Tuy nhiên, với số lượng các đàn nuôi ngày càng lớn, mật độ lợn trong chuồng nuôi ngày càng đông cộng với ảnh hưởng liên tục của các yếu tố khác như: thời tiết, khí hậu, đất đai, không kh
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Thái Nguyên, 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
THÁI NGUYÊN, 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập, rèn luyện dưới mái trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cũng như thực tập tốt nghiệp, em nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô trong khoa Chăn nuôi Thú y Nhân dịp này em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới: Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn ThS Đặng Thị Mai Lan đã tận tình hướng dẫn để em hoàn thành tốt khóa luận này
Đồng thời, cho em gửi lời cảm ơn tới Công ty CP Bình Minh - xã Phù Lưu Tế - huyện Mỹ Đức - Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập
Để hoàn thành khóa luận đạt kết quả tốt, em luôn nhận được sự động viên, giúp đỡ của gia đình và bạn bè Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành trước mọi sự giúp đỡ đó
Một lần nữa em xin được gửi tới thầy giáo, cô giáo và các bạn bè lời cảm ơn sâu sắc, lời chúc sức khỏe cùng những điều tốt đẹp nhất
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thiên Thạch
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng của quá trình đào tạo tại trường Đây là giai đoạn sinh viên tiếp xúc với thực tiễn, củng cố lại những kiến thức đã học trên giảng đường Bên cạnh đó, giúp sinh viên vận dụng, học hỏi những kinh nghiệm trong sản xuất để nâng cao trình độ cũng như các phương pháp tổ chức và tiến hành nghiên cứu Tạo điều kiện cho bản thân có tác phong làm việc nghiêm túc, đúng đắn, có cơ hội vận dụng sáng tạo vào thực tế sản xuất, góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước, làm cho đất nước ngày càng phát triển
Được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sự đồng ý của cô giáo hướng dẫn và tiếp nhận
của cơ sở, em tiến hành thực hiện đề tài: “Tình hình mắc bệnh viêm đường
hô hấp trên đàn lợn thịt nuôi tại trại Chăn nuôi Công ty CP Bình Minh - huyện Mỹ Đức - Hà Nội”
Do bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, thời gian và năng lực bản thân còn hạn chế nên trong bản khóa luận này không tránh khỏi những sai sót Vì vậy, em mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy giáo,
cô giáo và các bạn bè đồng nghiệp để khóa luận hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.2 Lịch tiêm phòng vaccine cho lợn thịt của trại 43
Bảng 4.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 46
Bảng 4.4 Tỷ lệ lợn mắc bệnh viêm đường hô hấp theo cá thể 46
Bảng 4.5 Tỷ lệ lợn thịt mắc bệnh viêm đường hô hấp theo lứa tuổi 48
Bảng 4.6 Tỷ lệ lợn mắc bệnh viêm đường hô hấp theo tháng theo dõi 49
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của nhiê ̣t đô ̣, đô ̣ ẩm đến tỷ lệ mắc bê ̣nh viêm đường hô hấp 50
Bảng 4.8 Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích của lợn mắc bệnh viêm đường hô hấp 52
Bảng 4.9 Hiê ̣u quả điều trị bệnh viêm đường hô hấp của Tylogenta và Vetrimoxin LA 53
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
CP :Charoen Pokphand ĐVT : Đơn vị tính
Nxb : Nhà xuất bản STT : Số thứ tự
S suis : Streptococcus suis
P multocida : Pasteurella multocida
TT : Thể trọng VTM : Vitamin
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI NÓI ĐẦU ii
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
Phần 1 : MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
Phần 2 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.1.1 Những hiểu biết về hê ̣ hô hấp của lợn 3
2.1.2 Biểu hiện lâm sàng của bệnh viêm đường hô hấp ở lợn 11
2.1.3 Một số bệnh viêm đường hô hấp xảy ra trên lợn 12
2.1.4 Một số loại thuốc sử dụng trong điều trị bệnh viêm đường hô hấp 27
2.2 Nguyên tắc và biện pháp phòng trị bệnh viêm đường hô hấp ở lợn 28
2.2.1 Nguyên tắc phòng bệnh 28
2.2.2 Biện pháp điều trị 29
2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 31
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 31
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 33
Phần 3 : ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35 3.1 Đối tượng nghiên cứu 35
