1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN án TIẾN sĩ PHÁT HUY NGUỒN lực TRÍ THỨC KHOA học xã hội và NHÂN văn TRONG QUÂN đội NHÂN dân VIỆT NAM HIỆN NAY

191 636 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 191
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhân loại đang dần chuyển sang một giai đoạn mới là xã hội tri thức, trong đó trước hết là kinh tế tri thức. Trong nền kinh tế tri thức, việc sở hữu, phân phối, sử dụng trí lực và khả năng sáng tạo có ý nghĩa quan trọng nhất. Theo các nhà kinh điển mác xít, lực lượng sản xuất có thể chia thành lực lượng sản xuất vật chất và lực lượng sản xuất tinh thần. Lực lượng sản xuất tinh thần do khoa học, do tri thức tạo nên. Khi chuyển sang nền kinh tế tri thức thì lực lượng sản xuất tinh thần là chủ yếu và mang lại giá trị gia tăng rất cao

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nhân loại đang dần chuyển sang một giai đoạn mới là xã hội tri thức,trong đó trước hết là kinh tế tri thức Trong nền kinh tế tri thức, việc sở hữu,phân phối, sử dụng trí lực và khả năng sáng tạo có ý nghĩa quan trọng nhất.Theo các nhà kinh điển mác xít, lực lượng sản xuất có thể chia thành lực lượngsản xuất vật chất và lực lượng sản xuất tinh thần Lực lượng sản xuất tinh thần

do khoa học, do tri thức tạo nên Khi chuyển sang nền kinh tế tri thức thì lựclượng sản xuất tinh thần là chủ yếu và mang lại giá trị gia tăng rất cao Vì vậy,

xã hội loài người càng phát triển thì vị trí, vai trò của trí thức ngày càng tăng.Phát huy nguồn lực trí thức là xu thế của thời đại, là một chiến lược phát triểncủa các quốc gia Sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH nhằm “từng bước phát triểnkinh tế tri thức” [22, tr 91] đòi hỏi phát huy hơn nữa vai trò to lớn của đội ngũtrí thức nước ta trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội

Trí thức KHXH-NV là một bộ phận của đội ngũ trí thức nước ta, trong

sự nghiệp CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN có vai trò quan trọng

là tổng kết thực tiễn, đi sâu nghiên cứu những vấn đề lớn của đất nước, khuvực và toàn cầu, giải đáp những vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng CNXH

và bảo vệ Tổ quốc, cung cấp luận cứ cho việc hoạch định đường lối, chủtrương, chính sách phát triển KT-XH, xây dựng con người, phát huy những disản văn hoá dân tộc, sáng tạo những giá trị văn hoá mới của Việt Nam

Trí thức KHXH-NV trong quân đội là một lực lượng đáng kể của tríthức KHXH-NV quốc gia Đội ngũ này, với tính cách là nguồn lực phát triển,phải vận dụng những nhiệm vụ nêu trên vào hoàn cảnh đặc thù của mình, vừagóp phần vào sự nghiệp chung của đất nước, vừa trực tiếp hướng tới giải quyết

Trang 2

những phát triển mới của xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng,chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, phù hợp với tổ chức quân sự thờibình, làm tròn nhiệm vụ, chức năng trong mọi tình huống Nhận thức ra, gópphần tích cực giải quyết những phát triển mới về nhiệm vụ, về lực lượng, vềkhoa học và nghệ thuật quân sự của nền quốc phòng toàn dân thì nguồn lực tríthức KHXH-NV trong quân đội phải là lực lượng chủ lực Vì vậy, phát huy vaitrò nguồn lực trí thức KHXH-NV trong quân đội đang là nhu cầu cấp thiết

Quá trình phát huy vai trò nguồn lực trí thức KHXH-NV trong quân đội

đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần vào sự nghiệp xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc, xây dựng quân đội trong giai đoạn cách mạng mới Tuynhiên, nguồn lực này trong thời gian qua chưa được phát huy đầy đủ đúng vớivai trò vốn có của nó Việc xây dựng, quản lý, sử dụng nguồn lực trí thứcKHXH-NV trong quân đội cũng còn nhiều mặt hạn chế, yếu kém, gây lãngphí, thất thoát “chất xám” Tình hình đó đặt ra vấn đề xây dựng và phát huy vaitrò nguồn lực trí thức KHXH-NV trong quân đội hiện nay càng trở nên cấp bách

Cho nên, nghiên cứu để góp phần xây dựng tốt hơn, quản lý và sử dụng tốthơn nguồn lực trí thức KHXH-NV trong quân đội có ý nghĩa lý luận và thựctiễn rất quan trọng trong giai đoạn hiện nay Với những lý do trên đây, tác giả

lựa chọn vấn đề: “Phát huy vai trò nguồn lực trí thức khoa học xã hội và nhân văn trong quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu.

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài:

Đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về trí thức và nguồn lực tríthức dưới những góc độ và quy mô khác nhau, liên quan đến đề tài luận án

Có thể phân chia các công trình này thành các nhóm sau:

Nhóm vấn đề mang tính chất định hướng cho việc nghiên cứu về trí

thức và công tác trí thức có các công trình: Trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước của Đỗ Mười, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội,

Trang 3

1995; “Quan điểm và chính sách của V.I Lênin đối với trí thức trong cách mạng

xã hội chủ nghĩa” của Trịnh Quốc Tuấn, Nghiên cứu lý luận, số 4, 1995; Định hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá

của Phạm Tất Dong (chủ biên), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001 v.v

Nhóm vấn đề nói lên vị trí, vai trò, đặc điểm, động lực sáng tạo của trí

thức trong quá trình cách mạng có các công trình: Vị trí và vai trò của tầng lớp trí thức trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Phạm Việt Dũng, luận án PTS triết học, Hà Nội, 1988; Động lực của trí thức trong lao động sáng tạo ở nước ta hiện nay của Phan Thanh Khôi, luận án PTS triết

học, Hà Nội, 1992; “Vai trò trí thức trong sự nghiệp đổi mới” của Hà Học

Trạc, Khoa học và Tổ quốc, số 1, 1994 v.v

Nhóm vấn đề về KHXH-NV và trí thức KHXH-NV trong sự nghiệp đổi

mới ở nước ta có các công trình: Khoa học xã hội và nhân văn, mười năm đổi mới và phát triển của Phạm Tất Dong (chủ biên), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997; Phát huy tiềm năng của trí thức khoa học xã hội trong công cuộc đổi mới ở nước ta của Nguyễn An Ninh, Luận án TS triết học, Hà Nội, 1999;

“Khoa học xã hội và nhân văn với sự nghiệp đổi mới” của Nguyễn Duy Quý,

Công tác Khoa giáo, số 6, 2002 v.v

Nhóm vấn đề về nguồn lực con người đã có các công trình: “Con người

và nguồn lực con người trong phát triển” (tài liệu dich) trung tâm KHXH-NV

Quốc gia xuất bản, Hà Nội, 1995; Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Phạm Minh Hạc (chủ nhiệm), NXB Chính trị

Quốc gia, Hà nội, 1996; “Suy nghĩ về xây dựng nguồn lực con người cho quân

đội trong tình hình hiện nay” của Đức Lê, Quốc phòng toàn dân, số 7, 2001 v.v

Nhóm vấn đề về trí thức quân đội đã có các công trình: “Mấy ý kiến về

đội ngũ trí thức trong quân đội ta hiện nay”của Nguyễn Hữu An, Quốc phòng toàn dân, số 4, 1994; “Tăng cường đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn

Trang 4

trong lực lượng vũ trang nhân dân ta” của Lê Hồng Quang, Quốc phòng toàn dân, số 9, 1994; Phát huy nguồn lực đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự trẻ trong xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay của Nguyễn Minh

Thắng, Luận văn thạc sỹ chủ nghĩa xã hội khoa học, Hà Nội, 2001 v.v…

Tuy nhiên, trên thực tế, dưới góc độ chủ nghĩa xã hội khoa học chưa có

một công trình nào nghiên cứu một cách cơ bản và có hệ thống về phát huy vai trò nguồn lực trí thức KHXH-NV trong quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án:

Mục đích: Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát

huy vai trò nguồn lực trí thức KHXH-NV trong quân đội, đề xuất những địnhhướng và giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò nguồn lực này trong giaiđoạn cách mạng mới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vai trò và phát huy vai trò nguồn lực

trí thức KHXH-NV trong quân đội, chủ yếu trong các cơ quan, viện nghiêncứu khoa học, các học viện, nhà trường của quân đội nhân dân Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu: Từ góc độ triết học- xã hội luận án nghiên cứu

quá trình phát huy vai trò nguồn lực trí thức KHXH-NV trong quân đội, chủyếu từ cuối những năm 80 đến nay

5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu:

Trang 5

Luận án dựa trên cơ sở hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác- Lê nin, tưtưởng Hồ Chí Minh về trí thức, nguồn lực con người; các văn kiện, nghị quyếtcủa Đảng cộng sản Việt Nam, của Đảng uỷ quân sự Trung ương, chỉ thị của Bộquốc phòng về KH-CN, trí thức và công tác trí thức trong quá trình cách mạngnước ta.

Cơ sở thực tiễn của luận án là tình hình quốc tế, sự nghiệp xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc, xây dựng quân đội, hoạt động KH-CN, các tư liệu tổng kết,các công trình khoa học, các số liệu thống kê và kết quả điều tra xã hội họccủa tác giả ở một số đơn vị trong và ngoài quân đội

Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duyvật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, sử dụng tổng hợp các phươngpháp nghiên cứu như: phân tích- tổng hợp; lôgíc- lịch sử; quy nạp, diễn dịch;đối chiếu, so sánh; điều tra xã hội học; nghiên cứu tư liệu và thu thập thôngtin để làm sáng tỏ góc độ chính trị -xã hội của vấn đề

6 Cái mới về mặt khoa học của luận án:

- Luận án bước đầu khái quát khái niệm “nguồn lực trí thức KHXH-NVtrong quân đội”, chỉ ra những đặc trưng, vai trò của nó và thực chất phát huyvai trò nguồn lực trí thức KHXH- NV trong quân đội

- Đánh giá được tình hình hiện thực việc phát huy vai trò nguồn lực tríthức KHXH-NV trong quân đội và dự báo xu hướng phát triển của nguồn lựcnày trong những năm tới

- Đề xuất một số định hướng và giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trònguồn lực trí thức KHXH-NV trong quân đội ta hiện nay

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Luận án góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của quá trình

phát huy vai trò nguồn lực trí thức KHXH-NV trong quân đội hiện nay

Trang 6

- Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu khoahọc và giảng dạy những nội dung có liên quan; góp thêm cơ sở cho việchoạch định chủ trương, biện pháp của lãnh đạo, chỉ huy các cấp để xây dựng

và phát huy vai trò nguồn lực trí thức KHXH-NV trong quân đội

8 Kết cấu của luận án:

Luận án có 196 trang, gồm phần Mở đầu, 3 chương (6 tiết), Kết luận,Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục

Trang 7

Chương 1 NGUỒN LỰC TRÍ THỨC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRONG QUÂN ĐỘI- MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

1.1 Trí thức và nguồn lực trí thức khoa học xã hội và nhân văn trong quân đội

1.1.1 Trí thức và trí thức khoa học xã hội và nhân văn trong quân đội

* Trí thức.

