh của trí tuệ và tâm hồn Hình ảnh ước lệ, đồng thời cũng là hình ảnh ẩn dụ "làn thu thủy, nétxuân sơn" gợi tả đôi mắt đẹp, trong sáng, long lanh như làn nước mùa thu, đôi lông mày thanh túnhư nét núi mùa xuân Vẻ đẹp ấy làm cho hoa ghen, liễu hờn, nước nghiêng thành đổ NDu khôngmiêu tả trực tiếp nhân vật mà miêu tả sự ghen ghét, đố kị hay ngưỡng mộ, say mê trước vẻ đẹpđó, cho thấy đây là vẻ đẹp có chiều sâu, có sức quyế rũ, cuốn hút lạ lùng

- Tả TV, NDu chủ yếu gợi tả nhan sắc Nhưng khi tả Kiều, nhà thơ tả sắc một phần thì dành haiphần để tả tài Kiều rất thông minh và đa tài Tài của Kiều đạt đến mức lí tưởng theo quan niệmthẩm mĩ phong kiến, hội tụ đủ cầm (đàn), kì (cờ), thi (thơ), họa (vẽ) "Pha nghề thi họa đủ mùi cangâm" Đặc biệt nhất ở Kiều là tài đàn: đó là sở trường, năng khiếu (nghề riêng), vượt lên trên mọingười (ăn đứt) Nàng giỏi nhạc đến mức soạn riêng cho mình khúc nhạc "bạc mệnh" Cực tả cái tàicủa Kiều cũng là để ngợi ca cái tâm đặc biệt của nàng bởi tài năng âm nhạc bao giờ cũng gắn vớivẻ đẹp tâm hồn Cung đàn "bạc mệnh" mà Kiều tự sáng tác ghi lại chân thực tiếng lòng của mộttrái tim đa sầu đa cảm

Trang 11

> Vẻ đẹp của Kiều là sự kết hợp cả sắc- tài - tình

- Chân dung của TK cũng là chân dung mang tính cách và số phận: vẻ đẹp của Kiều khiến chotạo hóa phải ghen ghét, đố kị, tài hoa trí tuệ thiên bẩm, và cả cái tâm đa sầu đa cảm khiến Kiềukhông thể tránh khỏi định mệnh nghiệt ngã, số phận éo le, ngang trái "Chữ tài liền với chữ tai mộtvần" "Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen" Cuộc đời Kiều hẳn là cuộc đời hồng nhan bạcmệnh

- NDu rất tinh tế khi miêu tả TK: Miêu tả chân dung TV trước để làm nổi bật chân dung TK Cangợi cả hai nhưng đậm nhạt khác nhau: tác giả chỉ dành 4 câu thơ để tả Vân song lại dành tới 12câu để tả Kiều Tả vân, NDu chỉ tả nhan sắc; Kiều: cả sắc, tài, tình đều được đực tả > thủ phápđòn bẩy

4 Nhận xét chung về cuộc sống của hai chị em (4 câu cuối):

- Họ sống phong lưu, khuôn phép, đức hạnh theo đúng khuôn khổ của lễ giáo phong kiến Tuy cảhai đều đã đến tuổi búi tóc cài trâm (tuổi cập kê) nhưng vẫn "trưởng rủ màn che, tường đông ongbướm đi về mặc ai Hai câu cuối trong sáng, đằm thắm như chở che, bao bọc cho hai chị em, haibông hoa vẫn còn phong nhụy

-BÀI 6: CẢNH NGÀY XUÂN

I TÌM HIỂU CHUNG:

1 Vị trí đoạn trích: đoạn trích nằm trong phần đầu của tp: gặp gỡ và đính ước Sau khi giới thiệu

gia cảnh Vương viên ngoại, miêu tả chị em TK, tg tả cảnhngayf xuân, chị em TK đi chơi xuân

2 Kết cấu đoạn trích: theo trình tự thời gian của cuộc du xuân.

- 4 câu đầu: khung cảnh ngày xuân

- 8 câu tiếp: khung cảnh lễ hội trong tiết thanh minh

- 6 câu cuối: cảnh chị em TK du xuân trở về

3 Khái quát nội dung, NT:

- ND: Bức tranh thiên nhiên mùa xuân tươi đẹp, trong sáng và lễ hội mùa xuân tưng bừng, náonhiệt

NT: bút pháp miêu tả giàu chất tạo hình, dùng nhiều từ láy miêu tả cảnh vật và tâm trạng conngười, NT tả cảnh ngụ tình

II PHÂN TÍCH:

1 Vẻ đẹp của mùa xuân trong tiết thanh minh:

- Hai câu đầu vừa nói thời gian, vừa gợi không gian: ngày xuân thấm thoắt trôi mau, tiết trời đãbước sang tháng ba Trong tháng cuối cùng của mùa xuân, những cánh én vẫn rộn ràng bay liệngnhư thoi đưa giữa bầu trời trong sáng

- Hai câu sau là bức họa tuyệt đẹp về mùa xuân với những hình ảnh, màu sắc hài hòa:

+ Làm nền cho bức tranh mùa xuân là màu xanh tươi mát bật tận của thảm cỏ non trải rộngđến chân trời

+ Trên nền màu xanh non ấy điểm xuyết nhẹ nhàng mà nổi bật vài bông hoa lê trắng vôcùng thanh khiết Màu sắc có sự hài hòa vô cùng tuyệt diệu do NT phối sắc tài tình của NDu (từ

"trắng" đối rất chuẩn với từ "xanh") Chỉ với hai câu thơ mà làm hiện lên cả một không gian mùaxuân khoáng đạt NDu học tập hai câu thơ cổ Trung Quốc "Phương thảo liên thiên bích/ Lê chi sổđiểm hoa" nhưng khi đưa vào thơ của mình, tg đã rất sáng tạo Câu thơ cổ dùng hình ảnh cỏ thơm(phương thảo) thiên về mùi vị thì NDu thay bằng "cỏ xanh" thiên về màu sắc Đó là màu xanh nhạtpha với vàng chanh tươi tắn hợp với màu lam trong sáng của nền trời, trên đó điểm những đốmtrắng hoa lê Tài hoa của NDu là ông đã sử dụng NT đảo từ ngữ và đảo cấu trúc câu Từ "trắng"được đảo lên trước tạo sự bất ngờ, tạo lên vẻ đẹp riêng của bức tranh mùa xuân: mới mẻ, tinhkhôi, giàu sức sống, trong trẻo mà nhẹ nhàng như kết tinh những tinh hoa của đất trời Chữ "điểm"gợi bàn tay người họa sĩ vẽ nên thơ nên hoa, bàn tay tạo hóa tô điểm cho cảnh xuân tươi đẹp,làm bức tranh trở nên có hồn, sống động

11

Trang 12

- Hai câu thơ tả cảnh thiên hiên của NDu quả là tuyệt bút! Hình ảnh thơ giàu chất tạo hình, ngônngữ biểu cảm, gợi tả Tg đã rất thành công trong bút pháp NT kết hợp giữa tả và gợi Qua đó, tathấy tâm hồn con người tươi vui, phấn chấn qua cái nhìn thiên nhiên trong trẻo, tươi tắn, hồnnhiên, nhạy cảm tha thiết với vẻ đẹp thiên nhiên.

2 Khung cảnh lễ hội trong tiết thanh minh :

- NDu đã rất tài tình khi tách từ "lễ hội" ra làm đôi để gợi tả hai hoạt động diễn ra cùng một lúc: lễtảo mộ - đi viếng mộ, quét tước, sửa sang phần mộ của người thân; hội đạp thanh- đi chơi xuân ởchốn đồng quê

- Không khí lễ hội được gợi tả qua một hệ thống từ ngữ giàu sức biểu đạt

+ Gần xa, nô nức: là tính từ gợi tâm trạng náo nức của người đi hội

+ Những danh từ ghép là danh từ như: yến anh, chị em, tài tử, giai nhân: gợi tả sự đông vui + Những từ ghép là động từ: sắm sửa, dập dìu: gợi tả không khí rộn ràng, náo nhiệt của

người đi hội

+ Cụm từ "nô nức yến anh " là một ẩn dụ gợi lên hình ảnh đoàn nam thanh nữ tú nô nức đichơi xuân như những đàn chim én, chim oanh bay ríu rít

+ Những so sánh "ngựa xe như nước áo quần như nêm" gợi tả sự đông vui

+ Trong lễ tảo mộ, người ta rắc những thoi vàng tiềng giấy hàng mã để tưởng nhớ người đãkhuất nên mới có cảnh "thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay"

> Một lễ hội đông vui náo nhiệt mang sắc thái điển hình của lễ hội tháng 3 Qua cuộc du xuân củachị em TK, tg đã làm sống lại một không khí của truyền thống văn hóa lễ hội xa xưa Điều đóchứng tỏ nhà thơ rất yêu quý, trân trọng vẻ đẹp và giá trị truyền thống văn hóa dân tộc

3 Cảnh chị em TK du xuân trở về

- Cảnh vẫn mang nét thanh tao, trong trẻo của mùa xuân, rất êm dịu: ánh nắng nhạt, khe nướcnhỏ, nhịp cầu nho nhỏ bắc ngang Mọi chuyển động đều rất nhẹ nhàng: mặt trời từ từ ngả bóng vềtây, bước chân người thơ thẩn, dòng nước uốn quanh Một bức tranh thật đẹp, thanh khiết

- Nhưng cảnh đã có sự thay đổi về không gian và thời gian Không còn bát ngát, trong sáng,không còn cái không khí đông vui náo nhiệt của lễ hội, tất cả đang nhạt dần, lặng dần

- Cảnh vẫn đẹp, vẫn thanh nhưng đã nhuốm màu tâm trạng Đây không chỉ là hoàng hôn củacảnh vật mà dường như con người cũng chìm trong cảm giác bâng khuâng khó tả Những từ láy

"tà tà,thanh thanh, nao nao" không chỉ biểu đạt sắc thái cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng conngười Đặc biệt hai chữ "nao nao" thoáng gợi lên một nét buồn khó tả Hai chữ "thơ thẩn" có sứcgợi rất lớn, chị em Kiều ra về trong sự bần thần nuối tiếc, lặng buồn "Dan tay" tưởng là vui nhưngthực ra là chia sẻ cái buồn không nói hết Cảm giác bâng khuâng, xao xuyến về một ngày vui xuânđã tàn hé mở vẻ đẹp của một tâm hồn thiếu nữ tha thiết với niềm vui cuộc sống, nhạy cảm và sâulắng

