1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN án TIẾN sĩ NHÀ nước với sự PHÁT TRIỂN KINH tế HÀNG hóa NHIỀU THÀNH PHẦN TRONG GIAI đoạn HIỆN NAY ở CỘNG hòa dân CHỦ NHÂN dân lào

190 658 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 190
Dung lượng 894 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Gần một thế kỷ, nhân dân các bộ tộc Lào đã đấu tranh kiên cường bất khuất, tự lực tự cường chống ách thống trị của chủ nghĩa thực dân phong kiến và tay sai. Phong trào đấu tranh anh dũng của nhân dân Lào đã giành được những thắng lợi to lớn chưa từng có trong lịch sử, đã xóa bỏ hoàn toàn chế độ thực dân phong kiến, xây dựng lên một chế độ mới, chế độ Cộng hòa Dân chủ nhân dân (CHDCND) Lào. Ngày 2 tháng 12 năm 1975 mở ra kỷ nguyên mới: độc lập tự do và từng bước tiến lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN).

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Gần một thế kỷ, nhân dân các bộ tộc Lào đã đấu tranh kiên cườngbất khuất, tự lực tự cường chống ách thống trị của chủ nghĩa thực dânphong kiến và tay sai Phong trào đấu tranh anh dũng của nhân dân Lào đãgiành được những thắng lợi to lớn chưa từng có trong lịch sử, đã xóa bỏhoàn toàn chế độ thực dân phong kiến, xây dựng lên một chế độ mới, chế

độ Cộng hòa Dân chủ nhân dân (CHDCND) Lào Ngày 2 tháng 12 năm

1975 mở ra kỷ nguyên mới: độc lập tự do và từng bước tiến lên theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa (XHCN)

Nhà nước CHDCND Lào được xây dựng trên cơ sở nền kinh tế sảnxuất nông nghiệp lạc hậu, yếu kém, tồn tại nhiều loại hình sản xuất mangtính chất tự nhiên, tự cấp tự túc Hệ thống giao thông vận tải, thông tin liênlạc yếu kém, cơ cấu xã hội nông dân chiếm 90% dân số và tập trung ở vùngnông thôn

Những năm đầu của chế độ mới, Nhà nước Lào có chủ trương quốchữu hóa trong công nghiệp, tăng cường khu vực Nhà nước trong thươngnghiệp và giao thông vận tải, xúc tiến phong trào hợp tác hóa nông nghiệp.Chấp nhận hai thành phần kinh tế: thành phần kinh tế quốc dân và thànhphần kinh tế tập thể, với cơ chế quản lý tập trung quan liêu hành chính, baocấp làm cho hiệu quả của nền kinh tế bị giảm sút

Đứng trước tình hình đó, Đại hội lần thứ IV của Đảng Nhân dâncách mạng (NDCM) Lào năm 1986 đã nêu rõ: thời kỳ quá độ là thời kỳ còntồn tại nhiều thành phần kinh tế Chúng ta phải quyết tâm từng bước xóa bỏ

cơ chế cũ, thực hiện cơ chế mới, bằng cách chấp nhận thực trạng sự tồn tạinhiều thành phần kinh tế gắn liền với cơ chế quản lý mới

Trang 2

Sự tồn tại kinh tế nhiều thành phần là một tất yếu lịch sử Xuất phát

từ tình hình cụ thể về kinh tế - xã hội và thực tiễn của việc xây dựng chế độmới của đất nước Lào, cùng với kinh nghiệm ở các nước anh em, Đại hộilần thứ V của Đảng NDCM Lào đã khẳng định: hiện nay chúng ta đang ởtrong giai đoạn tiếp tục xây dựng và phát triển chế độ DCND tạo tiền đề đểtừng bước tiến lên CNXH

Dưới sự lãnh đạo của Đảng NDCM Lào, toàn Đảng, toàn dân đẩymạnh sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, tăng cường sự đoàn kết thốngnhất trên cơ sở liên minh công - nông - trí thức, tích cực khuyến khíchkinh tế nhiều thành phần, nhằm phát triển lực lượng sản xuất cho vữngmạnh, chuyển nền kinh tế tự nhiên và nửa tự nhiên sang kinh tế hànghóa, làm cho đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân các bộ tộc Làongày càng phát triển

Kinh tế nhiều thành phần là bước phát triển tất yếu của quá trình từsản xuất nhỏ lên sản xuất lớn Tuy nhiên, thời đại ngày nay kinh tế nhiềuthành phần vận hành theo cơ chế thị trường cũng có thể định hướng lênCNXH mà cũng có thể phát triển sang quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản(CNTB)

Để nền kinh tế nhiều thành phần phát triển theo định hướng XHCNthì vai trò của Đảng cầm quyền và của Nhà nước cực kỳ quan trọng

Ở đất nước Lào, việc phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phầntheo định hướng XHCN tất yếu phải có sự hướng dẫn, quản lý của Nhànước Chính vì vậy, đề tài này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với sựphát triển đất nước Lào khi mà bối cảnh thế giới hiện nay đang trong sựbiến đổi to lớn Như vậy, việc phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thànhphần theo định hướng XHCN, tất yếu phải có sự hướng dẫn của Nhà nước

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trang 3

Sự phát triển kinh tế, khoa học - kỹ thuật, công nghệ trên thế giớiđòi hỏi các quốc gia phải điều chỉnh cơ cấu kinh tế, phát triển mạnh mẽ cácngành sản xuất, kinh doanh và dịch vụ Do tình hình đó, nhiệm vụ quản lýhành chính nhà nước hết sức nặng nề, nhất là thực hiện chức năng quản lý

và điều hành nền kinh tế, góp phần đưa đất nước nhanh chóng trở thànhnước công nghiệp trong vài thập kỷ tới theo định hướng XHCN

Ở Việt Nam có nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu vai trò của Nhànước đối với sự quản lý kinh tế trong nhiều lĩnh vực, nhiều khía cạnh khác

nhau, trong đó có: Chính sách cơ cấu vùng, kinh nghiệm quốc tế và sự vận dụng ở Việt Nam, Viện Nghiên cứu quản lý Trung ương, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996,; Đổi mới chính sách và cơ chế quản lý kinh tế, bảo đảm

sự tăng trưởng kinh tế bền vững của GS.PTS Vũ Đình Bách, GS.TS Ngô Đình Giao, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996; Vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường, kinh nghiệm của các nước ASEAN của PTS Nguyễn Duy Hùng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996;

Xu hướng biến động của nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam của

PGS.PTS Nguyễn Tĩnh Gia (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,

1998; Đổi mới và phát triển các thành phần kinh tế của PTS Đỗ Hoài Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1993; Những vấn đề cơ bản về kinh

tế và đổi mới kinh tế ở Việt Nam của PGS.PTS Phan Thanh Phố Nxb Giáo dục, Hà Nội 1996; Những biện pháp kinh tế tổ chức và quản lý để phát triển kinh tế nông nghiệp hàng hóa và đổi mới cơ cấu kinh tế nông thôn Bắc Bộ của GS.TS Lương Xuân Quý, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội 1996; Cơ chế thị trường

và vai trò Nhà nước trong nền kinh tế Việt Nam của GS.TS Lương Xuân Quỳ, Nxb Thống kê, Hà Nội, 1994; Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam của PTS Nguyễn Văn Bích, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996; Một số vấn đề về định

Trang 4

hướng XHCN ở Việt Nam của PGS.PTS Nguyễn Đức Bách, Nxb Lao động,

Hà Nội, 1998

Các công trình nghiên cứu trên đây đã đi sâu vào các vấn đề chủyếu của quản lý nhà nước đối với các thành phần kinh tế Đã giải quyếtnhiều vấn đề về việc điều tiết vĩ mô của Nhà nước với nền kinh tế quốcdân, trình bày nhiều kinh nghiệm quản lý tác động vào nền kinh tế

Ở Lào, hơn 20 năm qua, việc quản lý nhà nước về kinh tế đã được

đề cập nhiều trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước Đảng NDCM Lào

đã đưa ra chủ trương, đường lối đổi mới toàn diện vào năm 1986 Theophương hướng đó các Hội nghị Trung ương lần thứ V, VI, VII (khóa IV) đã

cụ thể hóa và phát triển những luận điểm mới nhằm biến đường lối, chủtrương, chính sách của Đảng thành hiện thực

Tiếp cận với đường lối đổi mới của Đảng đã có một số công trình

nghiên cứu dưới góc độ phương hướng luận chứng như: Một số đặc điểm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ở CHDCND Lào trong giai đoạn hiện nay

của PTS Khăm Phăn Khun Bo Lin, Học viện Nguyễn Ái Quốc, Hà Nội 1991;

Những quá trình kinh tế - xã hội để chuyển kinh tế tự nhiên lên kinh tế hàng hóa ở CHDCND Lào trong giai đoạn hiện nay của PTS Mon Sỉ Vi La Thon, Học viện Nguyễn Ái Quốc, Hà Nội 1991; Một số vấn đề cơ bản về sắp xếp lại và đổi mới quản lý doanh nghiệp nhà nước ở CHDCND Lào

của PTS Thong Xa Lít Măng No Mệc, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ

Chí Minh, Hà Nội 1994; Xây dựng đội ngũ quản trị kinh doanh trong bước chuyển sang kinh tế thị trường ở CHDCND Lào của PTS Chăn Phon Bun

Xu Lin, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội 1995; Tiếp tục quản lý ngân sách nhà nước ở CHDCND Lào của TS Khăm Phong Bút Đa Vông, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội 1998; Đổi mới quản lý nhà nước nhằm phát triển ngành công nghiệp trong quá trình chuyển

Trang 5

sang nền kinh tế thị trường ở CHDCND Lào của TS Công Chắc No Kéo, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội 1998; Thành công của việc thực hiện chính sách đổi mới kinh tế từ năm 1985 - 1995 của CHDCND Lào của Su Phăn Kéo My Xay, CHDCND Lào 20 năm, Viêng Chăn 1996; Phân tích vấn đề thực trạng kinh tế - xã hội, vấn đề trước mắt

và lâu dài của CHDCND Lào của PTS Cụ Kéo Ác Khạ Mun Tỵ, CHDCND Lào 20 năm, Viêng Chăn 1996; Sự vững mạnh của chính quyền nhà nước là yếu tố bảo đảm cho nền độc lập, chủ quyền dân tộc của Cha

Lơn Nhìa Pao Hờ CHDCND Lào 20 năm, Viêng Chăn 1996

Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên chỉ giải quyết một sốvấn đề nảy sinh mang tính cấp bách trước mắt, thực chất là giải pháp tìnhthế liên quan đến việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và Nhànước trong công cuộc đổi mới ở từng thời kỳ

Cho đến nay, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu việc tiếptục đổi mới quản lý nhà nước với sự phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiềuthành phần một cách cơ bản, có hệ thống, phù hợp với điều kiện cụ thể của

Lào Chính vì vậy, tôi chọn đề tài: "Nhà nước với sự phát triển nền kinh

tế hàng hóa nhiều thành phần trong giai đoạn hiện nay ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào" làm đề tài nghiên cứu của mình, hy vọng góp phần làm

sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn vấn đề này

3 Mục đích, nhiệm vụ và giới hạn nghiên cứu của luận án

Mục đích nghiên cứu của luận án

Nghiên cứu một cách hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn, làm sáng

tỏ thực chất vai trò, tầm quan trọng của Nhà nước đối với sự quản lý nềnkinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở Lào, từ đó đề xuất một số phươnghướng, giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đốivới nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở CHDCND Lào hiện nay

Nhiệm vụ của luận án

Trang 6

- Trình bày một số vấn đề cần thiết về lý luận trong quản lý nhànước đối với nền kinh tế nói chung và quản lý kinh tế của Nhà nướcCHDCND Lào nói riêng.

- Phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với nền kinh tế hànghóa nhiều thành phần ở CHDCND Lào thời gian qua Chỉ ra những vấn đềcòn tồn tại, thiếu sót và xu hướng biến động trong sự phát triển kinh tế thịtrường ở Lào hiện nay

- Trình bày vai trò, chức năng quản lý Nhà nước trong nền kinh tếthị trường, kinh nghiệm và bài học trong quản lý Nhà nước về kinh tế theo

cơ chế thị trường của một số nước

- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệulực quản lý Nhà nước về kinh tế trong công cuộc đổi mới hiện nay ởCHDCND Lào

Phạm vi nghiên cứu của luận án

Luận án không nghiên cứu vai trò, chức năng quản lý Nhà nước nóichung, mà chỉ nghiên cứu vai trò, chức năng quản lý kinh tế được thể hiệnchủ trương đường lối và giải pháp vĩ mô, có liên quan đến việc quản lýkinh tế trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần hiện nay ở CHDCNDLào Từ đó đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm tiếp tục đổimới quản lý Nhà nước về kinh tế ở CHDCND Lào Luận án không đi sâunghiên cứu các nhiệm vụ quản lý các thành phần kinh tế

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Luận án vận dụng lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, Chủ tịch Cay Xỏn Phôm Vi Hản, các quan điểm củaĐảng NDCM Lào, kế thừa những công trình nghiên cứu của các nhà khoahọc trong và ngoài nước có liên quan

Luận án được thực hiện trên cơ sở vận dụng tổng hợp phương phápluận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương

Trang 7

pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lịch sử và lôgic trong quá trìnhphân tích và luận giải các vấn đề nêu ra.

5 Đóng góp mới của luận án

- Luận án phân tích nét đặc trưng của nền kinh tế nhiều thành phần

ở Lào; khả năng điều hành nền kinh tế ở Lào

- Luận án góp phần làm sáng tỏ thêm vai trò quản lý của Nhà nướcLào đối với sự phát triển kinh tế Nêu yêu cầu tiếp tục đổi mới bộ máyquản lý nhà nước, đổi mới phương tiện, công cụ quản lý nhà nước đối vớicác thành phần kinh tế

- Luận án đề xuất một số phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằmtác động vào quá trình quản lý nhà nước đối với các thành phần kinh tế ởCHDCND Lào hiện nay

6 Ý nghĩa thực tiễn của luận án

Những kết quả nghiên cứu của luận án có thể dùng làm tài liệu đểtham khảo giúp hoạch định các chủ trương, chính sách và các biện pháp đổimới việc quản lý nhà nước đối với nền kinh tế Lào trong giai đoạn hiệnnay Luận án còn làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy ở cáctrường đại học, các trường Đảng

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu và danh mục tài liệu tham khảo, luận án có

3 chương 6 mục

Trang 8

Chương 1

MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ KINH TẾ, SỰ BIỂU HIỆN CỦA NÓ Ở CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO HIỆN NAY

1.1 NHÀ NƯỚC VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ

1.1.1 Vai trò của kinh tế đối với Nhà nước

Đời sống của xã hội loài người có nhiều mặt hoạt động như chínhtrị, kinh tế, văn hóa, nghệ thuật, tôn giáo khoa học kỹ thuật , nhưnggiữa chúng lại có quan hệ mật thiết với nhau Xã hội càng phát triển cáchoạt động nói trên càng đa dạng phong phú Trong các hoạt động đó,hoạt động kinh tế đóng vai trò rất quan trọng và cơ bản, bởi vì hoạt độngkinh tế là đời sống không thể thiếu được của một cuộc sống con ngườitrong xã hội Trong bất kỳ giai đoạn phát triển nào của lịch sử, trong khitiến hành các hoạt động loài người cũng phải sống Muốn sống loài ngườiphải có ăn, đồ mặc, nhà ở và các thứ cần thiết khác Để có những cái đó, conngười phải tạo ra chúng

Bởi vậy, sản xuất ra của cải vật chất là cơ sở của đời sống xã hội vàlao động sản xuất là hoạt động cơ bản của xã hội loài người Trong lịch sửphát triển của nền sản xuất xã hội, có hai hình thức kinh tế rõ rệt, là hìnhthức kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hóa Kinh tế tự nhiên là hình thứcsản xuất mà sản phẩm lao động chỉ dùng để thỏa mãn nhu cầu của ngườisản xuất trong nội bộ đơn vị kinh tế Đó là kiểu sản xuất tự cấp tự túc.Đối lập với sản xuất tự cấp tự túc là sản xuất hàng hóa, là sản xuất ra sảnphẩm để bán Đó là hình thức tổ chức nền sản xuất xã hội, trong đó mốiquan hệ kinh tế giữa những người sản xuất với nhau, giữa những nguờisản xuất với người tiêu dùng, biểu hiện thông qua thị trường, qua việcmua bán trao đổi sản phẩm lao động của nhau có phạm vi rộng lớn trongnền kinh tế đất nước

Trang 9

Có thể nói, kinh tế là phạm trù đặc biệt quan trọng đối với đời sống

xã hội loài người Trong đó có nói đến của cải nguồn thu nhập, việc làm, sựgiàu, nghèo, phúc lợi, điều kiện sống, môi trường và môi sinh, tiết kiệm,chống lãng phí nhằm sử dụng của cải có lợi nhất cho việc tạo ra hạnh phúc

và sức khỏe của con người v.v

Như vậy, khái niệm kinh tế là một khái niệm có ý nghĩa rộng lớn cóngười cho rằng kinh tế là tài sản (tiền, ngoại tệ, vàng bạc, đá quý, bất độngsản, vật dụng có giá trị quý hiếm v.v ), có người lại hiểu kinh tế là toàn bộcông tác buôn bán, sản xuất, phân phối và tiêu dùng hàng hóa Một cáchhiểu được nhiều người đồng tình cho rằng kinh tế là tổng thể (hoặc mộtphần) những yếu tố sản xuất và những quan hệ vật chất của con người phátsinh trong quá trình sản xuất trực tiếp, phân phối lưu thông trao đổi, tiêudùng của cải vật chất ở những giai đoạn phát triển nhất định của xã hội loàingười mà mấu chốt là vấn đề sở hữu và lợi ích

Những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho con người không có sẵn, phảithông qua lao động của con người sản xuất ra, Mác viết: "đứa trẻ nào cũngbiết rằng bất kể dân tộc nào cũng sẽ diệt vong nếu như nó ngừng lao động,không phải một năm, mà chỉ mấy tuần thôi Cũng đúng như vậy, mọi ngườiđều biết rằng muốn có một lượng sản phẩm tương ứng với những lượngnhu cầu khác nhau thì phải có những lượng lao động xã hội khác nhau vàtheo số lượng nhất định" [27, 749] Bởi vậy, sản xuất của cải vật chất luônluôn có một thuộc tính chung vốn có đó là quy trình tác động lẫn nhau giữacon người và tự nhiên, trong đó con người biến đổi vật thể tự nhiên và làmcho chúng thích ứng với việc thỏa mãn nhu cầu của mình Sản xuất vật chấtluôn luôn được lặp đi lặp lại không ngừng Mỗi quá trình lao động sản xuấtđều là sự kết hợp của ba yếu tố: lao động, đối tượng lao động và tư liệu laođộng

Trang 10

Đối tượng lao động và tư liệu lao động là những yếu tố vật chất của quátrình lao động hợp thành tư liệu sản xuất Tư liệu sản xuất là điều kiện quantrọng không thể thiếu được của quá trình sản xuất, nhưng nếu không được kếthợp với lao động thì tự nó sẽ không tạo ra được gì cả Chính lao động tíchcực và sáng tạo đã làm cho tư liệu lao động và đối tượng lao động vận động

và chuyển chúng thành tư liệu sản xuất thực sự bắt chúng phục vụ cho conngười Người lao động là người sáng tạo ra toàn bộ của cải cho xã hội loàingười

Sản xuất của cải vật chất bao giờ cũng là một quá trình xã hội.Trong sản xuất, con người không chỉ tác động vào giới tự nhiên mà còn tácđộng lẫn nhau, con người không thể sản xuất được nếu không kết hợp vớinhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và để trao đổi hoạt động vớinhau Để sản xuất, con người phải có những mối liên hệ và quan hệ nhất địnhvới nhau và sự tác động của họ vào giới tự nhiên, tức là việc sản xuất chỉdiễn ra trong khuôn khổ những mối liên hệ và quan hệ xã hội đó C Mác viết:không thể sản xuất được nếu không kết hợp với nhau theo một cách nào đó

để hoạt động chung và để trao đổi hoạt động với nhau Muốn sản xuất đượcngười ta phải có những mối liên hệ và quan hệ nhất định với nhau và sự tácđộng của họ vào giới tự nhiên tức là việc sản xuất thì diễn ra trong khuônkhổ những mối liên hệ và quan hệ xã hội đó

Quan hệ xã hội giữa người với người trong quá trình sản xuất, phânphối sản phẩm trao đổi và tiêu dùng của cải vật chất gọi là quan hệ sảnxuất Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của sản xuất xãhội, chúng gắn bó chặt chẽ với nhau và tác động lẫn nhau, với sự phát triểncủa lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất cũng biến đổi theo

Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa người với tự nhiên,biểu hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người Lực lượng sản xuất

Trang 11

biểu hiện năng lực thực tiễn của con người trong quá trình tác động vào tựnhiên nhằm tạo ra của cải vật chất cho sự tồn tại và phát triển của xã hội.

Lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu sản xuất và người lao động vớikinh nghiệm sản xuất, kỹ năng kỹ xảo, thói quen lao động của họ Sự pháttriển của lực lượng sản xuất là sự phát triển có tính chất tổng hợp của cácyếu tố hợp thành của nó Trong đó sự phát triển công cụ lao động và trình

độ văn hóa, khoa học kỹ thuật, kỹ năng của người lao động là những nhân

tố có ý nghĩa quyết định

Con người là nhân tố trung tâm và là mục đích của nền sản xuất xãhội Với tư cách là nhân tố trung tâm, con người luôn luôn giữ vai trò quyếtđịnh đối với sản xuất, dù trong nền sản xuất dựa trên cơ sở kỹ thuật thủcông, lạc hậu hay công nghiệp hiện đại con người cũng là mục đích của sảnxuất xã hội Sản xuất suy đến cùng là để dùng, không có tiêu dùng sẽkhông có sản xuất Thỏa mãn nhu cầu của con người phát triển con người

là ý nghĩa tự nhiên cuối cùng là mục đích của sản xuất xã hội

Lực lượng sản xuất là yếu tố năng động nhất, cách mạng nhất củanền sản xuất xã hội Trình độ của lực lượng sản xuất không phải chỉ đượcbiểu thị ở chất lượng của kỹ thuật sản xuất đang được sử dụng và ở kinhnghiệm sản xuất của con người mà còn được biểu thị ở trình độ phát triểnkinh tế của xã hội, ở trình độ tập trung sản xuất, ở sự phân công lao động

xã hội giữa các khu vực sản xuất, giữa các ngành sản xuất, giữa các cơ sởsản xuất của xã hội Những thay đổi trong tính chất và trình độ của lựclượng sản xuất đòi hỏi phải thay đổi quan hệ sản xuất xã hội tương ứng Sựchuyển biến của lực lượng sản xuất từ giai đoạn phát triển khác không diễn

ra ngoài quan hệ sản xuất mà diễn ra bằng cách làm cho quan hệ sản xuấtphù hợp với tính chất và trình độ mới của lực lượng sản xuất