Thuật ngữ “trí thức” được dùng ở nhiều nước trên thế giới và có nguồngốc từ tiếng La tinh: “Intelligentia” là trí lực, trí thức (Intelligens có nghĩa làthông minh, hiểu biết, có trí tuệ) Thuật ngữ này trở nên thông dụng từ nhữngnăm nửa sau của thế kỷ XIX, dùng để chỉ những người có học thức, học vấncao

Trong từng giai đoạn lịch sử, ở mỗi quốc gia có những quan điểm vàcách tiếp cận khác nhau về khái niệm “trí thức” Theo Ja.Tchepanxki thì hiệnnay có đến trên 60 định nghĩa về “trí thức” [12, tr 107-108] Theo định nghĩa

trong Đại từ điển Bách khoa Xô viết: “Trí thức là tầng lớp xã hội của những

người làm nghề nghiệp bằng lao động trí óc, chủ yếu là lao động phức tạp,

sáng tạo, là phát triển và phổ biến văn hoá” [12, tr 109] Trong Từ điển Triết học có ghi: “Trí thức- tập đoàn xã hội gồm những người làm nghề lao động trí

óc Giới trí thức bao gồm: kỹ sư, kỹ thuật viên, thầy thuốc, luật sư, nghệ sỹ,thầy giáo và người làm công tác khoa học, một bộ phận lớn viên chức”[103,

tr 598] Trong Từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học viết: “Trí thức- một

nhóm xã hội bao gồm những người chuyên làm nghề lao động trí óc phức tạp

và có học vấn chuyên môn cần thiết cho ngành lao động đó”[102, tr 360]

Nhìn chung, các định nghĩa “trí thức” thường đề cập tới một số dấuhiệu cơ bản: là một tầng lớp xã hội; lao động trí óc sáng tạo; phát triển và phổ

Trang 8

biến văn hoá; có trình độ học vấn cao Tuy nhiên, không thể căn cứ một cáchmáy móc và giản đơn vào các dấu hiệu cơ bản ấy để xác định người đó cóphải là trí thức hay không.

Trong xã hội, tuỳ theo mối quan hệ của các giai tầng với tư liệu sản xuất,vai trò tổ chức xã hội đối với lao động mà các giai cấp, các tầng lớp xã hội có vịtrí, vai trò khác nhau Trí thức không có quan hệ riêng và trực tiếp với sở hữu tưliệu sản xuất và càng không đại biểu cho một phương thức sản xuất độc lập nào

cả Cho nên, trí thức không phải là một giai cấp mà là một tầng lớp xã hội Trong

xã hội có giai cấp, trí thức với tính cách là cộng đồng- tầng lớp, luôn của mộtgiai cấp nhất định, mà trước hết là của giai cấp thống trị đã đào tạo ra họ, bắt họtiếp thu hệ tư tưởng của mình và lao động sản xuất tinh thần phụ thuộc vào sảnxuất vật chất và sức mạnh kinh tế Cho nên, V.I Lê nin đã từng khẳng định:

“Nếu không nhập cục với một giai cấp thì giới trí thức chỉ là một con số không

mà thôi” [45, tr.552] Trong từng chế độ xã hội, giai cấp thống trị muốn hoànthành sứ mệnh lịch sử nhất thiết phải tạo dựng cho mình một tầng lớp trí thức

Vì vậy, chế độ xã hội Chiếm hữu Nô lệ có tầng lớp trí thức chủ nô; chế độ xã hộiPhong kiến có tầng lớp trí thức phong kiến; chế độ xã hội Tư bản chủ nghĩa cótầng lớp trí thức tư sản; chế độ xã hội XHCN có tầng lớp trí thức vô sản

Trí thức là người lao động trí óc, nhưng không phải người lao động

trí óc nào cũng là trí thức “Người trí thức cũng giống như những người laođộng bình thường có mặt ở mọi nơi, mọi chốn, tham gia nhiều nghề nghiệpkhác nhau, duy chỉ có một điểm khác ở chỗ họ hướng sự nghiệp lao độngcủa mình chủ yếu bằng lao động trí tuệ hoặc bằng tư duy sáng tạo mangtính chất cá thể và thường có cá tính” [12, tr 126] Vì vậy, họ phải là người

có trí tuệ và năng lực tư duy sáng tạo, có trình độ học vấn cao và chuyênmôn sâu nhất định Trình độ học vấn ấy đòi hỏi tới mức nào là tuỳ thuộcvào thời đại, vào điều kiện KT-XH và văn hoá của mỗi quốc gia, dân tộc

Trang 9

Ngày nay người ta đã cơ bản thống nhất rằng, để có khả năng trở thành trí

thức phải có trình độ học vấn ít nhất ở bậc cao đẳng, đại học Để có mức

học vấn này, có thể là tự học (không có bằng cấp), nhưng phần lớn là đượcđào tạo từ các trường cao đẳng, đại học và tốt nghiệp, được nhận cácbằng cấp khoa học khác nhau

Học vấn, bằng cấp chỉ là một dấu hiệu, một điều kiện cần chứ chưa đủ

để trở thành trí thức Vì nhiều khi bằng cấp không tương xứng với trình độvốn có, ngay cả những người trình độ học vấn cao với nhiều bằng cấp nhưngvẫn không đóng vai trò của người trí thức do họ không vươn tới mức độ laođộng kiểu trí thức Ngược lại, có những người không có bằng cấp nhưng tựhọc hỏi vươn lên có được tri thức cần thiết và đảm nhiệm được nhiệm vụcủa người trí thức, tham gia lao động sáng tạo như: nghiên cứu khoa học,sáng tác văn học- nghệ thuật, giảng dạy, tổng kết thực tiễn, phát triển lýluận, nghiên cứu ứng dụng khoa học- công nghệ nên đã trở thành trí thức,thậm chí còn trở thành nhà trí thức lớn

Do vậy, điều chủ yếu nhất để nói lên trí thức khác với bộ phận lao động

xã hội khác là ở kiểu lao động của họ Đó là lao động trí óc, lao động sáng tạo khoa học.

Lao động sáng tạo của trí thức là đi tìm bản chất và phát hiện quy luật của

sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan, đưa lại những tri thức khoa họcmới, tiến bộ và hữu ích, phổ biến và nghiên cứu ứng dụng những tri thức khoahọc vào thực tiễn để nâng cao chất lượng hoạt động mọi mặt của đời sống xãhội, dự báo tương lai và đưa ra phương hướng, biện pháp nhằm phát triển xã hội

Lao động sáng tạo của trí thức được thực hiện trên nhiều lĩnh vực khác

nhau của đời sống xã hội Sản phẩm lao động sáng tạo cũng rất đa dạng

phong phú, mang tính kế thừa nhưng không lặp lại và có giá trị xã hội Nhữngsản phẩm lao động sáng tạo là những giá trị tinh thần Nó được sáng tạo ở

Trang 10

trình độ tư duy lý luận, là một nấc thang mới của nhận thức mang tính khoahọc chứ không dừng lại ở mức kinh nghiệm, là sự phản ánh sâu sắc hơn bảnchất của sự vật, hiện tượng

Tính xã hội hoá của lao động sáng tạo khoa học ngày càng tăng, thểhiện ở sự phát triển nhanh về số lượng trí thức và sự hợp tác lao động khoahọc giữa trí thức của các ngành, các lĩnh vực trong phạm vi quốc gia, quốc tếngày càng nhiều Thế nhưng, một trong những đặc điểm hoạt động của tríthức vẫn không đổi, đó là tính độc lập cá nhân cao Sau khi có những nhiệm

vụ cụ thể, từng người trí thức vận động tư duy, tìm tòi, trăn trở, sáng tạo để

có được những sản phẩm khoa học

Trí thức chân chính phải là người thực học, để có thực lực và thực tài,

có năng lực tự đào tạo một cách chủ động, sáng tạo, có cấu trúc nhân cách đức- tài hoàn chỉnh, có phương pháp và bản lĩnh của một nhân cách khoa học,

là những chủ thể của một nhân cách khoa học với sự hài hoà giữa lý tưởngnghề nghiệp chuyên môn với lý tưởng chính trị, thể hiện qua thái độ lao động,

trong tư duy khoa học, trong đạo đức, lối sống Trí thức là người lao động sáng tạo ra tri thức, ra các giá trị văn hoá tinh thần, thuộc về những đại diện

ưu tú cho trí tuệ của dân tộc, cho phẩm chất trọng chân lý và trọng đạo lý

Trong cách mạng vô sản, nhất là sau khi đã giành chính quyền, giai cấpcông nhân nhất định phải xây dựng tầng lớp trí thức mới cho mình, bằng cáchcải tạo, bồi dưỡng trí thức cũ và đào tạo trí thức mới Đội ngũ trí thức mớingày càng đông đảo, có thế giới quan vô sản, có phẩm chất đạo đức cáchmạng, có kiến thức khoa học, chuyên ngành cần thiết, có bản lĩnh, phươngpháp và ý thức trách nhiệm cao trong hoạt động khoa học Họ có môi trường

xã hội và những điều kiện thuận lợi để cống hiến tài năng sáng tạo của mìnhcho cách mạng, cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN

Trang 11

Như vậy, trí thức là một tầng lớp xã hội, có trình độ học vấn cao (ngày nay ít nhất là ở bậc cao đẳng, đại học hoặc tương đương), lao động trí óc, sáng tạo khoa học, phổ biến và nghiên cứu ứng dụng tri thức khoa học trong hoạt động thực tiễn, góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển mọi mặt của đời sống xã hội

* Trí thức khoa học xã hội và nhân văn trong quân đội

KHXH-NV là một nhóm các ngành khoa học có nhiệm vụ nghiên cứunhững quy luật hình thành, hoạt động và phát triển của xã hội và con người,của mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với môi trường

tự nhiên và xã hội [90, tr 20] Đây là một lĩnh vực khoa học rất đặc thù

Trên thực tế, có khi khoa học xã hội được tách ra thành một nhóm ngànhkhoa học riêng bên cạnh khoa học nhân văn UNESCO đã phân loại khoa họcthành 6 nhóm ngành như sau: khoa học tự nhiên và khoa học chính xác; khoahọc kỹ thuật; khoa học nông nghiệp; y học; khoa học xã hội; khoa học nhânvăn và nghệ thuật Do sự gần nhau về đối tượng nghiên cứu, phương phápnghiên cứu và mục đích thực tiễn , ở Việt Nam hiện nay, khoa học xã hội vàkhoa học nhân văn được xếp chung vào một nhóm ngành gọi là KHXH- NV

KHXH- NV có vai trò quan trọng không những đối với sự phát triểnkinh tế và tiến bộ xã hội, mà còn đối với sự phát triển của khoa học tự nhiên vàkhoa học kỹ thuật Nó tác động tới hệ tư tưởng, thế giới quan, nhân sinh quancủa toàn xã hội; định hướng cho tư duy, lối sống và hành vi của các thành viêntrong cộng đồng, nâng cao năng suất lao động, xây dựng môi trường văn hoá- xãhội, đề cao những giá trị nhân văn nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống conngười

Trí thức KHXH-NV là một bộ phận của đội ngũ trí thức nước ta, là những người lao động trí óc trong lĩnh vực sáng tạo, truyền bá và ứng dụng tri thức KHXH-NV trong đời sống xã hội, có tri thức sâu, rộng về xã hội và về

Trang 12

con người Họ vừa là người lao động sáng tạo khoa học trong lĩnh vực

KHXH-NV vừa là người tham gia các hình thức hoạt động chính trị- xã hội

và đào tạo lớp trí thức mới cho đất nước Họ có phẩm chất chính trị, đạo đức,trình độ và năng lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổquốc, yêu cầu của nhiệm vụ KHXH-NV trong giai đoạn cách mạng mới