- Đoạn thơ hay bởi tg đã sử dụng bút pháp cổ điển: tả cảnh ngụ tình, tình và cảnh tương hợp

-BÀI 8: KIỀU Ở LẦU NGƯNG BÍCH

I TÌM HIỂU CHUNG:

1 Vị trí đoạn trích: nằm ở phần thứ hai: gia biến và lưu lạc Sau khi biết mình bị lừa vào lầu xanh,

Kiều nhất quyết không chịu tiếp khách làng chơi, không chấp nhận cuộc sống ô nhục Đau đớn,phẫn uất, nàng định tự vẫn Tú bà sợ mất vốn bèn lựa lời khuyên giải, dụ dỗ Mụ vờ chăm sócthuốc thang, hứa hẹn khi nàng bình phục sẽ gả ngnaf cho người tử tế Tú bà đưa Kiều ra sống ởlầu Ngưng Bích, thực chất là giam lỏng nàng để thực hiện âm mưu mới

2 Kết cấu đoạn trích: 3 phần.

- 6 câu đầu: hoàn cảnh cô đơn, tội nghiệp của Kiều

- Tám câu tiếp : nỗi thương nhớ Kim Trọng và cha mẹ của Kiều

- 8 câu cuối: tâm trạng đau buồn, âu lo của Kiều thể hiện qua cách nhìn cảnh vật

3 Khái quát giá trị ND< NT:

Trang 13

- ND: Tâm trạng cô đơn, bẽ bàng, buồn tủi của TK ở chặng đầu của con đường lưu lạc Songtrong cảnh ngộ ấy, nàng vẫn giữ trọn tấm lòng thủy chung, hiếu thảo của mình

- NT: Miêu tả nv qua ngôn ngữ độc thoại độc thoại nội tâm và tả cảnh ngụ tình

II PHÂN TÍCH:

1 Hoàn cảnh cô, tôi nghiệp của Kiều ở lầu Ngưng Bích:

- Hai chữ "khóa xuân" cho thấy Kiều ở lầu Ngưng Bích thực chất là bị giam lỏng

- Nàng trơ trọi giữa không gian mênh mông, hoang vắng Cảnh "non xa, trăng gần" như gợi lênhình ảnh lầu Ngưng Bích chơi vơi giữa mênh mang trời nước Từ lầu NB nhìn ra chỉ thấy nhữngdãy núi mờ xa, những cồn cát bụi bay mịt mù Cái lầu chơi vơi ấy giam một thân phận trơ trọi,không một bóng người, không sự giao lưu

- Hình ảnh "non xa, trăng gần, cát vàng, bụi hồng" có thể có thể là cảnh thực mà cũng có thể làhình ảnh mang tính ước lệ để gợi sự mênh mông, rợn ngợp của không gian, qua đó diễn tả tâmtrạng cô đơn của Kiều

- Cụm từ "mây sớm đèn khuya" gợi thời gian tuần hoàn khép kín Thời gian cũng như không giangiam hãm con người Sớm và khuya, ngày và đêm, Kiều "thui thủi quê người một thân" Nàng chỉcòn biết làm bạn với "mây sớm đèn khuya" Đối diện với mây đèn, càng thấm thía cái "bẽ bàng"của thân phận (Bẽ bang là sự tủi thẹn) Cảnh ấy, tình ấy làm lòng TK tan nát Nàng rơi vào hoàncảnh cô đơn tuyệt đối

2 Nỗi nhớ người yêu và cha mẹ của TK qua ngôn ngữ độc thoại nội tâm

- Kiều nhớ Kim Trọng trước, nhớ cha mẹ sau Mới đọc, người đọc có thể cảm thấy như vậy làkhông hợp lí nhưng thực ra điều này là hoàn toàn hợp lí bởi nó phù hợp với quy luật tâm lí củanhân vật, vừa thể hiện sự tinh tế của ngòi bút NDu Kiều bán mình cứu cha và em, như vậy cũngcó thể coi phần nào nàng đã đền đáp công ơn sinh thành của cha mẹ, phần nào thực hiện đạo hiếucủa kẻ làm con Còn với Kim Trọng, Kiều cảm thấy mình như một kẻ phụ tình, phụ tấm lòng ngườiyêu, nên nàng day dứt khôn nguôi

- Cùng là nỗi nhớ nhưng cách nhớ khác nhau với những lí do khác nhau nên cách thể hiện cũngkhác nhau

* Nhớ Kim Trọng:

+ Kiều "tưởng" như thấy lại kỉ niệm thiêng liêng đêm thề nguyền, đính ước Nàng nhớ lờithề lứa đôi "Tưởng người dưới nguyệt chén đồng" Vừa mới hôm nào, nàng và chàng cùng uốngchén rượu thề nguyền sắt son, hẹn ước trăm năm dưới trăng vằng bặc, mà nay, mỗi người mộtngả, mối duyên tình ấy đã bị cắt đứt một cách đột ngột

+ Nàng xót xa ân hận như một kẻ phụ tình khi hình dung cảnh người yêu ở chốn LiêuDương xa xôi vẫn mòn mỏi hướng về mình, đêm ngày đau đáu chờ tin mà uổng công vô ích "Tinsương luống những rày trông mai chờ" Lời thơ như có nhịp thổ thức của một trái tim yêu thươngnhỏ máu Niềm thương nhớ KT pha lẫn tâm trạng đau đớn "Tấm son gột rửa bao giờ cho phai" Cólẽ, hình ảnh ẩn dụ "tấm son" ấy là tấm lòng nhớ thương KT không bao giờ nguôi quên Cũng có thểlà Kiều đang cảm thấy tủi nhục khi tấm lòng son sắt, thủy chung đã bị dập vùi, hoen ố, không biếtbao giờ mới gột rửa cho sạch Trong nỗi nhớ chàng Kim, có cả nỗi đau đớn vò xé tâm can

=> Đối với KT: Kiều thật sâu sắc, thủy chung, thiết tha, day dứt với hạnh phúc lứa đôi.

* Nhớ cha mẹ:

+ Lòng Kiều tràn ngập nỗi xót thương Nàng "xót" khi tưởng tượng ở chốn quê nhà, chamẹ già sớm chiều vẫn tựa cửa ngóng chờ tin con Nàng lo lắng ở nhà không ai phụng dưỡng, đỡđần cha mẹ thay mình lúc cha mẹ tuổi già sức yếu (thành ngữ "quạt nồng ấp lạnh")

+ Nàng tưởng tượng nơi quê nhà, tất cả đã đổi thay, gốc tử đã vừa người ôm, cha mẹngày thêm già yếu Cum từ "biết mấy nắng mưa" vừa nói được sức mạnh của bao mùa mưa nắng,vừa nói được sự tàn phá của nắng mưa với cảnh vật, con người Lần nào nhớ về cha mẹ, Kiềucũng nhớ chín chữ cao sâu và luôn đau xót cảm thấy mình đã phụ công sinh thành, nuôi nấng củacha mẹ

=> Với cha mẹ, Kiều là người con hiếu thảo, giàu tình cảm, ơn nghĩa sâu nặng.

> Nỗi nhớ của Kiều đã nói lên nhân cách đáng trân trọng của nàng Hoàn cảnh của nàng lúc nàythật xót xa, đau đớn Nhưng quên đi cảnh ngộ bản thân, nàng đã hướng yêu thương vào những

13

Trang 14

người thân yêu nhất Trái tim nàng thật giàu yêu thương và đức hi sinh nàng thật sự là một ngườitình thủy chung, một người con hiếu thảo, một người có tấm lòng vị tha cao cả đáng quý.

3 Tâm trạng buồn lo của Kiều qua NT tả cảnh ngụ tình:

- Đoạn thơ này được xem là kiểu mẫu của lối tả cảnh ngụ tình trong văn chương cổ điển Để diễn

tả tâm trạng Kiều, ND đã sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình

- Đây là 8 câu thơ thực cảnh mà cũng là tâm cảnh Mỗi hình ảnh thiên hiên đồng thời cũng là mộtẩn dụ về tâm trạng con người - mỗi một cảnh lại khơi gợi ở Kiều những nỗi buồn khác nhau, vớinhững lí do buồn khác nhau trong khi nỗi buồn đã đầy ắp tâm trạng, để rồi tình buồn lại tác độngvào cảnh, khiến cảnh mỗi lúc lai buồn hơn, nỗi buồn mỗi lúc một ghê gớm, mãnh liệt hơn

+ Trước hết là hình ảnh "cánh buồm thấp thoáng" nơi "cửa bể chiều hôm" , một cánh buồmnhỏ nhoi, đơn độc giữa biển nước mênh mông trong ánh sáng le lói cuối cùng của mặt trời sắp tắtgợi thân phận nhỏ bé, chìm nổi vô định, gợi nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương Con thuyền nhỏ nhoilênh đênh trên mặt biển ấy biết bao giờ mới tìm được nến bờ neo đậu, cũng như Kiều còn lênhđênh giữa dòng đời, biết bao giờ mới được trở về sum họp, đoàn tụ với gia đình

+ Hình ảnh " hoa trôi man mác" trên "ngọn nước mới sa" gợi nỗi buồn về thân phận trôi nổilênh đênh vô định giữa sóng nước cuộc đời Rồi đây, cuộc đời nàng không biết sẽ trôi dạt về điđâu, sẽ bị vùi dập ra sao

+ Tiếp đến là hình ảnh "nội cỏ rầu rầu", một màu "xanh xanh" nhạt nhòa trải từ chân mâyđến mặt đất gợi cho Kiều một nỗi chán ngán, vô vọng về những chuỗi ngày vô vị, tẻ nhạt khôngbiết kéo dài đến bao giờ, về một tương lai mịt mờ không lối thoát

+ Nhìn ra phía này thấy buồn, ngoảnh mặt sang phía khác lại càng buồn hơn, và dường nhưnỗi buồn càng lúc càng tăng, càng dồn dập Âm thanh dữ dội của thiên nhiên với "gió cuốn mặtduềnh", với tiếng sóng "ầm ầm" chính là âm thanh dữ dội của cuộc đời phong ba bão táp đã, đangập đổ xuống đời nàng Tất cả như những đợt sóng đang gầm thét, gào rít trong lòng nàng Hìnhảnh, âm thanh gợi tâm trạng lo sợ, hãi hùng của Kiều trước những tai họa cuộc đời đang rình rập.Nỗi buồn ấy đã dâng đến tột đỉnh, khiến Kiều thực sự tuyệt vọng

