1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Đề cương chuẩn Quản Lý Nhà Nước Thương mại điện tử

22 357 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 150,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

=> Tóm lại : Tạo ra môi trường kinh doanh trong điều kiện hội nhập và cạnh tranh ở mức độ cao hơn như hiện nay đòi hỏi nhà nước phải quản lý vĩ môcũng phải đổi mới tư duy, công cụ và các

Trang 1

CÂU 1: Sự cần thiết và vai trò của quản lý nhà nước trong TMDT

Sự cần thiết của quản lý nhà nước trong TMDT

Thứ nhất, phải khắc phục những hạn chế của việc điều tiết của thị trường, bảo đảm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đã đề ra.

Thị trường không phải là nơi có thể đạt được sự hài hoà trong việc phânphối thu nhập xã hội, trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống xã hội, trong việcphát triển kinh tế xã hội giữa các vùng… Cùng với việc đó, thị trường cũng khôngkhắc phục những khuyết tật của nền kinh tế thị trường, những mặt trái của nềnkinh tế thị trường đã nêu ở trên Tất cả điều đó không phù hợp và cản trở việc thựchiện đầy đủ những mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội đã đề ra Cho nên trong quátrình vận hành kinh tế, sự quản lý nhà nước đối với kinh tế thị trường theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa là cần thiết để khắc phục những hạn chế, bổ sung chỗhổng của sự điều tiết của trhị trường, đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế xã hội

Đó cũng là thực hiện nhiệm vụ hàng đầu của quàn lý nhà nước về kinh tế

Thứ hai: Bằng quyền lực, chính sách và sức mạnh kinh tế của mình Nhà nước phải giải quyết những mâu thuẫn lợi ích kinh tế phố biến, thường xuyên và cơ bản trong nền kinh tế quốc dân.

Trong quá trình hoạt động kinh tế, con người có mối quan hệ với nhau Lợiích kinh tế là biểu hiện cụ thể của mối quan hệ đó Mọi thứ mà con người phấnđấu đền liên quan đến lợi ích của mình Trong nền kinh tế thị trường, mọi đối tácđều hướng tới lợi ích kinh tế riêng của mình Nhưng, khối lượng kinh tế thì có hạn

và không thể chia đều cho mọi người, nếu xẩy ra sự tranh giành về lợi ích và từ

đó phát sinh ra những mâu thuẫn về lợi ích Trong nền kinh tế thị trường có nhữngloại mâu thuẫn cơ bản sau đây:

- Mâu thuẫn giữa các doanh nghiệp với nhau trên thương trường

- Mâu thuẫn giữa chủ và thợ trong các doanh nghiệp

- Mâu thuẫn giữa người sản xuất kinh doanh với toàn thể cộng đồng trongviệc sử dụng tài nguyên và môi trường, không tính đến lợi ích chung trong việc họcung ứng những hàng hoá và dịch vụ kém chất lượng, đe doạ sức khoẻ cộng đồng:trong việc xâm hại trật tự, an toàn xã hội, đe doạ an ninh quốc gia vì hoạt động sảnxuất kinh doanh của mình

- Ngoài ra, còn nhiều mâu thuẫn khác nữa như mâu thuẫn về lợi ích kinh tếgiữa cá nhân; công dân với Nhà nước, giữa các địa phương với nhau, giữa cácngành, các cấp với nhau trong quá trình hoạt động kinh tế của đất nước

- Những mâu thuẫn này có tính phổ biến, thường xuyên và có tính căn bản

vì liên quan đến quyền lợi của NTD và của các DN đồng thời tác động đến sự ổn

Trang 2

định kinh tế-xã hội Chỉ có nhà nước mới có thể giải quyết được các mâu thuãn đó,điều hoà lợi ích của các bên.