Trí thức KHXH-NV trong quân đội là một bộ phận của đội ngũ tríthức KHXH-NV quốc gia, một bộ phận của trí thức quân đội, là người laođộng trí óc, sáng tạo, phổ biến và nghiên cứu ứng dụng tri thức KHXH-NVtrong quân đội, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, cótrình độ học vấn ở bậc cao đẳng, đại học trở lên, có tri thức sâu, rộng về xãhội quân đội và về con người quân nhân

Trí thức KHXH-NV trong quân đội là một nhóm quân nhân đặc thù, baogồm: cán bộ nghiên cứu KHXH-NV, giảng viên KHXH-NV và những cán bộlàm các công tác khác trong lĩnh vực KHXH-NV của quân đội Họ là những sĩquan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng làm công tácchuyên môn, nghiệp vụ theo chức trách, nhiệm vụ được giao và tham gia laođộng trí óc sáng tạo, phổ biến và ứng dụng KHXH-NV trong quân đội

Trí thức KHXH-NV trong quân đội, ngoài những đặc điểm chung với

trí thức KHXH-NV nước ta, còn có những đặc trưng riêng do điều kiện sống

và hoạt động trong môi trường quân sự tạo nên

Trước hết, trí thức KHXH-NV trong quân đội có đối tượng nghiên cứu đặc thù Họ không chỉ nghiên cứu con người- xã hội nói chung mà còn

lấy vấn đề xã hội và con người- quân nhân trong quân đội, trong hoạt độngquân sự làm đối tượng nghiên cứu chủ yếu Hoạt động quân sự có quy luậtriêng, bởi lẽ lao động quân sự là loại hình lao động đặc biệt, con người luôngắn với vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự tạo nên sức mạnh để chiến thắng kẻthù Động lực chủ yếu của con người- quân nhân không phải là lợi ích kinh

Trang 13

tế mà là tinh thần yêu nước, trình độ giác ngộ chính trị, tinh thần tráchnhiệm và nghĩa vụ đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Mối quan hệ xã hộitrong quân đội là mối quan hệ tập trung thống nhất cao, nhiều người phụctùng một người theo nguyên tắc tập trung dân chủ Chính điều này qui địnhtính đặc thù của KHXH-NV trong quân đội Nếu người trí thức khoa học kỹthuật quân sự chủ yếu nghiên cứu chế tạo, cải tiến, bảo quản và sử dụng cóhiệu quả vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự thì người trí thức KHXH-NVtrong quân đội lại chủ yếu nghiên cứu khám phá những quy luật và nhữngvấn đề có tính quy luật, những yêu cầu, những nội dung về chiến tranh nhândân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng quân đội nhân dân ViệtNam; xây dựng và phát huy nhân tố con người trong quân đội, xây dựng sứcmạnh chính trị- tinh thần, sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc; quanđiểm sử dụng vũ khí, trang bị kỹ thuật trong hoạt động quân sự; nghiên cứunhững vấn đề mới về tư tưởng và tâm lý, về nghĩa vụ, trách nhiệm và quyềnlợi của người quân nhân, về cơ chế và chính sách trong quân đội Như vậy,nghiên cứu những vấn đề xã hội và con người- quân nhân trong quân đội,trong hoạt động quân sự là nét đặc thù của trí thức KHXH-NV trong quânđội

Hai là, trí thức KHXH-NV trong quân đội vừa có phẩm chất của người quân nhân cách mạng, vừa có phẩm chất của người cán bộ KHXH-NV Mỗi

nghề nghiệp đều có phẩm chất riêng của mình Phẩm chất của người trí thứcKHXH-NV trong quân đội được đặc trưng bởi chức năng nghề nghiệp của họ.Tuy nhiên, nó là một bộ phận hữu cơ thể hiện đầy đủ yêu cầu nội dung củaphẩm chất người quân nhân cách mạng, nhưng lại mang đậm dấu ấn KHXH-

NV Vì vậy, phẩm chất của người trí thức KHXH-NV trong quân đội là sự cụthể hoá phẩm chất người quân nhân cách mạng ở ngành KHXH-NV trong quânđội

Trang 14

Người trí thức KHXH-NV trong quân đội được chuẩn bị những phẩmchất phản ánh tính đặc thù khoa học mà mình nghiên cứu Họ có bản lĩnhchính trị vững vàng; trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng và nhândân; có tinh thần trách nhiệm, ý chí quyết tâm cao, dũng cảm, đoàn kết, kỷluật tự giác nghiêm minh, đức tính trung thực, cẩn thận, tỉ mỷ, kiên trì vànhân văn trong hoạt động khoa học; có tâm huyết với nghề nghiệp, say mênghiên cứu sáng tạo, cống hiến cho KHXH-NV trong quân đội Những phẩmchất đó là sự phản ánh nhân cách người trí thức KHXH-NV trong quân đội.

Với nhân cách ấy, ở cương vị “nhà khoa học”, hay cương vị “ngườilính”, người lãnh đạo, chỉ huy trong chiến đấu, huấn luyện quân sự, lao độngsản xuất và công tác, người trí thức KHXH-NV trong quân đội đều có thểvượt qua mọi khó khăn, gian khổ, căng thẳng và nguy hiểm, sẵn sàng hy sinh

cả tính mạng của mình để lao động sáng tạo khoa học và hoàn thành chứctrách, nhiệm vụ được giao Nếu không, họ sẽ không có đủ bản lĩnh, ý chíquyết tâm, tinh thần trách nhiệm để giải quyết những vấn đề khoa học màmình theo đuổi, nói gì đến sáng tạo văn hoá, đấu tranh phê phán những hiệntượng sai trái trong và ngoài quân đội

Thực tế cho thấy, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đếquốc Mỹ, có biết bao trí thức KHXH-NV trong quân đội đã bám sát thực tiễnhoạt động quân sự, vừa cầm súng để chiến đấu, vừa cầm bút để sáng tạo khoahọc ngay trên chiến trường Nhiều công trình khoa học, dự án, nhiều tác phẩmvăn học, nghệ thuật có giá trị to lớn đã thấm máu của chính mình và đồng đội,góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến vĩ đại của dân tộc Ngàynay, trí thức KHXH-NV trong quân đội luôn chắc tay súng tay bút bảo vệ Tổquốc và lao động sáng tạo khoa học

Ba là, trí thức KHXH-NV trong quân đội có kiến thức sâu, rộng về xã hội

và vốn sống thực tiễn quân sự phong phú Các chuyên ngành KHXH-NV trong

Trang 15

quân đội dưới các góc độ khác nhau đều phải giải đáp những vấn đề thuộc vềbản chất con người- quân nhân cách mạng, những vấn đề thuộc về xã hội quânnhân nhằm không ngừng nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội Điều nàyquy định người nghiên cứu KHXH-NV trong quân đội phải có kiến thức sâu,rộng về xã hội- quân đội, người quân nhân cách mạng và vốn sống thực tiễnquân sự phong phú Họ sống trong quân đội, hoạt động khoa học của họ là hoạtđộng khoa học trong quân đội Vì vậy, kiến thức và vốn sống quân sự vừa là đặcđiểm cơ bản, vừa là yêu cầu phấn đấu của người trí thức KHXH-NV trong quânđội.

Trí thức KHXH-NV trong quân đội không chỉ có kiến thức chuyênngành sâu mà còn có kiến thức liên ngành, kiến thức về khoa học kỹ thuậtquân sự và khoa học nghệ thuật quân sự cần thiết, nắm vững chủ nghĩa Mác-

Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng trong quátrình hoạt động KHXH-NV trong quân đội Đồng thời, họ còn có sự hiểu biếtsâu sắc về đời sống xã hội và quân đội, về thực tiễn hoạt động quân sự, về conngười- quân nhân và các mối quan hệ xã hội của họ, nắm bắt kịp thời nhữngvấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn

Nhờ có kiến thức sâu rộng và vốn sống thực tiễn quân sự phong phú

mà người trí thức KHXH-NV trong quân đội mới có thể lao động sáng tạokhoa học, có khả năng thích ứng linh hoạt, đa dạng, tiếp cận và nghiên cứunhững vấn đề mới nảy sinh trong đời sống xã hội và quân đội Dù có kiếnthức sâu, rộng, nhưng người trí thức KHXH-NV trong quân đội không bámsát thực tiễn hoạt động quân sự, thiếu vốn sống phong phú trong quân đội thìkhông thể có những sản phẩm khoa học, sản phẩm văn hoá có giá trị cao,không có lời giải đáp kịp thời, thoả đáng những vấn đề mới nảy sinh trongthực tiễn Ngược lại, có vốn sống phong phú mà không có kiến thức sâu,rộng, thì họ không có đủ tầm trí tuệ để sáng tạo khoa học

Trang 16

Tri thức sâu, rộng và vốn sống thực tiễn quân sự đặc biệt quan trọngđối với trí thức KHXH-NV trong quân đội Người trí thức khoa học kỹ thuậtquân sự trẻ có vốn sống thực tiễn quân sự chưa nhiều, nhưng có kiến thứcchuyên ngành sâu thì họ hoàn toàn có thể nghiên cứu, phát minh, sáng chế ra

vũ khí mới, phương tiện kỹ thuật quân sự có uy lực lớn Trái lại, người tríthức KHXH-NV trong quân đội trẻ cũng có kiến thức chuyên ngành sâunhưng lại rất khó khăn, lúng túng khi nghiên cứu KHXH-NV trong quân đội

và thường có kết quả không cao vì họ còn thiếu những kiến thức liên ngành cầnthiết và vốn sống thực tiễn hoạt động quân sự Để có kiến thức sâu, rộng vàvốn sống phong phú, họ phải qua đào tạo, bồi dưỡng, học tập và rèn luyện ởnhà trường, trong thực tiễn hoạt động quân sự Vì vậy, họ thường vào nghềmuộn hơn, có tuổi quân, tuổi đời cao hơn các bộ phận trí thức khác trong quânđội

Bốn là, phương pháp nghiên cứu và sản phẩm lao động sáng tạo của trí thức KHXH-NV trong quân đội cũng có nét đặc thù Trong lao động sáng

tạo khoa học, trí thức KHXH-NV trong quân đội vận dụng phương phápnghiên cứu của KHXH-NV để nghiên cứu các hiện tượng xã hội và conngười- quân nhân trong quân đội, trong hoạt động quân sự Đó là cả một hệthống phương pháp nghiên cứu xã hội phức tạp do tính biến đổi mau lẹ,thường xuyên và mối liên hệ phức tạp của đối tượng nghiên cứu qui định Do

có phương pháp duy vật lịch sử, tư duy trừu tượng, tư duy biện chứng trongnghiên cứu khoa học, người trí thức KHXH-NV trong quân đội dễ nhìn thấynhững cái mới đang nảy sinh, những dấu hiệu của sự phát triển và giúp conngười- quân nhân chủ động, tích cực trong hoạt động quân sự

Việc nghiên cứu các hiện tượng xã hội trong chừng mực đáng kểthường được hiệu chỉnh dưới tác động của nhân tố chủ quan của người tríthức KHXH-NV trong quân đội Do vậy, những sản phẩm khoa học phản ánh

Trang 17

thế giới quan, quan điểm, chính kiến của họ Ở đó, tính khoa học và tínhchính trị cách mạng kết hợp biện chứng với nhau.