- Điệp ngữ + các từ láy, chủ yếu là những từ láy tượng hình đồn dập, chỉ có một từ láytượng thanh ở cuối đoạn góp phần thể hiện các cập độ tăng dần của tâm trạng nv

- Cảnh được miêu tả từ xa đến gần, màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến độngdiễn tả nỗi buồn từ man mác, mông lung đến lo âu, kinh sợ hãi hùng Đoạn thơ như dự báo vềchuỗi ngày khủng khiếp, đau thương đang chờ đợi Kiều ở phía trước

-BÀI 9: LỤC VÂN TIÊN

Nguyễn Đình Chiểu

I TÌM HIỂU CHUNG:

1 Tác giả: N ĐC (1822 - 1888) sinh tại quê mẹ ở tỉnh Gia Định, quê cha ở tỉnh Thừa Thiên Huế.

Ông có một cuộc đời đầy bất hạnh: mù lòa, công danh không thành, tình duyên trắc trở, gặp buổiloạn li Nhưng ông vẫn ngẩng cao đầu mà sống, sống có ích cho đến hơi thở cuối cùng

- Là một thầy giáo danh tiếng vang khắp lục tỉnh Nam Kì

- Là một thầy thuốc không tiếc sức để cứu dân độ thế

Trang 15

- Là một nhà thơ để lại bao trang thơ bất hủ: Lục Vân Tiên, Chạy giặc, Văn tế nghĩa sĩ CầnGiuộc Văn thơ của ông được viết ra với mục đích truyền dạy đạo lí làm người, cổ vũ tinh thần yêunước > Luôn nêu cao lòng yêu nước, tinh thần bất khuất chống giặc ngoại xâm

2 Tác phẩm:

a Hoàn cảnh sách tác: khoảng đầu thập kỉ 50 của thế kỉ 19 (1850).

b Thể loại : truyện thơ Nôm gồm 2082 câu lục bát

c Kết cấu: theo kiểu chương hồi, xoay quanh diễn biến cuộc đời các nhân vật chính

- Kiểu kết cấu truyền thống: người tốt thường gặp nhiều gian truân, trắc trở trên đường đời,bị kẻ xấu hãm hại nhung vẫn được phù trợ, cưu mang để rồi cuối cùng tai qua nạn khỏi, được đềntrả xứng đáng kẻ xấu bị trừng trị

d Mục đích:

- Nhằm trực tiếp truyền dạy đạo lí làm người > Tp đáp ứng nguyện vọng của nhân dân, chonên ngay từ khi mới ra đời đã được nd Nam Bộ tiếp nhận nồng nhiệt, được lưu truyền rộng rãi, cósức sống mạnh mẽ, lâu bền trong lòng dân

e Tóm tắt: sgk.

Cốt truyện gồm 4 phần: + VT đánh cướp cứu KNN

+ VT gặp nạn và được cứu giúp

+ KNN gặp nạn mà vẫn giữ lòng chung thủy

+ VT và KNN gặp lại nhau

II GIÁ TRỊ TÁC PHẨM:

1 Giá trị nội dung:

* Giá trị hiện thực: Vạch trần cái ác, cái xấu trong XH Lên án thói gian ác, bất công, lên án

những kẻ tráo trở, bội bạc, phản phúc như cha con Võ Công, những kẻ bất nghĩa, bất nhân nhưTrịnh Hâm, Bùi Kiệm, bọn người làm ăn bất lương chuyên nghề lừa bịp

* Giá trị nhân đạo:

- Đề cao đạo lí làm người Xem trọng tình nghĩa giữa con người với con người trong XH:tình cha con, mẹ con, nghĩa vợ chồng, tình bè bạn, tình yêu thương cưu mang những người gặpcơn hoạn nạn

- Đề cao tinh thần nghĩa hiệp, sẵn sàng cứu người hoạn nạn LVT là trang nam nhi giàunghĩa khí, cao thượng, dũng cảm, cứu người không màng trả ơn Hớn Minh, Vương Tử Trực lànhững người trung trực, ngay thẳng, nghĩa hiệp, dũng cảm bảo vệ dân, diệt trừ kẻ ác

- Thể hiện khát vọng của nhân dân hướng tới lẽ công bằng và những điều tốt đẹp trongcuộc đời (kết thúc có hậu, thiện thắng ác, chính nghĩa thắng gian tà)

> "Lục Vân Tiên" là một tiếng chửi, một lời ca, một ước mơ - Hoài Thanh

2 Giá trị NT:

- Tp là một truyện thơ Nôm mang tính chất một truyện kể dân gian: chú ý đến cốt truyện, cònnhân vật chủ yếu thể hiện bằng hành động hơn là miêu tả nội tâm Nhân vật của NĐC còn là hóathân cho lí tưởng hoặc thái độ yêu ghét của ông

- Truyện mang màu sắc Nam Bộ cả về tính cách con người, cả về ngôn ngữ địa phương

ĐOẠN TRÍCH: LỤC VÂN TIÊN CỨU KIỀU NGUYỆT NGA

-I TÌM HIỂU CHUNG:

1 Vị trí: Đoạn trích nằm ở phần đầu của truyện "LVT" Trên đường trở về thăm cha mẹ trước khi

lên kinh độ, gặp bọn cướp hoành hành, VT đã một mình một gậy xông vào đánh tan bọn cướp,cứu KNN và cô hầu Kim Liên

2 Bố cục: 2 phần:

- LVT đánh cướp

- LVT gặp KNN

15

Trang 16

II PHÂN TÍCH:

1 Hình ảnh Lục Vân Tiên:

- H/ả LVT được khắc họa theo mô típ truyện Nôm truyền thống: một chàng trai tài giỏi cứu một côgái thoát khỏi hiểm nguy, rồi từ ân nghĩa đến tình yêu LVT là nv lí tưởng thể hiện quan niệm vàước mơ của NĐC

- Hành động đánh cướp, trước hết bộc lộ tính cách anh hùng, tài năng và tấm lòng vị nghĩa của

+ H/ả VT trong trận đánh được miêu tả thật đẹp, thật oai hùng "tả đột hữu xung", được sosánh với hình mẫu Triệu Tử trong "Tam Quốc" Đó là vẻ đẹp của người dũng tướng theo phongcách văn chương thời xưa Hành động của VT chứng tỏ cái đức của con người "vị nghĩa vongthân", cái tài của bậc anh hùng với sức mạnh bênh vực kẻ yếu, chiến thắng nhiều thế lực bạo tàn

- Thái độ cư xử với KNN sau khi đánh cướp lại bộc lộ tư cách con người chính trực, hào hiệp,trọng nghĩa khinh tài, giúp người mà không nhận trả ơn - đó là nét đẹp của tâm hồn trong sáng

+ Thấy hai cô gái còn chư hết hãi hùng, VT động lòng, tìm cách an ủi họ"ta đã trừ dòng lâula" và ân cần hỏi han Khi hai cô gái muốn ra khỏi xe để lạy tạ ơn, VT vội gạt đi ngay: "Khoankhoan ngồi đó chớ ra" Ở đây có phần nào theo quan niệm của lễ giáo PK - nam nữ thụ thụ bấtthân, nhưng chủ yếu là do đức tính khiêm nhường của VT không muốn nhận cái lậy tạ của hai côgái, bởi người anh hùng "làm ơn há dễ trông người trả ơn" Cũng chính vì lẽ đó mà chàng từ chốilời mời về thăm nhà KNN để cha nàng đền đáp Với VT, làm việc nghĩa là một bổn phận, một lẽ tựnhiên của con người chân chính "Nhớ câu kiến nghĩa bất vi - Làm người thế ấy cũng phi anhhùng" Lời VT chắc nịch vừa để đối chứng, phê phán những kẻ tầm thường, vừa khẳng định việclàm của mình là hiển nhiên, là lẽ sống của mình

> VT là hình ảnh đẹp, hình ảnh lí tưởng mà mà N ĐC gửi gắm niềm tin và ước vọng của mình

2 Hình ảnh Kiều Nguyệt Nga:

- KNN cũng là nhân vật lí tưởng thể hiện quan điểm của tác giả về hình mẫu một người phụ nữvới nhiều nét đẹp tâm hồn:

+ Một cô gái thùy mị, nết na, có học thức, cách xưng hô khiêm nhường (quân tử - tiệnthiếp), cách nói năng mực thước, khuôn phép (Làm con đâu dám cãi cha chút tôi liễu yếu đàotơ), cách trình bày vấn đề rõ ràng, khúc triết vừa đáp ứng đầy đủ những lời hỏi thăm ân cần củaVân Tiên, vừa bộc lộ chân thành niềm cảm kích, xúc động của mình

+ Một con người đằm thắm, ân tình, cư xử có trước, có sau Với nàng, Vân Tiên không chỉcứu mạng mà còn cứu cả cuộc đời trong trắng của nàng (Lâm nguy chẳng gặp giải nguy- Tiết trămnăm cũng bỏ đi một hồi) Nàng coi đó là ơn trọng và áy náy, băn khoăn tìm cách trả ơn dù biết rằngcó đền đáp bao nhiêu cũng chưa đủ: "Lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng ngươi" Bởi thế, cuối cùngnàng đã tự nguyện gắn bó cuộc đời với chàng trai hào hiệp ấy, dám liều mình để giữ trọn ân tìnhthủy chung với chàng

III Nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu đoạn trích:

- Xây dựng nhân vật qua hành động, cử chỉ, lời nói, ít khắc họa ngoại hình, ít đi sâu vào nộitâm Tác giả chỉ kể về nhân vật để nhân vật tự bộc lộ tính cách > chiếm tình cảm yêu - ghét nơingười đọc

- Ngôn ngữ mộc mạc, bình dị gần với lời nói thông thường và mang màu sắc Nam Bộ Nócó phần nào thiếu chau chuốt, uyển chuyển nhưng phù hợp với ngôn ngữ người kể chuyện, rất tựnhiên, dễ đi vào quần chúng Ngôn ngữ đa dạng, phù hợp với diễn biến tình tiết

- Giọng điệu: thay đổi linh hoạt, phù hợp với tình tiết truyện và tính cách nhân vật: Đoạnđầu : tên tướng cướp kiêu căng, hống hách, giọng LVT đanh thép, căm giận; đoạn sau LVT âncần, KNN mềm mỏng, ân tình

Trang 17

-PHẦN II: ÔN TẬP THƠ HIỆN ĐẠIBảng hệ thống các tác giả, tác phẩm thơ hiện đại đã học ở lớp 9.

