1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tích hợp nội dung giáo dục truyền thống yêu nước trong dạy học môn giáo dục công dân cho học sinh trường THPT chuyên thái nguyên

141 1,5K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM LÊ THỊ TRÀ TÍCH HỢP NỘI DUNG GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT CHUYÊN THÁI NGUYÊN

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LÊ THỊ TRÀ

TÍCH HỢP NỘI DUNG GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT CHUYÊN THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LÊ THỊ TRÀ

TÍCH HỢP NỘI DUNG GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT CHUYÊN THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: LL & PPDH bộ môn Lý luận Chính trị

Mã số: 60.14.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS VŨ THỊ TÙNG HOA

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính bản thân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Vũ Thị Tùng Hoa, chưa được sử dụng hoặc công

bố ở bất kỳ công trình nào khác Những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, đảm bảo tính khách quan Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng Trích dẫn tài liệu đảm bảo chính xác

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, bên cạnh sự cố gắng và nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi từ phía thầy cô giáo, nhà trường và gia đình

Trước tiên cho phép tôi được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới cô

giáo hướng dẫn - TS Vũ Thị Tùng Hoa, người đã nhiệt tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi vượt

qua được những khó khăn để hoàn thành luận văn của mình

Đồng thời tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban chủ nhiệm khoa Giáo dục Chính trị, các thầy cô giáo khoa Giáo dục Chính trị - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã tận tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, thực hiện luận văn

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các em học sinh trường THPT Chuyên Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện, đồng hành, giúp đỡ tôi

để luận văn được hoàn thành

Cuối cùng, tôi muốn gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã luôn cảm thông, động viên, chia sẻ và giúp đỡ tôi trong suốt khóa học cũng như trong quá trình thực hiện luận văn

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2016

Tác giả

Lê Thị Trà

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài: 4

5 Đóng góp mới của đề tài 4

6 Kết cấu của đề tài 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC TÍCH HỢP NỘI DUNG GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC TRONG MÔN GDCD Ở TRƯỜNG THPT CHUYÊN THÁI NGUYÊN 5

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài 5

1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 5

1.2 Dạy học tích hợp nội dung giáo dục truyền thống yêu nước trong môn Giáo dục công dân ở trường phổ thông 8

1.2.1 Những vấn đề chung về tích hợp 8

1.2.2 Tích hợp giáo dục truyền thống yêu nước trong dạy học môn GDCD ở trường THPT 24

1.3 Thực trạng tích hợp nội dung giáo dục truyền thống yêu nước trong môn Giáo dục công dân ở trường THPT Chuyên Thái Nguyên 31

1.3.1 Giới thiệu vài nét về trường THPT Chuyên Thái Nguyên 31

1.3.2 Những điều kiện thực hiện tích hợp giáo dục truyền thống yêu nước trong dạy học môn Giáo dục công dân cho học sinh trường THPT Chuyên Thái Nguyên hiện nay 33

1.3.3 Thực trạng của việc tích hợp GD truyền thống yêu nước trong dạy học môn Giáo dục công dân cho học sinh trường THPT Chuyên hiện nay 39

Tiểu kết chương 1 42

Trang 6

Chương 2 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM TÍCH HỢP NỘI DUNG GIÁO DỤC

TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC

CÔNG DÂN CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT CHUYÊN THÁI NGUYÊN 44

2.1 Quy trình thực nghiệm dạy học tích hợp 44

2.1.1 Lập kế hoạch thực nghiệm 44

2.1.2 Xác định bài dạy tích hợp và xác định nội dung tích hợp 46

2.1.3 Biên soạn giáo án tích hợp 48

2.1.4 Thực hiện bài dạy tích hợp 52

2.1.5 Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 54

2.2 Nội dung thực nghiệm 56

2.2.1 Điều tra kết quả đầu vào của học sinh lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 56

2.2.2 Nghiên cứu nội dung và lựa chọn đơn vị kiến thức 57

2.2.3 Thiết kế bài giảng các bài thực nghiệm 58

2.2.4 Kiểm tra, đánh giá nhận thức của học sinh sau thực nghiệm 71

2.2.5 Điều tra, tham khảo ý kiến học sinh 72

2.3 So sánh, đối chiếu kết quả thực nghiệm 72

2.3.1 Kiểm tra nội dung bài học sau lần thực nghiệm thứ 1 72

2.3.2 Kiểm tra nội dung bài học sau lần thực nghiệm thứ 2 74

2.3.3 Kết quả tham khảo ý kiến sau thực nghiệm 76

Kết luận chương 2 80

Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÍCH HỢP GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN CHO HỌC SINH THPT 82

3.1 Nhóm biện pháp đối với các cấp quản lý 82

3.2 Nhóm biện pháp đối với nhà trường 84

3.3 Nhóm biện pháp đối với giáo viên bộ môn 86

3.4 Nhóm giải pháp đối với phụ huynh học sinh 87

3.5 Nhóm biện pháp đối với học sinh 89

Kết luận chương 3 90

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Phụ lục

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1 BGH Ban giám hiệu

2 GDCD Giáo dục công dân

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Bảng kết quả học tập học kỳ I năm học 2015- 2016 môn Giáo dục

công dân của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng (Khối 10) 56 Bảng 2.2: Bảng kết quả học tập học kỳ I năm học 2015- 2016 môn Giáo dục

công dân của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng (Khối 11) 57 Bảng 2.3: Bảng kết quả học tập khối 10 sau lần thực nghiệm thứ 1 của học sinh

lớp thực nghiệm và lớp đối chứng (phụ lục 4) 72 Bảng 2.4: Bảng kết quả học tập khối 11 sau lần thực nghiệm thứ 1 của học sinh

lớp thực nghiệm và lớp đối chứng (phụ lục 4) 72 Bảng 2.5: Bảng kết quả học tập khối 10 sau lần thực nghiệm thứ 2 của học sinh

lớp thực nghiệm và lớp đối chứng (phụ lục 4) 74 Bảng 2.6: Bảng kết quả học tập khối 11sau lần thực nghiệm thứ 2 của học sinh

lớp thực nghiệm và lớp đối chứng (phụ lục 4) 74 Bảng 2.7: Bảng thống kê ý kiến trả lời các câu hỏi của học sinh sau thực nghiệm 77 Bảng 2.8: Bảng thống kê ý kiến của phụ huynh sau thực nghiệm 79

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Biểu đồ 2.1: Biểu đồ biểu diễn kết quả học tập khối 10 sau lần thực nghiệm

thứ nhất của học sinh lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 73 Biểu đồ 2.2: Biểu đồ biểu diễn kết quả học tập khối 11 sau lần thực nghiệm

thứ 1 của học sinh lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 73 Biểu đồ 2.3: Biểu đồ biểu diễn kết quả học tập khối 10 sau lần thực nghiệm

thứ 2 của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 75 Biểu đồ 2.4: Biểu đồ biểu diễn kết quả học tập khối 11 sau lần thực nghiệm

thứ 2 của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 75

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tích hợp là một trong những xu thế dạy học hiện đại đang được quan tâm nghiên cứu và áp dụng vào nhà trường ở nhiều nước trên thế giới và ở Việt Nam trong những năm gần đây Tích hợp không chỉ rút gọn thời gian trình bày tri thức của nhiều môn học mà quan trọng hơn là tập dượt cho học sinh cách vận dụng các kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề học tập và các vấn đề thực tiễn Như vậy tích hợp là một trong những xu hướng nhằm nâng cao năng lực của người học và hiệu quả của quá trình giáo dục

Nhờ có những ưu điểm nổi bật của mình mà trong đề án đổi mới chương trình sách giáo khoa THPT sau 2015 theo tinh thần Nghị quyết 29NQ/TW về “đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế” thì dạy học tích hợp được xem

là một hướng đi chủ yếu.[18]

Đối với nghề dạy học, nhiệm vụ “dạy chữ” và “dạy người” luôn được chú trọng

và tiến hành đồng thời Nghĩa là người học không chỉ được trang bị kiến thức vững vàng

mà còn hình thành ở bản thân những phẩm chất đạo đức tốt đẹp, có lối sống lành mạnh, biết sống có lý tưởng, có hoài bão Đây cũng là phương hướng phát triển giáo dục đào tạo đến 2020 vừa chú trọng dạy làm người, vừa dạy chữ, vừa dạy nghề Để làm được điều này việc tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống, các truyền thống quý báu của dân tộc cho học sinh nói chung, học sinh THPT nói riêng là một việc làm cần được quan tâm,

đề cao Như tinh thần chỉ đạo của Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng đã nêu rõ:

"Xây dựng và hoàn thiện giá trị nhân cách con người Việt Nam, bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, học sinh, sinh viên, đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh con người Việt Nam".[15]

Tuổi học trò - lứa tuổi vô tư, trong sáng nhưng trong nhận thức của các em đang dần hình thành ý thức chính trị, trách nhiệm công dân do đó việc giáo dục các giá trị đạo đức truyền thống trong đó có truyền thống yêu nước là một việc làm vừa cần thiết,

Trang 11

vừa cấp bách, vừa có tính lâu dài Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng răn dạy:

“Từ tiểu học, trung học cho đến đại học là nơi rèn luyện nhi đồng và thanh niên Óc những người trẻ tuổi trong sạch như tấm lụa trắng Nhuộm xanh thì nó sẽ xanh Nhuộm

đỏ thì nó sẽ đỏ Vì vậy sự học tập ở trường có ảnh hưởng rất lớn cho tương lai của thanh niên tức là tương lai của nước nhà Vì vậy, cốt nhất là phải dạy cho học trò biết yêu nước thương nòi Phải dạy cho họ có ý thức tự lập, tự cường, quyết không chịu thua kém ai, quyết không chịu làm nô lệ”.[32]

Lời dạy của Người vẫn còn nguyên giá trị tới thế hệ hôm nay, lời dạy đó trở thành ngọn đuốc soi đường cho các thế hệ người Việt Nam không ngừng phấn đấu, học tập, lao động vì niềm kiêu hãnh của Tổ quốc mình Vì vậy truyền thống yêu nước đã trở thành vốn quý, là sức mạnh tuyệt vời đã bao lần giúp dân tộc ta đứng vững trước những thử thách nghiệt ngã của lịch sử Ngày nay, trong bối cảnh đất nước đang hội nhập sâu rộng với thế giới trên mọi lĩnh vực, truyền thống yêu nước đã được bồi đắp, phát triển lên một tầm cao mới Truyền thống ấy đang chắp cánh, tiếp thêm nguồn sức mạnh cho thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay ngày đêm chiến đấu, lao động, học tập cống hiến trên mọi mặt trận để đảm bảo cho sự phát triển của đất nước Để làm tốt vai trò là người chủ nước nhà trong tương lai, rõ ràng thế hệ trẻ phải có tình yêu đất nước nồng nàn, họ không chỉ cần thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện mà còn phải biết cống hiến và hy sinh Nhưng có một thực tế đáng buồn hiện nay là một số bạn trẻ đang mải

mê theo đuổi những giá trị vật chất thấp kém, tầm thường mà quên đi nghĩa vụ, trách nhiệm lớn lao của mình đối với Tổ quốc Họ đang sa vào một cuộc sống thiếu lý tưởng, không có niềm tin, không có sự định hướng một cách đúng đắn Vì vậy, việc giáo dục truyền thống yêu nước cho học sinh đang trở thành một vấn đề bức thiết đối với mỗi học sinh cũng như với vận mệnh của dân tộc