Thứ ba, tính giai cấp trong kinh tế và bản chất giai cấp của nhà nước

Nhà nước hình thành từ khi xã hội có giai cấp Nhà nước bao giừ cũng đạidiện lợi ích của giai cấp thống trị nhất định trong đó có lợi ích kinh tế Nhà nước

xã hội chủ nghĩa Việt Nam đại diện cho lợi ích dân tộc và nhân dân, Nhà nước của

ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội doNhà nước ta xác định và quản lý chỉ đạo là nhằm cuối cùng đem lại lợi ích vật chất

và tinh thần cho nhân dân Tuy vây, trong nền kinh tế nhiều thành phần, mở cửavới nước ngoài, không phải lúc nào lợi ích kinh tế của các bên cũng luôn luôn nhấttrí Vì vậy, xuất hiện xu hướng vừa hợp tác, vừa đấu tranh trong quá trình hoạtđộng kinh tế trên các mặt quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý, quan hệ phân phối

Trong cuộc đấu tranh trên mặt trận kinh tế Nhà nước ta phải thể hiện bảnchất giai cấp của mình để bảo vệ lợi ích của dân tộc và của nhân dân ta Chỉ cóNhà nước mới có thể làm được điều đó Như vậy là, trong quá trình phát triển kinh

tế, Nhà nước ta đã thể hiện bản chất giai cấp của mình

Ngoài ra còn do các lý do sau đây dẫn đến sự cần thiết của QLNN trong TMDT

- Nền KTTT thường xuyên thay đổi và chịu tác động của nhiều yếu tố do đóchính sách cần thường xuyên thay đổi đề phù hợp với thị trường, đảm bảo tạo thịtrường ổn đinh, cạnh tranh công bằng giữa các chủ thể trong nền KT

- Khoa học công nghệ ngày càng phát triển, số lượng người làm về TMDTcũng nhiều hơn Do vậy nhu cầu và thói quen tiêu dùng của người dân cũng ngàymột thay đổi theo Người ta bắt đầu hình thành thói quen tìm kiếm thông tin trênmạng trước khi quyết định mua hàng hóa, dịch vụ nào đó Nắm được nhu cầu này

mà các doanh nghiệp tạo dùng mọi cách để lôi kéo, thu hút khách hàng do vậy màkhông tránh khỏi được các gian lận, mánh khóe trong TM, ảnh hưởng đến quyền

và lợi ích của NTD

- Ngày nay vấn đề thanh toán trong TMDT còn gặp phải nhiều khó khăn nhất

là bảo mật thông tin KH khi tiến hành giao dich: thông tin cá nhân và thông tin vềtài khoản của KH khó mà đảm bảo an toàn nếu như DN không có các kết nối antoàn Do vậy cần có sự can thiệp, điều tiết của Nhà nước để đảm bảo quyền lợi choNTD cũng như giảm thiểu các tranh chấp TM không đáng có, đồng thời tạo ra cácchế tài phù hợp, nghiêm ngặt để khắc phục các vấn đề trên

- Do tính chất khó khăn và phức tạp của việc tham gia vào hoạt động của nềnkinh tế, nên các doanh nghiệp và doanh nhân rất cần có sự hỗ trợ của nhà nước (hỗ

Trang 3

trợ về ý chí, về tri thức, về phương tiện, về môi trường kinh doanh v.v )

Vai trò của quản lý nhà nước trong TMDT

Gồm 4 vai trò

Tạo lập ra môi trường cạnh tranh bình đẳng hơn trong TM

- Môi trường TM và cạnh tranh về TMDT phụ thuộc nhiều vào chính sách,pháp luật và thủ tục hành chính

- Các thông tin và kế hoạch TMDT phải tuân thủ quyết định, chính sách nhànước tránh tình trạng thủ tục hành chính rườm rà, khuôn phổ pháp lý khôngđầy đủ, không đồng bộ và thiếu tính minh bạch và tạo nên vai trò rất lớn cảithiện môi trường kinh doanh nhất là trong môi trường hiện tại kinh doanhngày càng khốc liệt và nhiều biến đổi

- Nhà nước tạo lập, cải thiện môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệpkinh doanh TMDT thông qua các quan hệ về TM, sự giao lưu hàng hóatrong nước và quốc tế nhờ thiết lập khuôn khổ pháp lý đầy đủ hơn, đồng bộhơn, tiến bộ hơn trong lĩnh vực TMDT

- Nhà nước vừa là người ban hành các chính sách, quy định vừa là người tổchức hướng dẫn thực hiện và kiểm tra, giám sát

=> Tóm lại : Tạo ra môi trường kinh doanh trong điều kiện hội nhập và cạnh

tranh ở mức độ cao hơn như hiện nay đòi hỏi nhà nước phải quản lý vĩ môcũng phải đổi mới tư duy, công cụ và các chính sách quản lý, nâng cao trình độnhận thức, điều hành lãnh đạo chung trong TMDT để tạo ra môi trường cạnhtranh tốt hơn, bình đẳng hơn

