TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC ĐINH THỊ LEN TÌM HIỂU CHỨC NĂNG CỦA NGÔN NGỮ TRONG CÁC VĂN BẢN TIẾNG VIỆT THUỘC PHÂN MÔN TẬP ĐỌC, SGK TIẾNG VIỆT 3 KHÓA LUẬN TỐT N
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
ĐINH THỊ LEN
TÌM HIỂU CHỨC NĂNG CỦA NGÔN NGỮ TRONG CÁC VĂN BẢN TIẾNG VIỆT THUỘC PHÂN MÔN TẬP ĐỌC, SGK TIẾNG VIỆT 3 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tiếng Việt
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
ĐINH THỊ LEN
TÌM HIỂU CHỨC NĂNG CỦA NGÔN NGỮ TRONG CÁC VĂN BẢN TIẾNG VIỆT THUỘC PHÂN MÔN TẬP ĐỌC, SGK TIẾNG VIỆT 3 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tiếng Việt
Người hướng dẫn khoa học:
ThS.GVC.Phan Thị Thạch
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tất cả tấm lòng mình, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành, sâu sắc đến cô giáo Th.s Phan Thị Thạch, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tôi suốt quá trình xây dựng và hoàn thiện đề tài Tôi xin cảm ơn Ban Giám Hiệu nhà trường cùng toàn thể các thầy cô trong trường, trong khoa Giáo dục Tiểu học đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi suốt quá trình học tập vừa qua
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Sinh viên
Đinh Thị Len
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Đề tài “Tìm hiểu chức năng của ngôn ngữ trong các văn bản tiếng
Việt thuộc phân môn Tập đọc, SGK Tiếng Việt 3” được tôi nghiên cứu và
hình thành trên cơ sở kế thừa và phát huy những công trình nghiên cứu có liên quan của tác giả khác, cộng với sự cố gắng, nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn, Th.s Phan Thị Thạch
Tôi cam đoan kết quả của đề tài này không trùng với bất kì một công trình nghiên cứu nào
Sinh viên
Đinh Thị Len
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do lựa chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng nghiên cứu 5
4 Mục đích nghiên cứu 5
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Phạm vi nghiên cứu 5
7 Phương pháp nghiên cứu 6
8 Cấu trúc khóa luận 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 7
1.1 Cơ sở lí luận 7
1.1.1 Cơ sở ngôn ngữ 7
1.1.1.1 Khái niệm chức năng, chức năng ngôn ngữ 7
1.1.2 Cơ sở tâm lí học 12
1.2 Cơ sở thực tiễn 16
1.2.1 Đọc là gì? 16
1.2.2 Vai trò, ý nghĩa của hoạt động đọc đối với con người 16
1.2.3 Vị trí, nhiệm vụ của phân môn Tập đọc ở trường tiểu học 17
1.2.4 Thời lượng, nội dung chương trình dành cho phân môn Tập đọc trong SGK Tiếng Việt 3 19
1.2.5 Cấu trúc một bài Tập đọc trong SGK Tiếng Việt 3 20
CHƯƠNG 2: TÌM HIỂU CHỨC NĂNG CỦA NGÔN NGỮ TRONG CÁC VĂN BẢN TIẾNG VIỆT THUỘC PHÂN MÔN TẬP ĐỌC, SGK TIẾNG VIỆT 3 23
2.1 Kết quả thống kê phân loại văn bản và các biện pháp tu từ trong văn bản nghệ thuật thuộc SGK Tiếng Việt 3 23
Trang 72.1.1 Kết quả thống kê phân loại văn bản 23
2.1.2 Kết quả thống kê, phân loại các biện pháp tu từ trong các văn bản nghệ thuật 24
2.2 Tìm hiểu chức năng của ngôn ngữ trong các văn bản tiếng Việt thuộc phân môn Tập đọc thuộc SGK Tiếng Việt 3 28
2.2.1 Chức năng của một số biện pháp tu từ trong các văn bản nghệ thuật thuộc phân môn Tập đọc ở SGK Tiếng Việt 3 28
2.2.2 Chức năng của văn bản thuộc phân môn Tập đọc trong SGK Tiếng Việt 3 39
2.3.Tiểu kết 52
KẾT LUẬN 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do lựa chọn đề tài
Các nhà ngôn ngữ học trong nhiều thế kỉ qua ( từ thế kỉ XIX) đã nghiên cứu và khẳng định ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt Nó đặc biệt trước hết về mặt lịch sử, vì ngôn ngữ là hiện tượng xã hội được hình thành sớm nhất và cho đến nay ngôn ngữ vẫn đang tồn tại và không ngừng phát triển Theo giáo sư Bùi Minh Toán từ chiều sâu lịch sử, từ bề rộng của cuộc sống xã hội,ngôn ngữ luôn gắn bó mật thiết với xã hội loài người Nó vừa là đặc trưng thiết yếu, vừa là công cụ của con người và xã hội loài người
Vì ngôn ngữ có tầm quan trọng với con người và cuộc sống xã hội, cho nên việc nghiên cứu về ngôn ngữ nói chung và về chức năng ngôn ngữ nói riêng
đã không còn mới lạ Tuy nhiên việc nghiên cứu về nó không bao giờ là đủ Nhận thức rõ tầm quan trọng của ngôn ngữ và chức năng của ngôn ngữ, Ðảng
và Chính phủ ta, trong quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, đã luôn coi trọng việc xây dựng tiếng Việt cũng như các ngôn ngữ của các dân tộc anh
em trên đất nước Việt Nam để chúng không ngừng phát triển và phục vụ tốt nhất cho sự nghiệp cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta Ngày nay, Đảng và Nhà nước rất quan tâm tới giáo dục và đào tạo, coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu trong đó bậc tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân Bậc học này nhằm trang bị cho học sinh những tri thức sơ giản nhất về tự nhiên xã hội, con người giúp các em có cái nhìn đúng đắn về thế giới khách quan Bộ Giáo dục và đào tạo đã đổi mới chương trình, nội dung SGK từ lớp 1 đến lớp 5 ở tất cả các môn học cho phù hợp với sự phát triển khoa học và khả năng nhận thức của học sinh tiểu học Trong đó, môn Tiếng Việt ở tiểu học là một môn học có vai trò quan trọng cho việc phát triển tư duy cho học sinh tiểu học Mục tiêu cơ bản của Tiếng Việt ở tiểu học là hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng
Trang 9tiếng Việt ( nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong môi trường hoạt động của lứa tuổi Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt góp phần rèn luyện cho các em các thao tác tư duy Môn Tiếng Việt ở tiểu học cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản tiếng Việtvà những hiểu biết sơ giản về xã hội
tự nhiên và con người, về văn hóa văn học của Việt Nam và nước ngoài đồng thời bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách của con ngườiViệt Nam xã hội chủ nghĩa
Để thực hiện mục tiêu trên, nội dung môn Tiếng Việt ở tiểu học được cụ thể hóa qua các phân môn Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn Nhiệm vụ của phân môn Tập đọc là rèn kĩ năng đọc ( đọc thành tiếng, đọc thầm, đọc diễn cảm) và các kĩ năng nghe nói Mục đích của việc dạy Tập đọc là giúp học sinh tiểu học hiểu văn bản, từ đó bồi dưỡng các năng lực: giao tiếp, tư duy và thẩm mĩ cho các em Để đạt được điều đó, các tác giả SGK rất
ý thức lựa chọn các văn bản phù hợp với từng đối tượng cụ thể
Nghiên cứu chức năng của ngôn ngữ trong các văn bản Tập đọc lớp 3 là nghiên cứu về những phương tiện ngôn ngữ, về các biện pháp tu từ được dùng trong văn bản tiếng Việt thuộc phân môn Tập đọccủa SGK Tiếng Việt 3 Điều này rất cần thiết cho việc giảng dạy sau này của bản thân tác giả khóa luận Nhận thức rõ giá trị, ý nghĩa của ngôn ngữ trong các văn bản tập đọc
SGK Tiếng Việt lớp 3, chúng tôi đã lựa chọn “Tìm hiểu chức năng của ngôn
ngữ trong các văn bản tiếng Việt thuộc phân môn Tập đọc, SGK Tiếng Việt 3” làm đề tài nghiên cứu
Trang 102.1 Chức năng của ngôn ngữ từ góc nhìn của các nhà khoa học
2.1.1 Tác giả Nguyễn Thiện Giáp qua cuốn : “Dẫn luận ngôn ngữ học”
( NXB Giáo dục, 1996) đã nêu ra 2 chức năng của ngôn ngữ Thứ nhất, ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu nhất của con người Nhờ ngôn ngữ mà con người có thể hiểu nhau trong quá trình sinh hoạt và lao động, người ta có thể diễn tả và làm cho người khác hiểu được tình cảm, tư tưởng, trạng thái nguyện vọng của mình Thứ hai, ngôn ngữ là công cụ tư duy của con người Chức năng giao tiếp của ngôn ngữ gắn liền vơi chức năng thể hiện tư duy của
nó, nhưng 2 chức năng này không thể đồng nhất với nhau được Chức năng giao tiếp chỉ thể hiện khi có hành động giao tiếp, tức là khi người ta dùng ngôn ngữ để trao đổi hoặc phản ánh một nội dung tư tưởng, tình cảm với người khác hoặc với chính mình Trong thực tế, người ta có thể nói một mình, đọc một mình hoặc viết ra giấy những điều mình nghĩ Người ta có thể suy nghĩ lặng thầm mà không phát ra lời Nguyễn Thiện Giáp cho rằng chức năng làm công cụ tư duy được biểu hiện ở hai phương diện: ngôn ngữ là công cụ hiện thực trực tiếp tư tưởng con người, đồng thời nó tham gia vào quá trình suy nghĩ để hình thành tư tưởng của con người
2.1.2 Tác giả Bùi Minh Toán qua cuốn: “Dẫn luận ngôn ngữ học”
(NXB Đại học sư phạm Hà Nội, 2008) cũng đưa ra hai chức năng chính của ngôn ngữ Đó là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người, vì ngôn ngữ dùng trong sinh hoạt, ngôn ngữ dùng trong văn học nghệ thuật, trong khoa học kĩ thuật…nhờ có ngôn ngữ mà con người giao tiếp được với nhau Ngôn ngữ và việc giao tiếp bằng ngôn ngữ làm cho xã hội loài người dần dần nảy sinh và hình thành các phương tiện giao tiếp khác Chức năng làm công
cụ để con người nhận thức và tư duy Trong quá trình sống và hoạt động, con người luôn luôn có nhu cầu tìm hiểu về thế giới xung quanh, về bản thân mình Nhận thức của con người có thể tiến hành qua các hoạt động giao tiếp
Trang 11(nghe hoặc đọc) và chính trong hoạt động ấy, ngôn ngữ đóng vai trò là công
cụ duy nhât Mặt khác, hoạt động tư duy có thể tiến hành một cách thầm lặng (khi ta suy nghĩ thầm) Khi ở cả trạng thái này, ngôn ngữ vẫnđóng vai trò là công cụ quan trọng Chúng ta không thể suy nghĩ, tư duy mà không có ngôn ngữ hoặc không thể tiến hành hoạt động tư duy bằng một thứ ngôn ngữ ta không hề biết Ngoài hai chức năng chính như trên, thì tác giả còn đề cập tới các chức năng khác của ngôn ngữ đó là chức năng làm chất liệu và phương tiện của nghệ thuật văn chương, chức năng siêu ngôn ngữ
Các giáo trình kể trên chủ yếu tập trung vào nghiên cứu về ngôn ngữ nói chung, về hai chức năng xã hội chính của ngôn ngữ, còn chức năng của ngôn ngữ trong các văn bản tiếng Việt , tức là chức năng của ngôn ngữ trong hoạt động lời nói không phải là đối tượng nghiên cứu của họ
2.2 Những khóa luận tốt nghiệp của sinh viên khoa tiểu học có liên quan tới việc tìm hiểu chức năng ngôn ngữ trong văn bản Tiếng Việt SGK tiểu học
2.2.1 Nguyễn Thị Lan, 2004: “Tìm hiểu hiệu quả nghệ thuật của phép so sánh tu từ trong thơ viết cho thiếu nhi”
2.2.2 Lưu Thị Dung, 2009: “Tác dụng của so sánh tu từ với việc giáo dục nhận thức, giáo dục tình cảm, giáo dục thẩm mĩ cho học sinh tiểu học” 2.2.3 Nguyễn Thị Quý, 2015: “So sánh tu từ với việc hình thành biểu tượng về cây hoa cho học sinh tiểu học”