Thơ ông không nhiều nhưng có những bài đặc sắc, cảm xúc dồn nén, ng ngữ , h/ả

chọn lọc, hàm súc Ông được nhà nước trao tặng Giải thưởng HCM về VHNT năm 2000.

1948

- bt được sáng tác đầu năm

1948, sau khi

tác giả cùng đồng đội tham gia chiến đấu trong chiến dịch Việt Bắc 1947

- Bt được in trong tập "Đầu

treo".

tự

do

- Tình đồng chí

của những người lính dựa trên cơ sở cùng chung cảnh ngộ và lí

tưởng chiến đấu được thể hiện thật tự nhiên, bình dị mà sâu sắc trong mọi hoàn cảnh, nó

dóp phần quan trọng tạo nên sức mạnh và vẻ đẹp tinh thần của những người lính cách mạng

Chi tiết, hình ảnh, ngôn ngữ giản dị, chân thực,

cô đọng, giàu sức biểu cảm.

- quê ở huyện Thanh Ba, Phú

Thọ Sau khi tốt nghiệp ĐHSP Hà Nội, 1964, ông gia nhập quân đội, hoạt động trên tuyến đường Trường Sơn và trở

thành một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống Mĩ

- Thơ PTD tập trung thể hiện h/ả thể hệ trong cuộc k/c chống Mĩ qua hình tượng người lính và cô TNXP trên tuyến đường T.Sơn Thơ ông có giọng điệu sôi nổi, trẻ trung, hồn nhiên, tinh nghịch mà sâu sắc.

1969

- được viết trong thời kì ác liệt nhất của cuộc k.chiến chống Mĩ.

- được tặng giải nhất cuộc thi thơ của báo Văn nghệ năm

1969 và được đưa vào tập thơ

"Vầng trăng quầng lửa".

Tự

do - Khắc họa 1 h/ảđộc đáo: những

chiếc xe không kính

- Qua đó khắc họa nổi bật h.ả

những người lính lái xe ở T.Sơn trong thời chống Mĩ, với tư thế

hiên ngang, tinh thần lạc quan, dũng cảm, bất chấp khó khăn nguy hiểm và ý

chí chiến đấu giải phóng miền Nam.

- Giàu chất liệu hiện thực của cuộc sống chiến

trường

- Ngôn ngữ, giọng điệu giàu tính khẩu ngữ, tự nhiên, khỏe khoắn.

- tên là Cù Huy Cận, quê ở

làng Ân Phú, huyện Vụ

Quang, Hà Tĩnh

- Nổi tiếng trong phong trào Thơ mới với tập thơ "Lửa thiêng".

- Tham gia CM từ trước 1945, sau CMT8, ông từng giữ nhiều trọng trách chính trong chính quyền CM.

- Là một trong những nhà thơ tiêu biểu của nền thơ hiện đại VN.Được nhà nước trao tặng giải thưởng HCM về VHNT (1996).

1958

- Trong chuyến

đi thực tế dài ngày ở vùng mỏ Quảng Ninh.

Thất ngôn

- Khắc họa nhiều h.ả đẹp tráng lệ, thể hiện sự hài hòa giữ thiên nhiên và con người lao động, bộc lộ niềm vui, niềm tự hòa của nhà thơ trước đất nước và cuộc sống

- Sáng tạo hình ảnh thơ bằng liên tưởng, tg tượng phong phú, độc đáo, âm hưởng khỏe khoắn, hòa hùng, lạc quan.

17

Trang 18

4 Bếp lửa Bằng Việt

- tên : Nguyễn Việt Bằng,sinh

1941, quê ở Thạch Thất, Hà

Tây

- Làm thơ từ đầu những năm

60, thuộc thế hệ các nhà thơ trường thành trong thời kì k.c chống Mĩ.

1963

khi tg đang là

sinh viên học ngành Luật ở

Liên Xô.

- in trong tập

"Hương Bếp lửa"

cây-(1968), tập thơ đầu tay của Bằng Việt - Lưu Quang Vũ.

thất ngôn

- Qua hồi tưởng và suy ngẫm của

ng cháu đã

trưởng thành, bt đã gợi lên nhg kỉ

niệm đầy xúc động về ng bà và

tình bà cháu.

- Thể hiện lòng kính yêu trân trọng, biết ơn của cháu đối với bà, cũng là đối với gia đình, quê hương, đất nước.

- Biểu cảm + miêu tả, tự sự, bình luận.

- Hình ảnh thơ sáng tạo, giàu tính biểu tượng

6 Ánh trăng Nguyễn Duy

- tên: Nguyễn Duy Nhuệ, sinh

1948, quê ở làng Quảng Xá, phường Đông Vệ, TP Thanh Hóa.

- 1966, gia nhập quân đội, vào binh chủng thông tin, tham gia chiến đấu ở nhiều chiến trường Sau 1975, chuyển về

làm báo Văn nghệ giải phóng.

Từ 1977, ông là đại diện thường trú báo Văn nghệ tại

- nằm trong tập

"ánh trăng" (giải

A của Hội nhà

văn VN 1984)

năm chữ

- Bt là lời nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hậu.

- Từ đó gợi nhắc người đọc thái độ

sống ân nghĩa thủy chung cùng quá khứ.

- Giọng điệu tâm tình tự nhiên, hình ảnh giàu tính biểu cảm, tính biểu tượng.

- Biểu cảm + tự sự.

7 Mùa xuân

nho nhỏ

Thanh Hải (1930- 1980)

- tên: Phạm Bá Ngoãn, quê ở

huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Hoạt động văn nghệ từ cuối những năm k/c chống Pháp.

Trong thời kì chống Mĩ, ông ở

lại quê hương hoạt động và là

1 trong những cây bút có công xây dựng nền VH CM ở miền Nam từ những ngày đầu.

11/1980

Bài thơ được viết không bao lâu trước khi nhà thơ qua đời.

Năm chữ

Cảm xúc trước mùa xuân của TN và đất nước, thể

hiện ước nguyện chân thành góp mùa xuân nhỏ

của đời mình vào cuộc đời chung.

- Nhạc điệu trong sáng, tha thiết, gắn với dân

ca H/ả đẹp giản dị, những so sánh, ẩn dụ sáng tạo.

8 Viếng

lăng Bác

Viễn Phương

- tên: Phan Thanh Viễn, sinh

1928, quê ỏ tỉnh An Giang.

- Trong k/c chống Pháp và Mĩ, ông hoạt động ỏ Nam Bộ và là

một trong những cây bút có

mặt sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải phóng ở miền Nam thời chống Mĩ.

1976

sau khi đất nước thống nhất, lăng chủ

tịch HCM vừa khánh thành, tg

ra miền Bắc viếng lăng Bác Hồ.

Tám chữ

Lòng thành kính và niềm xúc động sâu sắc của nhà thơ đối với Bác Hồ trong một lần từ miền Nam

ra viếng lăng Bác.

Giọng điệu trang trọng và tha thiết, nhiều hình ảnh ẩn dụ đẹp và gợi cảm, ngôn ngữ bình dị,

cô đúc.

1

0

Sang thu Hữu Thỉnh

- tên: Nguyễn Hữu Thỉnh, sinh

sau 1975

(gần cuối 1977,

Năm chữ

- Biến chuyển của thiên nhiên lúc giao mùa từ hạ

- H/ả thiên nhiên được gợi tả bằng

Trang 19

1942, quê ở huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.

- 1963, nhập ngũ, vào binh chủng tăng thiết giáp rồi trở

thành cán bộ VH tuyên huấn trong quân đội và bắt đầu sáng tác thơ.

- Tham gia ban chấp hành Hội nhà văn VN các khoá III, IV, V.

Từ 2004, là Tổng thư kí Hội nhà văn VN.

in lần đầu trên báo Văn nghệ

sang thu qua sự

cảm nhận tinh tế

của nhà thơ.

nhiều cảm giác tinh, nhạy, ngôn ngữ chính xác, gợi cảm.

- Nhập ngũ năm 1968, phục vụ

trong quân đội đến 1981 chuyển về công tác tại Sở VH- thông tin tỉnh Cao Bằng.

- Từ 1993, là Chủ tịch Hội VHNT Cao Bằng Thơ ông thể

hiện tâm hồn chân thật, mạnh mẽ và trong sáng, cách tư duy giàu hình ảnh của người miền núi.

do

Bằng lời trò

chuyện với con, bài thơ thể hiện sự gắn bó, niềm tự hào về quê hương và đạo lí

sống của dân tộc.

- Cách nói giàu hình ảnh, vừa cụ thể, gợi cảm, vừa gợi ý nghĩa sâu xa.

BÀI 1: ĐỒNG CHÍ

Chính Hữu

A TÌM HIỂU CHUNG:

I.Tác giả: 1926- 2007

- Tên thật: Trần Đình Đắc Bút danh: Chính Hữu Quê: huyện Can Lộc, Hà Tĩnh

- Là nhà thơ - chiến sĩ trong suốt thời gian chống Pháp, Mĩ Từ người lính của trung đoàn thủ đôtrở thành nhà thơ quân đội

- Sáng tác chủ yếu tập trung vào hình ảnh người lính trong hai cuộc k/c, đặc biệt là tình cảmđồng chí, đồng đội, tình quê hương đất nước, sự gắn bó giữa tiền tuyến và hậu phương

- Phong cách thơ: bình dị, giàu hình ảnh, cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ cô đọng Giọng điệu vừatha thiết, vừa sâu lắng, hàm súc

II Tác phẩm:

a Hoàn cảnh sáng tác: đầu năm 1948, thời kì đầu cuộc k/c chống Pháp

b ND chính: Bt nói về tình đồng chí, đồng đội thắm thiết, sâu nặng của những người lính CM.

