DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 4.1: Ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến thời gian đẻ của lợn nái ..... Ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến thời gian động dục lại của lợn nái .... Tuy
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2011 – 2016
Thái Nguyên - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -
NGUYỄN VĂN TÖ
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA KỸ THUẬT VẮT SỮA LỢN MẸ ĐẾN KHẢ NĂNG SINH SẢN TRÊN ĐÀN LỢN NUÔI TẠI TRẠI LỢN NGÔ HỒNG GẤM, HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÕA BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Lớp: 43 Thú y – N01 Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2011 – 2016
Giảng viên hướng dẫn: ThS Phạm Thị Trang Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi đã nhận được sự dạy bảo tận tình của thầy giáo, cô giáo Nhờ vậy, em đã được các thầy giáo, cô giáo trang bị cho kiến thức khoa học
kỹ thuật, cũng như đạo đức của người cán bộ tương lai Thầy, cô đã trang bị cho tôi đầy đủ hành trang và một lòng tin vững bước vào đời, vào cuộc sống
và vào nghề nghiệp sau này
Để có thể hoàn thành tốt được khoá luận tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y, sự giúp đỡ của cô giáo hướng dẫn ThS Phạm Thị Trang, cùng với sự giúp đỡ của chủ trang trại lợn Ngô Hồng Gấm, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình đã giúp em hoàn thành khóa luận này
Qua đây em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, các thầy giáo, cô giáo đã tận tình giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập tại trường
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, sự quan tâm giúp đỡ của cô giáo hướng dẫn ThS Phạm Thị Trang đã trực tiếp hướng dẫn tận tình, tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành bản khóa luận này
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới bác chủ trang trại lợn và tập thể cán bộ công nhân viên trại chăn nuôi Ngô Hồng Gấm, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình - những người đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập tại cơ sở
Nhân đây, em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và những người thân của em đã hết lòng động viên, chia sẻ, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập để em hoàn thành tốt khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Văn Tú
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 30
Bảng 4.1: Kết quả công tác phục vụ sản xuất 42
Bảng 4.2: Ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến thời gian đẻ
của lợn nái 43
Bảng 4.3: Ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến thời gian cai sữa của lợn nái 44
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến thời gian động dục lại của lợn nái 45
Bảng 4.5: Ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến số con đẻ ra/lứa của lợn nái 47
Bảng 4.6: Ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến số lượng khối lượng lợn con sơ sinh và lợn con cai sữa 48
Bảng 4.7: Ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến sinh trưởng tương đối, sinh trưởng tuyệt đối của đàn lợn con 51
Bảng 4.8: Ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến sinh trưởng tích lũy của đàn lợn con 50
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến thời gian đẻ
của lợn nái 43Hình 4.2: Ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến thời gian cai sữa của
lợn nái 44Hình 4.3: Ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến thời gian động dục lại
của lợn nái 46Hình 4.4: Ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến số con đẻ ra/lứa
của lợn nái 47
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.1.1 Sinh lý sinh sản ở lợn nái 3
2.1.1.1 Đặc điểm chu kỳ động dục và cơ chế động dục của lợn nái 3
2.1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sinh dục ở lợn nái 7
2.1.1.3 Đặc điểm sinh lý của lợn nái thời kỳ mang thai 9
2.1.1.4 Đặc điểm quá trình đẻ của lợn nái 12
2.1.1.5 Sinh lý tiết sữa của lợn mẹ 16
2.1.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái 17
2.1.2 Sinh lý lợn con 21
2.1.2.1 Sức đề kháng của lợn con qua các giai đoạn 21
2.1.2.2 Sinh lý tiêu hóa của lợn con 23
2.2 Tình hình nghiên cứu về các biện pháp nâng cao khả năng sinh sản của lợn nái 26
Trang 82.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 26
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 27
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 29
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 29
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 29
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 29
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 29
3.3 Nội dung nghiên cứu 29
3.3.1 Ứng dụng và đánh giá ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến khả năng sinh sản ở lợn nái 29
3.3.2 Đánh giá ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến chất lượng đàn lợn con 29
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 30
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm và theo dõi các chỉ tiêu 30
3.4.2 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 30
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 32
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
4.1 Công tác phục vụ sản xuất 33
4.1.1 Công tác chăn nuôi 33
4.1.1.1 Công tác chăm sóc nuôi dưỡng 33
4.1.1.2 Phát hiện lợn nái động dục 34
4.1.1.3 Thụ tinh nhân tạo cho lợn nái 35
4.1.2 Công tác thú y 35
4.1.2.1 Công tác vệ sinh 35
4.1.2.2 Công tác phòng bệnh bằng vacxin 37
4.1.2.3 Công tác chẩn đoán và điều trị 38
4.1.3 Công tác khác 41
Trang 94.2 Kết quả nghiên cứu 42
4.2.1 Kết quả ứng dụng và đánh giá ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến khả năng sinh sản ở lợn nái 42
4.2.1.1 Ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến thời gian đẻ
của lợn nái 42
4.2.1.2 Ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến thời gian cai sữa của
lợn nái 44
4.2.1.3 Ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến thời gian động dục lại của lợn nái 45
4.2.1.4 Ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến số con đẻ ra/lứa
của lợn nái 46
4.2.2 Đánh giá ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến chất lượng đàn lợn con 48
4.2.2.1 Ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến số lượng, khối lượng lợn con sơ sinh và lợn con cai sữa 48
4.4.2.2 Ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến sinh trưởng tích lũy của đàn lợn con 51
4.4.2.3 Ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến khả năng sinh trưởng của đàn lợn con 49
4.4.2.4 Ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến sức đề kháng của đàn lợn con 52
