Giáo dục giới tính, hiểu một cách đầy đủ là sự giáo dục về sinh lý cơ thể, vệ sinh thân thể, sức khỏe sinh sản và tình dục.Thế nhưng ở nhiều gia đình, các bà mẹ không giải thích được ch
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN KHOA TÂM LÝ – GIÁO DỤC & CÔNG TÁC XÃ HỘI
BÀI TIỂU LUẬN
NHẬN THỨC VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG HÔN NHÂN ĐỒNG TÍNH CỦA HSTHPT TRẦN CAO VÂN THÀNH PHỐ QUY
NHƠN
Họ và tên : Hồ Thị Kim Luyến
Lớp : Tâm lý giáo dục K37
Khoa : Tâm lý – Giáo dục & Công tác xã hội
Quy Nhơn, tháng 12 năm 2016
Trang 2MỤC LỤC
Phần 1 : Những vấn đề chung 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2
5. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 2
6. Phương pháp nghiên cứu 2
7. Giả thuyết nghiên cứu 3
Phần 2 : Nội dung nghiên cứu 4
Chương 1 : Lý luận về thực trạng giáo dục giới tính cho HSTHPT ở thành phố Quy Nhơn 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề : 4
1.1.1 Những nghiên cứu nước ngoài về vấn đề giáo dục giới tính : 4
1.1.2 Một số công trình nghiên cứu trong nước về GDGT : 6
1.2 Cơ sở lý luận về thực trạng giáo dục giới tính cho HSTHPT: 7
1.2.1 Giới : 7
1.2.2 Giới tính : 8
1.2.3 Giáo dục giới tính : 9
1.2.4 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi HSTHPT : 11
1.2.4.1 Một số đặc điểm : 11
1.2.4.2 Điều kiện sống và hoạt động : 12
Chương 2 :Tổ chức và phương pháp nghiên cứu 2.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu : 13
2.1.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu : 13
2.1.2 Vài nét về khách thể nghiên cứu : 13
Trang 32.2 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu : 13
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi : 13
Chương 3 : Kết quả nghiên cứu thực tiễn 3.1 Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh THPT ở thành phố Quy Nhơn : 16
3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng giáo dục giới tính : 16
3.3 Kết quả nghiên cứu thực tiễn : 16
3.4 Đề xuất một số biện pháp : 19
Tài liệu tham khảo 20
Trang 4PHẦN 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1. Lý do chọn đề tài :
Hiện nay, tỷ lệ giáo dục giới tính trong trường THPT tại Việt Nam rất thấp (chỉ khoảng 0.3% trường THPT có đưa giáo dục giới tính vào giảng dạy cho học sinh).Sự thiếu hụt kiến thức về giới tính và kỹ năng sống là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc kém hiểu biết về kiến thức giới tính và số lượng mang thai ở tuổi vị thành niên ngày càng tăng cao Điều này ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe và khả năng học tập của thanh thiếu niên Theo Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam, bình quân mỗi năm có khoảng 300.000 ca nạo phá thai ở độ tuổi 15-19, trong đó 80-90% là học sinh, sinh viên cao nhất so với các nước Đông Nam Á và thứ 5 thế giới, và tỷ lệ vị thành niên có thai trong tổng số người mang thai tăng liên tục qua các năm.
Giáo dục giới tính tính dường như vẫn là một khái niệm mới trong xã hội Việt Nam Giáo dục giới tính, hiểu một cách đầy đủ là sự giáo dục về sinh lý
cơ thể, vệ sinh thân thể, sức khỏe sinh sản và tình dục.Thế nhưng ở nhiều gia đình, các bà mẹ không giải thích được cho con những điều cơ bản nhất
về giới tính Cha mẹ cũng chưa hiểu được rằng nhu cầu tìm hiểu về giới tính của con cái là điều tự nhiên và thiết yếu nên họ không giáo dục cho con
về vấn đề này, nhiều người hiểu vấn đề nhưng vì ngại nên không muốn nói ra.
