Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi chọn đề tài: “Tổ chức trò chơi học tập trong dạy học các loại bài mở rộng vốn từ ở lớp 2” 2.. Đề tài đi vào chuyên sâu nghiên cứu “ Tổ chức trò ch
Trang 1MỞ RỘNG VỐN TỪ Ở LỚP 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN THU HƯƠNG
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo
hướng dẫn khóa luận TS Nguyễn Thu Hương, đã tận tình hướng dẫn trong
suốt quá trình viết khóa luận tốt nghiệp
Em chân thành cảm ơn quý thầy, cô trong khoa Giáo dục Tiểu học, Trường ĐHSP Hà Nội 2 đã tạo điều kiện cho em hoàn thành khóa luận này
Hà Nội, tháng 5 năm 2016
Người thực hiện
Lê Thị Nụ
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Đối tượng nghiên cứu 6
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
6 Phạm vi nghiên cứu 6
7 Phương pháp nghiên cứu 6
8 Bố cục khóa luận 7
NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 8
1.1 Cơ sở lý luận 8
1.1.1 Từ 8
1.1.1.1 Khái niệm 8
1.1.1.2 Chức năng của từ 8
1.1.1.3 Các thành phần ý nghĩa của từ 11
1.1.1.4 Khái niệm về trường nghĩa 13
1.1.2 Trò chơi học tập 16
1.1.2.1 Khái niệm 16
1.1.2.2 Vai trò của trò chơi học tập 17
1.1.2.3 Phân loại trò chơi học tập 17
1.1.3 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh lớp 2 18
1.2 Cơ sở thực tiễn 18
1.2.1 Kiểu bài mở rộng vốn từ ở Tiểu học 18
1.2.1.1 Nhiệm vụ dạy học 18
Trang 51.2.1.2 Nội dung dạy học MRVT 18
1.2.2 Thực trạng việc dạy học mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu học qua trò chơi học tập 21
CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC MỞ RỘNG VỐN TỪ Ở LỚP 2 24
2.1 Nguyên tắc tổ chức trò chơi học tập trong dạy học mở rộng vốn từ 24
2.1.1 Căn cứ vào đối tượng học sinh 24
2.1.2 Căn cứ vào mục đích sử dụng trò chơi học tập 24
2.1.3 Căn cứ vào nội dung của bài học 24
2.1.4 Căn cứ vào điều kiện cơ sở vật chất của lớp học 24
2.1.5 Yêu cầu sư phạm khi tổ chức trò chơi học tập 25
2.1.5.1 Lựa chọn trò chơi 25
2.1.5.2 Tổ chức trò chơi 25
2.2 Sử dụng trò chơi học tập trong dạy học mở rộng vốn từ ở lớp 2 25
2.2.1 Chuẩn bị cho trò chơi 26
2.2.2 Các bước tiến hành tổ chức trò chơi học tập 26
2.3 Hoạt động tổ chức trò chơi học tập trong dạy học mở rộng vốn từ 27
2.3.1 Nhóm 1: Các trò chơi được vận dụng vào giải các bài tập 27
2.3.1.1 Tổ chức trò chơi với kiểu bài MRVT qua tranh vẽ 27
2.3.1.2 Tổ chức trò chơi với kiểu bài MRVT theo quan hệ ngữ nghĩa 29
2.3.1.3 Tổ chức trò chơi với kiểu bài MRVT theo quan hệ cấu tạo 40
2.3.2 Nhóm 2: Các trò chơi mang tính chất củng cố nội dung bài, mở rộng vốn từ (các từ không có trong sách giáo khoa) 42
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 49
3.1 Mục đích thực nghiệm 49
3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 49
3.3 Tiêu chí đánh giá 49
Trang 63.4 Nội dung và giáo án thực nghiệm 50
3.5 Kết quả thực nghiệm 50
3.5.1 Kết quả mở rộng vốn từ của học sinh 50
3.5.2 Hứng thú học tập của học sinh trong tiết học và trong trò chơi 54
3.5.3 Mức độ chú ý của học sinh 56
Tiểu kết chương 3 59
KẾT LUẬN 60
1 Kết luận 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7xã hội chủ nghĩa Đảng và nhà nước ta đã xác định: Thế hệ trẻ là mầm móng tương lai của đất nước Cũng như Bác Hồ đã dạy: “Non sông Việt Nam ta có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có sánh vai cùng các cường quốc năm châu hay không chính là nhờ một phần lớn công học tập của các cháu” Vì vậy giáo viên Tiểu học phải nhận thức rõ nhiệm vụ quan trọng của mình là làm sao nâng cao chất lượng học tập của học sinh Tiểu học Muốn làm được điều này, chúng ta cần tiến hành đồng bộ những vấn đề của ngành giáo dục, phải có nội dung và phương pháp thích hợp Vậy sử dụng phương pháp dạy học như thế nào để phát huy được tối đa tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh là một vấn đề đáng quan tâm
Như chúng ta đã biết con người muốn có tư duy phải có ngôn ngữ Ngôn ngữ là một thứ công cụ có giá trị, có tác dụng vô cùng to lớn trong việc nhận thức, tư duy và là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người Nó dùng để diễn đạt những gì con người nghĩ ra, nhìn thấy và biết được những vật thể từ vô cùng nhỏ bé đến thế giới rộng lớn, từ cái cụ thể
Trang 8đến những cái trừu tượng mà các giác quan của con người không vươn tới được Chúng ta có thể nói: nếu không có ngôn ngữ thì không có con người, không có xã hội Trong ngôn ngữ thì từ là quan trọng nhất Từ là nguyên liệu để tạo thành câu giúp con người có được phương tiện giao tiếp Vì vậy, việc phát triển vốn từ là rất quan trọng, nó giúp các em nắm vững tiếng mẹ
đẻ, tạo điều kiện thuận lợi để các em học tốt các môn học khác và tạo đà cho cấp học sau, khi vốn từ của cá nhân phát triển thì con người mới tự tin, mạnh dạn và giao tiếp được mạch lạc Đặc biệt trong giáo dục thực hiện chương trình sách giáo khoa hiện nay để người dạy học áp dụng được phương pháp dạy học tích cực, hoạt động hoá của người dạy học, đòi hỏi người học phải có một vốn từ ngữ vững vàng để thực hiện các hoạt động học tập của mình
Hiện nay, đối với việc mở rộng vốn từ, chương trình đã chú trọng dạy cho học sinh thông qua tất cả các phân môn tiếng Việt, đặc biệt là trong phân môn Luyện từ và câu Trong phân môn này học sinh được mở rộng vốn từ theo các chủ đề Tuy nhiên việc mở rộng vốn từ cho học sinh chưa đạt được yêu cầu, mục tiêu mà môn học đề ra Vốn từ của học sinh tiểu học còn hạn chế, nghèo nàn trong phạm vi nhỏ hẹp và chỉ khoảng 500- 700 từ, kĩ năng sử dụng từ còn kém Ngoài ra, vốn từ của học sinh cũng được mở rộng thông qua các môn học khác, trong các hoạt động giáo dục nhưng khá gò bó và ít được quan tâm
