1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác vàng gốc đến môi trường tại xã minh lương, huyện văn bàn, tỉnh lào cai

84 1,1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Huyện Văn Bàn là một trong những huyện có trữ lượng vàng lớn trên địa bàn tỉnh Lào Cai, hoạt động khai thác vàng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc đóng góp vào nguồn thu ngân sách

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM



NGÔ QUANG NAM

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG

KHAI THÁC VÀNG GỐC ĐẾN MÔI TRƯỜNG TẠI

XÃ MINH LƯƠNG, HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Thái Nguyên, 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM



NGÔ QUANG NAM

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG

KHAI THÁC VÀNG GỐC ĐẾN MÔI TRƯỜNG TẠI

XÃ MINH LƯƠNG, HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI

Chuyên ngành: Khoa học môi trường

Mã số: 60 44 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Chí Hiểu

Thái Nguyên, 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng: Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa hề bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và thông tin trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2016

Học viên thực hiện

Ngô Quang Nam

Trang 4

Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể quý Thầy cô trong Khoa Môi trường và Phòng Đào tạo - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và cho đến khi thực hiện luận văn

Xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, những người đã không ngừng động viên, hỗ trợ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn

Cuối cùng, tôi xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn đến các anh chị và các bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh

Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình

và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp quí báu của quí thầy cô và các bạn để luận văn của tôi được hoàn thiện tốt hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2016

Học viên thực hiện

Ngô Quang Nam

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU viii

DANH MỤC CÁC HÌNH (HÌNH VẼ, ẢNH CHỤP, ĐỒ THỊ) ix

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu của đề tài 1

3 Ý nghĩa của đề tài 2

3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

1.1 Cơ sở lý luận 3

1.2 Cơ sở pháp lý 5

1.3 Tình hình khai thác vàng trên thế giới và tại Việt Nam 6

1.3.1 Tổng quan về vàng 6

1.3.1.1 Phương pháp tính tuổi vàng 6

1.3.1.2 Phương pháp thu hồi vàng 7

1.3.2 Tình hình khai thác vàng trên thế giới 8

1.3.3 Tình hình khai thác vàng ở Việt Nam 11

1.3.3.1 Vàng sa khoáng 11

1.3.3.2 Vàng gốc 12

1.4 Ảnh hưởng của việc khai thác khoáng sản đến môi trường 15

1.4.1 Tác động của hoạt động khai thác mỏ đến môi trường nước 15

1.4.2 Ảnh hưởng của hoạt động khai thác mỏ tới môi trường đất 17

1.4.3 Tác động của các dự án khai thác mỏ lên chất lượng không khí 18

1.4.4 Ô nhiễm ở một số vùng do khai thác vàng ở Việt Nam 20

Trang 6

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 22

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 22

2.2 Địa điểm thời gian thực hiện 22

2.3 Nội dung 22

2.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Minh Lương, huyện Văn Bàn,

tỉnh Lào Cai 22

2.3.2 Hiện trạng khai thác vàng gốc mỏ vàng Minh Lương 22

2.3.3 Ảnh hưởng của việc khai thác vàng gốc tại mỏ vàng Minh Lương tới môi trường theo kết quả phân tích 23

2.3.4 Ảnh hưởng của việc khai thác vàng gốc tại mỏ vàng Minh Lương tới môi trường theo ý kiến người dân 23

2.3.5 Đề xuất các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường do hoạt động khai thác vàng gốc tại mỏ vàng Minh Lương 23

2.4 Phương pháp nghiên cứu 23

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu, thông tin thứ cấp 23

2.4.2 Phương pháp quan trắc, phân tích môi trường 23

2.4.2.1 Mẫu đất: 03 mẫu 23

2.4.2.2 Mẫu nước: 7 mẫu 24

2.4.2.3 Mẫu không khí: 03 mẫu 24

2.4.3 Phương pháp điều tra phỏng vấn người dân quanh khu vực khai thác 25

2.4.4 Các thiết bị quan trắc và phân tích 25

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Minh Lương, huyện Văn Bàn 27

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 27

3.1.1.1 Vị trí địa lý 27

3.1.1.2 Địa hình, địa mạo 28

3.1.1.3 Khí hậu, thời tiết 29

Trang 7

3.1.1.4 Thủy văn 30

3.1.1.5 Tài nguyên thiên nhiên 30

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 32

3.1.2.1 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế 32

3.1.2.2 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập 33

3.1.2.3 Cơ sở hạ tầng 33

3.1.2.4 Văn hóa, giáo dục, y tế 34

3.2 Hiện trạng khai thác vàng gốc mỏ vàng Minh Lương 35

3.2.1 Tình hình khai thác, sản lượng khai thác vàng tại mỏ vàng Minh Lương 35

3.2.2 Quy trình, công nghệ khai thác 36

3.2.2.1 Quá trình tuyển quặng với công nghệ tuyển trọng lực kết hợp tuyển nổi 36

3.2.2.2 Quy trình sản xuất vàng kim loại 38

3.2.3 Loại hình chất thải 40

3.2.4 Tải lượng chất thải, chất gây ô nhiễm từ nguồn thải 41

3.2.5 Tải lượng ô nhiễm nước 42

3.3 Ảnh hưởng của việc khai thác vàng gốc tại mỏ vàng Minh Lương tới môi trường theo kết quả phân tích 43

3.3.1 Ảnh hưởng tới môi trường nước 43

3.3.1.1 Đánh giá chất lượng nước mặt nước mặt 43

3.3.1.2 Đánh giá chất lượng nước ngầm quanh khu vực khai thác 44

3.3.1.3 Đánh giá chất lượng nước thải 45

3.3.2 Ảnh hưởng tới môi trường đất 50

3.3.3 Ảnh hưởng tới môi trường không khí 52

3.3.3.1 Kết quả phân tích mẫu không khí trung tâm khu vực xây dựng nhà máy tuyển quặng 52

3.3.3.2 Kết quả phân tích mẫu không khí trung tâm khu vực khai thác 53

3.3.3.3 Kết quả phân tích mẫu không khí tại khu dân cư gần khai trường 55

3.4 Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác vàng tới môi trường và sức khỏe người dân thông qua ý kiến người dân 56

3.4.1 Về nhận thức chung 56

Trang 8

3.4.2 Ảnh hưởng của việc khai thác vàng tới môi trường 57

3.4.3 Ảnh hưởng của việc khai thác tới sức khỏe của người dân 58

3.5 Đề xuất các biện pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường do hoạt động khai thác tại khu vực mỏ 59

3.5.1 Giải pháp về thể chế chính sách 59

3.5.1.1 Giải pháp tài chính 59

3.5.1.2 Giải pháp tuyền truyền giáo dục 60

3.5.2 Giải pháp về công nghệ kỹ thuật 60

3.5.3 Các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường cụ thể 60

3.5.3.1 Đối với môi trường nước 60

3.5.3.2 Đối với môi trường đất 61

3.5.3.3 Đối với môi trường không khí 61

3.5.3.4 Khống chế ô nhiễm do phát sinh chất thải 63

3.5.3.5 Giảm thiểu tác động tới môi trường sinh thái 63

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 65

1 Kết luận 65

2 Đề nghị 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

I Tiếng Việt 67

II Tiếng Anh 68

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 1.1: Các nước đóng góp nhiều nhất vào sản lượng vàng thế giới năm 2000 9

Bảng 3.1: Khối lượng quặng khai thác mỏ vàng gốc Minh Lương 36

Bảng 3.2: Các nguồn gây ô nhiễm nước 40

Bảng 3.3: Các nguồn chất thải và hoá chất 40

Bảng 3.4: Tải lượng ô nhiễm khí trong quá trình khai thác mỏ 41

Bảng 3.5: Thải lượng khí thải theo khói lò nung do quá trình đốt cháy nhiên liệu 41

Bảng 3.6: Tổng thải lượng bụi và khí thải của quá trình nung quặng tinh vàng 42

Bảng 3.7: Các nguồn nước thải và lượng ô nhiễm tại mỏ vàng Minh Lương 42

Bảng 3.8: Kết quả phân tích mẫu nước mặt khu vực khai thác năm 2016 43

Bảng 3.9: Kết quả phân tích nước mặt khu vực khai thác những năm gần đây 43

Bảng 3.10: Kết quả phân tích môi trường nước ngầm khu vực khai thác năm 2016 44

Bảng 3.11: Kết quả phân tích mẫu nước thải khu vực cửa lò khai thác năm 2016 46

Bảng 3.12: Kết quả phân tích chất lượng nước thải khu vực cửa lò khai thác những năm gần đây 46

Bảng 3.13: Kết quả phân tích chất lượng nước khu vực hồ thải năm 2016 48

Bảng 3.14: Kết quả phân tích chất lượng nước thải khu vực hồ thải những năm

gần đây 49

Bảng 3.15: Kết quả phân tích môi trường đất năm 2016 51

Bảng 3.16: Kết quả phân tích môi trường không khí tại khu vực nhà máy tuyển quặng năm 2016 52

Bảng 3.17: Kết quả phân tích chất lượng môi trường không khí khu vực nhà máy tuyển quặng những năm gần đây 52

Bảng 3.18: Kết quả phân tích môi trường không khí trung tâm tại khai trường khai thác năm 2016 53

Bảng 3.19: Kết quả phân tích môi trường không khí trong khu vực khai trường khai thác những năm gần đây 54

Bảng 3.20: Kết quả phân tích môi trường không khí tại khu dân cư đường vào tại gần khai trường năm 2016 55

Bảng 3.21: Kết quả phân tích môi trường không khí tại khu khu dân cư đường vào khai trường khai thác qua các năm 55

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH (HÌNH VẼ, ẢNH CHỤP, ĐỒ THỊ)

Hình 3.1: Bản đồ vị trí của dự án 28

Hình 3.2: Sơ đồ quy trình tuyển quặng 37

Hình 3.3: Sơ đồ công nghệ chế biến quặng tinh tuyển nổi Vàng 39

Hình 3.4: Kết quả phân tích pH, TSS, BOD5 những năm gần đây 44

Hình 3.5: Kết quả phân tích pH, BOD5, TSS, tổng dầu mỡ trong nước thải khu vực khai thác nhưng năm gần đây 47

Hình 3.6: Kết quả phân tích Fe, pb, Cd, As, Au trong nước thải khu vực khai thác nhưng năm gần đây 47

Hình 3.7: Kết quả phân tích pH, BOD5, TSS, tổng dầu mỡ trong nước thải khu vực hồ thải những năm gần đây 49

Hình 3.8: Kết quả phân tích Fe, pb, Cd, As trong nước thải khu vực hồ thải nhưng năm gần đây 50

Hình 3.9: Kết quả phân tích bụi, SO2,NO2, CO trong không khí khu vực nhà máy tuyển quặng những năm gần đây 53

Hình 3.10: Kết quả phân tích bụi, SO2 NO2, CO trong không khí khu vực khai những năm gần đây 54

Hình 3.11: Kết quả phân tích bụi, SO2 NO2, CO trong không khí khu vực dân cư đường vào khai trường khai thác những năm gần đây 56