Trong tất cả các khóa luận trên, đối tượng nghiên cứu được thể hiện rõ ở
đề tài mà các tác giả đã lựa chọn Tổng thuật tình hình nghiên cứu về chức năng của ngôn ngữ, chúng tôi thấy không có đề tài nào trùng lặp với đề tài
“Tìm hiểu chức năng của ngôn ngữ trong các văn bản tiếng Việt thuộc
phân môn Tập đọc,SGK Tiếng Việt 3” mà chúng tôi đang nghiên cứu
Trang 123 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Chức năng của ngôn ngữ trong các văn bản tiếng Việt thuộc phân môn Tập đọc, SGK Tiếng Việt 3
4 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài khóa luận này chúng tôi hướng đến vào mục đích sau: 4.1 Củng cố hiểu biết cho bản thân về các phương tiện ngôn ngữ( từ, câu), các biện pháp tu từ trong Tiếng Việt, nâng cao hiểu biết về chức năng của ngôn ngữ và hiệu quả thực hiện chức năng của ngôn ngữ trong văn bản thuộc phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 3 Từ đó bản thân tác giả khóa luận định hướng dạy tập đọc tốt hơn khi được đứng trên bục giảng
4.2 Cung cấp một tài liệu tham khảo cho sinh viên khoa Giáo dục Tiểu học và cho những ai quan tâm, nghiên cứu về chức năng của ngôn ngữ trong hoạt động sử dụng
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài khóa luận
5.2 Thống kê phân loại:
- Các văn bản tiếng Việt thuộc phân môn Tập đọc, SGK Tiếng Việt 3
- Các phương tiện ngôn ngữ, các biện pháp tu từ được dùng trong văn bản tiếng Việt thuộc phân môn Tập đọc, SGK Tiếng Việt 3
5.3 Sử dụng phương pháp nghiên cứu thích hợp để tìm hiểu chức năng của ngôn ngữ trong các văn bản tiếng Việt thuộc phân môn Tập đọc, SGK Tiếng Việt 3
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu
- Do thời hạn và khuân khổ khóa luận, nên chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu chức năng của các phương tiện ngôn ngữ (từ, câu), các biện pháp tu từ trong văn bản tiếng Việt thuộc phân môn Tập đọc SGK Tiếng Việt 3
Trang 136.2 Giới hạn phạm vi tư liệu khảo sát, thống kê
- Khảo sát 80 văn bản ( đoạn văn bản) thuộc kiểu bài tập đọc trong SGK Tiếng Việt 3 tập một, tập hai do NXB Giáo dục, xuất bản năm 2000
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp thống kê, phân loại
Phương pháp này được dùng để thống kê, phân loại các phương tiện ngôn ngữ ( từ, câu), các biện pháp tu từ được nhà văn sử dụng trong văn bản tiếng Việt thuộc phân môn Tập đọc, SGK Tiếng Việt 3 thuộc phạm vi nghiên cứu
7.2 Phương pháp phân tích
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để phân tích ngữ liệu nhằm chỉ ra hiệu quả của cácphương tiện ngôn ngữ ( từ, câu), các biện pháp tu từ được nhà văn sử dụng trong văn bản Tiếng Việt thuộc phân môn Tập đọc SGK Tiếng Việt 3
7.3 Phương pháp tổng hợp
Đây là phương pháp được chúng tôi vận dụng để tổng hợp các tài liệu nghiên cứu về phương tiện ngôn ngữ ( từ, câu), các biện pháp tu từ nhằm thu thập những lí thuyết cơ bản làm cơ sở lí luận cho đề tài
7.4 Ngoài những phương pháp đã kể trên chúng tôi còn sử dụng các phương pháp miêu tả, so sánh để xử lí tài liệu
8 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phần nội dung đề tài gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cở sở thực tiễn của việc nghiên cứu chức
năng của ngôn ngữ trong các văn bản tiếng Việt thuộc phân môn Tập đọc, SGK Tiếng Việt 3
Chương 2: Tìm hiểu chức năng của ngôn ngữ trong các văn bản tiếng
Việt thuộc phân môn Tập đọc, SGK Tiếng Việt 3
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Cơ sở ngôn ngữ
1.1.1.1 Khái niệm chức năng, chức năng ngôn ngữ
a Khái niệm chức năng
Theo Từ điển Tiếng Việt, chức năng là thuật ngữ dùng để chỉ “ phương diện hoạt động chủ yếu của tổ chức, cá nhân hay phương diện tác động của một loại hình công cụ được xác định”( Trích từ điển Tiếng Việt)
b Khái niệm chức năng ngôn ngữ
Nguyễn Thiện Giáp trong “Dẫn luận ngôn ngữ học” giúp ta hiểu rằng bản thân “chức năng ngôn ngữ” chứa đựng hai ý nghĩa:
- Các khả năng tiềm tàng của chính bản thân ngôn ngữ
- Những nhiệm vụ mà xã hội trao cho ngôn ngữ và nó có khả năng thực hiện được nhiệm vụ đó
c Hai chức năng cơ bản của ngôn ngữ
c1 Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu của con người (Lê-nin) Giao tiếp là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc giữa các thành viên trong xã hội
để trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm và để bày tỏ thái độ của bản thân với thế giới xung quanh
Giao tiếp là nhu cầu đặc biệt thiết yếu với con người Hoạt động giao tiếp có ngay từ khi có con người và xã hội loài người, và ngày càng phong phú, đa dạng cùng với sự phát triển của con người và xã hội Nhờ có hoạt động giao tiếp, con người mới dần trưởng thành và xã hội loài người mới hình thành và phát triển Ðặc điểm của hoạt động giao tiếp là bao giờ cũng xảy ra trong một hoàn cảnh nhất định, với những phương tiện nhất định, nhằm một mục đích truyền đạt một nội dung giao tiếp nhất định Để giao tiếp con người
có thể sử dụng nhiều loại phương tiện khác như cử chỉ, điệu bộ, dấu hiệu,
Trang 15hình hiệu…Trong số các phương tiện đó, ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp lợi nhất, thông dụng nhất, và nó đem lại hiệu quả giao tiếp cao nhất cho con người