Với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học thì việc dạy Luyện từ và câu không thể nào là thuyết giảng hay nhồi nhét các kiến thức cho các em một cách máy móc mà cần phải sử dụng các phương pháp dạy học một cách linh hoạt Trong các phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh như: phương pháp dạy học dự án, phương pháp trò chơi học tập, phương pháp nêu và giải quyết vấn đề… thì phương pháp trò
Trang 9chơi học tập là phương pháp gây được nhiều hứng thú nhất cho các em Đối với học sinh tiểu học, lứa tuổi vừa học vừa chơi, hiếu động, chóng chán, vấn
đề tạo nên hứng thú học tập cho các em là rất quan trọng Trò chơi tác động toàn diện đến trẻ em vì nó dễ dàng thâm nhập vào xúc cảm, tình cảm thúc đẩy mọi hành động của trẻ
Vận dụng trò chơi học tập trong quá trình dạy học là rất cần thiết, thực hiện được quan điểm mà nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra: “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui” Trò chơi là hoạt động góp phần làm cho học sinh hứng thú, ham thích học tập tạo không khí phấn khởi, kích thích tư duy sáng tạo
Trên thực tế, người giáo viên tiểu học phần lớn mới chỉ chú ý đến việc bằng mọi cách cung cấp hết kiến thức trong sách giáo khoa mà ít quan tâm đến thái độ, cảm xúc của các em, chính vì vậy nhiều tiết học đã trở nên nặng
nề, mệt mỏi đối với học sinh Nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi áp lực đòi hỏi từ phía xã hội, gia đình, nhà trường lên đứa trẻ ngày càng lớn, thì ngày càng xuất hiện những học sinh sợ mà học chứ không phải thích mà học Để khắc phục được nhược điểm này, nhiều giáo viên đã sử dụng phương pháp trò chơi học tập nhằm nâng cao hứng thú học tập của học sinh, để việc học tập trở nên nhẹ nhàng hơn và hiệu quả hơn Tuy nhiên do các trò chơi còn thiếu tính hấp dẫn, còn rời rạc từng trò chơi cho từng bài học mà chưa có tính hệ thống
và chưa có tổ chức thích hợp nên chưa đạt được hiệu quả dạy học như mong muốn
Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi chọn đề tài: “Tổ chức trò chơi học tập trong dạy học các loại bài mở rộng vốn từ ở lớp 2”
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Đây không phải là vấn đề mới mẻ, vào thế kỉ XIX- đầu thế kỉ XX đã có nhiều nhà nghiên cứu như: Phreben (Đức), M.Mentori (Ý) có ý tưởng trò
Trang 10chơi với dạy trẻ học, dùng trò chơi làm phương tiện dạy học Về sau, ý tưởng
đó được tiếp tục phản ánh trong hàng loạt công trình nghiên cứu của các nhà giáo dục Liên xô: A.P.Radina, A.P.Vsova, A.Navanhesova, A.L.Sovokia Trong quá trình đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học có rất nhiều nhà giáo dục đã nghiên cứu, tìm tòi thiết kế nên các trò chơi nhằm giáo dục toàn
diện tạo hứng thú học tập cho các em như: cuốn “Tổ chức hoạt động vui chơi
ở Tiểu học nhằm phát triển tâm lực, trí tuệ, thể lực cho học sinh” của Hà Nhật Thăng (chủ biên) hay cuốn “150 trò chơi thiếu nhi” của Bùi Sĩ Tụng,
Trần Quang Đức (đồng chủ biên) Ở các tài liệu này thì các tác giả đã đề cập rất rõ vai trò của trò chơi, nhưng chỉ đưa ra những hoạt động vui chơi chung chung, chưa đi sâu vào ứng dụng của trò chơi trong môn học cụ thể
Đối với vấn đề mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu học trước đây cũng có nhiều công trình nghiên cứu quan tâm tới:
- Lê Hữu Tỉnh có cuốn Dạy từ ngữ cho học sinh tiểu học Ở đây tác giả
đã đề cập đến một số bài tập giúp học sinh mở rộng vốn từ theo từng chủ điểm
- Trần Mạnh Hưởng- Lê Hữu Tỉnh viết cuốn Giải đáp 188 câu hỏi về giảng dạy môn Tiếng Việt Nội dung của sách gồm 2 phần chính:
+ Phần 1: Giải đáp về nội dung giảng dạy môn Tiếng Việt ở Tiểu học của tác giả Lê Hữu Tỉnh Trong phần này tác giả đã giải đáp 94 câu hỏi thuộc các phân môn Luyện từ và câu, Học vần và Chính tả
+ Phần 2: Giải đáp về phương pháp giảng dạy môn Tiếng Việt ở Tiểu học của tác giả Trần Mạnh Hưởng Ở phần này tác giả tập trung trả lời những câu hỏi liên quan đến phương pháp dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học theo tinh thần đổi mới hiện nay
Trang 11+ Trong đó tác giả đã đề cập đến những vấn đề xoay quanh các vấn đề về cấu tạo từ và trường nghĩa qua các câu hỏi và câu trả lời trong phân môn Luyện từ và câu
- Lê Hồng Mai – Mở rộng vốn từ qua ô chữ lớp 2, 3, 4, 5 Mở rộng vốn
từ qua ô chữ lớp 2 bao gồm hệ thống các ô chữ giúp học sinh củng cố kiến thức từ và câu, mở rộng vốn từ theo chủ điểm của nội dung chương trình SGK Tiếng Việt lớp 2
- Trần Mạnh Hưởng- Vui học Tiếng Việt tập 1, tập 2… nhằm cung cấp những trò chơi, những bài tập vui và nhẹ nhàng về tiếng Việt theo yêu cầu kiến thức và kĩ năng sử dụng tiếng Việt ở bậc Tiểu học
- Các tác giả Trần Mạnh Hưởng ( chủ biên), Nguyễn Thị Hạnh, Lê Phương Nga khi biên soạn tài liệu việc sử dụng trò chơi học tập trong môn Tiếng Việt lớp 2, 3 đã chú ý tới trò chơi cụ thể thích hợp với từng phân môn tuy nhiên tác giả không đi sâu vào từng địa bàn đối tượng học sinh để có gợi ý
sử dụng trò chơi hợp lý
- Nguyễn Minh Thuyết – Hỏi đáp về dạy Tiếng Việt 2, có nói đến nội dung dạy mở rộng vốn từ song các vấn đề nêu ra mới dừng lại ở phạm vi chung chung
Tuy nhiên để có hệ thống, cụ thể từng trò chơi trong từng dạng bài mở rộng vốn từ thì chưa có
Đề tài đi vào chuyên sâu nghiên cứu “ Tổ chức trò chơi học tập trong dạy học các loại bài mở rộng vốn từ ở lớp 2” một cách cụ thể