Hình 3.12: Mức độ quan tâm của người dân về môi trường 57

Hình 3.13: Biểu đồ thể hiện số giá của người dân về mức độ ô nhiễm môi trường 57

Hình 3.14: Các loại bệnh thường gặp 59

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Trong những năm vừa qua, ngành công nghiệp khai khoáng nói chung và ngành công nghiệp khai thác vàng nói riêng đã phát triển một cách nhanh chóng, chiếm giữ một vai trò quan trọng trọng sự nghiệp phát triển kinh tế của nước Sự phát triển của hoạt động khai thác vàng đã góp phần nâng cao sản lượng vàng thương mại cũng như nguồn dự trữ quốc gia, đồng thời tạo công ăn việc làm cho một lượng lớn lao động, góp phần ổn định an sinh xã hội Song, bên cạnh những lợi ích đó, chúng ta cũng đang phải đối mặt với nhiều vấn đề về môi trường do hoạt động khai thác và chế biến vàng gây ra

Trong quá trình khai thác phục vụ cho lợi ích của mình, con người đã làm thay đổi môi trường xung quanh Yếu tố chính gây tác động đến môi trường là bãi thải, khí độc hại, bụi và nước thải làm phá vỡ cân bằng điều kiện sinh thái, đã được hình thành từ hàng chục triệu năm, dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường đang là vấn đề cấp bách mang tính chất chính trị và xã hội hiện nay

Huyện Văn Bàn là một trong những huyện có trữ lượng vàng lớn trên địa bàn tỉnh Lào Cai, hoạt động khai thác vàng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc đóng góp vào nguồn thu ngân sách của địa phương, xong việc khai thác vàng cũng

là nguyên nhân chính làm cho các vấn đề môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng ngày càng trở nên bức xúc ở địa phương Vì vậy, việc xác định rõ những ảnh hưởng xấu đó để tìm ra các biện pháp khắc phục là vô cùng cấp thiết hiện nay

Xuất phát từ thực tế nói trên và nguyện vọng của bản thân Được sự nhất trí của Phòng Đào tạo - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi tiến hành nghiên

cứu đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác vàng gốc đến môi trường tại xã Minh Lương, huyện Văn Bàn, Tỉnh Lào Cai”

2 Mục tiêu của đề tài

- Đánh giá được thực trạng tình hình khai thác khoáng sản Vàng tại mỏ vàng Minh Lương - huyện Văn Bàn - tỉnh Lào Cai, xác định chính xác những ảnh hưởng của việc khai thác vàng tới môi trường xung quanh

Trang 13

- Đề xuất các giải pháp cho đơn vị tổ chức khai thác nhằm giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực của hoạt động khai thác tới môi trường và con người Đưa ra được các kiến nghị hữu ích góp phần tăng cường công tác quản lý môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản tại khu vực

3 Ý nghĩa của đề tài

3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Cung cấp một cách hệ thống, khách quan về hoạt động khai thác vàng đến môi trường tại khu vực khai thác

- Vận dụng các lý thuyết đã học vào thực tiễn cuộc sống

- Nâng cao kỹ năng nghiên cứu thực tế phục vụ quá trình hoạt động chuyên môn trong quá trình công tác

- Luận văn là tài liệu tham khảo cho quá trình học tập và nghiên cứu khoa học về các lĩnh vực liên quan

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Khái quát được toàn cảnh hiện trạng khai thác khoáng sản và sự thay đổi theo thời gian của khu khai thác

- Đưa ra được các tác động của hoạt động khai thác vàng tới môi trường để

từ đó giúp cho đơn vị tổ chức có các biện pháp quản lý, ngăn ngừa, giảm thiểu các tác động xấu tới môi trường, cảnh quan và con người

- Cung cấp số liệu làm cơ sở cho công tác lập kế hoạch xây dựng chính sách bảo vệ môi trường và kế hoạch phát triển kinh tế của tỉnh

- Nâng cao nhận thức, tuyên truyền và giáo dục về bảo vệ môi trường cho mọi thành viên tham gia hoạt động khoáng sản

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận

- Khái niệm môi trường:

Theo khoản 1 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi trường Việt Nam năm 2014, môi trường được định nghĩa như sau: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên

và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”.[7]

- Khái niệm Quy chuẩn kỹ thuật môi trường

Theo khoản 5 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi trường Việt năm 2014: “Quy chuẩn

kỹ thuật môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản bắt buộc áp dụng để bảo vệ môi trường”.[7]

- Khái niệm tiêu chuẩn môi trường:

Theo khoản 6 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi trường Việt Nam năm 2014: “Tiêu chuẩn môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật

và quản lý được các cơ quan nhà nước và các tổ chức công bố dưới dạng văn bản tự

nguyện áp dụng để bảo vệ môi trường”.[7]

- Khái niệm ô nhiễm môi trường:

Theo khoản 8 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi trường Việt Nam năm 2014: “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật”.[7]

Đất là một thành phần quan trọng của môi trường tự nhiên bởi vì sự sống của con người và động thực vật phụ thuộc vào đất Trên quan điểm sinh thái học thì đất

là một tài nguyên tái tạo, là vật mang của nhiều hệ sinh thái khác trên trái đất

“Ô nhiễm đất là sự làm biến đổi thành phần, tính chất của đất gây ra bởi những tập quán phản vệ sinh của các hoạt động sản xuất nông nghiệp với những phương thức canh tác khác nhau, và do thải bỏ không hợp lí các chất cặn bã đặc và

Trang 15

lỏng vào đất, ngoài ra ô nhiễm đất còn do sự lắng đọng của các chất gây ô nhiễm không khí lắng xuống đất (theo nước mưa) ”[3]

Nước là yếu tố quan trọng hàng đầu cho sự sống, tồn tại và phát triển Nước đã được xác định là tài nguyên quan trọng thứ hai sau tài nguyên con người Thế nhưng, tài nguyên quý giá này đang bị đe dọa nghiêm trọng cả về số lượng và chất lượng

“Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý - hoá học

- sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật Làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất”.[3]

Không khí trong khí quyển mà chúng ta đang hít thở là không khí ẩm, bao gồm hỗn hợp các chất ở dạng khí có thể tích gần như không đổi và có chứa một lượng hơi nước nhất định tùy thuộc vào nhiệt độ và áp suất khí quyển Ở điều kiện bình thường, không khí (chưa bị ô nhiễm) gồm các thành phần cơ bản là 78% Nitơ, 21% Ôxy, 1% Argon, và một số khí khác như CO2, Neon, Helium Xenon, Hydro, Ozôn, hơi nước

Ô nhiễm không khí không phải vấn đề mới phát hiện ra, nó đã được nói đến cách đây hàng thế kỷ Hơn 300 năm trước đây, nhà khoa học Jonh Evalyn, chuyên bút ký và ghi chép khoa học đã minh hoạ với độ chính xác cao về tác động của ô nhiễm môi trường không khí do sự đốt cháy của nhiên liệu gây ra như làm đục bầu trời, giảm bớt bức xạ mặt trời chiếu xuống Trái đất, làm con người bị đau yếu và tử vong, phiền muộn và lo âu vì hít thở phải bụi, khói, khí độc và nó còn gây ra han gỉ vật liệu (Katyal và Satake, 1989)

Vào những năm 50 và 60 của thế kỷ XX, ô nhiễm không khí chỉ là hiện tượng địa phương, diễn ra chủ yếu ở nơi có nguồn ô nhiễm như các thành phố và khu công nghiệp Cho đến năm 70 và 80, người ta nhận thấy, ô nhiễm không khí có thể tác động rất xa, từ khu vực này đến khu vực khác, từ nhà máy đến khu dân cư,

từ thành thị đến nông thôn, từ quốc gia này sang quốc gia khác, thậm chí từ châu lục này tới khu vực khác Công ước Giơnevơ (1979) đã khẳng định điều này

Trang 16

Hiện nay, ô nhiễm môi trường không khí là vấn đề thời sự nóng bỏng của cả thế giới chứ không phải riêng của một quốc gia nào Môi trường khí quyển đang có nhiều biến đổi rõ rệt và có ảnh hưởng xấu đến con người và các sinh vật Hàng năm, con người khai thác và sử dụng hàng tỉ tấn than đá, dầu mỏ, khí đốt Đồng thời, cũng thải vào môi trường một khối lượng lớn các chất thải khác nhau, làm cho hàm lượng các loại khí độc hại tăng lên nhanh chóng

“Ô nhiễm môi trường không khí là hiện tượng làm cho không khí sạch thay đổi thành phần và tính chất dưới bất kỳ nguyên nhân nào, có nguy cơ gây tác hại tới thực vật và động vật, gây hại đến sức khỏe con người và môi trường xung quanh Khí quyển có khả năng tự làm sạch để duy trì sự cân bằng giữa các quá trình Những hoạt động của con người vượt quá khả năng tự làm sạch, có sự thay đổi bất lợi trong môi trường không khí thì được xem là ô nhiễm môi trường không khí”.[3]

1.2 Cơ sở pháp lý

- Luật Khoáng sản 2010 được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam Khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 17 tháng 1 năm 2010 và có hiệu lực từ ngày

01/7/2011

- Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 23/6/2014 và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2015

- Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ quy định về Quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường

- Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số Điều của Luật Bảo vệ môi trường

- Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ quy định về quản lý chất thải và phế liệu

- Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT ngày 29/5/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường

Trang 17

- Thông tư số 32/2013/TT-BTNMT ngày 25/10/2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về môi trường

- Thông tư số 47/2011/TT-BTNMT ngày 28/12/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về môi trường

Các quy chuẩn áp dụng:

- QCVN 08:2008/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước mặt

- QCVN 09: 2008/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước ngầm

- QCVN 05:2013/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng môi trường không khí xung quanh

1.3 Tình hình khai thác vàng trên thế giới và tại Việt Nam

1.3.1 Tổng quan về vàng

Vàng là một loại khoáng sản quý, có những tính chất đặc biệt, màu vàng và rất bền vững trong thiên nhiên nên được sử dụng từ lâu, trở thành một loại hàng hoá, là báu vật, là nguồn dự trữ Phạm vi sử dụng của vàng rất rộng rãi, không chỉ trong công nghiệp mà còn trong đời sống xã hội Tuy nhiên việc hiểu biết về vàng của mọi người còn hạn chế, không phải ai cũng hiểu biết về vàng: tuổi của vàng, cách phân loại, công nghệ thu hồi,…[9]

Vàng tên la tinh: aurum, ký hiệu Au, là nguyên tố hoá học nhóm I hệ thống tuần hoàn Mendeleev, số thứ tự 79, khối lượng nguyên tử 197,967 Hàm lượng trong vỏ trái đất chiếm 4,3 x 10E-7% khối lượng, là kim loại mầu vàng, dễ dát mỏng và kéo dài nhất so với tất cả các kim loại, có thể dát thành tờ mỏng 1.10E- 5mm Vàng có độ dẫn điện cao, là thành phần của nhiều hợp kim có độ nóng chảy thấp hơn, nhưng độ cứng thì cao hơn vàng Vàng được dùng chủ yếu để chế tác đồ trang sức và tích trữ tiền tệ, dùng trong các ngành kỹ thuật cao.[9]