Trang 12

Trong thời đại ngày nay, khi mà nền công nghiệp thế giới đã pháttriển ở trình độ cao và đang diễn ra cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật như

vũ bão, đã đẩy nền sản xuất xã hội ngày càng hiện đại hóa cao, thì ởCHDCND Lào lại có nền kinh tế lạc hậu kém phát triển, vì vậy cần phải cóđịnh hướng phát triển lực lượng sản xuất xã hội để từng bước đưa nền kinh

tế đất nước phát triển đuổi kịp và hòa nhập với các nước trong khu vực vàtrên thế giới Trong đó việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật bao gồm tưliệu lao động, đối tượng lao động, quy trình công nghệ và tri thức khoa học cholực lượng sản xuất là nhiệm vụ cấp bách nhất trong tình hình hiện nay ở Lào

Lực lượng sản xuất là cơ sở tồn tại của loài người, đồng thời là lựclượng quyết định thúc đẩy xã hội loài người phát triển không ngừng Sựphát triển của lực lượng sản xuất xã hội kéo theo đó là những thay đổitương ứng về quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng bao gồm chính trị,pháp luật, đạo đức, tôn giáo, làm thay đổi gương mặt của toàn xã hội, vì đó

là năng lực được tạo ra bởi sự kết hợp giữa lao động với tư liệu sản xuất đểtạo ra của cải vật chất và tinh thần nhằm thỏa mãn những nhu cầu ngàycàng đa dạng phong phú của con người Đó là sự thay đổi căn bản các yếu

tố sản xuất, kết cấu sản xuất, hình thức tổ chức và phương thức quản lý làmcho bộ mặt của toàn bộ nền sản xuất và xã hội thay đổi theo Sự phát triểncủa một nền kinh tế không chỉ bắt đầu từ sự thay đổi và phát triển trong cấutrúc của lực lượng sản xuất, mà còn bắt đầu từ sự thay đổi và phát triểntrong cấu trúc của hệ thống quan hệ sản xuất, mà sự phù hợp giữa chúng làđộng lực Bởi vậy giữ vững tính hệ thống và tính đồng bộ trong việc xâydựng quan hệ sản xuất mới có ý nghĩa rất quan trọng [37, 13]

Khi nói đến quan hệ sản xuất là nói đến quan hệ giữa người vớinguời hình thành, vận động và tái tạo lại trong toàn bộ quá trình tái sản xuất

xã hội bao gồm quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng sảnphẩm xã hội Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất Nó biểu

Trang 13

hiện quan hệ giữa người với người trên ba mặt chủ yếu: quan hệ sở hữu tưliệu sản xuất, quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối sản phẩm.Trong đó, quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định Nhưng bamặt đó liên kết chặt chẽ với nhau trong một cấu trúc đồng bộ, nếu thiếu sựtương hợp sẽ không thể vận động bình thường không thể trở thành động lựcthúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Lênin đã dạy chúng ta rằng muốnchiến thắng CNTB "xét cho cùng thì nguồn lực to lớn nhất để chiến thắnggiai cấp tư sản và cái bảo đảm duy nhất cho những thắng lợi đó được bềnvững và không gì phá vỡ nổi, chỉ có thể là một phương thức sản xuất xã hộimới cao hơn, chỉ có thể là việc đem sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa thay thếcho sản xuất tư bản chủ nghĩa và tiểu tư sản" [16, 20-21].

Trong quan hệ sản xuất, quan hệ sở hữu là cơ sở kinh tế, là mộttrong những căn cứ quan trọng để xác định thành phần kinh tế Như vậy sởhữu là một phạm trù kinh tế phản ánh sự thống nhất biện chứng giữa sởhữu với tư cách là hình thức quản lý và điều kiện cần thiết của sản xuất, với

sở hữu được thực hiện về mặt kinh tế, mặt kết quả thực tế trong quá trìnhsản xuất và tái sản xuất [36, 52]

Sự thống nhất và tác động qua lại giữa lực lượng sản xuất với quan

hệ sản xuất tạo thành phương thức sản xuất Trong sự thống nhất biệnchứng này quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sảnxuất, còn quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất đó là quy luậtkinh tế chung của mọi phương thức sản xuất

Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất có thể diễn ratheo hai khả năng; nếu phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượngsản xuất, nó sẽ thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất Trongtrường hợp ngược lại, nếu không phù hợp nó sẽ trở thành lực cản đối với

Trang 14

sự phát triển của lực lượng sản xuất vì nó quy định mục đích của sảnxuất ảnh hưởng quyết định đến thái độ lao động của người lao động, kíchthích hoặc hạn chế cải tiến kỹ thuật, áp dụng các thành tựu khoa học kỹthuật vào sản xuất cũng như tổ chức hợp tác phân công lao động Nhưvậy, mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sảnxuất là quy luật khách quan, là động lực nội tại của sự vận động và pháttriển của xã hội [10, 71].

Ở đây quan hệ sở hữu vừa là kết quả, vừa là điều kiện cho sự pháttriển của lực lượng sản xuất Mỗi hình thức sở hữu chưa thể mất đi khichúng còn phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất, cũngnhư không thể tùy tiện dựng lên hay thủ tiêu chúng khi lực lượng sản xuấtchưa đòi hỏi [10, 72]

Các Mác cũng đã chỉ ra rằng "không một hình thái xã hội nào diệtvong trước khi tất cả những lực lượng sản xuất mà hình thái xã hội đó tạo địabàn đầy đủ cho phát triển, vẫn chưa phát triển và những quan hệ sản xuất mớicao hơn, cũng không bao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện tồn tại vậtchất của những quan hệ đó chưa chín muồi trong lòng bản thân xã hội cũ Chonên nhân loại bao giờ cũng chỉ đặt ra cho mình những nhiệm vụ mà nó có thểgiải quyết được, vì khi xét kỹ hơn bao giờ người ta cũng thấy rằng bản thânnhiệm vụ ấy chỉ nảy sinh khi những điều kiện vật chất, để giải quyết nhiệm vụ

đó đã có rồi, hay ít ra cũng đang ở trong quá trình hình thành [22, 15-16]

Với tính cách là những thời đại kinh tế khác nhau, phương thức sảnxuất chính là sự thống nhất biện chứng giữa một bên là lực lượng sản xuấtcái biểu hiện của mối quan hệ giữa con người với tự nhiên; là sự thống nhấtbiện chứng giữa con người với tư liệu sản xuất mà trước hết là với công cụlao động; với một bên là quan hệ sản xuất, cái biểu hiện của mối quan hệgiữa con người với nhau trong sản xuất xã hội [8, 18]

Trang 15

Nghiên cứu quá trình sản xuất xã hội chúng ta thấy lực lượng sảnxuất có vai trò rất lớn trong việc thay đổi các quan hệ xã hội, C.Mác viết

"Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực lượng sảnxuất Do có được những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổiphương thức sản xuất của mình và do thay đổi phương thức sản xuất, cáchkiếm sống của mình, loài người thay đổi tất cả những quan hệ xã hội củamình Cái cối xay quay bằng tay đưa lại xã hội có lãnh chúa, cái cối xaychạy bằng hơi nước đưa lại xã hội có nhà tư bản công nghiệp [23, 187]

Trong quan hệ sản xuất, quan hệ quản lý, là một nội dung của quan

hệ sản xuất mới cần được xây dựng, thực chất của việc xây dựng quan hệquản lý kinh tế mới trong điều kiện chuyển từ nền kinh tế tự nhiên, tự cấp

tự túc sang kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường nhưLào hiện nay, thì phải tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế với mục tiêuxóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp hình thành tương đối đồng bộ

cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Đối với vấn đề này phảitập trung xây dựng đồng bộ các yếu tố thị trường, có nghĩa là phải xâydựng đồng bộ các loại thị trường trong đó có thị trường hàng hóa, dịch

vụ, đảm bảo quản lý chặt chẽ đất đai và thị trường bất động sản theođúng luật pháp quy định Phải hoàn chỉnh hệ thống pháp luật về kinh tếtheo hướng ban hành mới, sửa đổi bổ sung một số luật và pháp lệnh Coitrọng tính đồng bộ trong hoạt động giữa các cơ quan lập pháp Đổi mớicông tác kế hoạch hóa theo hướng quán triệt đường lối chủ trương củaĐảng Tập trung sức vào việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, chươngtrình và các dự án đầu tư lớn, thông qua hệ thống các mục tiêu kinh tế vĩ

mô, xác định tốc độ phát triển cơ cấu, các cân đối lớn và theo đó là cácchính sách dẫn dắt nền kinh tế phát triển theo định hướng kế hoạch Điđôi với việc đổi mới kế hoạch hóa vĩ mô, cần củng cố và tăng cườngcông tác kế hoạch vi mô ở các đơn vị kinh tế cơ sở theo định hướng kế

Trang 16

hoạch và thị trường Đổi mới chính sách tài chính, tiền tệ và giá cả tàichính, ngân hàng tiền tệ và giá cả thuộc khâu phân phối và trao đổi, khâuphân phối và trao đổi là khâu trung gian tác động đến sản xuất tiêu dùng,đòi hỏi cần được tiếp tục đổi mới, theo hướng thúc đẩy sản xuất, pháttriển trên cơ sở huy động tích lũy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lựclành mạnh hóa ngân hàng nhà nước, thực hiện nghiêm ngặt chế độ kếtoán, kiểm toán và thanh tra, kiểm tra tài chính.

Về chính sách tiền tệ và hoạt động các ngân hàng trung ương và cácngân hàng thương mại cần có chính sách và biện pháp đồng bộ để điều hòalưu thông tiền tệ Hoàn thiện hệ thống giá cả trên cơ sở tăng cường lựclượng dự trữ quốc gia, xây dựng cơ chế hình thành quỹ bình ổn giá cả vàphương thức can thiệp của Nhà nước vào một số hàng hóa thiết yếu, nhất làviệc thu mua lương thực của nông dân đẩy mạnh xuất khẩu

Về quan hệ phân phối Phân phối là một giai đoạn của tái sản xuất

sản phẩm xã hội, gắn liên với tiêu dùng và sản xuất Phân phối bao gồmphân phối tư liệu sản xuất và phân phối vật phẩm tiêu dùng Tính chất củaviệc phân phối tư liệu sản xuất giữa các giai cấp khác nhau là do hình thức

sở hữu chiếm địa vị thống trị trong mỗi xã hội quyết định Việc phân phốisản phẩm giữa các giai cấp xã hội hoàn toàn phụ thuộc vào việc phân phối

tư liệu sản xuất Chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất quyết định mối quan hệgiữa các tập đoàn xã hội trong sản xuất Tính chất của việc phân phối tư liệusản xuất và vật phẩm tiêu dùng biểu hiện ở việc phân phối thu nhập quốc dân

Trong nền kinh tế chỉ huy, tập trung quan liêu, bao cấp hình thức phânphối theo kết quả lao động và phân phối thông qua phúc lợi xã hội Khi chuyểnsang kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sựquản lý của Nhà nước, phát triển theo định hướng XHCN thì thực hiện nhiềuhình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế

là chủ yếu, đồng thời phân phối dựa trên mức đóng góp các nguồn lực khác

Trang 17

vào kết quả sản xuất kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội.Ngoài các hình thức phân phối nói trên, với chức năng công bằng xã hộithông qua các chính sách luật pháp, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữangười lao động và người sử dụng lao động, thực hiện chế độ bảo hiểm xãhội đối với người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế; không để quan hệnày biến thành quan hệ thống trị, dẫn tới sự phân hóa xã hội thành hai cựcđối lập như Văn kiện Đại hội VIII Đảng cộng sản Việt Nam đã nêu rõ: "phânphối và phân phối lại hợp lý các thu nhập; khuyến khích làm giàu hợp pháp

