Ngày nay, thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang có những bước phát triển mạnh mẽ, cùng với sự phát triển các ngành công nghiệp nặng, vừa và nhẹ thì các làng nghề nông thôn cũng đóng góp một vai trò quan trọng. Vượt lên trên những nhu cầu nông nghiệp, các làng nghề điển hình ở đồng bằng sông Hồng đã sản xuất ra nhiều mặt hàng với chất lượng cao hơn, không chỉ có giá trị trong nước mà còn có thể sánh ngang với các mặt hàng thủ công trên thế giới. Phần lớn các làng nghề chưa có quy hoạch hợp lý, quy mô sản xuất nhỏ, phân tán, đan xen với khu dân cư, công nghệ lạc hậu và thiếu ổn định, đã và đang gây ra những vấn đề môi trường trầm trọng, gây ô nhiễm môi trường nước, môi trường không khí và môi trường đất cũng như tác động trực tiếp tới sức khỏe của dân cư tại làng nghề Là một trong những làng nghề truyền thống vốn có từ lâu đời của thành phố Hà Nội, làng nghề sản xuất bún Phú Đô cũng đang phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Từ trước tới nay, nước thải của làng nghề này vẫn được xả trực tiếp xuống mương chung của làng mà không qua bất kì một hệ thống xử lý nào. Vì vậy nước thải của làng nghề bún Phú Đô luôn trong tình trạng bị ô nhiễm hữu cơ nặng nề với nồng độ ni tơ, phốt pho và hàm lượng BOD5, COD trong nước thải rất lớn. Với đặc thù sản xuất, chất thải chứa nhiều chất hữu cơ, lại không được dọn dẹp thường xuyên khu sản xuất và hệ thống tiêu thoát nước nên mùi trong không khí ở đây rất khó chịu, mùi chua của gạo ngâm lâu đã bị lên men. Cơ sở hạ tầng ở đây cũng đã cũ, không theo kịp được với tốc độ phát triển của làng nghề Phú Đô. Vì vậy rất cần thiết ciệc quy hoạch một cách tổng thể để giảm thiểu các tác động xấu tới môi trường mà làng nghề bún Phú Đô mang lại. Đó là lí do mà nhóm chúng tôi thực hiện đề tài: “Quy hoạch môi trường làng nghề bún Phú Đô giai đoạn 20162021”
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
Tạ Ngọc Nam Nguyễn Trung Đức Lớp ĐH3QM3
Giảng viên hướng dẫn: Ts.Phạm Thị Mai Thảo
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN-KINH TẾ XÃ HỘI 2
I Điều kiện tự nhiên: 2
1 Vị trí địa lý: 2
2 Địa hình: 2
3 Khí hậu: 2
4 Thủy văn: 3
5 Thổ nhưỡng: 3
II Hiện trạng phát triển kinh tế xã hội: 3
1 Dân số và mức sống: 3
2 Văn hóa xã hội: 3
3 Hiện trạng phát triển kinh tế: 4
III Những thuận lợi và hạn chế trong quá trình phát triển: 4
1 Thuận lợi: 4
2 Khó khăn 5
CHƯƠNG Đ NH GI HIỆN TRẠNG VÀ DỰ O DI N IẾN TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG 10
I Liệt kê các vấn đề môi trường 10
II Các vấn đề môi trường cấp bách: 18
1 Ô nhiễm môi trường nước: 18
2 Hạ tầng kỹ thuật: 18
3 Hiện trạng quản lý môi trường làng nghề 19
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT QUY HOẠCH, GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 2016-2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 3 20
A Mục tiêu chung: 20
B Các giải pháp cho vấn đề môi trường cấp bách 20
3.1 Nâng cao hạ tầng kỹ thuật: 20
