Sự cần thiết của quản lý nhà nước trong TMDT Thứ nhất, phải khắc phục những hạn chế của việc điều tiết của thị trường, bảo đảm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đã đề ra.. - N
Trang 1ĐỀ CƯƠNG QLNN
CÂU 1: Sự cần thiết và vai trò của quản lý nhà nước trong TMDT
1 Sự cần thiết của quản lý nhà nước trong TMDT
Thứ nhất, phải khắc phục những hạn chế của việc điều tiết của thị trường, bảo đảm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đã đề ra.
Thị trường không phải là nơi có thể đạt được sự hài hoà trong việc phân phối thu nhập xã hội, trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống xã hội, trong việc phát triển kinh tế xã hội giữa các vùng… Cùng với việc đó, thị trường cũng không khắc phục những khuyết tật của nền kinh tế thị trường, những mặt trái của nền kinh tế thị trường đã nêu ở trên Tất cả điều đó không phù hợp và cản trở việc thực hiện đầy đủ những mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội đã đề ra Cho nên trong quá trình vận hành kinh tế, sự quản lý nhà nước đối với kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là cần thiết để khắc phục những hạn chế, bổ sung chỗ hổng của sự điều tiết của trhị trường, đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế xã hội
Đó cũng là thực hiện nhiệm vụ hàng đầu của quàn lý nhà nước về kinh tế
Thứ hai: Bằng quyền lực, chính sách và sức mạnh kinh tế của mình Nhà nước phải giải quyết những mâu thuẫn lợi ích kinh tế phố biến, thường xuyên và cơ bản trong nền kinh tế quốc dân.
Trong quá trình hoạt động kinh tế, con người có mối quan hệ với nhau Lợi ích kinh tế là biểu hiện cụ thể của mối quan hệ đó Mọi thứ mà con người phấn đấu đền liên quan đến lợi ích của mình Trong nền kinh tế thị trường, mọi đối tác đều hướng tới lợi ích kinh tế riêng của mình Nhưng, khối lượng kinh tế thì có hạn
và không thể chia đều cho mọi người, nếu xẩy ra sự tranh giành về lợi ích và từ
đó phát sinh ra những mâu thuẫn về lợi ích Trong nền kinh tế thị trường có những loại mâu thuẫn cơ bản sau đây:
- Mâu thuẫn giữa các doanh nghiệp với nhau trên thương trường
- Mâu thuẫn giữa chủ và thợ trong các doanh nghiệp
Trang 2- Mâu thuẫn giữa người sản xuất kinh doanh với toàn thể cộng đồng trong việc sử dụng tài nguyên và môi trường, không tính đến lợi ích chung trong việc họ cung ứng những hàng hoá và dịch vụ kém chất lượng, đe doạ sức khoẻ cộng đồng: trong việc xâm hại trật tự, an toàn xã hội, đe doạ an ninh quốc gia vì hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
- Ngoài ra, còn nhiều mâu thuẫn khác nữa như mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa cá nhân; công dân với Nhà nước, giữa các địa phương với nhau, giữa các ngành, các cấp với nhau trong quá trình hoạt động kinh tế của đất nước
- Những mâu thuẫn này có tính phổ biến, thường xuyên và có tính căn bản
vì liên quan đến quyền lợi của NTD và của các DN đồng thời tác động đến sự ổn định kinh tế-xã hội Chỉ có nhà nước mới có thể giải quyết được các mâu thuãn đó, điều hoà lợi ích của các bên
Thứ ba, tính giai cấp trong kinh tế và bản chất giai cấp của nhà nước
Nhà nước hình thành từ khi xã hội có giai cấp Nhà nước bao giừ cũng đại diện lợi ích của giai cấp thống trị nhất định trong đó có lợi ích kinh tế Nhà nước