Ở nước ta, giáo dục giới tính không được hiểu theo đúng nghĩa của nó Gia đình Việt Nam ngày nay còn chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng phong kiến và bởi vậy, việc giáo dục giới tính còn hạn chế trong những lời răn dạy về đạo đức Hoạt động giáo dục giới tính phổ biến trong các gia đình chỉ dừng lại ở góc độ dạy vệ sinh thân thể ở tuổi dậy thì.Với nhiều bậc phụ huynh, giáo dục tình dục hầu như chưa bao giờ được đặt ra.
Trên thực tế đã có nhiều trường hợp các em nam phạm tội hiếp dâm, các
em nữ có thai ở tuổi vị thành niên Nhiều trẻ ở lứa tuổi 14-15, còn cắp sách đến trường, chưa có kinh nghiệm về cuộc sống gia đình nhưng đã phải làm cha mẹ do thiếu hiểu biết về tình dục Đây là vấn đề làm đau đầu người lớn
và người ta cho rằng nguyên nhân là do tác động từ kinh tế thị trường, sự
du nhập của văn hóa ngoại lai, chạy theo lối sống ăn chơi, suy đồi về mặt đạo đức.
Trang 5Rõ ràng giáo dục giới tính là vấn đề đang được quan tâm, và có tầm quan trọng đối với lứa tuổi học sinh, sinh viên hiện nay Xuất phát từ những
lý do trên, đề tài nghiên cứu “ Thực trạng giáo dục giới tính cho HSTHPT ở thành phố Quy Nhơn ” được xác lập.
2. Mục đích nghiên cứu :
Đề tài tìm hiểu thực trạng giáo dục giới tính cho HSTHPT ở thành phố Quy Nhơn và các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng này.Trên cơ sở đó đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp nhằm kiểm soát thực trạng này.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu :
Tổng hợp hóa các vấn đề lý luận có liên quan đến thực trạng giáo dục giới tính cho HSTHPT ở thành phố Quy Nhơn : thực trạng, giới, giới tính, giáo dục giới tính, đặc điểm tâm sinh lý tuổi học sinh THPT, thực trạng giáo dục giới tính, thực trạng giáo dục giới tính cho HSTHPT.
Xác định thực trạng giáo dục giới tính cho HSTHPT ở thành phố Quy Nhơn.
Đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp nhằm kiểm soát thực trạng này.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu :
Đối tượng nghiên cứu : thực trạng giáo dục giới tính cho HSTHPT ở thành phố Quy Nhơn.
Khách thể nghiên cứu :
- Khách thể nghiên cứu chính : HSTHPT thành phố Quy Nhơn.
- Khách thể nghiên cứu bổ trợ : gia đình, bạn bè, thầy cô.
5. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu :
Vì một số lý do và điều kiện hạn chế mà tôi xin phép được giới hạn phạm
vi để thu hẹp vấn đề nghiên cứu :
- Về địa bàn nghiên cứu : để thuận lợi cho người nghiên cứu, khách thể nghiên cứu được thu hẹp là học sinh THPT Trần Cao Vân.
- Về khách thể nghiên cứu : trường THPT Trần Cao Vân có ba khối lớp
10, 11, 12 Tôi chỉ khảo sát ngẫu nhiên trên 100 em học sinh cả 3 khối lớp.
- Về nội dung nghiên cứu : thực trạng giáo dục giới tính cho HSTHPT ở thành phố Quy Nhơn bao gồm thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng này, nguyên nhân, biểu hiện, … vì điều kiện có hạn nên tôi chỉ nghiên cứu về thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng này.
Trang 6- Thời gian nghiên cứu : ngày 20 tháng 10 năm 2016 đến ngày 10 tháng 12 năm 2016.
6. Phương pháp nghiên cứu :
Đề tài sử dụng chủ yếu phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
7. Giả thuyết nghiên cứu :
Thực trạng giáo dục giới tính cho HSTHPT vẫn còn nhiều sự thiếu xót, không đáp ứng được nhu cầu cho HSTHPT, có sự chênh lệch giữa nam và
nữ, học sinh giữa các khối 10, 11 và 12, các nơi sinh sống Có các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng này :
- Yếu tố chủ quan : tố chất tâm lý cá nhân.