3.2 Ô nhiễm môi trường nước: 24
3.3 Công tác quản lý 26
CHƯƠNG TR CH NHIỆM VÀ PH N CÔNG THỰC HIỆN QUY HOẠCH MÔI TRƯỜNG 29
Trang 3CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 30
I KẾT UẬN 30
II KIẾN NGHỊ 30
TÀI IỆU THAM KHẢO 30
Trang 4MỞ ĐẦU
Ngày nay, thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang có những bước phát triển mạnh mẽ, cùng với sự phát triển các ngành công nghiệp nặng, vừa và nhẹ thì các làng nghề nông thôn cũng đóng góp một vai trò quan trọng Vượt lên trên những nhu cầu nông nghiệp, các làng nghề điển hình ở đồng bằng sông Hồng đã sản xuất ra nhiều mặt hàng với chất lượng cao hơn, không chỉ có giá trị trong nước mà còn có thể sánh ngang với các mặt hàng thủ công trên thế giới
Phần lớn các làng nghề chưa có quy hoạch hợp lý, quy mô sản xuất nhỏ, phân tán, đan xen với khu dân cư, công nghệ lạc hậu và thiếu ổn định, đã và đang gây ra những vấn đề môi trường trầm trọng, gây ô nhiễm môi trường nước, môi trường không khí và môi trường đất cũng như tác động trực tiếp tới sức khỏe của dân cư tại làng nghề
Là một trong những làng nghề truyền thống vốn có từ lâu đời của thành phố Hà Nội, làng nghề sản xuất bún Phú Đô cũng đang phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Từ trước tới nay, nước thải của làng nghề này vẫn được xả trực tiếp xuống mương chung của làng mà không qua bất kì một hệ thống xử lý nào Vì vậy nước thải của làng nghề bún Phú Đô luôn trong tình trạng bị ô nhiễm hữu cơ nặng nề với nồng độ ni tơ, phốt pho và hàm lượng BOD5, COD trong nước thải rất lớn Với đặc thù sản xuất, chất thải chứa nhiều chất hữu cơ, lại không được dọn dẹp thường xuyên khu sản xuất và hệ thống tiêu thoát nước nên mùi trong không khí ở đây rất khó chịu, mùi chua của gạo ngâm lâu đã bị lên men Cơ sở hạ tầng ở đây cũng đã cũ, không theo kịp được với tốc độ phát triển của làng nghề Phú Đô
Vì vậy rất cần thiết ciệc quy hoạch một cách tổng thể để giảm thiểu các tác động xấu tới môi trường mà làng nghề bún Phú Đô mang lại Đó là lí do mà nhóm chúng tôi
thực hiện đề tài: “Quy hoạch môi trường làng nghề bún Phú Đô giai đoạn
2016-2021”
Trang 5CHƯƠNG I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN-KINH TẾ XÃ HỘI
I Điều kiện tự nhiên:
1 Vị trí địa lý
Làng bún Phú Đô thuộc phường Mễ Trì, quận Nam Từ Liêm, ở cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 10km về phía Tây Nam
Vị trí ranh giới cụ thể:
Phía Bắc giáp phường Mỹ Đình
Phía Nam giáp đường cao tốc Đại Lộ Thăng Long
Phía Đông giáp làng Mễ Trì Thượng
Phía Tây giáp sông Nhuệ
2 Địa hình:
Phú Đô nằm trong khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng với địa hình tương đối bằng phẳng, bao quanh là sông Nhuệ Tại đây không bị hạn hán khi nắng kéo dài và không bị úng lụt lâu ngày khi có mưa lớn, thuận lợi cho việc xây dựng các cơ sở cho sản xuất và cư trú
3 Khí hậu