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 35
3.3 Nội dung nghiên cứu 35
3.4 Phương pháp nghiên cứu và chỉ tiêu theo dõi 35
3.4.1 Điều tra gián tiếp 35
Trang 83.4.2 Điều tra trực tiếp 35
3.4.3 Phương pháp chẩn đoán lâm sàng 35
3.4.4 Phương pháp mổ khám và quan sát bệnh tích 36
3.4.5 Các chỉ tiêu theo dõi 36
3.4.6 Phương pháp xác đi ̣nh chỉ tiêu 36
3.4.7 Phương pháp xử lý số liê ̣u 36
Phần 4 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37
4.1 Công tác phục vụ sản xuất 37
4.1.1 Công tác chăn nuôi 37
4.1.2 Công tác thú y 42
4.1.3 Công tác điều trị bệnh 43
4.1.4 Công tác khác 45
4.2 Kết quả nghiên cứu 46
4.2.1 Tình hình mắc bệnh viêm đường hô hấp trên lợn thịt tại trại Chăn nuôi CP Bình Minh - Mỹ Đức - Hà Nội 46
4.2.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ , độ ẩm của chuồng trại đến tỷ lệ mắc bê ̣nh viêm đường hô hấp của lợn 50
4.2.3 Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích của lợn mắc bệnh viêm đường hô hấp 52
4.2.4 Hiệu quả điều trị bệnh viêm đường hô hấp của hai phác đồ 53
Phần 5 : KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 54
5.1 Kết luận 54
5.2 Đề nghị 55 TÀI LIỆU THAM KHẢO
I Tài liệu tiếng Việt
II Tài liệu tiếng Anh
Trang 9Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nhiều ngành kinh tế,
ngành chăn nuôi thú y cũng đã và đang phát triển khá mạnh mẽ đem lại sự thay đổi tích cực cả về số lượng lẫn chất lượng thực phẩm cho nhu cầu trong nước, mà còn góp phần thu ngoại tệ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, đưa nền kinh tế của nước ta ngày càng phát triển
Ngành chăn nuôi thú y nói chung, ngành chăn nuôi lợn nói riêng là một nghề có truyền thống lâu đời và phổ biến của nhân dân ta Tuy nhiên, với số lượng các đàn nuôi ngày càng lớn, mật độ lợn trong chuồng nuôi ngày càng đông cộng với ảnh hưởng liên tục của các yếu tố khác như: thời tiết, khí hậu, đất đai, không khí, nguồn nước,… nên vấn đề dịch bệnh có những biến đổi khó lường đặc biệt là bệnh hô hấp ở lợn sẽ ngày càng tăng lên Biện pháp hiệu quả nhất chính là thực hiện vệ sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng, cùng với việc sử dụng vaccine phòng bệnh và sử dụng các loại kháng sinh để điều trị bệnh một cách kịp thời và hợp lý
Bệnh viêm đường hô hấp là một trong những bệnh có nhiều nguyên
nhân gây ra như: Vi khuẩn, virus, ký sinh trùng, Mycoplasma,… gây ảnh
hưởng đến chức năng hô hấp của lợn Mặc dù, tỷ lệ chết không cao nhưng bệnh làm giảm năng suất chăn nuôi do lợn nhiễm bệnh sinh trưởng chậm, làm tiêu tốn thức ăn
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của sản xuất, tôi tiến hành thực hiện đề
tài: “Tình hình mắc bệnh viêm đường hô hấp trên đàn lợn thịt nuôi tại trại Chăn nuôi CP Bình Minh - Mỹ Đức - Hà Nội”
Trang 101.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học
- Cung cấp thêm tư liệu về tình hình mắc bệnh viêm đường hô hấp tại trại Chăn nuôi CP Bình Minh - Mỹ Đức - Hà Nội
- Đưa ra được các phác đồ điều trị phù hợp với tình hình mắc bệnh của trại
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Đánh giá được hiê ̣u lực của thuốc sử du ̣ng , có thể đưa ra các phác đồ điều tri ̣ hiê ̣u quả bê ̣nh viêm đường hô hấp
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Như ̃ng hiểu biết về hê ̣ hô hấp của lợn
2.1.1.1 Đại cương về hệ hô hấp của lợn
Bộ máy hô hấp là cơ quan chủ yếu của cơ thể làm nhiệm vụ trao đổi khí giữa cơ thể và môi trường bên ngoài Nhờ có sự trao đổi đó mà cơ thể hấp thu được oxy và thải khí cacbonic
Đối với tất cả các loài động vật thì một trong những yếu tố quyết định đến sự sống là có đủ lượng oxy trong mỗi phút, cơ thể động vật có vú cần 6 - 8ml oxy và thải trừ 250ml cacbonic Để có được lượng oxy thiết yếu này và thải được lượng cacbonic ra khỏi cơ thể phải thực hiện động tác hô hấp
Hô hấp của cơ thể lợn chia thành 3 quá trình:
- Hô hấp ngoài: là quá trình trao đổi khí giữa cơ thể và môi trường
được thực hiện ở phổi thông qua các phế nang
- Hô hấp trong: Là quá trình sử dụng oxy của mô bào
Động tác hô hấp được điều khiển bằng cơ chế thần kinh - thể dịch và được thực hiện bởi cơ quan hô hấp Cơ quan hô hấp của lợn gồm đường dẫn khí (mũi, hầu, thanh quản, khí quản, phế quản) và phổi