Trang 124 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu việc tổ chức trò chơi trong dạy học mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, đề tài phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Tổng hợp tất cả các vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài
- Tìm hiểu về vấn đề sử dụng trò chơi trong dạy học mở rộng vốn từ ở lớp 2
- Quy trình tổ chức các trò chơi trong dạy học mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 2
6 Phạm vi nghiên cứu
Do thời gian có hạn nên phạm vi nghiên cứu chỉ dừng lại ở tổ chức trò chơi trong phân môn Luyện từ và câu với các bài mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 2
7 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện tốt các nhiệm vụ đề ra đạt được mục tiêu nghiên cứu thì không thể thiếu được các phương pháp nghiên cứu Có rất nhiều phương pháp trong nghiên cứu khoa học thường được áp dụng, với vấn đề này chúng tôi đã
sử dụng các phương pháp:
+ Phương pháp nghiên cứu tổng hợp các vấn đề lý luận
+ Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp thực nghiệm
+ Phương pháp thống kê
+ Phương pháp điều tra
Trang 138 Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận khóa luận gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương2: Tổ chức trò chơi học tập trong dạy học mở rộng vốn từ ở
lớp 2
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 14NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Để đảm bảo khả năng thực thi cũng như tính có hiệu quả, tính thuyết phục của hệ thống trò chơi được đưa ra trong khóa luận, chương này trình bày những cơ sở lý luận và thực tiễn của hệ thống trò chơi để mở rộng vốn
Định nghĩa này cho ta thấy, so với từ của tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Pháp, v.v , từ của tiếng Việt có tính cố định, bất biến ở mọi vị trí, mọi quan
hệ và chức năng trong câu
Tính cố định, bất biến về âm thanh là điều kiện hết sức quan trọng giúp
ta nhận diện từ một cách dễ dàng Song cũng vì tính cố định và bất biến mà bản thân hình thức ngữ âm của từ tiếng Việt không chứa đựng những dấu hiệu chỉ rõ đặc điểm ngữ pháp của chúng Nói cách khác, ở tiếng Việt, "đặc điểm ngữ pháp của từ không biểu hiện trong nội bộ từ mà biểu hiện chủ yếu ở ngoài từ, trong tương quan của nó với các từ khác trong câu" [3, tr.21]
1.1.1.2 Chức năng của từ
Trang 15Trong ngôn ngữ có những từ thực hiện chức năng này, lại có những từ thực hiện chức năng kia (chức năng định danh, chức năng miêu tả, chức năng biểu thái, hiệu lệnh, đƣa đẩy, chức năng tạo câu,…) Tuy nhiên, trong tiếng Việt có bộ phận lớn các từ có nhiều chức năng Đó là các thực từ: nhà, cửa,
đi, chạy, chua, ngọt,…vừa có chức năng dẫn xuất, vừa có chức năng định danh, vừa có chức năng biểu niệm Một số từ nhƣ: róc rách, thì thào, bập bùng, lấp loáng,…còn có thêm chức năng biểu hiện
a Nhóm chức năng miêu tả: gồm có chức năng biểu vật, chức năng biểu
niệm và chức năng biểu hiện
Chức năng biểu vật là chức năng biểu thị các sự vật, hiện tƣợng, hoạt động, trạng thái của thế giới khách quan
VD: Nhà, xe, sách, vở, đi, chạy, nhảy, chua, ngọt, mặn,…
Chức năng biểu vật gồm có hai loại là chức năng định danh và chức năng dẫn xuất miêu tả
Chức năng định danh (gọi tên): Cách gọi tên theo lối tổng hợp tính Đó
là cách gán một hình thức âm thanh cho sự vật, hiện tƣợng mà không có lý
do, không cần giải thích lý do Ở các tên gọi, sự vật, hiện tƣợng hiện ra trực tiếp trong tổng thể của nó chứ không thông qua các đặc điểm Giống nhƣ Lênin viết: “Gọi tên? Nhƣng gọi tên là ngẫu nhiên và không biểu thị bản chất của sự vật”
VD: Nhà, xe, sách, vở, đi, chạy, nhảy, chua, ngọt, mặn,…
Chức năng dẫn xuất: là đƣa ra, dẫn ra các thuộc tính, các đặc điểm hay các quan hệ của các sự vật, hiện tƣợng Đây là cách gọi tên có lý do, có thể giải thích Chính vì vậy dẫn xuất miểu tả bao giờ cũng làm cho từ luôn mới
mẻ, hấp dẫn hơn chức năng định danh tổng hợp tính
VD1: Đã, đang, sẽ,… dẫn xuất các tình thái của hoạt động
Và, cùng, với, của, vì, do…dẫn xuất của các quan hệ
Trang 16VD2:
Người anh hùng áo vải chính là tên gọi theo lối miêu tả của vua Quang Trung
Vị cha già dân tộc chính là tên gọi theo lối miêu tả của Bác Hồ
Chức năng biểu niệm là chức năng biểu thị những khái niệm về sự vật, hiện tượng, hoạt động, tính chất, trạng thái,…của thực tế khách quan Đây là lối gọi tên có lý do So với chức năng biểu vật thì chức năng này cầu kì và phức tạp hơn, ngoài ra nó có phần hạn chế với nhận thức của con người Do vậy, trong thực tế cuộc sống người ta hay dùng biểu vật Tuy nhiên chức năng biểu niệm của từ có ưu điểm là giúp con người nâng cao nhận thức và kích thích về mặt nhận thức
VD: Bộ phận của cơ thể động vật, có chức năng cầm, nắm, bưng, bê…là tên gọi của từ “tay”
Chức năng biểu hiện là chức năng vẽ ra các hình ảnh, hình tượng hoặc bộc lộ các cảm xúc về sự vật, hiện tượng, tính chất…như nó vốn có trong thực tế khách quan của từ Tất cả các từ láy của Tiếng Việt đều có chức năng biểu hiện
VD: lừ đừ, phờ phạc,lanh chanh, hấp tấp, lom khom,còm cõi,…
b Nhóm chức năng liên quan đến người dùng
Chức năng biểu thái là chức năng biểu thị thái độ, tình cảm của người nói đối với các sự vật được gọi tên
VD: trời ơi, eo ôi, chao ôi, à, ừ, nhỉ,…
Chức năng đưa đẩy là chức năng duy trì sự giao tiếp tạo ra mối thân hữu giữa người nói với người nghe trong giao tiếp của từ Đây là những từ rỗng về thông tin nhưng lại có giá trị về giao tiếp nhằm duy trì mạch giao tiếp, làm giao tiếp không bị gián đoạn
VD: bẩm, thưa, à, ừ, này, nói chung, rõ chưa, thế à, nói trộm vía,…