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp thông dụng nhất, vì mọi người không phân biệt giới tính, tuổi tác, hoàn cảnh sống, điều kiện kinh tế, trình độ…, đều
có thể dùng ngôn ngữ để trau dồi thông tin, bày tỏ tình cảm với người khác Ngôn ngữ là phương tiếp tiện lợi nhất vì các phương tiện ngôn ngữ được
cá nhân lưu giữ trong kí ức, khi cần chỉ việc đưa ra sử dụng, không phải tốn kém tiền của sức lực Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp tiện lợi nhất còn vì
nó có thể được sử dụng ở mọi nơi, mọi lúc
Ngôn ngữ là phương tiện giúp con người đạt hiệu quả giao tiếp cao nhất
vì chỉ có ngôn ngữ với giúp con người phản ánh những nội dung phức tạp và biểu thị những sắc thái tình cảm tinh tế
Khi nói: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người”, điều đó không có nghĩa các đơn vị ngôn ngữ có vai trò như nhau và
cùng trực tiếp tham gia vào hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Hệ thống ngôn ngữ của dân tộc bao chứa rất nhiều đơn vị thuộc cấp độ lớn, nhỏ khác nhau Âm vị là đơn vị ngữ âm nhỏ nhất trong hệ thống Loại đơn vị này chỉ có chức năng khu biệt nghĩa, nhận diện từ Dù không phải là đơn vị có chức năng
là phương tiện giao tiếp, nhưng âm vị là đơn vị không thể thiếu trong cấu tạo
âm tiết( tiếng)- một loại đơn vị ngữ âm nhỏ nhất trong lời nói Trong Tiếng Việt, vì mỗi âm tiết trùng với một hình vị (đơn vị mang nghĩa dùng để cấu tạo từ)
Con người cũng không dùng từ làm phương tiện giao tiếp, mặc dù đó là loại đơn vị được đánh giá là đơn vị trung tâm, đơn vị cơ bản của một ngôn ngữ Tuy vậy nếu không có từ thì sẽ không thể có phương tiện để tạo câu- loại đơn vị có chức năng thông báo nhỏ nhất của hoạt động lời nói
Trang 16Trong các loại phương tiện ngôn ngữ, câu, đoạn văn bản và văn bản là những phương tiện có thể đảm nhiệm chức năng giao tiếp xã hội của con người Nếu câu là đơn vị có chức năng tạo thành văn bản Đó là loại đơn vị có chức năng thông báo một nội dung trọn vẹn phù hợp với một tình huống giao tiếp cụ thể Trong các phương tiện đảm nhiệm chức năng là công cụ giao tiếp của con người, thì văn bản là loại đơn vị tiêu biểu Loại đơn vị này sẽ được chúng tôi dành ở mục riêng để trình bày
c2 Ngôn ngữ là công cụ tư duy của con người
Tư duy hiểu một cách đơn giản đó là hoạt động nhận thức và phản ánh nhận thức của con người về hiện thực khách quan
Quá trình tư duy của con người được phân chia làm hai giai đoạn: Giao đoạn tư duy cảm tính và giai đoạn tư duy lí tính
Giai đoạn tư duy cảm tính là giai đoạn con người nhận thức bằng trực quan sinh động Và kết quả tư duy của con người ở giai đoạn này là nhận biết được một số đặc điểm bên ngoài của sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan
Giai đoạn tư duy lí tính là giai đoạn con người nhận thức thế giới khách quan bằng khái niệm, phán đoán và suy luận
Ở hai giai đoạn của tư duy, nếu không có ngôn ngữ thì con người không thể nhận thức được đối tượng cần tiếp cận F de Saussure đã từng nhấn mạnh
vai trò to lớn của ngôn ngữ đối với tư duy của con người: “Xét bản thân nó, tư duy cũng tựa hồ như một đám tinh vân, trong đó không có gì được phân giới một cách tất nhiên Không làm gì có những ý niệm được xác lập từ trước trước khi ngôn ngữ xuất hiện”
Các Mác và Ăng Ghen trong cuốn hệ tư tưởng Đức đã chỉ rõ: “Ngôn ngữ là sự hiện thực trực tiếp tư tưởng của con người” Các nhà khoa học
nghiên cứu về đại cương ngôn ngữ đã cụ thể hóa ý kiến của hai nhà tư tưởng
Trang 17vĩ đại thông qua chứng minh: các thực từ có chức năng hiện thực hóa khái niệm; các câu tường thuật khẳng định, câu tường thuật phủ định hiện thực hóa phán đoán và đoạn văn bản có thể đảm nhiệm chức năng trình bày suy luận của con người
d Các chức năng khác của ngôn ngữ
Theo Bùi Minh Toán trong cuốn “Dẫn luận ngôn ngữ học”, ngoài hai
chức năng quan trọng, phổ biến như trên thì khi nói đến ngôn ngữ của con người, người ta còn thường nói đến một chức năng nữa, không kém phần quan trọng và phổ biến của nó là chức năng làm chất liệu và phương tiện của nghệ thuật văn chương Loại hình nghệ thuật này đã sử dụng ngôn ngữ làm chất liệu và qua sự lựa chọn, trau chuốt mà đạt tới trình độ nghệ thuật cao Văn chương nghệ thuật xét đến cùng cũng là một hình thức bộc lộ nhận thức tình cảm của con người, giao tiếp và trao đổi thông tin với người khác và qua
đó người tiếp nhận cũng nâng cao nhận thức tư tưởng tình cảm của mình Cho nên ngôn ngữ trong văn chương cũng thực hiện hai chức năng, tuy rằng có những đặc trưng nghệ thuật riêng
Chức năng của ngôn ngữ còn thể hiên ở chỗ: ngôn ngữ được dùng làm phương tiện để nói về chính ngôn ngữ Đó là chức năng siêu ngôn ngữ Đây cũng là đặc điểm phân biệt ngôn ngữ với các phương tiện giao tiếp khác của con người Các phương tiện giao tiếp khác của con người không thể được sử dụng để nói một cái gì đó về chính các phương tiện ấy Chẳng hạn không thể dùng một bức tranh để phân tích, bình giá, truyền bá thông tin về bức tranh