Trong các nhà trường, việc giáo dục truyền thống yêu nước phải được tiến hành một cách toàn diện ở tất cả các lĩnh vực, các khối lớp Tuy nhiên với thời lượng

có hạn trong chương trình môn Giáo dục công dân ở cấp THPT chúng ta không thể khai thác được hết các nội dung của truyền thống yêu nước Để thực hiện được mục tiêu dạy “làm người” việc tích hợp giáo dục truyền thống yêu nước là một việc làm cần thiết

Trang 12

Môn Giáo dục công dân ở trường THPT đang thực hiện vai trò giáo dục đạo đức, tư tưởng, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Thực tế giảng dạy môn Giáo dục công dân ở trường THPT Chuyên Thái Nguyên cho thấy việc dạy học tích hợp các nội dung chưa trở thành định hướng chung và chưa thể hiện rõ nét trong chương trình sách giáo khoa mà phụ thuộc nhiều vào khả năng vận dụng của từng giáo viên Chính vì vậy mà những bài học trong chương trình còn khô khan, thiếu tính hấp dẫn, chưa tạo được hứng thú học tập cho học sinh

Xuất phát từ những lý do trên tôi chọn vấn đề: “Tích hợp nội dung giáo dục

truyền thống yêu nước trong dạy học môn Giáo dục công dân cho học sinh trường THPT Chuyên Thái Nguyên” là một đề tài luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục, chuyên

ngành Lý luận và phương pháp dạy học Lý luận Chính trị

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng quy trình tích hợp và đề xuất biện pháp tích hợp giáo dục truyền thống yêu nước trong dạy học môn Giáo dục công dân cho học sinh trường THPT Chuyên Thái Nguyên

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nhiệm vụ 1: Xây dựng cơ sở lý luận về tích hợp giáo dục truyền thống yêu nước trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trường THPT

- Nhiệm vụ 2: Khảo sát thực trạng tích hợp giáo dục truyền thống yêu nước tại trường THPT Chuyên Thái Nguyên

- Nhiệm vụ 3: Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả của dạy học tích hợp

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp tích hợp giáo dục truyền thống yêu nước trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trường THPT Chuyên Thái Nguyên

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Với đặc thù tri thức của môn Giáo dục công dân, luận văn chỉ nghiên cứu việc tích hợp giáo dục truyền thống yêu nước trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” môn Giáo dục công dân chương trình lớp 10 và phần “Công dân với các vấn đề chính trị - xã hội” môn Giáo dục công dân chương trình lớp 11

Trang 13

4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài:

4.1 Cơ sở phương pháp luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng

Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về truyền thống yêu nước

và giáo dục truyền thống yêu nước cho thanh niên, học sinh hiện nay

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng, Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin, luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp sau:

* Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Phương pháp phân tích tổng hợp

- Phương pháp lôgic và lịch sử

- Phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể

* Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra xã hội học

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp thống kê xã hội học

5 Đóng góp mới của đề tài

Xác định nội dung và biện pháp tích hợp giáo dục truyền thống yêu nước cho học sinh trường THPT Chuyên Thái Nguyên

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 11 tiết

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy học tích hợp nội dung giáo dục truyền thống yêu nước trong môn GDCD ở trường THPT Chuyên Thái Nguyên

Chương 2 Thực nghiệm sư phạm tích hợp nội dung giáo dục truyền thống yêu nước trong dạy học môn giáo dục công dân cho học sinh trường THPT Chuyên Thái Nguyên

Chương 3 Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả tích hợp giáo dục truyền thống yêu nước trong dạy học môn giáo dục công dân cho học sinh THPT

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC

TÍCH HỢP NỘI DUNG GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG

YÊU NƯỚC TRONG MÔN GDCD Ở TRƯỜNG THPT CHUYÊN

THÁI NGUYÊN

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề giáo dục truyền thống yêu nước nói chung và tích hợp giáo dục truyền thống yêu nước là một trong những nội dung nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Có nhiều sách, báo, tạp chí, công trình nghiên cứu khoa học tập trung nghiên cứu về tích hợp và nghiên cứu về vấn đề giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ hiện nay Trong giới hạn nhận thức của tôi thì có những công trình tiêu biểu như:

1.1.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài

- Lê Văn Canh biên dịch cuốn “Tám đổi mới để trở thành người giáo viên giỏi”

của Giselle O Martin - Kniep, Nxb Giáo dục Việt Nam Tác giả đã khẳng định: Tích hợp chương trình là một phương tiện tối cần thiết để tạo ra sự kết dính, tạo thành khối thống nhất trong hoạt động học của học sinh Đồng thời tác giả đã đưa ra bốn lí do cơ bản của tích hợp chương trình - đây cũng là những đòi hỏi khách quan và chủ quan của quá trình dạy và học.[23]

- Susan MDrake (2007), “Xây dựng chương trình tích hợp dựa trên chuẩn”

Trong công trình này tác giả đưa ra cách tiếp cận tích hợp một các đa dạng, trên nhiều phương diện khác nhau.[47]

- Xavier Roegies, Nxb Giáo dục - Hà Nội (1996), “Khoa sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển các năng lực trong nhà trường”, thì cho rằng tích hợp là một

quan điểm lý luận dạy học và tích hợp môn học có những mức độ khác nhau, từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao.[46]

1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước

- Dương Tự Đam (2008), “Tuổi trẻ Việt Nam với chủ nghĩa yêu nước trong lịch sử dân tộc” Nxb Thanh Niên Tác phẩm tập trung vào nội dụng giáo dục truyền thụ lý tưởng

cách mạng và tinh thần yêu nước cho thế hệ trẻ Việt Nam, đồng thời tác phẩm cũng giới thiệu những tấm gương tiêu biểu trong chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.[17]

Trang 15

- Nguyễn Phúc Chỉnh (2012), “Tích hợp trong dạy học Sinh học”, Nxb Đại học

Thái Nguyên Tác phẩm nêu lên một số vấn đề chung về vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học như lịch sử và cấu trúc của quá trình tích hợp trong nhà trường ở thế kỷ

XX, và những quan điểm khác nhau về tích hợp và dạy học tích hợp.[16]

- Nguyễn Anh Dũng và nhóm nghiên cứu, “Kinh nghiệm quốc tế về vận dụng quan điểm tích hợp trong chương trình giáo dục phổ thông” Công trình nghiên cứu

để đi sâu tìm hiểu xu hướng tích hợp trong các cấp học tại một số quốc gia thuộc châu Âu, châu Á, châu Phi Từ đó nhóm tác giả nghiên cứu đã đưa ra đề xuất phương

án phát triển chương trình theo quan điểm tích hợp sau 2015.[]

- Nguyễn Mạnh Tường, “Chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh” Nhà xuất bản

Chính trị quốc gia Hà Nội (2011) Tác phẩm được hình thành trên cơ sở luận án tiến sỹ của tác giả Với kết cấu 3 chương, tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh Tác giả cho rằng chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh là lý tưởng

“Không có gì quý hơn độc lập tự do”, là quan niệm về độc lập, tự do, hạnh phúc, quan

niệm về thi đua yêu nước và mẫu người yêu nước mới gắn liền với nhiệm vụ xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc.[43]

- Trần Xuân Trường, “Chủ nghĩa yêu nước thời đại Hồ Chí Minh” Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội (2001) Với kết cấu 6 chương, tác giả đi từ nghiên cứu chủ nghĩa yêu nước truyền thống đến chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.[40]

- Lê Văn Tích, “Phát huy chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh trong hội nhập và phát triển bền vững (webside: www.lyluanchinhtri.vn)” Trong công trình nghiên cứu

của mình, tác giả đã nghiên cứu về biện pháp để phát huy chủ nghĩa yêu nước Việt Nam mà đỉnh cao là chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh khi đất nước đang hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới.[37]

- Vũ Đình Bảy (2012), “Lý luận dạy học môn Giáo dục công dân ở trường phổ thông”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Tác phẩm đề cập tới quan điểm xây dựng

chương trình môn Giáo dục công dân ở phổ thông trong đó tích hợp là một định hướng được quan tâm nhưng tích hợp phải hợp lý, phù hợp với đối tượng môn học và không làm nặng thêm nội dung môn học.[5]

- Hoàng Thị Lan Anh (2014), “Tích hợp giáo dục đạo đức gia đình trong dạy học môn giáo dục công dân cho học sinh trường THPT Việt Trì - Phú Thọ”, luận văn

Trang 16

thạc sỹ khoa học chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học Giáo dục Chính trị tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội Luận văn đã tập trung làm rõ khái niệm dạy học tích hợp và vận dụng tích hợp giáo dục các giá trị đạo đức trong gia đình tại trường THPT Việt Trì - Phú Thọ.[1]

- Phùng Thị Hải Hậu (2012) “Vấn đề giáo dục đạo đức mới cho học sinh phổ thông trong điều kiện kinh tế thị trường ở Nghệ An hiện nay”, luận văn thạc sỹ chuyên

ngành Triết học tại Đại học Quốc gia Hà Nội Tác giả luận văn đã chỉ ra một trong những nội dung giáo dục đạo đức mới cho học sinh phổ thông hiện nay là giáo dục tình yêu quê hương đất nước, yêu gia đình, tự hào dân tộc Lòng yêu nước là động lực tình cảm lớn nhất của đời sống dân tộc, là thang bậc cao nhất trong hệ thống các giá trị đạo đức của dân tộc ta.[24]

- Trần An Bình (2011), “Vấn đề đạo đức cách mạng của sinh viên ở tỉnh Hưng Yên hiện nay”, luận văn thạc sỹ chuyên ngành Triết học tại học viện Chính trị - hành

chính quốc gia Hồ Chí Minh Tác giả luận văn đã khẳng định: Để xây dựng hoàn thiện

và phát triển đạo đức cách mạng cho sinh viên thì phải tuân thủ một trong những nguyên tắc cơ bản là chủ nghĩa yêu nước kết hợp với chủ nghĩa quốc tế bởi chủ nghĩa yêu nước

là một trong những tình cảm sâu sắc nhất đã được củng cố qua nhiều năm tồn tại của mỗi quốc gia độc lập.[2]