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 54
5.1 Kết luận 54
5.2 Đề nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I Tài liệu tiếng Việt
II Tài liệu tiếng Anh
PHỤ LỤC
Trang 10Để chăn nuôi đàn lợn nái đạt hiệu quả cao bên cạnh các yếu tố về thức
ăn, chuồng trại, kỹ thuật chăn nuôi,… thì một trong những yếu tố hết sức quan trọng cần được đảm bảo là phải có đàn giống tốt Điều này phụ thuộc rất lớn vào năng suất suất sinh sản của đàn lợn nái
Tuy nhiên, trong thực tế có nhiều nguyên nhân làm ảnh hưởng và hạn chế khả năng sinh sản của lợn nái như: các yếu tố môi trường (nhiệt độ, ánh sáng, thông thoáng), sức khoẻ của lợn (bệnh truyền nhiễm, các bệnh về sinh sản, bệnh viêm tử cung các khuyết tật, stress), giống, cá thể, dinh dưỡng,… và
kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ cũng ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh sản trên đàn lợn nái.Áp dụng kỹ thuật vắt sữa cho lợn nái sau khi đẻ được 1- 2 con sẽ giúp cho quá trình đẻ của lợn nái diễn ra nhanh và dễ dàng hơn Đồng thời, việc vắt
Trang 11sữa đầu của lợn mẹ cho đàn lợn con bú sớm góp phần nâng cao sức đề kháng, tăng độ đồng đều và tỷ lệ sống toàn đàn
Xuất phát từ thực tế trên, được sự hướng dẫn của cô giáo ThS Phạm Thị Trang,
sự phân công của khoa Chăn nuôi - Thú y, trường Đại học Nông lâm Thái
Nguyên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của
kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến khả năng sinh sản trên đàn lợn nái nuôi tại Trại lợn Ngô Hồng Gấm, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
Ứng dụng và đánh giá ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ trong việc nâng cao khả năng sinh sản của đàn lợn nái và chất lượng đàn lợn con
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về việc ứng dụng biện pháp kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để hướng dẫn các cán bộ thú y, người chăn nuôi lợn giúp tăng hiệu quả kinh tế, nâng cao chất lương và giảm thiểu bệnh trên đàn lợn
Trang 12Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Sinh lý sinh sản ở lợn nái
2.1.1.1 Đặc điểm chu kỳ động dục và cơ chế động dục của lợn nái
Sự thành thục về tính
Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ tính dục
và có khả năng sinh sản Khi gia súc đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục
đã phát triển hoàn thiện, dưới tác dụng của thần kinh nội tiết tố con vật bắt đầu xuất hiện các phản xạ về sinh dục Con cái có hiện tượng động dục, con đực có phản xạ giao phối
Khi đó, con cái các noãn bao chín và rụng trứng (lần đầu), con đực có phản xạ sinh tinh Đối với các giống gia súc khác nhau thì thời gian thành thục
về tính cũng khác nhau, ở lợn nội thường từ 4 - 5 tháng tuổi (120 - 150 ngày), ở lợn ngoại (180 - 210 ngày)
Ở lợn cái có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự thành thục về tính như giống, chế độ dinh dưỡng, khí hậu, chuồng trại, trạng thái sinh lý của từng cá thể,…
Giống: Ở lợn lai tuổi động dục đầu tiên muộn hơn so với lợn nội thuần Lợn lai F1 bắt đầu động dục lúc 6 tháng tuổi, khi khối lượng cơ thể đạt 50 - 55kg Lợn ngoại động dục lần đầu muộn hơn so với lợn lai vào lúc 6 - 7 tháng tuổi, khi lợn có khối lượng 65 - 68kg Còn đối với lợn nội tuổi thành thục về tính từ 4 - 5 tháng tuổi
Chế độ dinh dưỡng: Ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn nái Thường những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính sớm hơn những lợn được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém
Trang 13Lợn cái được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng tốt sẽ thành thục ở độ tuổi trung bình 188,5 ngày (6 tháng tuổi) với khối lượng cơ thể là 80kg và nếu hạn chế thức ăn thì sự thành thục về tính sẽ xuất hiện lúc 234,8 ngày (trên 7 tháng tuổi) và khối lượng cơ thể là 48,4kg
Dinh dưỡng thiếu làm chậm sự thành thục về tính là do sự tác động xấulên tuyến yên và sự tiết kích tố sinh dục, nếu thừa dinh dưỡng cũng ảnh hưởng không tốt tới sự thành thục, là do sự tích lũy mỡ xung quanh buồng trứng và cơ quan sinh dục làm giảm chức năng bình thường của chúng Mặt khác, do béo quá ảnh hưởng tới các hocmon oestrogen và progesterone trong máu, làm cho hàm lượng của chúng trong cơ thể không đạt mức cần thiết để thúc đẩy sự thành thục
+ Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng: Cũng là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục Mùa Hè lợn cái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa Thu - Đông, điều đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức
+ Ngoài các nhân tố trên, chu kỳ động dục còn chịu tác động của một số nhân tố khác như: Nhiệt độ, chế độ chiếu sáng, pheromone, tiếng kêu của con đực
Sự thành thục về thể vóc
- Thành thục về thể vóc: Sự thành thục về thể vóc thường diễn ra chậm hơn sự thành thục về tính Sau một thời kỳ sinh trưởng và phát triển, đến một thời điểm nhất định con vật đạt tới mức độ trưởng thành về thể vóc Có nghĩa
là cơ thể tương đối hoàn chỉnh về sự phát triển của các cơ quan bộ phận như não đã phát triển khá hoàn thiện, xương đã cốt hoá hoàn toàn, tầm vóc ổn định… Nói một cách khác, khi gia súc đã thành thục về tính thì sự sinh trưởng, phát triển của cơ thể vẫn còn tiếp tục đến độ trưởng thành Đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi, không nên sử dụng gia súc vào mục đích sinh sản quá sớm vì:
Trang 14- Đối với gia súc cái nếu phối giống sớm khi cơ thể chưa trưởng thành
về thể vóc sẽ ảnh hưởng xấu như: Trong thời gian chửa có sự phân tán dinh dưỡng, ưu tiên cho phát triển bào thai, do vậy, nhu cầu dinh dưỡng cho sự sinh trưởng và phát triển cho bào thai cũng bị ảnh hưởng Kết quả: mẹ yếu, con nhỏ và yếu, tuổi sử dụng con mẹ cũng giảm xuống Hơn nữa, do xoang chậu chưa phát triển hoàn toàn, nhỏ, hẹp, làm cho con vật đẻ khó (Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn, 2006) [10]
Thời gian thành thục về thể vóc của lợn là 7 - 9 tháng
Chu kỳ động dục
Động dục là một quá trình sinh lý, được bắt đầu khi cơ thể đã thành thục về tính, cứ sau một thời gian nhất định trong cơ thể nhất là cơ quan sinh dục của con cái có một số sự thay đổi như: âm hộ, âm đạo, tử cung xung huyết, các tuyến sinh dục tăng cường hoạt động, trứng phát triển thành thục chín và rụng, niêm dịch trong đường sinh dục được phân tiết, con cái có phản
xạ về tính… sự thay đổi đó xảy ra trong một thời gian lặp đi lặp lại có tính chu kỳ gọi là chu kỳ tính (chu kỳ động dục)
Chu kỳ tính của lợn là 21 ± 4 ngày Trứng rụng vào lúc 36 - 42 giờ sau khi xuất hiện động dục Thời điểm phối giống thích hợp nhất là 24 - 36 giờ sau khi xuất hiện động dục.Số trứng rụng từ 16 - 17 tế bào