Hỗ trợ các DN và giải quyết các mâu thuẫn trong tranh chấp TMDT

- Các doanh nghiệp cần được nhà nước hỗ trợ trong nền kinh tế, cần có một

sự hỗ trợ nhất định Nhà nước bằng những quyền lực, trách nhiệm, khảnăng của mình buộc phải hỗ trợ cho DN phù hợp với quy trình phát triểncủa đất nước trong từng thời kỳ: Hỗ trợ, cung cấp cho hệ thống CNTT tốt,

hỗ trợ CSVCKT, xúc tiến TM

- Giải quyết một số mâu thuẫn: Nhà nước phải can thiệp vào giải quyết một

số mâu thuẫn trên thị trường để cho TMDT càng ngày càng phát triển mạnhhơn, cần thiết hơn là công cụ quan trọng phục vụ cho các DN trong việcbán sản phẩm,

- Nhà nước phải dựa vào chuẩn mực các định chế cần thiết để thực hiệncưỡng chế trong giải quyết các tranh chấp thương mại Trong nền KTTTphần lớn các giao dịch được thực hiện dựa trên CSHT do vậy khi nhữngđịnh chế và quy định dễ dàng hơn là điều kiện cần thiết giúp cho TM nói

Trang 4

chung và TMDT nói riêng phát triển tốt, lành mạnh nhất trong nền tranhchấp TM.

Điều tiết các quan hệ thị trường và các hoạt động TMDT

- Theo quy luật thị trường các chủ thể kinh doanh luôn quan tâm tới việc bốtrí và di chuyển nguồn lực từ những nơi có thể phát triển sản xuất để tìmkiếm lợi nhuận dẫn tới việc mất cân đối giữa cung và cầu Do vậy nhà nướccần điều tiết các quan hệ TM và hạn chế nhược điểm để tăng cường quan hệ

TM bền vững cho tăng trưởng, phát triển kinh tế

- Nhà nước hướng dẫn, khuyến khích các DN thực hiện pháp luật, chính sáchđảm bảo việc ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo lợi ích cho NTD

- Nhà nước sử dụng nhiều công cụ hoặc biện pháp khác nhau để điều tiết thịtrường để khuyến khích TMDT phát triển bằng nhiều biện pháp, hỗ trợ, tạođiều kiện, tác động vào thị trường

Giám sát, kiểm tra thực hiện các mục tiêu phát triển TMDT

- Quản lý nhà nước về TMDT bao giờ cũng hướng tới mục tiêu để phát triểnkinh tế Do vậy thực chất quản lý nhà nước về TMDT thực hiện giám sát,kiểm tra để phát hiện các sai lệch để điều chỉnh cho phù hợp hơn với sựphát triển của TMDT Tuy nhiên phát hiện đúng nhưng kiểm tra, giám sátcũng phải chuẩn mực Đòi hỏi chất lượng ở đội ngũ thanh tra, kiểm tra,giám sát phải có tâm và làm việc hết trách nhiệm

- Các mục tiêu của TM mang tính bền vững, bao gồm tăng trưởng, kiểm soát

và điều chỉnh thực hiện mục tiêu phát triển TMDT đòi hỏi phải có sự phốihợp giữa các ngành từ trung ương đến địa phương

- Công tác kiểm tra, giám sát cần có bộ máy nhân sự phù hợp, có kỹ thuật,trang thiết bị, công nghệ để phát hiện ra được những sai sót nhằm có biệnpháp khắc phục kịp thời và hiệu quả

CÂU 2: Nội dung của quản lý nhà nước về TMDT

• Quản lý kiểm soát hàng hóa lưu thông và hoạt động cung cấp hàng hóa dịch

vụ trên thị trường :

Quản lý kiểm soát hàng hóa lưu thông và hoạt động cung ứng hoạt động trên thịtrường là 1 nội dung quan trọng góp phần định hướng cho đầu tư cơ cấu lại sảnxuất cho nền kinh tế đặc biệt là định hướng phát triển sản phẩm cho DN: khuyếnkhích lưu thông hàng hóa và cung ứng dịch vụ tạo điều kiện thuận lợi để đa dạnghóa chủng loại hàng hóa phù hợp nhu cầu thị trường, khuyến khích hàng hóa sảnxuất trong nc thay thế hàng hóa nhập khẩu, cấm lưu thông hàng hóa cung cấp dịch