Dọc đường dẫn khí có hệ thống thần kinh và hệ thống mạch máu phân
bố dày đặc có tác dụng sưởi ấm không khí trước khi vào đến phổi Trên niêm mạc đường hô hấp cũng có lớp lông rung luôn chuyển động hướng ra ngoài
do đó có thể đẩy các dị vật và bụi ra ngoài
Cơ quan cảm thụ trên niêm mạc đường hô hấp rất nhạy cảm với các thành phần lạ có trong không khí Khi có vật lạ, cơ thể có phản xạ ho, hắt hơi nhằm đẩy vật lạ ra ngoài, không cho xâm nhập sâu vào trong đường hô hấp
Trang 12Khí oxy sau khi vào phổi và khí cacbonic thải ra được trao đổi tại phế nang Phổi lợn bao gồm rất nhiều phế nang làm tăng bề mặt trao đổi khí Diện tích phổi đạt 100 - 200 m2
tùy theo lứa tuổi
Nhịp thở trung bình của lợn là 20 - 30 lần/phút Lợn con có nhịp thở nhiều hơn khoảng 50 lần/phút và ở lợn nái nhịp thở ít hơn 13 - 15 lần/phút Trong trường hợp gia súc mắc bệnh hoặc bị tác động mạnh thì tần số hấp có
thể tăng lên hoặc giảm đi
2.1.1.2 Nguyên nhân gây nên bệnh viêm đường hô hấp ở lợn
* Nguyên nhân do vi khuẩn
Có nhiều tác giả khi nghiên cứu về hội chứng hô hấp ở lợn đều đưa ra nhận định: Vi khuẩn là nguyên nhân chủ yếu làm rối loạn hoạt động hô hấp ở lợn “Trong số vi khuẩn gây hội chứng hô hấp ở lợn phải đề cập tới vai trò quan
trọng của các vi khuẩn Pasteurella multocida, Bordetella bronchiseptica,
Haemophilus parasuis, Actinobacillus pleuropneumoniae và Streptococcus spp”
Ngoài ra còn có vi khuẩn Mycoplasma hyopneumoniae gây viêm phổi mãn tính
ở lợn hay còn gọi là bệnh suyễn lợn
+ Vi khuẩn Pasteurella multocida gây bệnh tụ huyết trùng ở lợn, bệnh
có tính chất lây lan mạnh, thường xảy ra khi điều kiện nhiệt độ, độ ẩm cao, thời tiết thay đổi đột ngột Triệu chứng của bệnh chủ yếu là con vật sốt cao, ho, khó thở, bụng hóp lại để thở, tần số hô hấp tăng Giai đoạn sau của bệnh: xuất hiện các nốt xuất huyết, tụ huyết ở tai, bụng, phía trong đùi, có thể bị tiêu chảy
+ Vi khuẩn Bordetella brochiseptica gây bệnh viêm phổi, viêm teo mũi
lợn từ sau cai sữa đến 5 tháng tuổi Triệu chứng của bệnh: Con vật ngứa mũi, hắt hơi, chảy nước mũi Nước mũi lúc đầu lỏng, về sau trở nên đặc, có lẫn máu mủ; xoang mũi, xương của hàm trên bị teo, méo mó, biến dạng, hàm dưới nhô ra, mõm nghiêng về một bên hoặc các vùng bị teo lại một cách đối
Trang 13xứng làm cho da bị nhăn lại, con vật khó lấy thức ăn Bệnh có tỷ lệ chết thấp nhưng kìm hãm sự sinh trưởng và phát triển của lợn (Cù Hữu Phú, 2002) [18]
+ Vi khuẩn Haemophilus parasuis là nguyên nhân gây bệnh thể kín
(Glasser’s) và viêm phổi lợn trong giai đoạn từ sau 2 tuần đến 4 tháng tuổi Triệu chứng chủ yếu của bệnh là con vật bị viêm các khớp như khớp gối và khớp cổ chân, liệt do viêm khớp, khó thở Ngoài ra, ở thể viêm phổi thường
thấy sự có mặt của Haemophilus parasuis trong một số bệnh khác như viêm phổi hóa mủ do vi khuẩn Streptococcus spp, Staphylococcus spp gây ra
+ Vi khuẩn Actinobacilus pleuropneumoniae gây bệnh viêm phổi màng
phổi lợn Cù Hữu Phú và cs, (2004) [19], Đặng Xuân Bình và cs (2007) [3], cho biết bệnh có tính chất lây lan mạnh, thường gây chết lợn choai; lợn trưởng thành cũng mắc bệnh nhưng ở thể nhẹ hơn Bệnh xuất hiện trong đàn không có miễn dịch có thể gây cho 15 - 39% lợn mang triệu chứng lâm sàng như gầy yếu, sốt, kém ăn và khó thở Một số lợn xuất hiện bệnh tích tím tái và một số con thấy bọt lẫn máu ở quanh mõm Giai đoạn đầu chủ yếu là ho khan, sau đó bệnh tiến triển thì chuyển sang thể thở Con vật thở rất khó khăn, thở thể bụng Bệnh không gây chết nhiều nhưng lợn sinh trưởng chậm, tiêu tốn thức ăn cao Chết do mắc bệnh cấp tính thường xảy ra sau 4 - 6 tiếng sau khi
có triệu chứng lâm sàng và trong nhiều trường hợp lợn có thể chết mà không
có dấu hiệu gì Tỷ lệ chết có thể lên đến 30 - 50% lợn bệnh
Vi khuẩn gây bệnh có thể được truyền qua tiếp xúc trực tiếp hoặc qua không khí ở khoảng cách ngắn Mầm bệnh có thể tồn tại qua thời gian dài trong nước lạnh 30 ngày ở 200
C, nhiều giờ trong khí dung, tồn tại 4 ngày ở
mô phổi và chất thải ra ở nhiệt độ phòng Tuy nhiên Actinobacillus
pleuropneumoniae có thể bị diệt nhanh chóng ở điều kiện khô và các hóa chất
sát trùng thông thường