- Yếu tố khách quan : bạn bè, gia đình, nhà trường.
Trong đó, yếu tố chủ quan là quyết định.
Nếu đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp thích hợp thì sẽ đáp ứng được nhu cầu cần được giáo dục giới tính cho HSTHPT.
Trang 7PHẦN 2 : NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1 : LÝ LUẬN VỀ THỰC TRẠNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH
CHO HSTHPT Ở THÀNH PHỐ QIY NHƠN
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề :
1.1.1 Những nghiên cứu nước ngoài về vấn đề giáo dục giới tính :
Từ xa xưa trong các nền văn minh nhân loại, giới tính đã được đề cập đến thông qua các thảo luận về tình yêu như Kinh “Kamasutra” của Ấn Độ,
“Nghệ thuật yêu” của Ovidius, “Bữa tiệc” của Platon Khi nhân loại bước vào “Đêm trường trung cổ”, việc tìm hiểu các vấn đề tính dục cũng được quan tâm ít nhiều, nhưng chỉ để phục cụ cho sự ăn chơi của các vua quan phong kiến Việc nghiên cứu khách quan các vấn đề giới tính – tính dục chỉ thực sự được tiến hành ở thời kỳ Phục hung, khi bộ môn giải phẩu sinh lí bắt đầu phát triển Trong thời gian này, khía cạnh của tính dục xét về phương diện đạo đức và giáo dục được người ta hướng tới.
Cuối thế kỉ XIX, nhiều nhà khoa học ở Châu Âu đã bắt đầu tiến hành công tác nghiên cứu khách quan về tính dục của con người Họ miêu tả hang loạy bất thường trong tâm lý tính dục và tán thành việc xúc tiến công tác giáo dục tính dục một cách khoa học, và có thể coi cuốn “ Rối loạn tình dục” của Kraphta Ebing – 1886 là mốc đánh dấu đầu tiên Trong tác phẩm này, Ebing đã tranh luận rằng hoạt động tình dục vì bất kì mục đích gì ngoài mục đích sinh sản đều là sai lầm Ông nghiên cứu tập trung vào những hành vi tình dục kì dị xảy ra với bệnh nhân của mình.
Đầu thế kỉ XX, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, sự phổ biến của các phương tiện truyền thông đại chúng trong xã hội và nhất là sự gia tang dân số, vì vậy vấn đề GDGT được nhấn mạnh và đề cập nhiều hơn Công trình nghiên cứu của P.P.Blonxki, B.E.Raicop đã chỉ ra sự hiện hữu của một số biểu hiện tình dục sớm của trẻ em khỏe mạnh hoặc trẻ em có nhiều bệnh và mối quan hệ chặt chẽ giữa giáo dục giới tính và các loại hình hoạt động cá nhân của trẻ Theo các tác giả, GDGT được coi là toàn bộ các tác động sư phạm có tổ chức đến dự phát triển nhân cách của trẻ nhằm hình thành các thái độ và hành vi tự giác, lành mạnh về giới tính Các tác giả cũng đưa ra một số biện pháp GDGT trong nhà trường, với khối lượng thông tin cần thiết cho mỗi độ tuổi, ví dụ : Mẫu giáo và học sinh cấp I tìm hiểu về người mẹ, học sinh cấp II tìm hiểu về người cha, học sinh cấp III tìm hiểu về giới tính.
Trang 8Các công trình nghiên cứu của S.Freud như là :’ “Ba bài thảo luận về lí thuyết tính dục ” đến nay vẫn còn giá trị khoa học Ông đã tập trung chú ý vào mối quan hệ giữa các vấn đề tâm lí nhân cách với ccá dạng tình dục khá nhau.Và ông cho rằng, bất kì dạng tình dục bất thường nào cũng đều là
sự định hình những giai đoạn phát triển nhất định của tâm lí tính dục của con người.Tuy nhiên, những tác phẩm của ông đã quá đề cao yếu tố sinh dục trong đời sống con người.