đi đôi với xóa đói, giảm nghèo, không để diễn ra chênh lệch quá đáng về mứcsống và trình độ phát triển giữa các vùng các tầng lớp dân cư" [49, 92-93]

Tóm lại, quan hệ sản xuất trước hết là quan hệ sở hữu về tư liệu sản

xuất là nhân tố quyết định xu hướng và mục đích của phát triển lực lượngsản xuất, quyết định bản chất của chế độ xã hội Do đó quyết định xuhướng phát triển kinh tế - xã hội Chỉ có quan hệ sản xuất mới nói lên xãhội đó là xã hội gì? Đây là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt các chế độkinh tế - xã hội khác nhau [10, 74]

Lịch sử loài người từ trước đến nay đã trải qua nhiều kiểu quan hệsản xuất như: cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bảnchủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa Sản xuất bao giờ cũng mang tính xã hội,không có sản xuất nào diễn ra đơn độc riêng lẻ Xã hội hóa sản xuất là sựliên kết nhiều quá trình kinh tế riêng biệt thành quá trình kinh tế xã hội Nó

là một quá trình được hình thành, hoạt động và phát triển liên tục tồn tạinhư một hệ thống hữu cơ với nhau Ở dạng chung nhất, xã hội hóa sản xuấtbiểu hiện ở sự phân công lao động xã hội phát triển; mối liên hệ giữa cácngành, các khu vực, các vùng ngày một chặt chẽ sản xuất tập trung với quy

mô hợp lý, xã hội hóa sản xuất không trực tiếp gắn với nền sản xuất nhỏ,

mà trực tiếp gắn với nền sản xuất lớn Trong lịch sử, đã và đang diễn ra hailoại sản xuất lớn TBCN và XHCN

Trang 18

Sự phát triển nhanh mạnh và sâu rộng của lực lượng sản xuất trongcác nước tư bản sau chiến tranh, trước hết phản ánh xu hướng chung của sựphát triển không ngừng và ngày càng nhanh của lực lượng sản xuất trongtiến trình phát triển của lịch sử loài người Vì lực lượng sản xuất phản ánhquan hệ giữa con người với tự nhiên Theo sự phát triển của xã hội loàingười, nhận thức của con người đối với giới tự nhiên ngày càng sâu rộng,con người ngày càng vận dụng được nhiều quy luật khách quan Nó đượcphản ánh trong những tiến bộ không ngừng của khoa học - kỹ thuật.

Tất nhiên sự phát triển của lực lượng sản xuất nói chung, khoa họccông nghệ nói riêng trong các nước tư bản có nhiều nguyên nhân đặc biệttrong đó có ba nguyên nhân chính:

Một là, quy mô tích lũy tư bản tăng nhanh hơn nhiều so với trước

chiến tranh do quy luật giá trị thặng dư, quy luật tích tụ tập trung tư bản đượcphát huy mạnh hơn trong điều kiện khoa học công nghệ tiến nhanh hơn

và Nhà nước điều tiết đời sống kinh tế xã hội sâu hơn, hiệu quả hơn Cạnhtranh ngày càng mạnh đặc biệt cạnh tranh quốc tế ngày càng quyết liệt càngthúc đẩy các nước tư bản gia tăng tích lũy để mở rộng sản xuất xã hội

Hai là, cách mạng khoa học công nghệ trở thành nhân tố trực tiếp

quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội ở các nước tư bảnsau chiến tranh Nó được biểu hiện chủ yếu trên các mặt sau đây:

Các ngành công nghiệp mới dựa trên cơ sở khoa học kỹ thuật côngnghệ hiện đại ra đời và phát triển rất nhanh, trở thành những ngành tiênphong chủ đạo của sự phát triển

Nhờ khoa học công nghệ hiện đại các ngành công nghiệp truyềnthống đã được cải tạo không ngừng, năng suất lao động tăng lên Cơ cấungành thay đổi chuyển dịch nâng cấp lên trình độ mới phù hợp với nền sảnxuất hiện đại, kỹ thuật cao hàm lượng trí tuệ lớn

Trang 19

Phân công lao động phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu Chuyênmôn hóa chi tiết trong từng ngành, phân công chuyên môn hóa chi tiết giữacác ngành, phân công liên kết chuyên môn hóa giữa các nước, trong một sốngành đã xuất hiện dây chuyền sản xuất quốc tế.

Tái sản xuất mở rộng ngày càng phát triển theo chiều sâu lấy đầu tưkhoa học kỹ thuật làm chính để nâng cao chất lượng lao động, tăng năngsuất lao động, tăng hiệu quả kinh tế và chất lượng sản phẩm

Ba là, năng lực điều tiết kinh tế xã hội của Nhà nước tăng lên rõ rệt.

Nhà nước đã tích cực thỏa mãn đòi hỏi của sự phát triển lực lượng sản xuấtđối với cơ cấu hạ tầng hiện đại đảm bảo cho tái sản xuất xã hội vận hànhbình thường theo hướng mở rộng không ngừng trên cơ sở vật chất kỹ thuậttiên tiến

Sự chuyển biến vai trò kinh tế của Nhà nước tư bản từ nhân tố bênngoài, nhân tố tạo điều kiện môi trường cho sự vận động của các quá trìnhkinh tế, sang thành nhân tố bên trong, nhân tố quyết định phương hướngphát triển của chúng là một tiến trình biện chứng Tiến trình biến đổi từlượng sang chất Qua sự biến đổi của các chỉ tiêu về lượng ở các ngành lĩnhvực mà Nhà nước trực tiếp tác động vào, ta cũng có thể nhận biết được ởmức tương đối xu hướng của hoạt động này có thể thấy rõ vai trò kinh tếcủa Nhà nước qua các biểu hiện: ở nước tư bản phát triển chủ chốt, các xínghiệp nhà nước do Chính phủ quốc hữu hóa và trực tiếp đầu tư xây dựng

đã có vị trí quan trọng trong nền kinh tế Nhà nước chuyển một phần lớnthu nhập tài chính thành tư bản tài chính Sau chiến tranh thế giới thứ hai,

số tư bản tài chính do Nhà nước tư bản nắm giữ tăng lên và trở thành bộphận quan trọng trong cấu thành tư bản nhà nước

Ngoài ra, thông qua ngân hàng trung ương, nhà nước tư bản pháthành tiền và kiểm soát lưu thông tiền tệ trên thực tế, Nhà nước là người sởhữu tư bản tiền tệ Nhà nước còn lập ra các tổ chức tài chính chính phủ;

Trang 20

những tổ chức tài chính này đã phát huy vai trò quan trọng đối với đời sốngkinh tế - xã hội Việc Nhà nước giữ vị trí chủ đạo trong điều chỉnh hệ thốngtài chính - tiền tệ đã tạo ra cho Nhà nước một ưu thế tuyệt đối trước các tổchức độc quyền và nhờ hệ thống này, Nhà nước chủ động điều chỉnh đượchoạt động kinh doanh của tư bản tư nhân, dù đó là một tập đoàn tư bản lớn.

Trong quá trình điều chỉnh sự vận động của nền kinh tế, Nhà nước

sử dụng các công cụ như: tài chính, tiền tệ để can thiệp và điều chỉnhkinh tế Những biến đổi về lượng phản ánh không chỉ sự tăng cường hoạtđộng kinh tế của Nhà nước tư bản, mà còn nói lên sự tăng cường vai tròcủa Nhà nước đối với vận động của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa

Trong thực tế lịch sử, lực lượng chính tấn công vào thành trì quyềnlực là của giới doanh nghiệp, với hình thức kinh tế mới họ đã tạo ra một thếgiới vật phẩm hàng hóa khổng lồ và nắm giữ năng lực sản xuất to lớn Điều

đó phản ánh sức mạnh và vai trò thực tế của giới doanh thương đối với xãhội Sức mạnh trong kinh tế thường tìm đạt sự biểu hiện trong chính trị.Thời này giới doanh thương đấu tranh hạn chế quyền lực của chính quyền;đòi Nhà nước không được can thiệp vào hoạt động kinh tế

Nếu như sự phát triển của kinh tế TBCN tự do kinh tế là cơ sở cho

sự cải tiến Nhà nước và hệ thống chính trị của TBCN thành những cấu trúc

và thể chế chính trị TBCN hiện đại, thì vấn đề có ý nghĩa sâu xa quyết địnhtới sự mở rộng và phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế TBCN hiện đại lại là

sự phát triển khoa học và công nghệ hiện đại

Nền kinh tế phát triển gắn liền với việc thay đổi căn bản cơ cấu nềnkinh tế cơ sở để nuôi dưỡng sự phát triển Tương quan giữa nông nghiệp -công nghiệp - dịch vụ biến đổi mạnh mẽ theo hướng tăng tỷ trọng lao độngvào công nghiệp, dịch vụ cũng như phần đóng góp của nó trong tổng sảnphẩm quốc dân Các ngành sản xuất dựa trên công nghệ hiện đại phát triển

Trang 21

mạnh Các ngành dịch vụ trở thành ngành kinh doanh chủ yếu Khu vựccông nghiệp truyền thống giảm tới mức thấp nhất trên cơ sở khoa học kỹthuật hiện đại với năng suất lao động cao.

Trong toàn bộ lịch sử phát triển hiện thực của CNTB giai đoạnCNTB tự do kinh tế có ý nghĩa quan trọng, tích cực về đời sống vật chấtcũng như những giá trị tinh thần mà nó đã tạo ra CNTB tự do kinh tế đãtừng có những đóng góp lớn cho hạnh phúc, văn minh nhân loại Tuy nhiên,

sự phát triển tự do tự phát ấy cũng để lại những hậu quả về sự phân cựcngày càng sâu giữa giàu và nghèo trong xã hội; những chu kỳ khủng hoảng,kéo theo sự suy sụp kinh tế từng thời kỳ như đã và đang diễn ra ở các nướctrong khu vực và trên thế giới trong tình hình hiện nay đã gây nên nhữngảnh hưởng xấu đến sự phát triển và tăng trưởng kinh tế của các nước cũngnhư toàn thế giới Biểu hiện bao trùm nhất và rõ ràng nhất trong xã hội tưbản thời kỳ này là mâu thuẫn đối kháng giai cấp giữa giai cấp vô sản và tưsản ngày càng mở rộng, sâu sắc Đấu tranh giai cấp trong kinh tế, chính trị,

tư tưởng diễn ra gay gắt Sự tranh giành thị trường ở các nước tư bản côngnghiệp lớn ngày càng quyết liệt

Sự phát triển kinh tế mạnh mẽ đó làm biến đổi sâu sắc tình hìnhkinh tế - xã hội Quá trình quốc tế hóa sâu sắc quan hệ kinh tế đặt ra sự cầnthiết phải khai thác tiềm năng trí tuệ của từng cá nhân người lao động, đồngthời cũng làm cho những quan hệ những mâu thuẫn chính trị xã hội ngàycàng phức tạp trên bình diện quốc tế Điều đó trực tiếp đòi hỏi phải nângcao vai trò chủ đạo điều tiết quản lý cả kinh tế - xã hội chính trị của Nhà nước

1.1.2 Vai trò Nhà nước trong sự phát triển kinh tế

Trong xã hội có giai cấp thống trị quyền lực chính trị thuộc về giaicấp thống trị hay liên minh giai cấp thống trị bằng quyền lực chính trị củagiai cấp thống trị, bắt các giai cấp khác phải phục tùng ý chí của giai cấpmình dưới sự cưỡng chế của Nhà nước Bởi vậy, Nhà nước là một tổ chức