1.3.1.1 Phương pháp tính tuổi vàng

- Tính tuổi theo Cara (viết 24 Cara hay 24K): Đây là phương pháp tính độ tinh khiết (100% của vàng) Đó là: (Tỷ số giữ khối lượng vàng trong hợp kim)/ (Tổng khối lượng hợp kim) = 24 K (tuổi là 1) Trong đó 1 cara = 1/24 = 0,0417 [9]

Trang 18

- Tính tuổi theo đơn vị %: 99,99 tuổi = 24K hay 10 tuổi (vàng 10) tương ứng 98 = 23,5K = 9,8 tuổi,…[9]

1.3.1.2 Phương pháp thu hồi vàng

Có nhiều phương pháp thu hồi vàng có thể nói đến như: tuyển trọng lực, tuyển nổi, xyanua, clo hoá, nấu luyện…

a, Công nghệ Xyanua hoá vàng: Năm 1864 Elsen phát hiện vàng có khả năng hoà tan trong xyanua kiềm (KCN, NaCN) khi có mặt ôxy và ông đã đưa ra ba bước

để thu hồi vàng trong quặng chứa vàng Quặng chứa vàng liên quan đến các đá Granitoit, đá kiềm, bazơ, siêu bazơ… trong đó có các khoáng vật: Electrova, Coproanrit, Rodit, Pocfezit,…

b, Phương pháp hỗn hống: Là phương pháp thu hồi vàng dựa trên khả năng thấm chọn lọc những hạt vàng của thuỷ ngân Khi tiếp xúc với bùn quặng, thuỷ ngân gom các hạt vàng lại và tạo với nó một hỗn hợp gọi là amalgam Thuỷ ngân giữ vàng sạch là tốt hơn cả, vì vậy trước khi hỗn hống, bề mặt hạt vàng được làm sạch bằng ma sát hoặc bằng dung dịch axit Sunfuric loãng (3%) thì sự kết hợp của thuỷ ngân và vàng sẽ tốt hơn rất nhiều Hiệu quả của phương pháp hỗn hống phụ thuộc vào kích thước của hạt vàng trong quặng và trạng thái bề mặt của chúng Đối với những hạt vàng nhỏ tác dụng sẽ kém do không đủ lực va đập giữa hạt vàng và các hạt thuỷ ngân và do xác suất của chúng gặp nhau ít hơn

c, Tuyển trọng lực: Dựa vào tỉ trọng của vàng trong quặng áp dụng phương pháp tuyển trọng lực Quặng chứa vàng được nghiền để thu hỗn hợp những hạt vàng lớn và một phần những hạt vàng nhỏ

Trang 19

d, Tuyển nổi: Đây là phương pháp thu hồi vàng năng xuất cao nhất là quặng chứa vàng sunfua Các chất đè chìm đối với vàng thường là Xyanua natri sunfua, Kiềm, Đồng sunfat, thuỷ tinh lỏng, tinh bột,…[24]

1.3.2 Tình hình khai thác vàng trên thế giới

Theo ước tính của GFMS (Gold Field Mineral Services), tổng lượng vàng khai thác trên thế giới từ xưa đến nay là 166.000 tấn (đến năm 2000 là 140.000 tấn

và từ đó đến nay mỗi năm tăng khoảng 2.600 tấn) [13]

Khoảng 2000 năm trước công nguyên người ta phát hiện thấy vàng tại Ai Cập, Sudan, Ả Rập Saudi, Trung Quốc với sản lượng 1 tấn/năm Ở Nam Mỹ, vàng được khai thác khoảng 1200 năm trước công nguyên Đến thời đế chế La mã (bao gồm cả Tây Ban Nha, Bắc Phi) sản lượng vàng tăng lên 10 lần Đến thế kỷ XV, mỏ vàng lớn ở Tây Phi cho sản lượng 5-8 tấn/năm Đến thế kỉ XVI Tây Ban Nha xâm lược Mêhicô và Pêru, mở ra những nguồn vàng lớn từ đây khoảng 5 tấn/năm Cuối thế kỉ 18 nước Nga có tên trong danh sách nguồn cung ứng đã nâng tổng sản lượng vàng lên 25 tấn/năm Năm 1847 sản lượng vàng tại Nga chiếm 35 tấn/năm trên 70 tấn/năm toàn thế giới và đến năm 1914 mới đạt mốc 60 tấn/năm [13]

Năm 1848 các mỏ vàng được phát hiện ở California, đến năm 1851 riêng nước Mỹ sản xuất 77 tấn vàng và đạt đỉnh 93 tấn vào năm 1853 Năm 1851, vàng được phát hiện tại Australia và nhanh chóng đạt mức 95 tấn vào năm 1856 và tổng sản lượng vàng thế giới đạt 300 tấn vào năm đó Vào năm 1873, các mỏ lớn ở Nam Phi được phát hiện, đến năm 1884 sản lượng vàng tại đây chiếm 40% sản lượng thế giới Năm 1896 đến lượt Canada xuất hiện trên bản đồ với mức đóng góp 75 tấn/năm Trong thế kỉ 20, danh mục các quốc gia sản xuất vàng lớn có thêm tên là Trung quốc, Inđonesia, Uzbekistan, Brazin, Venezuela… Tuy nhiên đóng góp lớn nhất vẫn thuộc các nước phương Tây Khi cơn sốt vàng năm 1980 nổ ra, sản lượng các quốc gia này tăng từ mức 962 tấn năm 1980 lên 1744 tấn sau 10 năm [13]

Trang 20

Bảng 1.1: Các nước đóng góp nhiều nhất vào sản lượng vàng thế giới năm 2000

(Nguồn: Theo Gold Field Mineral Services, 2010).[13]

Một số quốc gia khai thác vàng lớn nhất thế giới hiện nay được thống kê năm

2012 theo Gold Investing News gồm các quốc gia sau:

- Trung Quốc

Trung Quốc với sản lượng khai thác 355 tấn, ngoài ra quốc gia này còn là một nước tiêu thụ vàng hàng đầu thế giới, Trung Quốc cũng dẫn đầu trong các quốc gia sản xuất vàng, danh hiệu này vốn thuộc về Nam Phi năm 2007 Trong năm 2011, Trung Quốc chỉ mới là quốc gia sản xuất trên 300 tấn vàng Công suất khai thác của Trung Quốc năm 2011 nhiều hơn năm 2010 là 10 tấn, tương đương mức tăng 3% Trung Quốc cũng là quốc gia có tài nguyên vàng đã thăm dò lớn thứ ba xét về trữ lượng vàng đã thăm dò [16]

- Australia

Sản lượng khai thác năm 2011 của Australia là 270 tấn, so với 261 tấn của năm 2010 Hầu hết kim loại màu vàng này của Australia được khai thác ở bang Tây Australia, tại đây có mỏ vàng Super Pit tại vùng Kalgoorlie có quy mô thế giới Có thời gọi vùng này là Goldem Mile (Dặm vàng), và có nhiều hoạt động khai thác ở đây, vùng này là mỏ vàng lộ thiên lớn nhất của Australia và bây giờ thuộc về Công

ty vàng Mỹ Newmont và Barrick Gold [16]

Trang 21

- Mỹ

Sản lượng vàng năm 2011 của Mỹ là 237 tấn, so với 231 tấn năm 2010, vàng của Mỹ chủ yếu được khai thác ở bang Nevada, chính là vùng Carlin trend Newmont đã tiến hành hoạt động khai thác vàng tại vùng này từ lâu, gồm 14 mỏ lộ thiên và 04 hầm lò, tại các mỏ này người ta điều hành như là một tổ hợp sử dụng nhiều phương pháp chế biến khác nhau [16]

- Nam Phi

Nam Phi là quốc gia khai thác vàng lớn nhất Châu Phi với sản lượng khai thác năm 2011 là 190 tấn Mặc dù đã từ lâu Nam Phi không còn là vua của các quốc gia khai thác vàng nữa, nước này tiếp tục là nước có trữ lượng vàng đã thăm dù lớn nhất thế giới cũng như có các mỏ vàng lớn nhất thế giới ở Witswatersrand Từ năm

2010 đến năm 2011 sản lượng vàng giữ mức không đổi, chỉ tăng thêm một lần, thay đổi khoảng 0,5% [16]

- Peru

Sản lượng vàng khai thác năm 2011 là 150 tấn, với sản lượng này Peru là một trong hai của 10 quốc gia khai thác vàng hàng đầu thế giới giảm sản lượng trong năm 2011 Sản lượng giảm từ 164 tấn xuống còn 150 tấn năm 2010 Cho tới nay Peru vẫn là lãnh địa hoạt động đối với Minera Yanacocha, Công ty này là Công

ty khai thác vàng lớn nhất ở Châu Mỹ la tinh và có 3 mỏ vàng lộ thiên [16]

- Canada

Với sản lượng khai thác 110 tấn vàng năm 2011, Canada đã tăng sản lượng lên 19 tấn so với năm 2010 là 91 tấn Khai thác vàng chủ yếu của quốc gia này ở bang Ontario, tại đây công ty Goldcorp khai thác mỏ vàng Red Lake, một nửa sản lượng vàng hàng năm từ mỏ Red lake [16]

Trang 22

- Ghana

Với sản lượng khai thác 100 tấn vàng năm 2011 tăng 18 tấn so với năm 2010

là 82 tấn, nổi tiếng từ lâu là Bờ Biển Vàng (Gold coast), quốc gia Tây Phi này là nước khai thác vàng lớn thứ hai Châu Phi Mỏ vàng lớn nhất nước này là Tarkwa, hiện đang được Công ty Gold Fields khai thác [16]

- Indonesia

Sản lượng vàng khai thác 100 tấn năm 2011, mặc dù địa lý đa dạng của quốc gia này, tài nguyên vàng của quốc đảo này tập trung ở một loạt các vùng khoáng sản Một trong những vùng nhiều vàng là Grasberg, mỏ này là mỏ vàng lớn nhất thế giới Mặc dù quốc gia này xếp ngang với Ghana về sản lượng năm 2011, nhưng sản lượng lại tụt giảm so với 120 tấn năm 2010 Indonesia là một quần đảo của 17.508 đảo ở Đông Nam Á [16]

- Uzbekistan

Với sản lượng khai thác đạt 90 tấn năm 2011, quốc gia khai thác vàng lớn thứ 10 thế giới là Uzbekistan, một nước nằm sâu trong lục địa không có biển Ngành công nghiệp khai thác vàng nằm trong tay của Công ty nhà nước Navoi Mining and Metallurgical Combinat, Công ty này sản xuất ra tới 80% sản lượng vàng của nước này Tài sản mỏ chính của Navoi Mining là mỏ Muruntau, đây là mỏ vàng lộ thiên lớn nhất thế giới, với mức độ khai thác như hiện nay thì người ta có

thể khai thác mỏ này mãi tới năm 2032 [16]