Đồng thời, bt cũng làm hiện lên hình ảnh chân thực, giản dị mà cao đẹp của anh bộ đội trong thờikì đầu của cuộc k/c chống Pháp còn nhiều khó khăn, thiếu thốn

c Giá trị: Bt được đánh giá là một trong những tp tiêu biểu nhất viết về người lính CM của VH thời

k/c chống Pháp

d Mạch cảm xúc và Bố cục:

* Mạch cx: Bt viết theo thể tự do, chia làm 3 đoạn Cả bt tập trung thể hiện vẻ đẹp và sức mạnhcủa tình đồng chí, đồng đội, nhưng ở mỗi đoạn, sức nặng của tư tưởng và cảm xúc được dẫn dắtđể dồn tụ vào những dòng thơ gây ấn tượng sâu đậm (dòng 7, 17, 20)

19

Trang 20

6 dòng đầu có thểm xem là sự lí giải về cơ sở của tình đồng chí Dòng 7 có cấu trúc đặc biệt(chỉ 1 từ với dấu chấm than) như một phát hiện, một lời khẳng định sự kết tinh tình cảm giữanhững người lính

10 dòng tiếp theo, mạch cx sau khi dồn tụ ở dòng 7 lại tiếp tục được mở ra bằng những h/ả,chi tiết cụ thể, thấm thía tình đồng chí và sức mạnh của nó

3 dòng thơ cuối được tg tách ra thành một đoạn, kết động lại và ngân rung với hình ảnh đặcsắc "đầu súng trăng treo" như là một biểu tượng giàu chất thơ về người lính

* Bố cục: 3 phần

+ 7 câu đầu: Cơ sở hình thành tình đồng chí của những người lính

+ 10 câu tiếp: những biểu hiện và sức mạnh của tình đồng chí, đồng đội

+ 3 câu cuối: Biểu tượng đẹp về tình đồng chí

- "Anh với tôi quen nhau" Cuộc gặp gỡ của những người lính bất ngờ mà tất yếu: nước mấtthì nhà tan Muốn thoát cảnh vất vả gian nan nghèo khó, trong bối cảnh lịch sử lúc này không thểkhông cầm lấy vũ khí trong tay mà cứu nước Từ "đôi" chỉ 2 người, 2 đối tượng chẳng thể tách rờinhau kết hợp với từ "xa lạ" làm cho ý thơ được nhấn mạnh hơn Tuy là những người xa lạ nhưnghọ cùng tham gia chiến đấu nên giữa họ đã nảy nở một thứ tình cảm cao đẹp: tình đồng chí Tìnhcảm ấy không phải chỉ là cùng cảnh ngộ mà còn là sự gắn kết trọn vẹn cả về lí trí lẫn lý tưởng, mụcđích cao cả: chiến đấu giành độc lập tự do cho tổ quốc "Súng bên súng" là cách nói hàm súc, hìnhtượng Phép điệp từ "súng, đầu, bên" tạo nên âm điệu khỏe, chắc, nhấn mạnh sự gắn kết, cùngchung lí tưởng, chung nhiệm vụ

- Tình đồng chí còn được nảy nở và trở nên bền chặt trong sự chan hòa chia sẻ mọi gian laocũng như niềm vui, nỗi buồn Đó là mối tình tri kỉ của những người bạn chí cốt được biểu hiệnbằng hình ảnh cụ thể, giạn dị mà hết sức gợi cảm "Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ" "Chungchăn" có nghĩa là chung cái khắc nghiệt, khó khăn của cuộc đời người lính, chung hơi ấm để vượtqua cái lạnh Câu thơ thật cảm động, đầy ắp kỉ niệm của một thời gian khổ thiếu thốn và ấm áp tìnhđồng chí đồng đội Chính sự chia ngọt sẻ bùi ấy đã trở thành niềm vui, thắt chặt tình cảm củanhững người động đội thành "đôi tri kỉ" - đôi bạn thân thiết, hiểu bạn như hiểu mình

> Cả 7 câu thơ có duy nhất một từ "chung" nhưng bao hàm nhiều ý: chung cảnh ngộ, chung giaicấp, chung chí hướng, chung khát vọng

- Hai tiếng "Đồng chí" kết thúc khổ thơ thật đặc biệt, sâu lắng, > như một nốt nhạc làm bừngsáng cả bài thơ, là kết tinh của 1 tình cảm CM mới mẻ chỉ có ở thời đại mới Tình đồng chí vừa làtình chiến đấu, vừa là tình thân Câu thơ vang lên như một phát hiện, một lời khẳng định, một tiếnggọi xúc động từ trong tim, lắng đọng trong lòng người về một tình cảm thiêng liêng Dòng thơ chỉ cómột từ mà có tác dụng khép mở tài tình: khép lại đoạn thơ thứ nhất: một chặng đường từ hai người

"xa lạ" đến "quen nhau" rồi trở thành "đồng chí" và mở ra đoạn thơ thứ hai: những biểu hiện caođẹp của tình đồng chí

=> Tóm lại, đoạn thơ không nhiều lời mà kết tinh được chân lí lớn lao, đúng như phong cách thơChính Hữu "Trong thơ, tôi cố gắng để nói cái cần nói, không nói dài, nói thừa Tôi mong có đượcsự hàm súc của lời thơ"

2 Những biểu hiện và sức mạnh của tình đồng chí:

- Cảm thông sâu sắc tâm tư, nỗi niềm của nhau:

Những người lính gắn bó với nhau, họ hiểu những nỗi niềm sâu xa, thầm kín của đồng độimình "Ruộng nương ra lính".Với người nông dân, ruộng nương, căn nhà là cả cơ nghiệp, họluôn gắn bó, giữ gìn Vậy mà, họ đã gác lại tất cả để ra đi đánh giặc Từ "mặc kệ" cho thấy tư thế

ra đi dứt khoát của người lính Nhưng sâu thẳm trong lòng, họ vẫn da diết nhớ quê hương, hình

Trang 21

dung những người ở nhà đang thương nhớ, dõi theo tin tức của họ Hình ảnh hoán dụ, nhân hóa "giêng nước gốc đa nhớ người ra linh" tô đậm tình cảm nhớ quê hương của người lính, khắc sâunỗi nhớ hai chiều ngày càng da diết Nỗi lòng của anh cũng chính là nỗi lòng của tôi Như vậy,người lính đã chia sẻ với nhau mọi tâm tư, nỗi niềm, cùng sống với nhau trong kỉ niệm, trong nỗinhớ và vượt lên trên nỗi nhớ

> Hiểu như thế, ta thấy được độ kết tình, cái "ý tại ngôn ngoại" trong thơ, và càng dồn nén, thơcàng bật ra cái điều không thể nói được thành lời

- Cùng chia sẻ những gian lao, thiếu thốn của cuộc đời người lính:

"Anh với tôi không giày"

+ Những gian lao, thiếu thốn trong cuộc sống của người lính những năm đầu kháng chiếnchống Pháp hiện lên thật cụ thể, chân thực, cô động và gợi cảm biết bao: áo rách, quần vá, chânkhông giày, và cả những cơn sốt rét rừng ghê gớm mà hầu như người lính nào cũng phải trải qua Viết về điều này, Chính Hữu muốn diễn tả sâu sắc sự gắn bó đồng cam cộng khổ của các anh,giúp các anh vượt qua mọi thiếu thốn gian truân cực nhọc của đời người lính Điều đáng chú ý ởđây là người lính bao giờ cũng nhìn bạn, nói về bạn trước khi nói về mình, chữ "anh" bao giờ cũngđứng trước chữ "tôi" Cách nói ấy phải chăng thể hiện nét đẹp trong tình cảm thương người nhưthể thương thân, trọng người hơn trọng mình

- Họ truyền cho nhau hơi ấm của tình đồng chí đồng đọi để cùng nhau vượt qua gian khổ:

+ H/ả thơ "miệng cười buốt giá" thể hiện sâu sắc tinh thần lạc quan của người lính Nụ cườituy thấm thía gian khổ, thiếu thốn mà vẫn hồn nhiên bởi họ có hơi ấm và niềm vui của tình đồngđội Chính tình đồng đội đã làm ấm lòng những người lính để họ vẫn cười trong buốt giá và vượtlên trên buốt giá

+ H/ả thơ "Thương nhau tay nắm lấy bàn tay" thật cảm động Hành động giản dị, mộc mạcmà thấm thía tình cảm chân thành Bàn tay giao cảm thay cho lời nói Bàn tay nói lời im lặng củasự đoàn kết, sự gắn bó, cảm thông, như tiếp cho nhau thêm sức mạnh Hơi ấm ở bàn tay, ở tấmlòng đã giúp người lính chiến thắng cái lạnh "chân không giày", chiến thắng cái thời tiết "buốt giá"của những đêm "sương muối", chống chọi với những cơn "sốt run người" > Trong đoạn thơ,

"anh" và "tôi" luôn đi đôi với nhau, có khi đứng chung trong câu thơ, có khi đi sóng đôi trong từngcặp câu liền nhau Cấu trúc ấy diễn tả sự gắn bó, chia sẻ của những người đồng đội Vượt quanhững cơn lạnh thấu xương chỉ có thể bằng nghị lực, bản thân, bằng sự nâng đỡ của tình người,tình đồng chí

> Trong suốt cuộc kháng chiến trường kì đầy gian lao vất vả ấy, tình cảm đồng chí đã đi vào chiều sâu của sự sống và tâm hồn người chiến sĩ để trở thành những kỉ niệm không bao giờ quên

=> Bài thơ "Đồng chí" không rực rỡ chiến công mà rực rỡ tình đồng đội ấm nóng khiến họ có thểsống và làm nên bao chiến công hiển hách

3 Biểu tượng đẹp, giàu chất thơ nhất về tình đồng chí, đồng đội cao đẹp:

- Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh rất đặc sắc: "Đêm nay trăng treo"

+ Hai câu đầu nói lên công việc thực sự của người lính và tình đồng chí được tôi luyện trongthử thách, gian lao Cũng chính ở cái nơi mà sự sống, cái chết chỉ kề nhau trong tích tắc ấy thì tìnhđồng chí mới thực sự thiêng liêng, cao đẹp Trên nền cảnh rừng đêm hoang vắng, lạnh lẽo- hiệnthực khắc nghiệt của những đêm rừng Việt Bắc là hình ảnh người lính đứng sát bên nhau, im lặngphục kích chờ giặc tới Từ "chờ" nói lên tư thế chủ động của người lính Hình ảnh người lính sátcánh bên nhau vững chãi làm mờ đi cái gian khổ, ác liệt của cuộc chiến, tạo tư thế thành đồngvách sắt trước quân thù Tầm vóc của người lính bỗng chốc trở nên lớn lao, kì vĩ