Năm 1926, T.Vande Velde đã cho ra đời cuốn “ Hôn nhân hiện đại ” ,cuốn sách khoa học hiện đại đầu tiên về sinh lí học và kĩ thuật trong hôn nhân, trong đó người phụ nữ được coi là người bạn đời có vai trò và chức năng tính dục tương đương với người chồng.
Vào những năm 40 của thế kỉ XX, A.Kisney đã đánh dấu một bước nhảy vọt trong lĩnh vực nghiên cứu tính dục.Ông là người đầu tiên nghiên cứu tính dục dưới góc độ xã hội, kết quả được công bố trong cuốn “Ứng xử tình dục của đàn ông” (1948) – cuốn sách như một trái bom làm rạn nứt nhiều định kiến của xã hội Ông đã xua tan đi những chuyện hoang đường về tình dục thông qua việc làm rõ những vấn đề về thủ dâm, tình dục đồng giới và tình dục ngoài hôn nhân.
Công trình của W.Masters và V.Johnson vào năm 1954 đã tập trung vào việc phát hiện các chuẩn mực trong tính dục và cung cấp những tham số đáng tin cậy về đời sống tình dục của con người như : nam giới và nữ giới làm gì để phản ứng lại những kích thích tình dục có hiệu quả và nguyên nhân dẫn đến hành động của họ, biểu hiện của tình dục đồng giới…
Năm 1974, Hội nghị Quốc tế về tính dục ở Giơnevơ đã thảo luận đến sự cần thiết phải đưa tình dục vào giảng dạy tại các cơ sở của ngành giáo dục
và y tế.
Năm 1983, hội nghị giáo dục giới tính ở Thụy Điển được thành lập Trong những ănm 1984 – 1986, nhiều hoạt động của UNESCO đã làm sang tỏ yêu cầu về giáo dục đời sống gia đình, đồng thời đã biên soạn nội dung chương trình và tài liệu giảng dạy về giáo dục đời sống gia đình cho gia đình thực nghiệm (1988-1991) Tùy theo phong tục tập quán và sự định hướng giá trị mà mỗi nước áp dụng một cách khác nhau nội dung chương trình thực nghiệm này, nhưng tất cả đều thấy sự cần thiết phải giáo dục giới tính cho thế hệ trẻ.
Nghiên cứu của hai tác giả Tôn Vân Hiểu – Trương Dẫn Mặc 2003) trong cuốn “Hoa hồng giấu trong cặp sách” đã tiến hành phỏng vấn trực tiếp mười ba em nam nữ thanh niên Nghiên cứu đã phát hiện thấy một số “sự thật” như sau : trong số các em đã có quan hệ tình dục ở tuổi
Trang 9(2002-học trò thì có quá nửa em được thầy cô giáo công nhận là (2002-học sinh ngoan, 100% các em không sử dụng biện pháp tránh thai khi quan hệ lần đầu tiên, các em đã trải qua quan hệ tình dục mà cha mẹ và thầy cô giáo không hề biết, 100% các em không hài lòng với chương trinh GDGT trong trường học
và gia đình Qua đó, cho thấy một cái nhìn bao quát về đời sống giới tính và tình dục của lứa tuổi học trò, cũng như vấn đề GDGT cho lứa tuổi vị thành niên ở Trung Quốc.
1.1.2 Một số công trình nghiên cứu trong nước về giáo dục giới
tính :
Do chịu ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến, nên vấn đề giáo dục giới tính ở nước ta vẫn còn tâm lý “ né tránh ”, chính vì thế mà việc bàn luận một cách công khai vấn đề giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên bắt đầu khá muộn và chậm chạp.
Trong chỉ thị số 176A ngày 24/12/1984 do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng kí, đã nêu rõ : “ Bộ giáo dục, Bộ đại học và trung học chuyên nghiệp, tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức có liên quan, xây dựng chương trình khóa và ngoại khóa nhằm bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức về khoa học giới tính, về hôn nhân gia đình và nuôi dạy con cái”.
Từ năm 1985,các công trình nghiên cứu của các tác giả như : Đặng Xuân Hoài, Trần Trọng Thủy, Phạm Hoàng Gia, Bùi Ngọc Oánh,…đã nghiên cứu nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh chi tết của giới tính và giáo dục giới tính.Những nghiên cứu này đã làm cơ sở cho việc giáo dục giới tính cho thế
hệ trẻ nước ta.
Đặc biệt từ năm 1988, một đề án với quy mô lớn nghiên cứu về giáo dục gia đình và giới tính cho học sinh có kí hiệu VIE/80/P09 (do Trần Trọng Thủy chủ nhiệm đề tài) đã được Hội đồng Chính phủ, Bộ giáo dục và đào tao, Viện khoa học giáo dục Việt Nam thông qua và cho phép thực hiện với sự tài trợ của UNFPA và UNESCO khu vực Đề án đã tiến hành rất thận trọng và khoa học, nghiên cứu khá sâu rộng nhiều vấn đề như : quan niệm tình bạn, tình yêu, hôn nhân và nhận thức về giới tính và GDGT của giáo viên, học sinh và phụ huynh ở nhiều nơi trong cả nước, để chuẩn bị tiến hành giáo dục giới tính cho học sinh THPT.
Cuốn “Giáo dục giới tính ở nhà trường phổ thông cấp II ” của Giáo sư Trần Trọng Thủy (1993) đã chỉ ra kết quả một số vấn đề cơ bản của GDGT cho học sinh cấp II và đề xuất việc đưa GDGT vào bậc tiểu học Theo tác giả, nội dung GDGT là được lồng ghép trong các môn cơ bản của tất cả các bậc
Trang 10học và trong một chừng mực nhất định, tác giả cũng đề cập GDGT cho trẻ tiền học đường : “Các em chưa đến tuổi đi học cần phải được giáo dục thái
độ thiện ý tự nhiên với bạn bè cùng giới, khác giới và có kỹ năng vui chơi thân ái với bạn”.
Tác giả Nguyễn Khắc Viện đã dày công nghiên cứu về trẻ em – lứa tuổi tiền học đường, cũng đã có nhiều đóng góp đáng kể trong lĩnh vực GDGT cho trẻ em.Theo ông, đến tuổi mẫu giáo, khi trẻ tò mò muốn biết về mọi thứ xung quanh, chúng muốn biết về sự khác biệt của thế giới xung quanh, thì
sự khác biệt về giới tính cũng nằm trong tầm mắt của chúng.Vì vậy, giáo dục giới tính có thể bắt đầu ngay tư khi trẻ có ý thức về bản thân mình và người khác.
Năm 1991, Bùi Ngọc Oánh đã nghiên cứu “ những yếu tố tâm lý trong
sự chấp nhận giáo dục giới tính của thanh thiếu niên học sinh” khẳng định tầm quan trọng của giáo dục giới tính, nêu lên một số biện pháp để nâng cao sự chấp nhận việc giáo dục giới tính của học sinh THPT.
Năm 1998, Lê Ngọc Lan đã nghiên cứu “ nhận thức của sinh viên về tình yêu và giới tính”, đã được công bố ở Tạp chí Tâm lý học số 3/1998 đã
có kết luận nhận thức của sinh viên về tình yêu.
Năm 2007, Đỗ Hà Thế Bình đã nghiên cứu “ Thực trạng việc quản lý giáo dục giới tính cho học sinh các trường THCS tại Huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương và một số giải pháp”.
Trên đây là những tác phẩm, công trình nghiên cứu tiêu biểu nói về vấn đề giáo dục giới tính ở Việt Nam.
1.2 Cơ sở lý luận về thực trạng giáo dục giới tính cho HSTHPT ở thành phố Quy Nhơn :
1.2.1 Giới :
Giới xuất phát từ “ gender” trong tiếng Anh.
Giới là một khái niệm rất phức tạp, được hiểu theo nhiều nghĩa.
- Theo góc độ sinh học, giới được hiểu là một tập hợp những đặc điểm sinh lý
cơ thể đặc trưng ở con người Những đặc điểm sinh lí cơ thể thường bao gồm những đặc điểm di truyền, những hệ cơ quan sinh lí cơ thể, điển hình
và quan trọng nhất là hệ cơ quan sinh dục Ở con người có hai hệ cơ quan sinh dục chính là hệ cơ quan sinh dục nam và nữ, vì vậy loài người có hai giới nam và giới nữ Giới theo nghĩa này được hiểu là giới sinh học, giới di truyền.
- Theo góc độ xã hội, giới là những đặc điểm mà xã hội tạo nên ở người nam
và người nữ, là quy định của xã hội về người nam và người nữ, là nhữngđặc trưng xã hội ở nam và nữ Đó là giới xã hội Giới xã hội thường
Trang 11bao gồm nhiều vấn đề như : vai trò, vị trí của mỗi giới, đặc điểm và nhiệm
vụ của mỗi giới trong xã hội….
- Xét về mặt sinh lý cơ thể, giới là những đặc điểm bẩm sinh, có tính di truyền Yếu tố quan trọng và điển hình của giới ở đây là hệ cơ quan sinh dục Và dưới ảnh hưởng chủ yếu của hoạt động của hệ cơ quan sinh dục, cơ thể con ngừoi còn có những biến đổi khác, tạo nên những đặc trưng của giới về hệ xương và hệ cơ, chiều cao và cân nặng, tỉ lệ giữa cơ và mỡ, hình dáng đặc trưng của cơ thể nam và nữ, sức lực của từng giới và nhiều đặc điểm sinh lí khác nhau, như nữ giới có khả năng thụ thai, sinh nở, có hiện tượng kinh nguyệt…giới nam thì cao lớn khỏe mạnh hơn, có khả năng sản xuất tinh trùng.
- Xét về mặt xã hội, giới là những đặc điểm do xã hội tạo ra, do những quy định , luật lệ, đòi hỏi…của xã hội đối với con người là nam hay nữ Ban đầu dưới ảnh hưởng của đặc tính về sinh lí cơ thể như chiều cao, tầm vóc, sức mạnh… người nam và người nữ được phân công những công việc, những vai trò khác nhau trong đời sống xã hội Dần dần ở mỗi người, mỗi giới tạo nên những đặc tính về mặt xã hội như vai trò của gia đình, địa vị xã hội, nhu cầu về đời sống tình cảm… những yếu tố trên chịu sự tác động của xã hội, của lịch sử tạo nên những đặc điểm, chức năng, vai trò xã hội khác nhau Giới được thể hiện ở vai trò, chức năng, nghĩa vụ xã hội Giới là tập hợp người có những vai trò chức năng xã hội nhất định.
1.2.2 Giới tính :
Giới tính có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và thường bị sử sụng lẫn lộn với nhiều thuật ngữ khác như : giới, tình dục, tính dục, sinh dục,… Nhiều người thường quan niệm giới tính đồng nghĩa với tình dục hoặc với tính dục Đó là một quan niệm chưa thật sự đầy đủ, chỉ hiểu theo một cách đơn giản hoặc hiểu về một mặt nào đó của giới tính.
Giới tính cần được hiểu một cách toàn diện hơn :
- Trước hết, theo từ ngữ, giới tính có thể được hiểu là những đặc điểm của giới Những đặc điểm này có thể rất phong phú và đa dạng Vì giới vừa bao gồm những thuộc tính về sinh học và những thuộc tính về tâm lí xã hội, nên giới tính cũng bao gồm những đặc điểm về sinh lý cơ thể và tâm lý xã hội.
- Giới tính cũng có thể được hiểu là những đặc điểm tạo nên những đặc trưng của giới, giúp cho chúng ta phân biệt giới này với giới kia.
Những đặc điểm trên thường mang tính đặc trưng của từng giới và tạo nên sự khác biệt giữa hai giới.giới tính là những yếu tố xác định sự khác biệt giũa giới này với giới kia.