1.3.3 Tình hình khai thác vàng ở Việt Nam

Ở Việt Nam khoáng sản vàng được chia làm hai loại: vàng sa khoáng và vàng gốc:

1.3.3.1 Vàng sa khoáng

Vàng sa khoáng được phân bố ở rất nhiều nơi Đến nay đã phát hiện được khoảng 150 mỏ và điểm quặng sa khoáng vàng, trong đó có 30 mỏ, điểm quặng đã được tìm kiếm, thăm dò Sa khoáng vàng ở Việt Nam có trữ lượng nhỏ Ngoài mỏ vàng Lương Thượng, huyện Na Rì (Bắc Kạn) thuộc loại quy mô lớn (trữ lượng C2

= 1,42 tấn) và các mỏ Bồ Cu, Trại Cau (Thái Nguyên) thuộc loại quy mô trung bình (trữ 1 tấn) thì các mỏ còn lại đều có trữ lượng nhỏ, chủ yếu vài lượng C1+C2 = 0,5

Trang 23

kg Hàm lượng vàng trong các mỏ, điểm quặng thường thấp, chủ yếu<1g/m3, có nơi đến chiều dày tầng sản phẩm 0.5 - 3m, lớp phủ thay đổi từ 1 - 15m

Các kiểu nguồn gốc sa khoáng vàng gồm: eluvi, proluvi, hỗn hợp karst và aluvi Trong đó, đáng chú ý nhất là loại hình sa khoáng aluvi, thường gặp các trầm tích ở những bậc thềm khác nhau và trong các trầm tích ở lòng sông [9]

1.3.3.2 Vàng gốc

Khoáng hoá vàng gốc ở Việt Nam phát triển rộng rãi trên toàn bộ phần đất liền thuộc nguồn gốc nhiệt dịch và chúng phân bố ở các kiến trúc dạng vòm, vòm nông, trong các võng núi lửa, hoặc nằm rải rác dọc theo các đứt gãy sâu khu vực Vàng gốc gồm nhiều kiểu quặng hoá khác nhau:

- Kiểu quặng hoá vàng - thạch anh: gồm 2 phụ kiểu: Quặng hoá vàng - thạch anh - ít sulfur: đã phát hiện được ở nhiều nơi, điển hình là ở Khau Âu, Bồ Cu (Thái Nguyên), Cẩm Thuỷ (Thanh Hoá), Tam Chinh (Quảng Nam)…

Quặng hoá vàng - thạch anh - turmalin: Kiểu quặng này hiện mới chỉ phát hiện được ở mỏ Làng Vùng (Phú Thọ)

- Kiểu quặng hoá vàng - thạch anh - sulfur: Kiểu này phát triển rất đa dạng

và phong phú, có mặt ở các bối cảnh địa chất khác nhau

- Quặng hoá vàng - thạch anh - sulfur trong trầm tích phun trào axit trũng nguồn rift tuổi Mesozoi gồm các mỏ: Pắc Lạng (Bắc Kạn), Nà Pái (Lạng Sơn), Khe Máng (Hà Tĩnh), Khe Đập, Khe Mang (Quảng Bình)

- Quặng hoá vàng - thạch anh - sulfur trong đá trầm tích - phun trào bazan - trachyt hệ tầng Viên Nam (Tivn) gồm các mỏ Đồi Bù, Cao Răm (Hoà Bình), ThènSin (Lai Châu) Quặng hoá vàng - thạch anh - sulfur phát triển trong các đá biến chất phát triển rộng rãi ở các tỉnh miền Trung trong phạm vi đới Đà Nẵng - Sê Pôn như: ADang, Avao, APey (Quảng Trị), Suối Giây, Bồng Miêu, Trà Dương (Quảng Nam) và một số điểm quặng Phú Ninh, Khe Lạnh (Thừa Thiên - Huế) Quặng hoá vàng - thạch anh - sulfur phát triển trong các đá xâm nhập có thành phần phân dị từ mafic đến axit phát triển rộng rãi trong các diện tích chứa các đá xâm nhập như: Bản Gôn (Thừa Thiên - Huế), Tiên Hà (Quảng Nam), Tiên Thuận (Bình Định), Sông Hinh (Phú Yên), An Trung, Iameur (Gia Lai) [9]

Trang 24

- Kiểu quặng hoá vàng - bạc: Kiểu quặng này có triển vọng đáng kể Đến nay

đã phát hiện được nhiều điểm quặng và khoáng hoá vàng có quan hệ chặt chẽ về mặt không gian với đá phun trào có thành phần axit đến trung tính, kiểu phun nổ trong hệ tầng Long đại (03-S1 lđ) Điển hình cho kiểu này là mỏ Xà Khía (Quảng Bình), ngoài ra còn một số điểm quặng Rào Reng, Khe Chứa, vùng Vit Thu Lu…

- Kiểu quặng hoá vàng - antimon, quặng này có ở các mỏ antimon chứa vàng,

có khi vàng có trữ lượng lớn và có giá trị Điển hình cho kiểu quặng này là mỏ Làng Vài, Khuôn phục, Hoà Phú, Ngọc Hội (Tuyên Quang), Nam Sơn (Hoà Bình), Tà Sỏi (Nghệ An)

- Kiểu quặng vàng cộng sinh trong các loại khác: bao gồm các mỏ đa kim chì- kẽm chứa vàng ở vùng Chợ Rã, Ngân Sơn, Tây PiaOăc, Nghệ An, Tú Lệ, Hoà Bình… Các mỏ Pyrit chứa vàng (concheđon, lưu huỳnh chứa vàng) ở Tây Bắc Bộ như Vọ Cỏ, Làng Củ, Minh Quang …mỏ đồng chứa vàng như Sin Quyền (Lao Cai) Khoáng sản vàng phân bố rộng rãi trên lãnh thổ Việt Nam Hiện đã biết trên 500 mỏ

và điểm quặng vàng, nhưng hầu hết thuộc loại mỏ nhỏ và điểm quặng Ngoại trừ một số tỉnh Nam Bộ, các mỏ và điểm quặng vàng phân bố rải rác ở các tỉnh từ Đồng Nai trở ra Đến nay, đã có 80 mỏ, điểm quặng đã được tìm kiếm, thăm dò với các mức độ khác nhau ở phạm vi 29 tỉnh trong cả nước Trong đó, các tỉnh có số lượng

mỏ, điểm quặng được tìm kiếm, thăm dò nhiều nhất là Quảng Nam (16 mỏ), Nghệ

An (7mỏ), Hoà Bình (5mỏ), Bắc Kạn (4 mỏ)…[9]

- Số lượng các mỏ, điểm quặng vàng đã được tìm kiếm, đánh giá và thăm dò

là 80 mỏ, chiếm gần 20% số mỏ, điểm quặng phát hiện trên phạm vi cả nước Công tác điều tra, phát hiện khoáng sản vàng tiến hành từ những năm 1960, sau đó được nhà nước quan tâm để tìm kiếm, đánh giá, thăm dò đặc biệt là sau năm 1990 Tuy nhiên, do sự phân bố của quặng phức tạp, trữ lượng nhỏ nên phần lớn mức độ điều tra chỉ dừng ở giai đoạn tìm kiếm, đánh giá Theo tài liệu đến nay, trong số các mỏ

đã được tìm kiếm, đánh giá thăm dò có thể chia ra 2 mức độ điều tra:

- Thăm dò sơ bộ: đã có tổng số 13/80 mỏ, điểm quặng thuộc mức độ điều tra này Bao gồm các mỏ: Nam Quang (Cao Bằng), Ngọc Hội (Tuyên Quang), Bồ Cu, Trại Cau (Thái Nguyên), Chợ Bến (Hoà Bình), Tà Sỏi (Nghệ An), Xà Khía (Quảng

Trang 25

Bình), Suối Giây, Tam Chinh, Đak Sa, Phước Hiệp (Quảng Nam), Trà Năng (Lâm Đồng), Suối Linh (Đồng Nai) Trong các mỏ này đã tính trữ lượng vàng đến cấp C1 Tuy nhiên, tỷ lệ trữ lượng trên tổng tài nguyên ở các mỏ rất thấp Ngoại trừ mỏ Đak

Sa có trữ lượng C1 trên 3 tấn thì các mỏ còn lại có trữ lượng C1 rất ít dưới 1 tấn, thậm chí vài chục kg [9]

- Tìm kiếm, đánh giá: Đã có 67 mỏ, điểm quặng được tìm kiếm đánh giá trên phạm vi cả nước Tuy nhiên, trong số đó chỉ có 41 mỏ tính được trữ lượng cấp C2,

số còn lại chỉ tính đến tài nguyên P1 Trữ lượng C2 trong các mỏ đã tìm kiếm, đánh giá chỉ có mỏ Minh Lương (Lào Cai), Ngọc Hội (Tuyên Quang), trên 5 tấn, số còn lại đều nhỏ, chủ yếu dưới 1 tấn [9]

Trong tổng số 80 mỏ, điểm quặng vàng ở Việt Nam được tìm kiếm, thăm dò

có 13 mỏ tính đến trữ lượng cấp C1, 40 mỏ tính đến trữ lượng cấp C2, số còn lại chỉ xác định tài nguyên cấp P1 Tổng trữ lượng cấp C1+C2 là 75,539 tấn vàng, trong đó cấp C1= 6,391 tấn chiếm 8,46% tổng trữ lượng cấp C1+C2 và tập trung chủ yếu ở tỉnh Quảng Nam (4,071 tấn) [9]

Theo quy mô mỏ, đến nay ở Việt Nam chỉ có mỏ vàng sa khoáng Lương Thượng (Bắc Kạn) thuộc loại quy mô lớn Các mỏ có quy mô trung bình gồm: loại hình sa khoáng có Bồ Cu, Trại Cau (Thái Nguyên), loại hình quặng gốc có 5 mỏ Minh Lương (Lào Cai), Ngọc Hội (Tuyên Quang), Đak Sa, Phước Hiệp, Phước Thành (Quảng Nam) Số còn lại có quy mô nhỏ và điểm quặng [9]

Tỉnh có trữ lượng vàng lớn nhất là Quảng Nam: 23,615 tấn C1+C2 chiếm 30,26%, tiếp đến là các tỉnh Tuyên Quang, Lai Châu, Quảng Trị, Phú Yên, Hoà Bình, Quảng Bình, Bắc Kạn Các tỉnh còn lại có trữ lượng không đáng kể Có thể nói, hầu hết các điểm quặng vàng đã phát hiện ở nước ta đều đã và đang được khai thác với các hình thức khác nhau Trong đó, việc khai thác tự do, thủ công phổ biến rộng rãi rất khó quản lý, không kiểm soát được Việc khai thác một mặt gây lãng phí tài nguyên môi trường nhưng đặc biệt hơn là gây ảnh hưởng lớn đến môi trường sinh thái Theo thống kê không đầy đủ, sản lượng vàng khai thác hàng năm của các doanh nghiệp nhà nước khoảng 250-300kg Vàng khai thác chủ yếu sử dụng để trao đổi, dự trữ và làm đồ trang sức [19]