Trang 17 Chức năng hiệu lệnh là chức năng của các từ nhằm hướng vào người nghe để thực hiện một chức năng nào đó
VD: hãy, đừng, chớ, cấm, phải, nên, cần…+ các từ đi kèm: nhỉ, nhé, rằng, đi…
c Nhóm chức năng liên hệ với bản thân hệ thống ngôn ngữ
Chức năng liên kết là chức năng của từ nhằm liên kết các thành phần câu, các câu trong đoạn, các đoạn trong văn bản
VD: và, cùng, để,song, hay, nhưng, hoặc, vì thế…cho,tuy…nhưng,…
Chức năng định phong cách là chức năng xác định về mặt phong cách của từ
VD1: à, ư, nhỉ, nhé, hử, hỏi…thuộc phong cách sinh hoạt hàng ngày VD2: chiếu theo, quyết định, điều 1, điều 2,…thuộc phong cách hành chính- công vụ
VD3: dòng điện, điện trở, công suất, dữ liệu, trang web,…
Như vậy nhóm chức năng miêu tả và nhóm chức năng liên quan đến người dùng là những nhóm chức năng hướng ngoại (tức là chúng liên hệ với các yêu tố ngoài ngôn ngữ Hoàn cảnh giao tiếp, đối tượng giao tiếp, mục đích giao tiếp, nội dung giao tiếp) Còn nhóm chức năng liên hệ với bản thân hệ thống ngôn ngữ là chức năng hướng nội
Trong các chức năng này, ba chức năng biểu vật, biểu hiện, biểu niệm và biểu thái đặc biệt quan trọng, bởi chúng có liên quan đến ba thành phần ý nghĩa của từ, là cơ sở để hình thành nên ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm
và ý nghĩa biểu thái
1.1.1.3 Các thành phần ý nghĩa của từ
Tuỳ theo các chức năng mà từ chuyên đảm nhiệm, trong ý nghĩa của từ
có những thành phần ý nghĩa cơ bản sau đây:
- Ý nghĩa biểu vật ứng với chức năng biểu vật;
Trang 18- Ý nghĩa biểu niệm ứng với chức năng biểu niệm;
- Ý nghĩa biểu thái ứng với chức năng biểu thái
Ba thành phần ý nghĩa trên được gọi chung là ý nghĩa từ vựng Ý nghĩa
từ vựng thường được đối lập với thành phần ý nghĩa thứ 4, đó là:
- Ý nghĩa ngữ pháp ứng với chức năng ngữ pháp
Các ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp có tính ổn định, bền vững tương đối Chúng không phải chỉ do quan hệ giữa từ với những yếu tố ngoài ngôn ngữ mà có Chúng còn do quan hệ về ý nghĩa giữa từ này với từ khác trong ngôn ngữ quy định nên
Sự vật, hiện tượng, đặc điểm ngoài ngôn ngữ được từ biểu thị tạo nên ý nghĩa biểu vật của từ Nói cách khác, "ý nghĩa biểu vật là sự phản ánh sự vật, hiện tượng trong thực tế vào ngôn ngữ" [3, tr.108] Ý nghĩa biểu vật không phải là sự vật, hiện tượng y như chúng có thực trong thực tế Chúng chỉ bắt nguồn từ đó mà thôi Nói như vậy có nghĩa là nghĩa biểu vật của từ không đồng nhất với sự vật, hiện tượng, thuộc tính, hành động mà chỉ gợi ra sự vật, hiện tượng, thuộc tính, hành động
Nghĩa biểu niệm của từ "là tập hợp của một số nét nghĩa chung và riêng, khái quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định Giữa các nét nghĩa
có những quan hệ nhất định Tập hợp này ứng với một hoặc một số ý nghĩa biểu vật của từ" [3, tr.118]
Nghĩa biểu niệm là sự liên hệ giữa từ với ý (hoặc ý nghĩa, ý niệm) Ví dụ: Nghĩa biểu niệm của từ "bàn" là: đồ dùng, có mặt phẳng được cách mặt nền bởi các chân, dùng để đặt đồ vật, sách vở khi viết
Nghĩa biểu thái là mối liên hệ giữa từ với thái độ chủ quan, cảm xúc của người nói
Sự vật, hiện tượng được biểu thị trong ngôn ngữ đều là những sự vật, hiện tượng đã được nhận thức, được thể nghiệm bởi con người Do đó cùng
Trang 19với tên gọi, con người thường gửi kèm những cách đánh giá của mình Ví dụ,
có những từ khi phát âm lên đã gợi cho ta những cảm xúc sợ hãi, như: ma quái, chém giết, tàn sát ; lại có những từ giúp ta bộc lộ sự khinh bỉ, như: đê tiện, ton hót, bợ đỡ, hoặc ngược lại bộc lộ sự tôn trọng, như: cao quý, ca ngợi, đàng hoàng, thẳng thắn, v.v
Tóm lại, ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm và ý nghĩa biểu thái là các loại nghĩa tạo nên ý nghĩa từ vựng của từ Vì từ là một thể thống nhất cho nên các thành phần ý nghĩa trên là những phương diện khác nhau của cái thể thống nhất đó Sự hiểu biết đầy đủ về ý nghĩa của từ phải là sự hiểu biết thấu đáo từng mặt một nhưng cũng phải là sự hiểu biết tổng quát về những mối liên hệ quy định lẫn nhau giữa chúng
1.1.1.4 Khái niệm về trường nghĩa
Do quá lớn và quá phức tạp, những liên hệ ngữ nghĩa trong từ vựng không hiện ra một cách trực tiếp giữa các từ lựa chọn một cách ngẫu nhiên Những quan hệ về ngữ nghĩa giữa các từ sẽ hiện ra khi đặt được các từ vào những hệ thống con thích hợp Có nghĩa là, tính hệ thống về ngữ nghĩa trong lòng từ vựng và quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ riêng lẻ thể hiện qua quan hệ giữa những tiểu hệ thống ngữ nghĩa chứa chúng
“Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa Đó là những tập hợp từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa
Dựa vào các trường nghĩa, ta có thể phân định một cách tổng quát những quan hệ ngữ nghĩa trong từ vựng thành những quan hệ ngữ nghĩa giữa các trường nghĩa và những quan hệ ngữ nghĩa trong lòng mỗi trường Nói một cách khác, mỗi trường nghĩa là một tiểu hệ thống nằm trong hệ thống là từ vựng của một ngôn ngữ.” [3, tr.170]
Trang 20Người ta có thể chia hệ thống từ vựng thành các trường nghĩa, tuỳ theo từng tiêu chí Cụ thể, người ta có thể chia hệ thống từ vựng thành trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm
- Trường biểu vật:
Trường nghĩa biểu vật là tập hợp những từ cùng biểu thị một phạm vi sự vật, hiện tượng thực tế khách quan [3, tr.172] Cơ sở để xác lập trường nghĩa biểu vật là sự đồng nhất nào đó trong ý nghĩa biểu vật của các từ Ví dụ, trường nghĩa biểu vật về động vật:
+ Tên các loài: gà, lợn, chó, trâu