Trang 14Khi mổ khám các ca bệnh cấp tính thấy các vùng tổ chức phổi không đều, thường đỏ thẫm, nhất là ở các thùy đuôi của phổi Hoại tử có thể thấy ở các vùng này trong các ca nặng, bị bệnh lâu Màng phổi viêm dính có fibrin bao phủ trên
bề mặt phổi, thường viêm dính lồng ngực kèm theo thẩm xuất dịch
+ Vi khuẩn Streptococcus spp gây nhiễm trùng máu cấp tính, viêm
màng não, viêm đa khớp và viêm phổi ở lợn Bệnh thường xảy ra cấp tính, gây chết lợn đột ngột Bệnh có thể lây cho người và một số gia súc khác Thể bệnh viêm não, màng não thường xảy ra ở lợn con từ 1 đến 3 tuần tuổi Thể viêm khớp, viêm phổi thường xảy ra ở lợn con sau cai sữa và lợn con trưởng
thành Ngoài ra, Streptococcus cũng là tác nhân gây bệnh đường sinh dục, sảy
thai ở lợn nái, gây viêm vú
+ Vi khuẩn Mycoplasma hyopneumoniae gây bệnh viêm phổi mãn tính
(còn gọi là bệnh suyễn lợn) giai đoạn từ sau cai sữa đến khi trưởng thành, triệu chứng bệnh chủ yếu là ho dai dẳng, đặc biệt khi gặp thời tiết nóng ẩm, nuôi nhốt chật trội Bệnh xảy ra chủ yếu ở thể mãn tính với triệu chứng ho kéo dài nhiều ngày (có thể hàng tháng, hàng năm ở lợn nái), ho khan, ho chủ yếu vào sáng sớm và về đêm Con vật vẫn ăn uống bình thường nhưng sinh trưởng chậm Bệnh thường thấy dưới dạng mãn tính ở lợn và ít khi thấy ở lợn trước 6 tuần tuổi Bệnh xảy ra nhiều nhất ở đàn lợn giai đoạn đang lớn và giai đoạn trưởng thành
Triệu chứng lâm sàng của viêm phổi do Mycoplasma biểu hiện ho khan
và chậm lớn, không sốt hoặc ít có sự nguy hiểm về chức năng hô hấp nhưng
sẽ trở nên nghiêm trọng khi sức đề kháng giảm sút, xuất hiện các vi khuẩn kế phát gây nên các dấu hiệu nặng hơn của dịch viêm phổi địa phương Lợn biểu hiện sốt, mệt li bì, khó thở, da tím tái và chết
Bệnh thường lây lan do tiếp xúc trực tiếp hoặc giữa các đàn trong cùng khu vực Việc lây truyền từ con này sang con khác có thể hoàn toàn không có
Trang 15hiệu quả và đôi khi có thể không xảy ra giữa các con cùng chuồng Tuy nhiên, sự lây truyền qua không khí hình như được coi là cách nhiễm bệnh của các đàn nuôi kín không có Mycoplasma
* Nguyên nhân do virus
+ Nguyên nhân do virus gây hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp
Stan Done (2002) [21] cho biết: Các virus gây bệnh cho lợn thường
xuyên nhất là virus gây bệnh cúm lợn (Swine Influenza) và virus gây hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (Porcine Reproductive and Respiratory
Syndrome - PRRS) Ngoài ra còn có một loại virus khác nữa là PCV2 (Porcine circo virus type 2)
Kết quả nghiên cứu của Li (2006) [29] cho thấy: virus PRRS có quan
hệ gần gũi về mặt sinh học, cấu trúc và di truyền với virus gây viêm động mạch truyền nhiễm ở ngựa, virus LDV ở chuột và virus SHF ở khỉ Dựa vào
các đặc điểm đó mà người ta đưa 4 virus vào một nhóm mới, các Arteri virus
Triệu chứng lâm sàng của PRRS thay đổi và phụ thuộc vào các chủng virus, trạng thái miễn dịch của cơ thể cũng như điều kiện quản lý chăm sóc Bệnh cảnh lâm sàng xuất hiện ở một số đàn chủ yếu là kết quả của sự nhiễm virus từ cá thể mắc bệnh và việc truyền virus từ nhau thai của con mẹ mắc bệnh sang bào thai thường xảy ra vào kỳ chửa thứ ba Triệu chứng lâm sàng của bệnh trong các nhóm lợn có thể được tóm tắt như sau:
- Thời gian nung bệnh từ 3 - 5 ngày
- Các dấu hiệu đầu tiên là bỏ ăn, sốt và chứng xanh da (Cyanosis) Các
triệu chứng lâm sàng tiếp theo tùy thuộc vào tuổi lợn và giai đoạn mang thai
- Lợn nái giai đoạn cạn sữa: Trong tháng đầu tiên khi bị nhiễm virus lợn biếng ăn từ 7 - 14 ngày, chiếm từ 10 - 15% đàn; sốt 39 - 400C, sảy thai thường vào giai đoạn cuối, chiếm từ 1 - 6%; tai chuyển màu xanh trong thời gian ngắn,
Trang 16chiếm 2%; đẻ non chiếm 10 - 15%; động dục giả 3 - 5 tuần sau thụ tinh; đình dục hoặc chậm động dục trở lại sau khi đẻ; ho và có dấu hiệu viêm phổi
- Lợn nái giai đoạn đẻ và nuôi con: Biếng ăn, lười uống nước, mất sữa và viêm vú (triệu chứng điển hình), đẻ sớm khoảng 2 - 3 ngày, lợn sơ sinh da biến màu, lờ đờ hoặc hôn mê; đẻ ra thai gỗ chiếm 10 - 15% (thai chết trong 3 - 4 tuần cuối của thai kỳ); lợn con chết ngay sau khi sinh chiếm 30%; lợn con sinh
ra yếu, tai chuyển màu xanh, khoảng dưới 5% và duy trì trong vài giờ Pha cấp tính kéo dài trong đàn tới 6 tuần, điển hình là đẻ non, tăng tỷ lệ thai chết hoặc yếu, tăng số thai gỗ, chết lưu trong giai đoạn 3 tuần cuối trước khi sinh, ở một vài đàn có thể tới 30% số lợn con được sinh ra Tỷ lệ chết ở đàn con có thể tới 70% ở tuần thứ 3 - 4 sau khi xuất hiện triệu chứng Rối loạn sinh sản có thể kéo dài 4 - 8 tháng trước khi trở lại bình thường