Sinh sản của gia súc là một tiêu chuẩn để xác định giá trị của con vật Khả năng sinh sản biểu hiện qua nhiều chỉ tiêu: đẻ nhiều con, nhiều lứa, tỷ lệ nuôi sống sau đẻ, sau khi cai sữa, tỷ lệ còi cọc, tỷ lệ dị hình, khuyết tật Khả năng sinh sản cũng liên quan đến các chỉ tiêu sớm thành thục, thời gian mang thai, số lần thụ tinh đạt kết quả Sau khi gia súc được sinh ra đến một giai đoạn nào đó cơ thể có những biến đổi chuẩn bị cho việc sinh sản, thời kỳ này gọi là thành thục
về tính Trong điều kiện bình thường, sự thành thục về tính xuất hiện lúc 6 - 7 tháng tuổi đối với lợn ngoa ̣i Tuổi thành thục về tính chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, thời gian chiếu sáng, chế độ dinh dưỡng, giống, tuổi gia súc
Trang 15Chu kỳ tính dục: Ở gia súc, việc giao phối bị hạn chế trong khoảng thời gian chịu đực, trùng hợp với thời gian rụng trứng, vì vậy việc nghiên cứu chu
kỳ tính dục sẽ giúp cho chúng ta xác định được thời điểm phối giống thích hợp, nâng cao được năng suất sinh sản của con cái Trung bình ở lợn chu kỳ động đực: 19 - 20 ngày, thời gian chịu đực: 48 - 72 giờ, thời điểm rụng trứng
là 35 - 45 giờ kể từ khi bắt đầu chịu đực Cho phối giống quá sớm hay quá muộn, đều ảnh hưởng xấu đến tỷ lệ thụ thai và số con sinh ra/ổ
Cơ chế động dục:
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [16], cơ chế động dục của lợn nái.: Khi lợn nái đến tuổi thành thục về tính dục, các kích thích bên ngoài như ánh sáng, nhiệt độ, thức ăn, feromon của con đực và các kích thích nội tiết đi theo dây thần kinh li tâm, đến vỏ đại não qua vùng dưới đồi (Hypothalamus) tiết ra kích tố FRF (Folliculin Releasing Factors), có tác dụng kích thích tuyến yên tiết ra FSH, làm cho bao noãn phát dục nhanh chóng Trong quá trình bao noãn phát dục và thành thục, thì thượng bì bao noãn tiết ra oestrogen chứa đầy trong xoang bao noãn, làm cho lợn nái có biểu hiện động dục ra bên ngoài
Theo Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006) [10]: Chu kỳ động dục của gia súc được chia làm 4 giai đoạn:
+ Giai đoạn trước động dục: Bao noãn phát triển, các tế bào vách ống dẫn trứng tăng sinh Hệ thống mạch quản trong dạ con phát triển Các tuyến trong dạ con bắt đầu tiết dưới tác dụng của hormone estrogen Thay đổi của đường sinh dục: Tử cung, âm đạo, âm hộ bắt đầu xung huyết
+ Giai đoạn động dục: Bao noãn phát triển mạnh nổi lên bề mặt buồng trứng Bao noãn tiết nhiều estrogen và đạt cực đại Các thay đổi ở đường sinh dục cái càng sâu sắc hơn, để chuẩn bị đón trứng Biểu hiện của con vật: Hưng phấn về tính dục, đứng yên cho con khác nhảy, kêu rống, bồn chồn, thích nhảy lên lưng con khác, ít ăn hoặc bỏ ăn, tìm đực Âm hộ ướt, đỏ, tiết dịch
Trang 16nhầy, càng tới thời điểm rụng trứng thì âm hộ đỏ tím, dịch tiết keo lại, mắt đờ đẫn Cuối giai đoạn này thì trứng rụng
+ Giai đoạn sau động dục: Thể vàng bắt đầu phát triển và tiết ra Progesteron có tác dụng ức chế sự co bóp của đường sinh dục Niêm mạc tử cung vẫn còn phát triển, các tuyến dịch nhờn giảm bài tiết, mô màng nhầy tử cung bong ra cùng với lớp tế bào biểu mô âm đạo hóa sừng thải ra ngoài Biểu hiện hành vi về sinh dục: Con vật không muốn gần con đực, không muốn cho con khác nhảy lên và dần trở lại trạng thái bình thường
+ Giai đoạn yên tĩnh: Thể vàng teo dần đi, con vật trở lại trạng thái bình thường, biểu hiện hành vi sinh dục không có Đây là giai đoạn nghỉ ngơi, yên tĩnh để phục hồi lại cấu tạo, chức năng cũng như năng lượng để chuẩn bị cho chu kỳ động dục tiếp theo
2.1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sinh dục ở lợn nái
Giống và cá thể
- Giống là yếu tố quyết định đến sức sản xuất của lợn nái, giống và đặc tính của nó gắn liền với năng suất sinh sản Các giống lợn khác nhau cho năng suất sinh sản khác nhau
Ví dụ: Lợn Móng Cái đẻ từ 12 - 14 con/lứa
Lợn Yorkshire đẻ từ 11 - 12 con/lứa
- Các cá thể khác nhau có sức sản xuất khác nhau tuỳ thuộc vào cấu tạo
cơ thể, đặc điểm sinh lý của từng cá thể
Phương pháp nhân giống
Phương pháp nhân giống khác nhau sẽ cho năng suất khác nhau Nếu cho nhân giống thuần chủng thì năng suất của chúng cũng chính là năng suất của giống đó Nếu cho lai giống thì năng suất của con lai sẽ cao hơn so với hai giống gốc, các giống gốc càng thuần chủng thì khi lai giống cho ưu thế lai
Trang 17càng cao Như vậy phương pháp nhân giống thuần hay nhân giống tạp giao có ảnh hưởng lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái
Tuổi và khối lượng phối giống lần đầu
Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (2003) [2] cho rằng: Không nên phối giống
ở lần động dục đầu tiên vì thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh
Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con nái lâu bền cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục đầu rồi mới cho phối giống
Đối với lợn nái nội, thường phối giống lần đầu lúc 6 - 7 tháng tuổi, khi khối lượng đạt 40 - 50kg Lợn lai phối giống vào lúc 8 tháng tuổi với khối
lượng không dưới 65 - 70kg, lợn nái ngoại tuổi phối giống lần đầu là 8 - 9
tháng khi lợn đạt 100 - 110kg
Tuổi phối giống lần đầu của lợn cái hậu bị là một vấn đề cần được quan tâm Phải phối giống cho lợn cái hậu bị đúng thời điểm lợn đã thành thục về tính, có tầm vóc và sức khoẻ đạt yêu cầu, sẽ nâng cao được khả năng sinh sản của lợn nái và nâng cao được phẩm chất của đời sau Nếu phối giống quá sớm
sẽ ảnh hưởng đến tầm vóc và sức khoẻ của lợn mẹ Nhưng thực tế đã chứng minh rằng, nếu phối giống quá muộn sẽ lãng phí về kinh tế, ảnh hưởng đến sinh sản phát dục của lợn cũng như hoạt động về tính của nó
Thứ tự lứa đẻ
Khả năng sản xuất của lợn nái ảnh hưởng rất nhiều bởi các lứa đẻ khác nhau Lợn cái hậu bị ở lứa đẻ thứ nhất, số lượng con trên ổ thấp Sau đó, từ lứa thứ hai trở đi số lợn con trên ổ sẽ tăng dần đến lứa thứ sáu, thứ bảy thì bắt đầu giảm dần
Kỹ thuật phối giống
Kỹ thuật phối giống có ảnh hưởng đến số lượng con đẻ ra/lứa Kỹ thuật phối giống bao gồm việc xác định thời điểm phối giống thích hợp và số lần
Trang 18cho phối giống Thời điểm phối giống thích hợp có sự khác nhau giữa lợn nội
và lợn ngoại, giữa nái cơ bản và nái hậu bị Chọn thời điểm phối giống thích hợp sẽ làm tăng tỷ lệ thụ thai và số con/lứa
Chú ý, nếu lợn nái động dục kéo dài 48 giờ thì trứng sẽ rụng vào 8 - 12 giờ trước khi kết thúc chịu đực, tức là 37 - 40 giờ sau khi bắt đầu động dục Do vậy, phối giống quá sớm hoặc quá muộn thì tỷ lệ thụ thai và số con/lứa giảm
Có nhiều phương thức phối giống cho lợn nái nhưng tốt nhất nên áp dụng phương thức phối lặp Khoảng cách thời gian giữa hai lần phối lặp từ
12 - 14 giờ cho lợn nái cơ bản, đối với lợn nái hậu bị thời gian này khoảng
10 - 12 giờ
Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng
Chế độ dinh dưỡng có ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái Cần lưu ý chế độ dinh dưỡng cho lợn nái trước phối giống, các yếu tố thức ăn rất quan trọng ở thời kỳ này