Trang 26

1.4 Ảnh hưởng của việc khai thác khoáng sản đến môi trường

Hoạt động khai thác khoáng sản mang lại nhiều lợi ích kinh tế thiết thực cho đất nước Tuy nhiên, nó cũng gây nên những tác động không nhỏ tới môi trường Tình trạng khai thác mỏ hiện nay đang gây ra sự lãng phí nguồn tài nguyên là nguồn không tái tạo được Đồng thời, hoạt động khai thác mỏ cũng đang gây tác hại tới các nguồn tài nguyên khác, làm thay đổi cảnh quan, địa hình, thu hẹp đất trồng và rừng do diện tích khai trường và bãi thải ngày càng phát triển Đặc biệt, gây ô nhiễm môi trường không khí, nước và đất

1.4.1 Tác động của hoạt động khai thác mỏ đến môi trường nước

Trong hoạt động khoáng sản, nước được sử dụng với khối lượng lớn cho hầu hết công đoạn sản xuất Quá trình sản xuất, tháo khô mỏ, đổ thải, v.v , đã gây những tác động tiêu cực tới nguồn nước sản xuất nông nghiệp và nước sinh hoạt của người dân ở khu vực xung quanh khai trường Những tác động này được thể hiện như sau:

- Tác động cơ học của hoạt động khai thác mỏ tới nguồn nước

Quá trình đào xới, vận chuyển đất đá và quặng làm địa hình khu khai trường

bị hạ thấp Ngược lại, quá trình đổ chất thải rắn làm địa hình bãi thải được nâng cao, gây trượt lở đất (Mỏ Mangan Tốc Tác - Cao Bằng) Những thay đổi này sẽ dẫn đến những biến đổi về điều kiện thuỷ văn, các yếu tố của dòng chảy trong khu mỏ như thay đổi khả năng thu, thoát nước, hướng và vận tốc dòng chảy mặt, chế độ thuỷ văn của các dòng chảy như mực nước, lưu lượng, v.v

Sự tích tụ chất thải rắn do tuyển rửa quặng trong các lòng hồ, kênh mương tưới tiêu có thể làm thay đổi lưu lượng dòng chảy, dung tích chứa nước, biến đổi chất lượng nguồn nước và làm suy giảm công năng của các công trình thuỷ lợi nằm liền kề với các khu khai thác mỏ (Nước suối ở mỏ chì, kẽm Lang Hích, nước giếng

ở mỏ vàng Hiếu Liêm, các hồ ở khu vực mỏ than Mạo Khê đều có hàm lượng các chất độc hại như kẽm, đồng, thủy ngân, asen, v.v vượt tiêu chuẩn cho phép) Khi tiến hành các hoạt động khai thác khoáng sản sẽ hình thành các moong sâu đến hàng trăm mét, là nơi tập trung nước cục bộ Ngược lại, để đảm bảo hoạt động của mỏ, phải thường xuyên bơm tháo khô nước ở đáy moong, hầm lò, hình

Trang 27

thành các phễu hạ thấp mực nước dưới đất với độ sâu từ vài chục đến hàng trăm mét

và bán kính phễu hàng trăm mét Điều đó dẫn đến tháo khô các công trình chứa nước trên mặt như hồ, ao, xung quanh khu mỏ [20]

- Tác động hoá học của hoạt động khai thác mỏ tới môi trường nước

Song song với những tác động cơ học đến nguồn nước nói chung và nguồn nước nông nghiệp nói riêng, những tác động hoá học đối với nguồn nước cũng rất đáng kể

Sự phá vỡ cấu trúc của đất đá chứa quặng khi tiến hành đào bới và khoan nổ sẽ thúc đẩy các quá trình hoà tan các thành phần chứa trong quặng và đất đá, quá trình tháo khô mỏ, đổ các chất thải vào nguồn nước, chất thải rắn, bụi thải không được quản lý, xử lý chặt chẽ, tham gia vào thành phần nước mưa, nước chảy tràn cung cấp cho nguồn nước tự nhiên, những tác động hoá học làm thay đổi tính chất vật lý và thành phần hoá học của nguồn nước xung quanh các khu mỏ Mức độ ô nhiễm hoá học các nguồn nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đặc điểm thân quặng, thành phần thạch học và độ bền vững của đất đá chứa quặng, phương pháp và trình độ công nghệ khai thác, chế biến quặng, biện pháp quản lý và xử lý chất thải,

Trong các mỏ, biểu hiện chính của ô nhiễm hoá học là làm đục nước bởi bùn

- sét lơ lửng, tăng hàm lượng các ion sắt và một số khoáng vật nặng Nước thải có hàm lương TSS cao làm nước biến mầu, tăng độ đục và làm giảm độ hòa tan ôxy trong nước, gây ảnh hưởng xấu tới chất lượng nước mặt, đến hệ sinh thái thủy vực

và còn là nguyên nhân gây bồi lấp nguồn tiếp nhận Gây tác động gián tiếp tới nhu cầu sử dụng nước tưới tiêu

Việc khai thác và tuyển quặng vàng phải dùng đến thuốc tuyển chứa Hg, CN, ; ngoài ra, các nguyên tố kim loại nặng cộng sinh như asen, antimoan, các loại quặng sunfua, có thể rửa lũa hoà tan vào nước Vì vậy, ô nhiễm hoá học do khai thác và tuyển quặng vàng là nguy cơ đáng lo ngại đối với nguồn nước sinh hoạt và nước nông nghiệp Tại những khu vực này, nước thường bị nhiễm bẩn bởi bùn sét và một

số kim loại nặng và hợp chất độc như CN-, Hg, As, Pb v.v mà nguyên nhân chính là

do nước thải, chất thải rắn không được xử lý đổ bừa bãi ra khai trường và khu vực tuyển [17]

Trang 28

1.4.2 Ảnh hưởng của hoạt động khai thác mỏ tới môi trường đất

Quá trình khai thác khoáng sản làm phá vỡ cấu trúc trạng thái ban đầu của đất, làm biến đổi bề mặt đệm trong đó nhất là xáo trộn bề mặt đất, phá hủy thảm thực vật kéo theo hiện tượng xói mòn rửa trôi, sạt lở đất, xói lở bờ sông, … từ đó gây ra suy thoái tài nguyên đất Những thay đổi về địa hình dẫn đến những biến đổi về điều kiện thủy văn, các yếu tố của dòng chảy mặt, chế độ thủy văn của các dòng chảy như mực nước, lưu lượng, v.v… Việc đổ bỏ đất đá thải tạo tiền đề cho mưa lũ bồi lấp các sông suối, các thung lũng và đồng ruộng phía chân bãi thải và các khu vực lân cận Khi có mưa lớn thường gây ra các dòng bùn di chuyển xuống vùng thấp, vùng đất canh tác, gây tác hại tới hoa màu, ruộng vườn, nhà cửa, vào mùa mưa

lũ thường gây ra lũ bùn đá, gây thiệt hại tới môi trường kinh tế và môi trường xã hội (Sự kiện vỡ đập chắn nước thải công trình tuyển rửa quặng sắt đêm 5/11/2010 của Tập đoàn TKV ở Cao Bằng đã tạo nên một dòng lũ bùn đỏ tràn xuống hạ lưu, làm

cả một khu dân cư ngập sâu trong bùn đỏ là một minh chứng) [8]

Ngoài ra, Việc khai thác lộ thiên thường thải ra lượng đất đá rất lớn tạo thành những bãi thải khổng lồ Ví dụ như bãi thải Đèo Nai tại mỏ than Quảng Ninh có độ cao lên đến 200m, bãi thải Cao Sơn có độ cao tới 150m… Với độ cao như trên các bãi thải có độ dốc lớn, khi trời mưa hiện tượng sạt lở đất đá là không tránh khỏi, gần đây nhất là vụ sạt lở bãi thải mỏ than Phấn Mễ tại Đại Từ, Thái Nguyên đã làm chết

7 người và thiệt hại nặng về kinh tế [5]

Hoạt động khai thác, sàng tuyển và đổ thải đất đá tạo ra lượng lớn nước thải kèm theo lượng dầu mỡ từ các phương tiện vận chuyển đổ thải vào môi trường đất

từ đó gây ô nhiễm về mặt lý hóa đất; bít kín các mao quản, ảnh hưởng tới quá trình trao đổi ôxy, trao đổi chất trong đất và không khí Việc thiếu ôxy trong tầng đất thổ nhưỡng sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống các loài vi sinh vật và các loài côn trùng có ích sống trong đất Các loài sinh vật này có khả năng làm tơi xốp và cải tạo đất Các tác động tiêu cực tới đời sống của các loài sinh vật này đã gián tiếp ảnh hưởng tới chất lượng đất trồng, khả năng canh tác nông nghiệp gần khu vực mỏ khai thác, ảnh hưởng đền năng suất cây trồng

Các tác nhân gây ô nhiễm như kim loại nặng phát sinh từ hoạt động của mỏ có

Trang 29

tính bền, tính linh động và khả năng tích lũy trong đất gây ô nhiễm môi trường đất Các chất này không chỉ tác động với môi trường đất mà có thể theo dòng chảy xâm nhập vào nguồn nước ngầm, nước mặt, tích lũy qua chuỗi thức ăn ảnh hưởng tới sức khỏe công đồng Ngoài ra, trong hoạt động khai thác mỏ còn thải ra rất nhiều các phế thải công nghiệp có thành phần chủ yếu chứa PCBs có tính chất bền với nhiệt độ, ánh sáng và các quá trình phân hủy sinh học, hóa học; nhưng chúng có khả năng dễ bay hơi, phát tán đi xa, phá vỡ các tuyến nội tiết trong cơ thể sinh vật, ảnh hưởng đến khả năng sinh sản và hệ miễn dịch, gây rối loạn hệ thần kinh và là tác nhân gây ung thư Khi PCBs xâm nhập vào nguồn nước, do tính không tan, tỷ trọng lớn và kị nước nó

sẽ tích tụ trong bùn lắng của sông và ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước

Có thể nói, hoạt động khai khoáng gây ra những ảnh hưởng rất lớn đến môi trường đất tại khu vực mỏ và xung quanh mỏ Quá trình khai thác, bốc xúc lượng lớn đất đá thải đã làm giảm diện tích đất canh tác nông nghiệp, gây ô nhiễm lý hóa đất, làm khả năng giữ nước và các chất dinh dưỡng của đất bị suy giảm Bên cạnh

đó một số tác nhân gây ô nhiễm như kim loại nặng có khả năng tích lũy trong đất qua đó có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nông sản và sức khỏe con người

1.4.3 Tác động của các dự án khai thác mỏ lên chất lượng không khí

Lượng khí thải trong không khí xảy ra trong từng giai đoạn của chu kỳ mỏ, đặc biệt trong các hoạt động thăm dò, phát triển, xây dựng, và khai thác Hoạt động khai thác huy động một lượng lớn vật liệu, và các đống chất thải có chứa các hạt kích thước nhỏ có thể dễ dàng phát tán bởi gió