Điểm chung của các tác giả là đã đề cập tới xu thế tích hợp, coi đó là một xu thế phổ biến của dạy học hiện đại hiện nay Đồng thời một số tác giả đã đề cập tới vai trò của truyền thống yêu nước trong đời sống tinh thần của xã hội và việc giáo dục truyền thống ấy cho thế hệ trẻ hiện nay Song, theo sự nhận thức của các tác giả đề tài này thì chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu vấn đề tích hợp giáo dục truyền thống yêu nước cho học sinh THPT Trên cơ sở kế thừa những thành tựu các nhà nghiên cứu đã đạt được trong các công trình khoa học trên, tôi tiếp tục đi sâu, phát triển hơn nữa những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc tích hợp giáo dục truyền thống yêu nước thông qua dạy học phần “Công dân với đạo đức” môn Giáo dục công dân chương trình lớp 10 và phần “Công dân với các vấn đề chính trị - xã hội” môn Giáo dục công dân chương trình lớp 11, nhằm nâng cao nhận thức cho học sinh về truyền thống yêu nước, nắm được những nội dung tích hợp giáo dục truyền thống yêu nước để trở thành những công dân

có ích trong tương lai

Trang 17

1.2 Dạy học tích hợp nội dung giáo dục truyền thống yêu nước trong môn Giáo dục công dân ở trường phổ thông

Theo chúng tôi biết, cuốn sách giáo khoa sư phạm tích hợp là cuốn sách đầu tiên

viết về vấn đề tích hợp đã đưa ra định nghĩa về tích hợp: “Khoa sư phạm tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập trong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho học sinh, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập tương lai hoặc hoà nhập học sinh vào cuộc sống lao động Như vậy, khoa học sư phạm tích hợp làm cho quá trình học tập có ý nghĩa Ngoài quá trình học tập đơn lẻ cần thiết cho những năng lực đó, khoa sư phạm tích hợp

dự định những hoạt động tích hợp trong đó học sinh học cách sử dụng phối hợp những

kiến thức, những kĩ năng và những tác động đã lĩnh hội một cách rời rạc” [46;54] Ở

định nghĩa này, tác giả đã nhấn mạnh đến bản chất của khoa học sư phạm tích hợp là hình thành những năng lực rõ ràng, cần thiết cho học sinh trong tương lai Đồng thời, khoa học sư phạm tích hợp cũng xác định cách thức để học sinh biết phối kết hợp các kiến thức, kĩ năng đã lĩnh hội được thành một hệ thống hoàn chỉnh, biết gắn kết kiến thức trong nhà trường với kiến thức ngoài xã hội, để việc học tập mang lại hiệu quả thiết thực

Vì điều này, có thể coi khoa sư phạm tích hợp như một lý thuyết giáo dục, nó vừa góp phần vào việc nghiên cứu xây dựng chương trình sách giáo khoa đồng thời định hướng các hoạt động dạy học trong nhà trường

Trang 18

Khi tiếp cận vấn đề tích hợp có thể nhìn nhận ở nhiều mặt khác nhau Trong đó tích hợp kiến thức và tích hợp dạy học là cơ bản nhất Tích hợp kiến thức là sự liên kết, kết hợp, lồng ghép tri thức của các khoa học khác nhau thành một tập hợp kiến thức thống nhất Còn tích hợp dạy học là quá trình dạy học trong đó có sự lồng ghép những tri thức khoa học, những quy luật chung gần gũi với nhau, qua đó người học không chỉ lĩnh hội được những tri thức khoa học của môn học chính mà cả tri thức khoa học được tích hợp, từ đó hình thành cho người học cái nhìn khái quát hơn đối với các khoa học

có cùng đối tượng nghiên cứu, đồng thời có được phương pháp xem xét vấn đề một cách lôgic, biện chứng

Kể từ khi khái niệm tích hợp được đưa vào hệ thống giáo dục Việt Nam, thì các nhà nghiên cứu về vấn đề này cũng đưa ra một số định nghĩa về tích hợp Trong phần hướng dẫn giáo viên của “Sách giáo viên Ngữ văn 6” dù chưa đưa ra định nghĩa rõ ràng

về tích hợp nhưng đã đưa ra quan niệm về tích hợp: “Tích hợp là phương hướng nhằm phối hợp một cách tối ưu các quá trình học tập riêng rẽ, các môn học, phân môn, hình thức, mô hình, cấp độ khác nhau nhằm đáp ứng những mục tiêu, mục đích và yêu cầu cụ

thể khác nhau” [35;06]

Theo báo cáo khoa học của tiến sĩ Nguyễn Văn Đường: “Tích hợp không phải

là sự tổ hợp, càng không phải là sự ghép nối hay phép cộng đơn giản Tích hợp được biểu hiện ở các cấp độ khác nhau trên các bình diện khác nhau” [22;37]

Theo quan điểm của tác giả Dương Tiến Sĩ: Tích hợp là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức trên khái niệm thuộc các môn học khác nhau thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề

cập trong các môn học đó

Theo Từ điển tiếng Việt: Tích hợp có nghĩa là: Sự hợp nhất, sự hoà nhập, sự kết hợp

Theo Từ điển Bách khoa toàn thư: Tích hợp là hệ thống, là tổ hợp các thiết bị

và công cụ khác nhau để cùng làm một việc với nhau trong một hệ thống - chương trình

nhằm giải quyết những nhiệm vụ chung nào đó

Theo Từ điển Giáo dục học: Tích hợp là một hành động liên kết các đối tượng

nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau

trong cùng một kế hoạch dạy học

Trang 19

Như vậy, tích hợp có thể hiểu là sự hoà nhập, sự kết hợp các nội dung kiến thức của các môn học riêng rẽ theo những mô hình, hình thức, cấp độ khác nhau nhằm đạt được những mục tiêu, mục đích, yêu cầu đặt ra

* Khái niệm dạy học tích hợp

Dạy học tích hợp là một đòi hỏi khách quan của sự phát triển xã hội và sự phát triển giáo dục đặc biệt xuất phát từ sự xuất hiện nhanh chóng, mạnh mẽ của các thành tựu khoa học đòi hỏi việc giảng dạy trong nhà trường phải phản ánh được sự phát triển mạnh mẽ đó

Hiện nay, đã có nhiều định nghĩa khác nhau về dạy học tích hợp

Theo tổ chức UNESCO, dạy học tích hợp có nghĩa là “Một cách trình bày các khái niệm và nguyên lí khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hay quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau” [45;108] Định nghĩa này nhấn mạnh cách tiếp cận các khái niệm và nguyên

lí khoa học chứ không phải là hợp nhất nội dung

Theo Xavier Rogiers, “Dạy học tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập trong đó toàn bộ quá trình học tập góp phần hình thành những năng lực rõ ràng

có dự tính trước những điều cần thiết cho học sinh, nhằm phục vụ cho quá trình học tập tương lai hoặc hoà nhập học sinh vào cuộc sống lao động” [46;77] Như vậy, dạy

học tích hợp là quá trình mang lại nhiều ý nghĩa cho việc học tập của học sinh

Theo Hội nghị tại Maryland vào 4/1973, thì khái niệm dạy học tích hợp còn bao gồm cả việc dạy học tích hợp các khoa học với công nghệ học Thực tế cho thấy khoa học

và công nghệ là hai lĩnh vực có liên quan mật thiết với nhau Nếu như khoa học tập trung vào quá trình tìm tòi, phát hiện tri thức mới thì công nghệ lại là quá trình vận dụng các phương pháp, quy trình, kĩ năng, bí quyết, công vụ, phương tiện để biến các tri thức thành các sản phẩm Như vậy, trong định nghĩa nêu trên đã nhấn mạnh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa hiểu biết các khái niệm và nguyên lý khoa học với ứng dụng thực tiễn

Theo Dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể xác định: Dạy học tích hợp là một định hướng dạy học giúp học sinh phát triển khả năng huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng… thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết có hiệu quả các vấn

đề trong học tập và trong cuộc sống, được thực hiện ngay trong quá trình lĩnh hội tri

Trang 20

thức và rèn luyện kỹ năng; phát triển được những năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề

Xét dưới góc độ lý luận dạy học, Nguyễn Văn Khải cho rằng: “Dạy học tích hợp tạo ra các tình huống liên kết tri thức các môn học, đó là cơ hội phát triển năng lực của học sinh Khi xây dựng các tình huống vận dụng kiến thức, học sinh sẽ phát huy được

năng lực tự lực, phát triển tư duy sáng tạo” [27;12]

Dạy học tích hợp là sự kết hợp quan điểm liên môn và xuyên môn Vậy thế nào

là quan điểm liên môn và quan điểm xuyên môn?

Quan điểm liên môn: Là quan điểm “Trong đó chúng ta phối hợp sự đóng góp của nhiều môn học để nghiên cứu và giải quyết một tình huống” [16;32] Như vậy, ở

đây các quá trình học tập sẽ được kết hợp, liên kết với nhau tham gia giải quyết những vấn đề học tập

Quan điểm xuyên môn: Là quan điểm “Trong đó chúng ta tìm cách phát triển ở học sinh những kĩ năng xuyên môn, nghĩa là những kĩ năng có thể áp dụng rộng rãi ở mọi nơi” [16;32]

Tổng hợp quan điểm của một số tác giả, trong phạm vi luận văn này chúng tôi tiếp cận khái niệm dạy học tích hợp với ý nghĩa:

Trong dạy học các bộ môn, tích hợp được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các nội dung từ các môn học, các lĩnh vực học tập khác nhau thành một môn học mới hoặc lồng ghép các nội dung cần thiết, phù hợp vào nội dung một môn học nhất định Các định nghĩa đều thống nhất với nhau ở tư tưởng chính là việc thực hiện mục tiêu “kép” trong dạy học (một là mục tiêu dạy học thông thường của một bài học, hai là mục tiêu được tích hợp trong bài học đó)

Thứ tư: Nội dung các môn học này làm cơ sở để hiểu nội dung các môn học kia

và ngược lại

Trang 21

1.2.1.2 Phân loại tích hợp

Xét dưới góc độ quan điểm tích hợp, D.Hainaut cho rằng có 4 quan điểm tích hợp:

Một là: Quan điểm “trong nội bộ môn học” trong đó chúng ta ưu tiên các nội

dung môn học Quan điểm này nhằm duy trì, phát huy thế mạnh của các môn học riêng

rẽ

Ví dụ: Thế mạnh nổi bật của môn GDCD là giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống cho học sinh thông qua những nội dung cụ thể trong chương trình như: thế nào là đạo đức, vai trò của đạo đức, nghĩa vụ, lương tâm, danh dự, nhân phẩm, nhân nghĩa… Thông qua việc dạy những nội dung này học sinh sẽ nắm được những kiến thức cơ bản, cần thiết của môn học

Hai là: Quan điểm “đa môn” chúng ta có chủ trương đề xuất những đề tài, tình

huống có thể được nghiên cứu ở nhiều môn khác nhau Theo quan điểm này, những môn học tiếp tục được tiếp cận một cách riêng rẽ và chỉ gặp nhau ở một số thời điểm trong quá trình nghiên cứu có những điểm gần giống nhau Như vậy, các môn học chưa thực sự được tích hợp