Hệ giá trị làm điểm tựa cho cuộc sống, lẽ sống và sự nghiệp của người

trí thức KHXH-NV trong quân đội là Tổ quốc- Dân tộc- Thời đại và CNXH,

là đồng hành với nhân dân, phục vụ nhân dân, phục vụ sự nghiệp xây dựngquân đội vững mạnh về mọi mặt, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, làđộc lập dân tộc gắn liền với CNXH Sự kết hợp giữa tính chính trị- xã hội,tính dân tộc, tính nhân văn và tính khoa học thể hiện một cách chặt chẽ,thống nhất và rõ ràng trong sản phẩm lao động sáng tạo của họ Trong đó,tính chính trị nhất quán không hề phủ định tính khoa học khách quan

Sản phẩm lao động sáng tạo của trí thức KHXH-NV trong quân độinhư các chương trình, dự án, các công trình khoa học, các tác phẩm văn học

và nghệ thuật, kết quả giáo dục, đào tạo, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luậnv.v… có giá trị xã hội sâu sắc và ý nghĩa thực tiễn quân sự to lớn Trái lại,mỗi sai lầm của trí thức KHXH-NV trong quân đội sẽ gây nên mối nguy hạilớn, thậm chí không lường nổi đối với sức mạnh chiến đấu của quân đội và sựphát triển của dân tộc Cho nên, trí thức KHXH-NV trong quân đội có tráchnhiệm nặng nề đối với tiến bộ xã hội và sự phát triển quân đội thông qua sảnphẩm lao động khoa học của họ

Tóm lại, trí thức KHXH-NV trong quân đội là một bộ phận trí thức của quân đội và đất nước, là đội ngũ những người lao động trí óc, sáng tạo, phổ biến và nghiên cứu ứng dụng tri thức KHXH-NV trong quân đội, có trình độ học vấn ở bậc cao đẳng, đại học trở lên (được đào tạo hoặc không được đào tạo, có bằng cấp hoặc không có bằng cấp), có kiến thức sâu, rộng

và vốn sống thực tiễn quân sự phong phú, có phẩm chất chính trị và đạo đức cách mạng, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng, chiến đấu và phát triển của quân đội, của đất nước.

Trang 18

1.1.2 Nguồn lực trí thức khoa học xã hội và nhân văn trong quân đội

* Nguồn lực con người

Nguồn lực là hệ thống các yếu tố cả vật chất và tinh thần đã, đang và sẽ

có khả năng tạo ra sức mạnh tổng hợp góp phần thúc đẩy quá trình cải biến tựnhiên và xã hội của một quốc gia, dân tộc

Khái niệm nguồn lực có phạm vi bao quát rộng, nó hàm chứa không chỉcác yếu tố vật chất, tinh thần đã và đang tạo ra sức mạnh trên thực tế mà cảnhững yếu tố mới ở dạng tiềm năng; nó không chỉ nói lên sức mạnh mà cònchỉ ra nơi bắt đầu, nơi phát sinh hay nơi có thể cung cấp sức mạnh; nó phảnánh không chỉ số lượng mà còn cả chất lượng các yếu tố và sự biến đổi khôngngừng của các yếu tố đó

Tuỳ theo từng điều kiện cụ thể và góc độ nghiên cứu trong các mốiquan hệ xác định mà nguồn lực được tính đến như thế nào, mở rộng hay thuhẹp Có thể nêu ra một số loại nguồn lực sau: nguồn lực vật chất và nguồn lựctinh thần; nguồn lực bên trong và nguồn lực bên ngoài; nguồn lực chủ quan vànguồn lực khách quan Có những yếu tố tạo nên một nguồn lực nào đó lại trởthành những nguồn lực của chính nguồn lực đó, như trí tuệ cũng được coi làmột nguồn lực trong nguồn lực con người

Hiện nay, các nguồn lực quan trọng nhất thúc đẩy quá trình CNH,HĐHđất nước có thể được qui về 5 loại sau: nguồn nhân lực và con người ViệtNam; nguồn tài nguyên thiên nhiên; nguồn lực do vị trí địa lý thuận lợi;nguồn lực bắt nguồn từ cơ sở vật chất và tiềm lực khoa học kỹ thuật; cácnguồn lực nước ngoài Các nguồn lực này có quan hệ chặt chẽ với nhau, cùngtác động vào quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN Trong

đó, nguồn lực con người Việt Nam là quí nhất, quyết định nhất

Trang 19

Khái niệm “nguồn lực con người” mới được dùng từ những năm 60 củathế kỷ XX ở nhiều nước phương Tây và một số nước châu Á, hiện nay, nóđược sử dụng khá phổ biến trên thế giới [35, tr 32]

Quan niệm về “nguồn lực con người” khá đa dạng, được đề cập từnhiều góc độ khác nhau Ngân hàng thế giới cho rằng, nguồn lực con ngườiđược hiểu là toàn bộ vốn người (thể lực, trí tuệ, kỹ năng nghề nghiệp) củacộng đồng xã hội Liên hiệp quốc cũng có cách tiếp cận tương tự khi cho rằngnguồn lực con người là tất cả những kiến thức, kỹ năng và năng lực của conngười có quan hệ tới sự phát triển của một đất nước Quan niệm này xem xétnguồn lực con người chủ yếu ở phương diện chất lượng con người và vai tròcủa nó đối với sự phát triển xã hội

Ở nước ta, quan niệm về nguồn lực con người cũng khá phong phú.Nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười đã chỉ rõ: “Nguồn lực đó là người lao động cótrí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồidưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với nền khoa học,công nghệ hiện đại”[20, tr 9] Thủ tướng Phan Văn Khải cũng đã khẳng định:

“Nguồn lực con người bao gồm cả sức lao động, trí tuệ và tinh thần gắn vớitruyền thống của dân tộc ta”[36] Một số nhà khoa học đã cho rằng: “Nguồnlực con người là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinhthần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực và phẩm chất” [26, tr 328], “là tổng thểsức dự trữ, những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tácđộng của con người trong việc cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội”[13, tr 9]

Từ các quan niệm trên, có thể hiểu nguồn lực con người- một dạng đặc biệt của nguồn lực nói chung, là tổng hoà các yếu tố tạo nên sức mạnh của con người và cộng đồng xã hội, là số dân, cơ cấu số dân và chất lượng con người với tất cả đặc điểm và sức mạnh của nó trong sự phát triển xã hội Đây là

Trang 20

một khái niệm rộng mà nội dung của nó được thể hiện trên một số mặt cơ bảnsau:

Thứ nhất, phản ánh qui mô dân số thông qua số lượng dân cư và tốc độ

tăng dân số của một nước, trong một thời gian nhất định Đồng thời, nó cònphản ánh lực lượng lao động (số người trong độ tuổi lao động có khả năng laođộng); nguồn lao động (đội ngũ lao động hiện có và sẽ có trong tương lai gần)

Thứ hai, phản ánh cơ cấu dân cư và cơ cấu lao động trong các ngành,

các vùng, cơ cấu lao động đã qua đào tạo, cơ cấu trình độ lao động, cơ cấu độtuổi trong lực lượng lao động, cơ cấu nguồn lao động dự trữ Cơ cấu này ảnhhưởng trực tiếp đến chất lượng và sức mạnh của nguồn lực con người

Thứ ba, phản ánh chất lượng dân số, chất lượng lực lượng lao động trong

hiện tại và trong tương lai gần (dạng tiềm năng), bao gồm các yếu tố: thể chất vàtinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực và phẩm chất, thái độ và phong cách làmviệc Nói một cách khác, đó là toàn bộ những năng lực và phẩm chất của conngười tạo nên nhân cách tiêu biểu cho một quá trình biến đổi xã hội nhất định

Các nội dung trên là một thể thống nhất, liên hệ, tác động lẫn nhautrong cấu trúc nguồn lực con người

Các nguồn lực như vốn, tài nguyên thiên nhiên, công nghệ chỉ pháthuy tác dụng và có ý nghĩa tích cực đối với sự phát triển xã hội khi được kếthợp với nguồn lực con người, thông qua hoạt động của con người Vì vậy,

nguồn lực con người là nguồn lực quan trọng nhất, là nguồn lực của mọi nguồn lực, là nội lực của sự phát triển.

Nguồn lực con người có những đặc tính cơ bản sau:

Một là, nguồn lực có trí tuệ, có khả năng phục hồi và tự tái sinh Nó

thường xuyên được bổ sung về số lượng và chất lượng qua tái sản xuất racon người, tái sản xuất giá trị xã hội Sự tiềm tàng sức mạnh của nguồn lựccon người nằm chủ yếu ở khả năng bản chất của con người là trí tuệ Trí tuệ

Trang 21

là sản phẩm đặc biệt của cái “khối vật chất đặc biệt phức tạp mà con ngườigọi là bộ óc của con người” Nó là nguồn lực duy nhất có năng lực sáng tạovới khả năng tái sinh và tái sinh mở rộng không ngừng năng lực sáng tạo đó.Trong quá trình sử dụng, trí tuệ không chỉ sáng tạo ra giá trị tự bù đắp haophí sinh học của mình, mà còn sáng tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị banđầu Nhờ có trí tuệ mà tiềm năng của con người được khai thác, phát huy.Trí tuệ nếu được bồi dưỡng, sử dụng hợp lý sẽ là nguồn lực vô tận Ngàynay, trí tuệ được coi là một nguồn lực cơ bản, quan trọng nhất của nguồn lực

con người.

Hai là, nguồn lực con người vừa là chủ thể vừa là khách thể của các

quá trình KT-XH Là chủ thể, con người khai thác, sử dụng các nguồn lựckhác hiện có, đồng thời, qua đó phát triển chính bản thân con người và gópphần tạo ra những nguồn lực mới để duy trì sự tồn tại và phát triển xã hội

Là khách thể, con người trở thành đối tượng khai thác cho mục tiêu pháttriển xã hội, là đối tượng mà chính sự phát triển xã hội phải hướng vào phục

vụ Với ý nghĩa đó, con người vừa là chủ thể, vừa là khách thể, vừa là độnglực, vừa là mục tiêu của sự phát triển xã hội Đảng ta đã xác định: chiến lược

ổn định và phát triển KT-XH, xét về thực chất là chiến lược con người; “Conngười phát triển về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần,trong sáng về đạo đức là động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới đồngthời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội”[17, tr 5]

Với bản chất, chức năng của mình trong quá trình phát triển xã hội, trí thức luôn là một bộ phận cơ bản quan trọng của nguồn lực con người Đó là

nguồn nhân lực chất lượng cao, “đại diện cho trí tuệ của dân tộc” [80, tr 237].Nguồn lực trí thức còn được gọi với nhiều từ tương tự khác nữa: nguồn lực trítuệ, nguồn nhân lực cao, nguồn lao động chất xám Nguồn lực trí thức có vịtrí, vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển xã hội Vì vậy, sự nghiệp

Trang 22

xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn cách mạng mới đòi hỏi phải quantâm phát triển và sử dụng có hiệu quả nguồn lực trí thức.

* Nguồn lực trí thức khoa học xã hội và nhân văn trong quân đội.