xã hội chủ nghĩa Việt Nam đại diện cho lợi ích dân tộc và nhân dân, Nhà nước của
ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội do Nhà nước ta xác định và quản lý chỉ đạo là nhằm cuối cùng đem lại lợi ích vật chất
và tinh thần cho nhân dân Tuy vây, trong nền kinh tế nhiều thành phần, mở cửa với nước ngoài, không phải lúc nào lợi ích kinh tế của các bên cũng luôn luôn nhất trí Vì vậy, xuất hiện xu hướng vừa hợp tác, vừa đấu tranh trong quá trình hoạt động kinh tế trên các mặt quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý, quan hệ phân phối
Trong cuộc đấu tranh trên mặt trận kinh tế Nhà nước ta phải thể hiện bản chất giai cấp của mình để bảo vệ lợi ích của dân tộc và của nhân dân ta Chỉ có Nhà nước mới có thể làm được điều đó Như vậy là, trong quá trình phát triển kinh
tế, Nhà nước ta đã thể hiện bản chất giai cấp của mình
Ngoài ra còn do các lý do sau đây dẫn đến sự cần thiết của QLNN trong TMDT
Trang 3- Nền KTTT thường xuyên thay đổi và chịu tác động của nhiều yếu tố do đó chính sách cần thường xuyên thay đổi đề phù hợp với thị trường, đảm bảo tạo thị trường ổn đinh, cạnh tranh công bằng giữa các chủ thể trong nền KT
- Khoa học công nghệ ngày càng phát triển, số lượng người làm về TMDT cũng nhiều hơn Do vậy nhu cầu và thói quen tiêu dùng của người dân cũng ngày một thay đổi theo Người ta bắt đầu hình thành thói quen tìm kiếm thông tin trên mạng trước khi quyết định mua hàng hóa, dịch vụ nào đó Nắm được nhu cầu này
mà các doanh nghiệp tạo dùng mọi cách để lôi kéo, thu hút khách hàng do vậy mà không tránh khỏi được các gian lận, mánh khóe trong TM, ảnh hưởng đến quyền
và lợi ích của NTD
- Ngày nay vấn đề thanh toán trong TMDT còn gặp phải nhiều khó khăn nhất
là bảo mật thông tin KH khi tiến hành giao dich: thông tin cá nhân và thông tin về tài khoản của KH khó mà đảm bảo an toàn nếu như DN không có các kết nối an toàn Do vậy cần có sự can thiệp, điều tiết của Nhà nước để đảm bảo quyền lợi cho NTD cũng như giảm thiểu các tranh chấp TM không đáng có, đồng thời tạo ra các chế tài phù hợp, nghiêm ngặt để khắc phục các vấn đề trên
- Do tính chất khó khăn và phức tạp của việc tham gia vào hoạt động của nền kinh tế, nên các doanh nghiệp và doanh nhân rất cần có sự hỗ trợ của nhà nước (hỗ trợ về ý chí, về tri thức, về phương tiện, về môi trường kinh doanh v.v )
2 Vai trò của quản lý nhà nước trong TMDT
Gồm 4 vai trò
1 Tạo lập ra môi trường cạnh tranh bình đẳng hơn trong TM
- Môi trường TM và cạnh tranh về TMDT phụ thuộc nhiều vào chính sách, pháp luật và thủ tục hành chính
- Các thông tin và kế hoạch TMDT phải tuân thủ quyết định, chính sách nhà nước tránh tình trạng thủ tục hành chính rườm rà, khuôn phổ pháp lý không đầy đủ, không đồng bộ và thiếu tính minh bạch và tạo nên vai trò rất lớn cải
Trang 4thiện môi trường kinh doanh nhất là trong môi trường hiện tại kinh doanh ngày càng khốc liệt và nhiều biến đổi
- Nhà nước tạo lập, cải thiện môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp kinh doanh TMDT thông qua các quan hệ về TM, sự giao lưu hàng hóa trong nước và quốc tế nhờ thiết lập khuôn khổ pháp lý đầy đủ hơn, đồng bộ hơn, tiến bộ hơn trong lĩnh vực TMDT