Tuy nhiên, cần chú ý đến thể trạng của lợn nái hậu bị, nếu lợn nái hậu
bị quá béo sẽ hạn chế rụng trứng, do đó làm giảm số lượng con/lứa Vì vậy, lợn nái hậu bị đến giai đoạn cuối sắp động dục phải cho ăn khẩu phần hạn chế
để tránh lợn quá béo ảnh hưởng đến khả năng sinh sản
Trong các giai đoạn nuôi lợn nái khác, chúng ta cũng sử dụng thức ăn như là đòn bẩy để nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái, tăng tổng khối lượng lợn con lúc xuất chuồng
2.1.1.3 Đặc điểm sinh lý của lợn nái thời kỳ mang thai
Có thai là một hiện tượng sinh lý đặc biệt của cơ thể cái, nó bắt đầu từ khi trứng được thụ tinh đến khi đẻ xong Trong thực tế, sự có thai của gia súc được tính ngay từ ngày phối giống lần cuối Thời gian có thai phụ thuộc vào điều kiện và các yếu tố khác nhau Nó dài hay ngắn tùy theo loài, giống gia súc, tuổi gia súc mẹ, lứa sinh sản, trạng thái dinh dưỡng, sức khỏe
Trang 19Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [3], ở lợn thời gian mang thai xê dịch trung bình là 110 - 118 ngày, thời gian có thai trung bình là 114 ngày
Quá trình phát triển của phôi thai
Quá trình phát triển của bào thai có thể chia làm ba thời kỳ:
- Thời kì thứ nhất - thời kỳ trứng: Thời kỳ này bắt đầu từ khi tế bào trứng được thụ tinh đến khi hình thành nang phôi - túi phôi
- Thời kỳ thứ hai - thời kỳ phôi thai: Là thời kỳ hình thành nhau thai, hình thành các tế bào và các cơ quan hệ thống của cơ thể Ở gia súc lớn từ ngày thứ 11 - 40
- Thời kỳ thứ ba - thời kỳ bào thai: Là thời kỳ cuối phôi thai cho đến khi sinh đẻ Là giai đoạn phân hóa những kết cấu cực tiểu của tế bào và cơ quan, là thời kỳ bào thai phát triển nhanh
Sự điều hòa thần kinh - thể dịch ở thời kỳ mang thai
Điều hòa sự phát triển của bào thai đảm bảo sự thống nhất của các hoạt động chức năng giữa cơ thể mẹ và bào thai là một quá trình phức tạp do sự điều tiết thần kinh - thể dịch
Điều tiết thần kinh: Bắt đầu từ lúc thụ thai thì trong vỏ não xuất hiện vùng hưng phấn trội để tiếp nhận những biến đổi hóa học và cơ học từ các điểm thụ cảm ở tử cung, do đó đảm bảo được các điều kiện cần thiết cho sự phát triển của phôi thai như: Niêm mạc tử cung phát triển, mạch máu đến nhiều, tiết dịch tăng Hưng phấn tăng cường mạnh nhất ở tháng thứ hai, là một trong các yếu tố dễ gây sảy thai ở thời điểm này
Điều tiết thể dịch: Có sự tham gia tích cực của hệ nội tiết Progesteron
là hormone an thai, duy trì quá trình mang thai, được sản sinh ở thể vàng và nhau thai Ở lợn progesteron chủ yếu do thể vàng cung cấp, vai trò của nhau thai là chủ yếu ( Trần Tiến Dũng, 2004) [5]
Trang 20 Những biến đổi sinh lý chủ yếu khi có thai
- Sự biến đổi toàn thân của cơ thể mẹ khi có thai:
Khi gia súc có thai, kích tố của hoàng thể và nhau thai làm thay đổi cơ năng hoạt động một số tuyến nội tiết khác Vì vậy hiện tượng ăn uống, trạng thái dinh dưỡng, quá trình trao đổi chất của con mẹ được nâng cao cho nên thời kỳ đầu gia súc có thai thường béo hơn khi chưa có thai Trong thời kỳ có chửa, lợn nái tăng 15 - 25 kg (không kể các sản phẩm thai, trong đó khoảng 3
- 4 kg là protein) Nói chung trong thời gian có chửa, lợn mẹ tăng từ 1,2 - 1,3 lần so với trước khi phối giống
Trần Tiến Dũng và cs (2002) [3], trường hợp thiếu canxi và photpho nghiêm trọng thì gia súc mẹ bị bại liệt trước khi đẻ, khung xoang chậu bị lệch hay biến dạng, dẫn đến hiện tượng đẻ khó Canxi và photpho là 2 nguyên tố không thể thiếu được với gia súc có thai Nhu cầu canxi là 0,6%, photpho là 0,5% so với khối lượng vật chất khô khẩu phần
Bào thai ngày càng phát triển, áp lực xoang chậu và xoang bụng thay đổi nên ảnh hưởng đến sự hoạt động của hệ tuần hoàn và hô hấp Nhu cầu cung cấp oxy của bào thai dần nâng cao ở thời gian có thai kỳ cuối nên tần số
hô hấp của mẹ tăng lên và có khi có biểu hiện trạng thái thở dốc Dưới tác dụng chèn ép cơ học của bào thai kỳ cuối làm thay đổi tuần hoàn vùng xoang chậu nên gây hiện tượng phù thũng hai chân sau Mặt khác số lần đại tiểu tiện của gia súc mẹ tăng lên nhưng số lượng mỗi lần ít
- Sự thay đổi ở cơ quan sinh dục
Buồng trứng: Khi gia súc có thai, hai buồng trứng to nhỏ không đều nhau Buồng trứng phía sừng tử cung có thai thường lớn hơn buồng trứng bên kia Trên mặt ngoài buồng trứng xuất hiện thể vàng
Tử cung: Khi gia súc có thai, toàn bộ tử cung xuất hiện những thay đổi
về cấu tạo, tính chất, vị trí, khối lượng, thể tích dây chằng tử cung dài ra nên
Trang 21đầu mút sừng tử cung và buồng trứng được đưa về phía trước và phía dưới, xa
vị trí cũ Các tuyến tử cung cũng được phát triển mạnh và tăng cường tiết niêm dịch Niêm mạc tử cung hình thành nhau mẹ
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [3], ở lợn mức độ phát triển và tăng sinh của tử cung phụ thuộc vào số lượng bào thai và thường là phát triển ở cả hai sừng Cuối thời kỳ có thai, khối lượng tử cung ( không kể thai ) nặng tới 2,5 - 6 kg, còn tử cung bình thường không có thai nặng 0,2 - 0,5 kg
- Những thay đổi hormonesinh dục
Bào thai được phát triển bình thường dưới tác dụng điều hòa của các hormone buồng trứng, nhau thai và tuyến yên
Nửa thời kỳ đầu có thai: Nhau thai được hình thành và phát triển, tiết ra Prolan B chất này có tính giống như LH của thùy trước tuyến yên Nó kích thích thể vàng phát triển tăng tiết Progesteron, làm cho niêm mạc tử cung phát triển và dày thêm Nhau thai ngoài việc tiết Prolan B, còn tiết ra Progesteron
và Folliculin
Nửa kỳ sau có thai: Hàm lượng Progesteron giảm dần trong máu Ngược lại Folliculin tăng dần đến mức tối đa
Cuối thời kỳ có thai Progesteron giảm rất thấp trong máu Progesteron
có tác dụng ức chế tử cung co bóp và Folliculin kích thích co thắt tử cung, thuận lợi cho quá trình sinh đẻ Trong thời kỳ có thai, nhau thai đã dần thay thế chức năng nội tiết của thùy trước tuyến yên, tiết ra Prolan A và Prolan B Mặt khác, nó còn thay thế buồng trứng tiết ra Progesteron trong nửa kỳ đầu và Folliculin được tiết liên tục về sau càng nhiều
2.1.1.4 Đặc điểm quá trình đẻ của lợn nái
Gia súc cái mang thai trong một thời gian nhất định, khi bào thai đã phát triển đầy đủ, gia súc mẹ đẩy thai ra ngoài cùng với màng nhau, dịch thai Quá trình đó gọi là đẻ Thời gian đẻ của gia súc được tính từ khi cổ tử cung
Trang 22mở hoàn toàn đến khi thai ra khỏi cơ thể mẹ và số lượng bào thai ra hết ở những loài gia súc đa thai Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [4], ở lợn thời gian đẻ là từ 2 - 6 giờ
Những biểu hiện của cơ thể mẹ trong thời gian gần sinh đẻ
Quá trình sinh đẻ của gia súc là quá trình sinh lý bình thường Cho nên cuối thời kỳ mang thai gia súc có những biểu hiện của quá trình sinh đẻ, chủ yếu là đường sinh dục và bầu vú