Trang 22

quyền lực có chủ quyền quốc gia Đặc điểm này thể hiện ở chỗ Nhà nước

có quyền tự quyết định những vấn đề đối nội, đối ngoại của mình, khôngphụ thuộc vào bất kỳ một thế lực nào bên ngoài, và quyền lực nhà nước cóhiệu lực trên toàn bộ đất nước đối với tất cả dân cư, mọi tổ chức xã hộisống và làm việc trên lãnh thổ nhà nước, văn bản của Nhà nước có hiệu lựcthực thi trên toàn vẹn lãnh thổ đất nước

Để duy trì cơ quan chính quyền nhà nước, cần phải có chi phí Nguồnchi phí đó lấy từ thuế Thu thuế của nhân dân cũng là một trong những điềukiện tồn tại của Nhà nước Trong Nhà nước của giai cấp bóc lột, thuế khóa làmột trong những thủ đoạn để giai cấp bóc lột, cướp bóc thêm người lao động

Từ những đặc điểm trên, có thể định nghĩa: Nhà nước là công cụ cơbản của quyền lực chính trị, là bộ máy đặc biệt để cưỡng chế và thực hiệncác chức năng quản lý đối với xã hội Nhà nước là một tổ chức quyền lựcđặc biệt của giai cấp thống trị, là một hình thức trong đó những cá nhân củagiai cấp thống trị thực hiện lợi ích chung của giai cấp mình [38, 76]

Bản chất của Nhà nước như Ph Ăngghen chỉ rõ: "Nhà nước chẳngqua chỉ là bộ máy của một giai cấp này dùng để trấn áp một giai cấp khác,điều đó trong chế độ cộng hòa dân chủ cũng hoàn toàn giống như trong chế

Nhà nước CHDCND Lào là Nhà nước kiểu mới, có bản chất khácvới bản chất Nhà nước của giai cấp bóc lột trước kia Bản chất Nhà nướcLào là do cơ sở kinh tế và chế độ chính trị của Lào quy định - đó là Nhànước của dân, do dân và vì dân Nhà nước Lào là một tổ chức thể hiện ý

Trang 23

chí, quyền lực của nhân dân mà nền tảng là liên minh công nhân - nông dân

hệ bóc lột Như vậy, một bộ máy cưỡng chế đặc biệt để củng cố quyền lựccủa giai cấp thống trị về kinh tế và để đàn áp sự phản kháng của giai cấp bịbóc lột, nhờ đó giai cấp thống trị về kinh tế trở thành giai cấp thống trị vềchính trị Nói cách khác, giai cấp thống trị đó trở thành lực lượng xã hộichủ yếu của quyền lực kinh tế và quyền lực chính trị Bộ máy cưỡng chếđặc biệt này là Nhà nước Giai cấp thống trị sử dụng Nhà nước để tổ chức

và thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp mình thông qua Nhà nước, ýchí của giai cấp thống trị được thể hiện một cách tập trung thống nhất vàhợp pháp hóa thành ý chí của Nhà nước Ý chí Nhà nước có sức mạnh bắtbuộc các giai cấp khác phải tuân theo một trật tự do giai cấp thống trị đặt ra

và phải phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị, làm như vậy giai cấpthống trị đã thực hiện sự chuyên chính của giai cấp mình đối với các giaicấp khác Công cụ chủ yếu để thực hiện sự chuyên chính giai cấp không chỉđơn thuần dựa vào bạo lực và cưỡng chế mà còn cần đến sự tác động vàochính trị, tư tưởng nữa Giai cấp thống trị đã thông qua Nhà nước và cácthiết chế xã hội khác để xây dựng hệ tư tưởng của giai cấp mình thành hệ

tư tưởng thống trị xã hội Cũng như Mác nói "toàn bộ lịch sử đã qua, trừtrạng thái nguyên thủy đều đã là lịch sử của đấu tranh giai cấp; rằng nhữnggiai cấp xã hội đấu tranh với nhau ấy luôn luôn là những sản phẩm những

Trang 24

quan hệ sản xuất và quan hệ trao đổi, tóm lại là những sản phẩm của nhữngquan hệ kinh tế của thời đại của giai cấp ấy, do đó cơ cấu kinh tế của xã hộiluôn luôn là cái cơ sở hiện thực mà xét đến cùng ta phải dựa vào mới giảithích được tất cả thượng tầng kiến trúc là chế độ pháp quyền và chế độchính trị, cũng như những quan niệm tôn giáo, triết học và các quan niệmkhác của mỗi thời kỳ lịch sử nhất định" [25, 303].

Mọi Nhà nước bóc lột đều có bản chất chung, đó là bộ máy đặc biệtthực hiện nền chuyên chính của giai cấp bóc lột thiểu số đối với đa số nhândân Nhà nước chủ nô là công cụ chuyên chính của giai cấp chủ nô được tổchức và thành lập nhằm mục đích duy trì sự thống trị của giai cấp chủ nô đốivới nô lệ và các giai cấp khác Nhà nước phong kiến là công cụ chuyên chínhcủa giai cấp phong kiến được tổ chức nhằm mục tiêu duy trì, thực hiện sựthống trị của giai cấp phong kiến Nhà nước tư sản là công cụ chuyên chính củagiai cấp tư sản được tổ chức ra nhằm mục đích duy trì sự thống trị của mìnhđối với công nhân, nông dân và các tầng lớp xã hội khác trong chế độ tư bản

Đến thời kỳ CNTB độc quyền - CNTB hiện đại Đặc điểm nổi bậtcủa thời kỳ này là Nhà nước tư bản hiện đại có vai trò to lớn, quan trọngkhông chỉ trong đời sống chính trị mà cả trong đời sống kinh tế, Nhà nướcđóng vai trò quyết định trong việc xác định chiến lược, mô hình phát triểnkinh tế Bản thân Nhà nước sở hữu và điều hành một bộ phận quan trọngcủa nền kinh tế là bộ máy quản lý kinh tế với các phương tiện công cụ thiếtyếu như tiền tệ, thuế, các chính sách kinh tế và bảo đảm các dịch vụ xãhội cơ bản như: giáo dục, y tế, nhà cửa, an ninh

Nhà nước góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển khoa học

kỹ thuật công nghệ sau chiến tranh bằng cách đáp ứng phần lớn nhu cầuđầu tư vào nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ một lĩnh vực đòihỏi lượng đầu tư rất lớn, nhiều rủi ro, nên không hấp dẫn tư bản tư nhân,

Trang 25

nhưng lại có vai trò quyết định cho họ phát triển lực lượng sản xuất sauchiến tranh.

Nhà nước tham gia điều chỉnh quan hệ sản xuất xã hội, làm dịu mâuthuẫn giai cấp, tạo dựng điều kiện xã hội thuận lợi cho phát triển Một mặtcác chính phủ tư bản dùng chính sách thu nhập và các chính sách tài chính

để điều chỉnh mức độ chênh lệch quá bất công trong lĩnh vực phân phối xãhội, mặt khác tăng cường phúc lợi xã hội, đảm bảo nhu cầu đời sống cơ bảncho đa số dân cư

Nhà nước quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế một cách hiệu quảhơn, đảm bảo quá trình tái sản xuất mở rộng tương đối ổn định, biên độgiao động, chu kỳ không lớn, tốc độ tăng trưởng cao

Điều chỉnh quan hệ quốc tế của Nhà nước tư bản cũng mang lạihiệu quả rõ rệt đối với sự phát triển lực lượng sản xuất Với các nước đangphát triển, họ đã thực hiện phương thức bóc lột bằng kinh tế và kỹ thuậtthay cho phương thức bóc lột thuộc địa như trước đây nên đã tránh đượcchống đối và xung đột vừa tăng được lợi nhuận, vừa thúc đẩy kinh tế cácnước đang phát triển tăng tiến Với các nước phát triển với nhau, họ cũng

có sự điều chỉnh, phối hợp quan trọng tạo nên tình thế mới; cạnh tranh vàhợp tác đan xen, rất có lợi cho sự phát triển của lực lượng sản xuất [41, 31]

Như vậy, trong cấu trúc thể chế chính trị của CNTB hiện đại Nhànước giữ vai trò to lớn trong chính trị, kinh tế cũng như trong quản lý xãhội nói chung Nhân danh lợi ích toàn xã hội Nhà nước tư bản hiện đạibằng bộ máy và chính sách của mình quản lý và điều tiết các mặt kinh tế,chính trị cân đối và dung hòa lợi ích giữa các giai cấp, các nhóm xã hội, giữcho những mâu thuẫn về lợi ích giữa chúng ở mức có thể chấp nhận, khôngvượt qua tới ngưỡng nguy hiểm bảo đảm được chế độ chính trị kinh tế mà

về chủ đạo là phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản Theo hướng đó, hệ thốngchính trị của CNTB hiện đại nói chung, Nhà nước tư sản nói riêng ngày

Trang 26

càng được hoàn thiện để bảo vệ và duy trì lợi ích bóc lột của giai cấp tư sảnthống trị một cách tinh vi khó nhận thấy.

Như vậy trong CNTB hiện đại quan hệ chính trị với kinh tế đượcthể hiện tập trung ở vai trò to lớn, thống nhất trong nó có chức năng chínhtrị và chức năng kinh tế của Nhà nước tư sản hiện đại Đồng thời vấn đềđặc trưng bản chất của quan hệ chính trị - kinh tế tuy không được giảiquyết triệt để nhưng lại được khắc phục một bước do kết quả vận dụngkhoa học và công nghệ hiện đại Mâu thuẫn chính trị với kinh tế vẫn còn,nhưng xã hội tư bản hiện đại duy trì được sự ổn định và phát triển tươngđối của nó

Từ Cách mạng tháng Mười Nga, Nhà nước kiểu mới của giai cấp vôsản ra đời với sự hình thành hệ thống XHCN thế giới đã mở ra một thời đạimới về chính trị

Nhà nước XHCN thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình qua một

hệ thống các cơ quan nhà nước Hệ thống này được tổ chức một cách thốngnhất đồng bộ có mối liên hệ chặt chẽ với nhau gọi là bộ máy nhà nướcXHCN

Bộ máy nhà nước XHCN là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trungương xuống cơ sở được tổ chức theo những nguyên tắc chung thống nhấttạo thành một cơ chế đồng bộ thực hiện các chức năng và nhiệm vụ nhànước XHCN Tất cả các cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địaphương hợp thành một hệ thống thống nhất Chúng do dân trực tiếp bầu ra,thực hiện một cách thống nhất quyền lực nhà nước và báo cáo trước nhândân Hệ thống các cơ quan này là nền tảng của bộ máy nhà nước Tất cả các

cơ quan khác đều bắt nguồn từ cơ quan quyền lực nhà nước do cơ quanquyền lực nhà nước trực tiếp hoặc gián tiếp thành lập Bộ máy này đượcsinh ra trong cách mạng vô sản và trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân

Trang 27

dân, có vai trò thực hiện các chức năng quản lý nhà nước Trong đó quản lýkinh tế là chức năng đặc thù của quản lý nhà nước.