- Lợn đực: Sốt trong thời gian ngắn, kém ăn, hôn mê và có triệu chứng lâm sàng ở đường hô hấp Lợn đực giống mắc PRRS sẽ không còn sinh lực và tinh trùng kém chất lượng
- Lợn con theo mẹ: Hầu như lợn con sinh ra chết sau vài giờ Nếu sống sót
sẽ tiếp tục chết vào tuần thứ nhất sau khi sinh, một số tiếp tục sống đến lúc cai sữa nhưng có thể có triệu chứng khó thở và tiêu chảy Tỷ lệ chết trước khi cai sữa từ 10 - 40% Triệu chứng chủ yếu: lợn ủ rũ, gầy còm do bị đói, chân cong, thở nhanh; sưng mí mắt và kết mạc, đôi khi người ta cho đây là triệu chứng mang tính chẩn đoán đối với lợn con dưới 3 tuần tuổi mắc hội chứng PRRS; lợn con đôi khi ỉa chảy, khi được điều trị bằng kháng sinh không cho thấy hiệu quả
- Lợn cai sữa và lợn choai: Biểu hiện ủ rũ, viêm phổi, thở nhanh và khó thở; xuất huyết dưới da, tai thường tím xanh, lông cứng và giảm tăng trọng Tỷ lệ chết đôi khi lên tới 12 - 20% do viêm phổi, lợn bệnh chết thường do bội nhiễm với vi khuẩn kế phát
Trang 17- Lợn vỗ béo và lợn sắp xuất chuồng: Lợn ốm với triệu chứng giống
như cúm Biểu hiện viêm phổi, thường kế phát do Pasteurella multocida hoặc
Mycoplasma hyopneumoniae Thời gian ốm có thể kéo dài đến 3 tuần, tỷ lệ
Dạng cổ điển của bệnh gây nên ổ dịch cấp tính, với biểu hiện mệt mỏi, chán ăn, phổ biến là ho, chảy nước mũi và viêm kết mạc Ổ dịch xảy ra nhanh
và khỏi bệnh cũng nhanh sau 5 - 7 ngày, tỷ lệ chết thấp nếu không xảy ra nhiễm trùng kế phát Thời gian ủ bệnh chỉ 1 - 2 ngày, tỷ lệ mắc bệnh cao (100%) tỷ lệ chết thấp (1%) Sảy thai có thể xảy ra trong đàn lợn nái sinh sản
ở nửa sau thời kỳ mang thai
Trong các đàn mắc bệnh mãn tính triệu chứng có thể nhẹ hơn, cũng không phải mọi triệu chứng đều được biểu hiện Virus đôi khi phân lập được
từ những lợn không có triệu chứng bệnh hô hấp Kháng thể thụ động từ mẹ có thể bảo hộ lợn con tới 12 tuần tuổi, dẫn đến hiện tượng lợn mắc bệnh nhưng không biểu hiện lâm sàng này, các triệu chứng lâm sàng đôi khi biểu hiện khi lợn đã được 12 - 24 tháng tuổi
Virus lây lan qua tiếp xúc trực tiếp, qua bụi khí hoặc những hạt nước nhỏ Nó không tồn tại lâu trong môi trường Virus dễ bị vô hoạt nhưng tồn tại lâu trong điều kiện lạnh Chim có thể mang trùng
Trang 18Qua mổ khám thấy những vùng tụ huyết có ranh giới ở thùy đỉnh, thùy tim và có thể ở các thùy khác của phổi Chất nhầy và dịch rỉ viêm thấy ở phế quản Chẩn đoán lâm sàng các ổ dịch cổ điển được đơn giản hóa nhờ đặc tính lây lan nhanh của bệnh đường hô hấp Bệnh mãn tính khó xác định hơn Hiệu giá kháng thể tăng lên trong các mẫu huyết thanh cần được xem là nghi ngờ Phản ứng HI thường được sử dụng, nhưng các phản ứng ELISA có vai trò quan trọng để xác định bệnh
+ Virus Corona (Porcine Respiratory Corona virus): được xác định
bằng một số phản ứng huyết thanh học từ các trường hợp nghi ngờ Virus có
thể gây viêm phổi biểu hiện: sốt, ho, mệt mỏi và chết Tuy nhiên, bệnh cũng
có thể xuất hiện ở dạng cận lâm sàng
* Nguyên nhân do ký sinh trùng
Một trong những nguyên nhân gây bệnh ở đường hô hấp là do giun
phổi lợn Metastrongylus gây bệnh khi ký sinh ở khí quản và nhánh phế quản
của lợn Lợn bệnh thường gầy còm, suy dinh dưỡng, hiện tượng ho rõ nhất vào sáng sớm và buổi tối Giai đoạn đầu con vật vẫn ăn uống bình thường nhưng gầy dần, giai đoạn sau ăn ít, khó thở và chết
Ấu trùng giun đũa lợn Ascaris suum gây ra trong giai đoạn di hành qua
phổi Thỉnh thoảng thấy lợn ho, lợn thường gầy còm, lông xơ cứng và chậm lớn
* Nguyên nhân do điều kiện ngoại cảnh
Nhiệt độ, độ ẩm cao, nồng độ khí độc trong chuồng nuôi (H2S, NH3,
CO2 ) tăng cao, thức ăn khô ở dạng bột Các yếu tố này sẽ tác động trực tiếp lên niêm mạc đường hô hấp gây phản ứng tiết dịch Dịch tiết ra nhiều là môi trường thuận lợi cho các vi khuẩn sẵn có trong đường hô hấp trên sinh trưởng, phát triển Khi sức đề kháng của con vật giảm sút, các vi khuẩn này sẽ nhân lên nhanh chóng, tăng lên cả về số lượng và độc lực để gây bệnh
Trang 19Ngoài ra, mật độ nuôi đông, nền chuồng gồ ghề, tình trạng stress, yếu