tử cung, kết quả làm mở rộng cổ tử cung Nhưng phải nhờ vào sự co bóp của
cơ ở bụng, hoành cách mô và toàn thân để đẩy thai ra ngoài
Trang 23nhau Ở lợn thường hay đứng nằm không yên, đi đi lại lại trong chuồng và có triệu chứng cắn ổ
Con vật xuất hiện cơn rặn đầu tiên trong kỳ 1 nhưng nói chung cơn rặn này yếu về cường độ, thời gian cơn rặn ngắn, thời gian nghỉ giữa hai cơn rặn lại dài từ 20 - 30 phút, mỗi cơn rặn thường từ 2 - 3 giây Nếu con mẹ rặn liên tục thì mạch máu của bào thai chèn ép, tuần hoàn đình trệ, dưỡng khí cung cấp cho thai yếu, thai ra chậm có thể bị ngạt
Cường độ co bóp chuyển từ sừng tử cung xuống thân tử cung, đến cổ tử cung ra ngoài âm đạo Nước ở trong tử cung và màng thai dồn ép ra ngoài, cổ
tử cung lúc này đã mở, màng thai một phần đã lọt ra ngoài Cùng với sức co bóp của tử cung tăng lên, màng thai tiếp tục chui ra, ép vò cổ tử cung làm cho
cổ tử cung càng mở rộng Khi cổ tử cung đã mở rộng thì một phần của thai chui ra, lúc này giữa cổ tử cung và âm đạo không còn ranh giới nữa Cùng lúc thai ra ngoài có hiện tượng vỡ ối, màng ối và màng niệu vỡ ra Thứ tự màng niệu vỡ trước, màng ối vỡ sau, nước ối và nước niệu đều ra cùng với màng ối, màng niệu cũng góp phần cho cổ tử cung mở rộng hoàn toàn đồng thời làm trơn đường sinh dục, cho thai đi ra ngoài dễ dàng
- Thời kỳ đẻ hay còn gọi là sổ thai
Thời kỳ này bắt đầu từ khi cổ tử cung mở hoàn toàn và kết thúc khi thai lọt ra ngoài Ở thời kỳ này thai qua cổ tử cung và đi vào âm đạo Nếu đẻ bình thường, bộ phận ra trước nhất là chân và đầu Lúc này gia súc cái bồn chồn, đứng nằm không yên, có con chân sau đá vào bụng, lưng cong lên mà rặn
Khi đầu của thai đã đi vào hố chậu, gia súc cái lại nằm xuống Đặc điểm là sức co bóp của tử cung trong thời kỳ này mạnh vì thân của thai tiếp xúc niêm mạc âm đạo, gây ra một ma sát lớn Trong lúc này gia súc thường kêu do bị đau vì dịch ối, dịch niệu chảy ra hết, thân thai tiếp giáp vào niêm mạc âm đạo
Trang 24Trần Tiến Dũng và cs (2002) [3], lợn rặn đẻ khác với gia súc khác, tử cung co bóp đẩy thai theo chiều dọc và co bóp theo từng đoạn Sự co bóp bắt đầu từ gốc sừng tử cung, lan đến đầu nhọn của sừng tử cung Hai sừng tử cung thay nhau co bóp Trong cơn rặn đẻ lợn thường nằm nghiêng, cũng có khi đứng lên nhưng lại nằm xuống ngay, màng thai của lợn không lòi ra ngoài
âm hộ, nước ối ít, thai lợn ra từng con một, sau mỗi lần rặn thường thai lợn ra
dễ dàng
- Thời kỳ sổ nhau ( hay gọi là bong nhau )
Sau khi thai lọt ra khỏi đường sinh dục của gia súc mẹ một thời gian, con mẹ trở nên yên tĩnh, nhưng tử cung vẫn co bóp và tiếp tục những cơn rặn, mỗi lần co bóp từ 1,2 - 2 phút, thời gian giữa hai lần co bóp là 2 phút, nhưng cường độ lúc này yếu hơn
Sau khi sổ thai khoảng 2 - 3 giờ thì tử cung nhỏ lại, thành tử cung dày, trên bề mặt có nhiều nếp nhăn, bên trong tử cung có nhiều núm nhau Cơn rặn lúc này của gia súc cái chủ yếu là đưa nhau thai ra ngoài
Trong thời gian này tuần hoàn của núm nhau mẹ và nhau con đã giảm nên thai có thể tách ra được Các nhung mao teo lại, tách núm nhau mẹ ra khỏi nhau thai Trong thời gian này tử cung tiếp tục co bóp và thu nhỏ lại dần thể tích, nhưng màng niệu và màng nhung mao thì không co lại được nên tử cung đẩy ra ngoài
Trong quá trình đẩy màng nhau thai ra ngoài, do đặc tính của tử cung
co bóp từ mút sừng tử cung tới thân tử cung, nên màng nhau thai bong ra sẽ được lộn trái, phần ở mút sừng tử cung ra trước, sau đó bong dần xuống sừng
tử cung, thân tử cung và ra ngoài
Thời gian bong nhau thai của các gia súc khác nhau do đặc điểm cấu tạo của núm nhau con và núm nhau mẹ trên niêm mạc tử cung
Trang 25Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [3], lợn sau khi thai ra hết toàn bộ, khoảng 10 - 50 phút nhau thai mới ra Nhau thai của lợn ra chia thành hai đống, mỗi đống gồm nhau thai của tất cả các thai chứa trong một sừng tử cung
Trong sừng tử cung lợn có ít thai thì nhau thai không dính lại như vậy,
mà ra từng cái một, thai sau có thể đẩy nhau thai của thai trước ra Nếu trong sừng tử cung lợn có xen kẽ nhiều thai bình thường và thai bị chết khô thì nhau thai cũng ra thành nhiều đống Thường những thai chết khô trong sừng tử cung sẽ ra cùng với nhau thai
2.1.1.5 Sinh lý tiết sữa của lợn mẹ
Khả năng tiết sữa là một chỉ tiêu quan trọng khi đánh giá sức sản suất của lợn nái, vì nó ảnh hưởng đến tỷ lệ nuôi sống cũng như khối lượng cai sữa của lợn con sau này
Quy luật tiết sữa của lợn mẹ có đặc điểm là năng suất sữa tăng dần từ lúc mới đẻ và đạt sản lượng cao nhất vào lúc 21 ngày tuổi, sau đó giảm dần Căn cứ vào đặc điểm này, trong thực tế sản xuất người ta lấy khối lượng lợn con toàn ổ lúc 21 ngày tuổi để đánh giá khả năng tiết sữa của lợn mẹ
Qua theo dõi, sản lượng và chất lượng sữa ở các vị trí vú khác nhau cũng không giống nhau Các vú ở phía trước ngực sản lượng sữa cao, phẩm chất tốt còn các vú phía sau nhìn chung thấp Theo Trương Lăng (2003) [8] thì vú trước lượng sữa tiết ra nhiều hơn Trong chu kỳ tiết sữa, lợn con bú vú sau được 32 - 39 kg sữa thì lợn con bú vú trước được khoảng 36 - 45 kg sữa,
vì oxytoxin theo máu đến tuyến vú phía trước sớm hơn, kéo dài hơn nên vú trước nhiều sữa hơn
Trần Văn Thịnh (1982) [15] cho rằng: Thức ăn đầu tiên của lợn con là sữa đầu Sữa đầu có màu trong hơi vàng và đặc, tiết ra trong 2 - 3 ngày đầu khi đẻ Trong sữa đầu, các thành phần hoá học đều đặc hơn sữa thường như: lượng protein gấp 3 lần sữa thường (17 - 18% so với 5 - 6%) Trên 50%
Trang 26protein của sữa đầu là globulin, đặc biệt là - globulin Hàm lượng -
globulin giảm rất nhanh, sau 12 giờ đã giảm đi 3/4, - globulin là thành phần quan trọng tạo nên sức đề kháng chống đỡ bệnh tật của lợn con sơ sinh
Theo Từ Quang Hiển và cs (2001) [6], nhất thiết lợn con sơ sinh cần phải được bú sữa đầu giúp cho lợn con có sức đề kháng chống bệnh Trong sữa đầu
có albumin và globulin cao hơn sữa thường, đây là các chất chủ yếu giúp cho lợn con có sức đề kháng Vì thế cần cho lợn con bú sữa trong ba ngày đầu, đảm bảo toàn bộ số con trong ổ được bú hết lượng sữa đầu của lợn mẹ
Khả năng tiết sữa của lợn mẹ giảm rõ rệt sau 3 tuần tiết sữa nuôi con Đồng thời, hàm lượng các chất khoáng đặc biệt là sắt và canxi còn rất ít, không
đủ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của lợn con Lúc này mâu thuẫn giữa khả năng cung cấp sữa của lợn mẹ và nhu cầu dinh dưỡng của lợn con nảy sinh Đó cũng
là lúc ta cần bổ sung thức ăn sớm cho lợn con (Từ Quang Hiển và cs, 2001) [6]
Để lợi dụng khả năng tiết sữa của lợn mẹ, người ta thường cho lợn con cai sữa sớm vào ngày thứ 21 hoặc ngày thứ 28, hoặc ngày thứ 42… tuỳ theo trình độ chăn nuôi của từng cơ sở (Nguyễn Thiện và cs, 1996) [12]