Lênin cũng nêu lên mô hình kinh tế XHCN trong đó tất cả các bộphận của nền kinh tế là một bộ máy lớn duy nhất thành một cơ cấu kinh tếhoạt động sao cho hàng trăm triệu con người đều được chỉ đạo bằng một kếhoạch duy nhất Sự hình thành tồn tại và phát triển của chính trị là trên cơ

sở những đòi hỏi khách quan của sự phát triển kinh tế, của thực trạng kinh

tế, của sự liên hệ những lợi ích kinh tế căn bản của giai cấp, tầng lớp khácnhau trong nền kinh tế Lênin đã nêu lên rằng "chính trị là sự biểu hiện tậptrung của kinh tế [17, 349]

Sự phản ánh đó có tính chất tập trung, thông qua việc hình thànhnhững tổ chức chính trị, những chính sách để từ đó giải quyết những vấn đềquyết định mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế, tạo điều kiện,môi trường và bảo hộ cho hoạt động kinh tế Chính trị phải mang trong nótính quy định kinh tế khách quan nghĩa là phải phản ánh trong nó trong cấutrúc của hệ thống chính trị, trong phương thức hoạt động của các thành tốcủa nó, trong các quyết sách chính trị Những yêu cầu, điều kiện của quyluật kinh tế khách quan Việc ưu tiên cho chính trị là ưu tiên cho những vấn

đề căn bản quyết định cho sự phát triển của kinh tế Giai cấp cách mạngkhông thể không giành quyền lực chính trị, nếu như muốn xây dựng mộtchế độ kinh tế xã hội vì nhân dân lao động Như Lênin đã viết: "không cómột lập trường chính trị đúng thì một giai cấp nhất định nào đó, không thểnào giữ vững được sự thống trị của mình, và do đó, cũng không thể hoànthành được nhiệm vụ của mình trong lĩnh vực sản xuất" [18, 350] Trongthực tế nếu không có một đường lối chính trị đúng đắn thì một giai cấp nhấtđịnh nào đó cũng không thể hoàn thiện được nhiệm vụ kinh tế DướiCNXH, chính trị và kinh tế không thể tách rời nhau Đường lối của Đảng là

Trang 28

cơ sở, là kim chỉ nam của mọi hoạt động kinh tế vì mục tiêu dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng văn minh

Chính sách kinh tế là những quy định của Nhà nước về một hoặcmột số vấn đề kinh tế dựa trên sự vận dụng các quy luật kinh tế vào điềukiện cụ thể của một nước, một vùng hoặc một ngành kinh tế - kỹ thuật Nó

là một khái niệm thuộc hoạt động chủ quan của Nhà nước, khi tình hìnhkinh tế thay đổi thì chính sách kinh tế cũng thay đổi theo Nó có thể đượcnhà nước sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện sau khi đã được ban hành Mặtkhác trình độ xã hội hóa sản xuất phát triển ngày càng cao đã chỉ cho cácnhà kinh tế học thấy rằng cần phải có sự can thiệp của Nhà nước vào quátrình hoạt động của nền kinh tế điều tiết nền kinh tế càng mạnh

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, Nhà nước đóng vai trò quản

lý nền kinh tế thị trường tức là đóng vai trò điều khiển nền kinh tế sao cho nóvận động đến các mục tiêu mong muốn bằng cách sử dụng các công cụ điềutiết và can thiệp khi cần thiết [39, 120-121] Như V.I Lênin đã dạy chúng tarằng "chính ngày nay, bằng "chính sách kinh tế mới" của chúng ta, chúng tađang sửa chữa cả một chuỗi những sai lầm của chúng ta, chúng ta đang học tậpxem nên tiếp tục công cuộc xây dựng cái tòa nhà xã hội chủ nghĩa, trong mộtnước tiểu nông như thế nào mà không phạm những sai lầm ấy nữa" [18, 188].Điều đó có nghĩa là Nhà nước đóng vai trò điều hành kinh tế vĩ mô bằng phápluật, kế hoạch, chính sách và công cụ khác nhằm phát huy vai trò tích cực hạnchế và ngăn ngừa các mặt tiêu cực của kinh tế thị trường Trong nền kinh tếthị trường, các cơ sở sản xuất là những đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ, họ tự lolấy vốn, vật tư kỹ thuật để phục vụ sản xuất, tự chịu trách nhiệm về kết quảcủa hoạt động sản xuất kinh doanh Họ sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu vàbán cho ai là do họ tự định đoạt, Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào nhưtrước nữa Nhưng Nhà nước can thiệp gián tiếp vào nền kinh tế, can thiệp vàothị trường, phải mở ra các cuộc đầu tư lớn Có làm như vậy mới huy động

Trang 29

được các nguồn tư bản nhàn rỗi để mở mang các hoạt động sản xuất kinhdoanh, giải quyết công ăn việc làm và tăng thu nhập cho dân cư làm cho nhucầu tiêu dùng tăng lên Tất nhiên, khi nhu cầu tăng lên sẽ làm cho sản xuấttăng nhanh, nhờ đó mà có điều kiện đẩy lùi khủng hoảng và tình trạng thấtnghiệp.

Ở các nước đang phát triển người ta vẫn nhận thấy có một xu hướngcùng với quá trình tự do hóa giá cả, vai trò quản lý của Nhà nước vẫn đượctăng cường Trong thời kỳ đầu của cuộc cải cách kinh tế, vai trò của Nhànước vẫn đặc biệt quan trọng Ở các nước này vai trò của Nhà nước thểhiện trên các mặt sau:

Trong các nước đang phát triển, tiết kiệm tư nhân quá nhỏ, thịtrường vốn không có hoặc quá yếu, Nhà nước phải đứng ra thực hiện vaitrò tích lũy chủ yếu Đối với khu vực tư nhân, Nhà nước khuyến khích đầu

tư phát triển sản xuất, không giới hạn quy mô, nhưng mặt khác Nhà nướcvẫn tăng cường công tác kiểm soát khiến cho các xí nghiệp tư nhân ít cóquyền độc lập tự chủ hơn là ở các nước công nghiệp phát triển

Việc Nhà nước kiểm soát với khu vực tư nhân thường mang ý nghĩatạo điều kiện thuận lợi cho khu vực này phát triển, chẳng hạn bảo hộ côngnghiệp trong nước, khuyến khích các nhà đầu tư mở rộng đầu tư và tạo môitrường tài chính thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp

Việc nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý kinh tế của Nhà nướcphải thông qua thực hiện tốt hai chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế vàchức năng chủ sở hữu tài sản công của Nhà nước Nội dung của các chứcnăng này là định hướng sự phát triển; trực tiếp đầu tư vào một số lĩnh vực

để dẫn dắt nỗ lực phát triển theo định hướng XHCN Thiết lập khuôn khổpháp luật có hệ thống cho giới kinh doanh làm ăn phát đạt; khắc phục mặthạn chế, mặt tiêu cực của cơ chế thị trường; phân phối và phân phối lại thu

Trang 30

nhập quốc dân, quản lý tài sản công và kiểm kê, kiểm soát toàn bộ hoạtđộng kinh tế - xã hội.

Tóm lại, với mục tiêu tăng trưởng và phát triển nền kinh tế quốc

dân không chỉ là hiệu quả kinh tế mà còn là hiệu quả chính trị - xã hội, vănhóa và môi trường Trong đó, Nhà nước không thể không can thiệp vào nềnkinh tế, nền kinh tế quốc dân là một hệ thống kinh tế, hơn nữa là một hệthống kinh tế - xã hội, để hệ thống này tồn tại và phát triển cần phải điềukhiển Hệ thống điều khiển nền kinh tế quốc dân là Nhà nước

Việc Nhà nước kiểm soát với khu vực tư nhân thường mang ý nghĩatạo điều kiện thuận lợi cho khu vực này phát triển, chẳng hạn bảo hộ côngnghiệp trong nước, khuyến khích các nhà đầu tư mở rộng đầu tư và tạo môitrường tài chính thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp

1.2 NHÀ NƯỚC DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO VỚI SỰ QUẢN LÝ KINH TẾ

1.2.1 Nhà nước Dân chủ nhân dân Lào với sự quản lý kinh tế trước đổi mới

Kháng chiến thành công, nước CHDCND Lào ra đời, năm 1975,nhân dân các bộ tộc Lào đoàn kết xung quanh Mặt trận Lào xây dựng tổquốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, xây dựng và bảo vệ chế độDCND Chế độ chính trị ưu việt được thiết lập trong hoàn cảnh kinh tế - xãhội lạc hậu, kém phát triển, bị kiệt quệ do chiến tranh kéo dài tàn phá, kẻthù phá hoại trên mọi lĩnh vực

Cơ sở kinh tế là sản xuất nông nghiệp, lực lượng sản xuất và quan

hệ sản xuất mang tính chất tự nhiên, tự cấp tự túc Địa bàn miền núi gồmcác tỉnh phía Bắc và phía Đông sản xuất và đời sống hoàn toàn tự nhiên Ởvùng đồng bằng, các thành phố, thị xã, trục đường giao thông, ven các chi

Trang 31

nhánh sông và ven sông Mê Kông sản xuất phát triển hơn Sản xuất nôngnghiệp trên ruộng nước và một phần ở ruộng rẫy, ở đây đã có một số vùngchuyên canh trồng các loại cây công nghiệp trên cao nguyên, sản phẩm câycông nghiệp để xuất khẩu, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.Sản xuất hàng hóa xuất hiện và đang phát triển Ngoài một số cơ sở vừa vàlớn hầu hết sản phẩm có tính hàng hóa là của hộ gia đình và công xưởngnhỏ của tư nhân Nhìn chung, sản xuất nông nghiệp với phương thức canhtác tiểu nông, sản phẩm phần lớn để tự cấp tự túc, nông nghiệp trong nôngthôn Lào chưa có sự phân công rõ rệt.

Trong lĩnh vực công nghiệp chịu ảnh hưởng trực tiếp của chiến tranh

và kinh tế nông nghiệp tự cấp tự túc nên kém phát triển, công nghiệp Làorất nhỏ bé, phiến diện, chủ yếu thuộc sở hữu tư nhân, bị chiến tranh kìmhãm Tư sản dân tộc còn non yếu Xét về phương diện tư bản và nguyên liệungành công nghiệp đã hoàn toàn phụ thuộc vào nước ngoài Đa số các mặthàng công nghiệp và các mặt hàng tiêu dùng phải nhập khẩu Cơ cấu công

- nông nghiệp vẫn chưa hình thành, bởi vậy công nghiệp cũng bị đình trệ

Giai cấp công nhân và nông dân lao động trưởng thành trong đấutranh cách mạng giải phóng dân tộc là lực lượng cơ bản của cách mạng.Trong cơ cấu giai cấp nông dân ở địa bàn nông thôn chưa có sự phân định

bộ phận theo ngành nghề Đất rộng người thưa, hầu hết nông dân đều córuộng đất canh tác, sự chiếm hữu tập trung đất đai quy mô lớn chưa diễn rasâu rộng, phần lớn đất đai là đất công cộng

Trong chiến tranh, Mỹ đã ném xuống Lào 3,5 triệu tấn bom đạnnhằm phá hủy kết cấu hạ tầng xã hội và kinh tế của những khu vực PathếtLào chiếm giữ Khoảng 20% diện tích canh tác bị hoang phế Hàng chụcvạn trâu bò bị giết hại và thất lạc Nhiều hệ thống kênh mương bị chiếntranh phá hủy Hầu hết các thị xã, thị trấn, trường học, bệnh viện, bệnh xá

và 40% làng bản trong vùng giải phóng bị bom đạn triệt phá [44, 67-68]

Trang 32

Để khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển lực lượng sản xuất

ổn định và tổ chức thống nhất kinh tế - xã hội trong cả nước, không thểkhông củng cố quan hệ sản xuất Trong thời gian đầu, Nhà nước Lào đãxây dựng một nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung theo kiểu nền kinh tế

"hiện vật" Trong đó, Nhà nước đóng vai trò quản lý và kiểm soát trựctiếp nền kinh tế Trong một đất nước, hệ thống giao thông liên lạc kémphát triển, dân chúng sống rải rác trong các thung lũng nhỏ Trong thờigian này, thực thi một nền kinh tế chiến tranh tập trung hóa cao độ trênviệc thu mua bắt buộc với giá chỉ đạo nhằm khắc phục những tàn phácủa cuộc chiến tranh Cơ chế quản lý là một hệ thống những nguyên tắc,hình thức, phương pháp quản lý trong những giai đoạn phát triển khácnhau của nền sản xuất xã hội Mỗi tỉnh phải tự cung tự cấp đủ lươngthực Hình thức quản lý là cấp phát, giao nộp, đó là một nền kinh tế hiệnvật, còn hạch toán kinh tế chỉ là hình thức Phương pháp quản lý là dựavào mệnh lệnh hành chính là chủ yếu, các phương pháp khác ít được ápdụng Ra sức xây dựng và phát triển phong trào hợp tác hóa, tập trungnông dân vào các tổ, đội sản xuất theo tinh thần "xa ma khi" (đoàn kết)truyền thống Sau đó tập hợp nông dân vào các tổ đội công với cácngành nghề khác nhau; tiến tới hình thành các hợp tác xã nông nghiệp sửdụng công cụ lao động, gia súc cày kéo chung hợp nhất mọi tư liệu sảnxuất gồm công cụ lao động, sức kéo, đất đai của các thành viên hợp tácchỉ đạo theo nguyên tắc tự nguyện dân chủ từ thấp đến cao

Trong hoàn cảnh kinh tế rất yếu kém, công nghiệp mới bắt đầu hìnhthành, còn thiếu nhiều ngành quan trọng, thiết yếu - sản xuất hàng hóa chưaphát triển, thị trường trong nước bị tư bản nước ngoài thao túng, thị trườngthống nhất chưa hình thành Đặc biệt, khi tiến hành cải cách kinh tế xã

Trang 33

hội, xây dựng chế độ xã hội mới, chính quyền cách mạng thiếu vốn, thiếucán bộ quản lý, thiếu kỹ thuật và kinh nghiệm kinh doanh.