Trang 5

vụ phương hại đến quốc phòng an ninh an toàn xã hội truyền thống thuần phong

mỹ tục VN…quản lý chất lượng hàng hóa cung ứng trong nc và xuất khẩu

• Quản lý hệ thống thương nhân và các giao dịch thương mại điện tử

Thương nhân gồm các tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp cá nhân hoạt động

TM 1 cách độc lập các sàn giao dịch điện tử có đăng ký kinh doanh

Quản lý tập trung vào các điều kiện thủ tục đăng ký điều liện kinh doanh điềuchỉnh hành vi thương mại quy định những nguyên tắc chuẩn mực trong TMĐT.Đảm bảo quyền bình đằng của các thương nhân thuộc mọi thành phần kinh tếtrong TMĐT Nhà nước quàn lý và đảm bảo cho các DN đc hoạt động hợp pháp,nghiêm cấm các hoạt động gây hại đến lợi ích quốc gia…Nhà nước đầu tư về tàichính cơ sở hạ tầng CNTT nhân lực để phát triển thương mại đtử Nhà nước địnhhướng tạo khuôn khổ hành lang pháp lý cho các hoạt động TMĐT tạo môi trườngkinh doanh thuận lợi cho các hoạt động thương mại điện tử trên thị trường Thanhtra kiểm tra giám sát việc kinh doanh của các DN TMĐT các sản giao dịch điệntử…để chấn chỉnh và xử lý kịp thời các vi phạm…

• Quản lý cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin mạng lưới kinh doanh

Trong thương mại điện tử thì cơ sở hạ tầng CNTT đóng vai trò rất quan trọng đốivới sự phát triển giao dịch lưu thông hàng hóa dịch vụ Tăng cường quản lý về hệthống an ninh bảo mật thông tin trong thương mại điện tử nhà nước cần có nhữngquy định chính sách chặt chẽ trong việc quy định bảo mật thông tin an toàn Một

số chính sách như: Thông tư số 46/2010/TT-BCT của Bộ Công thương : Quy định

về quản lý hoạt động của các website thương mại điện tử bán hàng hoá hoặc cungứng dịch vụ, Thông tư Số: 09/2011/TT-BCT Quy định về việc quản lý, sử dụngchữ ký số, chứng thư số và dịch vụ chứng thực chữ ký số của Bộ Công thương

• Thanh tra ktra việc chấp hành giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý các hình thức vi phạm chế độ quy định và luật pháp trong TMĐT

Kiểm tra việc đăng ký kinh doanh và việc chấp hành các chế độ quy định và phápluật về thương mại điện tử Phat hiện ngăn chặn xử lý các vi phạm theo thẩmquyền, kiến nghị

• Ban hành và tổ chức thực hiện các chiến lược quy hoạch kế hoạch chính sách TMĐT

• Ban hành tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm về luật TMĐT

• Tổ chức bồi dưỡng đào tạo nhân lực nâng cao năng lực nhận thức về TMĐT

• Tổ chức hợp tác quốc tế về TMĐT.

CÂU 3: Các chức năng của quản lý nhà nước về TMDT

Trang 6

Gồm 4 chức năng:

Chức năng định hướng, phát triển TMDT

- Quan tâm đào tạo, xây dựng nguồn nhân lực, làm tốt công tác quy hoạch, đàotạo, bồi dưỡng cán bộ chuyên trách về TMĐT đáp ứng được yêu cầu công việc;

- Đẩy mạnh cung cấp trực tuyến các dịch vụ công liên quan tới hoạt động sản xuấtkinh doanh theo đúng các cam kết quốc tế về thương mại không giấy tờ trong cáclĩnh vực thuế, hải quan, xuất nhập khẩu, đầu tư, đăng ký kinh doanh và các dịch vụcông khác liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh;

- Nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý nhà nước về TMĐT: tạo môi trườngthuận lợi cho các doanh nghiệp ứng dụng TMĐT; tăng cường hỗ trợ cho cácdoanh nghiệp ứng dụng TMĐT vào hoạt động quảng bá, giới thiệu, tiếp thị sảnphẩm, tham gia giao dịch trực tuyến, đổi mới phương thức kinh doanh, cải tiếnquy trình quản lý;

- Định hướng cho các DN TMDT phát triển đúng hướng theo tiến trình phát triểncủa nền KT và WTO

Chức năng tổ chức và phối hợp các hoạt động quản lý trong TMDT

- Tổ chức thực hiện đưa sản phẩm từ nhà sản xuất đến tay người tiêu dùngthông qua các giao dịch TMDT nhanh nhất và tiết kiệm chi phí nhất Bêncạnh đó cũng cần chú trọng đến các khâu lưu kho, vận chuyển hàng hóa vàcác hoạt động logictis khác

- Phối hợp thực hiện giữa các ban ngành, đoàn thể, đơn vị do kinh tế chịu sựtác động đa chiều của nhiều yếu tố Cần phối hợp thực hiện để tăng hiệuquả hiệu suất cũng như tạo sự phối hợp đồng bộ

Chức năng lãnh đạo và điều hành các hoạt động TMDT

- Nhà nước cần chú trọng đến các hoạt động lãnh đạo các hoạt động TMDT

để hoạt động sản xuất, kinh doanh diễn ra thông suốt, đi đúng hướng và đạtđược đúng các mục tiêu đã đề ra Sự lãnh đạo đúng đắn và kịp thời sẽ tạo rađược nhiều kết quả tốt

- Bên cạnh việc lãnh đạo cũng cần phải điều hành, kiểm tra, giám sát cáchoạt động TM để chúng hoạt động được tốt hơn và diễn ra theo đúng địnhhướn đã đề ra

Chức năng kiểm soát các hoạt động TMDT

Thông qua các hoạt động kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh tế làm giảmthiểu các gian lận TM và làm trong sạch môi trường kinh doanh, tạo ra môi trườngcạnh tranh bình đẳng hơn cho các DN đồng thời giúp các DN đi đúng hướng vàđạt được các mục tiêu kinh tế đã đề ra Từ đó các giao dịch dienx ra tốt hơn, thông

Trang 7

tin TMDT trở nên nhanh chóng và chính xác hơn Tất cả đều hướng đến mục tiêucuối cùng là lợi ích cho NTD.

CÂU 4: Công cụ kế hoạch hóa trong TMDT

Công cụ kế hoạch hóa phát triển TMDT

* Khái niệm và sự cần thiết của công cụ kế hoạch hóa

- Công cụ kế hoạch hóa là toàn bộ các phương tiện mà các cơ quan quản lýnhà nước sử dụng để quản lý nhằm đạt được mục tiêu Các công cụ chủ yếucủa kế hoạch hóa gồm: Kế hoạch hóa các chính sách, luật pháp trong lĩnhvực TMDT

- Kế hoạch hóa là công cụ hướng dẫn và điều tiết quan trọng để nhà nướcđiều chỉnh và kiểm soát nền kinh tế bất kể thể chế kinh tế nào thì kế hoạchhóa cũng chiếm vị trí quan trọng đảm bảo phát triển thương mại và thươngmại điện tử Do vậy kế hoạch hóa là một công cụ quan trọng trong quản lýkinh tế để đạt được mục tiêu nhằm phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởngbền vững

- Kế hoạch hóa là phương án hành động cho tương lai nhằm phát triểnTMDT theo mục tiêu đã xác định Kế hoạch hóa còn được hiểu là một bộphận của kế hoạch trong nền kinh tế quốc dân nhằm lưu thông hàng hóa,dịch vụ đạt được hiệu quả hơn Do vậy kế hoạch hóa là một quá trình hoạtđộng mang tính liên ngành bao gồm các công cụ hoạch định, thực thi, kiểmsoát, điều chỉnh để phát triển TM Quy hoạch phát triển tổng thể TM trong

đó có TMDT do vậy phải có kế hoạch hàng năm, 5 năm Kế hoạch hóa làmột công cụ quan trọng để quản lý TM trong đó có TMDT để phù hợp vớibối cảnh hội nhập kinh tế