+ Trường nghĩa chỉ bộ phận cơ thể: đầu, mỏ, đuôi, mõm
Trường nghĩa biểu niệm
- Trường nghĩa biểu niệm là "một tập hợp các từ có chung một cấu trúc biểu niệm" [3, tr.178]
Căn cứ để phân lập các trường biểu niệm là các ý nghĩa biểu niệm của
từ Cấu trúc biểu niệm không chỉ riêng cho từng từ mà chung cho nhiều từ Ví
dụ, nói về trường biểu niệm "vật thể nhân tạo", "thay thế hoặc tăng cường thao tác lao động", "cầm tay" có thể chia thành các trường nhỏ, chẳng hạn: + Dụng cụ để chia, cắt: dao, cưa, búa, rìu, liềm…
+ Dụng cụ để xoi, đục: đục, dùi, chàng, khoan…
+ Dụng cụ mài giũa: giũa, bào, đá mài, giấy ráp
Sự phân lập từ vựng thành trường biểu vật và trường biểu niệm dựa trên
sự phân biệt hai thành phần ngữ nghĩa trong từ Nó phản ánh hai cách nhìn từ vựng ở hai góc độ khác nhau Tuy nhiên, hai loại trường nghĩa này có liên hệ với nhau: Nếu lấy những nét nghĩa biểu vật trong cấu trúc biểu niệm làm tiêu chí lớn để tập hợp thì chúng ta có các trường biểu vật Ngược lại, nếu cần phân biệt một trường biểu vật thành các trường nhỏ thì lại phải dựa vào các nét nghĩa khác trong cấu trúc biểu niệm:
Trang 21Cả trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm đều thuộc loại trường nghĩa dọc
- Trường nghĩa tuyến tính (còn gọi là trường nghĩa ngang):
Để lập nên các trường nghĩa tuyến tính, chúng ta chọn một từ làm gốc rồi tìm tất cả những từ có thể kết hợp với nó thành những chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ Ví dụ, trường nghĩa tuyến tính của từ đi là nhanh, chậm, tập tễnh, khập khiễng, ra, vào, lên, xuống, giày, dép, găng, tất v.v
Như vậy, các từ trong cùng một trường tuyến tính là những từ thường xuất hiện với từ trung tâm trong các loại ngôn bản Các từ cùng nằm trong một trường tuyến tính có quan hệ với nhau không chỉ về phương diện nội dung mà còn cả về phương diện ngữ pháp
- Trường liên tưởng là tập hợp bao gồm những từ cùng nằm trong trường biểu vật, trường biểu niệm và trường tuyến tính, tức là những từ có quan hệ cấu trúc đồng nhất và đối lập về ngữ nghĩa với từ trung tâm Trong trường liên tưởng còn có nhiều từ khác được liên tưởng tới do xuất hiện đồng thời với từ trung tâm trong những ngữ cảnh có chủ điểm tương đối đồng nhất, lặp
đi lặp lại
Ý nghĩa biểu vật của những từ trong trường liên tưởng có thể giống nhau, nhưng cũng có những từ khác nhau về nghĩa Do tính chất này mà các trường liên tưởng thường không ổn định
Tóm lại: Nói đến các kiểu quan hệ của ngôn ngữ không thể không nói đến hai dạng quan hệ, đó là quan hệ ngang và quan hệ dọc Theo hai dạng quan hệ đó có thể có hai loại trường nghĩa là trường nghĩa ngang và trường nghĩa dọc
Trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm thuộc kiểu trường nghĩa dọc, trường nghĩa tuyến tính thuộc kiểu trường nghĩa ngang Trường
Trang 22nghĩa liên tưởng là kiểu trường nghĩa có tác động sâu sắc đối với việc sử dụng
từ ngữ và vừa có tính chất của một trường nghĩa ngang, vừa mang tính chất của một trường nghĩa dọc
Các trường nghĩa có vai trò quan trọng, là cơ sở để tập hợp từ trong kiểu bài mở rộng vốn từ ở Tiểu học
Hay có thể hiểu một cách đơn giản: trò chơi học tập là một loại trò chơi
có luật Thông qua trò chơi, nhiệm vụ giáo dục được giải quyết
Trò chơi học tập là một loại trò chơi đặc biệt mà các nhà sư phạm sử dụng trong dạy học nhằm đạt những kết quả cao trong việc nhận thức của học sinh, củng cố kĩ năng, củng cố tri thức
Luật chơi của trò chơi học tập
Trò chơi học tập có luật chơi rõ ràng, đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hiện, không đòi hỏi thời gian dài cho việc huấn luyện
Ý thức được tác dụng to lớn của trò chơi học tập đối với việc giáo dục trẻ em Các nhà giáo dục, các nhà tâm lý đã có những công trình nghiên cứu
bổ ích về lĩnh vực này như: A.X Makarenko – Nhà giáo dục vĩ đại, L X xlavina, K.D Usinxki, N X Lukin…
Trên tinh thần đó “học mà chơi, chơi mà học” là một quan điểm đúng đắn trong quá trình hướng dẫn và tổ chức chơi cho các em Trò chơi học tập
Trang 23vừa chú trọng mục đích giải trí nhƣng quan trọng hơn là phát triển tƣ duy cho học sinh
1.1.2.2 Vai trò của trò chơi học tập
Vui chơi chiếm vị trí đáng kể trong đời sống của các em, đặc biệt giai đoạn đầu bậc Tiểu học Thông qua trò chơi trẻ dần hoàn thiện các thuộc tính tâm lý, nhân cách, trí tuệ và cả thể lực cũng đƣợc nâng lên Có nghĩa là trẻ em
“lớn” lên trong vui chơi
Khi chơi trẻ đƣợc hoạt động, đƣợc nhận thức hiện thực khách quan một cách cụ thể và để trả lời kích thích biến đổi thực tiễn trong lúc chơi: Hình thành cho trẻ các khả năng quan sát, óc phán đoán, suy luận; phối hợp tập thể; hoàn thiện khả năng ngôn ngữ mỗi trò chơi có một tác dụng khác nhau, song trò chơi nhìn chung là giúp các em rèn luyện những đức tính quý báu Đồng thời trò chơi còn giúp các em hoàn thiện các kĩ năng ứng dụng học vấn vào cuộc sống hàng ngày
1.1.2.3 Phân loại trò chơi học tập
Có nhiều cách phân loại trò chơi học tập:
- Phân loại theo mục tiêu dạy học:
+ Trò chơi hình thành kiến thức
+ Trò chơi hình thành thái độ
+ Trò chơi hình thành hành vi, thói quen…
- Phân loại theo tiến trình bài học:
Trang 24+ Trò chơi trong lớp
+ Trò chơi ngoài lớp…
Tuy nhiên, các cách phân loại trên cũng chỉ mang tính chất tương đối
1.1.3 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh lớp 2
Ở lứa tuổi tiểu học cơ thể trẻ đang trong thời kì phát triển hay nói cụ thể
là các hệ cơ quan chưa hoàn thiện vì thế sức dẻo dai của cơ thể còn thấp nên trẻ không thể làm lâu một cử động đơn điệu, dễ mệt nhất là khi hoạt động quá mạnh và ở môi trường thiếu dưỡng khí