tố vệ sinh không đảm bảo, lợn con sau cai sữa hoặc chuyển đàn nhưng điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng kém đều dẫn tới làm tăng tỷ lệ hội chứng rối loạn
hô hấp và viêm phổi ở đàn lợn
Do đó, muốn giảm hội chứng hô hấp, ngoài việc nâng cao sức đề kháng cho lợn, hạn chế sự có mặt của mầm bệnh trong khu vực chuồng nuôi, cần phải đồng thời hạn chế tối đa các tác động xấu do điều kiện ngoại cảnh gây nên
2.1.2 Biểu hiện lâm sàng của bệnh viêm đường hô hấp ở lợn
Lợn thường bỏ ăn tách đàn nằm ở góc chuồng, chậm lớn, da nhợt nhạt, thân nhiệt bình thường hoặc sốt nhẹ từ 39 - 40,50C Lợn bệnh hắt hơi từng hồi, chảy nước mũi, thở khó, thở nhanh, thở nhiều, thở khò khè về đêm Lợn thường ho từng tiếng hay từng chuỗi dài đặc biệt là lúc sáng sớm hoặc buổi
tối, sau khi ăn
Ho, khó thở là triệu chứng bệnh lý đặc thù của đường hô hấp Triệu chứng này có ở mọi lứa tuổi, đặc biệt thường gặp ở lợn sau cai sữa và lợn choai
Động tác hít vào và thở ra đều khó khăn, thường do các bệnh như viêm phổi, thủy thũng phổi, xung huyết phổi, tràn dịch phổi, tràn khí màng phổi, u phổi và những bệnh truyền nhiễm cấp tính làm giảm diện tích hô hấp và giảm tính đàn hồi của phổi, (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2003) [11]
Viêm phổi: Bề mặt phổi và lớp màng ngực được lót một lớp màng mỏng gọi là màng phổi Nếu quá trình viêm phổi lan tới màng phổi thì gọi là viêm màng phổi Nếu lan rộng bệnh sẽ nặng, con vật có biểu hiện đau đớn ở vùng ngực
Ngoài ra, tần số hô hấp tăng gia súc thở khó đột ngột, chảy dịch mũi cũng là biểu hiện của các bệnh có liên quan tới phổi hay bệnh đường hô hấp
Trang 20Theo Lê Minh Chí (2004) [6], hội chứng hô hấp không nhất thiết gây ra những triệu chứng lâm sàng nói trên Có khi gia súc bị viêm phổi nhưng ít biểu hiện ra ngoài Đó là, do năng lực của phổi vẫn đáp ứng đủ cho phần lớn chức phận nên quá trình viêm của phổi vẫn tương đối ổn định ở mức độ trung bình nếu con vật không bị stress, hay làm việc quá sức
2.1.3 Một số bê ̣nh viêm đường hô hấp xảy ra trên lợn
2.1.3.1 Bê ̣nh viêm phổi do Streptococcus suis gây ra
* Nguyên nhân: Do vi khuẩn Streptococcus gây ra Khi cơ thể gặp các
yếu tố bất lợi, stress thì Streptococcus trỗi dậy và là nguyên nhân chính hoặc
kết hợp với các loại vi khuẩn khác gây lên một số thể bệnh khá nghiêm trọng như bại huyết, dẫn đến chết hoặc nhiễm trùng tại chỗ như viêm não, viêm khớp, viêm nội tâm mạc ở lợn con từ 7 - 10 ngày tuổi Nhóm vi khuẩn này
gồm Streptococcus suis type 1 và đôi khi kết hợp với Streptococcus suis type
2 lây nhiễm từ lợn mẹ qua đường không khí, qua đường tiêu hoá do tiếp xúc trực tiếp hoặc qua bơm, kim tiêm nhiễm trùng
Bệnh viêm màng não do Streptococcus ở lợn sau cai sữa và lợn vỗ béo
xảy ra sau khi chúng được nuôi nhốt chung với lợn mắc bệnh, có thể gây chết lợn đột ngột, sốt, triệu chứng thần kinh, gây viêm khớp ở lợn con
Đặc biệt khi kiểm tra dịch mũi, dịch khí quản, phế quản, phổi của gia súc, khoẻ cũng như bệnh phẩm là phổi, dịch phổi, dịch ngoáy mũi và hạch phổi của gia súc có bệnh tích của bệnh đường hô hấp thường phân lập được vi
khuẩn Streptococcus suis Khi sức đề kháng của cơ thể sút giảm, nó cùng với
các vi khuẩn khác trỗi dậy và gây nên bệnh viêm phế quản và viêm phổi hoá
mủ ở lợn
* Triệu chứng và bệnh tích: Rất đa dạng, bao gồm như viêm não, nhiễm
trùng máu, viêm khớp, viêm nội tâm mạc, viêm đa thanh mạc, viêm màng
Trang 21bụng, viêm phổi và thường dẫn đến chết đột ngột (Higgins và cs, 2002 [26]; Lun và cs, 2007) [30]
Lê Văn Tạo (2007) [23] cho biết: để gây bệnh, vi khuẩn Streptococcus
suis sau khi vào cơ thể sẽ nhân lên tại hạch hạch nhân rồi vào máu gây nhiễm
trùng huyết, nên triệu chứng đầu tiên là sốt 40,6 - 41,7oC, triệu chứng thần kinh như run rẩy, đứng không vững, liệt, dẫn đến chết Triệu chứng, bệnh tích
và các thể bệnh thường thấy:
- Thể nhiễm trùng huyết: Lợn bệnh sốt rất cao (41 - 42oC), chảy nước mắt, ly bì, nằm bệt, niêm mạc đỏ sẫm, da đỏ tím từng mảng Lợn bệnh chết trong khoảng 1 đến 3 ngày, tỷ lệ chết lên đến 100 % Bệnh tích: da đỏ tím từng mảng, tụ huyết và xuất huyết ở một số phủ tạng (lách, thận, hạch lâm ba)
- Thể viêm não tuỷ: Lợn bệnh sốt cao, bỏ ăn, đi lại siêu vẹo, run rẩy,