Từ khái niệm chung về nguồn lực con người có thể hiểu nguồn lực trí thức KHXH-NV trong quân đội- một bộ phận của nguồn lực con người quân đội, nguồn lực trí thức quân đội, là tổng hoà các yếu tố về số lượng, chất lượng

và cơ cấu đội ngũ trí thức KHXH-NV trong quân đội Họ là sĩ quan, quân nhân

chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng làm công tác nghiên cứu khoa học,giảng dạy và các hoạt động khác trong lĩnh vực KHXH-NV của quân đội

Sức mạnh nguồn lực trí thức KHXH-NV trong quân đội là sự thống nhất giữa chất lượng của từng người trí thức với số lượng trí thức và cơ cấu đội ngũ trí thức KHXH-NV trong quân đội, được biểu hiện ra ở kết quả hoạt

động KHXH-NV trong quân đội theo chức trách, nhiệm vụ được giao

Số lượng trí thức là một yếu tố vật chất nền tảng có vai trò rất quan

trọng trong các yếu tố tạo thành sức mạnh của nguồn lực trí thức KHXH-NVtrong quân đội Không có số lượng thích hợp thì không thể tạo dựng được một

tổ chức khoa học và qui mô của tổ chức đó, càng không thể triển khai hoạtđộng KHXH-NV trong quân đội có hiệu quả Sức mạnh của nguồn lực nàybắt nguồn từ sức mạnh của từng cá nhân được tổ chức Nhờ có tổ chức màsức mạnh của từng người trí thức và của cả nguồn lực được nhân lên gấp bộiđáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của KHXH-NV trong quân đội

Số lượng trí thức KHXH-NV trong quân đội phải đảm bảo tính phổ quát

về nội dung và các lĩnh vực hoạt động KHXH-NV trong quân đội Trên cơ sở yêucầu của sự nghiệp xây dựng quân đội, nhiệm vụ chính trị của các đơn vị và yêucầu của nhiệm vụ KHXH-NV trong quân đội để xác định số lượng trí thức làmcông tác nghiên cứu khoa học, giảng dạy, lãnh đạo, chỉ huy, chuyên môn, nghiệpvụ ở các ngành, các cơ quan và đơn vị trong quân đội một cách hợp lý Và do

Trang 23

đó, sẽ bảo đảm sức mạnh thực tế cho nguồn lực trí thức KHXH-NV trong quânđội phát huy tác dụng cả bề rộng và chiều sâu nghiên cứu khoa học, phổ biến vàứng dụng KHXH-NV trong quá trình xây dựng quân đội và hoạt động quân sự.

Vì vậy, xác định số lượng trí thức KHXH-NV trong quân đội hợp lý là một vấn

đề khoa học nhằm không ngừng tăng cường sức mạnh của nguồn lực này

Chất lượng người trí thức KHXH-NV trong quân đội là sự tổng hoà những phẩm chất và năng lực (đức và tài) được thể hiện ở kết quả lao động

sáng tạo khoa học của họ Đây là yếu tố cơ bản, quan trọng nhất, giữ vị tríquyết định sức mạnh của nguồn lực trí thức KHXH-NV trong quân đội Phẩmchất và năng lực của người trí thức KHXH-NV trong quân đội là hai mặt củamột vấn đề thống nhất và có mối quan hệ hữu cơ với nhau, luôn gắn kết chặtchẽ với nhau, tác động lẫn nhau, đan xen vào nhau, là tiền đề và điều kiện củanhau đến mức không thể tách rời, sự phân định thành từng mặt chỉ là tươngđối Có phẩm chất mà không có năng lực thì phẩm chất cũng không có tácdụng thiết thực Có tài, có năng lực mà không có phẩm chất, đạo đức, tìnhcảm, lý tưởng, ý chí thì tài năng không có cơ sở để phát triển đúng hướng Haimặt này cùng tạo nên chất lượng người trí thức KHXH-NV trong quân đội.Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Có tài phải có đức Có tài không có đức,tham ô hủ hoá có hại cho nước Có đức không có tài như ông bụt ngồi trongchùa, không giúp ích gì được ai”[75, tr 184] Đảng ta đã khẳng định: “Phảicoi trọng cả đức và tài” [21, tr 80] Do vậy, khi nói đến chất lượng người tríthức KHXH-NV trong quân đội là nói tới sự thống nhất giữa phẩm chất vànăng lực được biểu hiện ra trong hoạt động thực tiễn mà thước đo là kết quảlao động sáng tạo khoa học của họ

Phẩm chất người trí thức KHXH-NV trong quân đội được thể hiện ở

lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu lý tưởngcách mạng, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập dân tộc, vì CNXH; trung

Trang 24

thành vô hạn với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, “thắng khôngkiêu”, “bại không nản”, tinh thần dũng cảm, ý chí kiên cường, lối sống trongsáng, giản dị, đoàn kết, kỷ luật tự giác nghiêm minh Hơn nữa, họ còn cótrình độ giác ngộ chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, lýtưởng cộng sản Họ còn có phẩm chất trung thực, cẩn thận, tỉ mỉ, kiên trì,trách nhiệm xã hội và nhân văn trong lao động sáng tạo khoa học; có tâmhuyết với nghề nghiệp, say mê nghiên cứu sáng tạo, cống hiến cho KHXH-

NV trong quân đội; không bảo thủ, thiên vị, không cục bộ, đố kỵ, có tinh thầnhợp tác khoa học, chống chủ nghĩa cá nhân, trân trọng yếu tố sáng tạo, bảo vệcái đúng, phê phán cái sai Đó là phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của ngườitrí thức KHXH-NV trong quân đội

Phẩm chất của người trí thức KHXH-NV trong quân đội giữ vị trí đặcbiệt quan trọng Nó được coi là cội nguồn của sức mạnh, là cái “gốc” để họ

có thể vượt qua mọi trở lực, hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao.Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước,không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo.Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấycũng không lãnh đạo được nhân dân”[72, tr 252] Vì vậy, phải coi “đức làgốc” [19, tr 146] Thực tế đã chứng tỏ, nhờ có những phẩm chất quý báu đóngười trí thức KHXH-NV trong quân đội mới có ý chí quyết tâm cao, gươngmẫu, vượt lên trên hoàn cảnh, không tính toán mưu lợi cho cá nhân, sẵn sàng

hy sinh cả tính mạng cho sự nghiệp khoa học Và do đó, họ mới có đượcnhững sản phẩm khoa học, những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị xãhội cao, mới có thể đoàn kết, tập hợp, tổ chức được cán bộ, chiến sỹ thamgia hoạt động KHXH-NV trong quân đội có hiệu quả

Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc “tự nhiên sẵn có” (bao

gồm cả năng khiếu) để thực hiện một hoạt động nào đó [104, tr 639] Mỗi

Trang 25

lĩnh vực hoạt động cụ thể của con người đòi hỏi phải có một năng lực tươngứng với nó Không có sự phù hợp giữa năng lực hoạt động và yêu cầu hoạtđộng của con người thì kết quả hoạt động sẽ không cao.

Năng lực của người trí thức KHXH-NV trong quân đội là sự tổng hợp cáckhả năng và điều kiện chủ quan của họ đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ KHXH-

NV trong quân đội và chức trách nhiệm vụ họ đảm nhận trên thực tế Nói tớinăng lực của người trí thức KHXH-NV trong quân đội là nói tới khả năng nhậnthức, khả năng chuyên môn, khả năng hoạt động thực tiễn và hoạt động KHXH-

NV trong quân đội Khả năng nhận thức đóng vai trò rất quan trọng trong pháttriển năng lực của người trí thức KHXH-NV trong quân đội Nó có mặt ở tất cảcác lĩnh vực hoạt động khoa học của người trí thức KHXH-NV trong quân đội

và giúp cho họ nhanh chóng phát hiện, nhận thức được các hiện tượng xã hội,những vấn đề lý luận và thực tiễn mới nảy sinh, huy động kiến thức, lựa chọnphương pháp, tiến hành nghiên cứu có hiệu quả Khả năng chuyên môn giúp chongười trí thức KHXH-NV trong quân đội đi sâu nghiên cứu và thực hiện côngviệc chuyên môn có hiệu quả Khả năng hoạt động thực tiễn giúp cho người tríthức KHXH-NV trong quân đội có thêm thông tin, tư liệu kiến thức, kinhnghiệm và nguồn cảm hứng sáng tạo khoa học; có khả năng thích ứng linh hoạt,nhạy bén, kịp thời với sự phong phú, đa dạng, phức tạp và luôn biến động củathực tiễn Có được những khả năng đó, người trí thức KHXH-NV trong quânđội mới có đủ năng lực để hoàn thành nhiệm vụ của mình trong mọi tình huống

Năng lực của người trí thức KHXH-NV trong quân đội biểu hiện ở độsâu của kiến thức lý luận Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiến thứcchuyên ngành, kiến thức liên ngành, kiến thức KHKTQS và khoa học nghệthuật quân sự, kiến thức thực tiễn quân sự, kỹ năng nghiên cứu KHXH-NVtrong quân đội; biết tập hợp đồng nghiệp, tổ chức, triển khai nghiên cứu khoahọc Ngoài ra, người trí thức KHXH-NV còn biết sử dụng các phương tiện kỹ

Trang 26

thuật hiện đại, công nghệ thông tin và ngoại ngữ thông dụng phục vụ chocông tác nghiên cứu khoa học của mình

Phẩm chất và năng lực của người trí thức KHXH-NV trong quân độikhông tồn tại cô lập, tách rời nhau mà có quan hệ chặt chẽ với nhau trong chấtlượng toàn diện của người trí thức Vì vậy, phát huy nguồn lực trí thứcKHXH-NV trong quân đội là nhằm làm cho các yếu tố đó cùng phát triểntrong mối quan hệ biện chứng tạo nên sức mạnh cho nguồn lực này

Cơ cấu đội ngũ trí thức KHXH-NV trong quân đội là một yếu tố quan

trọng của nguồn lực này Cơ cấu là cách tổ chức các thành phần nhằm thựchiện chức năng chủ thể [104, tr 207], là cách tổ chức, sắp xếp, bố trí các bộphận trong một chỉnh thể [105, tr 281] Từ định nghĩa trên, cơ cấu đội ngũ tríthức KHXH-NV trong quân đội có thể được hiểu là: các thành phần, mối liên

hệ, cách tổ chức, bố trí, sắp xếp vị trí các bộ phận trong toàn bộ nguồn lực tríthức KHXH-NV quân đội theo những tiêu chí nhất định và phù hợp với yêucầu khách quan, nhằm phát huy cao nhất khả năng sáng tạo khoa học của từng

tổ chức và cá nhân trí thức trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ của mình

Trong cơ cấu đội ngũ trí thức KHXH-NV trong quân đội thường tậptrung vào các dạng: ngành, trình độ, lứa tuổi, thành phần giai cấp, vùng lãnhthổ, dân tộc Mỗi dạng cơ cấu đều có vị trí, vai trò quan trọng trong một thểthống nhất và cùng hướng vào mục đích tạo ra sức mạnh cho nguồn lực tríthức KHXH-NV trong quân đội Nhưng trong từng điều kiện cụ thể và yêucầu, nhiệm vụ hoạt động KHXH-NV của quân đội, của từng cơ quan, đơn vịlại có sự ưu tiên cho dạng cơ cấu này hay dạng cơ cấu khác

Tính hợp lý của cả hệ thống cơ cấu và của từng dạng cơ cấu sẽ đảmbảo cho sự bổ sung, kế thừa và phát triển động bộ, vững chắc của nguồn lựctrí thức KHXH-NV trong quân đội Nó tạo ra những điều kiện tốt hơn để tăng

Trang 27

cường sức mạnh của nguồn lực này và phát huy tài năng sáng tạo của trí thứcKHXH-NV trong quân đội.