Học sinh tiểu học nghe giảng rất dễ hiểu nhưng cũng sẽ quên ngay khi chúng không tập trung cao độ Vì vậy trong quá trình dạy và học giáo viên phải tạo ra hứng thú trong học tập và phải thường xuyên cho học sinh được luyện tập
Học sinh tiểu học rất dễ xúc động và thích tiếp xúc với một sự vật, hiện tượng nào đó nhất là những hình ảnh gây cảm xúc mạnh
Trẻ hiếu động, ham hiểu biết cái mới nên dễ gây cảm xúc mới song các
em chóng chán Do vậy trong dạy học giáo viên phải sử dụng nhiều đồ dùng dạy học, đưa học sinh đi tham quan, đi thực tế, tăng cường thực hành, tổ chức các trò chơi xen kẽ…để củng cố, khắc sâu kiến thức
1.2.1.2 Nội dung dạy học MRVT
Trang 25Việc dạy học mở rộng vốn từ và tích lũy vốn từ một cách có hiệu quả, phát triển được vốn từ ở các em đặt ra cho giáo viên tiểu học là một vấn đề không hề đơn giản Qua thực tế, chúng tôi nhận thấy:
Vấn đề dạy học mở rộng vốn từ trong sách giáo khoa Tiếng Việt từ lớp 2 đến lớp 5 được sắp xếp từ dễ đến khó, phù hợp với quá trình tư duy và nhận thức của các em
Nội dung vốn từ cung cấp cho học sinh: Ngoài các từ ngữ được dạy qua các bài tập đọc, chính tả, tập viết… học sinh được cung cấp vốn từ một cách
có hệ thống trong các bài từ ngữ theo chủ đề Chương trình đã xác định vốn từ cần cung cấp cho học sinh Đó là những từ ngữ thông dụng tối thiểu về thế giới xung quanh như công việc của học sinh ở trường và ở nhà, tình cảm gia đình và vẻ đẹp thiên nhiên, đất nước, những phẩm chất và hoạt động của con người… Những từ ngữ được dạy ở Tiểu học gắn với việc giáo dục cho học sinh tình yêu gia đình, nhà trường, yêu tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động Chúng làm giàu nhận thức, mở rộng tầm mắt của học sinh, giúp các em nhận thấy vẻ đẹp của quê hương, đất nước, con người, dạy các em biết yêu và ghét
Ở chương trình lớp 2: học sinh được học thêm khoảng 300- 350 từ ngữ(
kể cả thành ngữ, tục ngữ quen thuộc và nghĩa của một số yếu tố gốc Hán thông dụng) theo các chủ điểm:
và công việc trong nhà
Chủ điểm 6: Cha mẹ – MRVT: từ ngữ về tình cảm, từ ngữ về công việc gia đình
Trang 26 Chủ điểm 7: Anh em – MRVT: từ ngữ về tình cảm gia đình
Chủ điểm 8: Bạn trong nhà – MRVT: từ ngữ về vật nuôi
Chủ điểm 9: Bốn mùa – MRVT: từ ngữ về các mùa, từ ngữ về thời tiết
Chủ điểm 10: Chim chóc – MRVT: từ ngữ về chim chóc, từ ngữ về loài chim
Chủ điểm 11: Muông thú – MRVT: từ ngữ về muông thú, từ ngữ về loài thú
Chủ điểm 12: Sông biển – MRVT: từ ngữ về sông biển
Chủ điểm 13: Cây cối – MRVT: từ ngữ về cây cối
Chủ điểm 14: Bác Hồ – MRVT: từ ngữ về Bác Hồ
Chủ điểm 15: Nhân dân – MRVT: từ ngữ chỉ nghề nghiệp
Thực chất các từ này bổ sung cho vốn từ về thế giới xung quanh gần với các em và vốn từ về chính bản thân các em; học sinh còn nhận biết được ý nghĩa chung của từng lớp từ (từ chỉ người, vật, sự vật, từ chỉ hoạt động trạng thái, từ chỉ đặc điểm, tuy nhiên chưa yêu cầu học sinh hiểu các khái niệm danh từ, động từ, tính từ) Ngoài ra học sinh được nhật biết nghĩa một số thành ngữ tục ngữ, làm quen với cách giải nghĩa thông thường, nhận biết tên riêng và cách viết hoa tên riêng
Trong chương trinh sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2, tất cả các bài mở rộng vốn từ không có một tiết lý thuyết nào, học sinh tiếp thu kiến thức và rèn luyện kỹ năng hoàn toàn thông qua hệ thông các bài tập
Có ba kiểu bài tập:
- Kiểu bài tập mở rộng vốn từ qua tranh vẽ
- Kiểu bài tập mở rộng vốn từ theo quan hệ ngữ nghĩa
- Kiểu bài tập mở rộng vốn từ theo quan hệ cấu tạo
Trang 271.2.2 Thực trạng việc dạy học mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu học qua trò chơi học tập
Qua thực tế, tôi thấy trong các giờ dạy hầu hết giáo viên đều mong các
em học sinh hiểu bài, vận dụng lý thuyết để làm được bài tập và tham gia vào hoạt động giao tiếp Tất cả giáo viên đều nhận thấy ý nghĩa, tác dụng của việc
mở rộng vốn từ là không thể thiếu được Nếu không có vốn từ thì không thể học tập và giao tiếp được Tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số vấn đề: Nhiều giáo viên vẫn còn lúng túng, thiếu tự tin, còn có những sai sót trong khi dạy nên giờ học chưa đạt kết quả cao Trong quá trình cung cấp tri thức cho học sinh, giáo viên chưa thực sự chú trọng đến phương pháp Họ chỉ chú trọng là làm sao truyền tải hết nội dung sách giáo khoa Vì lý do đó mà việc dạy học phần mở rộng vốn từ chưa đạt được kết quả cao
Trong thời gian gần đây, trò chơi học tập đã được nhiều giáo viên quan tâm sử dụng Họ đã sáng tạo và áp dụng nhiều hơn trong quá trình dạy học các môn học ở Tiểu học nói chung và phân môn Tiếng Việt nói riêng Tuy còn nhiều bỡ ngỡ và lúng túng, song không thể phủ nhận vai trò và tầm quan trọng của trò chơi học tập đối với việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh
Muốn học sinh học tập tốt thì mỗi người giáo viên không phải chỉ truyền đạt, giảng giải theo các tài liệu đã có sẵn trong sách giáo khoa, sách hướng dẫn và thiết kế bài giảng một cách dập khuôn, máy móc làm cho học sinh học tập một cách thụ động Nếu chỉ dạy học như vậy thì việc học tập của học sinh
sẽ diễn ra thật đơn điệu, tẻ nhạt và kết quả học tập sẽ không cao Nó là một trong những nguyên nhân gây cản trở cho việc đào tạo các em thành những con người năng động, tự tin, sáng tạo sẵn sàng thích ứng với cuộc sống diễn
ra hàng ngày
Trang 28Yêu cầu của giáo dục hiện nay đòi hỏi phải đổi mới phương pháp dạy học; hướng tới “ Trường học thân thiện – học sinh tích cực” Vì vậy người giáo viên phải tạo được hứng thú học tập cho các em bằng cách lôi cuốn các em tham gia vào các hoạt động học tập Trò chơi học tập là hoạt động