co giật, nôn mửa, hôn mê và chết sau 2 - 3 ngày Bệnh thường thấy ở lợn sau cai sữa và lợn từ 2 - 3 tháng tuổi, tỷ lệ chết 100% Bệnh tích: màng não tụ huyết và xuất huyết, dịch não và tủy vẩn đục
- Thể viêm họng, viêm phế quản, viêm phổi: Lợn bệnh sốt cao, chảy nước mắt, dịch mũi, họng sưng, bỏ ăn, thở khó, thở nhanh, da tụ huyết từng mảng Thể này thường gặp ở lợn con và lợn sau cai sữa, tỷ lệ chết 60 - 70% Bệnh tích: hạch amidan sưng, tụ máu, niêm mạc phế quản tụ huyết, niêm mạc mũi có màng giả, tiểu phế quản và phế nang viêm có dịch thẩm xuất, có mủ và bọt khí; hạch phổi sưng, tụ huyết Lợn bị bệnh thể phổi gây ra bệnh tích ở phổi có các mức độ biểu hiện khác nhau từ viêm phổi - màng phổi dạng nhục hoá đến viêm phổi dạng fibrin có mủ
- Thể viêm hạch: Sốt cao, hạch hầu và hạch mang tai sưng thủy thũng, sau thành apxe mủ, lâu thành bã đậu Bệnh thấy ở lợn vỗ béo, diễn biến 5 - 8 ngày, tỷ lệ chết 20 - 30% Bệnh tích: hạch hầu, hạch trước vai, trước đùi sưng
tụ huyết ở giai đoạn đầu, giai đoạn cuối viêm bã đậu
Trang 22* Chẩn đoán: Phương pháp chẩn đoán thường được sử dụng là dựa vào
các triệu chứng lâm sàng, tuổi của động vật và bệnh tích đại thể
Để khẳng định bệnh cần nuôi cấy, phân lập, giám định đặc tính sinh học của mầm bệnh và kiểm tra bệnh tích vi thể Ngoài ra, có thể sử dụng kỹ thuật hóa mô miễn dịch và PCR để chẩn đoán cũng như để xác định serotype
của Streptococcus suis
* Điều trị: Trong thực tế, khi sử dụng kháng sinh có độ mẫn cảm cao
để điều trị cho lợn mắc bệnh do vi khuẩn Streptococcus suis gây ra đã mang
lại hiệu quả Tuy nhiên, sử dụng kháng sinh để điều trị phải dùng sớm và chỉ
có hiệu quả tốt khi con vật chưa có biểu hiện triệu chứng lâm sàng nặng hay chưa có biểu hiện quá ủ rũ, bỏ ăn Điều trị muộn thì hiệu quả sẽ rất kém hoặc không có hiệu quả
Trịnh Phú Ngọc (2002) [17] cho biết: vi khuẩn Streptococcus suis phân
lập được mẫn cảm với penicilin và trong thực tế, khi sử dụng penicilin kết hợp
dexamethasone điều trị bệnh do Streptococcus suis gây ra ở lợn, điều trị từng
cá thể kết hợp với chăm sóc và nuôi dưỡng tốt có thể khỏi bệnh hoàn toàn
Theo Trương Quang Hải và cs (2012) [9], trong 25 chủng vi khuẩn
Streptococcus suis phân lập được ở lợn mắc bệnh viêm phổi mẫn cảm cao với
ceftiofur (92,0%); florfenicol (88,0%); amoxicillin (88,0%) và amikacin (72,00%) nên có thể sử dụng một trong các kháng sinh trên để điều trị cho lợn khi mắc viêm
phổi do vi khuẩn Streptococcus suis gây ra
* Phòng bệnh:
- Phòng bệnh bằng vệ sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý
Trong chăn nuôi lợn việc chia đàn, phân ô chuồng theo từng loại lợn là rất cần thiết Với lợn con sau cai sữa, cần chia thành các ô nhỏ để đạt được tốc
độ tăng trưởng tối đa vì khả năng lây truyền bệnh khi nuôi nhốt với mật độ
Trang 23cao là rất lớn Để chủ động phòng bệnh ở lợn do vi khuẩn Streptococcus suis
gây ra cần:
+ Thường xuyên thực hiện phun thuốc diệt ruồi, muỗi để ngăn chặn nguồn mang mầm bệnh vào chuồng trại Thu gom rác, phân, chất độn chuồng, nước thải; phun thuốc tiêu độc, tẩy uế chuồng trại bằng các loại thuốc sát trùng như: NaOH 2%, Benkocid Han - Iodine 10% theo đúng qui định
+ Chú trọng khâu chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý đàn; hạn chế sự xâm nhiễm và lây lan dịch bệnh nên thực hiện chính sách “Cùng vào cùng ra”
+ Bổ sung kháng sinh vào thức ăn để giảm tỷ lệ lợn khoẻ mang trùng
+ Lợn con sau khi sinh cần được bú đầy đủ sữa đầu của mẹ để có đủ kháng thể bảo vệ chúng trong giai đoạn đầu - là giai đoạn dễ cảm nhiễm với bệnh nhất
+ Loại bỏ những lợn mang trùng và có hướng điều trị kịp thời lợn mắc bệnh
+ Không được vận chuyển lợn từ vùng có dịch sang vùng khác Đối với các vùng chăn nuôi tập trung và các trang trại, biện pháp tốt nhất là tự sản xuất lấy con giống Khi nhập lợn về phải nuôi cách ly tại khu vực nuôi cách ly
ít nhất 15 ngày Sau đó kiểm tra thấy lợn khoẻ mạnh bình thường và không có dấu hiệu gì về bệnh thì mới tiến hành cho nhập đàn
+ Khi có dịch xảy ra, phải cách ly những con bệnh ra khu vực nuôi cách ly để tránh lây lan Theo dõi và điều trị kịp thời những con bị bệnh Với những con không có khả năng chữa khỏi thì tiến hành loại thải Trong quá trình theo dõi, phải cách ly tuyệt đối không được nhập đàn mới vào, thường xuyên phun thuốc tiêu độc, tẩy uế chuồng trại bằng các thuốc sát trùng nhằm nhanh chóng tiêu diệt mầm bệnh (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2012) [15]