Ví dụ: Nội dung: “Giáo dục về dân số và sức khỏe sinh sản vị thành niên”, có thể được nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau, dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau trong các môn học cụ thể:

+ Môn Sinh học: Nghiên cứu về cấu trúc cơ thể người và cơ chế sinh sản, các biện pháp kế hoạch hóa gia đình

+ Môn Địa lý: Nghiên cứu về sự gia tăng dân số, cách tính tỉ lệ sinh, tỉ lệ tử cũng như tốc độ gia tăng dân số nói chung

+ Môn GDCD: Nghiên cứu về việc giáo dục, tuyên truyền tác hại của việc tăng dân số, những phương hướng cơ bản để khắc phục tình trạng tăng dân số, trách nhiệm của công dân trong việc giảm tốc độ tăng dân số

Ba là: Quan điểm “liên môn”: Theo đó, chúng ta sẽ đề xuất những tình huống

chỉ có thể được tiếp cận một cách hợp lí qua sự soi sáng của nhiều môn học

Ví dụ: Câu hỏi “Tại sao chúng ta cần bảo vệ biển đảo quê hương?” chỉ có thể được giải thích một cách thấu đáo nếu chúng ta vận dụng kiến thức của nhiều môn học như: GDCD, Địa Lý, Giáo dục Quốc phòng và An ninh…

Trang 22

Bốn là: Quan điểm “xuyên môn” chúng ta chủ trương phát triển những kĩ năng

mà học sinh có thể sử dụng trong tất cả các môn học, tất cả các tình huống, đó là kĩ năng xuyên môn

Ví dụ: Một trong những kỹ năng có thể được vận dụng cho tất cả các môn học

và mang lại hiệu quả tích cực đó là kỹ năng tư duy hiệu quả và sáng tạo Việc vận dụng tốt kỹ năng này giúp học sinh phát huy năng lực tư duy nổi trội của mình, vận dụng quy luật tư duy trong mọi hoàn cảnh thậm chí có những cách giải quyết vấn đề mang tính đột phá làm cho quá trình học tập của học sinh đạt hiệu quả cao hơn

Xét dưới góc độ mức độ tích hợp kiến thức trong dạy học, có thể chia thành 3 mức độ sau:

Mức độ 1: Tích hợp (Intergration)

Ở mức độ này, các kiến thức giáo dục và kiến thức môn học được kết hợp một cách chặt chẽ, có hệ thống thành một nội dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong bài học Ở mức

độ này, nội dung bài học sẽ có nội dung trùng hợp với nội dung giáo dục

Ví dụ: Khi dạy bài “Một số phạm trù cơ bản của đạo đức học”, phần kiến thức

“ Nghĩa vụ” giáo viên có thể tích hợp các nội dung giáo dục trách nhiệm của công dân đối với cộng đồng và xã hội như: làm từ thiện, tham gia nghĩa vụ quân sự, thực hiện nghĩa vụ với Tổ quốc (sự hi sinh của các chiến sĩ trên máy bay CASA 212) để góp phần giáo dục tư tưởng cho học sinh

Mức độ 2: Kết hợp (Infusion)

Kết hợp hay còn gọi là lồng ghép giáo dục trong nội dung môn học Ở mức độ này, chương trình môn học được giữ nguyên, các vấn đề giáo dục được lựa chọn rồi lồng ghép vào chương trình môn học ở chỗ thích hợp sau mỗi bài, mỗi chương hay hình thành một chương riêng Ở đây, một số nội dung của bài học hay một phần nhất định của nội dung môn học có liên quan trực tiếp với nội dung giáo dục

Ví dụ: Khi dạy phần kiến thức “Bảo vệ môi trường và trách nhiệm của công dân trong việc bảo vệ môi trường” trong bài “Công dân với một số vấn đề cấp thiết của nhân loại” (chương trình GDCD lớp 10) giáo viên có thể lồng ghép phần giáo dục trách nhiệm của công dân- học sinh trong việc bảo vệ môi trường bằng những hoạt động cụ

Trang 23

thể mà các em đã và sẽ thực hiện ở trường lớp hoặc ở khu phố nơi em đang sinh sống như: trồng cây xanh, không vứt rác bừa bãi, tham gia các hoạt động tuyên truyền bảo

vệ môi trường khi em có khả năng, hưởng ứng hoạt động “Hãy làm sạch biển” do Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh phát động…

Ví dụ: Khi dạy nội dung “Thế nào là tình yêu chân chính” thuộc bài “Công dân với tình yêu, hôn nhân và gia đình” giáo viên cùng học sinh liên hệ tới những mối tình chân chính, cao đẹp trong lịch sử để tăng tính hấp dẫn cho bài học như: mối tình của Chử Đồng Tử và công chúa Tiên Dung; mối tình của Các Mác và Gien - ny…

Xét dưới góc độ phương thức tích hợp có 2 dạng chính với 4 cách tích hợp các nội dung học tập như sau:

- Dạng tích hợp thứ nhất: Đưa ra những ứng dụng chung cho nhiều môn học (chẳng hạn như vấn đề dân số, bảo vệ môi trường) Dạng tích hợp này vẫn duy trì những môn học riêng rẽ, những ứng dụng chung được thực hiện vào những thời điểm thích hợp Đây là cách tích hợp được vận dụng phổ biến hiện nay

Ví dụ: Vấn đề bảo vệ môi trường có thể được khai thác, vận dụng ở môn Sinh học, GDCD, Địa lý… nhưng mỗi môn lại có cách khai thác riêng phù hợp với đặc thù môn học của mình

+ Cách thứ nhất: Những ứng dụng chung cho nhiều môn học được thực hiện

ở cuối năm học hay cuối cấp học trong một bài học hoặc một bài tập tích hợp

+ Cách thứ hai: Những ứng dụng chung cho nhiều môn học được thực hiện tương đối đều đặn trong suốt năm học trong các tình huống tích hợp

- Dạng tích hợp thứ hai: Phối hợp các quá trình học tập của nhiều môn học khác nhau Dạng tích hợp này nhằm hợp nhất hai hay nhiều môn học thành một môn học duy nhất Đây là việc phức tạp, đòi hỏi phải nghiên cứu xây dựng chương trình và tài liệu học tập phù hợp Dạng tích hợp này có thể được thực hiện bằng hai cách sau:

Trang 24

+ Cách thứ nhất: Phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng đề tài tích hợp Theo đó người ta nhóm các nội dung có mục tiêu bổ sung cho nhau thành

đề tài tích hợp, trong khi các môn học vẫn giữ nguyên các mục tiêu riêng

+ Cách thứ hai: Phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng tình huống tích hợp, theo đó các môn học được tích hợp xung quanh những mục tiêu chung Đây là mục tiêu tích hợp Ưu điểm của cách tích hợp này là dạy cho học sinh giải quyết những tình huống phức hợp bằng cách vận dụng kiến thức từ nhiều môn học trong một tình huống gần với cuộc sống

Ví dụ: Tình huống: “Muốn phát triển kinh tế chúng ta phải khai thác tài nguyên, nhưng nếu tài nguyên bị khai thác quá mức thì có thể dẫn đến cạn kiệt hay suy giảm Vậy chúng ta cần phải làm gì để cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường” Đây là dạng tình huống nghịch lý mà vấn đề xuất hiện khi đứng trước một sự lựa chọn khó khăn, xuất hiện nhiều phương án giải quyết Muốn giải quyết được tình huống này học sinh phải vận dụng kiến thức của nhiều môn học khác nhau như: Địa lý, Sinh học, GDCD…

1.2.1.3 Vai trò của dạy học tích hợp

Tích hợp đã trở thành một trào lưu sư phạm hiện đại được quan tâm trên thế giới

từ những năm 60 của thế kỉ XX Quan điểm tích hợp bắt đầu được đề cập tới ở Châu

Á và ở Việt Nam vào khoảng những năm 70-80 của thế kỉ XX Vậy tại sao dạy học tích hợp lại được quan tâm ngày càng nhiều hơn?

Trước tiên, dạy học tích hợp góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện trong nhà trường phổ thông Vì vậy, dạy học tích hợp là một yêu cầu tất yếu của việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục hiện nay Như Điều 27 của Luật Giáo dục (2005)

đã nêu: Mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Xuất phát từ mục tiêu trên, các môn học trong nhà trường phổ thông phải liên kết với nhau để thực hiện nhiệm vụ giáo dục của mình

Trang 25

Mặt khác, hiện nay các tri thức khoa học và kinh nghiệm xã hội của con người phát triển như vũ bão trong khi quỹ thời gian và kiến thức của học sinh trong nhà trường thì có hạn, do đó không thể thể đưa nhiều môn học hơn nữa vào nhà trường cho dù tri thức là rất cần thiết Vì vậy, dạy học tích hợp đã trở thành một đòi hỏi khách quan của

sự phát triển xã hội Bên cạnh đó, các môn học trong nhà trường hiện nay đều có nhiệm

vụ chung là hiện thực hoá mục tiêu phát triển toàn diện của học sinh Các môn học trong nhà trường thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau:

+ Hình thành hệ thống tri thức, kĩ năng theo yêu cầu khoa học bộ môn

+ Phát triển tư duy, năng lực sáng tạo cho học sinh phù hợp với đặc trưng môn học

+ Giáo dục học sinh thông qua quá trình dạy học bộ môn (hình thành thế giới quan duy vật biện chứng, nhân sinh quan, thái độ, phẩm chất, nhân cách con người )

+ Góp phần hình thành những kĩ năng sống, kĩ năng tổng hợp, hướng nghiệp cho học sinh

Xuất phát từ những nhiệm vụ trên, trong quá trình dạy học, giáo viên phải nghiên cứu để tích hợp các nội dung một cách phù hợp với từng môn học và phù hợp với từng đối tượng học sinh ở các vùng miền khác nhau

Mặt khác, do cùng chung nhiệm vụ dạy học nên các môn học có nhiều cơ hội

để liên kết với nhau, tạo ra các mối liên hệ liên môn

Dạy học tích hợp còn xuất phát từ bản chất của mối liên hệ giữa các tri thức khoa học Lý do cần dạy học tích hợp các khoa học trong nhà trường còn xuất phát từ chính yêu cầu phát triển các khoa học Vì vậy, xu thế dạy học trong nhà trường là phải làm sao cho tri thức của học sinh xác thực và toàn diện, quá trình dạy học phải có sự liên kết, tổng hợp hoá các tri thức Theo Xavier Rogiers (sđd, tr.10): Nếu nhà trường chỉ quan tâm dạy cho học sinh các khái niệm một cách rời rạc, thì nguy cơ sẽ hình thành ở học sinh các “suy luận theo kiểu khép kín”, sẽ hình thành những con người

“mù chức năng” nghĩa là những người đã lĩnh hội kiến thức nhưng không có khả năng

sử dụng các kiến thức đó hàng ngày Do đó, dạy học tích hợp có ưu thế là dạy học sinh cách tìm tòi sáng tạo và cách vận dụng kiến thức vào các tình huống khác nhau Tức là dạy cho học sinh cách sử dụng kiến thức, kĩ năng của mình để giải quyết các tình huống nhằm phát triển năng lực học sinh