Làng Phú Đô quanh nǎm tiếp nhận được lượng bức xạ mặt trời rất dồi dào và có nhiệt độ cao Lượng bức xạ tổng cộng trung bình hàng nǎm ở Hà Nội là 122,8 kcal/cm² với 1641 giờ nắng và nhiệt độ không khí trung bình hàng năm là 23,6ºC, cao nhất là tháng 6 (29,8ºC), thấp nhất là tháng 1 (17,2ºC) Hà Nội có độ ẩm và lượng mưa khá lớn
Độ ẩm trung bình cả năm đạt 60%, tháng cao nhất có thể lên tới 90%, tháng thấp nhất là 45% Lượng mưa trung bình năm là 1800 – 1900 mm/ năm, tập trung vào các
Trang 6tháng 6,7,8 Điều kiện khí hậu ở đây khá thuận lợi cho việc sản xuất chế biến nông sản
và phát triển nghề trồng lúa, cây rau màu cũng sấy sản phẩm
4 Thủy văn:
Bao quanh phía Bắc của làng Phú Đô có một con mương tiêu nước vàphía Tây giáp với sông Nhuệ nên rất thuận lợi cho việc tưới tiêu nông nghiệp và điều hòa khí hậu địa phương Hệ thống ao hồ trước đây làm nhiệm vụ cung cấp nước sinh hoạt và sản xuất cho cả khu vực Hệ thống kênh mương là nơi dẫn dòng chất thải ra sông Nhuệ Tuy nhiên hệ thống tiêu nước thải cũng như hệ thống thoát nước chống úng hiện tại không đáp ứng được tốc độ phát triển nên thường xảy ra hiện tượng ngập úng
5 Thổ nhƣỡng:
Tại Phú Đô, đất đai được hình thành từ phù sa của sông Hồng và sông Nhuệ nên chủ yếu là đất phù sa thích hợp cho canh tác nông nghiệp như trồng lúa và các loại hoa màu
Tổng diện tích đất tự nhiên của làng nghề là 258,6 ha, trong đó: Đất nông nghiệp: 164,6 ha, chiếm 63.6% diện tích đất tự nhiên
Đất ở: 94, chiếm 36,4% diện tích đất tự nhiên
II Hiện trạng phát triển kinh tế xã hội
1 Dân số và mức sống
Phường Phú Đô có diện tích 239 ha, dân số năm 2013 là 13.856 người với mật độ
5797 người/km2 Phường Phú Đô được thành lập ngày 1 tháng 04 năm 2014 trên cơ sở chia xã Mễ Trì cũ thành 2 phường: Mễ Trì và Phú Đô Trung bình mỗi hộ có 4,5 người trong đó số hộ làm bún chiếm 50% còn lại 10% số hộ sản xuất phục vụ làng nghề như: sản xuất công cụ làm bún (cơ khí), xay xát gạo, 20% số hộ làm dịch vụ thương mại cho nhân dân trong phường và các nơi khác đến, 20% còn lại làm các nghề khác
2 Văn hóa xã hội
b Y tế:
Phường Phú Đô đang xây dựng trạm y tế với cơ sở vật chất, hạ tầng y tế hiện đại không chỉ đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân địa phương mà còn thể hiện sự quan tâm sát sao của Quận ủy, HĐND, UBND quận Nam Từ Liêm đối với lĩnh vực y tế Kinh phí đầu tư là 14 tỉ đồng với tổng diện tích là 2.066m2, diện tích xây dựng là 601m2, diện tích sàn xây dựng là 1.259m2
Ngày 06/6/2016 dự án được chính thức bàn giao và đưa vào sử dụng đã được các
cơ quan chuyên môn đánh giá cao về chất lượng công trình Trạm y tế phường Phú Đô
sẽ là mô hình điểm trong công tác khám, chữa bệnh trên địa bàn quận, hứa hẹn là điểm đến tin cậy, mang lại chất lượng phục vụ tốt nhất cho toàn thể nhân dân địa phương trong lĩnh vực y tế
Trang 7c Văn hóa
Được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng ủy, HĐND- UBND Phường Phú Đô, ban chỉ đạo nếp sống văn hóa, văn nghệ các đoàn thể đã đề ra phương hướng hoạt động và thực hiện các mục tiêu để xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
