1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao chất lượng đào tạo phóng viên truyền hình ở Việt Nam hiện nay

237 1,3K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 237
Dung lượng 2,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở xây dựng khung lý thuyết về chất lượng đào tạo phóng viêntruyền hình, luận án có mục đích đánh giá thực trạng đào tạo chuyên ngànhphóng viên truyền hình ở

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ BÁO CHÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1- TS NGUYỄN TRÍ NHIỆM

2- TS TRẦN THỊ THU NGA

HÀ NỘI – 2016

Trang 3

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục bảng biểu

MỞ ĐẦU 1TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 11

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO PHÓNG VIÊN TRUYỀN HÌNH Ở VIỆT NAM 381.1 Các khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu 381.2 Yêu cầu đối với phóng viên truyền hình trong bối cảnh hiện nay 461.3 Các yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo phóng viên truyền hình ở Việt Nam 53Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO PHÓNG VIÊN TRUYỀN HÌNH Ở VIỆT NAM 652.1 Phương pháp nghiên cứu 652.2 Kết quả khảo sát 692.3 Kết quả nghiên cứu các yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo báo chí truyền hình ở một số quốc gia trên thế giới 102

Chương 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO PHÓNG VIÊN TRUYỀN HÌNH Ở VIỆT NAM 115

3.1 Những vấn đề đặt ra từ thực trạng đào tạo phóng viên truyền hình ở Việt Nam hiện nay 1153.2 Mô hình nâng cao chất lượng đào tạo phóng viên truyền hình ở Việt Nam 1203.3 Các giải pháp thực hiện mô hình nâng cao chất lượng đào tạo phóng viên truyền hình ở Việt Nam 1223.4 Một số khuyến nghị 153KẾT LUẬN 159DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 163TÀI LIỆU THAM KHẢO 164PHỤ LỤC 175

Trang 4

AJC : Học viện Báo chí và Tuyên truyền

BCTH : Báo chí truyền hình

BC&TT : Báo chí và Tuyên truyền

CLĐT : Chất lượng đào tạo

CTV : Trường Cao đẳng Truyền hình, Đài Truyền hình Việt NamGD&ĐT : Giáo dục và đào tạo

Trang 5

Biểu/Bảng Nội dung Trang

Bảng 2.1 Đánh giá mức độ cần thiết một số môn chuyên ngành 74Biểu đồ 2.3 Trình độ giảng viên cơ hữu của Học viện BC&TT năm

học 2014-2015

76

Biểu đồ 2.4 Đánh giá mức độ phù hợp về các phương pháp giảng

dạy đối với khả năng tiếp thu nội dung các môn chuyên ngành

79

Biểu đồ 2.5 Mức độ thiết thực của các khối kiến thức 87Biểu đồ 2.6 Đánh giá khối lượng kiến thức so với khả năng tiếp thu 87Biểu đồ 2.7 Mức độ sử dụng thiết bị của giảng viên chuyên ngành 92Biểu đồ 2.8 Đề nghị tăng phương pháp giảng dạy các môn chuyên

hành/studio cho các môn chuyên ngành

Trang 6

có 65 đài Ngoài 105 kênh truyền hình quảng bá, hệ thống truyền hình trả tiềnphát triển mạnh bằng nhiều công nghệ truyền dẫn như truyền hình cáp (gồm cảIPTV), truyền hình mặt đất kỹ thuật số, truyền hình trực tiếp qua vệ tinh vàtruyền hình di động với 73 kênh phục vụ khoảng 9,9 triệu thuê bao trên toànquốc (trong đó thuê bao truyền hình cáp chiếm 80,8%) Ngoài ra, có 06 kênhtruyền hình hoạt động không có hạ tầng phát sóng truyền hình riêng, bao gồmcác kênh: Truyền hình VOV, Truyền hình Công an nhân dân, Truyền hìnhThông tấn, Truyền hình quốc phòng, Truyền hình Quốc hội, Truyền hình Nhândân [110] Nguồn nhân lực làm truyền hình đã góp phần làm nhân lực làm báo

cả nước có “tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm là 6,5%” (Tờ trình số

229-TTr/BCSĐ ngày 27/3/2014 của Bộ Thông tin và Truyền thông về Quy hoạch

Báo chí Toàn quốc đến năm 2020) Bên cạnh đó, nhiều công ty truyền thông

cũng tham gia sản xuất chương trình truyền hình Thủ tướng Chính phủ đã phê

duyệt “Quy hoạch phát triển dịch vụ phát thanh, truyền hình Việt Nam đến năm

2020” (số 1448/QĐ-TTg ngày 19/8/2013), theo đó, từ năm 2015 cung cấp ổn

định 70 đến 80 kênh truyền hình phục vụ nhiệm vụ chính trị, thông tin tuyêntruyền thiết yếu Đảm bảo cung cấp khoảng 40 đến 50 kênh truyền hình chuyênbiệt của Việt Nam cho dịch vụ truyền hình trả tiền Đến năm 2020, cả nước cókhoảng 60% đến 70% số hộ sử dụng dịch vụ này Có thể thấy, sự phát triển củatruyền hình đặt ra yêu cầu nguồn nhân lực cho lĩnh vực này phải gia tăng cả về

Trang 7

số lượng và chất lượng Việc đào tạo chuyên sâu vào chuyên ngành vẫn có giá trịthực tiễn khi đáp ứng nhu cầu làm việc trong lĩnh vực truyền hình

Thực tiễn cho thấy truyền hình đang phát triển theo hướng đa nền tảng

Theo V.V.Vô-rô-si-lốp: "Bước chuyển của báo chí, phát thanh và truyền hình

sang công nghệ số đang mở ra những triển vọng chưa từng có cho ngành báo chí" [97, t.119] Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, ngày nay

khán giả không chỉ tiếp cận với truyền hình theo cách truyền thống, cho thấy đâyvẫn là phương tiện thông tin truyền thông không thể thiếu đối với họ Truyềnhình đang biến đổi phương thức tiếp cận với công chúng, không chỉ theo cáchxem tivi truyền thống mà tận dụng lợi thế của mạng xã hội để đưa truyền hìnhđến với đa dạng đối tượng, nhất là khán giả trẻ Đồng thời, qua đó kéo khán giảtrở lại với màn hình tivi trong những chương trình trọng điểm Nhiều đài truyềnhình nhanh chóng xuất hiện trên mạng xã hội Youtube Gần đây, chương trìnhthời sự của Đài Truyền hình Việt Nam đã có mặt trên mạng xã hội Facebook làmột ví dụ điển hình Hay khán giả có thể xem trực tiếp hoặc xem lại các chươngtrình truyền hình trên website chính thức của các đài truyền hình, giúp họ không

có điều kiện xem tivi trực tiếp, đặc biệt là khán giả ở nước ngoài được tiếp cậnvới những thông tin chính thống ở trong nước không bằng tivi truyền thống Phân tích dưới góc độ đào tạo, muốn đào tạo sinh viên báo chí có kỹ năng

đa phương tiện, vẫn phải đào tạo từng kỹ năng, trong đó có kỹ năng báo chítruyền hình Sinh viên sẽ phải tích lũy tất cả các kỹ năng được gói gọn trong mộtchương trình đào tạo Nếu các nhà trường xây dựng cấu trúc chương trình theo

tư duy “phép cộng” các kỹ năng sẽ khó đòi hỏi sinh viên đạt đến mức độ thànhthạo nghề, bởi giới hạn của khối lượng kiến thức với thời gian đào tạo được quyđịnh ở mỗi trình độ đào tạo Nếu sinh viên không có kỹ năng thành thạo, chuyênsâu để đáp ứng nhu cầu của xã hội, rõ ràng chất lượng đào tạo có vấn đề Do đó,khi xã hội vẫn có nhu cầu tuyển dụng chuyên sâu về lĩnh vực báo chí truyềnhình, một chương trình đào tạo chuyên ngành này sẽ đáp ứng được đòi hỏi vềchất lượng nguồn nhân lực

Trang 8

1.2 Chất lượng đào tạo phóng viên truyền hình phải theo kịp những đòi hỏi của thực tiễn nghề nghiệp.

Ngày nay, khán giả có thể tiếp cận với các chương trình truyền hình bằngnhiều phương thức khác nhau Thị trường lao động trong ngành truyền hình vẫncòn rất lớn ở hiện tại và tương lai bởi đây là loại hình đáp ứng nhu cầu của đôngđảo khán giả Vấn đề đặt ra là chất lượng nguồn nhân lực như thế nào và có đápứng được sự phát triển mạnh mẽ của lĩnh vực này?

Thực tiễn làm truyền hình thay đổi nhanh chóng bởi sự tác động của khoahọc công nghệ và trong sự cạnh tranh khốc liệt của các loại hình báo chí, truyềnthông Khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển thúc đẩy sự phát triển của côngnghệ truyền hình Từ truyền hình đen trắng, đến truyền hình màu; từ truyền hình

có độ phân giải thấp đến độ phân giải cao rồi siêu cao… Đến nay công nghệ kỹthuật số đã làm thay đổi quy trình sản xuất các chương trình truyền hình Mỗi khicập nhật công nghệ làm truyền hình là một lần thay đổi quy trình sản xuất Điềunày chi phối mạnh mẽ hoạt động đào tạo chức danh phóng viên truyền hình,buộc những cơ sở đào tạo các chức danh cho truyền hình nói chung, chức danhphóng viên truyền hình nói riêng phải thường xuyên khảo sát và cập nhật nộidung chương trình nếu muốn “sản phẩm đào tạo” đáp ứng nhu cầu của xã hội

Kỷ nguyên số đang đặt ra những yêu cầu về kỹ năng tác nghiệp đối với phóngviên truyền hình đòi hỏi chất lượng đào tạo ngày càng cao

Trong sự phát triển của truyền hình, người hưởng lợi sau cùng chính làkhán giả Nhưng ở một khía cạnh khác là sự cạnh tranh ngày càng mãnh liệt hơngiữa các đài/kênh truyền hình trong việc “giành giật” khán giả Tất yếu, họ phải

sử dụng đội ngũ tinh thông trong sản xuất chương trình Các tiêu chí tuyển dụngngày một khắt khe hơn đối với phóng viên truyền hình như: yêu cầu kỹ năng “2trong 1” (phóng viên kiêm quay phim), thậm chí “3 trong 1” (kiêm thêm dựnghình) Trước sự thay đổi đó, không phải chương trình đào tạo phóng viên truyềnhình ở các cơ sở đào tạo báo chí Việt Nam cũng bổ sung một thời lượng đáng kểcho học phần kỹ thuật và nghệ thuật dựng hình cũng như các điều kiện về thiết

bị, giảng viên chuyên ngành nhằm thực hiện việc dạy và học có hiệu quả Điều

Trang 9

này đặt ra vấn đề về tính linh hoạt trong kết cấu chương trình đào tạo hoặc khảnăng nghiên cứu thị trường lao động và cập nhật vào chương trình đào tạo củacác nhà trường.

Để làm ra một sản phẩm truyền hình từ tiền kỳ đến phát sóng cần nhiềuchức danh, trong đó không thể thiếu phóng viên Phóng viên truyền hình cónhững kỹ năng và sự đòi hỏi khu biệt với phóng viên của các loại hình báo chíkhác Những kỹ năng này cần phải được trang bị đầy đủ ngay từ khi họ đang họctập trong trường Người sử dụng lao động mong muốn sinh viên sau khi ratrường sẽ tác nghiệp được ngay, có nghĩa, người học phải có một kiến thức tổngquát đủ rộng, năng lực chính trị vững vàng, kỹ năng chuyên nghiệp Tuy nhiên,thực tế cho thấy không phải sinh viên chuyên ngành báo chí truyền hình nào ratrường cũng đáp ứng được yêu cầu đó Các nhân sự đều phải qua đào tạo lại mớiđáp ứng được công việc trong quy trình sản xuất truyền hình Điển hình như tạiĐài THVN, theo kết quả khảo sát của tác giả, trong giai đoạn 2014-2015, Trungtâm đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ truyền hình trung bình tổ chức 100 khóa đàotạo mỗi năm, trong đó, 85% khóa học bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ phóng viên

truyền hình “Thực tế nhân lực tốt nghiệp chuyên ngành báo chí chỉ chiếm 41%,

còn lại tốt nghiệp đại học chuyên ngành khác là 59% Tỷ lệ này phản ánh thực

tế là đào tạo tại các trường chuyên ngành đã không đáp ứng đủ nhu cầu phát triển của ngành” (Tờ trình số 229-TTr/BCSĐ ngày 27/3/2014 của Bộ Thông tin

và Truyền thông về Quy hoạch Báo chí Toàn quốc đến năm 2020)

Trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập toàn diện, báo chí – truyền thông làlĩnh vực dễ thâm nhập nhất đối với mọi quốc gia Khi các quốc gia láng giềngđang đặt mục tiêu dùng truyền thông để hội nhập thì Việt Nam đặt ra mục tiêunày là tất yếu Truyền hình Thông tấn (VNews) và Truyền hình Việt Nam (VTV)

là các cơ quan báo chí đã có sự chuyển mình theo hướng này Mật độ các tin tức,phóng sự của phóng viên Việt Nam thực hiện tại nước ngoài được công chiếunhiều hơn Nhưng muốn khẳng định một thương hiệu Việt về thông tin – truyềnthông trên thị trường quốc tế, khó khăn nhất không phải là thiếu thiết bị hoặc cảntrở bởi các yếu tố khách quan mà chính ở yếu tố con người – phóng viên, nhà

Trang 10

báo Một số ý kiến cho rằng, Việt Nam cần hướng tới một chương trình đào tạobáo chí mang tầm cỡ quốc tế Xét cho cùng, mong muốn ấy là làm thế nào đểnước ta có thể đào tạo ra những người làm báo nói chung, phóng viên truyềnhình nói riêng có đủ năng lực tác nghiệp trên trường quốc tế Hội nhập đang xóanhòa biên giới địa lý Nếu không có sự thay đổi trong đào tạo, chúng ta sẽ

“nhường” thị trường cho các cơ sở đào tạo quốc tế

Một số cơ sở đào tạo báo chí bậc cao với lịch sử hình thành, phát triển hàngchục năm đã có những đóng góp quan trọng cung cấp nguồn nhân lực chất lượngtrong lĩnh vực báo chí, truyền thông Thành tựu này xây dựng lên những thươnghiệu đào tạo trong bối cảnh hội nhập quốc tế Tuy nhiên, chất lượng đào tạo hiệntại có đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội? Đào tạo phóng viên truyềnhình hiện nay cần những thay đổi gì để phù hợp với sự phát triển của ngànhtruyền hình? Để đào tạo phóng viên truyền hình đi đúng với nhu cầu của xã hội

và phù hợp với xu thế vận động, phát triển trong lĩnh vực truyền hình, tác giả

thực hiện nghiên cứu đề tài: “Nâng cao chất lượng đào tạo phóng viên truyền

hình ở Việt Nam hiện nay” nhằm khảo cứu một cách đầy đủ, toàn diện về đào

tạo chuyên ngành phóng viên truyền hình và các điều kiện thực hiện tại ViệtNam hiện nay Đó cũng là yêu cầu bức thiết, đòi hỏi khách quan từ thực tiễn pháttriển của ngành truyền hình

2- MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

2.1 Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở xây dựng khung lý thuyết về chất lượng đào tạo phóng viêntruyền hình, luận án có mục đích đánh giá thực trạng đào tạo chuyên ngànhphóng viên truyền hình ở trong nước, đồng thời tham khảo một số cơ sở đào tạobáo chí truyền hình nước ngoài và tìm hiểu từ thực tiễn những yêu cầu đối vớiphóng viên truyền hình, từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đàotạo phóng viên truyền hình dựa trên các yếu tố đảm bảo chất lượng trong quytrình đào tạo của nhà trường

Trang 11

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để thực hiện được mục đích nêu trên, luận án phải thực hiện được một sốnhiệm vụ nghiên cứu cơ bản sau đây:

Một là: Tiến hành tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Hai là: Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến chất lượng

đào tạo và phóng viên truyền hình

Ba là: Khảo sát các trường đào tạo chuyên ngành phóng viên truyền hình ở

Việt Nam, rút ra những thành công, hạn chế và những vấn đề đặt ra

Bốn là: Thu thập ý kiến nhận xét, đánh giá của đại diện những người đang

làm việc tại Đài truyền hình Việt Nam, một số đài truyền hình địa phương vềchất lượng, hiệu quả và những yêu cầu đặt ra đối với phóng viên truyền hìnhtrong bối cảnh hiện nay

Năm là: Tìm hiểu, đánh giá các yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo báo chí

truyền hình ở một số quốc gia trên thế giới

Sáu là: Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo phóng viên

truyền hình, tập trung vào các yếu tố đảm bảo chất lượng trong quy trình đào tạocủa nhà trường

3- ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là chất lượng đào tạo phóng viên truyềnhình ở Việt Nam hiện nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận án nghiên cứu quy trình đào tạo ngành báo chí chuyên ngành truyền

hình ở trình độ cao đẳng và đại học, hình thức đào tạo chính quy tập trung Các

chương trình đào tạo chuyên ngành báo truyền hình được nghiên cứu áp dụngcho khóa học 2014-2017 (hệ cao đẳng) và 2014-2018 (hệ đại học) Các chươngtrình tập huấn, bồi dưỡng ngắn hạn không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án

Đối với hoạt động đào tạo báo chí truyền hình ở nước ngoài, tác giả chỉlựa chọn tham khảo một số quốc gia, tổ chức quốc tế có các yếu tố đảm bảo chấtlượng đáng quan tâm nhằm tham chiếu với thực tiễn đào tạo của Việt Nam

Trang 12

4- GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU:

Giả thuyết thứ nhất: Trong nhiều thập kỷ qua, hoạt động đào tạo phóng

viên truyền hình ở nước ta đã đạt được những kết quả nhất định cung cấp nguồnnhân lực cho các đài truyền hình trong cả nước Tuy nhiên, thực tế nhiều sinhviên sau khi tốt nghiệp vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu về kỹ năng của phóngviên truyền hình Tình hình đó cho thấy cần phải nhanh chóng xây dựng các giảipháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo phóng viên truyền hình, đáp ứng yêucầu phát triển của ngành truyền hình tại Việt Nam

Giả thuyết thứ hai: Sự bùng phát của công nghệ, kỹ thuật mới và sự vận

động, phát triển mạnh mẽ của ngành truyền hình Việt Nam trong bối cảnh toàncầu hóa, hội nhập quốc tế đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối vớiphóng viên truyền hình Trong bối cảnh đó, hoạt động đào tạo phải xuất phát từnhu cầu thực tiễn, gắn với thực tiễn Theo đó, mục tiêu đào tạo và chuẩn đầu racủa chuyên ngành phóng viên truyền hình phải đáp ứng các yêu cầu cụ thể vềphẩm chất nghề nghiệp, những tri thức cơ bản và kỹ năng chuyên nghiệp

Giả thuyết thứ ba: Nguyên tắc cơ bản của việc nâng cao chất lượng đào

tạo phóng viên truyền hình là phải tạo nên một hoạt động đào tạo mềm dẻo, linhhoạt để thích ứng với sự thay đổi của thực tiễn nghề nghiệp Trong đó, chươngtrình đào tạo được coi là yếu tố hạt nhân và phải được đặt trong mối quan hệ hữu

cơ với các yếu tố đảm bảo chất lượng trong quy trình đào tạo của nhà trường.5- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Trang 13

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài luận án thuộc lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng, vì vậy tác giả sử dụngcác phương pháp nghiên cứu thống kê, phân tích-tổng hợp, so sánh, nghiên cứutrường hợp, dự báo, phỏng vấn sâu, … Cụ thể là:

Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Được tiến hành với các công trình

nghiên cứu khoa học, sách, giáo trình, tài liệu chuyên ngành thuộc lĩnh vực giáodục đào tạo và báo chí ở trong nước, nước ngoài với mục đích khái quát, bổ sung

hệ thống lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu

Phương pháp phân loại và hệ thống hóa: Được sử dụng để phân loại các

tài liệu, công trình nghiên cứu khoa học khác nhau theo từng mặt cùng dấu hiệubản chất và sắp xếp chúng trong một kết cấu theo mục đích nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Dùng để phân tích các yếu tố đảm

bảo chất lượng đào tạo chuyên ngành phóng viên truyền hình tại Học viện Báochí và Tuyên truyền; trường Cao đẳng Truyền hình, Đài THVN

Phương pháp so sánh: Áp dụng phương pháp này để so sánh triết lý đào

tạo, nội dung, phương thức đào tạo báo chí truyền hình tại một số trường trongnước và quốc tế

Phương pháp phân tích, tổng hợp: Dùng để phân tích, tổng hợp, đánh giá

những kết quả nghiên cứu, góp phần xây dựng khung lý thuyết liên quan đến đềtài; Rút ra những thành công, hạn chế, những vấn đề đặt ra và đề xuất giải phápnhằm nâng cao chất lượng đào tạo phóng viên truyền hình

Phương pháp dự báo: Dự báo nguồn nhân lực ngành báo chí truyền hình

trong xu thế phát triển dưới sự tác động của khoa học công nghệ và của bối cảnhtoàn cầu hóa, hội nhập quốc tế

Phương pháp phỏng vấn sâu: Tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu

với hai nhóm đối tượng:

* Thứ nhất: đại diện các lãnh đạo, nhà quản lý của một số đài phát thanhtruyền hình (PTTH) ở trong nước nhằm thu thập các ý kiến đánh giá về ưu điểm,hạn chế của đội ngũ phóng viên (về kiến thức, kỹ năng, phẩm chất) cũng nhưnhững đề xuất của họ đối với công tác đào tạo phóng viên truyền hình

Trang 14

* Thứ hai: đại diện giảng viên giảng dạy các môn chuyên ngành báo truyềnhình tại các trường có đào tạo chuyên ngành này (chi tiết xin xem chương 2 vàphụ lục 4).

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (Ankét):

Tác giả sử dụng phiếu điều tra phát cho đối tượng là các phóng viên hiệnđang công tác tại một số đài PTTH nhằm tìm ra các kết quả người học đánh giáchương trình đào tạo và thụ hưởng gì từ chương trình (Chi tiết xin xem chương2; Mẫu phiếu và kết quả thống kê xin xem phụ lục 2 và 3)

6- Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN:

Kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa thiết thực đối với lý luận báo chí

và đào tạo báo chí nói chung, đào tạo phóng viên truyền hình nói riêng, góp phầnnâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ phóng viên truyền hình, đáp ứng nhu cầuthực tiễn của đất nước trong giai đoạn hiện nay Luận án sẽ góp phần quan trọngtrong việc xây dựng khung lý thuyết về chất lượng đào tạo phóng viên truyềnhình ở Việt Nam Trên thế giới, mỗi quốc gia có một triết lý đào tạo riêng, từ đóchi phối hoạt động đào tạo Nghiên cứu triết lý đào tạo của các quốc gia có nềngiáo dục tiên tiến trên thế giới và tìm ra những quan điểm mới để áp dụng xâydựng nội dung chương trình đào tạo cũng là một đóng góp về lý luận và thực tiễnđào tạo báo chí của luận án

Luận án sẽ đưa ra các giải pháp trong hoạt động đào tạo với những điềukiện để thực hiện một cách hiệu quả Đó là các chương trình đào tạo, các yếu tốđảm bảo chất lượng đào tạo, các chuẩn đầu ra, hệ tiêu chí đánh giá chất lượngđào tạo Nó sẽ đem lại giá trị thực tiễn cao trong đào tạo phóng viên truyền hìnhtại Việt Nam, góp phần đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho các đài/kênhtruyền hình, các công ty truyền thông tham gia sản xuất chương trình truyền hình– những đơn vị hiện đang có nhu cầu lớn trong việc tiếp nhận chức danh phóngviên truyền hình

Bên cạnh đó, việc tìm ra, áp dụng triết lý đào tạo mới và xác định các yếu

tố đảm bảo chất lượng đào tạo còn có giá trị làm cơ sở để nghiên cứu, áp dụngđào tạo các chức danh khác trong lĩnh vực báo chí – truyền thông

Trang 15

Kết quả của luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụcông tác nghiên cứu, giảng dạy ngành báo chí học tại các cơ sở đào tạo vànghiên cứu về báo chí Đây cũng là nguồn tài liệu với các cứ liệu quan trọngđược khảo sát, tổng hợp, phân tích, đánh giá từ thực tiễn trong nước và nướcngoài nhằm giúp các đơn vị chức năng định hướng hoạt động đào tạo báo chí.

Lựa chọn nghiên cứu luận án: “Nâng cao chất lượng đào tạo phóng viên

truyền hình ở Việt Nam hiện nay”, bên cạnh việc mong muốn đóng góp tri thức

của mình vào việc nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ người làm báo hình ởnước ta, tác giả cũng mong muốn nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học củabản thân, áp dụng có hiệu quả vào quá trình công tác sau này

7- KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN:

Ngoài phần mở đầu, tổng quan, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nộidung luận án gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề chất lượng đào tạo phóng viên truyềnhình ở Việt Nam

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và kết quả khảo sát chất lượng đào tạochuyên ngành phóng viên truyền hình ở Việt Nam

Chương 3: Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo phóng viêntruyền hình ở Việt Nam

Trang 16

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1 NHỮNG NGHIÊN CỨU ĐỀ CẬP ĐẾN TRIẾT LÝ ĐÀO TẠO, MÔ HÌNH ĐÀO TẠO

“Secrets of success”, Philip Altbach (2005), the director of the Centre for

International Higher Education at Boston College, (The Economist, September

10th 2005): Tác giả đã tìm ra triết lý giáo dục bậc cao của Hoa Kỳ, dẫn đến sựthành công trong giáo dục đào tạo của họ Theo đó, nguyên tắc hàng đầu là chínhquyền liên bang chỉ đóng một vai trò hạn chế Nước Mỹ không có một quy

hoạch trung ương cho các trường đại học của họ “Hệ thống giáo dục bậc cao

của Hoa Kỳ tốt nhất thế giới Lý do là vì không có hệ thống nào cả” Các đạo

luật chỉ nhằm mở đường đến đại học cho mọi tầng lớp xã hội, và họ khôngngừng đầu tư tài chính cho nghiên cứu khoa học Đồng thời, các đại học được tự

do kéo tài trợ cho các hoạt động của mình Nguyên tắc thứ hai là sự cạnh tranh.

Các trường đại học phải cạnh tranh nhau về mọi mặt, từ số lượng sinh viên chođến số lượng giáo sư Các giáo sư cạnh tranh để giành các khoản tài trợ nghiêncứu của liên bang Các sinh viên cạnh tranh để giành học bổng Điều này có

nghĩa là các trường, nếu muốn thành công, thì không thể ỷ lại vào ánh hào

quang của bản thân Nguyên tắc thứ ba là miễn sao có lợi Quan điểm nhấn

mạnh vào việc “đem lại lợi nhuận” hiện vẫn là một nét văn hóa chi phối trong

các học viện Tuy nhiên, điểm nổi bật của hệ thống đào tạo này bao gồm tính

linh hoạt và tính đa dạng không giới hạn

“Đào tạo truyền thông ở Đông Nam Á”, PGS.TS Vũ Quang Hào (Báo chí

Những vấn đề lý luận và thực tiễn – tập V, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2005):Tác giả công bố những nghiên cứu về hoạt động truyền thông, đào tạo truyềnthông của một số nước trong khu vực, bao gồm: Singapore, Malaysia, Thái Lan.Nghiên cứu này không đi sâu phân tích chương trình đào tạo cụ thể Tuy nhiên,tác giả đã tìm ra và khái quát những nét đặc thù trong đào tạo ở mỗi nước.Những tổng kết được rút ra từ mô hình đào tạo ở các quốc gia này là: Chương

Trang 17

trình đào tạo nặng về chuyên ngành, chú trọng đào tạo kỹ năng; Sự gắn kết giữađào tạo truyền thông và nghiên cứu truyền thông; Chú trọng đào tạo nâng caotrình độ giảng viên; Rất quan tâm việc kết hợp với các cơ sở truyền thông trongquá trình thực tập nghiệp vụ của sinh viên; Cập nhật nội dung đào tạo theo sựthay đổi của bức tranh truyền thông ở mỗi nước.

“Hệ thống đào tạo theo tín chỉ Mỹ và những gợi ý cho cải cách giáo dục đại học Việt Nam”, TS Eli Mazur & TS Phạm Thị Ly, (Bản tin “Giáo dục quốc

tế” số 2-2006, Trung tâm Nghiên cứu và Giao lưu Văn hoá Giáo dục Quốc tế,Viện Nghiên cứu Giáo dục- Trường Đại học Sư phạm TP HCM): Các tác giả đã

có những phân tích sâu sắc về tính phi tập trung hóa rất cao của nền giáo dục

Hoa Kỳ “Phần lớn sinh viên có thể dùng quyền tự do của mình để theo đuổinhững bộ môn mà mình quan tâm và có được một bằng cấp phù hợp Chínhquyền liên bang và chính quyền bang không có vai trò gì đáng kể trong việcquyết định trường nào hay chương trình học nào là được công nhận Mặc dùngân sách liên bang trợ cấp cho sinh viên vay nợ và tài trợ cho việc nghiên cứucủa đại học đều dựa trên điều kiện trường đó - kể cả trường công- phải đượccông nhận bởi một trong mười chín tổ chức kiểm định có uy tín quốc gia, những

tổ chức này cũng không trực thuộc Nhà nước; họ sử dụng các chuyên gia trongtừng lãnh vực để đánh giá các chương trình giảng dạy nhằm đảm bảo chấtlượng” Với triết lý giáo dục này, các đại học Mỹ xây dựng chương trình đào tạovới một số môn nòng cốt (bắt buộc), còn lại định hướng sinh viên tự chọn mônhọc, chuyên ngành theo vấn đề mà họ quan tâm Các trường đại học tại quốc gianày vừa chú trọng giáo dục tổng quát vừa khuyến khích người học đi sâu nghiêncứu các chuyên ngành hẹp, đặc biệt là những công nghệ của tương lai

“Các mô hình quản lý và kiểm định chất lượng giáo dục đại học”, PGS.TS.

Lê Đức Ngọc, Tập bài giảng giáo dục đại học, Học viện Quản lý giáo dục, Bộ

Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội, 2006, tr.241-287: Bên cạnh hệ thống lại các kháiniệm liên quan đến giáo dục đào tạo, tác giả khái quát các mô hình quản lý chấtlượng ứng dụng trong đào tạo, trong đó nhấn mạnh tính phù hợp của mô hìnhquản lý Tổng thể (Total Quality Management-TQM) trong giáo dục Ngoài ra,

Trang 18

tác giả đi sâu phân tích Kiểm định chất lượng giáo dục với các nội dung về quytrình kiểm định, phân biệt tự đánh giá và đánh giá ngoài trong kiểm định Điểm

kế thừa từ nghiên cứu này là sự phân biệt giữa các khái niệm liên quan đến đàotạo như: kiểm định chất lượng, đánh giá chất lượng…

“Model curricula for journalism education”, (UNESCO’s series on

journalism education, Paris, 2007): Đây là bộ chương trình đào tạo báo chí đượccông bố bởi UNESCO Triết lý đào tạo dùng để thiết kế chương trình dựa trên 3

trục phát triển: 1) Các chỉ tiêu, các giá trị, các công cụ, các tiêu chuẩn và thực

tiễn của báo chí (Cung cấp các kiến thức cốt lõi về kỹ năng nghề báo chuyên

nghiệp) 2) Nhấn mạnh các lĩnh vực xã hội, văn hóa, chính trị, kinh tế, pháp lý

và đạo đức hành nghề trong và ngoài biên giới quốc gia (Sinh viên được trang bị

kiến thức nhằm củng cố tính chuyên nghiệp thông qua sự hiểu biết về tính dân

chủ và các ràng buộc về pháp lý, đạo đức) 3) Kiến thức về thế giới và những

thách thức đặt ra của báo chí (Với quan điểm, báo chí không phải là một môn

học độc lập, chương trình thiết kế nhằm kết hợp đào tạo trong các lĩnh vực nghệthuật và khoa học, khuyến khích đào tạo báo chí hướng người học nghiên cứu

mở rộng sang các lĩnh vực khác, tiếp cận thêm những tri thức hiện đại) Chươngtrình đào tạo được khuyến cáo hạn chế giảng dạy trên lớp mà hướng tới các hoạtđộng thực hành nghề Mục tiêu đầu tiên là để đào tạo ra những nhà báo có các kỹnăng tổng hợp và làm chủ kiến thức, suy nghĩ để phân tích sự việc Mục tiêu thứhai: Phát triển năng lực trí tuệ Điều đó có được từ kiến thức cơ sở báo chí vàkiến thức chung về nghệ thuật, khoa học nhưng đồng thời bao gồm kiến thức ởnhững lĩnh vực chuyên ngành Có thể nói, tư duy thiết kế chương trình có xuhướng tiệm cận với các triết lý giáo dục đào tạo của các nước phát triển, nhằmkhuyến khích sự năng động, tích cực của người học, từ đó phát huy tính tự chủ,khả năng sáng tạo của họ

“Dạy và học báo ở Pháp”, Lê Hồng Quang, (Ghi nhận từ các khóa đào tạo trong khuôn khổ Dự án Pháp – Việt, Trung tâm Bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí -

Hội Nhà báo Việt Nam, Hà Nội, 2007, tr.69-82): Bản thân tác giả học báo chí tạiđại học Lille (Pháp) đã tổng kết lại phương pháp dạy làm báo ở đây là dạy nghề

Trang 19

“Làm báo là làm thợ, chứ không phải là làm nghiên cứu” Giảng viên dạy làm

truyền hình là những nhà báo làm truyền hình Họ đào tạo theo hướng trang bị

kỹ năng thực hành ngay từ ngày đầu tiên Bí quyết là dạy sinh viên nhớ kỹ năng

từ những thất bại và phát huy kỹ năng làm việc theo nhóm – một kỹ năng tốiquan trọng của người làm truyền hình

“Về phổ chất lượng đào tạo đại học”, GS.TSKH Nguyễn Tài, (Tạp chí Xây dựng, số tháng 9/2007, tr.44-47): Theo tác giả, phải có các phổ chất lượng

phù hợp với sự phân tầng giáo dục đại học: Loại có chất lượng hướng về nghiêncứu; Loại có chất lượng hướng về kỹ năng nghề nghiệp hướng thực hành; Loại

có chất lượng thiên về những khả năng hành động sát với những vấn đề cần giảiquyết của cộng đồng Từ đó, tác giả phân tích những bất cập trong việc xác địnhmục tiêu đào tạo của các trường, dẫn đến chất lượng đào tạo không đạt yêu cầu.Với sự phát triển vũ bão của khoa học và công nghệ, khối lượng kiến thức ngàymột đồ sộ Do vậy, không thể xây dựng chương trình đào tạo cung cấp toàn bộkiến thức, kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên Điều quan trọng là đào tạo sinhviên có kiến thức, kỹ năng đạt đến trình độ làm nền tảng để họ tự chủ tiếp thukiến thức khoa học mới Giáo dục đại trà cần phải bỏ bớt các môn mang tính hànlâm, tinh hoa để hướng tới một khối lượng kiến thức giáo dục tổng quát, phù hợpvới “Thông điệp hướng dẫn tư duy về giáo dục trong thế kỷ 21” của UNESCO:Học để biết, học để làm, học để sống với nhau, học để làm người Nghiên cứunày rất có ý nghĩa khi tiếp cận từ phổ chất lượng đào tạo đại học đến mục tiêuđào tạo trong phân tầng giáo dục đại học Những đề xuất về giáo dục tổng quátrất có giá trị đối với giáo dục đại học nói chung, đào tạo báo chí nói riêng

“Báo chí thế giới và xu hướng phát triển”, PGS.TS Đinh Thị Thúy Hằng,

NXB Thông Tấn, Hà Nội, 2008: Đúng như lời mở đầu, “cuốn sách giới thiệunhững lý luận, khái niệm, phạm trù và hoạt động báo chí thế giới đang được phổbiến tại các trường đại học trên thế giới và trong giới nghiên cứu báo chí” Tácgiả đã có những nghiên cứu về hiện trạng báo chí thế giới ở nhiều quốc gia, điểnhình như Trung Quốc, Australia, và hệ thống phát thanh truyền hình BBC (Anh),đặc biệt là những nghiên cứu sâu sắc về “Hội tụ truyền thông” – coi đó là một xu

Trang 20

thế phát triển của báo chí thế giới Những dự báo, nhận định của tác giả đã xuấthiện trong thực tiễn về sự bành trướng của các tập đoàn truyền thông, hội tụ củacác loại hình báo chí, đa phương tiện báo chí, địa phương hóa thông tin báo chí.Tác giả chỉ ra những thách thức đối với báo chí Việt Nam, những đòi hỏi đối vớinhà báo trong xu thế phát triển của báo chí.

“50 năm đào tạo báo chí – truyền thông ở Thụy Điển”, TS Hakan

Lindhoff, Giám đốc chương trình đào tạo báo chí bậc đại học (Khoa Báo chí vàTruyền thông, Đại học Tổng hợp Stocholm, Thuỵ Điển), website: Songtre.tv,Chi hội nhà báo khoa Phát thanh truyền hình, Học viện Báo chí và Tuyên truyền,(21/9/2008): Trong lịch sử đào tạo báo chí Thụy Điển, việc đào tạo được phântách thành hai mảng lý thuyết và thực hành trong chương trình đào tạo báo chídưới bậc cử nhân- năm đầu tiên học lý luận về báo chí (kết hợp với giảng dạy vềtruyền thông); năm tiếp theo học thực hành báo chí; nửa năm sau đó, hợp tác vớicác cơ quan truyền thông; nửa năm cuối cùng làm luận văn cử nhân Tác giả đãrút ra 8 bài học ngắn gọn về quá trình đào tạo báo chí ở Thụy Điển, trong đó chútrọng việc giảng dạy lý thuyết gắn với thực hành, xem xét tới sự phát triển củacông nghệ thông tin, xem xét vai trò của thị trường và xu thế toàn cầu hóa

“Đào tạo đại học chuyên ngành trong thời đại hội nhập truyền thông: Thực tiễn bản địa và đối thoại toàn cầu”, PGS TS Vương Hiểu Hồng & TS.

Ngô Vĩ Hoa, Đại học Truyền thông Trung Quốc, website: Songtre.tv(21/9/2008): Những bài học kinh nghiệm trong quá trình tổ chức đào tạo cácchuyên ngành (điển hình là phát thanh truyền hình), đó là sự thích ứng nhanh vớinhu cầu đào tạo của xã hội để xây dựng chương trình đào tạo, hình thức đào tạo,nội dung đào tạo sát thực tiễn, kết hợp việc mời giảng viên giàu kinh nghiệmtrong và ngoài nước giảng dạy Đặc biệt, các tác giả đưa ra 4 yêu cầu để xâydựng đại học chuyên ngành là: Xây dựng cơ sở hạ tầng cho giảng dạy và nghiêncứu khoa học; Sự kiên trì và sáng tạo của mô hình giảng dạy tác động lẫn nhau

và cơ chế hợp tác nghiên cứu; Mặt bằng thực tiễn hiện đại: mặt bằng giảng dạythực tiễn đã thể hiện đầy đủ sức mạnh khoa học kỹ thuật và tinh thần nhân văncủa truyền thông hội nhập thời đại; Kết hợp giữa hệ thống giảng dạy nghiêm

Trang 21

ngặt với thiết chế chương trình có tính đàn hồi Các tác giả khẳng định, hệ thống

đào tạo đại học chuyên ngành “không chỉ đáp ứng nhu cầu tiếp tục học tập và

bổ sung kiến thức của những người trực tiếp làm truyền hình và những người làm nghề truyền thông mới, mà còn tiếp thêm sức sống lâu dài cho sự phát triển của ngành phát thanh truyền hình Trung Quốc”.

“Communication curricula at universities in the Republic of Korea: Evolution and challenges in the digital age”, Seok Kang, University of Texas at

San Antonio, Texas (Asia Pacific Media Educator, Issue No.20, December2010): Công trình nghiên cứu các chương trình giảng dạy về truyền thông tại cáctrường đại học của Hàn Quốc trong sự thách thức của thời đại kỹ thuật số Tácgiả đưa ra những nhận định: Các chương trình đào tạo truyền thông ở Hàn Quốc

đi theo nghiên cứu truyền thông châu Âu truyền thống, tích hợp của nghiên cứutruyền thông châu Á và các khía cạnh thực nghiệm của chương trình giảng dạytruyền thông Mỹ, đặc biệt nhấn mạnh hơn với chương trình giảng dạy của Mỹ.Trên cơ sở nghiên cứu những giá trị của giáo dục liên ngành trong đào tạo truyềnthông, tác giả đề xuất một mô hình đào tạo tích hợp để sinh viên được học tậpvới một nền tảng kiến thức rộng rãi và nhiều kinh nghiệm hơn Có như vậy mớiđáp ứng yêu cầu của một chuyên gia truyền thông hiện nay là người sở hữu kỹnăng tư duy phê phán, giàu kiến thức, có khả năng hùng biện, thuyết trình, cókhả năng phân tích và sự chuyên nghiệp trong sản xuất đa phương tiện

“Đổi mới mô hình đào tạo đại học và xây dựng các trường đại học đẳng cấp quốc tế ở Trung Quốc”, PGS.TS Phạm Thái Quốc, (Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, số 3(103) 2010, tr.45-

57): Nhằm cung cấp nhân lực đáp ứng chính sách phát triển nhanh kinh tế, TrungQuốc đã đổi mới mô hình đào tạo đại học theo hướng: Chấn chỉnh sắp xếp lạihoạt động của các trường đại học (bỏ những khóa học, môn học không cần thiết,đưa thêm môn học mới của các ngành mới vào giảng dạy, thuê chuyên gia giỏicủa nước ngoài giảng dạy); Đẩy mạnh hợp tác giữa trường đại học với doanhnghiệp và giữa các trường đại học với nhau; Đào tạo các nhà khoa học đầungành; Đầu tư mạnh tài chính cho các trường trọng điểm; Thu hút sinh viên nước

Trang 22

ngoài theo học; Cải cách khuôn mẫu đào tạo sinh viên và quản lý giảng dạy (gắn

lý thuyết với thực tiễn, đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng kích thíchsáng tạo và lòng say mê của sinh viên); Đánh giá xếp hạng các trường nhằm tạo

sự cạnh tranh và vươn lên Chức năng của Chính phủ thay đổi từ “đảm bảo mọithứ cho trường học” sang “kiểm soát và điều phối vĩ mô” Như vậy, mô hình đàotạo đại học ở Trung Quốc được thực hiện với giải pháp chính là rút bớt sự canthiệp của Nhà nước và tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường

“Khảo sát và xây dựng mô hình đào tạo nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực Đài Truyền hình Việt nam đến 2016”, (Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ truyền hình, Đài THVN, Đề tài

khoa học cấp Ngành, Hà Nội, 2012): Trên cơ sở lý luận về chất lượng, hiệu quảđào tạo, các tác giả đã khảo sát, đánh giá thực trạng đào tạo tại Đài THVN (giaiđoạn 2006-2011) và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quảcông tác đào tạo nguồn nhân lực cho VTV giai đoạn 2012-2016 Đáng chú ý, đềtài đưa ra 5 mô hình đào tạo: Đào tạo chứng chỉ nghề; Đào tạo theo chức danh;Đào tạo theo ê-kíp; Đào tạo theo sự kiện; Đào tạo chuyên gia Đây là các môhình đào tạo có ý nghĩa thực tiễn cao đối với ngành truyền hình nói chung Tuynhiên, các mô hình này chỉ thích hợp cho đào tạo ngắn hạn, không áp dụng rộngrãi trong đào tạo chính quy, dài hạn Đồng thời, các mô hình trên không chỉ ápdụng đào tạo đối với chức danh phóng viên truyền hình mà còn các chức danhkhác trong lĩnh vực truyền hình

***

Nghiên cứu các công trình trên, có thể rút ra những đánh giá sau:

Triết lý đào tạo ở các quốc gia hàng đầu thế giới về giáo dục cho thấy: Sựcan thiệp của Nhà nước là hạn chế Tính phi tập trung hóa sẽ tạo điều kiện pháthuy sự sáng tạo, tự chủ của các nhà trường Dẫn đến sự đa dạng, mềm dẻo, linhhoạt trong xây dựng chương trình đào tạo, tổ chức đào tạo nhằm mục tiêu tốithượng: Đáp ứng nhu cầu xã hội Từ quan điểm này, các chương trình đào tạohướng đến người học nhằm kích thích năng lực, sự sáng tạo của họ, khai thác tối

đa tiềm năng trí tuệ và phát triển kỹ năng để thích ứng nhanh với cuộc sống

Trang 23

Trong trường hợp này, đào tạo liên ngành đã phát huy hiệu quả Bởi vậy, mỗiquốc gia có những mô hình đào tạo riêng Nhưng đối với đào tạo báo chí, bêncạnh kiến thức giáo dục tổng quát là sự chú trọng vào kỹ năng nghề Ngoài việcxác định triết lý đào tạo cần phải định vị được mục tiêu đào tạo trong sự phântầng giáo dục đại học.

2 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU ĐỀ CẬP ĐẾN CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO, CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO BÁO CHÍ

Chất lượng đào tạo chịu sự tác động của nhiều yếu tố và được đề cập đến ởcác mức độ khác nhau trong các nghiên cứu sau đây:

“Báo chí và đào tạo báo chí Thuỵ Điển”, PGS.TS Vũ Quang Hào, NXB

Lý luận chính trị, Hà Nội, 2004: Các nội dung về đào tạo báo chí được tập trungvào chương cuối với đối tượng nghiên cứu là Viện đào tạo báo chí nâng caoThụy Điển (FOJO) Tất cả các giảng viên của FOJO đều là những nhà báo thànhthạo và giàu kinh nghiệm nghề Nét đặc thù trong phương pháp đào tạo báo chí

của FOJO là lối truyền nghề trực tiếp: “Một lối dạy lấy việc truyền thao tác và

kỹ năng làm trọng” Mục đích bài giảng của giảng viên là Thiết lập quan hệ thầy

trò (vì học viên đều là nhà báo) và bởi vậy, ở trên lớp “thảo luận trở thành

phương pháp chính” và “số giờ học theo nhóm cũng chiếm một thời lượng đáng

kể của chương trình đào tạo” Hình thức dạy của giảng viên FOJO là dạy truyền

thông bằng truyền thông Điểm đáng lưu ý, các bài tập thực hành “là một cách

tốt nhất để đánh giá năng lực tiếp thu bài giảng của học viên… FOJO có hệ thống bài tập rất sát với nội dung và khả năng ứng dụng của học viên” Có thể

đánh giá, cuốn sách cung cấp thông tin phong phú về phương pháp đào tạo báochí của FOJO, Thụy Điển Tuy nhiên, phương pháp đào tạo này phù hợp với cáckhóa bồi dưỡng ngắn hạn dành cho đối tượng là các nhà báo, nội dung đào tạo làtruyền nghề Cuốn sách chưa đề cập tới cách thức, phương pháp đào tạo, chươngtrình đào tạo báo chí chính quy của Thụy Điển, đặc biệt là báo chí truyền hình

“Hai cách tiếp cận trong đánh giá chất lượng giáo dục đại học”, TS Phạm

Xuân Thanh, (Giáo dục đại học: Chất lượng và đánh giá, Nxb Đại học quốc gia,

Hà Nội, 2005, tr.337-356): Tác giả đề cập đến Hai cách tiếp cận đánh giá chất

Trang 24

lượng giáo dục đại học được sử dụng rộng rãi trên thế giới là đánh giá đồng

nghiệp (peer review) và đánh giá sản phẩm (outcome assessment) Đánh giá

đồng nghiệp được sử dụng như một hình thức đánh giá bên ngoài để công nhận

trường đại học đạt các chuẩn mực qui định Quá trình này được gọi là kiểm định.Công cụ được sử dụng trong quá trình kiểm định là bộ tiêu chuẩn kiểm định,gồm các tiêu chí, là những yêu cầu và đòi hỏi trong từng lĩnh vực mà nhà trường

phải đáp ứng Đánh giá sản phẩm giáo dục đại học là một phương thức đánh giá

chất lượng thông qua bộ chỉ số thực hiện Bộ chỉ số thực hiện là công cụ để theodõi kết quả đạt được và có thể xếp hạng hơn kém giữa các trường đại học

“Criteria and Indicators for Quality Journalism Training Institutions & Identifying Potential Centres of Excellence in Journalism Training in Africa”,

(UNESCO’s series on journalism education, Paris, 2007): UNESCO đã đưa ra

bộ Tiêu chí và chỉ số chất lượng đào tạo báo chí tại các cơ sở đào tạo ở châu Phi.Các trung tâm đào tạo báo chí sẽ sử dụng công cụ này để đánh giá mức độ phùhợp và phấn đấu trở thành các cơ sở đào tạo báo chí tiềm năng Nội dung có 3

tiêu chí chính với nhiều chỉ số: Tiêu chí A: Chương trình học và năng lực của tổ

chức (Chương trình; Tài nguyên và thiết bị học tập; Hệ thống đánh giá) Tiêu chí B: Dịch vụ nghề nghiệp và xã hội, các liên kết với bên ngoài và sự công nhận

(Tương tác và mối quan hệ trong ngành; Mạng lưới quốc tế và công nhận quốc

tế; Tham gia xã hội và vị trí xã hội; Các định hướng bên ngoài khác) Tiêu chí C:

Kế hoạch, chiến lược và tiềm năng phát triển (Chiến lược; Ngân sách và tính bền

vững; Quản lý; Các thách thức) Nhìn chung, bộ tiêu chí phản ánh hướng pháttriển trong đào tạo báo chí châu Phi, phản ánh mức độ liên quan đến nhiều yếu tốbên ngoài nhà trường Điều rút ra từ bộ tiêu chí này, đó là hướng tới cộng đồng,

đề cao sự tự chủ trong đào tạo báo chí, sự cân đối giữa lý thuyết và thực hành

“Báo chí và đào tạo báo chí”, PGS.TS Đức Dũng, Nxb Thông Tấn, Hà

Nội, 2010: Trong phần II bàn về đào tạo báo chí, tác giả đề cập đến những thànhtựu của Học viện BC&TT đã đạt được trên nhiều phương diện, đồng thời đặt ramột số vấn đề về tuyển sinh đầu vào, nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn nghềnghiệp của đội ngũ giảng viên, xây dựng bộ giáo trình, đổi mới quy trình đào

Trang 25

tạo, gắn đào tạo với hoạt động báo chí trong thực tiễn… Trên cơ sở đó, tác giả

đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo báo chí như: Xác địnhđúng nhu cầu đào tạo của các loại đối tượng, đổi mới quan niệm đào tạo báo chí

để thay đổi cách điều hành kế hoạch đào tạo, nâng cao năng lực giảng viên, hoànthiện các giáo trình tài liệu tham khảo, tăng cường thiết bị kỹ thuật phục vụgiảng dạy và học tập, đào tạo báo chí theo hướng dạy nghề Mặc dù đã đề cậptrực tiếp tới các yếu tố liên quan tới chất lượng đào tạo báo chí nhưng các giảipháp đề ra mới dừng lại ở phương hướng giải quyết vấn đề, không có nội dung

đề cập tới đào tạo phóng viên truyền hình

“Về chất lượng đào tạo đại học ở Việt Nam”, PGS.TS Nguyễn Ngọc

Huyền, (Tạp chí Kinh tế & Phát triển, số tháng 6/2012, tr.7-10): Xuất phát từ

quan niệm: “Chất lượng sản phẩm là tổng thể các chỉ tiêu, các đặc trưng của nó,thể hiện được sự thỏa mãn nhu cầu trên những biểu hiện tiêu dùng xác định, phùhợp với công dụng của sản phẩm mà người tiêu dùng mong muốn”, tác giả đưa

ra hai góc độ đánh giá chất lượng: Góc độ khách hàng (vì khách hàng mà người

cung cấp dịch vụ sẽ “đo lường” chất lượng theo mong muốn của khách hàng chứkhông theo ý của người bán Theo đó, các trường sẽ đo lường chất lượng theomong muốn của khách hàng – đối tượng được đào tạo và đối tượng tuyển dụng

lao động); Góc độ người đào tạo (Mỗi trường phải xây dựng một hệ tiêu chí

đánh giá cụ thể phù hợp hướng vào yêu cầu về chất lượng của khách hàng, chứkhông phải các tiêu chí chủ quan do mình tự xây dựng) Tác giả cũng cho rằng,xóa bỏ cơ chế “xin – cho”, cơ quan quản lý của Nhà nước sẽ đóng vai trò kiểmđịnh chất lượng, còn các trường sẽ phải tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cạnh tranhlành mạnh trong đào tạo để tồn tại, phát triển thương hiệu

“Chất lượng giảng viên và chất lượng đào tạo đại học Việt Nam”, ThS.

Trần Văn Tùng, (Tạp chí Khoa học giáo dục, Viện khoa học giáo dục Việt Nam,

số 83 tháng 8/2012, tr 18-21): Theo tác giả, có 4 yếu tố cơ bản quyết định nhất

đến chất lượng đào tạo đại học có thể vận dụng vào Việt Nam: Mục tiêu đào tạo

(nó quyết định các hoạt động đào tạo và quản lý của nhà trường Điều quan

trọng, mục tiêu đào tạo phải đáp ứng nhu cầu xã hội); Mô hình quản lý (là sự thể

Trang 26

hiện tập trung của mục tiêu đào tạo Mô hình quản lý lạc hậu thì nhà trường

không có động lực để phát triển); Chương trình và cơ sở vật chất, phương tiện

đào tạo (chương trình đào tạo quyết định kiến thức, kỹ năng của sinh viên.

Chương trình đào tạo đạt chuẩn và phù hợp với nhu cầu xã hội thì chất lượng

đào tạo mới có ý nghĩa kinh tế - xã hội); Đội ngũ giảng viên (chất lượng đào tạo

của nhà trường không thể vượt qua được chất lượng đội ngũ giảng viên) Tác giảcũng đề xuất một số giải pháp nhằm nâng chất lượng đội ngũ giảng viên như:Giải pháp đào tạo, tuyển dụng, hợp tác quốc tế, đánh giá chất lượng giảng viêntheo kết quả học tập của sinh viên

“Các thành tố quyết định chất lượng đào tạo báo chí truyền thông ở Mỹ”,

TS Đỗ Thị Thu Hằng, website: ajc.edu.vn (Học viện Báo chí và Tuyên truyền),24/9/2012: Trên cơ sở nghiên cứu thực tế tại một số trường đại học ở Mỹ, tác giả

đã tổng kết những thành tố quyết định chất lượng đào tạo báo chí truyền thông

tại đây, gồm: Chương trình đào tạo hệ thống và thực tế (năm thứ nhất dạy về lý

thuyết truyền thông đại chúng, năm thứ hai đi vào kỹ năng chuyên sâu của các

chuyên ngành); Đa dạng hoá các hình thức tổ chức đào tạo đáp ứng nhu cầu

học bất cứ khi nào trong đời của người học (nhiều chương trình khác nhau với

các hình thức đào tạo linh hoạt đáp ứng nhu cầu của các nhóm đối tượng); Thư

viện, giáo trình, tài liệu (hệ thống thư viện hiện đại, số lượng sách lớn, đầy đủ

giáo trình, tài liệu nghiên cứu chuyên sâu, bao gồm cả các tài liệu được số hoá vàcác băng đĩa, với phần mềm quản lý thư viện hỗ trợ chức năng tìm kiếm hiệu

quả); Về yếu tố thầy và trò trong đào tạo (Người thầy phải đáp ứng những đòi

hỏi cao về trình độ, bao gồm cả lý thuyết và thực hành, chịu sự quản lý về họcthuật của các nhà quản lý đào tạo Học trò có lịch học và chương trình được mô

tả chi tiết nên nắm vững từng hoạt động trong mỗi môn học, từng kỳ học và cácnăm học khác nhau)

“Xây dựng cơ sở học liệu phục vụ đào tạo nhà báo phát thanh truyền hình”, TS Nguyễn Trí Nhiệm (Đề tài nghiên cứu khoa học cơ sở trọng điểm –

Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội, 2015): Công trình đi sâu vào 3 nộidung: Vai trò của học liệu phục vụ đào tạo nhà báo phát thanh truyền hình; Thực

Trang 27

trạng cơ sở học liệu tại các trường đào tạo chức danh này; Giải pháp xây dựng hệthống học liệu và các khuyến nghị Sau khi khẳng định vai trò quan trọng củahọc liệu đối với đào tạo nhà báo phát thanh truyền hình, chỉ ra những tồn tạitrong thực trạng cơ sở học liệu của các trường đào tạo báo chí, công trình đã đưa

ra một số giải pháp có giá trị, như hướng tới mục tiêu xây dựng cơ sở học liệu kỹthuật số nhằm đáp ứng thực tiễn đào tạo chức danh này trong bối cảnh hiện nay,phối hợp giữa các trường đào tạo cùng ngành để tận dụng thế mạnh cơ sở họcliệu của nhau trong đào tạo

* * *Một vài nhận xét về các công trình nêu trên:

(1) Dù các nhà nghiên cứu tiếp cận với những góc độ khác nhau nhưng có

thể tổng kết lại các yếu tố tác động đến chất lượng đào tạo báo chí gồm: Nội

dung chương trình đào tạo (thể hiện mục tiêu đào tạo); Chất lượng giảng viên; Phương pháp dạy và học; Tài liệu, giáo trình (cơ sở học liệu) và trang thiết bị

kỹ thuật; Tuyển sinh; Phương pháp đánh giá chất lượng đào tạo Đây là những

yếu tố góp phần đảm bảo chất lượng đào tạo xét từ trong quy trình đào tạo củanhà trường Tác giả sẽ kế thừa kết quả nghiên cứu này trong quá trình thực hiệnluận án Để áp dụng một cách khoa học, cần nghiên cứu sâu hơn nội hàm của cácyếu tố này – điều mà các công trình nêu trên chưa đề cập đến, từ đó mới áp dụngkhảo sát thực tế

(2) Mặc dù có đề cập trực tiếp tới các yếu tố liên quan tới chất lượng đàotạo báo chí nhưng các công trình mới chỉ dừng ở việc đánh giá về công tác đào

tạo một cách vĩ mô, chưa xây dựng các giải pháp toàn diện, đồng bộ - cái mà có

thể ứng dụng ngay và làm thay đổi chất lượng đào tạo báo chí

3 NHỮNG NGHIÊN CỨU CÓ NỘI DUNG ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO BÁO CHÍ

“Kỷ yếu đề tài khoa học: Thực trạng và những giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân báo chí (khảo sát tại Phân viện Báo chí và Tuyên truyền

từ năm 1991 đến nay (2003)”, Vũ Đình Hương (chủ nhiệm đề tài), Phân viện

Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội, 2003: Cuốn kỷ yếu tập hợp 29 bài viết của các

Trang 28

chuyên gia, nhà nghiên cứu, nhà báo Có thể chia nội dung các bài viết về 2

nhóm: Nhóm 1: Đánh giá vai trò, vị trí của Phân viện trong công tác đào tạo

báo chí (“Phân viện Báo chí và Tuyên truyền 40 năm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

tư tưởng – văn hóa” của PGS TS Vũ Đình Hòe; “Một đội ngũ nhà báo chiến sỹxứng đáng với truyền thống của nhà trường” của nhà báo Quang Thống; “Mộtmốc son trong quá trình phát triển, trưởng thành khoa báo chí của chúng ta” của

nhà báo Minh Sơn…) Nhóm 2: Những suy nghĩ, ý kiến đóng góp nhằm nâng

cao chất lượng đào tạo báo chí: được đúc kết từ chính thực tiễn làm báo của các

tác giả, điển hình như “Dạy nghề báo trong trường đại học” của nhà báo HữuThọ (thậm chí có những đề xuất sau hơn 10 năm vẫn còn giá trị như: Sinh viên

ra trường phải làm được báo, vấn đề đạo đức nghề báo…); “Hành trang của lớpphóng viên tiền phương” của nhà báo Ngọc Đản; “Để báo chí tắm mình tronghơi thở, nhịp sống hiện đại” của nhà báo Hải Đường; “Đào tạo cán bộ báo chí –thực tiễn và kinh nghiệm” của TS Đinh Hường… Tuy nhiên, Kỷ yếu không cótác phẩm nào bàn về đào tạo phóng viên truyền hình

“Công tác đào tạo báo chí trong giai đoạn hiện nay”, TS Hoàng Đình

Cúc, TS Đức Dũng, (Những vấn đề của báo chí hiện đại, Nxb Lý luận chính trị,

Hà Nội, 2007): Về chủ đề đào tạo báo chí, các tác giả đã phân tích, tổng hợpnhững điều kiện tác động đến quá trình đào tạo báo chí và nêu lên những địnhhướng về chương trình đào tạo, những tri thức, tư duy cần được trang bị trongquá trình đào tạo, cần phải đa dạng hoá các loại hình đào tạo báo chí… Trên cơ

sở khái quát thực trạng đào tạo báo chí, các tác giả đưa ra những giải pháp nângcao chất lượng đào tạo báo chí: xác định đúng nhu cầu đào tạo của các đốitượng; nâng cao năng lực của giảng viên; hoàn thiện các giáo trình, tài liệu thamkhảo; tăng cường thiết bị kỹ thuật phục vụ giảng dạy và học tập…

“Đào tạo báo chí đáp ứng yêu cầu xã hội”, PGS.TS Trần Thế Phiệt, (Tạp

chí Thông tin khoa học xã hội số 6/2008): Bài báo tổng thuật các ý kiến tại hộithảo cùng tên do Học viện Báo chí và Tuyên truyền tổ chức Bài viết cho thấynhững biến đổi nhanh chóng của bối cảnh trong nước và quốc tế dẫn đến nhữngthay đổi mạnh mẽ hoạt động báo chí nước ta, trong đó có nhu cầu của các cơ

Trang 29

quan báo chí đối với sinh viên báo chí sau khi ra trường và đặt ra cho công tácđào tạo báo chí những yêu cầu mới Để đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện nay,cùng với việc tiếp tục đổi mới nâng cao tư duy tổ chức, quản lý đào tạo báo chícòn phải có sự đầu tư về trang thiết bị kỹ thuật và bổ sung thêm cán bộ kỹ thuật.Cải tiến mạnh mẽ phương pháp dạy và học báo chí để tăng khả năng nghiên cứu,khả năng khái quát thực tiễn của sinh viên… Thực hành là rất cần thiết và khôngthể thiếu trong giảng dạy nghiệp vụ báo chí.

“Nâng cao chất lượng công tác đào tạo báo chí đáp ứng yêu cầu đổi mới

và hội nhập quốc tế”, GS.TS Lương Xuân Ngọc, (Tạp chí Lý luận & Truyền

thông, Tháng 6/2008): Tác giả đề xuất một số định hướng nhằm đổi mới công

tác đào tạo báo chí trước yêu cầu mới, cụ thể: Một là, Công tác đào tạo báo chí

cần quán triệt sâu sắc Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm khóa X của Đảng vềcông tác tư tưởng, lý luận và báo chí Hướng tới mục tiêu đào tạo nhà báochuyên nghiệp, có lương tâm, sáng tạo, có ý chí và thái độ xây dựng nền báo chí

Việt Nam sánh vai với các nền báo chí khu vực và trên thế giới Hai là, đổi mới

công tác tuyển sinh theo hướng: Chỉ có những sinh viên đáp ứng được hai tiêuchuẩn: tiêu chuẩn điểm học vấn và tiêu chuẩn điểm năng khiếu mới trở thành

sinh viên báo chí Ba là, đổi mới chương trình, giáo trình, phương pháp dạy và

học theo hướng thiết thực, hiện đại, hội nhập Người học ra trường phải tinh

thông chuyên môn, thành thạo ngoại ngữ và ứng dụng công nghệ Bốn là, đào

tạo báo chí phải đảm bảo sự phối kết hợp giữa nhà trường, viện nghiên cứu báochí và cơ sở sản xuất báo chí Cần nghiên cứu cơ chế để có 3 đối tượng tham giagiảng dạy là: Thầy là giảng viên của nhà trường, Thầy là nhà báo giỏi của cơ

quan báo chí, Thầy là các chuyên gia nước ngoài Năm là, tăng cường đầu tư cơ

sở vật chất – kỹ thuật và các dịch vụ đi kèm Cần thống nhất nhận thức, hoạt

động đào tạo là một loại hình hoạt động dịch vụ trong cơ chế thị trường Sáu là,

xây dựng và từng bước thực hiện lộ trình xã hội hóa công tác đào tạo báo chí về

phương thức đào tạo, hình thức góp vốn và liên kết đào tạo quốc tế Bảy là, gắn

công tác đào tạo với đào tạo lại các nhà báo (để cập nhật tri thức, kỹ năng mới)

và hoạt động này cần trở thành các quy định bắt buộc có tính pháp lý

Trang 30

“The intellectual component in best practices of journalism”, Padma Iyer, (Asia Pacific Media Educator, 20, 2010, pp.23-32): Tác giả đưa ra vấn đề mà

các nhà thiết kế chương trình đào tạo báo chí tranh luận, là xây dựng chươngtrình thiên về kỹ năng nghề hay trang bị những hiểu biết về triết lý cuộc sống,những kiến thức nền tảng? Quan điểm của tác giả cho rằng, Kiến thức báo chíxuất phát từ thực tế, giống như nghề y hay nghề mộc Chủ yếu dựa trên việc làm

thực Tác giả đề xuất, phải tăng cường thực hành báo chí trong quá trình đào

tạo, cập nhật kiến thức thực tiễn trước sự thay đổi của công nghệ làm báo Điều

quan trọng, các nhà trường phải xây dựng các tiêu chuẩn thực hành tốt nhất phù

“Kỹ năng nghề báo – cần được đào tạo chuyên nghiệp”, TS Trần Bá

Dung, (website: ajc.edu.vn, Học viện Báo chí & Tuyên truyền, 2011): Tác giảtiếp cận vấn đề từ góc độ đào tạo kỹ năng nghề báo cần phải được thay đổi trongmục tiêu, nội dung, phương thức đào tạo Tác giả đã khái quát Nghề báo theo

công thức 4K: Nghề báo = Kiến thức + Kỹ năng + Kinh nghiệm + Kiến giải.

Kiến thức giúp nhà báo phát hiện vấn đề Kỹ năng giúp nhà báo thể hiện vấn đề.Kinh nghiệm giúp nhà báo đánh giá, kiểm soát thông tin, tự phản biện và là sựbảo đảm thông tin của nhà báo đối với công chúng Kiến giải là nêu quan điểm,chính kiến, chủ kiến, cao hơn là sáng kiến, phát kiến của người viết Tác giả

khẳng định “Muốn chuyên nghiệp hóa đào tạo kĩ năng nghề báo cho sinh viên

Trang 31

báo chí, trước hết, cơ cấu chương trình đào tạo cần chú trọng nhiều hơn đến đào tạo kĩ năng làm báo chuyên ngành Điều này không mâu thuẫn với xu thế tích hợp truyền thông - truyền thông đa phương tiện Muốn tổ chức được sản phẩm truyền thông đa phương tiện, người làm báo phải bắt đầu từ sự am hiểu,

và phải có kĩ năng thực hiện được từ những sản phẩm báo chí cụ thể ở từng loại hình báo chí” Tác giả cũng coi trọng việc đầu tư trang thiết bị thực hành ở các

trường đào tạo báo chí và việc gắn kết với cơ quan báo chí trong quá trình rèn kỹnăng thực hành cho sinh viên

Information Literacy Competency Standards for Journalism Students and Professionals”, (Association of College & Research Libraries, Chicago, USA, October 2011): Bộ tiêu chuẩn về kiến thức thông tin đối với các sinh viên báo chí và những người làm nghề báo (do Hiệp hội các thư viện đại học và nghiên

cứu Hoa Kỳ công bố) Kiến thức thông tin được định nghĩa là khả năng nhận rakhi nào thông tin là cần thiết và khả năng xác định, đánh giá, sử dụng một cáchhiệu quả và vấn đề đạo đức trong sử dụng thông tin Qua đó, sinh viên báo chí vàngười làm báo có kiến thức để lựa chọn thông tin tốt hơn, có phê phán và sửdụng thông tin một cách có đạo đức Ngày nay, việc xem xét một khối lượngthông tin khổng lồ đã đặt ra vấn đề, làm thế nào để khai thác, sử dụng thông tinđáp ứng tiêu chuẩn nghề nghiệp và có đạo đức đối với các nhà báo phục vụ cộngđồng Bộ đánh giá năng lực về kiến thức thông tin được nhận xét là hữu ích gồm

5 tiêu chuẩn với nhiều tiêu chí: Tiêu chuẩn 1: Lập kế hoạch (Xác định các nguồn

tài nguyên cần có) Tiêu chuẩn 2: Tìm kiếm (Sử dụng các chiến lược tìm kiếm hiệu quả) Tiêu chuẩn 3: Đánh giá mức độ chính xác và công bằng (Thẩm định tính chính xác, cân bằng và liên quan của các thông tin thu thập được) Tiêu

chuẩn 4: Dự thảo và sáng tạo (Viết chuyện từ việc tổng hợp các thông tin thu

được) Tiêu chuẩn 5: Các tiêu chuẩn về đạo đức và pháp luật (Áp dụng các tiêu

chuẩn nghề nghiệp trong toàn bộ quá trình nghiên cứu) Giá trị của bộ tiêu chuẩnnày còn ở chỗ, nó không bị ràng buộc bởi ý thức hệ, thể chế chính trị và hướngtới giá trị nhân văn của thông tin vì mục đích phục vụ cộng đồng của sinh viênbáo chí và nhà báo

Trang 32

“Báo chí truyền thông hiện đại (Từ hàn lâm đến đời thường)”, PGS.TS.

Nguyễn Văn Dững, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011: Tác giả dành riêngchương V để viết về “Nhà báo và việc đào tạo báo chí” Sau khi nêu lên thựctrạng công tác đào tạo báo chí, tác giả đã có những đề xuất, kiến nghị giá trị vềquan điểm xây dựng chương trình báo chí quốc gia, giáo trình báo chí quốc gia.Bên cạnh các kiến nghị ở tầm vĩ mô, một số kiến nghị khác phù hợp với tầmquyết định của một cơ sở đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo báo chí như:Xây dựng chương trình theo môđun; Đưa năng khiếu vào nội dung tuyển sinh;Xây dựng chuẩn đầu ra của chức danh phóng viên, nhà báo; Xúc tiến đào tạo nhàbáo quốc tế; Đào tạo đội ngũ cán bộ nghiên cứu giảng dạy

“Phối hợp giữa Học viện Báo chí và Tuyên truyền với các cơ quan báo chí trong hoạt động đào tạo” (Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia, Học viện Báo chí

và Tuyên truyền, Hà Nội, 2013): Kỷ yếu tập hợp 27 bài tham luận có thể chia

thành 2 nhóm: Nhóm thứ nhất: các giảng viên của Học viện, với nội dung chủ

yếu tập trung đánh giá cao vai trò phối hợp của các cơ quan báo chí trong việcnâng cao chất lượng đào tạo người làm báo, đồng thời khuyến khích sự phối hợpmạnh mẽ hơn trên các phương diện: Cử những nhà báo giỏi tham gia giảng dạy;Tăng cường trao học bổng cho các sinh viên ưu tú; Xây dựng chiến lược pháttriển nhân sự trên cơ sở nguồn đào tạo từ Học viện; Tích cực hỗ trợ hơn nữa sinhviên thực tập tại cơ sở Bên cạnh đó, một số tham luận cũng thẳng thắn chỉ ranhững hạn chế trong công tác đào tạo báo chí tại Học viện (về số lượng giảng

viên, thiết kế chương trình giảng dạy, điều kiện thực hành…) Nhóm thứ hai: đại

diện của các cơ quan báo chí với các nội dung tham luận: Khẳng định quan điểmủng hộ sự phối hợp giữa hai bên; Đề xuất việc phối hợp tổ chức cho sinh viên vềthực tập tại cơ quan báo chí; Đề xuất thêm các giải pháp nhằm tăng cường phốihợp thông qua các hoạt động hội thảo, khảo sát, đặt hàng đào tạo tại chỗ… Đáng chú ý, căn cứ vào thực tế chất lượng thực tập của sinh viên, có không ít ýkiến thẳng thắn góp ý với Học viện trên các phương diện: Cần tăng cường thờigian học thực hành cho sinh viên; Cần trang bị thêm các thiết bị thực hành; Chútrọng đào tạo các chức danh chuyên sâu…

Trang 33

“Đào tạo báo chí ở trường đại học trong xu thế báo chí hiện đại”, PGS.TS.

Đinh Thị Thúy Hằng, (Tạp chí Người làm báo – Hội Nhà báo Việt Nam, Tháng7/2013): Tác giả đánh giá nhu cầu và cách thức tiếp nhận thông tin của côngchúng đã thay đổi do sự tác động của khoa học công nghệ đối với báo chí Từ đóđặt ra câu hỏi cho các cơ sở đào tạo nhà báo tương lai cần có sự thay đổi như thếnào để đáp ứng được xu thế này Tác giả định hướng chương trình đào tạo các

nhà báo có tri thức, có tư duy nghề nghiệp chất lượng cao là“cần tăng cường

những môn có tính chất lý luận cơ bản bổ sung những quan điểm tri thức, những nghiên cứu về báo chí và tác động của báo chí liên quan đến xã hội, văn hóa và con người.” Bên cạnh đó, nhà báo cần phải được đào tạo kỹ năng đa phương tiện

để đáp ứng nhu cầu của báo chí hiện đại Muốn vậy, nhà trường cần phải cậpnhật chương trình đào tạo một cách thường xuyên nhằm đáp ứng sự phát triểncủa nền báo chí đương đại

“Những điểm mới trong đào tạo báo chí truyền thông tại khoa Báo chí và Truyền thông, PGS TS Đặng Thị Thu Hương, (website: Songtre.tv, 14/4/2014):

Điểm mới đầu tiên được đề cập đến là Đổi mới chương trình đào tạo báo chítheo học chế tín chỉ tại khoa Báo chí và Truyền thông (Đại học KHXH&NV HàNội) Chương trình được thiết kế theo các môđun, gắn kết với khối kiến thứcchung của Đại học quốc gia Hà Nội, của lĩnh vực, của khối ngành, của nhómngành, của ngành và định hướng chuyên ngành Đây là cách thiết kế chươngtrình phát huy lợi thế đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực và giúp sinh viên có điềukiện tiếp cận kiến thức sâu về lĩnh vực xã hội, nhân văn Đồng thời còn tạo điềukiện cho sinh viên học được văn bằng 2 trong thời gian 4 năm Bên cạnh đó, sinhviên hoàn toàn chủ động chọn chương trình học phù hợp với kế hoạch học tậpcủa mình Quá trình đào tạo được chú trọng rèn kỹ năng thực hành cho sinh viêntại Trung tâm thực hành của Khoa Tuy nhiên, tác giả cũng nêu ra những tháchthức trong đào tạo theo tín chỉ như: Công việc và áp lực đối với giảng viên theoyêu cầu của đào tạo tín chỉ; Công tác tổ chức quản lý kết quả học tập, rèn luyệncủa sinh viên; Nhiều sinh viên chưa chủ động trong tự học; Quy mô lớp còn quáđông; Giảng viên là nhà báo chưa quen đào tạo theo phương thức tín chỉ

Trang 34

“Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với công tác đào tạo nhà báo phát thanh, truyền hình”, TS Nguyễn Trí Nhiệm, (Báo chí – Truyền thông: Những

vấn đề đương đại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015,tr.188-195): Sau khikhẳng định ưu thế riêng biệt của phát thanh, truyền hình trong thời đại bùng nổtruyền thông, tác giả đưa ra một mâu thuẫn giữa đòi hỏi và nhu cầu về chấtlượng nguồn nhân lực báo chí với thực trạng công tác đào tạo nhà báo phát thanhtruyền hình hiện nay trên các phương diện: đội ngũ giảng viên, quy mô lớp học,chương trình giảng dạy, kế hoạch giảng dạy, cơ sở vật chất phương tiện kỹ thuật,thực hành nghiệp vụ và thực tập nghề nghiệp của sinh viên Trên cơ sở đó, tácgiả đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nhà báo phátthanh, truyền hình: Có cơ chế đãi ngộ để xây dựng đội ngũ giảng viên cơ hữu,kiêm chức có chất lượng; Đổi mới chương trình đáp ứng nhu cầu xã hội; Tăngcường sự hợp tác với các cơ quan báo chí; Thành lập mô hình cơ quan báo chítrong nhà trường; Xây dựng trung tâm thực hành hiện đại; Chú trọng rèn kỹ năngthực hành cho sinh viên ngay tại trường

“Từ đề án quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm

2025 và một vài suy nghĩ về công tác đào tạo báo chí hiện nay”, PGS.TS Đinh

Văn Hường, (25 năm nghiên cứu và đào tạo báo chí truyền thông, Khoa Báo chí

và Truyền thông, ĐH KHXH&NV Hà Nội, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2015,tr.318-325): Tác giả đề xuất những giải pháp nhằm tiếp tục phát triển chất lượngđào tạo báo chí trong bối cảnh hiện nay: Phát triển đội ngũ giảng viên ngang tầmyêu cầu và nhiệm vụ mới; Chương trình đào tạo cần cung cấp phông kiến thứcrộng, có chiều sâu văn hóa, phương pháp luận khoa học, phát triển tư duy, tínhsáng tạo của người học; Kiên trì mục tiêu đào tạo báo chí và truyền thông, mộtmặt đào tạo các loại hình báo chí, mặt khác đào tạo, nghiên cứu vào các phươngtiện truyền thông khác; Kết hợp và phát huy lợi thế giữa Khoa với Trung tâmNghiệp vụ báo chí nhằm phát huy lợi thế của cả hai bên; Đổi mới phương phápđào tạo theo hướng phát huy, khơi gợi phẩm chất, năng lực, kỹ năng, tầm nhìncủa người học; Kiên trì thực hiện mối quan hệ hài hòa, hợp lý giữa lý luận vàthực tiễn, giữa lý thuyết và thực hành; Mở rộng hợp tác với các đối tác trong và

Trang 35

ngoài nước theo hướng thiết thực, hiệu quả, thực tế Có thể nhận thấy, những đềxuất này có giá trị thực tiễn và có thể kế thừa một số giải pháp trong việc nângcao chất lượng đào tạo phóng viên truyền hình.

“Giải pháp quản lý chuyển đổi công nghệ và Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ở Đài Truyền hình Việt Nam”, TS Nguyễn Quốc Huy, Nxb

Công an nhân dân, Hà Nội, 2015: Cuốn sách có 6 chương gồm 2 nội dung nhưtựa đề Trong chủ đề thứ hai, tác giả nêu tổng quan về chất lượng đào tạo từ xácđịnh quan điểm về chất lượng đến khái niệm về chất lượng đào tạo Đặc biệt, tácgiả đã nêu lên các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng của một khóa đào tạo và tiêuchuẩn đánh giá chất lượng đào tạo, những điều kiện cần và đủ để một trung tâmbồi dưỡng nghiệp vụ hoạt động có chất lượng Tác giả đã đánh giá thực trạngcông tác đào tạo ở Trung tâm đào tạo, bỗi dưỡng nghiệp vụ truyền hình (ĐàiTHVN) và nêu lên các giải pháp nhằm tiếp tục nâng cao chất lượng nguồn nhânlực ở Đài Truyền hình quốc gia Tuy nhiên, nội dung cuốn sách không bàn tớichất lượng đào tạo phóng viên truyền hình ở các khóa đào tạo dài hạn như caođẳng, đại học Đồng thời, tác giả cũng chưa đề cập tới các mô hình đào tạo ngắnhạn ở các cơ sở đào tạo khác tại Việt Nam

* * *

Có thể rút ra những đánh giá khái quát sau:

Những đề xuất, giải pháp nêu trong các công trình nghiên cứu đều tập trung

vào các yếu tố tác động đến chất lượng đào tạo báo chí đã được tổng kết ở phần

tổng quan trước Điều này rất có ý nghĩa khi việc xác định các yếu tố đảm bảochất lượng đã nhận được sự đồng thuận của nhiều nhà khoa học Một số nghiêncứu đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, yếu kém trong công tác đào tạo báo chínói chung, đào tạo phóng viên truyền hình nói riêng Nhiều dự báo, nhận định cógiá trị thực tiễn về sự tác động của bối cảnh xã hội tới đào tạo báo chí Những ýkiến này có ý nghĩa trong việc xác định nội dung đào tạo báo chí nói chung, đàotạo phóng viên truyền hình nói riêng Các giải pháp được đề xuất rất thiết thựctrong việc nâng cao chất lượng đào tạo báo chí Tuy nhiên, không có công trìnhnghiên cứu nào đề xuất chuyên biệt về đào tạo phóng viên truyền hình Một số

Trang 36

phương thức đào tạo được tổng kết nhưng không phải áp dụng riêng cho đào tạophóng viên truyền hình mà còn đào tạo các chức danh cần thiết khác trong lĩnhvực truyền hình.

4 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU ĐỀ CẬP TỚI KIẾN THỨC, KỸ NĂNG, NGHIỆP VỤ BÁO CHÍ TRUYỀN HÌNH

Rất nhiều công trình, sách chuyên khảo, bài báo khoa học viết về kỹ năng,nghiệp vụ báo chí Sau đây là một số công trình tiêu biểu liên quan đến báo chítruyền hình:

“Làm tin – phóng sự truyền hình” (Sổ tay phóng viên), Neil Everton, Quỹ

Reuters xuất bản năm 1999: Như tựa đề, cuốn sách trình bày những kỹ năng cơbản nhất để làm tin và phóng sự truyền hình Nó được viết ra dựa trên kinhnghiệm của một số nhà báo, giảng viên truyền hình tầm cỡ ở châu Âu và Bắc

Mỹ Bởi vậy, nội dung sách không đi vào lý luận mà chia sẻ một cách ngắn gọn,súc tích về những tình huống thường gặp trong quá trình tác nghiệp làm tin,phóng sự truyền hình Có thể nói, đây là tác phẩm chứa đựng những kinh nghiệm

tỷ mỷ nhất, thậm chí chỉ ra các thói xấu thường gặp của nhà báo Qua đó, tác giảmong muốn hình thành thói quen tốt cho những người trong nghề, đúng như lời

giới thiệu: “Không bao giờ muộn khi nhìn lại những thói quen cũ (có lẽ là xấu).

Và để tạo ra những thói quen tốt mới” Các kỹ năng được tác giả trình bày hết

sức chi tiết trong từng công đoạn sản xuất tác phẩm như: công tác chuẩn bị, kỹnăng khai thác thông tin qua phỏng vấn, những lưu ý khi ghi hình, dẫn tại hiệntrường, cách thức dựng hình theo ý đồ, sử dụng âm thanh, sử dụng các loại câutrong viết lời bình, sử dụng đồ họa… Đây là cuốn sách hữu ích trong tủ sáchnghiệp vụ truyền hình cho cả người học nghề và đang trong nghề

“Sáng tạo tác phẩm báo chí”, Đức Dũng, Nxb Văn hoá – Thông tin, Hà

Nội, 2002: Bên cạnh những nghiên cứu về lý luận báo chí nói chung, tác giả đềcập đến Kỹ năng viết và nói cho phát thanh, truyền hình Tác giả rút ra nhữngnguyên tắc cụ thể, dễ áp dụng trong thực tiễn nghề nghiệp Nội dung đề cập đếnhơn 10 thể loại báo chí trong hệ thống thể loại báo chí ở nước ta Kết cấu mỗichương (viết về một thể loại) đi từ khái quát đến cụ thể: từ khái niệm, đặc điểm

Trang 37

thể loại, các dạng thức và cuối cùng là cách viết, cách sáng tạo tác phẩm Vì đềcập đến nhiều thể loại trong một cuốn sách nên tác giả không có điều kiện đi sâucung cấp thông tin chi tiết về kỹ năng với độc giả.

“Sản xuất chương trình truyền hình”, Trần Bảo Khánh, Nxb Văn hoá –

Thông tin, Hà Nội, 2003: Cuốn sách đề cập đến những kiến thức cơ bản từ lýluận đến thực tiễn của báo chí truyền hình Với bố cục 2 phần, phần I là nhữngkiến thức lý luận về Đặc trưng và thể loại báo chí truyền hình; Sản xuất chươngtrình truyền hình và Phóng viên truyền hình Phần II bàn về một số thể loại báochí truyền hình (như: tin truyền hình, phóng sự truyền hình, ký sự truyền hình,phỏng vấn truyền hình, tạp chí truyền hình, cầu truyền hình) Kết cấu viết trongtừng thể loại thường đi từ đặc điểm, các dạng thức tới phương pháp sáng tạo.Cách viết giản dị, không mang nặng tính hàn lâm, đặc biệt tác giả chia sẻ nhiềukinh nghiệm, kỹ năng nghề nghiệp có ý nghĩa thực tiễn cao khi sáng tạo các thểloại báo chí truyền hình nói trên (từ công tác chuẩn bị, quá trình thực hiện đến

xử lý hậu kỳ) Đây là một trong số ít những cuốn sách nghiên cứu chuyên sâu,đặc biệt có giá trị đối với đào tạo báo chí truyền hình Tuy nhiên, nội dung cuốnsách có xu hướng đi sâu vào kỹ năng, phương pháp, quy trình sáng tạo và đượcviết với sự khái quát cao Tác giả không đề cập tới vấn đề tổ chức đào tạo cũngnhư đào tạo các chức danh tham gia sản xuất chương trình truyền hình

“Báo chí truyền hình (tập 1)”, G.V Cudơnhetxốp, X.L XVích,

A.Ia.Iurốpxki, Nxb Thông Tấn, Hà Nội, 2004: Đây là cuốn sách cung cấp nhữngkiến thức cơ bản về báo chí truyền hình Các tác giả trình bày, phân tích Vị trí,chức năng của truyền hình trong xã hội; so sánh truyền hình với các loại hìnhtruyền thông khác để nhấn mạnh tính đặc thù của truyền hình (chương I) Các tácgiả cũng đi sâu phân tích các chức năng của truyền hình (chương II) và điểm quanhững mốc lịch sử trong sự phát triển của truyền hình ở một số quốc gia trên thếgiới (chương III) Chương IV bàn về những tác động của kỹ thuật công nghệ tới

sự phát triển nhanh chóng của lĩnh vực truyền hình (truyền hình cáp, truyền hình

vệ tinh) Chương V và chương VI phân tích và rút ra kinh nghiệm về những kiếnthức nghiệp vụ truyền hình khi bàn về “Bản chất của truyền hình hiện đại” (ngôn

Trang 38

ngữ màn ảnh, nghề quay phim, quan hệ giữa hình ảnh và lời thoại, kịch bảntruyền hình…) Cuốn sách được đánh giá là tài liệu quý cho những người đanghọc hoặc mới bước vào nghề truyền hình, đem lại cách hiểu đúng đắn về đặctrưng báo chí truyền hình cũng như những nghiệp vụ cơ bản

“Báo chí truyền hình (tập 2)”, G.V Cudơnhetxốp, X.L XVích,

A.Ia.Iurốpxki, Nxb Thông Tấn, Hà Nội, 2004: Tập 2 là các kiến thức chuyên sâu

về nghiệp vụ truyền hình Chương I giới thiệu về các thể loại báo chí truyền hìnhnhư: thể loại thông tin truyền hình, chính luận phân tích, chính luận nghệ thuật,châm biếm – trào phúng… Các tác giả đưa ra quan điểm biện chứng rằng, thể

loại “luôn ở trong quá trình phát triển, biển đổi cùng với hoạt động thực tiễn

sinh động …, sự xuất hiện những thể loại mới và sự tiêu vong của những thể loại cũ – đó là một quá trình không thể tránh khỏi về mặt lịch sử” [t.10] Chương

II là những kiến thức nghiệp vụ nhà báo truyền hình, được giới thiệu thông quamột số chức danh: biên tập viên; phóng viên truyền hình; bình luận viên vàngười điểm tình hình thời sự; người phỏng vấn, người dẫn chương trình Nhữngnguyên tắc đạo đức trong báo chí truyền hình được đề cập tại chương III.Chương IV đề cập đến các phương pháp nghiên cứu xã hội học về khán giảtruyền hình Chương V, tuy đặt đầu đề “Nhà báo với chiếc camera ghi hình”nhưng phần đầu giới thiệu về Quy trình đào tạo phóng viên tại bộ môn truyềnhình của khoa báo chí thuộc Đại học Tổng hợp Mátxcơva Theo đó, ngay từ nămthứ hai, sinh viên đã thường xuyên đến các tổ chức truyền hình và tham gia vàocông việc Những sản phẩm của sinh viên có vai trò quan trọng trong kỳ sát hạchtốt nghiệp và sắp xếp việc làm của họ

“Phóng sự báo chí”, TS Nguyễn Thị Thoa – TS Đức Dũng, Nxb Lý luận

chính trị, Hà Nội, 2005: Đây là một thể loại đã và đang được các cơ quan báo chí

sử dụng chủ công hàng ngày Kết cấu nội dung được xây dựng theo trình tự từkhái quát đến cụ thể, thông tin khá toàn diện về thể loại, từ lịch sử hình thành,đặc điểm thể loại, các dạng phóng sự và kỹ năng thực hiện tác phẩm theo từngloại hình: Phóng sự báo in và báo mạng điện tử, phóng sự phát thanh, phóng sựtruyền hình

Trang 39

“Introduction to journalism”, Carole Fleming, Emma Hemmingway,

Gillian Moore and Dave Welford (2006), (Printed in Great Britain By CpodTrowbridge, Wiltshire): Đúng như tựa đề, cuốn sách đã giới thiệu tới độc giảnhững kiến thức, kỹ năng liên quan tới báo chí nói chung và các loại hình báochí nói riêng Về kỹ năng, các tác giả đã giới thiệu khái lược những kỹ năng cầnthiết khi làm tin, phóng sự, phỏng vấn trên các loại hình báo in, báo mạng điện

tử, phát thanh, truyền hình Về kiến thức, nhóm tác giả tập trung vào các vấn đềcốt lõi như: Giới thiệu về hệ thống luật pháp ở Anh; Nhà báo và luật pháp, tòaán; Chính quyền và hệ thống chính trị; Những quy định về truyền thông đạichúng ở Anh Do đề cập đến khá nhiều khía cạnh nên nội dung không được khaithác sâu mà chỉ mang tính chất gợi mở

“Đặc trưng báo chí truyền hình”, Tài liệu giảng dạy Khoa Báo chí –

Trường Cao đẳng Truyền hình, Hà Nội, 2007: Công trình đưa ra những nội dungliên quan trực tiếp tới truyền hình như: Sự ra đời và phát triển của truyền hìnhViệt Nam; Vai trò của truyền hình trong xã hội hiện đại; Các mối quan hệ củatruyền hình (với các loại hình truyền thông khác và với các loại hình báo chíkhác) Điểm nhấn quan trọng nhất là nghiên cứu về Đặc trưng báo chí truyềnhình – những cái riêng có của truyền hình (đặc trưng về ngôn ngữ, giao tiếp, quytrình sáng tạo tác phẩm…), đồng thời chỉ ra những hạn chế của loại hình báo chínày Đây là tài liệu hữu ích cho người học nghề làm truyền hình, đặc biệt làphóng viên truyền hình Những kiến thức này sẽ hình thành tri thức, làm nềntảng quan trọng để học sâu vào chuyên ngành và ứng dụng khi tác nghiệp

“Cơ sở lý luận báo chí”, PGS.TS Nguyễn Văn Dững, Nxb Lao động, Hà

Nội, 2012: Nội dung cuốn sách kế thừa các nghiên cứu trước đó, kết hợp vớinhững tổng kết từ kinh nghiệm nghiên cứu của tác giả Cuốn sách cung cấpnhững kiến thức cơ bản về lý luận báo chí như: Khái niệm, đặc điểm, bản chấthoạt động báo chí; Đối tượng, công chúng và cơ chế tác động của báo chí; Cácchức năng và nguyên tắc của hoạt động báo chí; Tự do báo chí; Lao động nhàbáo; Nhà báo – chủ thể hoạt động báo chí Những kiến thức nói trên được trìnhbày trên cơ sở bám sát quan điểm về báo chí của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng

Trang 40

Hồ Chí Minh và của Đảng, Nhà nước ta Cuốn sách là tài liệu rất có giá trị nhằmtrang bị thế giới quan, phương pháp luận, ý thức đối với nghề báo của sinh viên.Với đặc điểm của nghề báo, những kiến thức này cần được đưa vào chương trìnhbắt buộc trong đào tạo phóng viên nói chung, phóng viên truyền hình nói riêng.

“Các loại hình báo chí truyền thông”, PGS.TS Dương Xuân Sơn, Nxb

Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2014: Cuốn sách gồm 2 phần: Phần I tác giảcung cấp những kiến thức cơ bản, có hệ thống về khái niệm, đặc điểm, mô hình,phân loại truyền thông và truyền thông đại chúng Từ đó tác giả đi sâu phân tíchnhững đặc trưng, đặc điểm của thông tin báo chí Phần II tác giả viết riêng chotừng loại hình báo chí (báo in, phát thanh, truyền hình, báo điện tử và các loạihình truyền thông khác) từ khái niệm, lịch sử hình thành, đặc trưng, đặc điểm,quy trình sản xuất đến xu hướng phát triển của từng loại hình Tác giả dành chọnchương 5 để viết về Truyền hình với những kiến thức rất đáng chú ý như: Đặcđiểm của tác phẩm báo chí truyền hình, đặc điểm khán giả truyền hình, ngôn ngữtruyền hình Tác giả cũng đề cập đến một số thể loại báo chí truyền hình cơ bản.Cách viết giản dị, ngắn gọn nên hàm lượng thông tin về truyền hình nói riêng vàcác loại hình báo chí khác nói chung, nhất là phương pháp, kỹ năng sáng tạo tácphẩm chưa được tác giả đề cập một cách chuyên sâu

“Cẩm nang MediaNet: cơ hội nâng cao nghiệp vụ, kỹ năng báo chí cho các phóng viên và nhà báo trẻ”, Hội đồng Anh (British Council): Cuốn sách đi

trực tiếp vào các kỹ năng mà nhà báo cần có trong thực tiễn nghề nghiệp nhưphong cách đưa tin; cấu trúc cơ bản của một bài báo; tính khách quan, công bằng

và cân bằng trong đưa tin; xuất xứ của nguồn tin; kỹ năng phỏng vấn; trích dẫncác đoạn băng/hình vào tác phẩm; quy ước về đạo đức nghề nghiệp Đây thuầntuý là cuốn cung cấp kỹ năng nghề - những kỹ năng mang tính ứng dụng cao

* * *

Có thể khái quát một số đánh giá sau đây:

Trong tủ sách về nghiệp vụ báo chí, không có nhiều tác phẩm nghiên cứuchuyên sâu về báo chí truyền hình Các công trình nêu trên đã thể hiện nhữngkiến thức lý luận chung về báo chí, đặc biệt là kỹ năng trong lĩnh vực truyền

Ngày đăng: 19/12/2016, 10:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w