Trang 26

Dạy học tích hợp còn góp phần giảm tải học tập cho học sinh

Từ góc độ giáo dục, dạy học tích hợp giúp phát triển các năng lực, đặc biệt là trí tưởng tượng khoa học và năng lực tư duy cho học sinh, vì nó luôn tạo ra các tình huống

để học sinh vận dụng kiến thức trong các tình huống gần với cuộc sống Giảm tải ở đây không chỉ hiểu là sự giảm thiểu kiến thức các môn học mà giảm tải cả về tâm lý học tập cho học sinh, giúp các em có hứng thú trong học tập và mang lại hiệu quả học tập cao hơn

Bằng cách tích hợp một cách hợp lý và có ý nghĩa các nội dung gần gũi với cuộc sống vào môn học sẽ làm cho học sinh thấu hiểu ý nghĩa của các kiến thức cần tiếp thu, tạo cho các em cảm xúc nhẹ nhàng vượt qua khó khăn trong nhận thức, khi đó việc học tập sẽ trở thành niềm vui và hứng thú với học sinh

Như vậy, có thể khẳng định dạy học tích hợp sẽ mang lại nhiều lợi ích cho học sinh như học sinh áp dụng được nhiều kỹ năng, nền tảng kiến thức tích hợp giúp cho việc tìm kiếm thông tin nhanh hơn, khuyến khích việc học sâu và rộng, thúc đẩy thái độ học tập tích cực đối với học sinh Thay đổi cách dạy này không gây ra sự xáo trộn về số lượng và cơ cấu giáo viên, không nhất thiết phải đào tạo lại giáo viên

mà chỉ cần bồi dưỡng một số chuyên đề dạy học tích hợp cho họ Đồng thời, dạy học tích hợp cũng không đòi hỏi tăng cường quá nhiều về cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học phục vụ giảng dạy Do đó, đây sẽ là một hướng đi có nhiều triển vọng trong tương lai

1.2.1.4 Yêu nước và giáo dục truyền thống yêu nước

* Lòng yêu nước

Yêu nước là một tình cảm, một trạng thái tâm lý tự nhiên của con người như tình yêu quê hương, xứ sở, sự gắn bó với ngôn ngữ và niềm tự hào về truyền thống dân tộc Dân tộc nào cũng có lòng yêu quê hương nhưng với dân tộc ta, do đặc điểm của đất nước, lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam có những nét đặt biệt Yêu nước còn là một tình cảm xã hội, mà nội dung là tình yêu và lòng trung thành đối với Tổ quốc, lòng tự hào về quá khứ và hiện tại của Tổ quốc, ý chí bảo vệ những lợi ích của Tổ quốc

Trang 27

Do đó lòng yêu nước đã trở thành một tình cảm thiêng liêng, tạo nên sức mạnh

to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, lòng yêu nước không phải phát sinh ngay khi con người xuất hiện mà được thử thách trải qua quá trình lao động sản xuất và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Vì vậy, lòng yêu nước đã tạo thành sức mạnh vô song, đưa lại những thành tựu, những thắng lợi lừng lẫy trong công cuộc dựng nước và giữ nước Yêu nước là sợi chỉ đỏ bền chặt xuyên suốt lịch sử Việt Nam qua từng giai đoạn Yêu nước không chỉ đơn thuần là tình cảm

mà còn là nghĩa vụ, trách nhiệm đối với Tổ quốc Vậy lòng yêu nước là gì?

Theo Phan Ngọc Liên và Trần Văn Trị: Lòng yêu nước, tinh thần yêu nước là “ Tình cảm và tư tưởng lớn nhất của người Việt Nam từ ngàn xưa, là tiêu chuẩn cao nhất

để đánh giá người dân đối với Tổ quốc (những người có công với đất nước trên mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, quân sự được tôn thờ, quý trọng; những kẻ bán nước, phá hoại bị nghìn đời nguyền rủa) ” [29; 84]

Theo Sách giáo khoa Giáo dục công dân lớp 10: Lòng yêu nước là tình yêu quê hương đất nước và tinh thần sẵn sàng đem hết khả năng của mình để phục vụ lợi ích

Tổ quốc [9;96]

Như vậy, lòng yêu nước không chỉ đơn thuần là tình cảm thiêng liêng của mỗi người dân đối với Tổ quốc mà còn là trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi người con đối với nơi mình đã sinh ra và lớn lên Thực tế đã chứng minh lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam

đã trở thành động lực to lớn để sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thành công

* Truyền thống yêu nước

Thuật ngữ “truyền thống” được sử dụng rất phổ biến và rộng rãi trong ngôn ngữ Tiếng Việt Truyền thống theo tiếng Ấn Âu là tradition, bắt nguồn từ tiếng Latinh là tradere, tradition có nghĩa là trao quyền, truyền đạt, luân chuyển, mang lại, trao lại

Theo Từ điển Tiếng Việt, truyền thống là những đức tính, tập quán, tư tưởng, lối sống được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác [42;67]

Theo Giáo sư Vũ Khiêu thì “Truyền thống là những thói quen lâu đời, được hình thành trong nếp sống, nếp suy nghĩ và hành động của dân tộc ta.” [28;67]

Trong kho tàng truyền thống phong phú và quý báu của dân tộc ta, truyền thống yêu nước là truyền thống cao quý nhất, là truyền thống hàng đầu, bao trùm của dân tộc

Trang 28

Việt Nam Truyền thống yêu nước là sự tổng hợp của nhiều truyền thống khác và giữ vai trò chi phối các truyền thống khác Nói như giáo sư Trần Văn Giàu, thì nó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại

Truyền thống yêu nước là lòng yêu nước được củng cố, phát huy được truyền

từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ thời kì này sang thời kì khác [30, 267]

V.I Lênin đã từng nói rằng, truyền thống yêu nước nói chung là: một trong những tình cảm sâu sắc nhất, đã được củng cố qua hàng trăm, hàng ngàn năm tồn tại của các tổ quốc biệt lập

Truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam, trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt, là di sản quý báu của dân tộc ta được củng cố và phát huy qua hàng ngàn năm lịch sử Yêu nước đã trở thành một trong những giá trị văn hóa bất biến của dân tộc Việt Nam Truyền thống ấy được biểu hiện qua các thời đại ở tinh thần xả thân cứu nước mỗi khi đất nước có xâm lăng, đô hộ, ở ý chí quật cường của cả một dân tộc không chỉ biết bảo vệ Tổ quốc mà còn biết bồi đắp, xây dựng đất nước ngày càng to đẹp và giàu mạnh hơn

Truyền thống yêu nước được biểu hiện qua những nội dung cơ bản sau

Thứ nhất: Yêu nước trước hết là tình yêu quê hương, làng xóm của mình - nơi

mình đã sinh ra và lớn lên Tình cảm ấy được biểu hiện phong phú, đa dạng ở mỗi người dân Việt Nam

Với mỗi cô gái khi đi lấy chồng, đó là tâm trạng nao lòng, nỗi nhớ quê hương khôn nguôi:

“Chiều chiều ra đứng ngõ sau Nhớ về quê mẹ ruột đau chín chiều”

Với mỗi người Việt Nam, đất nước là những gì thật gần gũi, thân thương giống như nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm trong trường ca “Mặt trời khát vọng” đã viết:

“Đất là nơi em đến trường Nước là nơi em tắm Đất nước bắt đầu với miếng trầu bà ăn”

Đất nước đồng nhất với nhà, với gia đình, với quê hương Vì vậy mà trải qua bao cuộc chiến tranh chống xâm lược nhân dân ta đã ra sức bám trụ quê hương mình,

Trang 29

giữ làng, giữ đất không chịu lùi với tinh thần đấu tranh bất khuất, kiên cường: “Thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ” để giữ vững nơi chôn rau cắt rốn của mình

Đúng như những lời rất tâm huyết của nhà thơ Chế Lan Viên:

“Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt Như mẹ, như cha, như vợ, như chồng

Ôi Tổ quốc nếu ta cần ta chết Cho mỗi ngôi nhà, ngon núi, con sông”

(Trích “Sao chiến thắng”)

Tình cảm yêu nước của mỗi người Việt Nam mang đậm nét cộng đồng với các quan

hệ huyết tộc, láng giềng, thân quen đã tạo nên một tình cảm hướng nội của người Việt

Thứ hai: Yêu nước gắn liền với thương dân, bởi nội dung cơ bản của nước là

dân, vì nước, vì dân Vì vậy, trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, tư tưởng “lấy dân làm gốc” luôn được nêu cao

Trong lịch sử dân tộc đã ghi nhận tầm nhìn chiến lược này của các bậc tiền bối Trần Hưng Đạo trước lúc lâm chung đã dặn lại: Trị nước trước hết phải an dân; trông nom khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thượng sách để giữ nước lâu dài Như vậy, ông đã nhìn thấy vai trò quyết định của quần chúng nhân dân đối với sự

an nguy của đất nước

Nguyễn Trãi coi nước gắn liền với dân, vì vậy cứu nước trước hết phải cứu dân Với ông nhân nghĩa là tư tưởng xuyên suốt, bao trùm Ông nói: “Việc nhân nghĩa cốt

ở yên dân” Ông quan niệm an dân là điều kiện để an xã hội, là điều kiện để chính nghĩa giành được thắng lợi và triều đại phong kiến được củng cố Thực tế lịch sử cho thấy, dân là người đau khổ nhất trong cảnh áp bức và bóc lột của giặc ngoại xâm vì thế các tầng lớp đại diện cho dân tộc phải có trách nhiệm chăm lo để người dân được cơm no,

áo ấm, để tận nơi hang cùng, ngõ hẻm không còn tiếng oán giận, than sầu - đó là cái gốc của lễ nhạc

Tiếp nối tư tưởng trên, chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng quần chúng nhân dân

là nhân tố quyết định sự thành công của sự nghiệp giải phóng dân tộc trước kia cũng như sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay Người khẳng định:

Trang 30

“Dễ mười lần không dân cũng chịu Khó vạn lần dân liệu cũng xong”

Vì vậy, cả cuộc đời Người đã đấu tranh không mệt mỏi cho sự nghiệp giải phóng con người nói chung và nhân dân lao động nói riêng để “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”

Thứ ba: Yêu nước gắn liền với tư tưởng độc lập dân tộc và bảo vệ giang sơn gấm

vóc, khẳng định chủ quyền dân tộc và biên giới lãnh thổ quốc gia Đối với mỗi người dân Việt Nam, chủ quyền quốc gia và độc lập dân tộc là những giá trị thiêng liêng Tiền đồ và vận mệnh của mỗi cá nhân nằm trong tiền đồ và vận mệnh chung của dân tộc

Điều này được thể hiện rõ trong bài “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt:

“Sông núi nước Nam, vua Nam ở Rành rành định phận ở sách trời”