- Nhà nước vừa là người ban hành các chính sách, quy định vừa là người tổ chức hướng dẫn thực hiện và kiểm tra, giám sát
=> Tóm lại : Tạo ra môi trường kinh doanh trong điều kiện hội nhập và cạnh
tranh ở mức độ cao hơn như hiện nay đòi hỏi nhà nước phải quản lý vĩ mô cũng phải đổi mới tư duy, công cụ và các chính sách quản lý, nâng cao trình độ nhận thức, điều hành lãnh đạo chung trong TMDT để tạo ra môi trường cạnh tranh tốt hơn, bình đẳng hơn
2 Hỗ trợ các DN và giải quyết các mâu thuẫn trong tranh chấp TMDT
- Các doanh nghiệp cần được nhà nước hỗ trợ trong nền kinh tế, cần có một
sự hỗ trợ nhất định Nhà nước bằng những quyền lực, trách nhiệm, khả năng của mình buộc phải hỗ trợ cho DN phù hợp với quy trình phát triển của đất nước trong từng thời kỳ: Hỗ trợ, cung cấp cho hệ thống CNTT tốt,
hỗ trợ CSVCKT, xúc tiến TM
- Giải quyết một số mâu thuẫn: Nhà nước phải can thiệp vào giải quyết một
số mâu thuẫn trên thị trường để cho TMDT càng ngày càng phát triển mạnh hơn, cần thiết hơn là công cụ quan trọng phục vụ cho các DN trong việc bán sản phẩm,
- Nhà nước phải dựa vào chuẩn mực các định chế cần thiết để thực hiện cưỡng chế trong giải quyết các tranh chấp thương mại Trong nền KTTT phần lớn các giao dịch được thực hiện dựa trên CSHT do vậy khi những định chế và quy định dễ dàng hơn là điều kiện cần thiết giúp cho TM nói chung và TMDT nói riêng phát triển tốt, lành mạnh nhất trong nền tranh chấp TM
Trang 53 Điều tiết các quan hệ thị trường và các hoạt động TMDT
- Theo quy luật thị trường các chủ thể kinh doanh luôn quan tâm tới việc bố trí và di chuyển nguồn lực từ những nơi có thể phát triển sản xuất để tìm kiếm lợi nhuận dẫn tới việc mất cân đối giữa cung và cầu Do vậy nhà nước cần điều tiết các quan hệ TM và hạn chế nhược điểm để tăng cường quan
hệ TM bền vững cho tăng trưởng, phát triển kinh tế
- Nhà nước hướng dẫn, khuyến khích các DN thực hiện pháp luật, chính sách đảm bảo việc ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo lợi ích cho NTD
- Nhà nước sử dụng nhiều công cụ hoặc biện pháp khác nhau để điều tiết thị trường để khuyến khích TMDT phát triển bằng nhiều biện pháp, hỗ trợ, tạo điều kiện, tác động vào thị trường
4 Giám sát, kiểm tra thực hiện các mục tiêu phát triển TMDT
- Quản lý nhà nước về TMDT bao giờ cũng hướng tới mục tiêu để phát triển kinh tế Do vậy thực chất quản lý nhà nước về TMDT thực hiện giám sát, kiểm tra để phát hiện các sai lệch để điều chỉnh cho phù hợp hơn với sự phát triển của TMDT Tuy nhiên phát hiện đúng nhưng kiểm tra, giám sát cũng phải chuẩn mực Đòi hỏi chất lượng ở đội ngũ thanh tra, kiểm tra, giám sát phải có tâm và làm việc hết trách nhiệm
- Các mục tiêu của TM mang tính bền vững, bao gồm tăng trưởng, kiểm soát
và điều chỉnh thực hiện mục tiêu phát triển TMDT đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa các ngành từ trung ương đến địa phương
- Công tác kiểm tra, giám sát cần có bộ máy nhân sự phù hợp, có kỹ thuật, trang thiết bị, công nghệ để phát hiện ra được những sai sót nhằm có biện pháp khắc phục kịp thời và hiệu quả
CÂU 2: Nội dung của quản lý nhà nước về TMDT