3 Hiện trạng phát triển kinh tế
Thành phần cơ cấu kinh tế của phường Phú Đô gồm :
Sản xuất thủ công nghiệp : 50,6%
Kinh doanh, thương mại, dịch vụ : 33,7%
Sản xuất nông nghiệp : 15,7%
a Nông nghiệp
Diện tích đất nông nghiệp là 146,4 ha, trong đó :
- Đất cấy lúa : 98,7 ha
- Đất trồng màu : 47,7 ha
Năng suất cả năm đạt 11,8 tấn/ha, giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 30 triệu/ha
Cơ cấu nông nghiệp chiếm 15,7% và đang có xu thế giảm do thu hẹp diện tích đất canh tác
b Sản xuất công nghiệp – TTCN- Thương mại, Dịch vụ:
Mỗi cơ sở sản xuất có 5-7 lao động thường xuyên với mức thu nhập ổn định từ 4-5 triệu đồng
Với số lượng sản xuất là 80 tấn/ngày và giá bán là 10.000đ/kg thì tổng thu nhập trong 1 ngày từ hoạt động sản xuất bún tại làng bún Phú Đô là 800.000.000đ (800 triệu đồng/ngày)
Trong thời đại công nghiệp với sự phát triển mạnh mẽ của nhiều phương tiện sản xuất hiện đại, nghề làm bún ngày nay đã được cơ giới hóa với các máy xay bột, đánh bột, góp phần nâng cao sản lượng sản xuất bún trong làng Tại Phú Đô, cơ cấu kinh té đang chuyển dịch theo hướng đẩy mạnh sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp là một hướng đi đúng đắn
III Những thuận lợi và hạn chế trong quá trình phát triển:
1 Thuận lợi:
Hầu hết các cơ sở sản xuất có quy mô nhỏ, quy mô hộ gia đình, chủ yếu là làm thủ công, ít sử dụng máy móc vốn đầu tư không đòi hỏi lớn nhưng giá trị làm ra không nhỏ, thời gian thu hồi vốn nhanh
Trang 8Cơ sở hạ tầng không đòi hỏi cao, hầu hết là làm tại nhà, sử dụng những đồ vật có sẵn trong gia đình hoặc mua giá thành rẻ
Nước và bã thải trong quá trình làm bún có thể sử dụng làm thức ăn chăn nuôi, tăng thêm thu nhập cho người dân
Giải quyết được công ăn việc làm cho người dân trong xã cùng các vùng xung quanh đặc biệt là lao động không có chuyên môn, do không yêu cầu trình độ chuyên môn hay học vấn cao, chủ yếu là cha truyền con nối, hướng dẫn truyền miệng
Thay thế dần đất nông nghiệp với lợi nhuận nhỏ, phát triển làng ngề cùng dịch vụ và
du lịch, ngành du lịch hàng năm mang lại một khoản không nhỏ cho làng và rất được yêu thích nhất là người nước ngoài với các hoạt động như đi thăm làng ngề, xem cách làm bún, các xưởng sản xuất, và ăn các món ăn từ bún,
Nguyên liệu dồi dào, sẵn có, có thể mua luôn tại địa phương hoặc các vùng lân cận
2 Khó khăn
Do chủ yếu là sản xuất tự phát, không được đầu tư máy móc hoặc máy móc lạc hậu không đồng bộ nên lượng nguyên liệu và nhiên liệu đầu vào thất thoát rất nhiều, tiền mua nhiên liệu chiếm gần hết số tiền làm bún Tính trung bình, mỗi hộ tại đây tiêu thụ 19-22kg than/ngày, thời gian sản xuất bún và dùng đun nấu khác mất 4,78 giờ, thời gian bỏ lò than nguội tự nhiên cho đến khi tắt lò là gần 19 giờ Đây là lượng nhiệt lãng phí không tận dụng được