mà các em hứng thú nhất Thông qua các trò chơi các em sẽ lĩnh hội tri thức của học một cách dễ dàng, củng cố, khắc sâu kiến thức một cách vững chắc, tạo cho các em niềm say mê, hứng thú trong học tập, trong việc làm Khi chúng ta đưa ra được các trò chơi thường xuyên, khoa học thì chắc chắn chất lượng dạy học sẽ ngày càng nâng cao
Mặt khác trò chơi học tập rất phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học Một trong những đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học là
“vừa dạy, vừa dỗ”, “ vui mà học, học mà vui” Chính vì vậy trò chơi học tập
là một trong những phương pháp dạy học dễ tạo được hứng thú nhất, từ đó thúc đẩy nhanh quá trình nhận thức và rèn luyện kỹ năng của học sinh
Ở Tiểu học môn Tiếng Việt có tác dụng to lớn trong việc hình thành nhân cách cho học sinh Việc dạy tốt môn học này sẽ góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục hiện nay, hình thành nhân cách và phẩm chất người lao động Việt Nam mới đáp ứng được yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời
kỳ mới Tuy vậy trong quá trình thực tập, đứng lớp, dự giảng chúng tôi thấy việc dạy học Tiếng Việt hiện nay mặc dù đã được coi trọng nhưng trong quá trình thực giảng còn khô khan và theo những quy trình dạy học cứng nhắc Trong giờ học giáo viên chủ yếu sử dụng phương pháp thuyết trình, giảng giải Hình thức tổ chức dạy học trong các hoạt động còn đơn điệu, sau giờ học, học sinh không biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tế Bên cạnh đó, một số giáo viên tiểu học đã có ý thức sử dụng trò chơi trong dạy học mở rộng vốn từ Tuy nhiên giáo viên chủ yếu sử dụng hình thức trò chơi thi đua giữa các nhóm Cách tổ chức đơn điệu, không khí vui học chưa rõ
Trang 29Không thể phủ mức độ cần thiết cũng như vai trò tích cực của trò chơi trong dạy học Tiếng Việt, phần lớn giáo viên thường xuyên sử dụng trò chơi trong dạy học Tiếng Việt Trong từng phân môn, từng tiết học cụ thể, điều kiện cụ thể mà giáo viên có thể lựa chọn và sử dụng cho phù hợp Trò chơi có thể lấy từ nhiều nguồn khác nhau
Tuy vậy khâu lựa chọn trò chơi là khâu khó khăn nhất đa số giáo viên vì ngoài yêu cầu đảm bảo tính giáo dục, tính sư phạm, tính vừa sức thì trò chơi học tập còn phải phù hợp với từng phân môn, phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường, phải chuẩn bị công phu… Đây cũng là một phần lý do khiến cho trò chơi học tập nói chung và trong môn Tiếng Việt nói riêng chưa phát huy được hết khả năng to lớn vốn có của nó
Nhận thức được sự cần thiết của trò chơi học tập đối với các môn học nói chung và đối với môn Tiếng Việt nói riêng, trong những năm vừa qua bên cạnh việc thay sách giáo khoa thì đổi mới phương pháp truyền thụ kiến thức cách tiếp cận giờ dạy cùng với hình thức tổ chức phong phú và linh hoạt làm cho quá trình dạy học đạt hiệu quả đạt mục tiêu giáo dục đề ra là ưu tiên hàng đầu Trong đó trò chơi và tổ chức trò chơi trong giờ học Tiếng Việt được xem như là một giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học môn Tiếng Việt hiệu quả
Trang 30
CHƯƠNG 2
TỔ CHỨC TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC MỞ RỘNG
VỐN TỪ Ở LỚP 2 2.1 Nguyên tắc tổ chức trò chơi học tập trong dạy học mở rộng vốn từ
2.1.1 Căn cứ vào đối tượng học sinh
Giáo viên phải hiểu được học sinh Tức là hiểu đối tượng của mình là ai?
Có những đặc điểm tâm – sinh lý gì khác biệt so với các lứa tuổi khác?
Giáo viên dựa vào nội dung bài học, đồng thời căn cứ vào điều kiện cụ thể mà lựa chọn trò chơi phù hợp
2.1.2 Căn cứ vào mục đích sử dụng trò chơi học tập
Trò chơi học tập không chỉ nhằm giải trí mà còn góp phần củng cố tri thức, kĩ năng học tập cho học sinh (giữa hai mục đích trên nên coi trọng mục đích thứ hai hơn)
Sử dụng trò chơi học tập nhằm làm cho quá trình tiếp thu tri thức, rèn luyện kĩ năng của học sinh thêm sự sinh động, hấp dẫn do đó hiệu quả học tập tăng lên
2.1.3 Căn cứ vào nội dung của bài học
Trò chơi học tập phải gắn với các tri thức, kĩ năng của một môn học (lĩnh vực tri thức, kĩ năng nào đó) Nói cách khác, khi sáng tạo và áp dụng các trò chơi học tập người giáo viên dựa vào kiến thức, kĩ năng của Tiếng Việt
Giáo viên dựa vào nội dung của bài học, đồng thời căn cứ vào điều kiện
cụ thể mà lựa chọn trò chơi phù hợp
2.1.4 Căn cứ vào điều kiện cơ sở vật chất của lớp học
Không gian của lớp học, kiểu và kích cỡ bàn ghế của học sinh… là những yếu tố có ảnh hưởng lớn đến hoạt động tổ chức các trò chơi trong giờ học Tiếng Việt
Trang 312.1.5 Yêu cầu sư phạm khi tổ chức trò chơi học tập
2.2 Sử dụng trò chơi học tập trong dạy học mở rộng vốn từ ở lớp 2
Có nhiều ý kiến xung quanh vấn đề cách thức tổ chức trò chơi học tập trong môn Tiếng Việt Nhưng dù tổ chức theo cách thức nào trước hết giáo viên cũng phải tự làm giàu ngân hàng trò chơi của mình, xác định rõ mục đích khi tổ chức mỗi trò chơi và chuẩn bị thật chu đáo, kĩ lưỡng
Trang 32Giáo viên cần sưu tầm bổ sung trò chơi làm cho trò chơi luôn mới và hấp dẫn đối với học sinh và phải linh hoạt trong cách tổ chức tránh lặp lại gây cảm giác nhàm chán cho học sinh và không đạt được yêu cầu đề ra Muốn vậy giáo viên phải có “ngân hàng” trò chơi riêng cho mình để tránh tình trạng “cụt vốn”
Trước khi xác định cách thức tổ chức trò chơi, cần xác định rõ mục đích đưa ra trò chơi vào để làm gì? Sau khi chơi trẻ sẽ thu nhận được gì? Nên đưa
ra trò chơi nào?