Sản lượng sữa của lợn mẹ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thức ăn, chăm sóc nuôi dưỡng… Vì vậy, trong giai đoạn lợn mẹ nuôi con thì thức ăn cho lợn mẹ cần đủ chất dinh dưỡng Chăm sóc lợn mẹ ăn với khẩu phần đầy
đủ chất dinh dưỡng không ngừng nâng cao sản lượng sữa mà còn giảm tỷ lệ hao mòn của lợn mẹ
2.1.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái
Năng suất sinh sản của lợn nái có mối liên quan chặt chẽ và phụ thuộc vào 2 yếu tố: di truyền và ngoại cảnh Yếu tố di truyền phụ thuộc vào đặc tính con giống, các giống lợn khác nhau thì có tính năng sản xuất khác nhau Yếu
tố ngoại cảnh bao gồm thức ăn dinh dưỡng, vệ sinh thú y, chuồng trại Mặt khác, năng suất sinh sản của lợn nái được thể hiện qua nhiều chỉ tiêu như: số
Trang 27trứng rụng, tỷ lệ thụ thai, số con đẻ ra còn sống, số con cai sữa/lứa, thời gian chờ phối Các chỉ tiêu này có hệ số di truyền thấp nên chúng chịu sự tác động mạnh mẽ của các điều kiện ngoại cảnh
+ Yếu tố di truyền: Ở lợn nái các tính trạng năng suất sinh sản của lợn nái đều có hệ số di truyền thấp Với những tính trạng có hệ số di truyền thấp
để cải tiến năng suất có hiệu quả cần sử dụng biện pháp lai (Đặng Vũ Bình, 2002) [1] Số trứng rụng/chu kỳ đây là chỉ tiêu có ý nghĩa quan trọng trong đánh giá năng suất của lợn cái Nó chịu ảnh hưởng của 3 yếu tố là di truyền, tuổi nái và chế độ dinh dưỡng
+ Phương thức chăn nuôi và trình độ kỹ thuật: có ảnh hưởng tới quá trình phát triển sinh dục của lợn cái Ở lợn hậu bị nếu nuôi nhốt và cách ly lợn đực thì tuổi thành thục tính dục sẽ dài hơn Trong quy trình chăn nuôi lợn cái hậu bị đã đặt ra vấn đề tiếp xúc với lợn đực giống hàng ngày Theo Hughes và Jemes (1996) [24] thì có đến 83% lợn cái hậu bị có khối lượng cơ thể trên 90kg động dục lúc 165 ngày tuổi nếu được tiếp xúc với đực giống 2 lần/ngày, 20 - 25 phút/lần Mặt khác, tuổi động dục lần đầu của lợn cái sẽ bị chậm ít nhất 1 tháng nếu điều kiện chuồng nuôi không đảm bảo mật độ và vệ sinh thú y Để đạt kết quả thì lợn cái hậu bị phải được nuôi chung thành nhóm đồng đều về giống, tuổi, khối lượng với mật độ theo từng thời kỳ: 3 - 5 tháng tuổi cần 0,4 - 0,5
m2/con; 6 - 8 tháng tuổi: 0,5 - 0,8 m2/con (5 - 6 con/nhóm) sẽ đảm bảo cho lợn động dục lần đầu đúng thời gian biểu hiện đặc trưng cho giống
+ Khẩu phần ăn và quy trình kỹ thuật nuôi dưỡng: nhu cầu dinh dưỡng của lợn nái khác nhau tuỳ thuộc giống, tuổi, trạng thái sinh lý Đây là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao năng suất sinh sản Việc xác định chế độ nuôi dưỡng thích hợp đối với lợn cái cần đảm bảo làm tăng
số trứng rụng, từ đó tăng các chỉ tiêu số con đẻ ra, số con cai sữa, khối lượng
sơ sinh, để mang lại hiệu quả trong chăn nuôi
Trang 28+ Tuổi của lợn cái: có liên quan chặt chẽ với khối lượng phối giống Để đảm bảo điều kiện cho phối giống lần đầu, lợn cái cần thành thục về tính và thể vóc Nếu phối giống lần đầu quá sớm hoặc quá muộn, khối lượng khi đó quá cao hoặc quá thấp đều ảnh hưởng tới hiệu quả Phối sớm khi khối lượng
cơ thể chưa đạt yêu cầu, các cơ quan sinh dục chưa hoàn chỉnh, sức sống kém, chậm phát triển đồng thời ảnh hưởng tới sự phát triển cơ thể lợn mẹ về sau Nếu để quá muộn, lợn cái hậu bị có khối lượng cơ thể quá lớn, quá béo cũng
sẽ làm giảm mức độ đạt được của các chỉ tiêu, từ đó giảm hiệu quả kinh tế Chỉ nên phối giống cho cái hậu bị từ lần động dục thứ 2 khi đạt 6 - 7 tháng tuổi, nặng trên 50kg đối với lợn nội, 7 - 8 tháng tuổi và nặng 60 - 70kg đối với lợn lai (nội x ngoại), 9 - 10 tháng tuổi đạt trên 80 - 90kg đối với lợn ngoại
và lợn lai (ngoại x ngoại) (Nguyễn Khắc Tích, 2002) [11]
+ Lứa đẻ: trên cơ sở số trứng rụng/chu kỳ, thứ tự các lứa đẻ cũng có ảnh hưởng tới khả năng sinh sản của chúng Theo Hughes, Varley (1980) [24] lứa 1 có số con/ổ thấp nhất, vì số trứng rụng ở lần đầu tiên là 11,3 Sau đó tăng dần tới lứa 6, từ lứa 7 trở đi bắt đầu giảm dần hoặc có thể sẽ giữ được mức độ ổn định Nếu trong sản xuất áp dụng kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng theo quy trình, đảm bảo cho lợn nái không quá béo hoặc quá gầy và giữ cho hao hụt lợn mẹ trong khoảng 12 - 16% sẽ có thể đảm bảo kéo dài về khả năng sinh sản đến lứa 10 - 12 Do vậy, việc áp dụng quy trình kỹ thuật và các tiến
bộ kỹ thuật vào chăn nuôi lợn nái sinh sản là cần thiết để nâng cao thành tích sinh sản của chúng, mang lại hiệu quả cho người chăn nuôi
+ Tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ thụ thai: trứng rụng nếu được gặp tinh trùng đúng thời điểm thích hợp sẽ được thụ tinh và phát triển thành hợp tử Vì vậy, việc xác định thời điểm phối giống thích hợp cho lợn nái có vai trò quyết định tới tỷ lệ thụ tinh số trứng rụng/chu kỳ Nếu số trứng rụng ở mức bình thường (15 - 20 trứng) và ở điều kiện bình thường không có yếu tố đặc biệt thì tỷ lệ
Trang 29thụ tinh đạt 100%, các trứng đã thụ tinh phát triển tốt (Hancock, 1961) [23] Nếu số trứng rụng tăng quá cao so với bình thường thì ngay sau khi được thụ tinh, số trứng phát triển bình thường sẽ giảm từ đó ảnh hưởng tới chỉ tiêu số con đẻ ra/lứa Theo Cunningham và cs (1979) [21] tỷ lệ số con đẻ ra/số trứng rụng giảm khi số trứng rụng quá cao
+ Tỷ lệ chết phôi: sự sống sót của phôi sau khi được hình thành chịu ảnh hưởng quan trọng của một số yếu tố như dinh dưỡng, sự phát triển của phôi, các yếu tố khác như chăm sóc, vệ sinh thú y Phôi thai chết chủ yếu ở thời kỳ đầu của giai đoạn chửa (thời kỳ phôi thai) Đặc điểm sinh lý cơ bản của thời kỳ này là hợp tử đang di chuyển từ vị trí hình thành (1/3 phía trên ống dẫn trứng) về vị trí làm tổ (sừng tử cung) dễ bị tác động của điều kiện ngoại cảnh Mặt khác quá trình làm tổ của phôi ở sừng tử cung có thể có những tương tác không thích hợp giữa tử cung mẹ và gây chết phôi Số phôi chết trong thời kỳ này rất cao (30 - 40%) đã là nguyên nhân để Scrofield gọi đây là pha khủng hoảng của sự phát triển phôi (Scrofield, 1972) [32]
+ Khí hậu thời tiết, mùa vụ: ảnh hưởng tới các chỉ tiêu năng suất sinh sản với các mức độ khác nhau Có ý kiến cho rằng mùa vụ không có ảnh hưởng gì tới tỷ lệ thụ thai Tuy nhiên, nghiên cứu của Adlovic và cs (1983) [19] cho thấy mùa vụ liên quan tới tỷ lệ thụ thai thể hiện ở sự giảm sụt 10% khi phối giống lợn ở các tháng 6, 7, 8 so với tháng 11, 12 trong năm Điều này phù hợp với nhận định của các tác giả khác cho rằng vào mùa hè nhiệt độ trên
300C thì sẽ giảm tỷ lệ thụ thai và tăng tỷ lệ chết phôi, số con đẻ ra/lứa thấp Nếu nhiệt độ quá thấp ở mùa Đông ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng phát dục của đàn con, tỷ lệ mắc các bệnh đường tiêu hoá và hô hấp cao Nhiệt độ thích hợp khoảng 18 - 220
C
+ Thời gian cai sữa và thời gian động dục trở lại: một số tác giả kết luận rằng thời gian cai sữa và thời gian động dục trở lại ở lợn có mối tương quan không