Do chủ yếu hoạt động ở quy mô hộ gia đình với nếp nghĩ của người chủ tiểu nông thường quan tâm tới lợi ích thu được mà ít quan tâm tới hệ quả của nghề gây ra, việc bảo vệ MT không được chú trọng, không có hệ thống sử lí chất thải hiệu quả, nên vấn
đề ô nhiễm MT tại làng rất đáng báo động, MT ô nhiễm ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sản xuất cũng như sức khỏe của người dân
Đầu ra cũng là một vấn đề của làng ngề do là buôn bán nhỏ lẻ chủ yếu là đi dao cho các hàng quán hoặc bán dạo, nên thu nhập phụ thuộc vào nhu cầu của thị trường, phụ thuộc vào điều kiện thời tiết ngày nắng ngày mưa, ngày bán được ngày không, bún lại không thể để đến ngày hôm sau nên thu nhập không ổn định
Do sản xuất chủ yếu là thủ công nên chất lượng bún không được ổn định, cùng với
đó là vệ sinh an toàn thực phẩm, công nhân thường làm việc bằng tay không, không có găng tay hay bảo hộ lao động, chỗ làm thì chủ yếu là tại nhà nên thường ẩm mốc, không đạt vệ sinh làm ảnh hưởng đến đầu ra
Trang 9Đặc điểm sản xuất của làng nghề ún Phú Đô
1 Quy trình sản xuất
Hình 1 Sơ đồ công nghệ chế biến bún
Vo gạo là khâu đầu tiên của công đoạn làm bún, chọn gạo là bước đầu tiên và quan trọng nhất, quyết định đến 90% chất lượng Gạo làm bún phải là thứ gạo tẻ dẻo cơm (gạo mùa), khô
Trang 10Gạo rửa sạch sẽ ngâm trong 24 giờ với nhiệt độ 40 - 45 độ để nở ra trước khi xay Trong thời gian ngâm, nước sẽ được thay 1-2 lần
Gạo sau khi nở đủ sẽ được cho vào hệ thống máy xay
Công đoạn tiếp theo là cho vào bể ngâm trong 48 giờ để lên men Việc này sẽ giúp tinh bột gạo lắng xuống để tiến hành giai đoạn ép
Qúa trình tách nước thực chất là cho tinh bột gạo được bọc vào túi để ráo nước lấy bột Quá trình này còn được gọi là "bồng con" Mỗi túi bột chứa nước nặng 70-80 kg Sau khi nước ráo bớt, máy ép sẽ làm công việc ép hết nước ra và giữ lại bột tinh để sẵn sàng cho quá trình tiếp theo
Giai đoạn tiếp theo là quá trình hồ hóa Để tạo được khối bột nhào có khả năng liên kết tốt từ bột gạo, cần phải có sự tham gia của tinh bột Quá trình đánh bột không cần
hồ tăng độ kết dính mà chỉ cần cho một hai mẻ bún thành phẩm vào máy đánh bột cùng
Sau khi hồ hóa, bột trở thành dạng sệt, được đổ vào máy nấu bún.Những sợi bún trắng tinh được nấu ra sau đó chưa tới vài phút
Cuối cùng là công đoạn làm lạnh Bún sau khi nấu sẽ được nhúng qua nước làm lạnh rồi đem bán ra thị trường
2 Nguyên liệu và nguồn thải
Bảng 1: Nguyên liệu đầu vào, đầu ra để sản xuất được 1 tấn bún
TT Các công
đoạn
Trang 11- Nước sôi
850 kg 0,25m3
Bột sơ chín
Bún chín
Bún
1,5 m3(bột hòa tan)
9 Rửa thiết
3
1 m3
Như vậy để chế biến được 1 tấn bún cần có 450 kg gạo, 10,25 m3 nước, 52 kg than
và điện năng, và sẽ thải ra môi trường 9,55 m3
nước thải, 11 kg xỉ than
3 Quy mô sản xuất:
Trang 12Với quy mô sản xuất chủ yếu là quy mô hộ gia đình, làng bún Phú Đô hiện có 206
hộ làm nghề sản xuất bún trong đó có 50 hộ sản xuất bằng máy móc, trang thiết bị hiện đại Ngoài ra còn có hơn 200 hộ kinh doanh bún Người làm cho biết, một xưởng làm bún lớn ở Phú Đô mỗi ngày xuất ra thị trường từ 1 đến 2 tấn bún Mỗi ngày các hộ trong làng sản xuất ra thị trường khoảng 60 - 70 tấn bún, hàng năm là khoảng 5.000 tấn bún (chiếm 50-60% thị trường Hà Nội)