đó Ngôn ngữ thì trái lại: con người có thể dùng ngôn ngữ để biểu hiện và thông tin về mọi đối tượng xung quanh con người và chính ngôn ngữ Điều đó không chỉ thể hiện trong các công trình ngôn ngữ học, ở đó ngôn ngữ của con người vừa xuất hiện với tư cách phương tiện phân tích, lí giải, tranh luận về ngôn ngữ, vừa xuất hiện với tư cách đối tượng nghiên cứu
Trang 181.1.1.2 Văn bản
a Khái niệm văn bản
“ Văn bản là một đơn vị được làm thành từ một khúc đoạn lời nói hay lời viết, hoặc lớn hoặc nhỏ, có cấu trúc, có đề tài…loại như một truyện
kể, một bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đường…”
(Bách khoa th ư ngôn ngữ và ngôn ngữ học, 1994, R.E.Asher chủ biên-
dẫn theo Diệp Quang Ban, 2003, tr 50)
b Các đăc trưng của văn bản
b1 Về mặt kết cấu
Mỗi văn bản có một khuôn hình riêng( kết cấu riêng) Ví dụ: các văn bản hành chính đều được tổ chức theo khuôn mẫu có tính pháp quy Đinh Trọng Lạc cho rằng, trong các loại văn bản thì văn bản thơ là loại văn bản có khuôn hình mềm dẻo nhất
b2 Về mặt nội dung
Mỗi văn bản thường thể hiện một chủ đề Chủ đề đó được khai triển và duy trì theo mục đích giao tiếp của người tạo lập văn bản
b3 Về mặt chức năng
Bùi Minh Toán- Lê A- Đỗ Việt Hùng, quan niệm:
“Văn bản vừa là phương tiện, vừa là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ”
Từ đó, các tác giả khẳng định:
“Văn bản cũng đảm nhận chức năng chính: là phương tiện giao tiếp
và là công cụ tư duy của con người”
(Tiếng Việt thực hành, NXB Giáo dục, xuất bản năm 2002)
Tuy vậy, trong từng phạm vi giao tiếp, sự thể hiện các chức năng cơ bản trên ở mỗi loại văn bản lại có sự khác biệt
Trang 19Ngôn ngữ văn chương có thể dảm nhận nhiều chức năng như: Phản ánh, biểu cảm, truyền cảm, thẩm mĩ, giải trí,…
b4 Về đặc tính tiêu biểu
Trong cuốn “Ngữ pháp Tiếng Việt” ( 2000), Diệp Quang Ban cho
rằng: “Ở mỗi văn bản, mạch lạc là yếu tố rất quan trọng Nó là cái làm cho văn bản là “ văn bản”
Theo cách trình bày của tác giả, chúng ta có thể hiểu mạch lạc được thể hiện trước hết ở các cách diễn đạt trong sáng, trôi chảy một nội dung tư tưởng, tình cảm Nhờ vậy, tính thống nhất của đề tài chủ đề được đảm bảo Trong văn bản, liên kết cũng là yếu tố không thể thiếu Để đảm bảo tính mạch lạc, chặt chẽ của văn bản, người tạo lập phải sử dụng kết hợp các phép liên kết hình thức (phép nối, phép thế, phép điệp, phép liên tưởng) và phép liên kết nội dung (liên kết chủ đề, liên kết logic)
b5 Về số lượng phương tiện được dùng để tạo lập văn bản
Thông thường văn bản được tạo ra bằng nhiều câu Ở đó, các câu được trình bày theo quan hệ tuyết tính và chúng được tổ chức theo một kết cấu (một khuôn hình nhất định)
Diệp Quang Ban (2000) cho rằng: Đây chính là cơ sở hiện thực cho mạch lạc và liên kết
b6 Tính trọn vẹn, tương đối của văn bản
Theo Diệp Quang Ban (2000), đặc trưng này của văn bản được thể hiện ở các yếu tố định biên đầu và cuối văn bản Nhờ có đặc trưng này văn bản thật sự là một chỉnh thể thống nhất, trọn vẹn cả về nội dung và hình thức 1.1.2 Cơ sở tâm lí học
1.1.2.1 Đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học
a Đặc điểm tư duy của học sinh tiểu học
Trang 20Tư duy là quá trình vận động của trí óc để nhận thức sự vật , tư duy là một quá trình tâm lí, phản ánh những thuộc tính, bản chất, những mối quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan
mà trước đó ta chưa biết
Tư duy của học sinh tiểu học chia làm hai giai đoạn:
+ Giai đoạn tư duy cụ thể( lớp 1 đến lớp 3): Ở giai đoạn này các thao tác
tư duy được gọi tắt là “cụ thể” vì trong một chừng mực nhất định chúng còn dựa trực tiếp vào các đồ vật, hiện tượng thực tại mà chưa tác động được lên lời nói và các giả thiết bằng lời Ở giai đoạn này hành động trên đồ vật, sự kiện bên ngoài là chỗ dựa hay là điểm xuất phát cho hành động trí óc
Càng về cuối giai đoạn , các thao tác tư duy xuất hiện, liên kết với nhau nhưng sự liên kết đó còn từng phần chưa hoàn toàn tổng quát Khoảng từ 10 đến 11 tuổi các em đạt được những tiến bộ tư duy về lĩnh vực không gian Các tiến bộ này biểu hiện sự hoàn chỉnh về tư duy cụ thể, khắc phục dần hạn chế và chuẩn bị cho sự phát triển lên bước cao hơn
+ Giai đoạn tư duy trừu tượng (lớp 4, 5): Ở giai đoạnnày tư duy có bước tiến bộ cơ bản , tư duy trừu tượng bắt đầu chiếm ưu thế, nghĩa là tư duy có thể tách khỏi cái cụ thể để thao tác với mệnh đề bằng lời nói và với các giả thiết, khả năng xem xét các biến đổi trong khả năng có thể xảy ra (gọi là khả năng logic)
b Khả năng tưởng tượng của học sinh tiểu học
Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dạn Tuy nhiên, tưởng tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau:
Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi
Trang 21Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ, trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh, Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em thông qua các kênh thông tin khác nhau
c Sự chú ý của học sinh tiểu học
Ở đầu tuổi tiểu học, chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này chú ý không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh,trò chơi hoặc có cô giáo xinh đẹp, dịu dàng, Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập
Ở cuối tuổi tiểu học trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài hát dài, Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định
d Trí nhớ của học sinh tiểu học
Loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic Giai đoạn lớp 1, 2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi
Trang 22nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu
Giai đoạn lớp 4,5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường Ghi nhớ có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em
e Ý chí của học sinh tiểu học
Ở đầu tuổi tiểu học, hành vi mà trẻ thực hiện còn phụ thuộc nhiều vào yêu cầu , điều kiện của người lớn (học để được bố cho đi ăn kem, học để được
cô giáo khen, quét nhà để được ông thưởng quà, ) Khi đó, sự điều chỉnh ý chí đối với việc thực thi hành vi ở các em còn yếu Đặc biệt các em chưa đủ ý chí để thực hiện đến cùng mục đích đã đề ra nếu gặp khó khăn
Đến cuối tuổi tiểu học, các em đã có khả năng biến yêu cầu của người lớn thành mục đích hành động của mình.Tuy vậy, năng lực ý chí của trẻ còn thiếu bền vững, chưa thể trở thành nét tính cách của các em Việc thực hiện hành vi vẫn chủ yếu mang nặng cảm tính, nhất thời
Nói tóm lại, sáu tuổi vào lớp 1 là bước ngoặt lớn của trẻ thơ Môi trường thay đổi: đòi hỏi trẻ phải tập trung chú ý thời gian liên tục từ 30 - 35 phút Chuyển từ hiếu kỳ,tò mò sang tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá.Tất cả đều là thử thách với trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt những điều này thì phải cần có sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội dựa trên những hiểu biết về tri thức khoa học
g Sự phát triển tình cảm của học sinh tiểu học
Tình cảm của học sinh tiểu học mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn liền với các sự vật hiện tượng sinh động, rực rỡ, Lúc này khả năngkiềm chế
Trang 23cảm xúc của trẻ còn non nớt, trẻ dễ xúc động và cũng dễ nổi giận, biểu hiện
cụ thể là trẻ dễ khóc mà cũng nhanh cười, rất hồn nhiên vô tư
Tuy vậy có thể nói nếu tình cảm của trẻ mầm non chưa bền vững, dễ thay đổi thì tình cảm của trẻ tiểu học đã "người lớn" hơn rất nhiều
1.2 Cơ sở thực tiễn
Ở đây chúng tôi chủ yếu dựa vào khái niệm “đọc”, vị trí, vai trò, nhiệm
vụ của phân môn Tập đọc ở trường tiểu học
1.2.1 Đọc là gì?
Trong cẩm nang dạy học tiếng Nga, M.R Lơ- vốp đã khẳng định: Đọc
là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với hình thức đọc thành tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không
có âm thanh (ứng với đọc thầm)
Chính tác giả đã giúp chúng ta hiểu rằng: Đọc không chỉ là công việc giải một bộ mã gồm hai phần chữ viết và phát âm, nghĩa là nó không phải chỉ
là sự “đánh vần” lên thành tiếng theo đúng như các kí hiệu chữ viết mà còn là một quá trình nhận thức để có khả năng thông hiểu những gì được đọc
1.2.2 Vai trò, ý nghĩa của hoạt động đọc đối với con người
Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu văn hoá, khoa học, tư tưởng, tình cảm của các thế hệ trước và của cả những người đương thời phần lớn đã được ghi lại bằng chữ viết Nếu không biết đọc thì con người không thể tiếp thụ nền văn minh của loài người, không thể sống một cuộc sống bình thường, có hạnh phúc với đúng nghĩa của từ này trong xã hội hiện đại Biết đọc, con người đã nhân khả năng tiếp nhận lên nhiều lần, từ đây, anh ta biết tìm hiểu, đánh giá cuộc sống, nhận thức các mối quan hệ tự nhiên, xã hội, tư duy Biết đọc, con người sẽ có khả năng chế ngự một phương tiện văn hoá cơ bản giúp họ giao tiếp được với thế giới bên trong của người khác, thông hiểu
Trang 24tư tưởng, tình cảm của người khác Đặc biệt khi đọc các tác phẩm văn chương, con người không chỉ được thức tỉnh nhận thức mà còn rung động tình cảm, nảy nở những ước mơ tốt đẹp, khơi dậy năng lực hành động, sức mạnh sáng tạo cũng như được bồi dưỡng tâm hồn Không biết đọc, con người sẽ không có điều kiện hưởng thụ sự giáo dục mà xã hội dành cho họ, không thể hình thành được một nhân cách toàn diện Đặc biệt trong thời đại bùng nổ thông tin thì biết đọc ngày càng quan trọng vì nó sẽ giúp người ta sử dụng các nguồn thông tin Đọc chính là học, học nữa, học mãi; đọc để tự học, học cả đời Vì những lẽ trên, dạy đọc có một ý nghĩa to lớn ở Tiểu học Đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản, đầu tiên đối với mỗi người đi học Trước hết là trẻ phải học đọc, sau đó trẻ phải đọc để học Đọc giúp trẻ em chiếm lĩnh một ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập Nó là công cụ để học tập các môn học khác Nó tạo ra hứng thú và động cơ học tập Nó tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học và tinh thần học tập cả đời Nó là một khả năng không thể thiếu được của con người trong thời đại văn minh Đọc một cách có
ý thức cũng sẽ tác động tích cực tới trình độ ngôn ngữ cũng như tư duy của người đọc Việc dạy đọc sẽ giúp học sinh hiểu biết hơn, bồi dưỡng ở các em lòng yêu cái thiện và cái đẹp, dạy cho các em biết suy nghĩ một cách lôgic cũng như biết tư duy có hình ảnh Như vậy, đọc có một ý nghĩa to lớn còn vì