1 Công cụ kế hoạch hóa phát triển TMDT
* Khái niệm và sự cần thiết của công cụ kế hoạch hóa
- Công cụ kế hoạch hóa là toàn bộ các phương tiện mà các cơ quan quản lý nhà nước sử dụng để quản lý nhằm đạt được mục tiêu Các công cụ chủ yếu
Trang 6của kế hoạch hóa gồm: Kế hoạch hóa các chính sách, luật pháp trong lĩnh vực TMDT
- Kế hoạch hóa là công cụ hướng dẫn và điều tiết quan trọng để nhà nước điều chỉnh và kiểm soát nền kinh tế bất kể thể chế kinh tế nào thì kế hoạch hóa cũng chiếm vị trí quan trọng đảm bảo phát triển thương mại và thương mại điện tử Do vậy kế hoạch hóa là một công cụ quan trọng trong quản lý kinh tế để đạt được mục tiêu nhằm phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng bền vững
- Kế hoạch hóa là phương án hành động cho tương lai nhằm phát triển TMDT theo mục tiêu đã xác định Kế hoạch hóa còn được hiểu là một bộ phận của kế hoạch trong nền kinh tế quốc dân nhằm lưu thông hàng hóa, dịch vụ đạt được hiệu quả hơn Do vậy kế hoạch hóa là một quá trình hoạt động mang tính liên ngành bao gồm các công cụ hoạch định, thực thi, kiểm soát, điều chỉnh để phát triển TM Quy hoạch phát triển tổng thể TM trong
đó có TMDT do vậy phải có kế hoạch hàng năm, 5 năm Kế hoạch hóa là một công cụ quan trọng để quản lý TM trong đó có TMDT để phù hợp với bối cảnh hội nhập kinh tế
* Nội dung của kế hoạch hóa
- Kế hoạch hóa bao gồm các bộ phận chủ yếu: chiến lược và quy hoạch phát triển TMDT, kế hoạch 5 năm, hàng năm để phát triển TMDT, các chương trình dự
án để phát triển TMDT
+ Chiến lược phát triển TMDT: Là một luận cứ khoa học phát triển TMDT
trong 1 thời gian dài để làm căn cứ hoạch định, quy hoạch phát triển TMDT, nhằm đảm bảo lưu thông hàng hóa nhanh hơn Vì vậy có thể cho rằng chiến lược phát triển TMDT là chiến lược đúng đắn của nhà nước phù hợp với sự phát triển kinh
tế Các loại chiến lược: chiến lược quốc gia (giải pháp vĩ mô để phát triển TMDT), chiến lược TM vùng – lãnh thổ
+ Kế hoạch 5 năm, hàng năm trong TMDT: Kế hoạch 5 năm là sự cụ thể của
các nội dung và chiến lược quy hoạch trong TMDT nhằm từng bước đưa các
Trang 7chương trình mục tiêu chiến lược phát triển TMDT Kế hoạch hàng năm nhằm cụ thể hóa kế hoạch hàng năm nhằm thực hiện các mục tiêu cụ thể trong chiến lược phát triển thực hiện mục tiêu tổng thể 5 năm
Note: Lựa chọn thời gian 5 năm là do:
- 5 năm là một khoảng thời gian hợp lý để thực hiện được các quyết định phát triển TMDT có thể đổi mới công nghệ phát triển
- 5 năm là thời gian cần thiết để đổi mới những chủ trương chính sách của nhà nước Do vậy lựa chọn 5 năm là hợp lý
- Trong điều kiện phát triển khoa học công nghệ, 5 năm là thời gian trung bình cần thiết để hoàng thành công trình xây dựng, CSVCKT để phát triển đội ngũ hoặc cơ sở phát triển TMDT
+ Quy hoạch chiến lược phát triển TMDT
- Quy hoạch phát triển TMDT là 1 luận chứng khoa học về các phương án phát triển TMDT theo lãnh thổ, vùng để đạt được các mục tiêu đề ra
- Mục tiêu: Phát huy tối đa lợi thế so sánh sẽ đạt được kết quả tốt Nếu quy hoạch không tốt sẽ dẫn tới sử dụng nguồn lực kém và hiệu quả công việc thấp
2 Luật pháp trong quản lý nhà nước về TMDT