* Nội dung của kế hoạch hóa

- Kế hoạch hóa bao gồm các bộ phận chủ yếu: chiến lược và quy hoạch pháttriển TMDT, kế hoạch 5 năm, hàng năm để phát triển TMDT, các chương trình,

dự án để phát triển TMDT

+ Chiến lược và quy hoạch phát triển TMDT

+ Chiến lược phát triển TMDT: Là một luận cứ khoa học phát triển TMDT

trong 1 thời gian dài để làm căn cứ hoạch định, quy hoạch phát triển TMDT, nhằmđảm bảo lưu thông hàng hóa nhanh hơn Vì vậy có thể cho rằng chiến lược pháttriển TMDT là chiến lược đúng đắn của nhà nước phù hợp với sự phát triển kinh

tế Các loại chiến lược: chiến lược quốc gia (giải pháp vĩ mô để phát triển TMDT),chiến lược TM vùng – lãnh thổ

+ Quy hoạch chiến lược phát triển TMDT

Trang 8

- Quy hoạch phát triển TMDT là 1 luận chứng khoa học về các phương ánphát triển TMDT theo lãnh thổ, vùng để đạt được các mục tiêu đề ra.

- Mục tiêu: Phát huy tối đa lợi thế so sánh sẽ đạt được kết quả tốt Nếu quyhoạch không tốt sẽ dẫn tới sử dụng nguồn lực kém và hiệu quả công việcthấp

+ Kế hoạch 5 năm, hàng năm trong TMDT:

Kế hoạch 5 năm có nhiệm vụ vạch ra những phương hướng, chỉ tiêu chủ yếu

phát triển thương mại trong mối quan hệ cân đối với các lĩnh vực hoạt động kháccủa địa phương hay của nền kinh tế quốc dân Với nhiệm vụ đó kế hoạch 5 nămphải cụ thể hóa được những mục tiêu và giải pháp đã được định hướng trong cácchiến lược và quy hoạch Mặc khác phải thể hienj được tính bao quát đối với toàn

bộ lĩnh vực hoạt động TM và xác định được những mục tiêu cần tập trung nhằmtạo ra sự phát triển nhanh, bền vững

Kế hoạch hàng năm nhằm cụ thể hóa nội dung của kế hoạch 5 năm, tức là từng

bước lượng mức độ cho phép thực hiện các mục tiêu phát triển TM 5 năm Nhiệm

vụ của kế hoạch hàng năm là phải tham gia giải quyết từng mặt của kế hoạch 5năm, biểu thị sự chi tiết hóa nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm Mặc dù kế hoạch hàngnăm là kế hoạch bộ phận của kế hoạch 5 năm, nhưng không có nghĩa kế hoạchhàng năm là 1 bộ phận cấu thành về mặt số học của KH 5 năm

Note: Lựa chọn thời gian 5 năm là do:

- 5 năm là một khoảng thời gian hợp lý để thực hiện được các quyết địnhphát triển TMDT có thể đổi mới công nghệ phát triển

- 5 năm là thời gian cần thiết để đổi mới những chủ trương chính sách củanhà nước Do vậy lựa chọn 5 năm là hợp lý

- Trong điều kiện phát triển khoa học công nghệ, 5 năm là thời gian trungbình cần thiết để hoàng thành công trình xây dựng, CSVCKT để phát triểnđội ngũ hoặc cơ sở phát triển TMDT

+ Chương trình, dự án phát triển TMDT

Chương trình: Được sử dụng rất phổ biến để xác định một cách đồng bộ

các mục tiêu cần đạt được, các bước công việc cần tiến hành, các nguồn lực cầnhuy động để thực hiện một ý đồ nào đó

Dự án phát triển TM: là tổng thể các hoạt động, các nguồn lực các chi phí

được bố trí chặt chẽ theo thời gian và không gian nhằm thực hiện những mục tiêuphát triển TM cụ thể

Chương trình và dự án phát triển TM khác nhau, nhưng có quan hệ chặt chẽvới nhau trong công tác kế hoạch hóa TM Dự án là phương thức thực hiện

Trang 9

chương trình Mỗi chương trình có vài dự án trở lên Thực hiện tốt các dự án sẽgóp phần thực hiện chương trình phát triển Tm có hiệu quả.