Trang 30thuận Thời gian cho con bú càng dài thì thời gian động dục trở lại càng ngắn Giữa các giống lợn, thời gian động dục trở lại có sự sai khác không đáng kể Thời gian động dục trở lại còn phụ thuộc vào chế độ cho ăn của lợn nái Với 7
kg thức ăn/ngày thì thời gian động dục trở lại là 5,5 ngày so với 8 ngày khi cho ăn 3 kg/ngày Việc xác định thời gian cai sữa cho lợn con có ý nghĩa rất quan trọng, vì nó ảnh hưởng tới số lứa đẻ/năm, mặt khác có liên quan đến sức khoẻ của lợn mẹ và sự phát triển của đàn con sau khi cai sữa Nếu cai sữa ở 3 tuần tuổi có thể nâng số lứa đẻ/năm lên 2,5 so với ở 8 tuần là 1,8 - 2 lứa Tuỳ theo tập quán chăn nuôi và điều kiện cụ thể, có thể cai sữa ở 19 ngày (Mỹ), 23 -
28 ngày (Australia) Tốt nhất nên cai sữa cho lợn con ở 21 - 28 ngày tuổi(Nguyễn Thiện và cs, 1996) [12]
2.1.2 Sinh lý lợn con
2.1.2.1 Sức đề kháng của lợn con qua các giai đoạn
Khả năng miễn dịch của cơ thể là khả năng phản ứng của cơ thể đối với các chất lạ khi xâm nhập vào cơ thể Các chất lạ có thể là mầm bệnh, các mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể gia súc non tương đối dễ do các cơ quan bảo vệ cơ thể phát triển chưa hoàn chỉnh Trong hệ thống tiêu hoá của lợn con lượng enzym tiêu hoá và lượng HCl tiết ra chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hoá, gây rối loạn trao đổi chất, tiêu hoá và hấp thu dinh dưỡng kém Do vậy, các
mầm bệnh như E.coli, Salmonella… dễ dàng xâm nhập vào cơ thể qua đường
tiêu hoá và gây bệnh
Theo Barbara Straw (2001) [18], hệ thống miễn dịch bắt đầu phát triển
ở thai lợn chửa khoảng 50 ngày Khoảng 70 ngày tuổi thai lợn có thể phản ứng với các tác nhân lạ với sự sản sinh ra kháng thể Tuy nhiên trong nhiều trường hợp thì môi trường dạ con là vô khuẩn và lợn con đẻ ra không có kháng thể nào Vì vậy lợn con mới sinh phụ thuộc vào kháng thể có chứa trong sữa non trong vài tuần đầu, cho tới khi hệ thống miễn dịch có thể phản
Trang 31ứng thách thức với kháng nguyên từ nhiều tác nhân lây nhiễm gặp phải trong môi trường
Ở lợn con mới đẻ, trong cơ thể hầu như chưa có kháng thể nhưng lượng kháng thể tăng lên rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ Do vậy, khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thụ được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [16], trong sữa đầu của lợn nái có hàm lượng protein rất cao Những ngày đầu mới để hàm lượng protein trong sữa chiếm tới 18 - 19 %, trong đó γ - globulin chiếm số lượng khá lớn (30 - 35%), γ - globulin có tác dụng tạo sức đề kháng cho nên sữa đầu có vai trò quan trọng đối với khả năng miễn dịch của lợn con Lợn con hấp thu γ - globulin bằng con đường ẩm bào Phân tử γ - globulin chỉ có khả năng thấm qua thành ruột non tốt nhất trong 24 giờ đầu sau khi đẻ ra Do đó lợn con được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Nếu không được bú sữa đầu thì từ 20 - 25 ngày tuổi mới có khả năng tự tổng hợp kháng thể Những con lợn không được
bú sữa đầu thì sức đề kháng rất kém, dễ mắc bệnh tỷ lệ chết là rất cao
Theo Phùng Ứng Lân (1996) [9], lợn con mới đẻ ra trong máu không
có globulin nhưng sau khi bú sữa đầu tăng lên một cách nhanh chóng, sau 3 -
4 tuần lại giảm, đến 5 - 6 tháng nó lại tăng lên và đạt đến chỉ số bình thường
Thời kỳ 3 tuần tuổi: Là thời kỳ khủng hoảng thứ 2 của lợn con, do quy luật tiết sữa của lợn mẹ gây nên Sản lượng sữa của lợn mẹ tăng dần từ sau
Trang 32khi đẻ và đạt cao nhất ở 3 tuần tuổi, sau đó sản lượng sữa giảm nhanh, trong khi đó nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng do lợn con sinh trưởng phát dục nhanh, đây là mâu thuẫn giữa cung và cầu Để giải quyết mâu thuẫn này cần tập cho lợn con ăn sớm vào 7 - 10 ngày tuổi
Thời kỳ ngay sau khi cai sữa: Là thời kỳ khủng hoảng thứ 3 do môi trường sống thay đổi từ bú sữa mẹ đến cai sữa hoàn toàn Mặt khác, thức ăn thay đổi, chuyển từ thức ăn chủ yếu là sữa mẹ sang thức ăn hoàn toàn do con người cung cấp nên giai đoạn này nếu chăm sóc không chu đáo, lợn con rất dễ
bị còi cọc, mắc bệnh đường tiêu hoá, hô hấp
2.1.2.2 Sinh lý tiêu hóa của lợn con
Cùng với sự tăng lên của khối lượng, cơ thể còn có sự phát triển của các cơ quan trong cơ thể, trong đó có cơ quan tiêu hóa của lợn phát triển nhanh nhưng chưa hoàn thiện Cơ quan tiêu hoá của lợn con phát triển rất nhanh nhưng chưa được hoàn thiện, chủ yếu là sự tăng về dung tích dạ dày, ruột non và ruột già
Dung tích dạ dày của của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 60 lần (dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít)
Dung tích ruột non của lợn lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc
20 ngày tuổi gấp 6 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 5 lần (dung tích ruột non lúc sơ sinh khoảng 0,11 lít)
Dung tích ruột già lợn lúc 10 ngày tuổi có thể tăng gấp 1,5 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi có thể tăng gấp 2,5 lần lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,04 lít)
Chức năng các men tiêu hóa của lợn con mới sơ sinh chưa có hoạt lực cao, trong giai đoạn theo mẹ, chức năng tiêu hóa của một số men tiêu hóa được hoàn thiện dần
Trang 33Ở 2 - 3 tuần tuổi đầu tiên sau khi sinh, trong dịch vị dạ dày lợn con chưa
có axit HCl tự do để hoạt hóa các men tiêu hóa trong dạ dày (kích hoạt men Pepsinogen thành Pepsin) và để ngăn cản tác động của vi khuẩn gây hại trong đường ruột, nên lợn con dễ bị nhiễm bệnh do chưa có khả năng kháng khuẩn
Sự tăng chiều dài và thể tích ruột non có quan hệ đến khả năng tiêu hóa cellulose khá cao trong thức ăn bổ sung Vì vậy, lợn con tập ăn sớm là biện pháp tốt nhất trong chăn nuôi
Cơ quan tiêu hoá của lợn phát triển hơn các cơ quan khác, khi còn trong bào thai, bộ máy tiêu hoá đã phát triển đầy đủ, song dung tích còn bé Ở miệng lợn mới sinh những ngày đầu, hoạt tính amylaza trong nước bọt cao Men amylaza chủ yếu tiêu hoá thức ăn bột đường còn lại, thức ăn xuống dạ dày tiêu hoá tiếp
Dạ dày tiết ra các dịch vị , các men tiêu hóa , khi thức ăn xuống da ̣ dày ,
cơ trơn co bóp nhào trô ̣n thức ăn , cùng với đó các men tiêu hóa được thêm vào thức ăn Men tripsinogen nhờ tác du ̣ng của HCl chuyển thành tripsin có tác dụng thủy phân protit , peptit Dịch vị tiêu hóa trong dạ dày lợn là khác nhau: ở lợn con bú sữa dịch vị tiết ra ban ngày là 31%, ban đêm là 69%, trong khi đó ở lợn trưởng thành lượng di ̣ch vi ̣ ban ngày tới 62%, ban đêm chỉ 38%
Theo Nguyễn Thiê ̣n và c s (1998) [13], thì hàm lượng HCl của lợn con
là 0,05 - 0,15%, ở lợn 90 ngày tuổi là 0,2 - 0,25%, lợn trưởng thành 0,35 - 0,40% Số lượng và chất lượng thức ăn tốt sẽ làm tăng tính ngon miê ̣ng , dịch