Cơ cấu đội ngũ trí thức KHXH-NV trong quân đội không chỉ phụ thuộcvào điều kiện khách quan mà còn chịu sự chi phối của yếu tố chủ quan Thực

tế cho thấy, có thể tạo ra được một cơ cấu hợp lý, cũng có thể tạo ra một cơ cấubất hợp lý toàn bộ hay từng bộ phận Vì vậy, xác định cơ cấu đội ngũ trí thứcKHXH-NV trong quân đội phải đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của quân đội, củacác cơ quan, đơn vị trong toàn quân và phù hợp với từng giai đoạn cách mạng,

có tính hợp lý, chặt chẽ, đồng bộ và kế thừa, có khả năng bổ sung hỗ trợ lẫnnhau giữa các “thế hệ” của nguồn lực trí thức KHXH-NV trong quân đội

Các yếu tố số lượng, chất lượng, cơ cấu có mối quan hệ biện chứng vớinhau cùng tạo nên sức mạnh nguồn lực trí thức KHXH-NV trong quân đội và

là cấu trúc nguồn lực này Có số lượng mà không có chất lượng hoặc chấtlượng thấp, cơ cấu bất hợp lý thì số lượng nhiều cũng không mạnh Có chấtlượng tốt mà thiếu về số lượng, bất hợp lý về cơ cấu thì chất lượng cũngkhông được phát huy đầy đủ Số lượng trí thức là yếu tố phản ánh lực lượngvật chất của nguồn lực trí thức KHXH-NV trong quân đội Nó là cơ sở, tiền

đề cho nguồn lực này tồn tại, phát triển, để các yếu tố khác thể hiện vai tròcủa mình Cơ cấu đội ngũ trí thức KHXH-NV trong quân đội là yếu tố quantrọng tạo nên sức mạnh của nguồn lực Nó phản ảnh cách thức sắp xếp lựclượng một cách hợp lý để có thể phát huy và phát triển có hiệu quả nguồn lựcnày Chất lượng người trí thức KHXH-NV trong quân đội là yếu tố quantrọng nhất của nguồn lực và còn là sự phản ánh sự kết hợp của hai yếu tố kia

Do đó, mỗi yếu tố trong cấu trúc nguồn lực trí thức KHXH-NV trong quânđội có vị trí, vai trò khác nhau, độc lập tương đối với nhau, nhưng là tiền đề,điều kiện của nhau và thống nhất với nhau tạo thành sức mạnh của nguồn lực

Sự bóc tách những yếu tố đó mang tính tương đối, có ý nghĩa về mặt nhận

Trang 28

thức luận và chỉ đạo thực tiễn việc phát huy vai trò nguồn lực trí thức

KHXH-NV trong quân đội

Nguồn lực trí thức KHXH-NV trong quân đội có một số đặc trưng cơ

từ phẩm chất chính trị, đạo đức và tình cảm cách mạng mà còn được nuôidưỡng, phát triển bền vững bằng tri thức lý luận chính trị, xã hội vốn là thế mạnhcủa họ

Lê nin đã khẳng định: trí thức khoa học xã hội là một nhóm xã hội

“Phản ánh và thể hiện sự phát triển của các lợi ích giai cấp và các nhóm pháichính trị trong toàn bộ xã hội một cách có ý thức hơn cả, kiên quyết hơn cả vàchính xác hơn cả” [47, tr.416] Sống và hoạt động khoa học trong môi trườngquân sự, trí thức KHXH-NV trong quân đội có định hướng chính trị rất rõràng Mọi hoạt động khoa học của họ đều nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xâydựng quân đội nhân dân vững mạnh toàn diện Những sản phẩm lao độngkhoa học của họ có tác động trực tiếp đến sinh mệnh của Đảng, Nhà nước vàquân đội, tác động trực tiếp đến việc hình thành lý tưởng công sản, niềm tincách mạng, ý chí quyết tâm, lòng yêu nước, yêu CNXH, nhận rõ kẻ thù của

Trang 29

người quân nhân cách mạng, tác động trực tiếp đến sức mạnh chiến đấu vàkhả năng hoàn thành nhiệm vụ chính trị của quân đội trong giai đoạn cáchmạng mới Vì vậy, nguồn lực trí thức KHXH-NV trong quân đội nhất thiếtphải có tính tích cực chính trị- xã hội rất cao mới có thể vượt qua mọi khókhăn, trở lực để lao động sáng tạo khoa học có hiệu quả trong mọi tình huống.

So với trí thức KHXH-NV nói chung, thì trí thức KHXH-NV trongquân đội phải thường xuyên bám sát đời sống xã hội- quân đội và thực tiễnhoạt động quân sự, nghiên cứu sáng tạo, truyền thụ và vận dụng tri thứcKHXH-NV để trả lời ngay, trực tiếp những vấn đề về quốc phòng, an ninh,bảo vệ Tổ quốc, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng quân đội nhândân, giải quyết ngay những vấn đề xã hội và con người- quân nhân trong quânđội, trong hoạt động quân sự Họ không có nhiều thời gian để chờ đợi, đểnghiên cứu nhiều lần như trí thức KHXH-NV ngoài quân đội Dù trong hoàncảnh khó khăn, vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự còn thô sơ chưa hiện đại,nhưng bao giờ cũng đòi hỏi rất cao sự nhạy cảm chính trị và tính tích cựcchính trị- xã hội của trí thức KHXH-NV trong quân đội và là một trong nhữngnguyên nhân thành công của cách mạng Vì vậy, tính tích cực chính trị- xã hộicao vừa là đặc trưng cơ bản, vừa là đòi hỏi thường xuyên, trực tiếp như máuthịt của người trí thức KHXH-NV trong quân đội

Tính tích cực chính trị- xã hội cao của trí thức KHXH-NV trong quânđội được thể hiện thông qua kết quả hoạt động khoa học một cách có ý thức,kiên quyết và chính xác Họ có bản lĩnh chính trị vững vàng, ý thức tráchnhiệm cao đối với Đảng, Nhà nước, dân tộc, nhân dân và quân đội, luôn đứngvững trên lập trường giai cấp công nhân và phương pháp luận mác-xít, tựgiác, nhiệt tình, chủ động, kiên quyết, bền bỉ, sáng tạo và nhân văn trong laođộng sáng tạo KHXH-NV trong quân đội

Trang 30

Môi trường quân sự không chỉ đòi hỏi mà còn tạo điều kiện thuận lợicho việc củng cố, nâng cao và phát huy tác dụng tính tích cực chính trị- xã hộicủa trí thức KHXH-NV trong quân đội Trong thực tiễn chiến đấu, công tác

và lao động, họ tích cực học tập, tu dưỡng, rèn luyện không ngừng nâng caotính tích cực chính trị- xã hội của mình Đồng thời, những đóng góp khoa họccủa họ đã khẳng định trí thức KHXH-NV trong quân đội thực sự là tấmgương sáng về phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, về tính tích cực chínhtrị- xã hội cho bộ đội noi theo Ý thức đó đã trở thành phương châm, sự kíchthích và phong cách hoạt động khoa học của người trí thức KHXH-NV trongquân đội Nhờ đó, họ có thể vượt qua mọi trở lực, say mê, tích cực, chủ động

và trách nhiệm xã hội cao trong nghiên cứu khoa học Trí thức KHXH-NVtrong quân đội luôn là nguồn lực tin cậy của Đảng, Nhà nước và quân đội

Hai là, nguồn lực trí thức KHXH-NV trong quân đội có nhiều tiềm năng lao động sáng tạo KHXH-NV trong lĩnh vực quân sự.

Tiềm năng lao động sáng tạo khoa học là đặc trưng cơ bản của người tríthức Đó là khả năng tiềm tàng về tri thức, thông tin, tư liệu, phương pháp laođộng sáng tạo khoa học và khả năng đưa lại những tri thức mới tiến bộ và hữuích Tuy nhiên, trong từng lĩnh vực, ở từng ngành nghề và từng điều kiện cụ thểtiềm năng lao động sáng tạo khoa học của trí thức lại có sự khác nhau Trí thứcKHXH-NV trong quân đội là nguồn lực giàu tiềm năng lao động sáng tạoKHXH-NV trong lĩnh vực quân sự

Sự nghiệp đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng quân đội cáchmạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại đòi hỏi rất cao khả năng laođộng sáng tạo khoa học của trí thức KHXH-NV trong quân đội Họ là lựclượng chủ lực nghiên cứu xây dựng, phát triển lý luận khoa học về khởi nghĩa

vũ trang, chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc XHCN,

về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng quân đội nhân dân, nghiên

Trang 31

cứu những vấn đề xã hội và con người- quân nhân trong quân đội, trong hoạtđộng quân sự Cho nên, hơn ai hết trí thức KHXH-NV trong quân đội phải cótri thức toàn diện và chuyên sâu, am hiểu đời sống xã hội- quân đội, con người-quân nhân và hoạt động quân sự, có kỹ năng lao động sáng tạo khoa học tronglĩnh vực quân sự Mặt khác, nhiệm vụ và tình huống quân sự biến động mau lẹ,phức tạp, nảy sinh nhiều vấn đề mới không chỉ đòi hỏi khả năng phát hiện vàtrả lời ngay, trực tiếp, chính xác những vấn đề đó mà còn yêu cầu khả năngchịu đựng gian khổ, bền bỉ, chủ động, linh hoạt và thích ứng nhanh với mọihoàn cảnh của người trí thức KHXH-NV trong quân đội Vì vậy, để hoàn thànhnhiệm vụ họ phải có khả năng lao động sáng tạo khoa học trong mọi tìnhhuống.

Trí thức KHXH-NV trong quân đội được tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng

ở các nhà trường trong và ngoài quân đội Họ được trang bị một hệ thống lýthuyết phản ánh đặc thù khoa học mà mình nghiên cứu, những tri thức vàphương pháp cần thiết cho hoạt động khoa học Do được sống, rèn luyện trongquân đội và trực tiếp hoạt động quân sự nên họ có được kiến thức, thông tin, tưliệu và kinh nghiệm cần thiết về thực tiễn hoạt động quân sự cho lao động sángtạo khoa học của mình Vì vậy, trí thức KHXH-NV trong quân đội là nguồn lực

có nhiều tiềm năng lao động sáng tạo KHXH-NV trong lĩnh vực quân sự

Tiềm năng lao động sáng tạo khoa học của trí thức KHXH-NV trongquân đội được biểu hiện ở khả năng tiềm tàng về tri thức chuyên ngành, trithức KHXH-NV, tri thức quân sự, về thông tin, tư liệu và vốn sống thực tiễnquân sự, về phương pháp nghiên cứu chuyên ngành, khả năng đưa lại những trithức mới có giá trị xã hội, phát hiện, giải quyết những vấn đề lý luận và thựctiễn mới nảy sinh trong đời sống xã hội và quân đội của họ Nhờ có đặc trưngquí báu đó mà trí thức KHXH-NV trong quân đội có thể tiếp tục lao động sángtạo khoa học trong mọi hoàn cảnh, ngay cả khi không còn phục vụ trong quân

Trang 32

đội Thực tế cho thấy, trong số hơn 700 hội viên nhà văn Việt Nam có tới 303nhà văn đã và đang là quân nhân Và nếu tính riêng số nhà văn nam thì họchiếm hơn một nửa [2, tr 34] Mảng đề tài về chiến tranh, về quân đội, về “Bộđội Cụ Hồ”… vẫn là nguồn cảm hứng sáng tạo của phần lớn các nhà vănkhông còn là quân nhân Điều đó, càng chứng tỏ nguồn lực trí thức KHXH-NVtrong quân đội có nhiều khả năng lao động sáng tạo KHXH-NV trong lĩnh vựcquân sự.

Có nhiều tiềm năng lao động sáng tạo KHXH-NV trong lĩnh vực quân

sự vừa là đặc trưng cơ bản của nguồn lực trí thức KHXH-NV trong quân đội,vừa là yêu cầu phải phát huy có hiệu quả trong quá trình xây dựng quân đội.Nếu tiềm năng lao động sáng tạo khoa học của họ không được thường xuyênxây dựng và phát huy đầy đủ hoặc chịu tác động tiêu cực thì nó có thể bị thấtthoát, suy giảm, thậm chí sẽ làm tổn hại đến lợi ích của giai cấp và dân tộc,ảnh hưởng đến sức mạnh chiến đấu của quân đội Do đó, Đảng, Nhà nước vàquân đội phải chú trọng xây dựng và phát huy tiềm năng lao động sáng tạokhoa học của trí thức KHXH-NV trong quân đội

Ba là, nguồn lực trí thức KHXH-NV trong quân đội có sự thống nhất cao và hoạt động khoa học trong điều kiện có nhiều khó khăn.