2.2.1 Chuẩn bị cho trò chơi
Đây là bước quan trọng, vì khi chuẩn bị chu đáo chúng ta đã có 50% thành công
Để trò chơi diễn ra thành công thì sự chuẩn bị của người giáo viên mang tính tiên quyết Để trò chơi diễn ra thành công giáo viên phải chuẩn bị về đạo
cụ, không gian, thời gian, các thành phần tham gia điều kiện lớp học, cơ sở vật chất của nhà trường…
2.2.2 Các bước tiến hành tổ chức trò chơi học tập
Đây là bước có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả của quá trình sử dụng trò chơi học tập Và thường được tiến hành theo 5 bước như sau:
Bước 1: Giới thiệu trò chơi:
- Nêu tên trò chơi
- Giới thiệu đồ dùng để tham gia chơi
- Hướng dẫn cách chơi
- Phân chia nhóm chơi(đội chơi)
Bước 2: Chơi thử (nếu cần)
Bước 3: Giới thiệu luật chơi
Bước 4: Tổ chức cho các đội chơi theo luật
Bước 5: Nhận xét đánh giá
Trang 33 Lưu ý:
+ Thưởng – phạt phải công minh đúng luật, sao cho người chơi chấp nhận thoải mái và tự giác, làm cho trò chơi thêm hấp dẫn, kích thích hứng thú học tập của học sinh
+ Thưởng những học sinh, những nhóm tham gia chơi nhiệt tình, đúng luật và thắng trong cuộc chơi Hình thức: khen ngợi, khích lệ bằng tràng pháo tay…
+ Phạt những học sinh, những nhóm học sinh bằng hình thức đơn giản: chào đội thắng cuộc, kể chuyện vui, hát một bài, nhảy lò cò, múa…
2.3 Hoạt động tổ chức trò chơi học tập trong dạy học mở rộng vốn từ
2.3.1 Nhóm 1: Các trò chơi được vận dụng vào giải các bài tập
2.3.1.1 Tổ chức trò chơi với kiểu bài MRVT qua tranh vẽ
Một số trò chơi trong dạy học bài MRVT qua tranh vẽ
- Trò chơi “Tìm kẻ trú ẩn”
- Trò chơi “Ghép nhanh tên cho hình”
- Trò chơi “Tìm từ cho tranh”
…
Trò chơi “Tìm kẻ trú ẩn”
A Mục đích
- Mở rộng vốn từ, tìm nhanh và gọi tên được các sự vật ẩn trong tranh
- Luyện kỹ năng quan sát tinh, óc tưởng tượng, liên tưởng giỏi
Trang 34- Băng dính, nam châm hoặc hồ dán
- Hết thời gian, các nhóm lên đính tờ giấy ghi kết quả lên bảng Giáo viên hướng dẫn cả lớp hô “đúng” (hoặc “sai”, hoặc “thiếu”) giáo viên trợ giúp việc xác nhận kết quả của từng nhóm
- Khi các nhóm đọc xong kết quả, giáo viên cùng cả lớp dựa vào số lượng đồ vật tìm được để xếp giải nhất, giải nhì, giải ba (có thể đồng giải nhất, nhì, ba hoặc yêu cầu trả lời thêm câu hỏi phụ để phân rõ thứ hạng
Chú ý:
Trò chơi vận dụng được vào các bài tập
+ Bài 3 (Tuần 6 - trang 52) Tìm các đồ dùng học tập ẩn trong các tranh sau Cho biết mỗi đồ vật ấy được dùng để làm gì
+ Bài 1 (Tuần 11 - trang 90) Tìm các đồ vật được vẽ ẩn trong bức tranh sau và cho biết mỗi vật dùng để làm gì
Trò chơi “Ghép nhanh tên cho hình”
A Mục đích
- Mở rộng vốn từ
- Ghép nhanh từ với đồ vật, hình vẽ tương ứng
- Có biểu tượng về nghĩa của từ
B Chuẩn bị
Trang 35- Tranh ảnh, đồ vật thật theo yêu cầu bài: 3 bộ
- Thẻ ghi tên các tranh ảnh, đồ vật thật: 3 bộ
2.3.1.2 Tổ chức trò chơi với kiểu bài MRVT theo quan hệ ngữ nghĩa
Một số trò chơi trong dạy học bài MRVT theo quan hệ ngữ nghĩa
- Trò chơi “Tìm nhanh từ cùng chủ đề”
Trang 36- Trò chơi “Tìm nhanh từ đồng nghĩa”
- Trò chơi “Tìm nhanh từ trái nghĩa”
- Trò chơi “Phân nhanh các từ cùng nhóm”
+ Nhận biết nhanh từ trái nghĩa
+ Mở rộng vốn từ, luyện trí thông minh, tính nhanh nhẹn
B Chuẩn bị:
- Giáo viên viết sẵn các cặp từ trái nghĩa vào 2 mặt của các bảng con
C Cách tiến hành:
- Giáo viên yêu cầu: Tìm nhanh từ trái nghĩa
- Luật chơi: Giáo viên giơ từng bảng con có từ trong đề bài Gõ tín hiệu thước để học sinh xung phong giơ tay chơi Những học sinh giơ tay trước hiệu lệnh bị phạm quy không được dự chơi
Giáo viên gọi bất kỳ 1 học sinh giơ tay nêu từ trái nghĩa tìm được khi học sinh đọc xong, giáo viên quay đáp án ở mặt sau bảng Nếu đúng thì học sinh đó được lớp khen nếu sai thì thôi
Trang 37a Đẹp, ngắn, nóng, thấp, lành, xấu, cao, dài
b Lên, yêu, xuống, chê, ghét, khen
c Trời, trên, đất, ngày, dưới, đêm
Mẫu: nóng - lạnh
+ Bài 2 (Tuần 34 - trang 137) Hãy giải nghĩa từng từ dưới đây bằng từ trái nghĩa với nó:
a trẻ con b cuối cùng c xuất hiện d bình tĩnh
Mẫu: Trẻ con trái nghĩa với người lớn
Trò chơi “Phân nhanh các từ cùng nhóm”
+ Viết sẵn các từ trong bài tập lên bảng
+ Hoa có dán sẵn băng dính (Số lượng tuỳ theo số từ có trong bài và số hoa phải có 2 màu khác nhau, gấp 2 lần số từ)
Cách 2:
Trang 38B Chuẩn bị:
+ Làm các thẻ quân bài trên mỗi thẻ ghi một từ cần phân nhóm
+ VD: Chia các từ sau thành 2 nhóm:
a Ngô, khoai, bắp cải, bí
b Ngô, lúa, su su, sắn, mướp
+ Số lượng người chơi là 2 nhóm chơi; mỗi người chơi đều có bút để đánh dấu
C Cách tiến hành:
- Giáo viên phát cho mỗi người (nhóm) chơi một bộ bài hoặc một bảng
từ, nêu luật chơi VD: Dựa vào đặc điểm của các loại cây được gọi tên trong
bộ bài (bảng từ) hãy sắp xếp cá từ trong bộ bài thành 2; 4 nhóm
- Mỗi người (nhóm) chơi cầm bảng từ hoặc bày ra các quân bài ra, đọc một lượt các từ rồi dựa vào đặc điểm giống nhau của sự vật, hành động… (cũng là nghĩa của từ ghi trong bảng hoặc trong các quân bài); Xếp các quân bài theo các nhóm hoặc dùng út đánh dấu các từ trong bảng theo nhóm (1; 2)
- Hết thời gian quy định (khoảng 3 phút) cá nhân (nhóm) nào phân loại được đúng và nhanh sẽ được tính điểm và được khen thưởng (mỗi từ phân loại đúng được tính 1 điểm)
Chú ý
Trò chơi vận dụng được ở các bài tập sau:
Bài 1 (Tuần 23 - trang 45) Xếp tên các con vật dưới đây vào nhóm thích hợp
a Thú dữ, nguy hiểm Mẫu: hổ
b Thú không nguy hiểm Mẫu: thỏ
(hổ, báo, gấu, lơn nòi, chó sói, sư tử, ngựa vằn, bò rừng, khỉ, vượn, tê giác, sóc, chồn, cáo, hươu)
Trang 39Bài 1 (Tuần 26 - trang 73) Hãy xếp tên các loài cá vẽ dưới đây vào nhóm thích hợp:
- Trò chơi có từ 2 – 4 nhóm, mỗi nhóm có từ 3 – 4 học sinh tham gia
- Sau khi giải nghĩa từ ngữ dùng để gọi tên chủ đề (giáo viên hoặc h/s giải thích)
VD: Đồ dùng học tập là những dụng cụ của cá nhân dùng để học tập; vật nuôi là những con vật nuôi trong nhà…
- Giáo viên ( người dẫn trò) nêu yêu cầu:
+ Hãy kể ra những từ gọi tên đồ dùng học tập (hoặc những từ nói về tình cảm gia đình…)
+ Từng nhóm ghi lại những từ đó vào bảng phụ (đã được chia theo
số lượng nhóm), hoặc ghi vào giấy nháp để đọc lên Thời gian viết khoảng 2 – 3 phút
+ Mỗi từ viết đúng được tính 1 điểm; mỗi từ viết sai không bị trừ; nhóm nào có số điểm cao nhất sẽ đứng ở vị trí số 1, các nhóm khác dựa theo số điểm để xếp vào các vị trí 2, 3, 4…
Cách 2: