Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá được tình hình mắc bệnh viêm đường hô hấp trên đàn lợn nái ngoại tại trại lợn; - Đánh giá được hiệu lực điều trị bệnh đường hô hấp của 2 loại thuốc kháng
Trang 1NGUYỄN VĂN ĐƯỢC
Tên đề tài:
“TÌNH HÌNH NHIỄM BỆNH ĐƯỜNG HÔ HẤP TRÊN ĐÀN LỢN NÁI NGOẠI NUÔI TẠI TRẠI LỢN NGUYỄN VĂN CHIÊM, XÃ ĐẠO TÚ, HUYỆN TAM DƯƠNG,
TỈNH VĨNH PHÚC VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Thú y Khoa : Chăn nuôi Thú y Khoá học : 2011 – 2016
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2NGUYỄN VĂN ĐƯỢC
Tên đề tài:
“TÌNH HÌNH NHIỄM BỆNH ĐƯỜNG HÔ HẤP TRÊN ĐÀN LỢN NÁI NGOẠI NUÔI TẠI TRẠI LỢN
NGUYỄN VĂN CHIÊM, XÃ ĐẠO TÚ, HUYỆN TAM DƯƠNG,
TỈNH VĨNH PHÚC VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Lớp: K43 - TY
Khoa: Chăn nuôi Thú y Khoá học: 2011 – 2016 Giảng viên hướng dẫn: TS Phan Thị Hồng Phúc
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực tập và thực hiện đề tài, bản thân em luôn nhận được sự quan tâm giúp đỡ của nhiều tổ chức cá nhân Nhân dịp này em xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo, đặc biệt là các thầy cô trong Khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp em trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn gia đình và các thầy cô đã động viên giúp
đỡ em tận tình trong suốt những năm học vừa qua và trong quá trình thực tập
tốt nghiệp Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới: TS Phan Thị Hồng Phúc, Khoa Chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo tận tình em trong suốt thời gian thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Em xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám đốc và cán bộ, công nhân viên doanh nghiệp tư nhân Tùng Phát (Trại lợn Nguyễn Văn Chiêm) xã Đạo Tú, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập tại đây
Trong quá trình thực tập bản thân em không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự quan tâm góp ý của các thầy cô để em trưởng thành hơn trong công tác sau này
Kính chúc quý thầy cô sức khỏe và thành công trong công việc
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Văn Đƣợc
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nhiệm 39
Bảng 4.1 Lịch tiêm phòng vắc xin cho lợn nái của trại 44
Bảng 4.2 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 48
Bảng 4.3 Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh đường hô hấp 49
Bảng 4.4 Tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp của lợn nái theotháng trong năm 50
Bảng 4.5 Tỷ lệ nhiễm bệnh đường hô hấp ở lợn nái theo từng giai đoạn 52
Bảng 4.6 Triệu chứng lâm sàng của lợn nái mắc bệnh đường hô hấp 54
Bảng 4.7 Tỷ lệ lợn nái chết do mắc bệnh đường hô hấp 54
Bảng 4.8 Bệnh tích của lợn nái ngoại mắc bệnh đường hô hấp 55
Bảng 4.9 Hiệu quả của hai phác đồ điều trị bệnh đường hô hấp ở lợn 56
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 4.1 Biểu đồ tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp qua các tháng trong năm 51 Hình 4.2 Biểu đồ tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp của lợn nái theo từng giai đoạn 53
Trang 7MỤC LỤC
Trang
Phần 1 : MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.1 Ý nghĩa trong thực tiễn 2
Phần 2 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học 3
2.1.1.Vai trò, chức năng sinh lý của bộ máy hô hấp 3
2.1.2.Tìm hiểu một số vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp 4
2.1.3 Một số bệnh đường hô hấp điển hình 5
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 28
2.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 28
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 33
Phần 3 : ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
3.1 Đối tượng nghiên cứu 37
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 37
3.3 Nội dung nghiên cứu 37
3.4 Phương pháp nghiên cứu 37
3.4.1 Phương pháp xác định tỷ lệ lợn nái ngoại bị mắc bệnh đường hô hấp ở đàn lợn nuôi tại trại lợn Nguyễn Văn Chiêm, huyện Tam Dương tỉnh Vĩnh Phúc 38
3.4.2 Phương pháp theo dõi triệu chứng lâm sàng và mổ khám bệnh tích lợn nái ngoại bị mắc bệnh 39
3.4.3 Hiệu quả điều trị bệnh ở đường hô hấp của hai loại thuốc 39
Trang 83.4.4 Các chỉ tiêu theo dõi và cách tính các chỉ tiêu như sau: 40
3.4.5 Phương pháp xử lý số liệu 40
Phần 4 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42
4.1 Công tác phục vụ sản xuất 42
4.1.1 Công tác phòng bệnh 42
4.1.2 Công tác trị bệnh 45
4.2 Kết quả nghiên cứu 49
4.2.1 Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh đường hô hấp tại trại Nguyễn Văn Chiêm xã Đạo Tú huyện Tam Dương tỉnh Vĩnh Phúc 49
4.2.2 Tình hình nhiễm bệnh hô hấp của lợn nái theo tháng trong năm 50
4.2.3 Tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp theo từng giai đoạn ở lợn nái ngoại nuôi tại trại lợn Nguyễn Văn Chiêm, xã Đạo Tú, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc 52
4.2.4 Triệu chứng lâm sàng của lợn nái ngoại mắc bệnh đường hô hấp 53
4.2.5 Tỷ lệ lợn nái chết do mắc bệnh đường hô hấp 54
4.2.6 Bệnh tích của lợn nái ngoại mắc bệnh đường hô hấp 55
Phần 5 : KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 59
5.1 Kết luận 59
5.2 Đề nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Trang 9Trong các loại vật nuôi thì nuôi lợn mang lại hiệu quả kinh tế cao và là nguồn cung cấp thịt chủ yếu cho xã hội Vì vậy trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nước ta nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng đã đạt nhiều thành tựu mới, xu thế chuyên môn hóa sản xuất, chăn nuôi muốn thu được lợi nhuận cao thì ngoài các vấn đề về con giống, công tác dinh dưỡng thì công tác thú y là vấn đề cấp bách, quyết định đến thành công trong chăn nuôi
Việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất đã giúp chúng ta xử lý và khống chế bệnh dịch Mặt khác khi mức sống của người dân tăng lên thì nhu cầu về sử dụng thực phẩm sạch đang là vấn đề mà
xã hội quan tâm, do đó mà ngành chăn nuôi nói chung và nhất là chăn nuôi lợn nói riêng làm sao phải tạo ra nhiều số lượng nhưng phải có chất lượng sản phẩm tốt, việc đó đòi hỏi phải có những biện pháp hợp lý để đáp ứng nhu cầu
xã hội
Trong các bệnh gây thiệt hại cho chăn nuôi lợn thì bệnh liên quan tới đường hô hấp diễn ra một cách phức tạp và gây nhiều thiệt hại lớn Bệnh đường hô hấp là một trong những bệnh có nhiều nguyên nhân gây ra như: vi
Trang 10khuẩn, vi rút, Mycoplasma, gây ảnh hưởng đến chức năng hô hấp của lợn
Mặc dù tỷ lệ chết không cao nhưng bệnh này lại làm suy giảm năng suất chăn nuôi, do lợn nhiễm bệnh sinh trưởng chậm, tiêu tốn thức ăn cao Xuất phát từ
yêu cầu thực tế sản xuất và được sự hướng dẫn của cô giáo TS Phan Thị
Hồng Phúc, em đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tình hình nhiễm bệnh
đường hô hấp trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại trại lợn Nguyễn Văn Chiêm,
xã Đạo Tú , huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc và biện pháp phòng trị ”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được tình hình mắc bệnh viêm đường hô hấp trên đàn lợn nái ngoại tại trại lợn;
- Đánh giá được hiệu lực điều trị bệnh đường hô hấp của 2 loại thuốc kháng sinh
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
- Các kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo về bệnh đường hô hấp trên đàn lợn nái ngoại
1.3.1 Ý nghĩa trong thực tiễn
- Các kết quả nghiên cứu điều trị bệnh và đánh giá hiệu quả điều trị
bằng 2 loại thuốc góp phần phục vụ sản xuất ở trại
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1.Vai trò, chức năng sinh lý của bộ máy hô hấp
Đối với tất cả các loài động vật thì một trong những yếu tố quyết định đến sự sống là có đủ lượng O2 Trong mỗi phút, cơ thể động vật cần 6 - 8ml
O2 và thải ra 250ml CO2 Để có đủ lượng O2 thiết yếu này và thải ra được lượng CO2 ra khỏi cơ thể thì cơ thể phải thực hiện động tác hô hấp
Hô hấp của cơ thể lợn được chia thành 3 quá trình:
- Hô hấp ngoài: là quá trình trao đổi khí giữa cơ thể và môi trường được thực hiện ở phổi thông qua các phế nang
- Hô hấp trong: là quá trình sử dụng O2 ở mô bào
- Quá trình vận chuyển CO2, O2 từ phổi đến mô bào và ngược lại
Động tác hô hấp được điều khiển bằng cơ chế thần kinh thể dịch và được thực hiện bởi các cơ quan hô hấp Cơ quan hô hấp của lợn gồm đường dẫn khí (mũi, hầu, họng, khí quản, phế quản) và phổi
Dọc đường dẫn khí có hệ thống thần kinh và hệ thống mạch máu phân
bố dày đặc có tác dụng sưởi ấm không khí vào đến phổi Trên niêm mạc đường hô hấp có nhiều tuyến tiết dịch nhầy để giữ bụi và dị vật có lẫn trong không khí Niêm mạc đường hô hấp cũng có lớp lông rung luôn chuyển động hướng ra ngoài do đó có thể đẩy các dị vật hoặc bụi ra ngoài
Cơ quan thụ cảm trên niêm mạc đường hô hấp rất nhạy cảm với các thành phần lạ có trong không khí Khi có vật lạ, cơ thể có phản xạ ho, hắt hơi nhằm đẩy vật lạ ra ngoài, không cho xâm nhập vào sâu trong đường hô hấp
Khí O2 sau khi vào phổi và khí CO2 thải ra được trao đổi tại phế nang Phổi lợn bao gồm rất nhiều phế nang làm tăng diện tích bề mặt trao khí
Trang 12Một động tác hít vào và thở ra được gọi là một lần hít thở Tần số hô hấp là số lần thở/phút Mỗi loài động vật khác nhau trong điều kiện bình thường có tần số hô hấp khác nhau:
2.1.2.Tìm hiểu một số vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp
Bệnh đường hô hấp do nhiều nguyên nhân gây ra như: vi khuẩn, vi rút,
kí sinh trùng
Các giống lợn được nuôi tại trại Nguyễn Văn Chiêm đều là các giống lợn nhập ngoại thông qua tập đoàn CP Thái Lan Các giống lợn này có sức đề kháng rất kém với các điều kiện thời tiết, khí hậu của địa phương Chúng rất nhạy cảm với sự thay đổi đột ngột của thời tiết, khí hậu và các yếu tố gây bệnh Mặt khác, trong quá trình chăn nuôi công tác chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh thú y, phòng trị bệnh không được thực hiện triệt để Chính những nguyên nhân này làm cho tỷ lệ lợn ở trong trại Nguyễn Văn Chiêm thường xuyên mắc các bệnh truyền nhiễm, đặc biệt là các bệnh đường hô hấp Các bệnh đường
hô hấp mà lợn thường xuyên mắc ở trang trại Nguyễn Văn Chiêm là:
- Bệnh viêm phổi do Mycoplasma gây ra;
- Bệnh viêm phổi do Actinobacillus pleuropneumoniae gây ra;
- Bệnh viêm phổi do Pasteurella multocida gây ra;
- Bệnh viêm phổi do vi rút gây ra;
- Bệnh viêm phổi do ký sinh trùng gây ra;
Trang 132.1.3 Một số bệnh đường hô hấp điển hình
2.1.3.1 Bệnh suyễn lợn
* Nguyên nhân
Bệnh do Mycoplasma hyopneumoniae gây ra, bệnh hay còn gọi là bệnh
viêm phổi địa phương của lợn Bệnh gây nhiều thiệt hại nhiều về kinh tế, tăng trọng kém, tiêu tốn thức ăn/kg thể trọng cao
+ Đường nhiễm bệnh
Bệnh lây trực tiếp từ con ốm sang con khỏe thông qua đường hô hấp và tiêu hóa Phương thức truyền bệnh là do gia súc thở, hắt hơi, ho làm cho nước dãi, dịch mũi bắn sang con khỏe, hoặc rơi xuống nền chuồng mà gia súc khỏe liếm phải Ngoài ra, mầm bệnh còn được truyền từ gia súc đã lành bệnh nhưng vẫn mang trùng mà hàng ngày thải mầm bệnh ra môi trường
+ Quá trình sinh bệnh
Sau khi xâm nhập vào phổi qua đường hô hấp, Mycoplasma tạo trạng
thái cân bằng nếu sức đề kháng của cơ thể tốt Khi sức đề kháng của cơ thể giảm do nhiều nguyên nhân như: chuồng trại không hợp lý, chăm sóc kém
Mycoplasma tác động gây hội chứng viêm phổi ở thùy đỉnh, thùy tim, thùy
hoành cách mô Sự kết hợp của các vi khuẩn kế phát như Pasteurella
multocida, Streptococcus, Staphylococcus tác động làm cho bệnh thêm
trầm trọng và gây biến chứng viêm phổi, nung mủ phổi
Trang 14hoặc hơi cao, sốt nhẹ 39 - 39,50C, khi có biểu hiện bệnh, con vật hắt hơi từng hồi lâu do các chất dịch tiết sâu ở trong đường hô hấp hoặc do viêm phổi có dịch bài xuất ở giai đoạn sau của bệnh Vài ngày sau, con vật ho, khi ho vận động mạnh, thường biểu hiện bệnh lúc sáng sớm và chiều tối Lợn bệnh ho liên tục trong 2 - 3 tuần, có khi kéo dài hơn
Khi phổi bị tổn thương nghiêm trọng thì con vật có triệu chứng khó thở, thở nhanh, thờ khò khè, nhịp thở có thể lên tới 100 – 150 lần/phút Tần số
hô hấp tăng dần lên, gia súc ngồi thở như chó, mồm há ra để thở, bụng giật mạnh, chảy nước mắt, chảy nước mũi, có khi con vật bị tiểu tiện, nước tiểu vàng và ít, nghe phổi có nhiều vùng có âm đục
Bệnh tiến triển khoảng 1 tuần, tỷ lệ chết khá cao nếu không điều trị kịp thời Thể cấp tính thường ít thấy, chủ yếu mắc bệnh ở những đàn lợn chưa mắc bệnh lần nào Bệnh thường phát ra đột ngột và lây lan nhanh Khi có tác động của vi khuẩn kế phát làm chứng viêm phổi càng trở nên trầm trọng hơn
Trang 15Con vật đi táo rồi ỉa chảy Thân nhiệt tăng ít, khoảng 39 – 400C, có thể tăng lên đến 400
C rồi hạ thấp xuống
Bệnh tiến triển vài tháng có khi đến nửa năm, thỉnh thoảng có con chết Nếu chăm sóc nuôi dưỡng tốt thì đàn lợn có thể phục hồi, tỷ lệ chết không cao, nhưng hầu hết giảm tốc độ sinh trưởng
Cũng có khi lợn mắc bệnh ở thể ẩn Triệu chứng không xuất hiện rõ, thỉnh thoảng ho nhẹ, khi con vật stress do thời tiết thay đổi hoặc thức ăn không đảm bảo thì bệnh mới phát ra Con vật sinh trưởng, phát triển chậm, thời gian nuôi vỗ béo kéo dài
* Bệnh tích:
Bệnh tích chủ yếu ở cơ quan hô hấp, đặc biệt là ở phổi, hạch phổi Bắt đầu xuất hiện những đốm đỏ hoặc xám bằng hạt đậu xanh to dần rồi tập trung lại thành vùng rộng hơn Hai bên phổi đều có bệnh tích như nhau và có giới hạn rõ giữa chỗ phổi bị viêm và chỗ bình thường
Chỗ viêm ở phổi cứng dần, màu đỏ hoặc màu xám, mặt bóng láng, trong suốt, bên trong có chất keo nên gọi là viêm phổi kính Phổi có bệnh thì dày lên, cứng rắn, bị gan hóa hoặc thịt hóa Cắt phổi ra có nước hơi lỏng màu trắng xám, có bọt, phổi dày và đặc lại, khi dùng tay bóp không xốp như bình thường Sau khi viêm từ 10 – 20 ngày, vùng nhục hóa đục dần, ít trong hơn, màu tro hồng, vàng nhạt hoặc vàng xám, cuối cùng màu đục hẳn, bóp rất cứng, sờ giống như tụy tạng hóa Cắt phổi có bệnh thấy rất nhiều bọt, nhiều vùng hoại tử màu trắng Bệnh tích lan rộng, trên mặt có nhiều sợi tơ huyết trắng, phổi dính vào lồng ngực khi màng phổi bị viêm nặng
Cắt một miếng phổi có vùng bị gan hóa bỏ vào nước thấy chìm Phế quản, khí quản viêm có bọt, dịch nhày màu hồng nhạt, bóp có khi có mủ chảy ra
Một bệnh tích đặc trưng nữa là hạch lâm ba phổi sưng rất to, gấp 2 – 5 lần hạch bình thường, chứa nhiều vi khuẩn, nhiều nước màu tro, hơi tụ máu nhưng không xuất huyết, sưng thủy thũng, mọng nước
Trang 16* Chẩn đoán bệnh:
Hiên nay có nhiều phương pháp để chẩn đoán bệnh như: chẩn đoán vi khuẩn học, chẩn đoán huyết thanh học Trong đó, phương pháp chẩn đoán lâm sàng được sử dụng phổ biến nhất, căn cứ vào các biểu hiện điển hình của bệnh như: ho vào buổi sáng sớm và chiều tối, khi thời tiết lạnh, sau khi vận động Bệnh tích điển hình là viêm phổi kính, có vùng gan hóa, nhục hóa, đỏ thẫm, vàng nhạt ở thùy đỉnh, thùy tim
* Về mặt dịch tễ:
- Cách lây lan: bệnh lây chủ yếu qua đường hô hấp Lợn khỏe mắc bệnh
khi nhốt chung với lợn ốm, hít thở không khí có Mycoplasma
và ở thể cấp tính: tỷ lệ chết cao hơn lợn nội và lợn lai (Phạm Sỹ Lăng và cs 2006) [17]
+ Chuồng trại thông thoáng, sạch sẽ, định kỳ quét vôi diệt khuẩn
+ Nên tự túc về con giống
+ Mua lợn về phải được nhốt riêng để theo dõi ít nhất một tháng, nếu không có triệu chứng ho, khó thở thì mới nhập đàn
Trang 17+ Đối với đực giống cần phải chặt chẽ hơn: kiểm tra lại lai lịch, nguồn gốc, nhốt riêng ít nhất hai tháng, hàng ngày theo dõi triệu chứng hô hấp sao cho đảm bảo mới được đưa vào sử dụng
+ Bên cạnh đó, việc tiêm phòng mang lại hiệu quả rất tốt
Chăm sóc chu đáo và bồi dưỡng thêm cho đàn lợn ốm, cho ăn thức ăn
dễ tiêu, protein, vitamin và muối khoáng, có thể trộn thêm kháng sinh oreomicin, tetramycin vào thức ăn để phòng bệnh
* Điều trị bệnh:
Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại thuốc dùng để điều trị bệnh
Ở đây em đã sử dụng hai loại thuốc kháng sinh là tylosin - 200 và vetrimoxin L.A để điều trị bệnh
- Thuốc tylosin - 200:
Liều dùng: 1ml/10kg thể trọng, dùng 3 - 5 ngày, tiêm bắp Kết hợp sử dụng một số thuốc long đờm, trợ sức, trợ lực làm tăng hiệu quả điều trị của kháng sinh
- Thuốc vetrimoxin L.A:
Liều dùng 1ml/10kg thể trọng, tiêm bắp, tiêm cách ngày, điều trị trong
5 ngày Kết hợp sử dụng một số thuốc long đờm, trợ sức, trợ lực làm tăng hiệu quả điều trị của kháng sinh
2.1.3.2 Bệnh viêm phổi – màng phổi ở lợn
Đây là một bệnh đường hô hấp lây lan mạnh, bệnh thường gây chết lợn, chủ yếu là lợn choai Đặc trưng của bệnh là ho, khó thở, thở thể bụng, tần số
hô hấp tăng cao Lợn chết với bệnh tích phổi bị gan hóa và viêm dính thành ngực
Trang 18* Mầm bệnh:
Do vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae gây ra
* Dịch tễ học:
- Loài mắc bệnh
Actinobacillus pleuropneumoniae gây bệnh cho lợn ở mọi lứa tuổi
nhưng mẫm cảm nhất ở lợn choai (lợn từ 2 – 5 tháng tuổi)
- Thời gian xảy ra bệnh trong năm
Bệnh xảy ra quanh năm nhưng bùng phát vào vụ hè – thu khi nhiệt độ
và độ ẩm tăng cao
* Cơ chế gây bệnh:
Theo Stan Done (2002) [24], vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae
là một tác nhân gây bệnh với nhiều cơ chế tác động đã được biết rõ như: vi khuẩn này có khả năng giải phóng enzym protease có khả năng phân hủy hemoglobin, sắc tố vận chuyển oxy trong máu Các protein có khả năng gắn với sắt có trong vi khuẩn này cho phép chúng lấy đi sắt từ cơ thể vật chủ Chúng còn có khả năng sinh ra ngoại độc tố và nội độc tố Ngoài ra, bản thân
vi khuẩn cũng được bao bọc bởi một lớp giáp mô có tác dụng bảo vệ vi khuẩn bởi các tế bào bảo hộ của vật chủ
* Triệu chứng:
Bệnh ở lợn có 3 thể chủ yếu: thể quá cấp, thể cấp tính và thể mãn tính (Taylor, (2005) [59]
- Thể quá cấp:
Lợn mắc bệnh sốt 41,50C, mệt mỏi, bỏ ăn, có thể nôn mửa và tiêu chảy Thời gian ngắn trước khi chết, thường có những biểu hiện khó thở dữ dội, thở bằng mồm, lợn ở tư thế ngồi thở, nhiệt độ giảm nhanh Ngay trước khi chết, có chảy nhiều dịch bọt lẫn máu ở miệng và mũi, nhịp tim tăng; phần
Trang 19da ở mũi, tai, chân và sau cùng toàn bộ cơ thể trở nên tím tái (Nicolet, 1992) [54], lợn mắc bệnh thường chết sau 24 - 36 giờ
- Thể cấp tính: Ở thể này thường có nhiều lợn cùng mắc bệnh trong một chuồng hoặc ở những chuồng khác nhau Lợn bệnh sốt từ 40,50
C - 410C, da
đỏ, mệt mỏi, nằm không muốn dậy, không muốn uống, bỏ ăn Các dấu hiệu
hô hấp nặng như khó thở, ho và đôi khi thở bằng miệng rất rõ (Fenwick và Henry, 1994) [41] Bệnh diễn biến khác nhau ở từng cá thể, phụ thuộc vào mức độ tổn thương ở phổi và thời điểm bắt đầu điều trị Lợn thường sống sót nếu qua được 4 ngày đầu của bệnh
- Thể bán cấp tính: Thể này xuất hiện sau khi các dấu hiệu cấp tính mất đi; lợn bệnh không sốt hoặc sốt nhẹ, xuất hiện ho tự phát, với các cường độ khác nhau, con vật kém ăn, giảm tăng trọng (Nicolet, 1992) [54]
- Thể mãn tính: Lợn mắc bệnh không có biểu hiện rõ ràng trên lâm sàng Những con vật mắc bệnh thể mãn tính là nhân tố truyền bệnh cho những lợn khác (Kume và cs,1986) [48] Những dấu hiệu viêm phổi sẽ biểu hiện rõ hơn nếu có nhiễm trùng kế phát các vi sinh vật đường hô hấp khác
(Mycoplasma, Pasteurella, PRRS) hay các nhân tố Stress (MacInnes và
Rosendal, 1988) [50]
* Bệnh tích
Lợn bị nhiễm A pleuropneumoniae cho thấy lợn bệnh có những tổn
thương chủ yếu ở đường hô hấp (Nicolet, 1992) [54] Đa số các trường hợp lợn bị viêm hai bên phổi với tổn thương ở các thùy đỉnh, thùy tim và một phần các thùy trên vòm hoành Viêm màng phổi tơ huyết và fibrin thường rất
rõ ở những lợn chết trong giai đoạn cấp tính của bệnh Hầu hết những nghiên
cứu đều kết luận rằng những tổn thương trên là do độc tố của vi khuẩn A
pleuropneumoniae gây ra (Bertram, 1986) [37] Ở các trường hợp tử vong
nhanh chóng như thể cấp tính thấy khí quản và các phế quản bị lấp đầy bởi
Trang 20các chất tiết nhày, bọt nhuốm máu, phổi trở nên sẫm màu, có rất nhiều máu ở lồng ngực và nhiều tơ huyết gắn giữa phổi, thành ngực, cơ hoành và màng ngoài tim (Rogers và cs, 1990) [57]
+ Các biện pháp phòng bệnh
Việc phòng bệnh cần thực hiện theo một số nguyên tắc sau:
Các trại chăn nuôi không có lợn mắc bệnh và nhiễm A
pleuropneumoniae phải duy trì việc cách ly, đi đôi với việc sử dụng tinh dịch
an toàn Khi nhập lợn mới vào đàn, phải đảm bảo lợn có nguồn gốc từ một đàn không bị bệnh, không bị nhiễm khuẩn, nên nuôi cách ly chúng trong một thời gian trước khi cho vào đàn
- Có thể dùng thuốc kháng sinh để phòng bệnh nhưng không được dùng
kéo dài và thường xuyên kiểm tra sự mẫn cảm của vi khuẩn A
pleuropneumoniae với kháng sinh Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh
không loại bỏ được mầm bệnh hoàn toàn và vi khuẩn A pleuropneumoniae
vẫn có thể thải ra môi trường (Fedorka-Cray và cs, 1993) [40]
- Tiêu hủy toàn đàn khi mắc bệnh là phương pháp tối ưu để thanh toán dịch bệnh, sau đó tiêu độc chuồng trại, tạo đàn mới từ những con giống sạch bệnh Trong trường hợp có tỷ lệ lợn trong đàn kiểm tra huyết thanh dương tính cao thì tiêu hủy là phương pháp hiệu quả (Nicolet, 1992) [54] Tuy nhiên, phương pháp tiêu hủy rất tốn kém và có thể dẫn đến mất đi những giống thuần quý (Leman, 1992) [49] Điều này cho thấy trong chăn nuôi lợn việc chẩn đoán sớm những con lợn mang trùng mà chưa có dấu hiệu lâm sàng là rất cần thiết và cấp bách Các biện pháp quản lý không được kết hợp để cải thiện điều kiện chăn nuôi thì nguy cơ dịch viêm phổi vẫn sẽ tồn tại (Fenwick và Henry, 1994) [41]
Hiện đã có nhiều loại vắc xin được sản xuất để phòng cho bệnh này và được chia thành 2 nhóm chính là vắc xin vô hoạt và vắc xin có chứa một số
Trang 21thành phần cấu tạo của vi khuẩn Vắc xin vô hoạt toàn khuẩn đặc hiệu theo chủng huyết thanh, có thể có miễn dịch chéo với các chủng huyết thanh khác
Vắc xin dùng tiêm cho lợn con khi kháng thể thụ động nhận được từ lợn mẹ đã giảm đi giúp đàn lợn giảm tỷ lệ tử vong, giảm thuốc điều trị và chất lượng thịt cũng được nâng cao, lợn ít bị viêm phổi
- Trong chương trình kiểm soát dịch bệnh do A pleuropneumoniae gây ra
ở lợn phải thực hiện triệt để biện pháp tiêu độc khử trùng Vi khuẩn nhạy cảm với nhiều chất sát trùng thông thường như Han - iodine 10%, benkocid,
chloramin B Các đàn lợn đã bị nhiễm vi khuẩn A pleuropneumoniae cần có
biện pháp can thiệp kịp thời để loại trừ mầm bệnh Thiết lập lại đàn lợn có nguồn
gốc từ các đàn chắc chắn không bị nhiễm A pleuropneumoniae là một trong các
biện pháp tối ưu
+ Điều trị bệnh
Vi khuẩn A pleuropneumoniae có MIC cao với streptomycin,
kanamycin, spectinomycin, spiramycin và lincomycin (Nicolet và Schifferli,
1982 [53]; Inoue và cs, 1984 [44]) Prescott và Baggot (1993) [56] đã đánh giá lại khả năng nhạy cảm của vi khuẩn này với một số kháng sinh Sự xuất
hiện tình trạng vi khuẩn A pleuropneumoniae kháng lại ampicilin,
cephalosporin, colistin, tetracyclin, streptromycin, sulfonamide là vấn đề đáng
lo ngại và thường gặp ở các serotype 1; 3; 5 và 7; nhưng hiếm gặp ở các chủng khác, nhất là serotype 2 (Nicolet và Schifferli, 1982 [53]; Inoue và cs,
1984 [44])
Kháng sinh được chọn lựa trong điều trị phải là kháng sinh có nồng độ
ức chế tối thiểu thấp và có khả năng diệt khuẩn tốt nhất Một số kháng sinh mới có gần đây như các dẫn xuất quinolone (enrofloxacin) hoặc cephalosporin bán tổng hợp (ceftiofur sodium) đã được chứng minh trên thử nghiệm rất có kết quả Moore và cs (1996) [51] đã xác định được tilmicosin
Trang 22có hiệu quả cao trong điều trị bệnh do vi khuẩn A pleuropneumoniae gây ra ở
lợn Điều trị bằng kháng sinh chỉ có hiệu quả ở giai đoạn mới phát bệnh, có tác dụng làm giảm tỷ lệ lợn chết Nếu điều trị muộn khi cơ thể đã xuất hiện nhồi máu hoặc tổn thương mãn tính làm cho lợn bị rối loạn hô hấp thì kết quả rất kém Cần làm kháng sinh đồ khi thí nghiệm điều trị bằng kháng sinh Sự thành công của điều trị phụ thuộc chủ yếu vào việc phát hiện sớm các dấu
hiệu lâm sàng và can thiệp điều trị kịp thời
2.1.3.3 Bệnh viêm phổi do Pasteurella multocida gây ra
* Nguyên nhân
Vi khuẩn P multocida được biết đến là nguyên nhân gây bệnh tụ huyết trùng cho các loài gia súc, gia cầm Tuy nhiên P multocida còn được coi là
một trong những nguyên nhân gây lên bệnh viêm phổi lợn
Bệnh viêm phổi lợn do P multocida gây ra là kết quả của sự lây nhiễm
vi khuẩn vào phổi Bệnh thường thấy ở giai đoạn cuối của bệnh viêm phổi cục
bộ hay những bệnh ghép ở đường hô hấp của lợn
* Triệu chứng
Bệnh viêm phổi ở lợn do vi khuẩn P multocida gây ra rất khác nhau
tùy thuộc vào chủng vi khuẩn gây bệnh, thường xuất hiện 3 thể là thể quá cấp, thể cấp tính và thể mãn tính
- Thể quá cấp tính: Lợn bệnh mệt mỏi, kém ăn, hoặc bỏ ăn, nằm một chỗ, không đứng dậy được, sốt cao (41 - 42°C), uống nhiều nước, run rẩy Xuất hiện thuỷ thũng ở cổ, họng, hầu do viêm làm cho hầu sưng, cổ cứng, má phị, mặt mũi sưng húp, có khi phía dưới bụng và giữa hai hàng vú sưng, con vật thở khó, thở khò khè, cổ duỗi thẳng, mũi phồng ra khép lại từng hồi, nhịp tim nhanh Các niêm mạc đỏ sẫm hoặc tím bầm, nốt xuất huyết, vết đỏ hay tím xuất hiện ở tai, cổ, bụng, phía trong đùi
Trang 23- Thể cấp tính: Lợn mắc bệnh bắt đầu ủ rũ, ăn ít hoặc bỏ ăn, sốt đến 41°C hoặc hơn Sau đó, xuất hiện các triệu chứng giống ở thể quá cấp nhưng không trầm trọng bằng Niêm mạc mũi lợn bệnh bị viêm, con vật thở khó, thở nhanh, có tiếng khò khè, ướt trong phế quản, chảy nước mũi đặc, nhờn, đục,
có khi có mủ, máu; ho khan, từng tiếng, ho co rút toàn thân, khi gõ vùng ngực con vật đau, thấy có vùng âm đục; tim đập nhanh; chảy nước mắt; trên da nổi những chấm đỏ hoặc đám tím bầm ở những phần da mềm; chỗ da mỏng ít lông thường viêm xuất huyết
Quan sát thấy lợn bệnh bị phù thũng dưới da vùng hầu và lan rộng xuống cổ Những vùng này có hiện tượng sưng to và bùng nhùng Lợn mắc bệnh lúc đầu táo sau ỉa chảy có khi có máu hoặc cục máu do xuất huyết ruột Bệnh tiến triển từ 3 đến 12 ngày, con vật gầy yếu dần, ăn ít hoặc không ăn rồi chết
- Thể mãn tính: Thể này thường tiếp theo thể cấp tính, con vật khó thở, thở nhanh và thở khò khè, hơi sốt nhẹ, các khớp bị sưng nhất là khớp gối Con vật ho nhiều khi vận động, có đám da tróc bong vẩy, niêm mạc miệng đóng màng giả gây áp xe
* Bệnh tích
Bệnh tích thường xuất hiện ở thùy đỉnh và mặt trong của phổi, trong khí quản có nhiều bọt khí Có sự phân ranh giới rõ ràng giữa vùng tổ chức phổi bị tổn thương sẽ có màu từ đỏ đến xanh xám Trong các trường hợp bệnh nặng có thể xuất hiện viêm phế mạc hoặc apxe ở các mức độ khác nhau Khi
ở mức độ này thấy phế mạc dính chặt vào thành xoang ngực, phế mạc có vùng mờ đục, khô Đây chính là bệnh tích đặc trưng để phân biệt bệnh viêm
phổi do Pasteurella multocida và bệnh viêm phổi do Actinobacillus gây ra
- Biện pháp phòng bệnh tổng hợp: cũng như các bệnh truyền nhiễm khác, biện pháp phòng chống bệnh do vi khuẩn P multocida gây ra ở lợn chủ
Trang 24yếu là tuân thủ nghiêm ngặt các điều kiện cách ly khi bổ sung lợn mới vào đàn Duy trì các biện pháp thú y chặt chẽ, có hệ thống hố sát trùng ở cửa ra vào chuồng trại, có quần áo bảo hộ lao động cho công nhân chăn nuôi, có hệ thống “chuồng nuôi - chuồng nghỉ”, có kế hoạch diệt loài gặm nhấm; khử trùng tiêu độc chuồng trại theo định kỳ bằng vôi bột, dung dịch NaOH 2%, dung dịch foocmol 0.5%, Han- iodine 10% Khi có lợn mắc bệnh cần cách ly triệt để những con ốm và điều trị kịp thời bằng thuốc kháng sinh đặc hiệu nhằm tiêu diệt vi khuẩn, tiêu diệt mầm bệnh ngay trong cơ thể lợn mắc bệnh; chất thải của mắc bệnh phải được tiêu huỷ và tiêu độc, sát trùng chuồng trại Không được bán chạy, vận chuyển lợn đang bị mắc bệnh đi nơi khác Đồng
thời, cần tập trung nghiên cứu về vi khuẩn P multocida gây bệnh ở lợn chọn
ra các chủng mới để chế tạo vắc xin phòng bệnh thật hiệu quả Tùy từng địa phương có thể sử dụng vắc xin chế từ các chủng vi khuẩn khác nhau; thực hiện tiêm phòng vắc xin thường xuyên, định kì, đều đặn, đúng qui trình với tỷ
lệ tiêm phòng đạt cao 90-100% đàn lợn là biện pháp phòng bệnh hữu hiệu nhất (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2006) [17]
* Điều trị bệnh
Do Pasteurella multocida có nhiều biến chủng kháng lại các loại kháng
sinh thông thường, vì vậy muốn điều trị có hiệu quả cao cần phải làm kháng sinh đồ để chọn loại kháng sinh có hiệu quả
Khi gia súc bị bệnh cần phải chẩn đoán đúng, dùng thuốc càng sớm càng tốt khi con vật vẫn đang khỏe mạnh và vi khuẩn chưa gây tác hại nhiều Khi dùng kháng sinh điều trị phải dùng liều cao ngay từ đầu trước khi xuất hiện triệu chứng đặc trưng của bệnh
Một số kháng sinh đã được dùng có hiệu quả cho điều trị bệnh do
Pasteurella multocida là lincomycin - pectinomycin, steptomycin + penicillin,
Trang 25kanamycin, và một số cephalosporrin và quinolone như: enrofloxaxin, danofloxacin… Ngoài ra dùng các thuốc trợ sức trợ lực như cafein, natribenzoat, muntivit - fort, B.complex và một số thuốc khác hoặc chất điện giải
Hiện nay trên thị trường đã có rất nhiều loại kháng sinh đối với bệnh
viêm phổi có nguyên nhân là vi khuẩn Pasteurella multocida thường dùng
các loại kháng sinh như: oxytetracylin 11mg/kg thể trọng/ngày; linco-gen 1ml/10kg thể trọng/ngày; kanamycin 1ml/10kg thể trọng/ngày; supmotic 1ml/5kg thể trọng/ngày và một số loại kháng sinh khác Tuy nhiên, việc điều trị bằng loại kháng sinh ngày càng trở nên khó khăn và tỷ lệ khỏi bệnh ngày
càng thấp Có tình trạng này là do tính kháng thuốc của vi khuẩn Pasteurella
multocida ngày càng mạnh
2.1.3.4 Bệnh viêm phổi do vi rút gây ra
- Corona vi rút (vi rút pneumoniae của lợn) gây bệnh viêm phổi truyền nhiễm của lợn
Bệnh thường phát sinh ở thể mãn tính, với triệu chứng hô hấp như: Khó thở, thở thể bụng (bụng hóp lại và giật), lợn ở các lứa tuổi đều mắc nhưng lợn con 1 – 2 tháng và lợn mới cai sữa dễ mắc và có tỷ lệ chết cao
- Influenza vi rút type A (H 1 N 1 ) gây bệnh cúm lợn
Tác nhân gây bệnh là vi rút nhóm A: H1N1, H1N2, H3N2, Các vi rút trên
thuộc họ Orthomyxoviridae, nhóm A gồm những vi rút gây bệnh cho người,
gia súc, gia cầm và chim hoang dã, trong đó có lợn Vi rút cúm có thể lây truyền từ lợn, gia cầm và người
- Vi rút gây hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (PRRS)
+ Nguyên nhân:
Năm 1990, các nhà khoa học ở Viện Thú y Lelystad (Hà Lan) đã tìm ra
vi rút gây ra hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn Vi rút được phân lập
từ đại thực bào của lợn bị bệnh, sau đó các nhà khoa học Viện Thú y Lelystad
Trang 26nghiên cứu các đặc tính kháng nguyên, đặc tính vi sinh vật học và khả năng vừa gây hội chứng rối loạn sinh sản và gây ra các hội chứng viêm đường hô
hấp Thuật ngữ “Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn – PRRS” được
Liên minh Châu Âu (EU) chính thức đặt tên Ngày nay tên này đã được quốc
tế công nhận và sử dụng rộng rãi Vi rút gây bệnh cũng được đặt tên là vi rút
Lelystad để ghi nhớ công lao của các nhà khoa học Viện Thú y Lelystad đã
tìm ra nó
Dựa theo cấu trúc gen của vi rút, người ta đã xác định được hai nhóm:
Nhóm I gồm các vi rút thuộc chủng Châu Âu (gọi là vi rút Lelystad) và nhóm
II gồm những vi rút dòng Bắc Mỹ mà tiêu biểu cho nhóm này là chủng vi rút VR-2332
Qua nghiên cứu và giải mã gen của vi rút tại Mỹ và Trung Quốc cho thấy các chủng PRRS tại Việt Nam có mức tương đồng về amino acid từ 99 đến 99,7% so với các chủng vi rút gây bệnh thể độc lực cao ở Trung Quốc và đều bị mất 30 acid amin Điều này cho thấy các chủng PRRSV ở nước ta hiện nay thuộc dòng Bắc Mỹ, có độc lực cao giống chủng ở Trung Quốc (Cục thú
y, 2008) [6]
Nhiều nghiên cứu của các tác giả trong nước từ năm 2009 đến nay đã nhận định PRRSV tại Việt Nam hiện nay được xác định thuộc chủng Bắc Mỹ dòng Trung Quốc (Lê Thanh Hòa và cs, 2009 [11]; Nguyễn Văn Cảm và cs
2011 [5]; Cao Văn Thật và cs, 2012 [29]; Lý Thị Liên Khai và cs, 2012 [13])
+ Khả năng gây bệnh của vi rút
Vi rút gây bệnh cho lợn ở tất cả các lứa tuổi, nhưng lợn con và lợn nái mang thai thường mẫn cảm hơn cả Lợn rừng là động vật mang trùng và có thể coi là nguồn dịch thiên nhiên (Tô Long Thành, 2007) [28] Về độc lực, người ta thấy vi rút gây PRRS tồn tại dưới 2 dạng đó là dạng cổ điển và dạng biến thể độc lực cao Dạng cổ điển có độc lực thấp, ở dạng này khi lợn mắc bệnh thì có
Trang 27tỷ lệ chết thấp, chỉ từ 1 - 5% trong tổng đàn Dạng biến thể độc lực cao gây nhiễm bệnh cho lợn lây lan nhanh, trầm trọng và chết nhiều (Kegong, 2007) [47]
+ Cơ chế sinh bệnh và phương thức truyền lây
Vi rút gây PRRS có trong dịch mũi, nước bọt, phân và nước tiểu của lợn ốm hoặc lợn mang trùng và phát tán ra môi trường; tinh dịch của lợn đực giống nhiễm vi rút cũng là nguồn lây lan bệnh Ở lợn nái mang thai, vi rút có thể từ mẹ xâm nhiễm sang bào thai và gây bệnh Lợn mang trùng có thể bài thải vi rút trong vòng 6 tháng
Vi rút gây PRRS có thể xâm nhập vào cơ thể lợn theo đường hô hấp, tiêu hóa và đường âm đạo Sau khi xâm nhập, đích tấn công chủ yếu của vi rút
là các đại thực bào ở phế nang Đây là tế bào duy nhất có receptor phù hợp với cấu trúc hạt của vi rút, vì thế chúng hấp thụ và thực hiện quá trình nhân lên chỉ trong loại tế bào này và phá hủy nó Ở lợn mắc bệnh, một tỷ lệ lớn các
tế bào đại thực bào trong nang phổi bị vi rút xâm nhập rất sớm và phá hủy làm giảm khả năng phòng vệ của phổi Lúc đầu, PRRS có thể kích thích sự tăng sinh của đại thực bào nhưng sau 2-3 ngày, vi rút này sẽ giết chết chúng, các virion được giải phòng ồ ạt xâm nhiễm sang các tế bào khác, tiếp tục quá trình nhân lên và phá hủy đại thực bào Trong cơ thể lợn ốm do mắc PRRS có tới 40% tế bào đại thực bào bị vi rút giết chết (William và cs, 2001) [31] Trong hệ thống miễn dịch của cơ thể, đại thực bào đóng vai trò vô cùng quan trọng; cả trong đáp ứng miễn dịch đặc hiệu và không đặc hiệu, đây là loại tế bào trình diện kháng nguyên thiết yếu Khi đại thực bào bị phá hủy bởi PRRSV mở đầu cho quá trình miễn dịch không xảy ra được, cơ thể lợn rơi vào trạng thái suy giảm miễn dịch và dễ dàng mắc các bệnh nhiễm trùng thứ phát, điều này có thể thấy rõ ở những đàn lợn vỗ béo chuẩn bị giết thịt, khi bị nhiễm PRRSV sẽ có sự tăng đột biến về tỷ lệ viêm phổi kế phát do những vi
khuẩn vốn sẵn có trong đường hô hấp như Mycoplasma hyopneumoniae, P
Trang 28multocida, S suis, A pleuropneumoniae Tiêu Quang An và cs (2011) [1]
khi xác định một số vi khuẩn kế phát gây chết lợn trong vùng dịch PRRS ở huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên năm 2010 đã cho thấy lợn mắc PRRS thường
kế phát bệnh do các nhóm vi khuẩn đường hô hấp và đường ruột như A
pleuropneumoniae, P multocida, S suis, Escherichia coli, Salmonella sp, clostridium perfringens Kết quả phân lập được vi khuẩn A
10% Các tác giả nhận định các nhóm vi khuẩn kế phát trên đã làm cho dịch PRRS trầm trọng và phức tạp hơn
Ở lợn đực giống: Sốt cao, bỏ ăn, đờ đẫn hoặc hôn mê, một số con có hiện tượng tai xanh Đặc biệt xuất hiện hiện tượng viêm dịch hoàn, bìu dái nóng đỏ (chiếm 95%), dịch hoàn sưng đau, lệch vị trí (85%), giảm hưng phấn Lượng tinh
ít, chất lượng kém biểu hiện qua các chỉ số như nồng độ tinh trùng C< 80.106, hoạt lực của tinh trùng A< 0,6, sức kháng của tinh trùng R< 3000, tỷ lệ kỳ hình K
>10%, tỷ lệ sống của tinh trùng < 70%, độ nhiễm khuẩn cao 20.103 Lợn đực
Trang 29giống rất lâu mới hồi phục được khả năng sinh sản của mình (Nguyễn Như Thanh, 2007) [27]
Ở lợn choai, lợn nái ngoại: Lợn mắc bệnh sốt cao 400C đến 420C, bỏ ăn, ủ
rũ, khó thở, ho; những phần da mỏng gần tai, phần da bụng lúc đầu có màu hồng nhạt, dần dần chuyển sang màu hồng thẫm và xanh nhạt Lợn con mới sinh hầu như sẽ chết sau vài giờ; số còn sống sót tiếp tục chết vào tuần thứ nhất Lợn con
có triệu chứng gầy yếu, bỏ bú, da xuất huyết phồng rộp, khó thở và tiêu chảy (Bùi Quang Anh và cs, 2008) [2]
+ Bệnh tích
Lợn mắc PRRS bệnh tích thường thấy như thận xuất huyết lấm tấm như đầu đinh ghim; não xung huyết; hạch hầu, amidan sưng hoặc sung huyết; gan sưng, tụ huyết; lách sưng, nhồi huyết; hạch màng treo ruột xuất huyết; loét van hồi manh tràng; phổi tụ huyết, xuất huyết, cuống phổi chứa đầy dịch nhớt, sầu bọt (Bùi Quang Anh và cs, 2008) [2]
Theo Nguyễn Tiến Dũng (2011) [7], bệnh tích đặc trưng nhất là viêm phổi kẽ và viêm hạch lâm ba ở cả 2 dạng (PRRS dạng cổ điển và PRRS dạng sốt cao) Viêm phổi hoại tử và thâm nhiễm đặc trưng bởi những đám đặc chắc (nhục hóa) trên các thùy phổi Thùy phổi bị viêm có màu đỏ xám, có mủ và đặc chắc Trên mặt cắt ngang của thùy bị viêm lồi ra, khô Nhiều trường hợp lợn mắc bệnh bị viêm phế quản phổi hóa mủ ở mặt dưới thùy đỉnh
+ Phòng bệnh:
Ba biện pháp sau đây đã được áp dụng phòng chống hội chứng rối loạn
hô hấp và sinh sản ở lợn các nước Bắc Mỹ và Châu Âu
Chế tạo vắc xin nhược độc và vắc xin vô hoạt tiêm phòng bệnh cho đàn lợn ở những vùng có lưu hành bệnh theo định kỳ 2 lần/năm Nhưng hiện này chưa có một loại vắc xin nào có hiệu lực phòng bệnh như mong muốn
Trang 30Ứng dụng các phương pháp chẩn đoán miễn dịch sớm để phát hiện lợn
bị bệnh và lợn mang vi rút, xử lý kịp thời bằng cách: hủy bỏ để tránh lây nhiễm bệnh trong đàn lợn Biện pháp này được thực hiện theo định kỳ kết hợp với theo dõi lâm sàng, dịch tễ trong đàn lợn cho phép phát hiện sớm lợn bệnh
Ở những cơ sở chăn nuôi mà bệnh tồn tại lâu dài, gây nhiều thiệt hại cho đàn lợn, người ta phải thảy cả đàn lợn giống và để trống chuồng lợn trong một thời gian
Kiểm dịch nghiêm ngặt khi xuất nhập lợn, đặc biệt là khi nhập lợn vào
cơ sở chăn nuôi Người ta không nhập ở các cơ sở chăn nuôi có lưu hành bệnh
và các vùng dịch tễ
+ Phòng bệnh bằng vắc xin
Hiện tại vắc xin phòng PRRS đã được Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cho phép nhập vào Việt Nam để phòng bệnh cho lợn Có 2 loại vắc xin đã được sử dụng ở địa phương:
(1) Vắc xin phòng PRRS BSL – PS 100: Là loại vắc xin sống nhược độc dạng đông khô có nguồn gốc từ chủng JKL – 100 thuộc dòng vi rút gây PRRS Bắc Mỹ Một liều vắc xin chứa ít nhất 105 TCID50 Vắc xin chỉ được pha với dung dịch pha chuyên biệt, sử dụng tiêm bắp với liều 20ml/con Miễn dịch chắc chắn sau tiêm 1 lần kéo dài 4 tháng
- Lợn con tiêm lần đầu vào lúc 3 tuần tuổi
- Lợn đực giống tiêm lúc 18 tuần tuổi và tái chủng hàng năm
- Nái hậu bị và nái sinh sản tiêm phòng trước khi cai sữa cho lợn con hoặc trước khi phối giống
(2) Vắc xin phòng PRRS BSK – PS 100: là loại vắc xin vô hoạt chứa chủng vi rút PRRS dòng gây bệnh Châu Âu Một liều vắc xin chứa ít nhất
107,5 TCID50 Vắc xin an toàn và gây miễm dịch tốt
Liều dùng 2ml/con, tiêm bắp
- Lợn con: Sử dụng lần đầu vào lúc 3 – 6 tuần tuổi
Trang 31- Nái hậu bị: Tiêm lúc 18 tuần tuổi, tiêm nhắc lại 3 – 4 tuần
- Nái sinh sản: Tiêm 3 – 4 tuần trước khi phối giống
- Lợn đực giống: Tiêm lúc 18 tuần tuổi, tái chủng sau mỗi 6 tháng Bảo quản vắc xin ở 2 – 60C (Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ, 2007) [9] + Điều trị:
Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu
Ở các nước nuôi lợn công nghiệp với quy mô lớn thuộc Bắc Mỹ, châu
Âu, châu Á và châu Phi, khi phát hiện trong đàn có bệnh rối loạn hô hấp và sinh sản thì người ta thường diệt số lợn bị bệnh này và thay thế cả đàn lợn ở
cơ sở chăn nuôi, bởi lẽ bệnh tồn tại lâu dài trong đàn lợn rất khó thanh toán