Quân đội nhân dân Việt Nam là công cụ bạo lực vũ trang sắc bén củaNhà nước, là lực lượng nòng cốt của nền quốc phòng toàn dân, nhiệm vụ,chức năng cơ bản của nó là chiến đấu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN Quânđội là tổ chức thống nhất cao về chính trị, tư tưởng, tổ chức và hành động củanhững người cùng mục tiêu, lý tưởng, cùng nhiệm vụ chung, cùng chịu đựngkhó khăn gian khổ, sống chết bên nhau Sự thống nhất đó là bản chất, truyềnthống của quân đội ta

Là một bộ phận của nguồn lực con người quân đội, sống và hoạt độngkhoa học trong môi trường quân sự, nguồn lực trí thức KHXH-NV trong quân

Trang 33

đội có sự thống nhất cao về chính trị, tư tưởng, tổ chức và hành động Nềntảng của sự thống nhất đó là chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh,Đường lối cách mạng, đường lối quân sự của Đảng, mục tiêu độc lập dân tộc

và CNXH Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý,chỉ đạo chặt chẽ của quân đội đối với nguồn lực trí thức KHXH-NV trongquân đội là nhân tố bảo đảm chắc chắn nhất cho nguồn lực này có sự thốngnhất cao Nó được tổ chức chặt chẽ trong hệ thống tổ chức quân đội, luôn có

sự thống nhất về mục tiêu, nhiệm vụ, kế hoạch và tổ chức triển khai hoạt độngKHXH-NV trong toàn quân Đồng thời, trí thức KHXH-NV trong quân độiluôn tuyệt đối phục tùng sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của quân đội, chấphành nghiêm kỷ luật, điều lệnh và mọi chế độ quy định của quân đội Họ có

sự thống nhất cao về ý chí và hành động, kỷ luật tự giác nghiêm minh Khi đãnhận nhiệm vụ nghiên cứu khoa học thì đó là quân lệnh, họ tuyệt đối phụctùng và phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Vì vậy, trí thức KHXH-

NV trong quân đội là nguồn lực có sự thống nhất cao về chính trị, tư tưởng, tổchức và hành động Sự thống nhất đó được thể hiện rõ nét nhất ở tính địnhhướng chính trị, tư tưởng, tính tổ chức, tính kỷ luật và tính hiệu quả cao củanguồn lực Mọi hoạt động khoa học của họ đều hướng tới mục tiêu vì độc lậpdân tộc và CNXH, nhằm thực hiện thắng lợi đường lối cách mạng, đường lốiquân sự của Đảng, nhiệm vụ chính trị của quân đội

Nhờ có sự thống nhất cao, nguồn lực trí thức KHXH-NV trong quânđội đã có được sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ đượcgiao Tuy nhiên, sự thống nhất cao của nguồn lực trí thức KHXH-NV trongquân đội không làm mất đi sự phong phú đa dạng của nó Đó là sự đa dạng vềđối tượng nghiên cứu, về cơ cấu ngành và lĩnh vực hoạt động, về cơ cấu thànhphần xuất thân, dân tộc, lứa tuổi… Sự đa dạng không phá vỡ sự thống nhất

mà là để hướng đến sự thống nhất cao của nguồn lực Nhưng không phải khi

Trang 34

nào hai mặt này cũng thống nhất với nhau Đôi khi sự đa dạng lại có xuhướng phá vỡ sự thống nhất, hoặc cái được xem là “thống nhất” cao lại cảntrở sự phát triển bình thường của cái đa dạng làm suy giảm sức mạnh củanguồn lực trí thức KHXH-NV trong quân đội Cho nên, trong quá trình pháthuy nguồn lực này phải chú trọng cả hai mặt thống nhất và đa dạng của nó,không được hạ thấp hoặc tách rời một mặt nào.

So với trí thức KHXH-NV ngoài quân đội, trí thức KHXH-NV trongquân đội hoạt động khoa học trong điều kiện có nhiều khó khăn hơn Họ sống

và làm việc trong điều kiện không ổn định về địa điểm và nhiệm vụ, thiếuthốn về vật chất và tinh thần, căng thẳng và nguy hiểm Đầu tư kinh phí chohoạt động KHXH-NV trong quân đội chưa đáp ứng yêu cầu, cơ sở vật chất,phương tiện kỹ thuật phục vụ đời sống và hoạt động khoa học của họ cònnghèo nàn, thiếu thốn và lạc hậu Phần lớn trí thức KHXH-NV trong quân độisống xa gia đình, thiếu thốn tình cảm, kinh tế khó khăn Những khó khăn đótuy có ảnh hưởng nhất định, nhưng không vì thế mà làm giảm chất lượng,hiệu quả hoạt động khoa học của họ Mặt khác, trí thức KHXH-NV trongquân đội ít có điều kiện tiếp cận thực tiễn đời sống xã hội, thiếu những thôngtin, tư liệu cần thiết để nghiên cứu khoa học Họ không có nhiều thời gian vàđiều kiện để giao lưu, trao đổi thông tin khoa học, học hỏi kinh nghiệm, hợptác giảng dạy và nghiên cứu khoa học với các cá nhân, các tổ chức khoa họcngoài quân đội Vì vậy, hoạt động khoa học trong điều kiện còn nhiều khókhăn vừa là đặc trưng cuả nguồn lực trí thức KHXH-NV trong quân đội, vừa

là vấn đề cần phải khắc phục trong quá trình phát huy nguồn lực này

Như vậy, nguồn lực trí thức KHXH-NV trong quân đội là tổng hoà các yếu tố về số lượng, chất lượng và cơ cấu đội ngũ trí thức KHXH-NV trong quân đội với tất cả đặc điểm và sức mạnh của nó, là bộ phận của nguồn lực con người quân đội, bao gồm cả sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân

Trang 35

viên quốc phòng, có trình độ học vấn bậc cao đẳng, đại học trở lên, làm công tác nghiên cứu và ứng dụng khoa học, giảng dạy và tuyên truyền, cùng các hoạt động khác trong lĩnh vực KHXH-NV của quân đội Nguồn lực này có tính tích cực chính trị- xã hội cao, có nhiều tiềm năng lao động sáng tạo KHXH-NV trong lĩnh vực quân sự, có sự thống nhất cao và hoạt động khoa học trong điều kiện có nhiều khó khăn Sức mạnh của nguồn lực trí thức KHXH-NV trong

quân đội hướng vào hoạt động KHXH-NV phục vụ sự nghiệp xây dựng quânđội nhân dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN

1.2 Vai trò của trí thức khoa học xã hội và nhân văn trong quân đội và quan niệm về phát huy vai trò nguồn lực này.

1.2.1 Vai trò của trí thức khoa học xã hội và nhân văn trong quân đội

Chủ nghĩa Mác- Lê nin đánh giá cao vai trò của tầng lớp trí thức đốivới quá trình phát triển của xã hội loài người Trí thức có nhiều đóng gópquan trọng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và góp phần làm giàu khotàng tri thức của nhân loại

Trí thức có vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất vật chất, pháttriển lực lượng sản xuất Đánh giá về vai trò của trí thức trong nền sản xuất tưbản chủ nghĩa, Lê nin đã khẳng định: “Không có những người này thì sảnxuất tư bản chủ nghĩa hiện đại là điều không thể có được”[49, tr 162] Họ làngười sáng tạo khoa học và góp phần quan trọng vào việc đưa khoa học trởthành lực lượng sản xuất trực tiếp

Không có sự chỉ đạo của các chuyên gia am hiểu các lĩnh vực khoa học,

kỹ thuật và có kinh nghiệm, thì không thể nào chuyển lên chủ nghĩa xãhội được, vì chủ nghĩa xã hội đòi hỏi một bước tiến có ý thức và có tínhchất quần chúng để đi tới một năng suất lao động cao hơn năng suất củachủ nghĩa tư bản dựa trên cơ sở những kết quả mà chủ nghĩa tư bản đãđạt được [52, tr 217]

Trang 36

Vai trò của trí thức còn được thể hiện ở những phát minh khoa học,những tư tưởng tiến bộ của họ, đã góp phần làm thức tỉnh, cổ vũ, dẫn đường

và cung cấp vũ khí luận cho phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân vànhân dân lao động Nhờ đó mà giai cấp công nhân mới có thể làm cuộc cáchmạng XHCN, thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình Lênin đã chỉ rõ:

Công nhân trước đây không thể có ý thức dân chủ- xã hội được Ý thứcnày chỉ có thể là từ bên ngoài đưa vào Lịch sử tất cả các nước chứngthực rằng chỉ do lực lượng của độc bản thân mình thôi thì giai cấp côngnhân chỉ có thể đi đến ý thức công liên chủ nghĩa Còn học thuyết xãhội chủ nghĩa thì phát sinh ra từ lý luận triết học, lịch sử, kinh tế, donhững người có học thức trong giai cấp hữu sản, những trí thức, xâydựng nên [46, tr 38]

“Những người lao động khát khao có tri thức, vì tri thức cần cho họ để chiếnthắng”[53, tr 93] Chính những tri thức khoa học, tư tưởng tiên tiến, lý luậncách mạng sẽ trở thành vũ khí tinh thần, sức mạnh vật chất to lớn để giai cấpcông nhân thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình

Trong các lĩnh vực khoa học, giáo dục, đào tạo, văn hoá, nghệ thuật,quân sự trí thức cũng có vai trò quan trọng Họ là lực lượng chủ yếu nghiêncứu khoa học, phổ biến văn hoá, khoa học và nghiên cứu ứng dụng khoa học,công nghệ vào đời sống xã hội; nâng cao dân trí, giải phóng nhân dân laođộng khỏi sự dốt nát, sự áp bức tinh thần do chế độ xã hội cũ để lại, đào tạocán bộ, đào tạo đội ngũ trí thức mới và xây dựng con người mới XHCN.Những sản phẩm văn hoá của họ còn góp phần làm giàu có thêm kho tàng vănhoá nhân loại và nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân

Trên cơ sở nhận thức sâu sắc quan điểm chủ nghĩa Mác- Lê nin về vaitrò của tầng lớp trí thức trong sự phát triển xã hội, trong sự nghiệp cách mạng

và sự nghiệp xây dựng xã hội mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Trí

Trang 37

thức là vốn liếng quý báu của dân tộc, nước khác như thế, ở Việt Nam càngnhư thế”[71, tr 156] Nếu không có sự “khai sáng” của trí thức thì quầnchúng có thể bị lợi dụng và thành quả cách mạng của họ bị tước đoạt Người

đã chỉ rõ: “Những người trí thức tham gia cách mạng, tham gia kháng chiếnrất quý báu cho Đảng Không có những người đó thì công việc cách mạngkhó khăn thêm nhiều” [72, tr 235], “trong sự nghiệp xây dựng xã hội chủnghĩa, lao động trí óc có một vai trò quan trọng và vẻ vang” [76, tr 214].Đảng ta luôn đánh giá cao vai trò của đội ngũ trí thức, xác định trí thức là mộtlực lượng cách mạng bên cạnh giai cấp công nhân và giai cấp nông dân Đây

là quan điểm nhất quán của Đảng ta từ khi ra đời đến nay “Đảng và Nhànước luôn luôn trân trọng và tin cậy đội ngũ trí thức, coi đó là nguồn vốn trítuệ rất quý báu của dân tộc ta” [80, tr 12]