Các nguồn ô nhiễm không khí lớn nhất trong hoạt động khai thác khoáng sản là: Các hạt vật chất vận chuyển bởi gió là kết quả của việc khai đào, nổ mìn, vận chuyển nguyên liệu, xói mòn gió (phổ biến ổ các mỏ lộ thiên), bụi tức thời từ các cơ

sở đuôi quặng, kho bãi, bãi thải, đường vận chuyển Khí thải từ các nguồn di động (ô tô, xe tải, thiết bị cơ giới) tăng nồng độ hạt Phát thải khí do đốt nhiên liệu từ các nguồn cố định và di động, các vụ nổ mìn, và chế biến khoáng sản

Một khi các chất ô nhiễm vào bầu khí quyển, chúng trải qua những biến đổi vật lý và hóa học trước khi đến một thụ thể Những chất gây ô nhiễm này có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người và môi trường

Trang 30

Khai thác khoáng sản quy mô lớn sẽ gây ô nhiễm không khí đáng kể, đặc biệt là trong giai đoạn vận hành Tất cả các hoạt động trong quá trình khai thác quặng, chế biến, xử lý, và vận chuyển phụ thuộc vào thiết bị, máy phát điện, quy trình, và các vật liệu tạo ra các chất ô nhiễm không khí độc hại như các hạt vật chất, kim loại nặng, carbon monoxide (CO), sulfur dioxide (SO2) và oxit nitơ

- Nguồn di động: Nguồn các chất ô nhiễm không khí di động bao gồm các xe

hạng nặng sử dụng trong khai đào, xe chở nhân viên trong mỏ, xe tải chở nguyên liệu khai thác Mức độ phát thải ô nhiễm từ các nguồn này phụ thuộc vào nhiên liệu

và đặc điểm thiết bị Mặc dù khí thải của từng loại có thể tương đối nhỏ, nhưng tính tổng thể thì nguồn khí thải này đáng phải quan tâm Ngoài ra, các nguồn di động là nguồn chính của các hạt vật chất, carbon monoxide, và các hợp chất hữu cơ dễ bay

hơi đóng góp đáng kể vào sự hình thành ôzôn mặt đất

- Nguồn cố định: Các phát thải khí chính là từ quá trình đốt cháy nhiên liệu

trong máy phát điện, sấy khô, nung, và các hoạt động nấu chảy Nhiều kim loại quý được nấu chảy tại chỗ, trước khi chuyển đến nhà máy luyện kim Thông thường, vàng và bạc được sản xuất trong các lò nung/lò trợ dung có thể làm tăng lượng thủy

ngân, arsenic, sulphur dioxide, và các kim loại khác trong không khí

- Phát thải tức thời: Nguồn phát thải này phổ biến gồm: nơi lưu trữ và xử lý

nguyên vật liệu; chế biến quặng, bụi tức thời, nổ mìn, hoạt động xây dựng, đường vận chuyển, đống quặng đuôi, bãi đá thải Nguồn gốc và đặc điểm của bụi phát thải tức thời trong hoạt động khai thác khoáng sản thay đổi trong từng trường hợp Các tác động của chúng rất khó dự đoán và tính toán nhưng cần được xem xét vì chúng

có thể là một nguồn đáng kể của chất gây ô nhiễm không khí nguy hiểm

- Phát tán thủy ngân: Thủy ngân thường có trong quặng vàng và các vật liệu

phế thải Nếu hàm lượng thủy ngân trong quặng vàng là 10 mg/kg thì khi xử lý một triệu tấn quặng sẽ tạo ra mười tấn thủy ngân và có khả năng phát thải ra môi trường

Đây là nguồn thủy ngân chính và cần được kiểm soát

Trong một số dự án khai thác vàng, quặng chứa vàng được nghiền nát, sau

đó được làm nóng và oxy hoá trong lò nung hoặc nồi hấp để loại bỏ lưu huỳnh và vật liệu carbon Thủy ngân có trong quặng bị bốc hơi, đặc biệt là trong lò nung Đây

là một trong số những nguồn phát thải thủy ngân lớn nhất vào khí quyển

Trang 31

Sau khi nung hoặc hấp, quặng được trộn với nước và phản ứng với dung dịch xyanua giúp vàng và thủy ngân hòa tan, các chất rắn bị loại bỏ thông qua quá trình lọc Vàng được tách khỏi dung dịch bằng quá trình điện phân Trong quá trình này, thủy ngân cũng phải thu hồi bằng các thiết bị kiểm soát ô nhiễm không khí để không phát tán vào khí quyển ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng

Sự bay hơi thủy ngân từ các bãi thải hoạt động và cơ sở chứa đuôi quặng cũng là nguồn phát thải đáng kể vào khí quyển Quá trình này cần được đánh giá và kiểm soát Nhìn chung, thủy ngân trong quặng vàng có thể phát tán vào đất, vào không khí, hoặc trong các sản phẩm vàng không tinh khiết

- Tiếng ồn và chấn động: Ô nhiễm tiếng ồn trong khai thác khoáng sản bao

gồm tiếng ồn từ động cơ xe, bốc xúc đá, máng trượt, phát điện và các nguồn khác Tác động tích lũy của các hoạt động như xúc, khoan, nổ mìn, vận chuyển, nghiền, xay, chất vào kho có thể ảnh hưởng đáng kể đến động vật hoang dã và các cư dân gần đó.[12]

1.4.4 Ô nhiễm ở một số vùng do khai thác vàng ở Việt Nam

Khai thác vàng hiện nay đã và đang gây ra những ảnh hưởng tới môi trường nước ở các địa phương

Tại tỉnh Cao Bằng, theo đánh giá của Sở Tài nguyên và Môi trường, chất lượng nước tại các sông, suối, ao hồ trên địa bàn tỉnh đã và đang suy giảm nghiêm trọng Đặc biệt là các đoạn sông chảy qua Thị xã Cao Bằng và các khu vực có hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản, chỉ tiêu nhu cầu ô xi sinh học (BOD5), tổng chất rắn lơ lửng (TSS) quan trắc đều vượt quy chuẩn cho phép [9]

Tình trạng ô nhiễm nguồn nước mặt chủ yếu do hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản Trong giai đoạn 2005 đến 2010, để tận thu và làm giàu quặng, các doanh nghiệp đã đầu tư hệ thống tuyển xoắn, tuyển trọng lực có sử dụng lượng nước gấp nhiều lần so với thời kỳ trước đó nhưng công nghệ xử lý chỉ là các ao hồ lắng cơ học chưa hoàn toàn triệt để đã và đang gây ô nhiễm môi trường tại nhiều khu vực, nhất là tại các khu vực khai thác vàng tự do còn sử dụng hóa chất thủy ngân, xianua để thu hồi vàng nhưng không qua xử lý [9]

Trang 32

Các hoạt động khai thác tại các lòng sông suối không theo đúng quy trình đã làm thay đổi dòng chảy tại một số đoạn sông suối, tại khu vực khai thác tự do không được quản lý bị ô nhiễm nặng, một số chỉ tiêu môi trường như độ đục, TSS, nhu cầu

ô xi hóa học (COD) tại các dòng sông chính của tỉnh Cao Bằng là sông Bằng, sông Hiến đều vượt quy chuẩn, tiêu chuẩn nhiều lần Đáng ngại nhất là nguồn nước sông Hiến, sông Bằng là nguồn cung cấp nước sinh hoạt, sản xuất cho thị xã Cao Bằng và một số huyện hiện có hàm lượng TSS vượt Quy chuẩn Việt Nam từ 4-5 lần [9]

Tại Nghệ An, việc khai thác ồ ạt, không theo quy hoạch khiến môi trường nước Sông Hiếu bị ảnh hưởng nghiêm trọng Mặc dù chính quyền các huyện có dòng sông chảy qua đã có nhiều biện pháp ngăn chặn, các tàu khai thác vàng này không chỉ đào bới, húc sục cát sỏi dưới lòng sông mà còn dùng các loại hóa chất độc hại như thủy ngân, xyanua để lắng lọc vàng… khiến nguồn nước sông Hiếu bị ô nhiễm nghiêm trọng ảnh hưởng đến đời sống của hàng chục ngàn hộ dân trong khu vực và vùng hạ lưu [9]

Tại Lào Cai, nạn khai thác vàng trái phép diễn ra khắp các vùng núi đồi, khe suối trên thượng nguồn cũng bị đào bới làm thay đổi dòng chảy và làm ô nhiễm môi trường nghiêm trọng khiến cho người dân sống rất bức xúc Các đơn vị khai thác vàng được cấp phép trong quá trình khai thác đã có báo cáo đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường và có hồ lắng xử lý nước thải sau tuyển nhưng chất lượng nước sau tuyển chưa đảm bảo theo QCVN

Trang 33

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Hoạt động khai thác vàng gốc tại mỏ vàng Minh Lương

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

- Ảnh hưởng của hoạt động khai thác tới môi trường tại khu vực khai thác vàng gốc mỏ vàng Minh Lương

2.2 Địa điểm thời gian thực hiện

- Địa điểm: Địa bàn xã Minh Lương, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai

- Thời gian thực hiện: Từ tháng 9/2015 đến tháng 5/2016

+ Khí hậu, thủy văn

+ Tài nguyên thiên nhiên

- Điều kiện kinh tế - xã hội

+ Thực trạng phát triển các ngành kinh tế

+ Dân số, lao động, việc làm và thu nhập

+ Cơ sở hạ tầng

+ Văn hóa, giáo dục, y tế

2.3.2 Hiện trạng khai thác vàng gốc mỏ vàng Minh Lương

- Vị trí địa lý, địa hình địa mạo khu khai thác vàng

- Tình hình khai thác, sản lượng khai thác vàng tại mỏ vàng Minh Lương

- Quy trình, công nghệ khai thác

+ Quá trình tuyển quặng với công nghệ tuyển trọng lực kết hợp tuyển nổi + Quy trình sản xuất vàng kim loại

Trang 34

- Loại hình các chất thải

- Tải lượng chất thải, chất gây ô nhiễm từ nguồn thải

2.3.3 Ảnh hưởng của việc khai thác vàng gốc tại mỏ vàng Minh Lương tới môi trường theo kết quả phân tích

2.3.4 Ảnh hưởng của việc khai thác vàng gốc tại mỏ vàng Minh Lương tới môi trường theo ý kiến người dân

2.3.5 Đề xuất các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường do hoạt động khai thác vàng gốc tại mỏ vàng Minh Lương

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu, thông tin thứ cấp

- Tài liệu về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế- xã hội (dân số, việc làm ) khu vực khai thác vàng mỏ vàng Minh Lương

- Tài liệu về quá trình phát triển của hoạt động khai thác, hiện trạng khai thác quặng

- Thu thập số liệu thứ cấp ở cấp tỉnh và công ty trực tiếp khai thác vàng

- Thu thập thông tin liên quan đến đề tài qua thực địa, qua sách báo, internet:

Số liệu, hiện trạng, bản đồ các khai trường khai thác

- Tài liệu về công tác quản lý môi trường tại địa bàn nghiên cứu

- Tài liệu về các văn bản pháp quy về khai thác khoáng sản, về bảo vệ môi

trường, các tiêu chuẩn Việt Nam và các tài liệu có liên quan

2.4.2 Phương pháp quan trắc, phân tích môi trường

- Để nghiên cứu sự ảnh hưởng của hoạt động khai thác vàng gốc đến môi

trường đất, nước, không khí tại khu vực mỏ Lấy 13 mẫu đất, nước, không khí đại diện trên vùng nghiên cứu và thực hiện phân tích tại phòng thí nghiệm của Trung tâm quan trắc môi trường tỉnh Lào Cai Cụ thể:

Trang 35

- Các vị trí lấy mẫu đất: 03 mẫu

+ Đ01: Mẫu đất tại khu vực mỏ khai thác

+ Đ02: Mẫu đất lấy trước nhà ông Lê Văn Mai

+ Đ03:Mẫu đất lấy tại khu sát bãi thải quặng đuôi

Thời gian lấy mẫu: tháng 02 năm 2016

2.4.2.2 Mẫu nước: 7 mẫu

Phương pháp lấy mẫu nước mặt thực hiện theo hướng dẫn của các tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5992:1995 (ISO 5667-2: 1991) Các mẫu nước thải được lấy tại các

hố ga, hoặc nơi cống xả vào nguồn nước không dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt Các mẫu nước mặt được lấy tại các sông, suối, kênh, mương, ao, hồ nằm sát phía sau khu công nghiệp, hoặc các vị trí khu dân cư ven khu công nghiệp, nguồn nước này dùng để cung cấp nước tưới cho nông nghiệp Các vị trí lấy mẫu nước:

- Nước mặt: 01 mẫu

- Nước ngầm: 04 mẫu

+ NN01: Tại giếng khoan văn phòng làm việc và nhà ở

+ NN02: Nước giếng hộ ông Lý Văn Thậu, thôn Minh Hạ 1

+ NN03: Nước giếng hộ bà Vũ Thị Ích, thôn Minh Hạ 2

+ NN04: Nước giếng hộ Lê Văn Lương, thôn Minh Hạ 3

- Nước thải: 02 mẫu

+ NT01: Mẫu nước thải tại khu cửa lò 105

+ NT02: Mẫu nước thải tại khu vực hồ thải

Thời gian lấy mẫu nước mặt, nước thải vào tháng 3 năm 2016; thời gian lấy mẫu nước ngầm vào tháng 2 năm 2016

2.4.2.3 Mẫu không khí: 03 mẫu

Sử dụng máy lấy mẫu không khí để lấy mẫu tại một số các địa điểm Các mẫu được cố định và bảo quản trước khi vận chuyển về phòng thí nghiệm theo tiêu chuẩn hiện hành Các vị trí lấy mẫu:

- KK1: Mẫu không khí lấy tại nhà máy tuyển

- KK2: Mẫu không khí tại trung tâm khai trường khai thác

Trang 36

- KK3: Mẫu không khí tại khu dân cư gần khai trường

Thời gian lấy mẫu vào tháng 3 năm 2016

* Phương pháp phân tích:

- Quan trắc tại hiện trường: Theo TCVN và đo trực tiếp

- Phân tích trong phòng thí nghiệm: Theo TCVN

Tiến hành phân tích các mẫu đất, mẫu nước trong phòng thí nghiệm:

- Đối với mẫu nước: pH, BOD5, COD, TSS, As…

- Đối với mẫu đất: pH, Cl, As, Cd, Cu, Pb, Zn, Cr, độ ẩm

- Đôi với mẫu không khí: Độ ồn, SO2, CO, NO2, bụi

2.4.3 Phương pháp điều tra phỏng vấn người dân quanh khu vực khai thác

- Phương pháp phỏng vấn: là phương pháp dùng một hệ thống câu hỏi miệng

để người được phỏng vấn trả lời bằng miệng nhằm thu được những thông tin nói lên nhận thức hoặc thái độ của cá nhân họ đối với một sự kiện hoặc vấn đề được hỏi.Đây là hình thức điều tra cá nhân - cá nhân, thường được sử dụng trong giai đoạn đầu khi mới làm quen với khách thể Khi đó người điều tra phỏng vấn một vài

cá nhân chủ yếu để thăm dò, phát hiện vấn đề, chuẩn bị cho hệ thống câu hỏi trong phiếu điều tra

- Tổng số phiếu điều tra, phỏng vấn: 60 phiếu

- Đối tượng, tiêu chí lựa chọn: lựa chọn ngẫu nhiên các hộ dân quanh khu vực khai thác

- Nội dung, phương pháp phỏng vấn: Đối thoại trực tiếp với các hộ gia đình xung quanh khu vực khai thác, điều tra, đặt câu hỏi về ảnh hưởng của môi trường đất, nước và không khí của khu vực nghiên cứu, mức độ ảnh hưởng của việc khai thác vàng đến sức khỏe của người dân

2.4.4 Các thiết bị quan trắc và phân tích

Trang thiết bị quan trắc

- Máy quang phổ hấp thụ nguyên tử AAS (AAnalyst 400)

- Máy quang phổ tử ngoại khả kiến (T80+)

- Hệ thống phá, chưng cất đạm theo phương pháp Kjeldahl

- Thiết bị phân tích TSS, COD, BOD5

Trang 37

- Máy đo pH, DO, độ đục để bàn

- Cân phân tích điện tử 5 số (model CPA225D)

- Máy phân tích hàm lượng dầu trong nước (OCMA 300)

- Bộ phân tích Total- Coliform và Fecal-Coli (MEL/MF400)

- Lò phá mẫu vi sóng (MW 680)

- Máy cất nước 2 lần (model A4000D)

Trang 38

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Minh Lương, huyện Văn Bàn

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

Và có các mặt tiếp giáp như sau:

- Phía Bắc, phía Tây giáp xã Nậm Xé

- Phía Nam giáp xã Nậm Xây

- Phía Đông giáp xã Thẩm Dương

Minh Lương là xã vùng cao cách trung tâm huyện lỵ 30 km về phía Tây Nam, có quốc lộ 279 chạy qua Minh Lương có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của huyện Văn Bàn nói riêng và tỉnh Lào Cai, vùng Tây Bắc nói chung

Vàng ở vùng Minh Lương - Sa Phìn - Tú Lệ đã được khai thác từ đầu thế kỷ 18-19, nhân dân ở vùng này đã tiến hành khai thác theo hình thức lộ vỉa và đào vỉa sâu đến vài chục mét, công nghệ thu hồi vàng ở đây tương đối thô sơ Được sự quan tâm của Chính phủ và UBND tỉnh Lào Cai, Công ty TNHH Nhà nước Một thành viên Khoáng sản 3 (nay là Công ty Cổ phần Khoáng sản 3) đã lập và thực hiện đề án: “Thăm dò quặng vàng gốc khu Minh Lương, Văn Bàn, Lào Cai Trên cơ sở báo cáo trữ lượng khai thác, được sự đồng ý của UBND tỉnh Lào Cai, Công ty Cổ phần Vàng Lào Cai thực hiện các thủ tục pháp lý đầu tư khai thác và giao cho Viện Khoa học Công nghệ Mỏ - Luyện kim lập dự án

Mỏ vàng gốc Minh Lương thuộc địa phận Bản 1; 2; 3 xã Minh Lương, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai Khu xây dựng mỏ có vị trí tương đối thuận lợi nằm cạnh tuyến quốc lộ 279 thuận tiện cho quá trình vận chuyển nguyên vật liệu phục vụ sản xuất Phía Đông Bắc và Tây Bắc của khu vực dự án có nhiều suối và khe suối chảy

Trang 39

qua như: suối Nậm Xây (Nậm Chăn) ở phía Đông Bắc, suối Nậm Mu, Nậm Điệp ở phía Tây Bắc đây là nguồn cung cấp nước dồi dào cho dự án Diện tích được cấp đất của dự án là 151,18 ha Trong đó diện tích khai thác mỏ là 127,00 ha Khu vực xây dựng các công trình của dự án có diện tích = 21,18 ha Khu vực xây dựng các tuyến đường, văn phòng điều hành mỏ và kho vật liệu nổ là 3,0 ha

Hình 3.1: Bản đồ vị trí của dự án

3.1.1.2 Địa hình, địa mạo

Địa hình địa mạo xã Minh Lương khá phức tạp, chia cắt đã tạo lên mạng lưới các ngòi suối tương đối dày và các thung lũng lòng chảo hẹp Do bị chia cắt bởi các dòng núi Khao Đảm và Vàng Lừu nên đã chia địa hình xã Minh Lương nghiêng theo hướng từ Tây Bắc xuống Đông Nam

Độ cao trung bình từ 500 m - 1.000 m so với mặt nước biển Điểm cao nhất

là núi San Dương (1.236 m) và nơi có độ cao thấp nhất thuộc khu vực suối Chăn (130 m) Có thể chia địa hình xã Minh Lương thành các dạng đặc trưng chủ yếu sau:

- Địa hình đồi núi cao chiếm tới 75% tổng diện tích tự nhiên toàn xã Phân bố chủ yếu tập trung ở phía Tây Bắc và Tây Nam của xã Phần lớn là các dãy núi có độ

Vị trí khu vực dự án

Trang 40

dốc cao và chia cắt, tạo nên những dòng thuỷ lưu Đây là khu vực thích hợp cho phát triển lâm nghiệp để ổn định và điều hoà nguồn nước, cải thiện môi trường sinh thái

- Địa hình đồi thấp và lòng chảo chủ yếu tập trung ở phía Đông Bắc của xã, diện tích chiếm khoảng 25% tổng diện tích tự nhiên toàn xã Đây là khu vực có địa hình sườn thoải, bát úp và bồn địa, có độ dốc thấp phù hợp cho định cư và phát triển nông nghiệp của nhân dân trong xã

3.1.1.3 Khí hậu, thời tiết

Xã Minh Lương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có tính chất phân mùa rõ rệt Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9 chịu ảnh hưởng của khối không khí nhiệt đới biển nên có tính chất nóng ẩm và mưa nhiều Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, do chịu ảnh hưởng của khối không khí sa mạc lục địa nên có tính chất khô lạnh

Do có tính chất phân mùa rõ rệt nên sản xuất nông lâm nghiệp cũng có tính chất thời vụ

Các nhân tố khí hậu thời tiết cụ thể như sau:

a, Nhiệt độ: Nhiệt độ bình quân năm là 22,90C, cao nhất vào tháng 7 bình quân từ 28 - 320C, thấp nhất vào tháng 1 bình quân từ 8 - 120C Tổng tích ôn hàng năm bình quân 7.500 - 8.0000

C

b, Lượng mưa: Lượng mưa bình quân hàng năm khoảng 1.800 mm và phân

bố không đều giữa các tháng trong năm Lượng mưa tập trung từ tháng 7 đến tháng

8 trong năm, trong thời gian này lượng mưa chiếm tới 70% lượng mưa cả năm và thường xuất hiện mưa đá, mưa rào kéo dài gây lũ sạt lở ảnh hưởng tới sản xuất và sinh hoạt của nhân dân địa phương

c, Độ ẩm: Độ ẩm không khí bình quân năm là 86% và có sự chênh lệch giữa các tháng trong năm Độ ẩm không khí cao nhất vào tháng 7 từ 80 - 90% Độ ẩm không khí thấp nhất vào tháng 12 từ 65 - 70%

d, Gió: chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính và phân bố theo mùa Mùa

hè có gió Đông Nam, mùa đông chịu ảnh hưởng của gió Đông Bắc Ngoài ra do ảnh hưởng của địa hình hàng năm từ tháng 3 đến tháng 5 thường xuất hiện các đợt gió khô nóng và kéo dài từ 5 - 6 ngày