2.1.3.5 Bệnh viêm phổi do ký sinh trùng gây ra
+ Do giun phổi lợn Metastronggylus ký sinh ở khí quản và nhánh khí
quản của lợn
Triệu chứng của bệnh: Con vật gầy còm suy dinh dưỡng, hiện tượng ho
rõ nhất vào buổi sáng sớm và buổi tối, giai đoạn đầu con vật ăn uống bình thường nhưng gầy dần, giai đoạn sau ăn uống ít, khó thở và chết
+ Do ấu trùng giun đũa lợn Ascaris suum trong giai đoạn di hành qua phổi
Triệu chứng của bệnh: con vật ho, gầy còm, lông xù, chậm lớn
2.1.3.6 Nguyên tắc, phương pháp phòng và điều trị bệnh đường hô hấp ở lợn
Bệnh đường hô hấp ở lợn do rất nhiều nguyên nhân gây nên, từ đó cũng
có nhiều phương pháp phòng cũng như điều trị
* Nguyên tắc phòng bệnh
Để công tác phòng bệnh đạt hiệu quả cao cần thực hiện các biện pháp sau:
- Phòng bệnh khi chưa có dịch
+ Phòng bệnh bằng chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý
Nuôi dưỡng, chăm sóc tốt cho đàn lợn đảm bảo khẩu phần ăn đầy đủ dinh dưỡng, nhằm nâng cao sức đề kháng của chúng với bệnh dịch
Trang 32Thường xuyên theo dõi đàn lợn, phát hiện sớm lợn có biểu hiện lâm sàng, cách ly điều trị kịp thời hoặc xử lý để tránh lây nhiễm bệnh trong đàn
+ Phòng bệnh bằng vệ sinh thú y
Thực hiện vệ sinh chuồng trại và môi trường chăn nuôi lợn Đảm bảo chuồng trại kín, ấm vào mùa đông và thoáng mát, khô sạch vào mùa hè, mật
độ nuôi nhốt vừa phải
Phòng trừ tổng hợp là biện pháp quan trọng nhất gồm: vệ sinh, tiêu độc chuồng trại thường xuyên, định kỳ phun thuốc sát trùng, kiểm soát nồng độ
NH3, CO2 trong chuồng nuôi
Nên tự túc về con giống, nếu nhập con giống từ bên ngoài thì nên mua giống từ những vùng an toàn dịch Lợn mua về phải nhốt riêng để theo dõi ít nhất một tháng, nếu không có triệu chứng ho, khó thở thì mới nhập đàn Đối với đực giống, cần phải chặt chẽ hơn: kiểm tra lại lai lịch, nguồn gốc, nhốt riêng ít nhất 2 tháng, hàng ngày theo dõi triệu chứng hô hấp sao cho đảm bảo mới đưa vào sử dụng
+ Phòng bệnh bằng vắc xin:
Hiện nay đã có các loại vắc xin phòng bệnh đường hô hấp như: vắc xin phòng bệnh suyễn, vắc xin phòng bệnh viêm phổi – màng phổi góp phần tích cực trong công tác phòng bệnh
- Phòng khi có dịch
Bệnh này phải sử dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp mới đạt hiệu quả cao trong việc phòng trừ dịch bệnh, tạo cho con vật sức đề kháng tốt, sinh trưởng, phát triển nhanh
Phải có chuồng cách ly để nuôi dưỡng những lợn mới nhập hoặc những lợn ốm
Phải định kỳ sát trùng, tiêu độc chuồng trại, phân rác, dụng cụ chăn nuôi bằng nước vôi 20%, NaOH 10%, crizin 5 – 10%, formon 5%, rắc vôi bột, quét vôi tường
Trang 33Bồi dưỡng tốt cho đàn lợn ốm, cho thức ăn dễ tiêu, đủ protein vitamin
và muối khoáng, có thể trộn thêm kháng sinh oreomicin, tetramycin vào thức
ăn để phòng bệnh
* Nguyên tắc điều trị
Về nguyên tắc điều trị triệu chứng hô hấp, các chuyên gia thú y đều nhất trí rằng: Bệnh lý của bệnh đường hô hấp đều gồm hai quá trình là rối loạn đường hô hấp và nhiễm khuẩn đường hô hấp Hậu quả là con vật ho nhiều, khó thở, phổi bị viêm nặng dẫn đến mất chức năng hô hấp và cơ thể bị thiếu O2 trầm trọng, acid lactic sinh ra nhiều nhưng chuyển hóa không kíp nên
cơ thể con vật bị trúng độc toan mà chết Vì vậy, để điều trị bệnh đường hô hấp cần tuân theo các nguyên tắc cụ thể sau:
- Phải phát hiện bệnh sớm và kịp thời điều trị, cần tiến hành cách ly lợn bệnh và theo dõi chặt chẽ hiện tượng ho, khó thở của con vật bị bệnh, xác định bệnh và đưa ra phương pháp điều trị kịp thời không để con vật bị nhiễm khuẩn và viêm phổi quá nặng gây khó khăn cho việc điều trị
- Điều trị căn nguyên phải kết hợp với điều trị triệu chứng: việc điều trị
có thể dùng nhiều liệu pháp khác nhau để đạt được mục đích, loại trừ căn nguyên gây bệnh Việc dùng kháng sinh không thể tránh khỏi, tuy nhiên khi dùng phải cân nhắc kỹ bởi có rất nhiều loại kháng sinh trên lý thuyết có tác dụng rất tốt với mầm bệnh đường hô hấp nhưng khi thử kháng sinh đồ và trên thực tế điều trị hiện nay các loại kháng sinh này đã bị một số vi khuẩn đường
hô hấp kháng lại, cho nên việc lựa chọn kháng sinh điều trị cần phải kiểm tra qua thử kháng sinh đồ và kiểm nghiệm qua thực tế điều trị để đạt được hiệu quả điều trị cao Ngoài ra, phải tuân thủ theo đúng nguyên tắc sử dụng kháng sinh Vấn đề điều trị triệu chứng phải tiến hành đồng thời và thường xuyên cho đến khi con vật khỏi bệnh, dùng thuốc có tác dụng long đờm, giãn phế quản, cắt cơn ho giúp cho quá trình lưu thông khí được tốt, mặt khác dùng thuốc có tác dụng kháng viêm, giảm đau hạ sốt tránh quá trinh viêm lan rộng
Trang 34để bệnh bớt trầm trọng Ngoài ra cần bổ sung thêm vitamin trong quá trình điều trị để tăng cường sức đề kháng của cơ thể giúp nhanh chóng phục hồi đường hô hấp tổn thương
- Điều trị bệnh phải kết hợp với chăm sóc, nuôi dưỡng tốt để hạn chế mức thấp nhất tác động của bệnh nguyên, giúp cho lợn nâng cao sức đề kháng, chống lại các yếu tố bất lợi
+ Phương pháp điều trị
Điều trị bằng kháng sinh: phương pháp này được áp dụng rất phổ biến trong các trại chăn nuôi lợn Thực tế có rất nhiều kháng sinh được sử dụng để điều trị bệnh đường hô hấp cụ thể như sau:
Kanamycin, tiêm bắp, liều lượng 1ml/10kgTT/ngày, dùng liên tục 3 – 5 ngày Tiamulin, tiêm bắp hoặc dưới da, liều lượng 1 – 1,5ml/10kgTT/ngày, dùng liên tục 3 – 5 ngày
Oxytetracylin, tiêm bắp, liều lượng 1ml/10kgTT/ngày, dùng liên tục 3 – 5 ngày Bio genta – tylosin, tiêm bắp, liều lượng 1ml/20kgTT/ngày, dùng liên tục 3 – 5 ngày
Dùng kháng sinh kết hợp với các thuốc trợ sức, trợ lực như: B.complex, vitamin C và thuốc điều trị triệu chứng như bromhexin
Theo Trương Lăng và cs (2006) [16] có thể sử dụng một số các kháng sinh sau để điều trị lợn mắc bệnh đường hô hấp gồm: rifampicin, ceftazidin và ciprofloxacin
Nếu lợn ho do giun phổi hoặc ấu trùng giun tròn thì có thể dùng một trong các loại thuốc sau: hanmectin 25% hoặc levamisol 7,5% tiêm dưới da hoặc menbendazol cho uống
* Những hiểu biết về thuốc sử dụng trong đề tài
Trong đề tài, em sử dụng hai loại thuốc để điều trị bệnh đường hô hấp là:
+ Thuốc Vetrimoxin L.A
Trang 35- Thành phần: trong 100ml vetrimoxin L.A có 15gam amoxycillin
- Cơ chế tác dụng: amoxycillin hoạt đông bằng cách ngăn cản sự tổng hợp mucopeptide trên tế bào vi khuẩn
Amoxycillin có hiệu lực diệt khuẩn thay đổi theo thời gian trên các vi
khuẩn Gram (+) như: Staphylococci, Streptococci, Corynebacteria và vi khuẩn Gram (-) như: E.coli, Samonella, Pasteurella
Sau đó, amoxycillin xâm nhập nhanh chóng vào các mô cũng như vào