Hai câu thơ đối nhau thật chỉnh và gợi cảm giữa khung cảnh và toàn cảnh Khung cảnh lạnhlẽo, buốt giá Toàn cảnh là tình cảm ấm nồng của người lính với đồng đội của mình > Tác giả cangợi sức mạnh của tình đồng đội đã giúp người lính vượt lên tất cả sự khắc nghiệt của thời tiết.Tình đồng đội đã sưởi ấm lòng các anh giữa rừng hoang mùa đông và sương muối buốt giá

+ Câu thơ cuối cùng mới thật đặc sắc "Đầu súng trăng treo" Đó là một hình ảnh độc đáo,bất ngờ, là điểm nhấn của đoạn 3, điểm sáng của toàn bài H/ả thơ rất thực và cũng rất lãng mạn,là hình ảnh có thật trong cảm giác, được nhận ra từ những đêm hành quân, phục kích chờ giặc.Trong những đêm phục kích giặc giữa rừng khuya, người lính có thêm trăng làm bạn Trăng treo

21

Trang 22

trên nền trời, nhìn lên như thấy trăng treo trên đầu ngọn súng Nhịp thơ 2/2 như gợi lên nhịp lắccủa một cái gì chung chiêng, lơ lửng trong bát ngát H/ả trăng treo trên đầu ngọn súng gợi ranhững liên tưởng phong phú và giàu chất lãng mạn: Súng biểu tượng cho chiến tranh, cho hiệnthực khốc liệt, trăng biểu tượng cho vẻ đẹp yên bình, mơ mộng và lãng mạn Súng và trăng là gầnvà xa, là chiến sĩ và thi sĩ, là thực tại và mơ mộng Sự hòa hợp giữa súng và trăng vừa toát lên vẻđẹp tâm hồn người lính và tình đồng chí của họ, vừa nói lên ý nghĩa cao cả của cuộc k/c: ngườilính cầm súng là để bảo vệ c/s hòa bình, độc lập tự do cho tổ quốc Câu thơ như nhãn tự của cảbài, vừa mang tính hiện thực, vừa mang sắc thái lãng mạn, là một biểu tượng cao đẹp của tìnhđồng chí thân thiết Phải chăng, đây là những phút kì diệu, sự thăng hoa cao độ của tâm hồn tìnhcảm, Chính Hữu mới có được những hình ảnh đẹp nhất của chiến trường H/ả ấy mang cả đặcđiểm của thơ ca k/c: một nền thơ giàu chất hiện thực và dạt dào cảm hứng lãng mạn

C TỔNG KẾT:

1 ND: Tình đồng chí của người lính dựa trên những cơ sở cùng chung cảnh ngộ và lí tưởng chiến đấu được thể hiện

thật tự nhiê, bình dị mà sâu sắc trong mọi hoàn cảnh, nó góp phần quan trọng tạo nên sức mạnh và vẻ đẹp tinh thần của người lính CM.

2, NT: NGôn ngữ cô đọng giàu sức biểu cảm, hình ảnh chân thực, có sức khái quát cao, giọng thơ sâu lắng

BÀI 2: BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH

Phạm Tiến Duật

A TÌM HIỂU CHUNG:

I Tác giả: 1941`- 2007.quê ở tỉnh Phú Thọ

- Sau khi tốt nghiệp ĐHSPHN, năm 1964, ông gia nhập quân đội, hoạt động trên tuyến đường TSvà trở thành một trong những gương mặt của thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống Mĩ

- Thơ ông tập trung thể hiện hình ảnh thế hệ trẻ trong cuộc k/c chống Mĩ qua các hình tượngngười lính và cô TNXP trên tuyến đường TS Giọng điệu thơ sôi nổi, trẻ trung, hồn nhiên, tinhnghịch mà sâu sắc

- Một số tp tiêu biểu: Tập "Vầng trăng - quầng lửa" (1970), Thơ một chặng đường ( 1971),Trường Sơn đông - Trường Sơn Tây, Gửi em cô TNXP

II Tác phẩm:

1 Hoàn cảnh sáng tác: bt viết năm 1969, thời kì cuộc k/c chống Mĩ diễn ra rất ác liệt trên con

đường chiến lược TS Bt được tặng giải nhất cuộc thi thơ của báo Văn nghệ năm 1969, được đưavào tập thơ "Vầng trăng- quầng lửa"

2 Những nét khác lạ, độc đáo của bài thơ:

a) Nhan đề:

- dài, tưởng như có chỗ thừa nhưng thu hút người đọc ở cái vẻ lạ độc đáo của nó

- Làm nổi bật hình ảnh toàn bài: h/ả những chiếc xe không kính

- Hai chữ "Bài thơ" được thêm vào cho thấy rõ hơn cách nhìn, cách khai thác hiện thực củatg: không chỉ viết về hiện thực khốc liệt thời chiến tranh mà chủ yếu khai thác chất thơ vút lên từhiện thực ấy, chất thơ của tuổi trẻ VN hiên ngang dũng cảm, vượt lên những thiếu thốn, gian khổhiểm nguy của thời chiến

b) Hình ảnh những chiếc xe không kính: độc đáo Đó là chất liệu hiện thực sinh động của đời

sống chiến trường Những chiếc xe không kính vốn không hiếm trong thời k/c chống Mĩ trên đường

TS, nhưng phải có một hồn thơ nhạy cảm với nét ngang tàng, tinh nghịch, thích cái lạ như PTDmới nhận ra được và đưa nó vào thơ > thành hình tượng thơ độc đáo

c) Giọng điệu, ngôn ngữ: Ngôn ngữ gần với lời nói thường, nhiều câu diễn đạt như văn xuối >

nét độc đáo tạo nên giọng điệu ngang tàng, trẻ trung, sôi nổi, tinh nghịch, tự nhiên, thể hiện sựhiên ngang, bất chấp mọi khó khăn, nguy hiểm của các anh lính lái xe TS

B PHÂN TÍCH:

I Hình ảnh những chiếc xe không kính:

Trang 23

- Là hình ảnh thực đến trần trụi thường thấy trên tuyến đường TS thời chống Mĩ Tg giải thíchnguyên nhân khiến cho những chiếc xe vốn nguyên vẹn trở thành xe không kính cũng rất thựcbằng hai câu thơ gần với văn xuôi , có giọng thản nhiên càng gây sự chú ý về vẻ khác lạ của nó:

"Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi"

- Bom đạn chiến tranh còn làm cho chúng thêm biến dạng > chiến tranh ngày càng khốc liệt:

"Không có kính, rồi xe không có đènKhông có mui xe, thùng xe có xước"

II Hình ảnh người lính lái xe:

- H/ả những chiếc xe không kính đã làm nổi bật h/ả những chiến sĩ lái xe TS Thiếu đi nhữngphương tiện vật chất tối thiểu lại là cơ hội để người lái xe bộc lộ những phẩm chất cao đẹp, sứcmạnh tinh thần lớn lao của họ, đặc biệt là lòng dũng cảm, tinh thần bất chấp khó khăn, gian khổ

a) Tư thế hiên ngang, tinh thần dũng cảm, lạc quan, coi thường gian khổ, hiểm nguy.

- Trên những chiếc xe ấy, người chiến sĩ vẫn vững tay lái, vừa cho xe lăn bánh ra trận, vừakể chuyện về mình, về đồng đội

+ Tư thế của họ tập trung vào hai chữ "ung dung" (Ung dung buồng lái ta ngồi/ Nhìn đất,nhìn trời, nhìn thẳng".Đảo ngữ "ung dung" với nhịp thơ 2/2/2 cho thấy cái tư thế hiên ngang, tinhthần vững vàng, tự tin và bình thản Sự bình thản ở đây có sức mạnh bên trong của người línhchiến trường đã dạn dày qua trăm ngàn thử thách

+ Những chữ "nhìn" lặp đi lặp lại như một niềm sảng khoái bất tận Không có kính, càng dễ

"nhìn đất, nhìn trời" với tư thế "nhìn thẳng" Hay nhất là hai chữ "nhìn thẳng"- nhìn thẳng vào giankhổ, nhìn thẳng vào sự hi sinh không hề run sợ, né tránh, nhìn thẳng hướng quân thù để tới Lờithơ nhẹ nhõm, trôi chảy như những chiếc xe lao vun vút trên đường

- Với tư thế ấy, họ đã biến những nguy hiểm trở ngại trên đường thành niềm vui thích, mộtsự hưởng thụ, một cách tiếp xúc trực tiếp mạnh mẽ với không gian bên ngoài qua ô cửa kính vỡ

+ Niềm vui được hòa nhập thỏa sức với thiên nhiên phóng túng được miêu tả chân thực,chính xác đến từng chi tiết qua những hình ảnh nhân hóa, so sánh cùng với NT điệp ngữ: "Nhìnthấy gió vào xoa mắt đắng Như sa, như ùa vào buồng lái" Không có kính chắn gió, các anh phảiđối mặt với bao nguy hiểm, khó khăn: "gió vào xoa mắt đắng", rồi "sao trời, cánh chim" đột ngột,bất ngờ như sa, như ùa, như rơi rụng, va đạp, quăng ném vào buồn lái Hiện thực thì khốc liệt,nhưng người chiến sĩ lại cảm nhận nó bằng một tâm hồn trẻ trung, lãng mạn, nhạy cảm với cái đẹp

- một nghị lực, một bản lĩnh phi thường Đặc biệt, h/ả "Con đường chạy thẳng vào tim" , phải chăngđó chính là con đường TS, con đường giải phóng miền Nam, con đường mà trái tim người chiến sĩluôn hướng tới

+ Trên con đường chi viện cho miền Nam ruột thịt, những người lính lái xe còn phải nếmtrải sự khốc liệt của gió, bụi, mưa Đầu tóc, mặt mũi "bụi phun tóc trắng như người già", rồi "mưatuôn mưa xối như ngoài trời" Nhưng với một thái độ ngang tàng, thách thức, người lính bất chấptất cả, chấp nhận thử thách như một điều tất yếu "ừ hì chưa cần rửa, chưa cần thay" Những lờinói giản dị, nôm na như lời nói thường mà cứng cỏi, biến những khó khăn thành điều thú vị, tạonên giọng điệu ngang tàng, bất chấp Sự bình thản đạt đến mức vô tư lự Câu thơ cuối 7 tiếng màcó đến 6 thanh bằng "Mưa ngừng gió lùa khô mau thôi" gợi cảm giác nhẹ nhõm, ung dung rất lạcquan, rất thanh thản

b) Tâm hồn sôi nổi của tuổi trẻ, tình đồng chí, đồng đội sâu sắc:

- Những chiến sĩ lái xe là những chàng trai vui tính, hóm hỉnh với những hình ảnh tinhnghịch "Phì phèo châm điếu thuốc/ Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha" Niềm vui và tiếng cười củanhững người lính trẻ sôi nổi, tinh nghịch cứ vút lên giữa gian khổ khắc nghiệt của chiến tranh Tấtcả gợi cảm giác nhẹ nhõm, thanh thản xua ta đi những khó khăn, nguy hiểm

- Hồn nhiên, tếu táo là thế nhưng cũng thật cảm động trong không khí đoàn kết, trong tìnhđộng đội gắn bó:

+ Sự khốc liệt của cuộc chiến tranh đã tạo nên những tiểu đội xe không kính Trên conđường tiến vào miền Nam, càng đi, họ càng có thêm nhiều bạn "Gặp bạn bè suốt dọc đường đitới" Họ có thể "bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi" mà không cần mở cửa xe một cách thoải mái, tự

23

Trang 24

hòa và thắm tình đồng đội Cái bắt tay là biểu hiện đẹp đẽ, ấm lòng của tình đồng chí, đồng độimộc mạc nhưng thấm thía Cái bắt tay thay cho lời nói, truyền cho nhau hơi ấm tình cảm, giúp chocon người xích lịa gần nhua trong những cái chung: chung bát đũa, chung nắm cơm, chung bếplửa, chung hoàn cảnh sống, chung con đường với vô vàn thách thức hiểm nguy phía trước

+ Khi hành quân, các anh động viên, chào hỏi nhau trong cảnh ngộ độc đáo Lúc nghỉngơi, các anh trò chuyện, ăn uống nhường nhịn nhau như anh em ruột thịt Tình cảm gia đìnhngười lính thật bình dị, ấm áp thân thương tạo nên sức mạnh, nâng bước chân người lính để rồicác anh lại tiếp tục hành quân: "Lại đi lại đi trời xanh thêm" Điệp ngữ "lại đi" khẳng định đoàn xekhông ngừng tiến tới Hình ảnh "trời xanh thêm" gợi lên tâm hồn chan chứa hi vọng, niềm lạc quanyêu đời của người lính

c) Ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam thống nhất đất nước:

- Khổ thơ cuối vẫn giọng thơ mộc mạc mà nhạc điệu, hình ảnh rất đẹp, rất thơ, cảm hứng vàsuy tưởng vừa bay bổng, vừa sâu sắc để hoàn thiện bức chân dung tuyệt vời của những chiến sĩvận tải Trường Sơn

+ Kết cấu đối lập, bất ngờ, sâu sắc: đối lập giữa 2 phương diện vật chất và tinh thần, giữavẻ bên ngoài và bên trong của chiếc xe Trải qua mưa bom bão đạn, những chiếc xe ban đầu đãkhông có kính, nay lại càng trở nên hư hại hơn "không kính, không mui, không đèn, thùng xe cóxước" Điệp ngữ không có nhắc lại 3 lần cùng phép liệt kê như nhấn mạnh sự thiếu thống đến trầntrụi của những chiếc xe, đồng thời cho thấy mức độ ác liệt của chiến trường

+ Nhưng không có gì có thể cản trở được sự chuyển động kì diệu của những chiếc xekhông kính ấy Xe vẫn băng băng ra chiến trường Tg lí giải điều đó rất tự nhiên: "Chỉ cần trong xecó một trái tim" Mọi thứ có thể không còn nguyên vẹn, chỉ cần vẹn nguyên trái tim người lính thìchiếc xe vẫn chạy Đó không chỉ là sự ngoan cường, dũng cảm vượt lên mọi gian khổ ác liệt màcòn là sức mạnh của tình yêu nước

+ Bom đạn kẻ thù có thể làm biến dạng chiếc xe nhưng không thể đè bẹp được tinh thần,ý chí chiến đấu của những người lính lái xe Xe vẫn chạy không chỉ vì có động cơ máy móc mà còncó động cơ tinh thần "vì miền Nam phía trước", vì công cuộc giành độc lập tự do của đất nướcđang vẫy gọi

- Đối lập với cái "không có" là một cái "có" Đó là trái tim, sức mạnh của người lính, một tráitim nồng nàn tình yêu nước và sôi trào ý chí chiến đấu, giải phóng miền Nam thống nhất tổ quốcđã chiến thắng bom đạn kẻ thù Trái tim ấy thay thế cho tất cả những thiếu thốn, hợp nhất vớingười ch iến sĩ lái xe thành một cơ thể sống không gì tàn phá, ngăn cản được Xe chạy bằng tim,bằng xương máu của người chiến sĩ, trái tim ấy tạo ra niềm tin, niềm lạc quan và sức mạnh chiếnthắng Những chiếc xe càng thêm độc đáo vì đó là những chiếc xe có trái tim cầm lái

+ Trái tim yêu thương, trái tim can trường của người chiến sĩ lái xe là hình ảnh hoán dụ vàẩn dụ gợi ra bao ý nghĩa Trái tim là hình ảnh hội tụ vẻ đẹp tâm hồn và phẩm chất của người chiếnsĩ lái xe Trái tim nồng cháy một lẽ sống cao đẹp và thiêng liêng: tất cả vì miền Nam thân yêu, tráitim chứa đựng bản lĩnh hiên ngang, lòng dũng cảm tuyệt với Trái tim mang tinh thần lạc quan vàmột niềm tin mãnh liệt vào ngày thống nhất Bắc Nam Trái tim trở thành nhãn tự của bài thơ, côđúc ý toàn bài, hội tụ vẻ đẹp của người lính và để lại cảm xúc sâu lắng trong lòng người đọc > Trái tim người lính tỏa sáng rực rỡ mãi đến muôn thế hệ mai sau khiến ta không thể quên mộtthế hệ thanh niên thời chống Mĩ oanh liệt của dân tộc

III Tổng kết:

1 ND: Bt đã khắc họa một hình ảnh độc đáo: những chiếc xe không kính > lảm nổi bật hình ảnh

những chiễn sĩ lái xe TS thời chống Mĩ, với tư thế hiên ngang, tinh thần lạc quan, dũng cảm, bấtchấp khó khăn nguy hiểm và ý chí chiến đấu giải phong miền Nam

2 NT: Ngôn ngữ, giọng điệu giàu tính khẩu ngữ, tự nhiên, khỏe khoắn, hình ảnh thơ giàu chất liệu

hiện thực sinh động

-BÀI 3: ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ

Huy Cận

Trang 25

A TÌM HIỂU CHUNG:

1 Tác giả: Cù Huy Cận (1919 - 2005), quê ở Hà Tĩnh Là cây bút nổi tiếng trong phong trào Thơ

mới với tập "Lửa thiêng" Ông tham gia CM từ trước 1945 Sau CM t8, ông giữ nhiều trọng tráchtrong chính quền CM, đồng thời là một trong những nhà thơ tiêu biểu của nền thơ hiện đại VN.Ông được nhà nước trao tặng giải thưởng HCM về VHNT năm 1996

2 Tác phẩm:

a) Hoàn cảnh sáng tác: Bt được viết năm 1958, trong chuyến đi thực tế tại vùng biển Hồng Gia,

Quảng Ninh và được in trong tập thơ "Trời mỗi ngày lai sáng"

b) Bố cục: Bt được bố cục theo trình tự thời gian, không gian chuyến ra khơi của đoàn thuyền.

- P1 (2 khổ đầu): Cảnh đoàng thuyền ra khơi lúc hoàng hôn

- P2 (4 khổ tiếp): Cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển đêm

- P3 (khổ cuối): Cảnh đoàn thuyền trở về trong ánh bình minh

* Trong bt có 2 nguồn cảm hứng bao trùm và hài hòa nhau: cảm hứng về lao động và cmar hứngvề thiên nhiên vũ trụ, vốn là một nét nổi bật của hồn thơ Huyy Cận

B PHÂN TÍCH:

1 Cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi lúc hoàng hôn: (2 khổ đầu)

Âm hưởng bài ca lao động ngân vang khỏe khoắn trong cảnh đoàn thuyền ra khơi.

- Đó là cảnh ra khơi trong buổi hoàng hôn thật huy hoàng, tráng lệ, đầy sức sống:

"Mặt trời xuống sập cửa"

Câu thơ thể hiện sự cảm nhận độc đáo của tg về hình ảnh mặt trời, sóng, đêm qua biện pháp sosánh và nhân hóa đặc sắc Nhà thơ đã miêu tả rất thực sự chuyển đổi thời khắc giữa ngày và đêmkhiến cảnh biển vào đêm thật đẹp, kì vĩ, tráng lệ như thần thoại, đồng thời gợi sự gần gũi như ngôinhà thân quen, gợi sự bình yên đối với người dân chài

- Màn đêm đã khép lại không gian của một ngày Giữa lúc vũ trụ, đất trời như chuyển sang trạngthái nghỉ ngơi thì ngược lại, con người bắt đầu hành trình lao động "Đoàn thuyền đánh cá lại giókhơi"

+ Câu thơ khiến ta hình dung được cả một đoàn thuyền, chứ không phải là một con thuyềnđơn độc ra khơi Từ "lại" diễn tả công việc lao động thường ngày, lặp lại

+ Nhưng ở đây, tg không chỉ tả số đông của đoàn thuyền mà tả khí thế của đoàn thuyền đó

ra khơi qua h/ả "câu hát căng buồm" Đó là một ẩn dụ hay, biến cái ảo thành cái thực > khí thếphơi phới mạnh mẽ của đoàn thuyền và niềm vui, sức mạnh của người lao động trên biển, làm chủcuộc đời, đang chinh phục biển khơi

=> Cảnh ra khơi huy hoàng đầy khí thế, hứa hẹn ngày thắng lợi

2 Bốn khổ tiếp theo: miêu tả cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển đêm bao la hùng vĩ.

(Tiếp theo là niềm cảm hứng say sưa, bài ca lao động vẫn vang lên khỏe khoắn, ngợi ca cảnh đánh cá trên biển dưới trời trăng sao).

- Khổ 3: Hình ảnh con thuyền đang băng băng lướt đi trên sóng.