4 Công nghệ sản xuất:
Trước năm 2000, trên địa bàn có tới hơn 400 hộ làm nghề sản xuất bún nhưng do sự phát triển của cơ chế thị trường, nhiều hộ đã chuyển sang hình thức sản xuất khác Công nghệ làm bún của Phú Đô vẫn duy trì công nghệ cổ truyền, sử dụng nhiều đến sức người như ở các khâu vo gạo, ngâm gạo, làm lạnh cho ra bún thành phẩm Tuy nhiên để thích ứng với xu thế phát triển của tình hình mới, bên cạnh những kinh nghiệm và bí quyết làm bún gia truyền, hiện nay hầu như các hộ đã áp dụng máy móc, khoa học kĩ thuật vào sản xuất Các hộ đã sử dụng thiết bị, máy móc không rỉ và cơ giới hóa khâu xay bột, đánh bột, ép bún, các hộ đầu tư máy vo gạo, máy xay bột và sử dụng những thiết bị, dụng cụ hiện đại như máy liên hoàn
Trang 13CHƯƠNG Đ NH GI HIỆN TRẠNG VÀ DỰ O DI N IẾN TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
I Liệt kê các vấn đề môi trường
13.856 người năm 2013 Mật độ 5797 người/km2
Tỉ lệ gia tăng dân số cơ học cao
Dân số trong phường có xu hướng không ổn định do chủ yếu là dân nhập cư đến thuê trọ
Kiểm soát dân số chưa thật sự tốt
50m3 cho sản xuất bún
Nước cấp sử dụng trong làng bún Phú Đô gồm 2 nguồn Thứ nhất là nước máy do công ty Nước sạch
Hà Nội bán và thứ hai là từ nước giếng khoan, nước mưa
Nguồn nước mặt và nước ngầm ở đây đã bị ô nhiễm từ lâu do đặc tính chứa nhiều chất hữu cơ Tại
ao, hồ của làng, nước đã bị ô nhiễm, bốc mùi nồng nặc và
Nhu cầu sử dụng nước ngày càng gia tăng do dân
số ngày càng tăng cũng như quy mô sản xuất ngày càng được mở rộng
100% người dân sử dụng nước sạch
Kiểm soát tốt vấn đề nước cấp cho hộ gia đình và các hộ sản xuất bún
Khắc phụ được tình trạng thiếu nước sạch của dân cư trong vùng
Trang 14không thể sử dụng được nữa
Nước thải Làng bún Phú Đô đã có hệ thống
thoát nước nhưng chưa tách riêng
hộ gia đình và hộ sản xuất
Do lưu lượng nước thải lớn lại không được thường xuyên bảo dưỡng nên có nhiều đoạn mương rãnh vốn làm nhiệm vụ tiêu thoát nước thải và nước mưa bị bồi lắng dẫn đến dòng chảy không được lưu thông
Rác thải rơi xuống hệ thống cống rãnh gây tắc cục bộ
Lưu lượng nước thải tại làng bún Phú Đô là 920m3/ngày với tải lượng ô nhiễm của các thông số:
- Nts: 85,24mg/l Nước thải sản xuất phát sinh chủ yếu từ công đoạn vo gạo, ép bột,
Lượng nước thải càng ngày càng tăng do nhu cầu tiêu thụ tăng dẫn đến sản xuất cũng tăng thêm
Hàm lượng chất thải trong dòng nước có xu hướng ngày càng tăng nên mức độ
ô nhiễm ngày càng lớn
Áp dụng nhiều hơn máy móc vào quá trình sản xuất
Áp dụng các biện pháp tiết kiệm nước cũng như sản xuất sạch hơn
Tách riêng các đường ống nước thải cho sản xuất và cho sinh hoạt
Chất lượng nước thải
sẽ tồi tệ 1 cách không thể kiểm soát khi không có hệ thống thu gom và xử lý nước thải riêng biệt