Như vậy Lý Thường Kiệt đã khẳng định Việt Nam là một quốc gia độc lập, chủ quyền, có ranh giới rõ ràng Nếu ai dám xâm phạm tới bờ cõi này thì quân dân đất Việt sẵn sàng đứng lên bảo vệ lãnh thổ của mình Chính vì thế “Nam quốc sơn hà” được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam

Đến Nguyễn Trãi (thế kỉ XV) quyền bất khả xâm phạm về lãnh thổ lại một lần nữa được khẳng định:

“Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu Núi sông bờ cõi đã chia Phong tục Bắc Nam cũng khác”

(Trích “Bình Ngô đại cáo”)

Qua nội dung và cách thức trình bày của ông, ta thấy một quan niệm rõ ràng về quốc gia dân tộc và các yếu tố cấu thành nó là: lãnh thổ, văn hóa, phong tục tập quán

và lịch sử dân tộc

Từ đó khẳng định Việt Nam là một quốc gia riêng biệt, ngang hàng với các nước phương Bắc về mọi mặt và Việt Nam phải được độc lập Không những thế, “Bình Ngô đại cáo” còn thể hiện tư tưởng là để bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền của mình, người Việt Nam đã không quản ngại hi sinh, chiến đấu và cũng vì không tôn trọng chủ quyền mà quân Minh phải chuốc lấy thất bại nhục nhã Chính vì lẽ đó, ta có thể coi: “Đại cáo bình Ngô”

là bản tuyên ngôn độc lập hào hùng của dân tộc ta ở thế kỉ XV

Trang 31

Tư tưởng độc lập, chủ quyền quốc gia dưới sự soi rọi của chủ nghĩa Mác - Lê nin đã được nâng lên một tầm cao mới - tầm lý luận Điều này được trình bày rõ nét trong “Tuyên ngôn độc lập” của chủ tịch Hồ Chí Minh Trong đó, Người khẳng định:

“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và thực sự đã trở thành một nước tự

do độc lập” Như vậy, Bác không chỉ dừng lại ở vấn đề giải phóng từng cá nhân cô lập, tách rời mà nâng lên thành vấn đề giải phóng cả cộng đồng dân tộc Người hiểu rằng một dân tộc bị xâm chiếm và nô dịch thì không có tự do để lựa chọn con đường phát triển và quyết định vận mệnh lịch sử của mình Bên cạnh đó, “Tuyên ngôn độc lập” còn đề cập đến một vấn đề có ý nghĩa nhân văn sâu sắc đó là vấn đề giải phóng con người một cách triệt để và toàn diện Với nội dung như vậy, “Tuyên ngôn độc lập” có

ý nghĩa rất to lớn không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà với mọi thời đại lịch sử, với mọi dân tộc đang đấu tranh vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội

Thứ tư: Yêu nước còn gắn liền với tinh thần quốc tế vô sản

Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng các vấn đề dân tộc

và giai cấp, dân tộc và nhân loại là những vấn đề có mối liên hệ hữu cơ không thể tách rời Muốn hoàn thành cách mạng dân tộc phải làm tốt nghĩa vụ quốc tế Làm tốt nghĩa

vụ quốc tế cũng là góp phần thúc đẩy sự nghiệp cách mạng dân tộc Nhận thức được điều này, nhân dân ta đã tích cực góp phần nhỏ bé của mình để làm tốt nghĩa vụ quốc

tế đối với phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa, với công cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới Một trong những đóng góp của nhân dân Việt Nam được cộng đồng quốc tế và các nước anh em ghi nhận đó là sự chiến đấu hi sinh không mệt mỏi của quân tình nguyện Việt Nam trên nước bạn Lào, Campuchia để mang lại ngày giải phóng vinh quang của nhân dân Lào (1975) và nhân dân Campuchia (1/1979)

Đặc biệt trong thời đại ngày nay khi mà xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa đang diễn ra mạnh mẽ, đòi hỏi các quốc gia phải có sự hợp tác và liên kết trên nhiều mặt để giải quyết vấn đề toàn cầu như vấn đề chống chiến tranh hạt nhân, vấn đề bảo vệ môi trường, vấn đề dân số, vấn đề đẩy lùi các căn bệnh hiểm nghèo thì Việt Nam là một quốc gia tham gia có trách nhiệm đối với các hoạt động ở tầm khu vực và quốc tế như phòng chống dịch bệnh: dịch cúm gia cầm, dịch SARS, phòng chống virut ZIKA, phòng chống căn bệnh thế kỉ AIDS hay cùng cộng đồng quốc tế đấu tranh chống lại những diễn biến phức tạp của hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu (hạn hán, xâm ngập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long) đang diễn ra ở Việt Nam và trên thế giới

Trang 32

Như vậy, có thể khẳng định trải qua nhiều thế hệ, qua nhiều thăng trầm của lịch

sử, lòng yêu nước đã trở thành truyền thống thiêng liêng, cao quý, đặc trưng của dân tộc Việt Nam Nó đã trở thành mạch nguồn chủ đạo chi phối suy nghĩ, tình cảm, hành

vi ứng xử, đạo lí của người Việt Nam Đúng như chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết và khái quát rằng: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi,

nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” [32,36]

* Giáo dục truyền thống yêu nước

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng răn dạy:

“Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”

(Trích “Lịch sử nước ta” của Hồ Chí Minh)

Đúng vậy, dân tộc Việt Nam là dân tộc có truyền thống lịch sử hàng ngàn năm Trong đó nổi bật nhất, oanh liệt nhất, được cộng đồng thế giới ngưỡng mộ là truyền thống truyền thống yêu nước - truyền thống đấu tranh anh dũng, quật cường, không bao giờ chịu khuất phục trước kẻ thù và đã đánh tan ý chí xâm lược của mọi kẻ thù hung bạo nhất ở các thời đại, giữ vững gấm vóc giang sơn và bảo vệ quyền độc lập tự chủ, nền văn hóa của dân tộc Để truyền thống đó tiếp tục có sức sống trong hiện tại và trường tồn cùng thời gian, chúng ta cần coi trọng hơn nữa công tác giáo dục truyền thống yêu nước cho mọi tầng lớp nhân dân trong đó có đối tượng học sinh THPT

Giáo dục truyền thống yêu nước được hiểu là sự tác động của những chủ thể giáo dục đến nhận thức, hiểu biết về truyền thống yêu nước của đối tượng được giáo dục, từ đó hình thành phẩm chất, năng lực hành động của đối tượng được giáo dục

Với ý nghĩa đó, việc giáo dục truyền thống yêu nước để truyền thống tốt đẹp

ấy thấm sâu vào trái tim, khối óc của mỗi học sinh là việc làm vô cùng cần thiết trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay Giáo dục truyền thống yêu nước là cơ sở, nền tảng trong việc thực hiện giáo dục truyền thống dân tộc, nâng cao lòng tự tôn dân tộc, giúp mỗi học sinh có nhìn nhận đúng đắn về lịch sử, tránh xa những thông tin sai trái, xuyên tạc lịch sử của các thế lực thù địch chống phá Đảng, Nhà nước ta

Trang 33

1.2.2 Tích hợp giáo dục truyền thống yêu nước trong dạy học môn GDCD ở trường THPT

1.2.2.1 Chương trình tích hợp nội dung giáo dục truyền thống yêu nước trong môn GDCD ở trường THPT

Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, tôi xin được đề xuất địa chỉ và nội dung cần tích hợp với học phần “Công dân với đạo đức” và học phần “Công dân với các vấn đề chính trị - xã hội” được thể hiện ở bảng sau:

Tên bài Địa chỉ tích hợp Nội dung tích hợp

- Mục 2: Trách nhiệm xây dựng Tổ quốc

- Về kỹ năng:

Biết tham gia một số hoạt động cụ thể ở trường học và ở địa phương thể hiện truyền thống yêu nước

- Về thái độ:

Tình cảm yêu quý, tự hào về quê hương, đất nước, có ý thức học tập, rèn luyện để góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước

- Mục 2: Những phương hướng

cơ bản nhằm tăng cường quốc phòng - an ninh

- Mục 3: Trách nhiệm của công dân đối với chính sách quốc phòng và an ninh

Trang 34

+ Hiểu được trách nhiệm của công dân trong việc thực hiện chính sách quốc phòng và an ninh của Nhà nước

+ Sẵn sàng tham gia giữ gìn trật tự,

an ninh và bảo vệ Tổ quốc đặc biệt sẵn sàng tham gia thực hiện nghĩa

Thứ nhất, sử dụng phương pháp đàm thoại: Đây là một phương pháp được sử dụng

phổ biến trong dạy học Phương pháp này có đặc trưng là việc truyền thụ và lĩnh hội tri thức mới được thực hiện thông qua quá trình giáo viên đặt câu hỏi, học sinh trả lời các câu hỏi do giáo viên đưa ra dưới sự gợi ý của giáo viên Sử dụng phương pháp đàm thoại giáo viên cần chuẩn bị cho 3 hoạt động sau:

Hoạt động 1: Đặt câu hỏi

Đặt câu hỏi là một khâu quan trọng để bài giảng thêm sinh động, hấp dẫn, lôi cuốn học sinh Để đặt câu hỏi phù hợp giáo viên cần nghiên cứu kỹ toàn bộ tri thức của phần kiến thức đó Câu hỏi do giáo viên đặt ra cần đảm bảo tính rõ ràng, dễ hiểu, phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh

Trang 35

Hoạt động 2: Học sinh suy nghĩ và trả lời

Muốn học sinh trả lời tốt câu hỏi giáo viên nêu ra, người giáo viên cần biết cách gợi ý, khích lệ học sinh để giúp học sinh tìm ra hướng trả lời câu hỏi, từ đó giúp học sinh hiểu được nội dung bài học

Hoạt động 3: Kết luận

Sau khi học sinh trả lời câu hỏi, giáo viên đưa ra những nhận xét, kết luận và bổ sung phần ý kiến trả lời của em để thống nhất những nội dung, vấn đề được đưa ra Đàm thoại trong phần này sẽ giúp học sinh điều chỉnh, bổ sung thêm kiến thức so với yêu cầu, nội dung bài học

Ví dụ: Khi giáo viên dạy bài 14 “Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, phần kiến thức “Biểu hiện của lòng yêu nước” giáo viên có thể đặt câu hỏi như sau:

Em hãy lấy một số ví dụ về những tấm gương cần cù, sáng tạo trong lao động

mà em biết?

Thứ hai, sử dụng phương pháp nêu vấn đề: Trước tiên cần hiểu vấn đề là gì?