Ngày đăng: 19/12/2016, 16:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Dư Ngọc Thành (2008), Bài giảng Ô nhiễm môi trường, Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Ô nhiễm môi trường
Tác giả: Dư Ngọc Thành
Năm: 2008
4. Lê Duyên Dực (2013), Chuyên đề khai thác khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường: “Tác động môi trường của hoạt động khai thác khoáng sản”, Trung Tâm Tài nguyên và Môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động môi trường của hoạt động khai thác khoáng sản
Tác giả: Lê Duyên Dực
Năm: 2013
5. Lê Quân (2012), Vụ sạt lở bãi thải mỏ than Phấn Mễ: Nỗi sợ hãi kéo dài nhiều năm, http://www.thanhnien.com.vn/pages/20120417/vu-sat-lo-bai-thai-mo-than-phan-me-noi-so-hai-keo-dai-nhieu-nam.aspx, 17/04/2012 [13] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vụ sạt lở bãi thải mỏ than Phấn Mễ: Nỗi sợ hãi kéo dài nhiều năm
Tác giả: Lê Quân
Năm: 2012
6. Lê Văn Thiện (2007), Bài giảng Ô nhiễm môi trường, Nxb Đại học Khoa Học Tự Nhiên Hà Nội, Đại học Khoa học Tự Nhiên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Ô nhiễm môi trường
Tác giả: Lê Văn Thiện
Nhà XB: Nxb Đại học Khoa Học Tự Nhiên Hà Nội
Năm: 2007
8. Nam Nguyên (2010), Bùn đỏ Cao Bằng, thực chứng cho Bauxite Tây nguyên,http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/iron-ore-red-mud-sludge-in-cao-bang-north-vietnam-nnguyen-11082010210315.html,1/8/2012. [11] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bùn đỏ Cao Bằng, thực chứng cho Bauxite Tây nguyên
Tác giả: Nam Nguyên
Năm: 2010
9. Nông Thị Thêm (2011-2013), „„Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động khai thác vàng sa khoáng đến môi trường nước sông Bắc Giang chảy qua địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn‟‟, Đề tài Thạc sĩ, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: „„Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động khai thác vàng sa khoáng đến môi trường nước sông Bắc Giang chảy qua địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn‟‟
10. Nguyễn Thị Lợi (2006), Bài giảng Khoa học môi trường đại cương, Đại học Nông Lâm, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Khoa học môi trường đại cương
Tác giả: Nguyễn Thị Lợi
Năm: 2006
11. Phạm Tích Xuân (2009 - 2010), Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của các bãi thải khai thác và chế biến khoáng sản kim loại đến môi trường và sức khoẻ con người và đề xuất biện pháp giảm thiểu, Viện địa chất Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của các bãi thải khai thác và chế biến khoáng sản kim loại đến môi trường và sức khoẻ con người và đề xuất biện pháp giảm thiểu
14. Tổng Hội địa chất Việt Nam (2010), Báo cáo nghiên cứu, đánh giá “Thực trạng về quản lý khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản Việt Nam”. Hà Nội 15. Tổng Hội địa chất Việt Nam (2010), Báo cáo nghiên cứu, đánh giá “Thực trạng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo nghiên cứu, đánh giá “Thực trạng về quản lý khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản Việt Nam”. "Hà Nội 15. Tổng Hội địa chất Việt Nam (2010)
Tác giả: Tổng Hội địa chất Việt Nam (2010), Báo cáo nghiên cứu, đánh giá “Thực trạng về quản lý khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản Việt Nam”. Hà Nội 15. Tổng Hội địa chất Việt Nam
Năm: 2010
18. Trần Văn Tuân (2012), Luận văn Thạc sĩ “Hiện trạng quản lý nước thải tại các nhà máy tuyển vàng - nghiên cứu, đề xuất cho nhà máy Đaksa, tỉnh Quảng Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng quản lý nước thải tại các nhà máy tuyển vàng - nghiên cứu, đề xuất cho nhà máy Đaksa, tỉnh Quảng Nam
Tác giả: Trần Văn Tuân
Năm: 2012
20. Trần Viết Khanh (2003 - 2005), Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động khai thác khoáng sản đến du lịch sinh thái ở lưu vực Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, Đề tài cấp Bộ, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động khai thác khoáng sản đến du lịch sinh thái ở lưu vực Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
21. Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và môi trương Bắc Kạn (2010), Báo cáo điều tra, thống kê, đánh giá chất thải rắn, chất thải nguy hại ngành khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn; xây dựng phương án xử lý, Bắc Kạn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo điều tra, thống kê, đánh giá chất thải rắn, chất thải nguy hại ngành khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn; xây dựng phương án xử lý
Tác giả: Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và môi trương Bắc Kạn
Năm: 2010
22. UBND tỉnh Lào Cai (2014), Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 - 2015) huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 - 2015) huyện
Tác giả: UBND tỉnh Lào Cai
Năm: 2014
23. UBND huyện Văn Bàn (2014), Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 - 2015) xã Minh Lương, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.II. Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 - 2015) xã
Tác giả: UBND huyện Văn Bàn
Năm: 2014
13. Sơn Hà (2010), Toàn cảnh thế giới vàng, http://land24.net/tin-tuc/the-gioi/toan- canh-the-gioi-vang-n9990.html, ngày 31/12/2010 Link
1. Công ty Cổ Phần Vàng Lào Cai, Báo cáo đánh giá tác động môi trường năm 2010 Khác
2. Công ty Cổ Phần Vàng Lào Cai, Báo cáo giám sát định kì môi trường năm 2013,2014,2015 Khác
12. Sở tư pháp- Sở Tài nguyên và Môi trường, Thông tin pháp lý- Tìm hiểu luật khoáng sản (2011) Khác
17. Trần Thị Thanh (2009), Các chuyên đề giáo dục bảo vệ môi trường, Quảng Ninh Khác
19. Trần Văn Trị (chủ biên), 2000. Tài nguyên và Khoáng sản Việt Nam, Nhà xuất bản Bộ Công nghiệp, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Các nước đóng góp nhiều nhất vào sản lượng vàng thế giới năm 2000 - Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác vàng gốc đến môi trường tại xã minh lương, huyện văn bàn, tỉnh lào cai
Bảng 1.1 Các nước đóng góp nhiều nhất vào sản lượng vàng thế giới năm 2000 (Trang 20)
Hình 3.1: Bản đồ vị trí của dự án - Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác vàng gốc đến môi trường tại xã minh lương, huyện văn bàn, tỉnh lào cai
Hình 3.1 Bản đồ vị trí của dự án (Trang 39)
Hình 3.2: Sơ đồ quy trình tuyển quặng - Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác vàng gốc đến môi trường tại xã minh lương, huyện văn bàn, tỉnh lào cai
Hình 3.2 Sơ đồ quy trình tuyển quặng (Trang 48)
Hình 3.3: Sơ đồ công nghệ chế biến quặng tinh tuyển nổi Vàng - Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác vàng gốc đến môi trường tại xã minh lương, huyện văn bàn, tỉnh lào cai
Hình 3.3 Sơ đồ công nghệ chế biến quặng tinh tuyển nổi Vàng (Trang 50)
Hình 3.4: Kết quả phân tích pH, TSS, BOD 5  những năm gần đây - Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác vàng gốc đến môi trường tại xã minh lương, huyện văn bàn, tỉnh lào cai
Hình 3.4 Kết quả phân tích pH, TSS, BOD 5 những năm gần đây (Trang 55)
Hình 3.5: Kết quả phân tích pH, BOD 5 , TSS, tổng dầu mỡ trong nước thải khu - Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác vàng gốc đến môi trường tại xã minh lương, huyện văn bàn, tỉnh lào cai
Hình 3.5 Kết quả phân tích pH, BOD 5 , TSS, tổng dầu mỡ trong nước thải khu (Trang 58)
Hình 3.6: Kết quả phân tích Fe, pb, Cd, As, Au trong nước thải khu vực khai - Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác vàng gốc đến môi trường tại xã minh lương, huyện văn bàn, tỉnh lào cai
Hình 3.6 Kết quả phân tích Fe, pb, Cd, As, Au trong nước thải khu vực khai (Trang 58)
Bảng 3.14: Kết quả phân tích chất lượng nước thải khu vực hồ thải - Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác vàng gốc đến môi trường tại xã minh lương, huyện văn bàn, tỉnh lào cai
Bảng 3.14 Kết quả phân tích chất lượng nước thải khu vực hồ thải (Trang 60)
Hình 3.8: Kết quả phân tích Fe, pb, Cd, As trong nước thải khu vực hồ thải - Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác vàng gốc đến môi trường tại xã minh lương, huyện văn bàn, tỉnh lào cai
Hình 3.8 Kết quả phân tích Fe, pb, Cd, As trong nước thải khu vực hồ thải (Trang 61)
Hình 3.9: Kết quả phân tích bụi, SO 2 , NO2, CO trong không khí khu vực nhà - Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác vàng gốc đến môi trường tại xã minh lương, huyện văn bàn, tỉnh lào cai
Hình 3.9 Kết quả phân tích bụi, SO 2 , NO2, CO trong không khí khu vực nhà (Trang 64)
Bảng 3.19: Kết quả phân tích môi trường không khí trong khu vực khai - Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác vàng gốc đến môi trường tại xã minh lương, huyện văn bàn, tỉnh lào cai
Bảng 3.19 Kết quả phân tích môi trường không khí trong khu vực khai (Trang 65)
Hình 3.11: Kết quả phân tích bụi, SO 2  NO 2 , CO trong không khí khu vực dân - Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác vàng gốc đến môi trường tại xã minh lương, huyện văn bàn, tỉnh lào cai
Hình 3.11 Kết quả phân tích bụi, SO 2 NO 2 , CO trong không khí khu vực dân (Trang 67)
Hình 3.13: Biểu đồ thể hiện số giá của người dân về mức độ ô nhiễm môi trường - Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác vàng gốc đến môi trường tại xã minh lương, huyện văn bàn, tỉnh lào cai
Hình 3.13 Biểu đồ thể hiện số giá của người dân về mức độ ô nhiễm môi trường (Trang 68)
Hình 3.12: Mức độ quan tâm của người dân về môi trường - Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác vàng gốc đến môi trường tại xã minh lương, huyện văn bàn, tỉnh lào cai
Hình 3.12 Mức độ quan tâm của người dân về môi trường (Trang 68)
Hình 3.14: Các loại bệnh thường gặp - Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác vàng gốc đến môi trường tại xã minh lương, huyện văn bàn, tỉnh lào cai
Hình 3.14 Các loại bệnh thường gặp (Trang 70)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w