hệ thống mạch máu Trong đó quan trọng nhất là khả năng phân bố khắp phổi
Khả năng chuyển hóa của amoxycillin yếu nên phần lớn bị thận thải trừ qua
đường tiểu dưới dạng còn hoạt tính
Hiệu lực của thuốc kéo dài 48 giờ
- Liều dùng 1ml/10kg thể trọng, tiêm bắp, tiêm cách ngày, điều trị trong 5 ngày + Thuốc tylosin – 200
- Liều lượng và cách dùng: tiêm bắp thịt 1ml/20kg TT, dùng trong 3 – 5 ngày
+ Thuốc Analgin C
- Thành phần hóa học: Analgin (methamizole sodium), Vitamin C
- Công dụng: Giảm đau, hạ sốt
Trang 36Điều trị các triệu chứng sốt, đau do nhiều nguyên nhân (cảm cúm, viêm nhiễm do vi rút hoặc vi khuẩn)
Phối hợp với kháng sinh sẽ tăng hiệu quả điều trị
- Liều lượng và cách dùng: Tiêm bắp thịt, liều 1ml/10 – 15kgTT Ngày
- Công dụng: Tác dụng long đờm, giãn phế quản, cắt cơn ho
- Liều lượng và cách dùng: tiêm bắp, liều lượng 1ml/10kg TT/ngày Dùng 5 – 7 ngày liên tục
Dung môi vừa đủ 100 ml
- Công dụng: Cung cấp các vitamin nhóm B cần thiết, nâng cao sức đề kháng, tăng cường khả năng chống chịu bệnh tật, giúp tiêu hóa tốt thức ăn, tăng trọng nhanh, chống strees do ngoại cảnh
- Liều lượng và cách dùng: tiêm bắp, liều 1ml/10kg TT
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Trang 37Trên thế giới bệnh về đường hô hấp đã được các tác giả nghiên cứu, tìm hiểu về nguyên nhân và biện pháp phòng trị
Năm 1987 Trevisan đã đề nghị đặt tên cho vi khuẩn Pasteurella, do
Pasteurella gây bệnh cho nhiều loài gia súc, cho nên tên vi khuẩn theo những
năm trước đây được gắn liền với tên loài vật mà chúng gây bệnh Vi khuẩn
gây bệnh được phân lập từ bò được gọi tên là P boviseptica, từ lợn là P
suiseptica và gọi chung là P multocida Rosembusch và cs (1939) [58] đã đề
nghị đặt tên cho vi khuẩn P multocida và tên này được gọi tới ngày nay
Bệnh do vi khuẩn P multocida gây ra thường ở 2 thể chủ yếu là nhiễm
trùng máu – xuất huyết (Haemorrhagic septicaemia – HS) và viêm phổi Ở lợn bệnh cũng được gọi là nhiễm trùng máu – xuất huyết (Haemorrhagic septicaemia – HS hay Swine plague) (De Alwis, 1992) [38]
Tại Triều Tiên, trong 80 chủng P multocida phân lập từ 450 phổi lợn
bệnh có 96,3% thuộc type A; 3,9% thuộc type D (Ahn và Kim, 1994) [33]
Theo Katri Levolen (2000) [46], việc chẩn đoán M hyopneumoniae có
thể dựa trên phương pháp chẩn đoán truyền thống là: phát hiện những biểu hiện lâm sàng của bệnh viêm phổi và việc kiểm tra những tổn thương sau khi
giết mổ
Jens và cs (2015) [45] cho biết, có thể phát hiện M hyopneumoniae
trong bệnh phẩm mũi từ lợn nhiễm bệnh tự nhiên Tuy nhiên, kết quả nghiên
cứu cũng cho thấy M hyopneumoniae có thể được phát hiện trong khoang
mũi chỉ trong một khoảng thời gian giới hạn
Amy Galliher - Beckley và cs (2015) [34], đã tìm ra một chất bổ trợ dầu mới có tên là OW-14 chứa chất nhũ hóa thực vật và dùng chất này để phát triển một loại nhũ tương dễ sử dụng và chi phí thấp, có thể hoạt động như một chất bổ trợ mạnh mẽ trong hai loại vắc xin phòng bệnh cúm lợn
H1N1 và Mycoplasma hyopneumoniae
Trang 38Hua L.Z., và cs (2014) [43] nghiên cứu khảo sát mức độ đề kháng
với M hyopneumoniae của chủng lợn nạc Jiangquhai (JQHPL) và lợn
Duroc x Landrace x Yorkshire (dly) cho thấy, lợn JQHPL thể hiện sức đề
kháng cao hơn để M hyopneumoniae so với dly Có thể là đặc tính này
được gây ra bởi sự nhanh hơn và mạnh hơn ở niêm mạc miễn dịch kiểu hình của chủng JQHPL
Laval (2000) [14], nghiên cứu thấy vi khuẩn có thể từ lợn mẹ truyền cho lợn con qua đường hô hấp và từ lợn con này sẽ truyền cho các lợn con khác nhau khi tách nhập đàn khác nhau khi cai sữa Các tác giả đã nghiên cứu
và xác định vi khuẩn Streptococcus suis luôn có trong hạch Amidan và xoang
mũi của lợn khỏe mạnh mà không có triệu chứng lâm sàng, nhưng chúng là một trong những tác nhân chung gây bệnh ở lợn khi có điều kiện thuận lợi do
Streptococcus suis gây ra có thể phát dịch vào đầu mùa xuân hoặc sau những
thay đổi thời tiết đột ngột, Streptococcus suis là nguyên nhân của những ổ
dịch nhiễm trùng huyết, viêm não, viêm khớp, viêm hạch dưới hàm Bên cạnh
đó Streptococcus suis còn liên quan đến viêm não tủy, viêm phế quản phổi,
viêm màng bao tim, viêm âm đạo
Trịnh Quang Hiệp và cs (2004) [10] kiểm tra khả năng mẫn cảm với
kháng sinh của 29 chủng actinobacillus phân lập từ trại chăn nuôi lợn tập trung
thuộc công ty giống Thái Bình và Hải Phòng đã xác định các loại kháng sinh tác dụng tốt là amikacin (94,95%), amoxicilin (88,89%), rifampicin (83,33%); rồi đến oxacillin và ceftazidine cùng là 77,78% Nghiên cứu sự mẫn cảm với
kháng sinh của A pleuropneumoniae Cù Hữu Phú và cs (2005) [23] cho biết, ít
mẫn cảm nhất là kanamycin (45,45%), neomycin (50%), lincomycin (63,64%) Nguyễn Thị Thu Hằng (2010) [8] khi nghiên cứu khả năng kháng kháng sinh
của các các chủng A pleuropneumoniae phân lập được ở lợn thuộc các tỉnh miền Bắc cho biết các chủng A pleuropneumoniae phân lập được mẫn cảm
Trang 39nhất với kháng sinh ceftriaxone, chiếm tỷ lệ 73,01%; tiếp theo là các kháng sinh ampicillin, amoxicillin, ceftazidine lần lượt là 63,49%; 58,73% và 55,56% Một số kháng sinh đang được sử dụng nhiều có tỷ lệ kháng thuốc khá cao như lincomycin bị kháng tới 93,65%, tiếp đến là erythromycin, neomycin và gentamicin 85,71%, 80,95% và 49,21% Tiêu Quang An và cs (2011) [1] cho
biết, các chủng A pleuropneumoniae phân lập được ở lợn mắc PRRS mẫn cảm
cao với các loại kháng sinh như florfenicol (89,47%), amoxicillin (84,21%), erythromycin (78,95%), và kháng mạnh streptomycin (100%), enrofloxacin (94,74%), colistin (94,74%), gentamicin (89,47%)
Gajda, và cs (2015) [42] khi thử nghiệm kháng sinh tulathromycin với
nhóm lợn bị nhiễm Actinobacillus pleuropneumoniae đã phát hiện ra rằng:
Nồng độ tulathromycin cao nhất trong phổi là 3337 ± 937 ng/g, được xác định vào thời điểm 48 giờ sau khi dùng thuốc trong khi đó nồng độ tulathromycin tối đa trung bình trong phổi của nhóm khỏe mạnh đã được tính toán là 3412 ±
748 ng/g, được phát hiện vào lúc 12 h Nhưng thời gian thải trừ thuốc ở phổi
của lợn nhiễm Actinobacillus pleuropneumoniae lâu hơn là t1/2el = 165 h so
với t1/2el = 126 h ở lợn khỏe mạnh
Để phát hiện sự có mặt của vi rút PRRS người ta có thể sử dụng phương pháp kháng thể huỳnh quang gián tiếp (IFA); phương pháp miễn dịch enzym trên thảm tế bào một lớp và phản ứng trung hòa vi rút trên môi trường
tế bào một lớp (VNT); phương pháp miễn dịch bệnh lý khi sử dụng kháng thể chuẩn để phát hiện vi rút có trong mẫu bệnh phẩm lợn bệnh PRRS (Buwtner