nó bao gồm các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển
1.2.3 Vị trí, nhiệm vụ của phân môn Tập đọc ở trường tiểu học
1.2.3.1 Vị trí của của phân môn Tập đọc trong nội dung chương trình dạy Tiếng Việt tiểu học
Chương trình tiểu học mới xác định mục tiêu như sau:
Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học nhằm:
Trang 25- Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt( nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi
Thông qua việc dạy và học tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác
tư duy
- Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài
- Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Để thực hiện mục tiêu đó, nội dung chương trình môn Tiếng Việt được
cụ thể hóa ở các phân môn Học vần, Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Tập viết, Luyện từ và câu, Tập làm văn
Như vậy, phân môn Tập đọc chiếm vị trí thứ hai trong các phân môn Tiếng Việt Điều đó phản ánh tầm quan trọng của việc dạy Tập đọc ở trường tiểu học Phân môn này không những rèn luyện cho học sinh kĩ năng đọc đúng, đọc diễn cảm mà còn rèn luyện cho học sinh kĩ năng đọc để hiểu được nội dung của văn bản Từ đó, giúp các em đọc tốt hơn, mở mang tầm hiểu biết của bản thân, khơi gợi lên hứng thú để các em tích cực tự giác tham gia vào sinh hoạt và học tập
1.2.3.2 Nhiệm vụ của phân môn Tập đọc ở trường tiểu học
Phân môn Tập đọc ở trường tiểu học có hai nhiệm vụ chính sau:
- Tập đọc là một phân môn thực hành Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó
là hình thành năng lực đọc cho học sinh Năng lực đọc được tạo nên từ bốn kĩ năng cũng là bốn yêu cầu về chất lượng của “đọc”: đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung những điều mình
Trang 26đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm Bốn kĩ năng này được hình thành từ hai hình thức đọc: đọc thành tiếng và đọc thầm Chúng được rèn luyện đồng thời và hỗ trợ lẫn nhau Sự hoàn thiện một trong những kĩ năng này sẽ có tác động tích cực đến những kĩ năng khác
Ví dụ, đọc đúng là tiền đề của đọc nhanh cũng như cho phép thông hiểu nội dung văn bản Ngược lại, nếu không hiểu điều mình đang đọc thì không thể đọc nhanh và diễn cảm được Nhiều khi khó nói được rạch ròi kĩ năng nào làm cơ sở cho kĩ năng nào, nhờ đọc đúng mà hiểu đúng hay chính nhờ hiểu đúng mà đọc được đúng Vì vậy trong dạy đọc, không thể xem nhẹ yếu tố nào
- Nhiệm vụ thứ hai của việc dạy đọc là giáo dục lòng ham đọc sách, hình thành phương pháp và thói quen làm việc với văn bản, làm việc với sách cho học sinh Thông qua việc dạy đọc học sinh phải làm cho học sinh thích thú đọc và thấy được một trong nhưng con đường đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ, đầy đủ và phát triển
1.2.3.3 Nhiệm vụ khác
Hoạt động đọc không thể tách rời khỏi những nội dung được đọc nên bên cạnh nhiệm vụ rèn kĩ năng đọc, giáo dục lòng yêu sách, phân môn tập đọc còn có nhiệm vụ:
- Làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn học cho học sinh
- Phát triển ngôn ngữ, tư duy cho học sinh
- Giáo dục đạo đức tình cảm, thị hiếu thẩm mĩ cho học sinh
1.2.4 Thời lượng, nội dung chương trình dành cho phân môn Tập đọc trong SGK Tiếng Việt 3
1.2.4.1 Về thời lượng dành cho phân môn Tập đọc
Trang 27Trong SGK Tiếng Việt 3, thời lượng dành cho môn Tiếng Việt là 8 tiết/
1 tuần, tức là giảm một tiết mỗi tuần so với SGK Tiếng Việt 2 Thời lượng đó được phân bố cho từng phân môn như sau:
- Tập đọc 2,5 tiết/ tuần
- Kể chuyện 0,5 tiết/ tuần
- Chính tả 2 tiết/ tuần
- Luyện từ và câu 1 tiết/ tuần
- Tập viết 1 tiết/ tuần
- Tập làm văn 1 tiết/ tuần
Như vậy với thời lượng 2,5 tiết/ tuần, tổng số tiết dành cho dạy học Tập đọc ở SGK Tiếng Việt 3 trong suốt 35 tuần của năm học là 77,5 tiết
1.2.4.2 Khái quát nội dung chương trình dạy học Tập đọc cho học sinh lớp 3
Trong SGK Tiếng Việt 3, các nhà khoa học giáo dục chủ trương cho học sinh tiếp cận với nhiều loại văn bản thuộc các phong cách chức năng ngôn ngữ khác nhau, thuộc nhiều thể loại khác Chúng tôi sẽ trình bày cụ thể vấn đề này ở chương sau của khóa luận
Có thể nhận thấy một điểm chung là các văn bản được lựa chọn vào nội dung chương trình thuộc phân môn Tập đọc ở lớp 3 đều ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với đặc điểm tâm lí lứa tuổi của các em
1.2.5 Cấu trúc một bài Tập đọc trong SGK Tiếng Việt 3
Các văn bản lựa chọn để dạy học sinh Tập đọc có thể khác nhau về thể loại, về phong cách ngôn ngữ và nội dung được biểu đạt, nhưng chúng lại có cấu trúc giống nhau Cấu trúc đó là:
a Tên bài Tập đọc
b Tranh minh họa gắn với nội dung của văn bản
c Văn bản Tập đọc
Trang 28d Chú giải từ và câu trong văn bản
e Những câu hỏi gợi ý để học sinh đọc hiểu văn bản
Ví dụ: bài Tập đọc “Cuộc chạy đua trong rừng”
- Tên bài Tập đọc: Cuộc chạy đua trong rừng
- Tranh minh họa bài Tập đọc:
- Văn bản bài Tập đọc: Cuộc chạy đua trong rừng
Chú giải: Giải thích các từ nguyệt quế, móng đối thủ, vận động viên, thảng thốt, chủ quan
- Những câu hỏi hướng học sinh đọc hiểu
Câu hỏi 1: Con ngựa chuẩn bị tham dự hội thi như thế nào?
Câu hỏi 2: Ngựa cha khuyên con như thế nào?
Câu hỏi 3: Vì sao ngựa con không đạt kết quả trong hội thi?
Câu hỏi 4: Ngựa con rút ra bài học gì?
Tuy vậy, việc thực hiện nội dung trong cấu trúc một bài Tập đọc trong SGK Tiếng Việt 3 cũng có sự thay đổi linh hoạt
Ví dụ: bài “Cùng vui chơi” – Tuần 28 chủ điểm thể thao ( SGK TV 3,
tập 2, tr 83,84)
- Tên bài Tập đọc: Cùng vui chơi
Trang 29- Văn bản bài Tập đọc: Cùng vui chơi
- Tranh minh họa:
- Chú giải: Giải thích từ ngữ quả cầu
- Những câu hỏi hướng học sinh đọc hiểu
Câu hỏi 1: Bài thơ tả hoạt động gì của học sinh?
Câu hỏi 2: Học sinh chơi vui và khéo léo như thế nào?
Câu hỏi 3: Vì sao nói: “Chơi vui học càng vui”?
Câu hỏi 4: Học thuộc lòng bài thơ
Tiểu kết
Như vậy ở chương 1, khi xác định cơ sở lí luận cho đề tài khóa luận chúng tôi đã lựa chon một số lí thuyết thuộc ngôn ngữ học và tâm lí học Ngoài cơ sở lí luận, chúng tôi còn dựa vào cư sở thực tiễn của việc dạy học Tập đọc ở trường tiểu học nói chung và cho học sinh lớp 3 nói riêng Đó là những cơ sở tin cậy để chúng tôi hoàn thành những nhiệm vụ yêu cầu theo những mục tiêu đã đặt ra
Trang 30CHƯƠNG 2: TÌM HIỂU CHỨC NĂNG CỦA NGÔN NGỮ TRONG CÁC VĂN BẢN TIẾNG VIỆT THUỘC PHÂN MÔN TẬP ĐỌC, SGK TIẾNG
VIỆT 3
Do điều kiện thời gian có hạn, trong chương này chúng tôi tập trung khảo sát thống kê, phân loại các loại văn bản Tiếng Việt thuộc phân môn Tập đọc, SGK Tiếng Việt 3, tìm hiểu chức năng của các phương tiện ngôn ngữ trong hoạt động sử dụng ở các văn bản đó
Để có thể thực hiện được mục đích nghiên cứu đã đề ra, ở chương này chúng tôi báo cáo kết quả thống kê các loại văn bản Tiếng Việt thuộc phân môn Tập đọc, SGK Tiếng Việt 3, làm rõ chức năng của các biện pháp tu
từ được dùng trong câu, chức năng của đoạn văn bản và của toàn văn bản
2.1 Kết quả thống kê phân loại văn bản và các biện pháp tu từ trong văn bản nghệ thuật thuộc SGK Tiếng Việt 3
2.1.1 Kết quả thống kê phân loại văn bản
Chúng tôi đã thống kê được 80 văn bản Tiếng Việt thuộc phân môn Tập đọc, SGK Tiếng Việt 3 tập 1, 2 do nhà xuất bản Giáo dục, xuất bản năm 2000 Căn cứ vào đặc điểm hình thức của văn bản như thể loại, phong cách ngôn ngữ chúng tôi đã phân chia ngữ liệu thống kê thành những loại sau:
a Văn bản văn xuôi
Loại văn bản này được phân chia như sau
a1 Văn bản văn xuôi nghệ thuật:
Loại văn bản này chiếm tỉ lệ 44/ 75≈ 58,7%
Trang 31VD 1: Cậu bé thông minh (SGK TV 3, tập 1, tr 4, 5)
VD 5: Đơn xin vào đội (SGK TV 3, tập 1, tr 9)
VD 6: Báo cáo kết quả tháng thi đua noi gương chú bộ đội ( SGK TV 3, tập 2, tr.10)
2.1.1.3 Văn bản chính luận
Văn bản chính luận chiếm tỉ lệ 1/80≈ 1,25 %
VD 7: Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục (SGK TV 3, tập 2, tr 94)
2.1.1.4 Văn bản báo chí
Văn bản báo chí chiếm tỉ lệ 1/80≈ 1,25 %
VD 8: Tin thể thao (SGK TV 3, tập 2, tr 86,87)
2.1.1.5.Văn bản thuộc phong cách sinh hoạt
Văn bản thuộc phong cách sinh hoạt chiếm tỉ lệ 1/80≈ 1,25 %
và là loại văn bản đảm nhiệm nhiều chức năng nhất Những biện pháp tu từ