Do xuất phát của nền kinh tế quá thấp và hậu quả do chiến tranh đểlại khá nặng nề, nền kinh tế Lào mang nặng tính tự túc, tự cấp, các yếu tốhàng hóa chưa phát triển, các yếu tố thị trường mới sơ khai, thiếu đồng bộ,tăng trưởng rất chậm Hơn nữa, trong nhiều năm đã xây dựng nền kinh tếrập khuôn, máy móc quá độ lên CNXH, thiết lập ngay chế độ công hữu đốivới tư liệu sản xuất, tổ chức bộ máy đồ sộ và ngày càng phình to để điềuhành nền kinh tế Xây dựng mô hình kinh tế kế hoạch hóa, tập trung quanliêu bao cấp, coi nhẹ cơ chế thị trường, thực hiện "ngăn sông, cấm chợ" Cơchế tập trung, quan liêu bao cấp đã tạo ra sự ngăn cách giữa thị trường có tổchức của Nhà nước và thị trường tự do, từ đó hình thành nên hai hệ thốnggiá riêng biệt là giá chỉ đạo của Nhà nước và giá thị trường tự do

Nhà nước trực tiếp điều khiển các hoạt động kinh tế quan trọngthông qua các kế hoạch sản xuất và phân phối, thông qua các hệ thống giá

cả, tỷ giá do Nhà nước quy định Trong nền kinh tế chỉ huy đó, toàn bộ nềnkinh tế quốc dân được xem như một cỗ máy khổng lồ, trong đó Nhà nước

là người trực tiếp điều khiển hoạt động của cỗ máy, còn các chủ thể kinh tếchỉ là người thừa hành mệnh lệnh của Nhà nước Nhà nước trực tiếp làmkinh tế và quản lý kinh tế chủ yếu bằng công cụ hành chính, mệnh lệnh.Trong cơ chế tập trung, quan liêu, mặc dù các công cụ đòn bẩy như thuế,lãi xuất, giá, tỷ giá, tiền lương đều được sử dụng nhưng chúng khôngphát huy được vai trò đòn bẩy của mình Trong cơ chế đó, khi mà Nhànước thường xuyên can thiệp vào hoạt động kinh tế thì vai trò của luật phápchưa được coi trọng đúng mức

Trang 34

Trong một thời gian dài, người ta quan niệm rằng CNXH đối lậpvới kinh tế hàng hóa, kế hoạch đối lập với thị trường và thị trường chỉ gắnliền với CNTB Thị trường trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêubao cấp là một thứ thị trường méo mó bởi có sự phân biệt một cách duy ýchí giữa cái gọi là "thị trường có tổ chức" và "thị trường tự do" Trong thịtrường méo mó đó, các yếu tố cấu thành thị trường như quan hệ tiền - hàng,quan hệ mua - bán, quan hệ cung - cầu, quan hệ hàng hóa, môi trường hoạtđộng, động lực vận động và các quy luật vận hành của nó đều bị cơ chế cũ

"giao nộp cấp phát, mua theo lệnh, bán theo lệnh " làm sai lệch, khôngcòn là những nhân tố khách quan nữa Mô hình kinh tế kế hoạch hóa tậptrung không thừa nhận vai trò điều tiết của thị trường, cho rằng thị trường

là phạm trù riêng của CNTB, từ đó chấp nhận sản xuất hàng hóa mà khôngthừa nhận vai trò của thị trường Thực ra, các phạm trù hàng hóa, thị trườngphản ánh những quan hệ kinh tế chung của các phương thức sản xuất gắnliền với sản xuất hoạt động, tức là sản xuất để trao đổi Thị trường và kinh

tế thị trường là thành tựu chung của văn minh nhân loại Thị trường cótrước CNTB, trong CNTB và cả sau CNTB

Cơ sở kinh tế khách quan của sự hình thành và phát triển thị trường

và kinh tế thị trường cũng là cơ sở kinh tế khách quan của sự hình thành vàphát triển kinh tế hàng hóa; đó là sự phân công lao động xã hội và chế độ

sở hữu khác nhau Do đó, kinh tế thị trường, kinh tế hàng hóa không chỉ cótrong CNTB, mà còn tồn tại trong thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH (vìcòn những hình thức sở hữu tư liệu sản xuất tư nhân khác nhau cùng tồn tạiđan xen với các hình thức sở hữu quốc doanh và tập thể) và cũng tồn tại cảtrong CNXH (vì còn hai hình thức sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất)

Mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp không thừanhận vai trò điều tiết của thị trường, không phát huy được tính sáng tạo và năng

Trang 35

động của con người mà chỉ làm cho họ thụ động, chờ đợi, hưởng thụ, khônglàm việc hết sức mình, do đó nền kinh tế của đất nước đã trở nên trì trệ

Đảng NDCM Lào đã nhận thức được những sai lầm trong việc xâydựng mô hình kinh tế như vậy, cho nên mới đặt ra những vấn đề cần phảigiải quyết và sớm có chủ trương xóa bỏ cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp,chuyển sang xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo

cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN Từnăm 1979, Nhà nước DCND Lào đã nhấn mạnh đến các cải cách theo hướngthị trường và chú trọng tới việc phục hồi vai trò các làng xóm, cho đến năm

1986, đã chính thức thông qua phương hướng quản lý theo cơ chế mới, cơ chếthị trường có sự quản lý của Nhà nước, định hướng từng bước đi lên CNXH

1.2.2 Nhà nước dân chủ nhân dân Lào với sự quản lý kinh tế trong thời kỳ đổi mới

CHDCND Lào đang phấn đấu thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế

- xã hội theo định hướng XHCN Quá trình phát triển được xem như là mộtchuỗi các giai đoạn tiếp nối nhau mà tất cả các nước đều phải đi qua

Nói đến phát triển kinh tế là nói đến sự lớn lên về mọi mặt của nềnkinh tế trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm), bao gồm sự tăng thêmquy mô giá trị sản lượng (sự tăng trưởng) và sự tiến bộ trong cơ cấu xã hội

Phát triển kinh tế là một điều kiện cần thiết để cải thiện chất lượngcuộc sống, nếu không có những tiến bộ về kinh tế liên tục và lâu bền chotừng cá nhân cũng như toàn xã hội thì việc hiện thực hóa tiềm năng củacon người sẽ không tìm được Do vậy, do tăng mức thu nhập bình quânđầu người xóa bỏ nghèo đói tuyệt đối tạo ra những cơ hội tốt hơn vềcông ăn việc làm và giảm sự bất bình đẳng và thu nhập là những điềukiện cần thiết

Trang 36

Đối với CHDCND Lào là một nước có nền kinh tế kém phát triển,năng suất lao động chưa cao, thu nhập quốc dân còn thấp, mức sống củangười dân chưa được cải thiện nhiều, thiếu các mặt hàng thiết yếu và thiếucác dịch vụ giáo dục, y tế và dịch vụ xã hội khác, cơ sở hạ tầng cũng thiếuthốn khó khăn Để giải quyết những khó khăn yếu kém đó Đảng NDCMLào đưa ra chủ trương đường lối đổi mới toàn diện là hoàn toàn đúng vớitình hình và điều kiện khách quan của đất nước cũng như nhiều nước trongkhu vực và trên thế giới nhất là các nước XHCN qua đổi mới đã thu đượcnhững thành quả to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội đưa nền kinh tế - xãhội lên tầm cao mới như kinh nghiệm của Nhà nước XHCN Việt Namtrong đổi mới kinh tế

Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12 - 1986)

đã đề ra đường lối đổi mới kinh tế - xã hội Đây thực sự là một cuộc cáchmạng sâu sắc được tiến hành đồng thời trên ba lĩnh vực

Một là, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh

tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Hai là, chuyển từ nền kinh tế chủ yếu là kinh tế quốc doanh và kinh

tế tập thể sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, thực hiện tự do kinhdoanh theo pháp luật

Ba là, chuyển từ nền kinh tế được xây dựng theo hướng có cơ cấu

hoàn chỉnh, ngoại thương chủ yếu với Liên Xô (cũ) và các nước xã hội chủnghĩa khác sang một nền kinh tế mới, đa dạng hóa và đa phương hóa quan

hệ kinh tế đối ngoại, từng bước hội nhập với nền kinh tế khu vực và trênthế giới [12, 90-91]

Để thực hiện đường lối đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựachọn chiến lược phát triển hợp lý Nghiên cứu các nền kinh tế thị trường ởcác quốc gia đang phát triển, cho thấy có rất nhiều loại hình chiến lược pháttriển rất khác nhau Có chiến lược, chủ trương phát triển công nghiệp thay

Trang 37

thế nhập khẩu, lại có phát triển công nghiệp hướng vào xuất khẩu, hay xuhướng hỗn hợp cả hai chiến lược trên đây là chiến lược hội nhập vào thịtrường thế giới Trong bối cảnh quốc tế và khu vực, căn cứ vào điều kiện

cụ thể của đất nước: Một là, Việt Nam đã lựa chọn chiến lược công nghiệp

hóa hướng về xuất khẩu là chính sách để phát triển nhanh, đồng thời thaythế hàng nhập khẩu bằng những hàng hóa - dịch vụ trong nước tự cung ứng

có hiệu quả cao hơn

Hai là, quan hệ giữa tập trung vào những ngành và vùng trọng điểm

đồng thời phát triển các vùng trong cả nước, trong giai đoạn trước mắt, cần ưutiên ngành và vùng trọng điểm nhằm đạt hiệu quả đầu tư cao và thu hồi vốn nhanh

Ba là, quan hệ giữa xây dựng các công trình quy mô lớn, quy mô

vừa và nhỏ trong điều kiện tổng số vốn có hạn

Bốn là, quan hệ giữa phát triển công nghệ tiên tiến và công nghệ

trung gian, xử lý thỏa đáng những vấn đề sở hữu trí tuệ, vai trò của thôngtin quản lý và chất xám trong nền kinh tế hiện đại

Năm là, trong chiến lược phát triển ngành cần tập trung chú ý đến

nông nghiệp trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa đất nước.Kinh nghiệm của các nước ASEAN và nhiều nước chứng tỏ nông nghiệp

có vị trí rất quan trọng trong việc ổn định đời sống nhân dân

Sáu là, đi đôi với việc xác định chiến lược lâu dài, nhà nước phải

xây dựng các chương trình, kế hoạch cho từng thời kỳ Nội dung kế hoạch

và phương thức kế hoạch hóa của nhà nước trong mô hình kinh tế mớiđược tổ chức theo hướng:

- Kế hoạch hóa mang tính định hướng

- Kế hoạch hóa không phải chỉ giao chỉ tiêu để thực hiện mà còn làđiều phối sự thực hiện theo dự án [12, 108-109]

Xuất phát từ nội dung chiến lược và đặc điểm của đất nước nhưkinh nghiệm của Việt Nam, Nhà nước phải đóng vai trò:

Trang 38

Một là, Nhà nước sử dụng quyền lực kinh tế - chính trị của mình để

tiếp tục quá trình tự do giá cả, thương mại hóa nền kinh tế với những nộidung cơ bản là:

- Xóa bỏ tình trạng độc quyền và xây dựng các đạo luật chống độcquyền bằng cách tạo điều kiện cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp

- Tạo ra các điều kiện, các tiền đề kinh tế - pháp lý cho sự hoạtđộng của các thị trường vốn, thị trường chứng khoán, thị trường lao động

Hai là, Nhà nước là người đảm nhận vai trò thiết lập và duy trì

quyền sở hữu các nguồn lực kinh tế theo hướng xác định rõ chủ sở hữu đíchthực của công dân, của doanh nghiệp tập thể tư nhân và Nhà nước Cụ thể là:

Giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho nông dân với các quyền

cụ thể như thừa kế, thế chấp, cho thuê chuyển đổi và chuyển nhượng

Cho thuê hoặc đấu thầu các tài sản

Cho nước ngoài thuê đất và các tài sản phục vụ sản xuất kinh doanh

Ba là, Nhà nước đóng vai trò "bà đỡ" cho sự ra đời của cơ chế thị

trường, các thành phần kinh tế, hướng dẫn các doanh nghiệp thuộc cácthành phần kinh tế kinh doanh có hiệu quả Để hoàn thành chức năng "bàđỡ" hướng dẫn các nỗ lực của thị trường, Nhà nước cần phải:

Xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật tạo môi trường đầu tư hấp dẫncho các doanh nghiệp

Xây dựng các khuôn khổ pháp lý sao cho thỏa mãn các yêu cầu:một mặt các doanh nghiệp tự do kinh doanh, mặt khác Nhà nước vẫn có thểkiểm soát nghĩa vụ của các doanh nghiệp trước Nhà nước

Ban hành các chính sách kinh tế hấp dẫn để khuyến khích cácdoanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư mở rộng sản xuất

Cải tổ bộ máy hành chính sao cho gọn nhẹ, năng động, đơn giảnhóa các thủ tục hành chính [39, 129-130]

Trang 39

Xuất phát từ thực trạng kinh tế - xã hội của đất nước và vận dụngkinh nghiệm đổi mới kinh tế của Nhà nước XHCN Việt Nam ĐảngNDCM Lào đã đề ra chủ trương đường lối đổi mới toàn diện vào năm

1986 Theo phương hướng đó các hội nghị Trung ương lần thứ V, VI, VIIkhóa IV đã cụ thể hóa và phát triển những luận điểm mới nhằm biến đườnglối chủ trương chính sách của Đảng thành hiện thực Nội dung cơ bản củađường lối cải tạo và phát triển nền kinh tế của Đảng và Chính phủ Làođược thể hiện ở chính sách cơ cấu kinh tế Nội dung cơ bản của chính sách

cơ cấu kinh tế là chuyển từ cơ cấu kinh tế tự túc tự cấp sang kinh tế sảnxuất hàng hóa Quá trình đổi mới kinh tế tập trung vào đổi mới cơ cấu kinh

tế nhằm cải biến nền kinh tế tự nhiên thành kinh tế hàng hóa; đổi mới cơchế quản lý nhằm xóa bỏ cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp chuyển sang

cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước; đổi mới chính sách đốingoại nhằm mở rộng quan hệ hợp tác với nước ngoài, đa dạng hóa, đaphương hóa

Đối với cơ cấu kinh tế: Hội nghị Trung ương Đảng NDCM Lào lầnthứ 5 khóa IV năm 1988 đã xác định các thành phần kinh tế ở Lào baogồm: 1- Kinh tế tự nhiên và nửa tự nhiên, 2- Kinh tế hàng hóa nhỏ, 3- Kinh

tế tư bản tư nhân, 4- Kinh tế tư bản nhà nước (công tư hợp doanh), 5- Kinh

tế XHCN (quốc doanh và tập thể) Các thành phần kinh tế này thể hiệntrình độ của lực lượng sản xuất từ thấp đến cao Trong đó thành phần rộngnhất và thấp nhất là kinh tế tự nhiên và nửa tự nhiên Chính sách kinh tếcủa Lào là sử dụng thực sự và lâu dài cơ cấu nhiều thành phần, mở rộngliên doanh liên kết hợp tác giữa các thành phần kinh tế, các ngành kinh tếvới nhau, coi kinh tế hộ gia đình nông dân là chủ thể chuyển biến kinh tế tựnhiên Sự thay đổi này đã tạo ra những khả năng phát triển kinh tế hànghóa, những tháo gỡ về cơ chế quản lý, kinh doanh

Trang 40

Lào là một nước nông nghiệp, đại bộ phận dân cư là nông dân.Đảng NDCM Lào định hướng phát triển kinh tế từ nông - lâm nghiệp bắtđầu từ nông dân Chính sách cơ cấu các thành phần kinh tế bắt đầu từ hộnông dân đã khôi phục và phát triển kinh tế nông nghiệp, trong đó có nhiềungành nghề thủ công truyền thống, chăn nuôi và gia công chế biến Các cơ

sở kinh tế cá thể, hộ gia đình nông dân vừa được coi là một đơn vị kinh tếđộc lập, đồng thời cũng được quyền tham gia vào một hay nhiều cơ sở sảnxuất kinh doanh ở nhiều ngành nghề và lĩnh vực khác nhau theo nguyên tắc tựnguyện, quản lý dân chủ, lực lượng lao động được tập hợp và mở rộng Cơcấu sản xuất từng bước được cải tạo biến đổi Sự phân công lao động xã hội

và cải tiến kỹ thuật đang trong quá trình chuyển đổi Chính sách nông nghiệpphát triển theo hướng toàn diện cả về cơ cấu vùng, cơ cấu ngành và quy mô

Các quyết sách của Đảng và chính phủ Lào từ sau Đại hội lần thứ IVđến nay tập trung hơn cho sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xâydựng kết cấu hạ tầng, điều chỉnh từng bước cơ cấu kinh tế quốc doanh vớinhiều hình thức thích hợp, tập trung làm dịch vụ phục vụ sản xuất nông -lâm nghiệp

Cơ cấu đầu tư cũng được bố trí lại nhằm tập trung đầu tư xây dựngmột số vùng trọng điểm sản xuất hàng hóa, vùng lương thực thực phẩm vàcây công nghiệp, vùng định canh, định cư, vùng hậu phương chiến lược vàvùng biên giới xung yếu Vốn đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế ngành cũngđược điều chỉnh Ngoài một số công trình trọng điểm có ý nghĩa chiếnlược, Lào tập trung xây dựng quy mô vừa và nhỏ, thích hợp với điều kiệncủa Lào, nhanh chóng sử dụng và thu hiệu quả

Phát triển lực lượng sản xuất là vấn đề trọng tâm trong chính sách

cơ cấu kinh tế Trên cơ sở định hướng chiến lược của Nhà nước, chínhsách kinh tế phát triển sản xuất hàng hóa hình thành từng bước cơ cấukinh tế mới phù hợp với sự vận động của nền kinh tế hàng hóa nhiều

Ngày đăng: 19/12/2016, 15:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Vũ Đình Bách - Đổi mới chính sách và cơ chế quản lý kinh tế bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế bền vững. Nxb CTQG, Hà Nội 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới chính sách và cơ chế quản lý kinh tế bảo đảmsự tăng trưởng kinh tế bền vững
Nhà XB: Nxb CTQG
[2] Nguyễn Đức Bách - Một số vấn đề về định hướng XHCN ở Việt Nam.Nxb Lao động, Hà Nội 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về định hướng XHCN ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Lao động
[3] Trương Văn Bân - Bàn về cải cách toàn diện doanh nghiệp nhà nước.Nxb CTQG, Hà Nội 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về cải cách toàn diện doanh nghiệp nhà nước
Nhà XB: Nxb CTQG
[4] Nguyễn Văn Bích - Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam. Nxb CTQG, Hà Nội 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triểnkinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
[5] Cay Xỏn Phôm Vi Hản - Một số vấn đề quản lý kinh tế hiện nay ở Lào.Nxb Sự thật, Hà Nội 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề quản lý kinh tế hiện nay ở Lào
Nhà XB: Nxb Sự thật
[6] Cay Xỏn Phôm Vi Hản - Người con của nhân dân. Nxb CTQG, Hà Nội 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người con của nhân dân
Nhà XB: Nxb CTQG
[7] Chính sách cơ cấu vùng, kinh nghiệm quốc tế và sự vận động ở Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách cơ cấu vùng, kinh nghiệm quốc tế và sự vận động ở ViệtNam
Nhà XB: Nxb CTQG
[10] Nguyễn Tĩnh Gia - Xu hướng biến động của nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam. Nxb CTQG, Hà Nội 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu hướng biến động của nền kinh tế nhiều thànhphần ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
[11] Dương Phú Hiệp - Những thay đổi về văn hóa xã hội trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở một số nước châu Á. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thay đổi về văn hóa xã hội trong quá trìnhchuyển sang nền kinh tế thị trường ở một số nước châu Á
Nhà XB: Nxb Khoahọc xã hội
[12] Nguyễn Duy Hùng - Vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường. Kinh nghiệm của các nước ASEAN. Nxb CTQG, Hà Nội 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước trong nền kinhtế thị trường. Kinh nghiệm của các nước ASEAN
Nhà XB: Nxb CTQG
[13] Nguyễn Duy Hùng - Vai trò Nhà nước trong sự phát triển kinh tế ở Đài Loan. Tạp chí Cộng sản số 7 tháng 7-1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò Nhà nước trong sự phát triển kinh tế ởĐài Loan
[14] Ngọc Kim - Cải cách nền hành chính quốc gia, quan điểm và giải pháp.Tạp chí Cộng sản số 3 tháng 2-1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách nền hành chính quốc gia, quan điểm và giải pháp
[15] V.I. Lênin - Toàn tập, tập 33, Nhà nước và cách mạng. Nxb Tiến bộ, Matxcơva 1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập", tập 33, "Nhà nước và cách mạng
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
[16] V.I. Lênin - Toàn tập, tập 39. Nxb Tiến bộ, Matxcơva 1977 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
[17] V.I. Lênin - Toàn tập, tập 42. Nxb Tiến bộ, Matxcơva 1977 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
[18] V.I. Lênin - Toàn tập, tập 44. Nxb Tiến bộ, Matxcơva 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
[19] Võ Đại Lược - Vai trò của Nhà nước trong phát triển kinh tế - Kinh nghiệm Nhật Bản, ASEAN và Việt Nam. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của Nhà nước trong phát triển kinh tế - Kinhnghiệm Nhật Bản, ASEAN và Việt Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
[22] C. Mác - Ph.Ăngghen - Toàn tập, tập 3. Nxb CTQG, Hà Nội 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb CTQG
[23] C. Mác - Ph.Ăngghen - Toàn tập, tập 4. Nxb CTQG, Hà Nội 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb CTQG
[24] C. Mác - Ph.Ăngghen - Toàn tập, tập 16. Nxb CTQG, Hà Nội 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb CTQG

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w