• Khái niệm và sự cần thiết của luật pháp trong TMDT
- Luật pháp là khuôn khổ đúng đắn cho hoạt động TM trong đó có TMDT đảm bảo cho các DN kinh doanh TMDT thông qua các công cụ luật pháp này DN có thể tác động đến các chủ thể trong thị trường Các công cụ luật pháp bao gồm các quy phạm về luật pháp do nhà nước ban hành để quản lý các vấn đề phát sinh trong vấn đề lưu thông và cung ứng hàng hóa trên mạng, phục vụ và đáp ứng được mục tiêu kinh tế, xã hội của nhà nước
• Vai trò của luật pháp trong TMDT
- Xác định địa vị pháp lý của các chủ thể TMDT trên thị trường, giúp cho
DN TMDT biết được pháp lý trong hoạt động kinh doanh để bán được sản phẩm, được luật pháp cho phép, cạnh tranh bình đẳng hơn
Trang 8- Nhà nước cần điều chỉnh hành vi kinh doanh, các quy phạm pháp luật và giải quyết những tranh chấp TM dựa trên những quy định của luật pháp hoặc những chính sách TM trong đó có TMDT
- Là công cụ quan trọng để điều phối các hoạt động TMDT trên thị trường do vậy nhà nước cần có thông tư, văn bản quy định chặt chẽ hơn vấn dề TMDT dựa trên những luật lệ, văn bản quy định về TMDT
• Sự cần thiết của luật pháp trong TMDT
• Nội dung của công cụ luật pháp
- Cơ chế tác động của công cụ luật pháp trong TMDT thể hiện ở 3 cơ chế:
Cơ chế dẫn dắt, cơ chế kích thích, cơ chế cưỡng chế
- Định hướng mục tiêu đạt được dựa trên những văn bản TMDT dẫn đến mục tiêu nhà nước đạt được
- NHờ công cụ luật pháp mà các DN cạnh tranh bình đẳng hơn và được pháp luật thừa nhận
- Những quy định luôn luôn chỉnh sửa để các chính sách được tốt hơn Luật pháp cần phải minh bạch, rõ ràng, câu từ cần dễ hiểu, chính sách rõ nghĩa
• Các công cụ về chính sách kinh tế TM trong TMDT
* Khái niệm chính sách
Chính sách: là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó
của chính phủ bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt được và cách làm
để thực hiện các mục tiêu đó Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa – xã hội – môi trường
* Các chính sách trong TMDT
• Chính sách tài khóa
Trong nền KTTT chính sách tài khóa có vị trí đặc biệt quan trọng, nó là công
cụ ổn định trong nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng chính sách tài khóa bao gồm: chính sách thuế,chi tiêu chính phủ, chính sách đó có thể ảnh hưởng đến tổng cầu
và tác động đến TM nói chung và TMDT nói riêng Do vậy nhà nước cần phải sử
Trang 9dụng chính sách tài khóa này để quản lý Nhà nước, quản lý TM trong đó có TMDT
• Chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ: Ngân hàng là “linh hồn của nền kinh tế thị trường” được
Nhà nước sử dụng để điều tiết tiền tệ trong lưu thông xác lập môi trường tài chính lành mạnh, phù hợp với yêu cầu đầu tư phát triển kinh tế kinh tế và là công cụ để thực hiện chiến lược tài chính, tiền tệ quốc gia Vai trò đó được thực hiện thông qua việc tổ chức hoạt động ngân hàng 2 cấp trong nền kinh tế thị trường, đó là Ngân hang nhà nước và Ngân hàng thương mại
Ngân hàng nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh tiền tệ, cung ứng và điều hòa lưu thông tiền tệ, ổn định giá trị đồng tiền Các ngân hàng thương mại thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ, thực hiện các dịch vụ tài chính, ngân hàng Công cụ cơ bản để sử dụng trong hệ thống ngân hàng là hệ thống luật, văn bản dưới luật, lãi suất, chiếc khấu, hệ thống thị trường tài chính, tiền tệ