+ Hình ảnh nói quá cho thấy: con thuyền đánh cá vốn nhỏ bé trước biển cả bao la, giờ đâyqua cái nhìn của nhà thơ, chợt trở nên lớn lao, kì vĩ và ngang tầm vũ trụ "Thuyền ta lái gió biểnbằng" Một con thuyền đặc biệt :có gió là người cầm lái, còn trăng là cánh buồm -> gợi sự hòaquyện nhịp nhàng của đoàn thuyền với biển trời

+ Con thuyền băng băng lướt sóng ra khơi để "dò bụng biển" Công việc đánh cá được dànđan như một thế trận hòa hùng -> gợi sự khéo léo như nghệ sĩ của người dân chài và tâm hồnphóng khoáng, dũng cảm, đầy quyết tâm chinh phục biển khơi

25

Trang 26

=> Như vậy, tầm vóc của con người và đoàn thuyền đã được nâng lên hòa nhập vào kích thướccủa thiên nhiên, vũ trụ Không còn cái cảm giác nhỏ bé, lẻ loi của con người khi đối diện với trờirộng sông dài như trong thơ Huy Cận trước Cm H/ả thơ thật lãng mạn, bay bổng và con người cótâm hồn cũng thật vui vẻ, phơi phới Công việc lao động nặng nhọc của người đánh cá đã trởthành bài ca đầy niềm vui, nhịp nhàng cùng thiên nhiên

- Khổ 4: Sự cảm nhận về vẻ đẹp của các loài cá quý qua NT nhân hóa > cảnh biển đêm rực rỡ, lấp lánh như đêm hội "Cá nhụ, cá chim nước Hạ Long"

+ Huy Cận đã ngợi ca sự giàu có của biển cả bằng cách liệt kê tên các loài cá và tập trungmiêu tả màu sắc của chúng trong đêm trăng Biển không chỉ giàu mà còn rất đẹp, đẹp một cáchthơ mộng Những con cá song giống như ngọn đuốc đen hồng đang lao đi trong luồng nước dướiánh trăng lấp lánh quả là hình ảnh ẩn dụ độc đáo Tuy nhiên"Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe" lạilà h/ả đẹp nhất Ánh trăng in xuống mặt nước, những con cá quẫy đuôi như quẫy ánh trăng tan ravàng chóe

+ Đêm thở sao lùa nước Hạ Long" là h/ả nhân hóa đẹp Đêm được miêu tả như cơ thểsống Tiếng thở của biển đêm chính là ánh sao lùa sóng nước, hòa với tiếng gõ thuyền trong nhịpđiệu hối thúc của đêm tàn Theo cách hiểu thông thường, sóng biển đu đưa lùa bóng sao trời nơiđáy nước chứ không phải bóng sao lùa sóng nước > Đây là một h/ả lạ, một sáng tạo NT của HuyCận khiến cho cảnh thiên nhiên thêm phần sinh động Tất cả làm nên một cuộc hòa nhịp kì diệugiữa con người lao động và thiên nhiên vũ trụ

- Khổ 5: Tiếng hát căng tràn mặt biển gọi cá vào

+ Ta hát bài ca gọi cá vào > gợi sự thân thiết, gợi niềm vui, phấn chấn, yêu lao động.+ Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao > gợi cảm nhận chất thơ bay bổng, lãng mạn Khôngphải con người gõ thuyền để xua cá vào lưới mà là trăng gõ Trong đêm trăng sáng, vầng trăng inxuống mặt nước, sóng xô bóng trăng gõ vào mạn thuyền tạo nên nhịp điệu cho bài ca lao động Cóthể nói đây là h/ả lãng mạn đầy chất thơ làm đẹp thêm công việc lao động đánh cá trên biển Thiênnhiên đã cùng với con người hòa đồng trong lao động

+ Câu thơ "Biển cho thưở nào" là một lời hát ân tình sâu sắc trong bài ca lao động saysưa thơ mộng, hùng vĩ > gợi sự thân thiết, ưu ái của người lao động với biển cả quê hương biếtbao ân tình

- Khổ 6: Bức phác họa khỏe khoắn về tư thế người dân chài

+ "Ta kéo chùm cá nặng"-> câu thơ như tạo nên h/ả người lao động trên nền trời đangsáng dần, ửng hồng Những đôi bàn tay kéo lưới nhanh thoăn thoắt gợi lên vẻ đẹp rắn rỏi, khỏemạnh với những bắp tay cuồn cuộn của người dân chài khi kéo mẻ lưới đầy cá nặng

+ Khi mẻ lưới được kéo lên, những con cá quẫy dưới ánh sáng của rạng đông và lóe lênmàu hồng gợi khung cảnh thật rạng rỡ, huy hoàng, tươi đẹp Từ "bạc, vàng" vừa gợi màu sắc sángđẹp, vừa gợi sự quý giá, giàu có của biển ban tặng cho con người cần cù, dũng cảm

3 Cảnh đoàn thuyền trở về trong buổi bình minh (khổ cuối)

(Nhưng có lẽ, bài ca lao động ngân vang hòa hùng nhất, hay nhất chính là cảnh đoàn thuyền thắng lợi trở về trong ánh bình minh rực rỡ, tráng lệ)

-4 câu cuối đã dựng lên quang cảnh kì vĩ về cuộc chạy đua của con người (đoàn thuyền) với mặttrời

+ Đoàn thuyền đánh cá đã ra đi vào lúc hoàng hôn trong tiếng hát và trở về vào buổi bìnhminh cũng trong tiếng hát Những câu thơ được lặp lại như một điệp kúc của bài ca lao động Chữ

"hát" xuất hiện bốn lần trong bài thơ, đem lại âm điệu tươi vui, khỏe khoắn của một khúc ca laođộng đầy hào hứng, say mê Nếu như tiếng hát lúc trước thể hiện niềm vui khi lao động thì tiếnghát sau lại thể hiện sự phấn khởi vì kết quả lao động sau một đêm làm việc hăng say

+ Hai câu thơ cuối "Mặt trời đội biển dặm phơi" khép lại bài thơ nhưng lại mở ra một cảnhtượng thật kì vĩ, chói lọi Phải nói rằng, Huy Cận rất tinh tế khi miêu tả sự vận hành của vũ trụ H/ảnhân hóa "Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời" và "Mặt trời đội biển" thật gợi cảm, kì vĩ, tráng lệ.Từ "chạy đua" thể hiện khí thế lao động mạnh mẽ, sức lực dồi dào của người lao động Ý thơphảng phất không khí thần thoại, anh hùng ca > diễn tả sự chiến thắng của con người trước thiênnhiên, biển trời Đoàn thuyền đánh cá thắng lợi trở về với những khoang đầy ắp cá, lấp lánh ánh

Trang 27

mặt trời Đoàn thuyền đã về đích trước mặt trời Đó thật sự là một cảnh tượng đẹp, huy hoànggiữa bầu trời và mặt biển, giữa thiên nhiên và thành quả lao động

- Tg đã sử dụng kết cấu đầu cuối tương ứng khi nhắc lại các h/ả thơ trên, một lần nữa ngợi cathiên nhiên giàu đẹp, con người lao động khỏe khoắn, lạc quan ở tư thế làm chủ, ngày đêm bắt cálàm giàu đẹp hơn cho c/s, cho quê hương, đất nước

C TỔNG KẾT:

1 ND: Bt khắc họa nhiều h/ả đẹp tráng lệ, thể hiện sự hài hòa giữa thiên nhiên và người lao động,

bộc lộ niềm vui, niềm tự hào của nhà thơ trước đất nước và c/s

2 NT: Sáng tạo h.ả thơ bằng liên tưởng, tưởng tượng phong phú, độc đáo.Âm hưởng khỏe khoắn,

hào hùng, lạc quan

2 Tác giả:

a) Hoàn cảnh sáng tác: "Bếp lửa" là một trong những sáng tác đầu tay của BV, được sáng tác

năm 1963, khi ông đang là sinh viên học ngành Luật ở Liên Xô cũ Bt được đưa vào tập "Câyhương bếp lửa" (1968) (in chung với Lưu Quang Vũ)

b) Mạch cảm xúc và bố cục:

* Mạch cx: Bt là lời tâm sự của người cháu hiếu thảo ở phương xa gửi tới người bà thân yêu Bt

được mở ra với hình ảnh bếp lửa, từ đó gợi về những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà, làm hiện lênhình ảnh người bà với sự chăm sóc, lo toan vất vả và tình yêu thương trìu mến dành cho đứacháu Từ những kỉ niệm, đứa cháu nay đã trưởng thành, suy ngẫm và thấu hiểu về cuộc đời bà, vềlẽ sống giản dị mà cao quý của bà Cuối cùng, người cháu muốn gửi niềm mong nhớ về bà Mạch

cx của bt đi từ hồi tưởng đến hiện tại, từ kỉ niệm đến suy ngẫm

* Bố cục: 3 phần

- P1: Những kỉ niệm tuổi thơ và tình bà cháu:

+ Khổ 1: h.ả bếp lửa khơi nguồn cho dòng cảm xúc hồi tưởng về bà

+ khổ 2-4: những kỉ niệm ấu thơ và h/ả người ba gắn liền với h/ả bếp lửa trong hồi tưởngcủa cháu

- P2 (khổ 5,6): Những suy ngẫm về bà và cuộc đời bà,

+ Khổ cuối: nỗi nhớ thương bà

II PHÂN TÍCH:

1 Những kỉ niệm tuổi thơ và tình bà cháu:

a) Dòng hồi tưởng được bắt đầu bằng hình ảnh thân thương, ấm áp: bếp lửa.

- Ba tiếng "Một bếp lửa" trở thành điệp khúc mở đầu bt với giọng điệu sâu lắng Câu thơ thứnhất là h/ả bếp lửa thực được cảm nhận bằng thị giác, ẩn hiện trong sương sớm "chờn vờn" Câuthơ thứ hai là h/ả bếp lửa được đốt lên bằng sự chi chút, khéo léo, nâng niu, kiên nhẫn của ngườinhóm Những h.ả ấy gợi trong ta sự sống lung linh của bếp lửa, gần gũi, thân thương trong mỗi giađình làng quê VN

- H.ả bếp lửa rất tự nhiên đã đánh thức dòng cảm xúc hồi tưởng của cháu về bà, người nhómlửa mỗi sớm mai, một h/ả xuyên suốt bài thơ, lúc nào cũng chập chờn, lay động Trong lòng đứacháu đi xa trào dâng cảm xúc thương bà mãnh liệt, thương người bà lặng lẽ âm thầm trong cuộcđời dãi dầu biết bao mưa nắng "Cháu thương bà biết mấy nắng mưa"

27

Ngày đăng: 19/12/2016, 16:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w