Trang 15cắt bún Nước thải sản xuất, nước thải sinh hoạt và nước thải chăn nuôi không được tách biệt, xử lý mà chỉ đưa ra các cống rãnh chảy ra sông Nhuệ
và các ao hồ nhỏ trong làng
Tình trạng xử
lý nước thải Nước thải từ các hoạt động sản xuất, sinh hoạt, chăn nuôi không
được tách riêng mà được chảy chung vào cống rãnh thoát nước của địa phương
Hệ thống xử lý nước thải được xây dựng từ năm 1996 nhưng chỉ hoạt động được 1 năm và dừng hoạt động
Nước thải từ hoạt động chăn nuôi không được xử lý dưới bất kỳ một hình thức nào (chẳng hạn như biogas) nên các chất thải và nước thải từ hoạt động chăn nuôi cũng
xả thẳng vào hệ thống tiêu thoát nước trong làng và các ao hồ nhỏ trong làng gây bồi lắng làm tắc nghẽn dòng chảy và làm ô nhiễm
Tách khu sản xuất khỏi khu sinh sống của người dân để tiện thu gom và phân loại nước thải
Đề xuất xây dựng hệ thống
xử lý nước thải
Khi áp dụng các biện pháp về sản xuất sạch hơn và tiết kiệm nước thì lượng nước thải sẽ giảm xuống, hàm lượng chất thải trong nước cũng sẽ dễ kiểm soát và xử lý hơn
Trang 16môi trường hệ thống ao hồ nhỏ và khu vực xung quanh
Nước thải không xử lý gây ô nhiễm không chỉ đến nguồn nước mặt mà còn có tác động đến nguồn nước ngầm tại đây Nguồn nước chủ yếu là nước giếng khoan cũng đang bị nhiễm bẩn do tác động của nước thải ngấm xuống đất ảnh hưởng đến chất lượng nước ngầm
than/năm Ước tính mỗi tấn than tạo ra 0,2 tấn xỉ thì làng nghề đã tạo ra 1020 tấn xỉ và xả thải không đúng quy định vào môi trường Với nguyên liệu đầu vào là gạo, rong, lá chuối dùng để lót bún thì tại làng bún Phú Đô đã thải ra vỏ,
sơ
Bã gạo lẫn trong nước gạo được
đổ ra cống rãnh bị bồi lắng các chất hữu cơ góp phần gây ra ô nhiễm môi trường đất
Tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành sản xuất bún là 8-9% thì hàm lượng chất thải rắn ngày càng gia tăng
Kiểm soát tốt vấn đề rác thải
Trang 17Thành phần chủ yếu của rác thải là rác thải sinh hoạt của người dân trong địa phương
và vận chuyển đến bãi rác Thành phố Tuy nhiên còn 15% khối lượng rác thải không được vận chuyển mà còn chon lấp, về lâu dài nó sẽ không phù hợp
Lượng rác thải sinh hoạt, chất thải xây dựng,cặn bã
từ bún, chất thải chăn nuôi ngày càng tăng cao dẫn đến tần suất thu gom, xử lý rác thải cũng tăng
Dự đoán tăng lượng rác thải, dẫn đến tăng tần xuất thu gom
và phương tiện thu gom thì lượng chất thải được thu gom kịp thời sẽ tăng lên, giải quyết được vấn đề tồn đọng chất thải
Ô nhiễm
không khí
Nguồn gây ô nhiễm lớn nhất là từ các chất hữu cơ dạng rắn và chất hữu cơ tồn đọng trong nước thải bị phân hủy yếm khí tạo ra các mùi hôi nồng nặc, khó chịu Các chất khí ô nhiễm chủ yếu gồm: H2S,
CH4, NH3
Làng nghề chế biến bún Phú Đô
Có biện pháp thu gom để
xử lý và tái chế phù hợp sẽ tạo điều kiện cho các quá trình phân hủy sinh học gây
ra mùi hôi khó chịu, hàm lượng các khí H2S, CH4,
NH3 giảm
Do hoạt động sản xuất của các hộ gia đình đã sử dụng các loại máy móc tân tiến
Chất lượng không khí được cải thiện hơn