“Vấn đề” là một trạng thái mà ở đó có mâu thuẫn giữa thực tế và mong muốn Vấn đề tồn tại dưới ba dạng cơ bản như sau:

Vấn đề sai lệch: Là khoảng cách giữa mong muốn và thực tế đạt được

Vấn đề tiềm tàng: Là điều chưa xảy ra nhưng vấn đề là có nguy cơ xảy ra

Vấn đề hoàn thiện: Là những cái đã tốt rồi nhưng đặt ra vấn đề là làm thế nào

để tốt hơn nữa

Sử dụng phương pháp nêu vấn đề nghĩa là giáo viên giúp học sinh xem xét, phân tích những tình huống có vấn đề và xác định những cách thức giải quyết tình huống đó nhằm kích thích tư duy, khả năng tìm tòi, sáng tạo của người học từ đó học sinh tiếp thu được tri thức và rèn luyện được kỹ năng, hình thành thái độ, tư tưởng

Hoạt động 1: Đặt vấn đề và đưa người học vào tình huống có vấn đề

Điều quan trọng nhất khi sử dụng phương pháp này là giáo viên phải nêu được câu hỏi nhằm tạo tình huống có vấn đề trong bài học Nhưng câu hỏi ở đây khác với câu hỏi trong phương pháp đàm thoại đó là câu hỏi có vấn đề yêu cầu học sinh giải quyết Lưu ý khi đặt câu hỏi ở phương pháp này là phải chú ý đến khả năng trả lời của học sinh, tránh những câu hỏi quá dễ hoặc quá khó đối với khả năng nhận thức của học sinh

Trang 36

Hoạt động 2: Nghiên cứu và giải quyết vấn đề

Để giải quyết được vấn đề, giáo viên có thể trình bày ngắn gọn những yêu cầu đặt

ra đối với học sinh, những câu hỏi dẫn dắt nhằm giúp học sinh hình dung ra vấn đề cần giải quyết Sau đó giáo viên giúp học sinh lập kế hoạch giải quyết vấn đề và thực hiện kế hoạch đó Việc giải quyết vấn đề cần có sự thống nhất giữa giáo viên và học sinh

Hoạt động 3: Kết luận vấn đề

Sau khi học sinh giải quyết được vấn đề, giáo viên cần tổ chức để học sinh thảo luận, nhận xét, đánh giá cách giải quyết vấn đề của các em Trong quá trình này, giáo viên có thể cùng học sinh đánh giá ý kiến của các em hoặc để các em tự đánh giá ý kiến của nhau

Ví dụ: Khi giáo viên dạy bài 14 “Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Giáo viên có thể đưa ra được tình huống phản ánh một vấn đề xã hội như sau:

Qua một số cuộc khảo sát gần đây, có một thực tế là hiện nay nhiều học sinh không thích học môn Lịch sử, không nắm được lịch sử dân tộc, điểm thi đại học môn lịch sử có những năm rất thấp Em giải thích như thế nào về hiện tượng trên?

Thứ ba, sử dụng phương pháp thảo luận nhóm: Phương pháp này là một phương

pháp dạy học tích cực, có ưu điểm nổi bật là giúp học sinh có thể tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho các em có thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm trong việc giải quyết một vấn đề có liên quan đến nội dung bài học

Hoạt động 1: Chuẩn bị nội dung thảo luận

Khâu chuẩn bị là khâu rất quan trọng quyết định đến việc thành công của phương pháp thảo luận nhóm Trước khi đưa ra vấn đề cho học sinh thảo luận giáo viên cần xem xét xem vấn đề đó có phù hợp với nội dung bài học không? Vấn đề thảo luận có nhận được sự hưởng ứng tích cực của học sinh không? Việc đưa ra vấn đề thảo luận có thể thành công không? Nếu những vấn đề giáo viên đặt ra có thể giải quyết được thì tiến hành thảo luận

Hoạt động 2: Tổ chức thảo luận nhóm

Để quá trình thảo luận nhóm đạt hiệu quả giáo viên nên lựa chọn cách mở đầu khéo léo và hấp dẫn để tạo hứng thú học tập cho học sinh

Trước khi thảo luận, giáo viên cần chia nhóm và giao nhiệm vụ cụ thể cho các nhóm Trong quá trình học sinh thảo luận giáo viên cần có những gợi ý, định hướng giúp

Trang 37

học sinh dễ hình dung vấn đề thảo luận Sau khi các nhóm cử đại diện trình bày xong, giáo viên cần đánh giá, bổ sung ý kiến chốt lại ý kiến của học sinh và nêu ra kết luận cuối cùng Qua quá trình thảo luận nhóm sẽ giúp học sinh hình thành tinh thần làm việc tập thể, ý thức làm việc theo nhóm

Ví dụ: Khi dạy bài 10 “Quan niệm về đạo đức” Giáo viên có thể chia lớp thành

3 nhóm để thảo luận

+ Nhóm 1: Bằng hiểu biết của bản thân, em hãy kể tên những người dù rất có tài trong các lĩnh vực khác nhau (doanh nhân, bác sĩ, giáo viên, ca sĩ ) nhưng họ lại là những người có đạo đức rất kém?

+ Nhóm 2: Khi bắt gặp những hiện tượng: con cái xúc phạm, ngược đãi cha mẹ hoặc trường hợp cha mẹ đánh đập, xúi giục con cái làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội… Em có suy nghĩ gì?

+ Nhóm 3: Đạo đức có vai trò gì đối với xã hội? Tình trạng trẻ vị thành niên lao vào tệ nạn xã hội như hiện nay có phải do đạo đức bị xuống cấp không? Xã hội cần phải làm gì?

Thứ tư, sử dụng phương pháp trực quan: Trong dạy học hiện đại phương pháp trực

quan là một phương pháp mang lại hiệu quả cao Đây là phương pháp giáo viên sử dụng các phương tiện dạy học tác động trực tiếp đến các cơ quan cảm giác của học sinh, giúp các em tiếp thu tri thức một cách nhẹ nhàng, sinh động, tránh gây sự nhàm chán

+ Hoạt động 1: Chuẩn bị đồ dùng trực quan

Chuẩn bị đồ dùng trực quan là khâu quan trọng hàng đầu của phương pháp trực quan Để chuẩn bị tốt đồ dùng trực quan đòi hỏi giáo viên phải có sự đầu tư thời gian, công sức, chuẩn bị hết khả năng của mình Còn đối với những đồ dùng dễ làm giáo viên có thể giao cho học sinh làm ở nhà

+ Hoạt động 2: Dạy học với đồ dùng trực quan

Khi dạy học với đồ dùng trực quan, trước hết giáo viên đưa ra những hình ảnh trực quan phù hợp với nội dung bài học và phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh, sau đó giáo viên thuyết trình, mô tả ý nghĩa của những hình ảnh trực quan, giúp học sinh hiểu được nội dung tri thức một cách rõ ràng nhất

Trang 38

Ví dụ: Khi dạy bài 14 “Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, phần kiến thức “Truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam” giáo viên cho học sinh xem một số hình ảnh về các vị anh hùng dân tộc và hoạt động đấu tranh quật cường của nhân dân ta trong các cuộc kháng chiến, sau đó giáo viên yêu cầu học sinh trình bày một cách ngắn gọn hiểu biết của mình về các hình ảnh và sự kiện trên để tăng tính hấp dẫn cho bài học

- Trên đây là một số phương pháp dạy học hiện đại mà chúng tôi sử dụng khi dạy nội dung tích hợp giáo dục truyền thống yêu nước cho học sinh Để bài học đạt kết quả cao nhất, bên cạnh các phương pháp dạy học trên, giáo viên còn vận dụng linh hoạt các kỹ thuật dạy học hiện đại

* Kết hợp sử dụng các kỹ thuật dạy học hiện đại:

Kỹ thuật dạy học hiện đại là những kỹ thuật dạy học có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh, giúp các em hình thành năng lực tư duy sáng tạo và tinh thần hợp tác trong quả trình quá trình làm việc Một

số kỹ thuật dạy học được sử dụng phổ biến trong quá trình dạy học, cụ thể là:

Kỹ thuật động não: Động não (công não) là một kỹ thuật nhằm huy động những tư

tưởng mới mẻ, độc đáo về một chủ đề của các thành viên trong thảo luận Các thành viên được cổ vũ tham gia một cách tích cực, không hạn chế các ý tưởng

Ví dụ: Khi dạy bài 10 “Quan niệm về đạo đức”, phần “Vai trò của đạo đức đối với

xã hội”, giáo viên có thể đưa ra câu hỏi: Tình trạng trẻ vị thành niên lao vào tệ nạn xã hội như hiện nay có phải do đạo đức bị xuống cấp không? Xã hội cần phải làm gì?

Đây là một dạng câu hỏi mở do đó học sinh đưa ra nhiều câu trả lời khác nhau phù hợp với khả năng tư duy của mình

Kỹ thuật XYZ: Đây là kỹ thuật nhằm phát huy tính tích cực trong thảo luận nhóm

X là số người trong nhóm, Y là ý kiến mỗi người cần đưa ra, Z là số phút dành cho mỗi người

Ví dụ: Khi giảng dạy bài 14 “Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Để học sinh hiểu rõ trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc, giáo viên có thể đưa ra câu hỏi sau: Là học sinh trung học phổ thông, em thấy mình cần làm gì để thực hiện nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc?

Trang 39

Sau đó giáo viên chia lớp thành 3 nhóm với số lượng học sinh như nhau, mỗi học sinh sẽ viết 5 đáp án ra giấy trong vòng 5 phút Học sinh trình bày ý kiến của mình, giáo viên tổng kết ý kiến của các em và đưa ra những kết luận cần thiết

Kỹ thuật tranh luận, ủng hộ - phản đối: Đây là một kỹ thuật dùng trong thảo

luận, trong đó đề cập về một vấn đề có chứa đựng xung đột Có nhiều ý kiến khác nhau được đưa ra, thậm chí có những ý kiến đối lập nhau nhằm mục đích xem xét chủ đề dưới nhiều góc độ khác nhau Mục tiêu của tranh luận không phải là nhằm “đánh bại”

ý kiến đối lập mà nhằm xem xét chủ đề dưới nhiều phương diện khác nhau

Ví dụ: Khi dạy về khái niệm “Tình yêu”, bài 12 “Công dân với tình yêu, hôn nhân, gia đình” Giáo viên có thể dẫn dắt và đưa ra câu hỏi: Trong xã hội hiện nay, hiện tượng đồng tính xuất hiện ngày càng phổ biến, trong khi đó khái niệm “tình yêu” lại viết: “Tình yêu là sự rung cảm và quyến luyến sâu sắc giữa 2 người khác giới” Em đồng tình hay không đồng tình với khái niệm trên? Vì sao?