CÂU 5: Công cụ luật pháp trong TMDT

Luật pháp trong quản lý nhà nước về TMDT

Khái niệm và sự cần thiết của luật pháp trong TMDT

- Luật pháp là khuôn khổ đúng đắn cho hoạt động TM trong đó có TMDT đảmbảo cho các DN kinh doanh TMDT thông qua các công cụ luật pháp này DN cóthể tác động đến các chủ thể trong thị trường Các công cụ luật pháp bao gồm cácquy phạm về luật pháp do nhà nước ban hành để quản lý các vấn đề phát sinhtrong vấn đề lưu thông và cung ứng hàng hóa trên mạng, phục vụ và đáp ứng đượcmục tiêu kinh tế, xã hội của nhà nước

Vai trò của luật pháp trong TMDT

- Xác định địa vị pháp lý của các chủ thể TMDT trên thị trường, giúp cho

DN TMDT biết được pháp lý trong hoạt động kinh doanh để bán được sảnphẩm, được luật pháp cho phép, cạnh tranh bình đẳng hơn

- Nhà nước cần điều chỉnh hành vi kinh doanh, các quy phạm pháp luật vàgiải quyết những tranh chấp TM dựa trên những quy định của luật pháphoặc những chính sách TM trong đó có TMDT

- Là công cụ quan trọng để điều phối các hoạt động TMDT trên thị trường dovậy nhà nước cần có thông tư, văn bản quy định chặt chẽ hơn vấn dềTMDT dựa trên những luật lệ, văn bản quy định về TMDT

Nội dung của công cụ luật pháp

- Cơ chế tác động của công cụ luật pháp trong TMDT thể hiện ở 3 cơ chế:

Cơ chế dẫn dắt, cơ chế kích thích, cơ chế cưỡng chế

- Định hướng mục tiêu đạt được dựa trên những văn bản TMDT dẫn đến mụctiêu nhà nước đạt được

- NHờ công cụ luật pháp mà các DN cạnh tranh bình đẳng hơn và được phápluật thừa nhận

- Những quy định luôn luôn chỉnh sửa để các chính sách được tốt hơn Luậtpháp cần phải minh bạch, rõ ràng, câu từ cần dễ hiểu, chính sách rõ nghĩa

Các công cụ về chính sách kinh tế TM trong TMDT

* Khái niệm chính sách

Chính sách: là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó

của chính phủ bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt được và cách làm

để thực hiện các mục tiêu đó Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàndiện trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa – xã hội – môi trường

Trang 10

* Các chính sách trong TMDT

Chính sách tài khóa

Trong nền KTTT chính sách tài khóa có vị trí đặc biệt quan trọng, nó là công

cụ ổn định trong nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng chính sách tài khóa bao gồm:chính sách thuế,chi tiêu chính phủ, chính sách đó có thể ảnh hưởng đến tổng cầu

và tác động đến TM nói chung và TMDT nói riêng Do vậy nhà nước cần phải sửdụng chính sách tài khóa này để quản lý Nhà nước, quản lý TM trong đó cóTMDT

Chính sách tiền tệ

Chính sách tiền tệ: Ngân hàng là “linh hồn của nền kinh tế thị trường” được

Nhà nước sử dụng để điều tiết tiền tệ trong lưu thông xác lập môi trường tài chínhlành mạnh, phù hợp với yêu cầu đầu tư phát triển kinh tế kinh tế và là công cụ đểthực hiện chiến lược tài chính, tiền tệ quốc gia Vai trò đó được thực hiện thôngqua việc tổ chức hoạt động ngân hàng 2 cấp trong nền kinh tế thị trường, đó làNgân hang nhà nước và Ngân hàng thương mại

Ngân hàng nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động kinhdoanh tiền tệ, cung ứng và điều hòa lưu thông tiền tệ, ổn định giá trị đồng tiền Các ngân hàng thương mại thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ, thực hiệncác dịch vụ tài chính, ngân hàng Công cụ cơ bản để sử dụng trong hệ thống ngânhàng là hệ thống luật, văn bản dưới luật, lãi suất, chiếc khấu, hệ thống thị trườngtài chính, tiền tệ

Hoạt động của hệ thống ngân hàng giữ được vai trò là trung tâm tín dụng,trung tâm tiền tệ, trung tâm thanh toán và từ đó có thể khống chế, kiểm soát, điềuchỉnh hoạt động của nền kinh tế quốc dân Do đó, trong điều kiện kinh tế thịtrường, Ngân hàng giữ vai trò công cụ vĩ mô của Nhà nước