Ngày nay, trong công cuộc đổi mới, vai trò của đội ngũ trí thức ViệtNam ngày càng tăng Trong đó, trí thức KHXH-NV có trọng trách hướng vàonghiên cứu cơ bản, toàn diện về xã hội và con người Việt Nam, giải đáp cácvấn đề lý luận và thực tiễn, dự báo các xu thế phát triển, cung cấp luận cứkhoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triểnKT-XH và bảo vệ Tổ quốc; góp phần nâng cao trình độ dân trí, xây dựng conngười, phát huy những di sản văn hoá dân tộc, sáng tạo những giá trị văn hoámới của Việt Nam, tham gia thẩm định các chương trình, dự án phát triển KT-XH; xây dựng và phát triển nền KHXH-NV nước nhà đáp ứng các yêu cầuphát triển của đất nước [90, tr 20] Là một bộ phận của trí thức KHXH-NVnước ta, trí thức KHXH-NV trong quân đội cũng có vai trò rất quan trọng Sựnghiệp xây dựng quân đội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn cáchmạng mới đặt ra hàng loạt vấn đề lý luận và thực tiễn đòi hỏi trí thức KHXH-

NV trong quân đội phải đi sâu nghiên cứu, giải quyết, phải tiếp thu nhữngthành tựu tiên tiến của khoa học, công nghệ và KHXH-NV trên thế giới, ở

Trang 38

Việt Nam để nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học của mình Trong điềukiện mới, vai trò của trí thức KHXH-NV trong quân đội càng quan trọng.Điều đó được thể hiện ở một số vai trò chủ yếu sau:

Một là, nghiên cứu KHXH-NV trong quân đội.

Nghiên cứu KHXH-NV trong quân đội là hoạt động có mục đích, có tổchức nhằm nhận thức các vấn đề chính trị- xã hội và con người trong đời sốngđất nước, quân đội, tạo ra hệ thống tri thức KHXH-NV có giá trị và ứng dụngcác tri thức đó vào trong thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả xâydựng quân đội [59, tr 14], nhất là xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị.Đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của quân đội, trong đó trí thức KHXH-

NV trong quân đội đóng vai trò chủ yếu

Trí thức KHXH-NV trong quân đội, nhất là đội ngũ trí thức KHXH-NV

ở các viện nghiên cứu khoa học, các cơ quan, các học viện, nhà trường quân

đội, là lực lượng nòng cốt, chủ yếu, quy định qui mô, chất lượng và hiệu quả

nghiên cứu KHXH-NV trong quân đội Họ vừa trực tiếp tham gia nghiên cứu

cơ bản và nghiên cứu ứng dụng trong KHXH-NV, vừa tổ chức chỉ đạo vàhướng dẫn mọi người nghiên cứu KHXH-NV trong quân đội Trí thứcKHXH-NV trong quân đội nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, xây dựng nền quốcphòng toàn dân, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, xây dựng lực lượng

vũ trang nhân dân, xây dựng quân đội nhân dân…; nghiên cứu vận dụng sángtạo và phát triển lý luận chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tổngkết thực tiễn, cung cấp những luận cứ khoa học cho quá trình đổi mới tư duytrên nhiều lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hoá- xã hội, quốc phòng- an ninh vàxây dựng các văn kiện nghị quyết của Đảng Đường lối, chủ trương, chínhsách của Đảng, Nhà nước chỉ có thể trở thành hiện thực trong cuộc sống, khi

nó được thấm sâu và trở thành hành động cách mạng của hàng triệu quần

Trang 39

chúng nhân dân Tư duy mới về quốc phòng- an ninh của Đảng chỉ có giá trịthiết thực khi nó thực sự chỉ đạo thực tiễn, dẫn dắt hành động của mọi tầnglớp nhân dân, mọi cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang trong công cuộc củng

cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc Trí thức KHXH-NV trong quân đội

có vai trò rất lớn trong quá trình hiện thực hoá đường lối quân sự của Đảng

Trong quá trình nghiên cứu, trí thức KHXH-NV trong quân đội khôngchỉ dừng lại ở những vấn đề chung chung, mà còn đi sâu tìm tòi, khám phánhững vấn đề nảy sinh, những vấn đề có tính quy luật, những yêu cầu, nộidung và những biện pháp cụ thể xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựngquân đội nhân dân Như vậy, trí thức KHXH-NV trong quân đội có tráchnhiệm quan trọng với nhiệm vụ nghiên cứu KHXH-NV của quân đội

Hai là, giảng dạy KHXH-NV trong quân đội.

Giảng dạy KHXH-NV trong quân đội là quá trình truyền đạt và tổ chứccác hoạt động nhận thức nhằm làm cho người học chiếm lĩnh được các kiếnthức KHXH-NV cần thiết, có khả năng vận dụng các kiến thức đó trong đờisống xã hội và quân đội, trong hoạt động quân sự Qua đó và bằng cách đóphát triển khả năng tư duy lý luận, hình thành thế giới quan, phương phápluận khoa học và bồi dưỡng các phẩm chất nhân cách cần thiết của người học,góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu, yêu cầu giáo dục và đào tạo Trí thứcKHXH-NV trong quân đội, nhất là đội ngũ giảng viên KHXH-NV ở các họcviện, nhà trường quân đội, là lực lượng đông về số lượng, mạnh về khoa học,

có vai trò quan trọng trong hoạt động giảng dạy KHXH-NV trong quân đội.Trí thức KHXH-NV trong quân đội không chỉ truyền thụ những kiến thứckhoa học cơ bản, khoa học ứng dụng trong lĩnh vực KHXH-NV mà còn giảngdạy tư tưởng quân sự, đường lối quân sự của Đảng, quy luật chiến tranh nhândân bảo vệ Tổ quốc, nguyên lý xây dựng quân đội cách mạng, khoa học vànghệ thuật quân sự trong bảo vệ Tổ quốc…, hướng dẫn nội dung, cách thức,

Trang 40

phương pháp hoạt động khoa học và tiến hành CTĐ,CTCT trong quân đội Họvừa truyền đạt kiến thức KHXH-NV cần thiết, vừa tổ chức, điều khiển hoạtđộng nhận thức của người học Nhờ đó, kiến thức KHXH-NV, trình độ lýluận, năng lực chuyên môn nghiệp vụ và năng lực hoạt động thực tiễn củangười quân nhân cách mạng, nhất là đội ngũ cán bộ quân đội được nâng cao,đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng quân đội và bảo vệ Tổ quốc trongtừng giai đoạn cách mạng.

Trí thức KHXH-NV trong quân đội không chỉ hướng dẫn khoa học, phổbiến tri thức KHXH-NV, góp phần giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễnnảy sinh trong đời sống xã hội và quân đội mà còn giáo dục, định hướng chínhtrị, tư tưởng, vận động thuyết phục, tổ chức cho người học tham gia hoạt độngkhoa học và các hoạt động xã hội Họ còn trực tiếp nghiên cứu đổi mới nộidung, chương trình và phương pháp giảng dạy các môn KHXH-NV góp phầnnâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quân đội theotừng cấp học và bậc học Vì vậy, trí thức KHXH-NV trong quân đội có tráchnhiệm quan trọng với sự nghiệp giáo dục, đào tạo và giảng dạy KHXH-NVtrong quân đội Để hoàn thành trọng trách nặng nề đó, trí thức KHXH-NVtrong quân đội làm công tác giảng dạy phải được ưu tiên tuyển chọn, đào tạo

cơ bản, có đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm

vụ đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quân đội trong thời kỳ mới

Ba là, tham gia xây dựng con người mới trong quân đội.

Xây dựng con người mới trong quân đội là phấn đấu thực hiện theo tiêuchuẩn của con người Việt Nam mới Đó là con người “phát triển toàn diện vềchính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộngđồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hoá,quan hệ hài hoà trong gia đình, cộng đồng và xã hội” [22, tr 38] Xây dựngngười quân nhân cách mạng là nhiệm vụ quan trọng nhất của quân đội, là

Ngày đăng: 19/12/2016, 15:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Chí Bảo (1998), “Tính phức tạp đặc thù của khoa học xã hội và nhân văn”, Tạp chí Triết học, (4), tr. 22- 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính phức tạp đặc thù của khoa học xã hội và nhân văn
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Tạp chí Triết học
Năm: 1998
2. Ngô Vĩnh Bình (2001), “Nhà văn quân đội- cuộc diễu binh cuối thế kỉ XX”, báo quân đội nhân dân cuối tuần, (Tết Tân tỵ), tr. 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn quân đội- cuộc diễu binh cuối thế kỉ XX
Tác giả: Ngô Vĩnh Bình
Nhà XB: báo quân đội nhân dân cuối tuần
Năm: 2001
3. Nguyễn Thế Bôn (1996), “Tiếp tục đưa công tác nhà trường quân đội phát triển vững chắc có hiệu quả trong thời kỳ CNH,HĐH đất nước”, Quốc phòng toàn dân, (6), tr. 11-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục đưa công tác nhà trường quân độiphát triển vững chắc có hiệu quả trong thời kỳ CNH,HĐH đấtnước”, "Quốc phòng toàn dân
Tác giả: Nguyễn Thế Bôn
Năm: 1996
4. Bộ chính trị (1991), Nghị quyết về khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới, số 26/NQTW Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết về khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới
Tác giả: Bộ chính trị
Năm: 1991
5. Bộ Quốc phòng (2001), Điều lệ công tác khoa học và công nghệ Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ công tác khoa học và công nghệ Quân độinhân dân Việt Nam
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Nhà XB: Nxb QĐND
Năm: 2001
6. Cục cán bộ, Tổng cục Chính trị, Quân đội nhân dân Việt Nam (2001), Thống kê đội ngũ cán bộ có trình độ cao đẳng trở lên (2000), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê đội ngũ cán bộ có trình độ cao đẳng trở lên
Tác giả: Cục cán bộ, Tổng cục Chính trị, Quân đội nhân dân Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2001
7. V.N.Cuđriaxep (1995), “Về đặc điểm của phương pháp luận các khoa học xã hội và nhân văn”, Thông tin KHXH, 1996 (7), tr. 21- 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về đặc điểm của phương pháp luận các khoa học xã hội và nhân văn
Tác giả: V.N.Cuđriaxep
Nhà XB: Thông tin KHXH
Năm: 1995
8. Nguyễn Trường Cửu (2001), “Một số định hướng nghiên cứu KHXH-NV quân sự trong tình hình mới”, Một số vấn đề về công tác khoa học ở Học viện Chính trị quân sự, Nxb QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về công tác khoa học ở Học viện Chính trị quân sự
Tác giả: Nguyễn Trường Cửu
Nhà XB: Nxb QĐND
Năm: 2001
9. Phan Hữu Dật (chủ biên) (1994), Phương sách dùng người của cha ông ta trong lịch sử, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương sách dùng người của cha ông ta trong lịch sử
Tác giả: Phan Hữu Dật
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1994
10. Phạm Tất Dong (chủ biên) (1995), Trí thức Việt Nam, thực tiễn và triển vọng, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí thức Việt Nam, thực tiễn và triển vọng
Tác giả: Phạm Tất Dong
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1995
11. Phạm Tất Dong (chủ biên) (1997), KHXH và NV 10 năm đổi mới và phát triển, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: KHXH và NV 10 năm đổi mới vàphát triển
Tác giả: Phạm Tất Dong (chủ biên)
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1997

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w