vị tiết ra nhiều , tỷ lệ tiêu hóa cao Ban đêm tỷ lê ̣ tiêu hóa cao hơn ban ngày , ban ngày di ̣ch vi ̣ la ̣i tiết ra nhiều hơn
Ở lợn từ 14 - 16 ngày tuổi, tình trạng thiếu HCl ở dạ dày không còn ở trạng thái sinh lý bình thường nữa (Đào Trọng Đạt và cs, 1986) [4] Vì vậy, việc tập cho lợn con ăn sớm đã rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl, giúp hoạt hóa hoạt động tiết dịch, tạo khả năng xây dựng nhanh chóng các đáp ứng miễn dịch của cơ thể
Trang 34Lợn con dưới 1 tháng tuổi trong dịch vị không có HCl, vì lúc này lượng axit tiết ra rất ít và nó nhanh chóng liên kết với niêm dịch Hiện tượng này được gọi là hypoclohydric, là một đặc điểm quan trọng trong tiêu hóa ở dạ dày lợn con Vì thiếu HCl tự do nên dịch không có tính sát trùng, vi sinh vật xâm nhập vào dạ dày dễ sinh sôi nảy nở và phát triển gây nhiều bệnh đường tiêu hóa ở lợn con (Từ Quang Hiển và Phan Đình Thắm, 1995) [5]
Men Amylaza và Mantaza: 02 men này có trong nước bọt và trong dịch tụy dưới 3 tuần tuổi hoạt tính còn thấp chỉ tiêu hóa được 50% tinh bột Do vậy
để tăng khả năng tiêu hóa cần nấu chín thức ăn khi cho ăn
Men Saccaraza dưới 02 tuần tuổi men saccaraza hoạt tính còn thấp nên
ăn đường saccarose rễ bị ỉa chảy
Lợn con dưới 3 tuần tuổi chỉ có một số men có hoạt tính mạnh như Men trypsin, catepsin, lipase và chymosin
Men trypsin men này tiêu hóa Protein trong thức ăn trong giai đoạn mới sinh nó bù đắp khả năng tiêu hóa kém của men Pepsin trong dạ dày
Men catepsin men này tiêu hóa Protein trong sữa sẽ giảm dần sau 3 tuần tuổi
Menlataza tiêu hóa đường lactose trong sữa, tăng cao nhất ở tuần thứ 2 sau đó hoạt tính của men giảm dần
Men lipaza và chymosin tăng cao nhất trong 3 tuần tuổi đầu sau đó giảm dần
Trong giai đoạn bú sữa lợn con chỉ tiêu hóa tốt chất dinh dưỡng trong sữa
mẹ, còn khả năng tiêu hóa thức ăn kém do vậy ta cần chú ý chế biến tốt, cho ăn làm nhiều lần để tăng khả năng tiêu hóa (Trần Văn Phùng và cs, 2004) [16]
Dịch ruột do các tuyến Bruner ở màng nhầy tá tràng tiết ra Dịch ruột cùng với dịch tụy và dịch mật giúp cho quá trình trung hòa nhũ chấp xuống từ
dạ dày, như vậy nó giúp bảo vệ thành ruột khỏi tác động của độ axit cao
Trang 35xuống từ dạ dày Ruột già tiếp tục quá trình tiêu hóa những gì ruột non tiêu hóa chưa triệt để Ruột già chủ yếu tiêu hóa chất xơ do vi sinh vật ở manh tràng phân giải, hấp thu lại nước và chất khoáng Thời gian thức ăn dừng lại ở ruột già từ 12 - 16 giờ Song ở đây chỉ 9% gluxit, 3% protein được tiêu hóa Các chất không tiêu hóa hết được các vi khuẩn gây thối tạo thành các sản phẩm độc như crezol, phenol… Các sản phẩm này được hấp thu vào máu và được giải độc ở gan, phần cặn bã đi vào kết tràng, được tạo thành khuôn phân
và được thải ra ngoài
2.2 Tình hình nghiên cứu về các biện pháp nâng cao khả năng sinh sản của lợn nái
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Chăn nuôi lợn được coi là quan trọng nhất trong ngành chăn nuôi ở Việt Nam Ngành chăn nuôi lợn đã phát triển nhanh trong những thập kỷ qua, đã tạo
ra lượng sản phẩm hàng hóa với quy mô tương đối lớn, cho hiệu quả kinh tế và
có chiều hướng tăng theo xu hướng phát triển kinh tế của xã hội hiện nay Thịt lợn lại được tiêu thụ nhiều nhất trong các loại thịt, chiếm tới khoảng 75 - 80% Chăn nuôi lợn ở Việt Nam hiện nay không những đáp ứng nhu cầu thịt trong nước mà còn tham gia xuất khẩu
Trong những thập niên gần đây, đã có nhiều thành tựu trong nghiên cứu
áp dụng các biện pháp khoa học khác nhau và trong quá trình chăn nuôi lợn nái
để nâng cao năng suất, chất lượng của lợn cai sữa đem lại hiệu quả cao cho ngành chăn nuôi Tuy nhiên các nghiên cứu cũng chủ yếu là đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái còn về ảnh hưởng của thao tác vắt sữa đến khả năng sinh sản của lợn nái và sinh trưởng của lợn con lại khá là hạn chế
Trần Văn Thịnh (1982) [15] cho rằng: Thức ăn đầu tiên của lợn con là sữa đầu Sữa đầu có màu trong hơi vàng và đặc, tiết ra trong 2 - 3 ngày đầu khi đẻ Trong sữa đầu, các thành phần hoá học đều đặc hơn sữa thường như:
Trang 36lượng protein gấp 3 lần sữa thường (17 - 18% so với 5 - 6%) Trên 50% protein của sữa đầu là globulin, đặc biệt là - globulin Hàm lượng - globulin giảm rất nhanh, sau 12 giờ đã giảm đi 3/4, - globulin là thành phần quan trọng tạo nên sức đề kháng chống đỡ bệnh tật của lợn con sơ sinh
Để lợi dụng khả năng tiết sữa của lợn mẹ, người ta thường cho lợn con cai sữa sớm vào ngày thứ 21 hoặc ngày thứ 28, hoặc ngày thứ 42… tuỳ theo trình độ chăn nuôi của từng cơ sở (Nguyễn Thiện và cs, 1996) [12]
Theo Từ Quang Hiển và cs (2001) [6], nhất thiết lợn con sơ sinh cần phải được bú sữa đầu nhằm giúp cho lợn con có sức đề kháng chống bệnh
Theo Trương Lăng (2003) [8] thì vú trước lượng sữa tiết ra nhiều hơn Trong chu kỳ tiết sữa, lợn con bú vú sau được 32 - 39kg sữa thì lợn con bú vú trước được khoảng 36 - 45kg sữa, vì oxytoxin theo máu đến tuyến vú phía trước sớm hơn, kéo dài hơn nên vú trước nhiều sữa hơn
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Nâng cao năng suất, chất lượng con giống trong quá trình sản xuất lợn thịt luôn là yếu tố hàng đầu, then chốt được các nhà nghiên cứu, các tập đoàn chăn nuôi của mọi quốc gia trên thế giới quan tâm Việc nghiên cứu chọn lọc dòng huyết thống và lai tạo tìm ra các tổ hợp lai đạt số con sơ sinh sống trên ổ cao, tỷ lệ nạc cao, tiêu tốn thức ăn thấp và độ dày mỡ lưng mỏng đã thành công
ở hầu hết các nước có nền chăn nuôi tiên tiến như: Mỹ, Đức, Canada, Anh, Hà Lan, Đan Mạch (Alfonso và cs, 1998) [20])
Theo Hughes, Varley (1980) [24] lứa 1 có số con/ổ thấp nhất, vì số trứng rụng ở lần đầu tiên là 11,3 Sau đó tăng dần tới lứa 6, từ lứa 7 trở đi bắt đầu giảm dần hoặc có thể sẽ giữ được mức độ ổn định
Theo McCann và cs (2008) [29], khối lượng sơ sinh/con của hai tổ hợp lai Du (LY), Pi (LY) đều đạt 1,60 kg Lợn nái F1(LY) được phối giống
Trang 37với đực giống L, Pi Austrian và Pi Belgium có khối lượng sơ sinh/con tương ứng 1,54; 1,39 và 1,54 kg (Magowan và McCann, 2009) [28]
Theo Gondret và cs (2005) [22] cho biết con lai giữa (Large White Pietrain)x (Large White Landrace) có khối lượng sơ sinh/con là 1,50 kg, khối lượng cai sữa là 8,22 kg ở 27 ngày tuổi, khả năng tăng trọng giai đoạn 27 - 67 ngày tuổi là 481,50 g/ngày
Theo kết quả nghiên cứu của Kusec và cs (2005) [27] trên lợn lai 4 giống (Pietrain Hampshire) Flavonoid (LY) cho thấy tăng trọng trong thời gian nuôi thịt là 913 g/ngày
Tóm lại, ngoài các yếu tố về giống, yếu tố di truyền,lứa tuổi, thụ tinh nhân tạo…., kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ cho lợn con bú ngay sau khi đẻ cũng có ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái và sinh trưởng của lợn con Tuy
nhiên, cho đến nay có rất ít nghiên cứu về vấn đề này