Chính sách tiền tệ có tác động lớn đến các hoạt động thương mại nói chungtrong đó có TMDT, có tác động khuyến khích hoặc hạn chế đầu tư, phụ thuộc vàlãi suất Do vậy chính sách tiền tệ ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến các hoạtđộng của thị trường làm tăng hoặc giảm sản lượng, khuyến khích hoặc hạn chếđầu tư

Có thể dễ dàng nhận thấy cung tiền và cầu tiền ảnh hưởng trực tiếp đến lãi suấtngân hàng Để phát triển kinh tế nhà nước đang cố gắng dùng mọi biện pháp đểgiảm lãi suất, khuyến khích đầu tư, phát triển Tuy nhiên trước tình trạng nền kinh

tế còn gặp nhiều khó khăn, thách thức đòi hỏi nhà nước cần đưa ra những chínhsách phù hợp để duy trì, ổn định và phát triển kinh tế như tái cấu trúc hệ thốngngân hàng, giảm thiểu nhân lực dư thừa trong hệ thống, tinh giảm nguồn lực sao

Trang 11

cho đạt hiệu quả nhất…đồng thời cũng đưa ra nhiều chính sách để giảm thiểu nợxấu, tăng nguồn vốn đầu tư,…

Chính sách tỷ giá hối đoái

Chính sách tỷ giá cũng ảnh hưởng đến quan hệ TM đặc biệt là hoạt động xuấtnhập khẩu Trước tình trạng nền kinh tế đang gặp khó khăn hiện nay, đồng tiềnngày càng trở nên mất giá…tuy nhiên tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam mấy nămtrở lại đây vẫn tương đối ổn định Do vậy nhà nước cũng cần có chính sách, biệnpháp cụ thể để quản lý có hiệu quả nhằm thúc đẩy hoạt động xuất, nhập khẩu, pháttriển nền kinh tế

Chính sách giá cả

Chính sách giá cả (bao gồm giá cả hàng hóa và giá cả đồng tiền): Trong kinh

tế thị trường, là cơ sở để bố trí tài nguyên và kinh doanh sản xuất nó nẩy sinhthông qua thị trường và phản ảnh nhanh nhạy cung – cầu của nền kinh tế Sự giaođộng kinh tế của nền kinh tế quốc dân, trước tiên biểu hiện ở sự giao động về giá

cả, cho nên quản lý giá cả bằng chính sách giá chính là một trong những nội dungchủ yếu về sự can thiệp của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường như: điều tiếtquan hệ cung – cầu, điều tiết hành vi, mối quan hệ giữa các doanh nghiệp, cácngành kinh tế, điều tiết quan hệ cạnh tranh, môi trường kinh tế để chống đột biếnxấu từ lạm phát, bảo hộ các hoạt động sản xuất kinh doanh

- Giá cả là một phạm trù gắn liền với sự phát triển TM

- Giá cả là bàn tay vô hình điều tiết kinh tế - xã hội do vậy trong nền KTTTNhà nước cần thông qua cơ chế giá cả để được thực hiện vai trò điều tiết vĩ

mô, điều hành các hoạt động TM

- Can thiệp gián tiếp bằng biện pháp điều tiết vĩ mô như điều hòa quan hệcung cầu hàng hóa, dịch vụ

- Nhà nước cần quản lý chính sách giá cả cho phù hợp đặc biệt với nhữngsản phẩm độc quyền như điện, xăng, nước bằng cách đưa ra các mức giátrần, giá sàn, và niêm yết giá, Giá cả là một trong những yếu tố có tác độngđến tổng cầu Do vậy nếu nhà nước quản lý không tốt giá thì người tiêudùng luôn là người phải chịu thiệt thòi trong các hoạt động KT

- Cụ thể:

+ Nhà nước trực tiếp đối với một số ít sản phẩm cơ bản có tính chất chiến lượcphục vụ cho xã hội như: Than, dầu mỏ, điện, hàng không, bưu điện… Tuy nhiên,từng bước thu hẹp tỷ trọng Nhà nước định giá và mở rộng tỷ trọng giá Nhà nướcchỉ đạo và giá thị trường điều tiết

Ngày đăng: 19/12/2016, 15:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w