Hoạt động của hệ thống ngân hàng giữ được vai trò là trung tâm tín dụng, trung tâm tiền tệ, trung tâm thanh toán và từ đó có thể khống chế, kiểm soát, điều chỉnh hoạt động của nền kinh tế quốc dân Do đó, trong điều kiện kinh tế thị trường, Ngân hàng giữ vai trò công cụ vĩ mô của Nhà nước
Chính sách tiền tệ có tác động lớn đến các hoạt động thương mại nói chung trong đó có TMDT, có tác động khuyến khích hoặc hạn chế đầu tư, phụ thuộc và lãi suất Do vậy chính sách tiền tệ ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến các hoạt động của thị trường làm tăng hoặc giảm sản lượng, khuyến khích hoặc hạn chế đầu tư
Có thể dễ dàng nhận thấy cung tiền và cầu tiền ảnh hưởng trực tiếp đến lãi suất ngân hàng Để phát triển kinh tế nhà nước đang cố gắng dùng mọi biện pháp để giảm lãi suất, khuyến khích đầu tư, phát triển Tuy nhiên trước tình trạng nền kinh
tế còn gặp nhiều khó khăn, thách thức đòi hỏi nhà nước cần đưa ra những chính sách phù hợp để duy trì, ổn định và phát triển kinh tế như tái cấu trúc hệ thống
Trang 10ngân hàng, giảm thiểu nhân lực dư thừa trong hệ thống, tinh giảm nguồn lực sao cho đạt hiệu quả nhất…đồng thời cũng đưa ra nhiều chính sách để giảm thiểu nợ xấu, tăng nguồn vốn đầu tư,…
• Chính sách tỷ giá hối đoái
Chính sách tỷ giá cũng ảnh hưởng đến quan hệ TM đặc biệt là hoạt động xuất nhập khẩu Trước tình trạng nền kinh tế đang gặp khó khăn hiện nay, đồng tiền ngày càng trở nên mất giá…tuy nhiên tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam mấy năm trở lại đây vẫn tương đối ổn định Do vậy nhà nước cũng cần có chính sách, biện pháp cụ thể để quản lý có hiệu quả nhằm thúc đẩy hoạt động xuất, nhập khẩu, phát triển nền kinh tế
• Chính sách giá cả
Chính sách giá cả (bao gồm giá cả hàng hóa và giá cả đồng tiền): Trong kinh
tế thị trường, là cơ sở để bố trí tài nguyên và kinh doanh sản xuất nó nẩy sinh thông qua thị trường và phản ảnh nhanh nhạy cung – cầu của nền kinh tế Sự giao động kinh tế của nền kinh tế quốc dân, trước tiên biểu hiện ở sự giao động về giá
cả, cho nên quản lý giá cả bằng chính sách giá chính là một trong những nội dung chủ yếu về sự can thiệp của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường như: điều tiết quan hệ cung – cầu, điều tiết hành vi, mối quan hệ giữa các doanh nghiệp, các ngành kinh tế, điều tiết quan hệ cạnh tranh, môi trường kinh tế để chống đột biến xấu từ lạm phát, bảo hộ các hoạt động sản xuất kinh doanh
- Giá cả là một phạm trù gắn liền với sự phát triển TM
- Giá cả là bàn tay vô hình điều tiết kinh tế - xã hội do vậy trong nền KTTT Nhà nước cần thông qua cơ chế giá cả để được thực hiện vai trò điều tiết vĩ
mô, điều hành các hoạt động TM
- Can thiệp gián tiếp bằng biện pháp điều tiết vĩ mô như điều hòa quan hệ cung cầu hàng hóa, dịch vụ
- Nhà nước cần quản lý chính sách giá cả cho phù hợp đặc biệt với những sản phẩm độc quyền như điện, xăng, nước bằng cách đưa ra các mức giá trần, giá sàn, và niêm yết giá, Giá cả là một trong những yếu tố có tác động