Với câu hỏi trên, giáo viên sẽ chia học sinh thành 2 phe đối lập nhau, một phe đồng tình và một phe không đồng tình Sau đó cho các em tranh luận và đưa ra lý do, cuối cùng là đưa ra kết luận

Kỹ thuật tia chớp: Đây là kỹ thuật huy động sự tham gia của cả lớp đối với một câu

hỏi nào đó, hoặc nhằm thu thập thông tin phản hồi để cải thiện tình trạng giao tiếp và không khí học tập trong lớp học Ở đây học sinh sẽ nêu ra các ý kiến một cách ngắn gọn và nhanh chóng để trả lời câu hỏi hoặc tình trạng vấn đề

Ví dụ: Khi dạy bài 12: “Công dân với tình yêu, hôn nhân, gia đình”, giáo viên

có thể đưa ra câu hỏi: Em hãy lấy một số câu ca dao, tục ngữ, thơ nói về nỗi nhớ trong tình yêu Giáo viên có thể khích lệ học sinh bằng cách cho điểm nếu các em trả lời tốt câu hỏi

* Kiểm tra, đánh giá trong dạy học tích hợp giáo dục truyền thống yêu nước cho học sinh THPT

Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh là một khâu bắt buộc, đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy và học Thông qua kiểm tra, đánh giá, giáo viên sẽ nắm bắt được mức độ thu nhận kiến thức của học sinh và hiệu quả giảng

Trang 40

dạy của giáo viên Khi tiến hành tích hợp giáo dục truyền thống yêu nước cho học sinh THPT rất cần kiểm tra, đánh giá về khả năng, thái độ và hành động thực tế của các em Thông qua đó, giáo viên sẽ kịp thời điều chỉnh phương pháp dạy của mình cho phù hợp

và mang hiệu quả cao hơn

Bên cạnh những cách thức kiểm tra, đánh giá truyền thống như kiểm tra miệng, kiểm tra 15 phút, kiểm tra 1 tiết mà chủ yếu kiểm tra kiến thức đơn thuần thì trong quá trình dạy học tích hợp cũng cần đan xen những cách kiểm tra, đánh giá mới, tạo hứng thú học tập cho học sinh Những hình thức kiểm tra, đánh giá giáo viên nên sử dụng trong dạy học tích hợp là: kiểm tra trắc nghiệm, đặt các câu hỏi khuyến khích tư duy,

ra các bài tập tình huống, hay làm bài tập nghiệm thu ở nhà Những cách kiểm tra, đánh giá này giúp giáo viên không chỉ đánh giá được kiến thức của học sinh một cách toàn diện, mà còn đánh giá được kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tế của học sinh Vì thế, trong khuôn khổ của bài tích hợp giáo dục truyền thống yêu nước, tôi đã kết hợp nhiều hình thức kiểm tra đánh giá khác nhau

Kiến thức môn Giáo dục công dân nói chung, học phần “Công dân với đạo đức”

và học phần “Công dân với các vấn đề chính trị - xã hội” là phần kiến thức gần gũi, thân thuộc với học sinh Tuy nhiên không phải học sinh nào cũng hứng thú với các phần này Do đó khi dạy tích hợp giáo dục truyền thống yêu nước, để học sinh có sự sáng tạo và hứng thú giáo viên phải sử dụng nhiều cách thức khác nhau Vì vậy, trong quá trình dạy giáo viên cần kết hợp linh hoạt những hình thức kiểm tra, đánh giá khác nhau, ở những thời điểm khác nhau trong một tiết dạy

1.3 Thực trạng tích hợp nội dung giáo dục truyền thống yêu nước trong môn Giáo dục công dân ở trường THPT Chuyên Thái Nguyên

1.3.1 Giới thiệu vài nét về trường THPT Chuyên Thái Nguyên

Trường THPT Chuyên Thái Nguyên được thành lập ngày 15/08/1988, tiền thân

là trường Phổ thông trung học Năng Khiếu Bắc Thái, đóng trên địa bàn phường Quang Trung - Thành phố Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên Trải qua 28 năm xây dựng và trưởng thành, trường THPT Chuyên Thái Nguyên tự hào là ngôi trường có bề dày thành tích, dẫn đầu ngành Giáo dục - Đào tạo Thái Nguyên Ngày mới thành lập trường chỉ có

4 lớp chuyên là Toán, Lý, Văn, Nga, với đội ngũ giáo viên chỉ có 10 thầy cô giáo và 81 học sinh Hiện nay, nhà trường đã có một sự trưởng thành nhanh chóng với 118 thầy cô giáo, 36 lớp thuộc 12 môn chuyên khác nhau với 1065 học sinh

Ngày đăng: 19/12/2016, 16:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Thị Lan Anh (2014), Tích hợp giáo dục đạo đức gia đình trong dạy học môn GDCD cho học sinh trường THPT Việt Trì - Phú Thọ, Luận văn thạc sĩ Triết học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tích hợp giáo dục đạo đức gia đình trong dạy học môn GDCD cho học sinh trường THPT Việt Trì - Phú Thọ
Tác giả: Hoàng Thị Lan Anh
Năm: 2014
2. Trần An Bình (2011), “Vấn đề đạo đức cách mạng của sinh viên ở tỉnh Hưng Yên hiện nay”, luận văn thạc sỹ chuyên ngành Triết học tại học viện Chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vấn đề đạo đức cách mạng của sinh viên ở tỉnh Hưng Yên hiện nay”
Tác giả: Trần An Bình
Năm: 2011
3. Vũ Đình Bảy (2011), Học và thực hành theo chuẩn kiến thức, kỹ năng GDCD 10, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học và thực hành theo chuẩn kiến thức, kỹ năng GDCD 10
Tác giả: Vũ Đình Bảy
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
4. Vũ Đình Bảy (2011), Học và thực hành theo chuẩn kiến thức, kỹ năng GDCD 11, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học và thực hành theo chuẩn kiến thức, kỹ năng GDCD 11
Tác giả: Vũ Đình Bảy
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
5. Vũ Đình Bảy (2012), “Lý luận dạy học môn Giáo dục công dân ở trường phổ thông” Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lý luận dạy học môn Giáo dục công dân ở trường phổ thông”
Tác giả: Vũ Đình Bảy
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2012
6. Vũ Đình Bảy, Đặng Xuân Điều (2014), Thiết kế bài dạy học Giáo dục công dân 10 theo chuẩn kiến thức, kỹ năng, Nxb Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài dạy học Giáo dục công dân 10 theo chuẩn kiến thức, kỹ năn
Tác giả: Vũ Đình Bảy, Đặng Xuân Điều
Nhà XB: Nxb Đại học Huế
Năm: 2014
7. Vũ Đình Bảy, Đặng Xuân Điều (2014), Thiết kế bài dạy học Giáo dục công dân 11 theo chuẩn kiến thức, kỹ năng, Nxb Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài dạy học Giáo dục công dân 11 theo chuẩn kiến thức, kỹ năng
Tác giả: Vũ Đình Bảy, Đặng Xuân Điều
Nhà XB: Nxb Đại học Huế
Năm: 2014
8. Mai Thị Ngọc Bích (2009), Phát huy giá trị đạo đức truyền thống của thanh niên trong việc xây dựng đạo đức mới cho sinh viên Đại học Thái nguyên hiện nay, Luận văn thạc sĩ Triết học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy giá trị đạo đức truyền thống của thanh niên trong việc xây dựng đạo đức mới cho sinh viên Đại học Thái nguyên hiện nay
Tác giả: Mai Thị Ngọc Bích
Năm: 2009
9. Mai Văn Bính (chủ biên), Lê Thanh Hà, Nguyễn Thị Thanh Mai, Lưu Thu Thủy, Giáo dục công dân 10, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục công dân 10
Nhà XB: Nxb Giáo dục
10. Mai Văn Bính (chủ biên), Phạm Văn Hùng, Phan Thanh Phố, Vũ Hồng Tiến, Phí Văn Thức (2013), Giáo dục công dân 11, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục công dân 11
Tác giả: Mai Văn Bính (chủ biên), Phạm Văn Hùng, Phan Thanh Phố, Vũ Hồng Tiến, Phí Văn Thức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2013
11. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Tài liệu sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường THPT, Nxb Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường THPT
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Đại học Thái Nguyên
Năm: 2011
13. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tài liệu hội thảo “Kinh nghiệm quốc tế về phát triển chương trình giáo dục phổ thông” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm quốc tế về phát triển chương trình giáo dục phổ thông
14. Chính phủ (2014), Đề án “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
16. Nguyễn Phúc Chỉnh (2012), Tích hợp trong dạy học Sinh học, Nxb Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tích hợp trong dạy học Sinh học
Tác giả: Nguyễn Phúc Chỉnh
Nhà XB: Nxb Đại học Thái Nguyên
Năm: 2012
17. Dương Tự Đam (2008), “Tuổi trẻ Việt Nam với chủ nghĩa yêu nước trong lịch sử dân tộc” Nxb Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tuổi trẻ Việt Nam với chủ nghĩa yêu nước trong lịch sử dân tộc”
Tác giả: Dương Tự Đam
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 2008
19. Hồ Thanh Diện (2006), Thiết kế bài giảng GDCD 10, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng GDCD 10
Tác giả: Hồ Thanh Diện
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2006
20. Hồ Thanh Diện (2007), Thiết kế bài giảng GDCD 11, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng GDCD 11
Tác giả: Hồ Thanh Diện
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2007
21. Phạm Văn Đồng, Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
22. Nguyễn Văn Đường, Tạp chí Giáo dục số 39/ 2002, Những điểm mới trong chương trình SGK Ngữ văn 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Giáo dục số 39/ 2002
23. Giselle O. Martin - Kniep (2004), “Tám đổi mới để trở thành người giáo viên giỏi” Lê Văn Canh (biên dịch), Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tám đổi mới để trở thành người giáo viên giỏi
Tác giả: Giselle O. Martin - Kniep
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Bảng kết quả học tập học kỳ I năm học 2015- 2016 - Tích hợp nội dung giáo dục truyền thống yêu nước trong dạy học môn giáo dục công dân cho học sinh trường THPT chuyên thái nguyên
Bảng 2.1 Bảng kết quả học tập học kỳ I năm học 2015- 2016 (Trang 65)
Bảng 2.2: Bảng kết quả học tập học kỳ I năm học 2015- 2016 - Tích hợp nội dung giáo dục truyền thống yêu nước trong dạy học môn giáo dục công dân cho học sinh trường THPT chuyên thái nguyên
Bảng 2.2 Bảng kết quả học tập học kỳ I năm học 2015- 2016 (Trang 66)
Bảng 2.3: Bảng kết quả học tập khối 10 sau lần thực nghiệm thứ 1 - Tích hợp nội dung giáo dục truyền thống yêu nước trong dạy học môn giáo dục công dân cho học sinh trường THPT chuyên thái nguyên
Bảng 2.3 Bảng kết quả học tập khối 10 sau lần thực nghiệm thứ 1 (Trang 81)
Bảng 2.5: Bảng kết quả học tập khối 10 sau lần thực nghiệm thứ 2 - Tích hợp nội dung giáo dục truyền thống yêu nước trong dạy học môn giáo dục công dân cho học sinh trường THPT chuyên thái nguyên
Bảng 2.5 Bảng kết quả học tập khối 10 sau lần thực nghiệm thứ 2 (Trang 83)
Bảng 2.8. Bảng thống kê ý kiến của phụ huynh sau thực nghiệm - Tích hợp nội dung giáo dục truyền thống yêu nước trong dạy học môn giáo dục công dân cho học sinh trường THPT chuyên thái nguyên
Bảng 2.8. Bảng thống kê ý kiến của phụ huynh sau thực nghiệm (Trang 88)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w