Trang 24- Phòng bệnh bằng vaccine
Hiện nay, các loại vaccine được sử dụng để phòng bệnh do Streptococcus
suis gây ra cho lợn chủ yếu là các vaccine chuồng và hiệu quả bảo hộ của các
loại vaccine này cũng chưa được xác định một cách rõ ràng Có thể do một số nguyên nhân của hiện tượng kháng nguyên bị biến tính mất tính đặc hiệu do quá trình xử lý bằng nhiệt hoặc formalin, do sự sản sinh kháng thể đối với các kháng nguyên mà không có liên quan đến độc lực của vi khuẩn và sự thiếu
hụt các chủng Streptococcus suis hay serotype liên quan đến quá trình sinh
bệnh học (Higgins và cs, 2002) [26] Các nhà khoa học cũng đã chế tạo thử nghiệm nhiều loại vaccine khác nhau như vaccine toàn khuẩn, vaccine sống nhược độc, vaccine tiểu phần (chế từ kháng nguyên giáp mô hoặc các protein thành tế bào) Tuy nhiên, miễn dịch bảo hộ ở chuột hoặc lợn thí nghiệm được tiêm các loại vaccine này cũng rất thất thường và không ổn định Trong một
số trường hợp khẩn cấp, việc lựa chọn dùng vaccine vẫn là phương thức tối
ưu nhất để bảo vệ đàn lợn Tại Trung Quốc, năm 1994 đã dùng vaccine đông
khô chế từ chủng nhược độc của vi khuẩn Streptococcus suis chủng
ST.171, tiêm cho lợn từ cai sữa đến trưởng thành và nái có chửa ở thời kỳ đầu Khi sử dụng cho thêm nước muối sinh lý có bổ trợ keo phèn 20% hoà thành huyễn dịch tiêm dưới da hoặc tiêm bắp với liều 1ml/con Sau khi tiêm 7 ngày đã sinh miễn dịch, miễn dịch cao nhất sau 14 ngày và thời gian miễn dịch kéo dài được 6 tháng Sau đó vào năm 2005, tại Trung Quốc cũng đã
kiểm soát được bệnh do Streptococcus suis gây ra ở lợn bằng vaccine vô hoạt chế từ các chủng Streptococcus suis serotype 2 (Lê Văn Tạo, 2005) [22]
2.1.3.2 Bê ̣nh viêm phổi do Pasteurella multocida gây ra
* Nguyên nhân: Vi khuẩn P multocida được biết đến là nguyên
nhân gây ra bệnh tụ huyết trùng cho các loài gia súc, gia cầm Tuy nhiên,
Trang 25P multocida còn được coi là một trong những nguyên nhân gây nên
viêm phổi lợn
Bệnh viêm phổi lợn do P multocida gây ra là kết quả của sự lây nhiễm
vi khuẩn vào phổi Bệnh thường thấy ở giai đoạn cuối của viêm phổi cục bộ hay những bệnh ghép ở đường hô hấp của lợn Vi khuẩn thường cư trú ở
đường hô hấp của lợn, do vậy, thường rất khó bị tiêu diệt Vi khuẩn P
multocida thường kết hợp với các tác nhân khác như vi khuẩn Mycoplasma hyopneumoniae làm cho quá trình viêm phổi càng thêm phức tạp
* Triệu chứng: gây ra rất khác nhau tùy thuộc vào từng chủng vi khuẩn
gây bệnh, thường xuất hiện 3 thể:
- Thể qua ́ cấp tính : Ở thể này hiện tượng ho và thở thể bụng thường
thấy ở những lợn lớn Ho ở những lợn ở lứa tuổi này thường được coi là biểu hiện để xác định mức độ nghiêm trọng của bệnh Triệu chứng lâm sàng của
bệnh ở thể này giống như viêm màng phổi do A pleuropneumoniae gây ra nhưng những đặc điểm phân biệt chính là viêm phổi do P multocida thì hiếm khi gây ra chết đột ngột, hơn nữa lợn mắc viêm phổi do P multocida gây ra
có thể tồn tại một thời gian dài
- Thể cấp tính: Thể này thông thường do hầu hết các chủng Pasteurella multocida thuộc serotype B gây ra Những con vật mắc bệnh thường có biểu
hiện khó thở, hóp bụng vào để thở, gõ vào bụng có âm đục “bịch, bịch”, sốt cao nhiệt độ lên tới 41 - 420C, tỷ lệ chết cao (5 - 40%) Ở những con vật chết và hấp hối có thể thấy những vết đổi màu tím ở vùng bụng có thể là do sốc nội độc tố
- Thể mãn tính: Đây là thể đặc trưng thường thấy của bệnh , bệnh tích chủ yếu ở phổi như : Viêm phổi với các mức đô ̣ khác nhau từ sưng đến thủy thũng, nhục hóa hoặc gan hóa, nếu kế phát các loa ̣i cầu khuẩn có thể ta ̣o thành các ổ viêm có mủ, ổ bã đậu Mức đô ̣ viêm khác nhau có thể tiến triển của từng
Trang 26kỳ từng vùng hoặc ở cả trường phổi Màng phổi, bao tim viêm dính vào lồng ngực (Lê Văn Ta ̣o, 2007) [23]
* Bệnh tích: Pasteurella multocida gây ra bệnh tích chủ yếu ở phần
xoang ngực và thường kèm với bệnh tích của M hyopneumoniae Đặc trưng
của bệnh này xuất hiện ở thùy đỉnh và mặt trong của phổi, cùng với việc có bọt khí trong khí quản Có sự phân ranh giới rõ rệt giữa vùng tổ chức phổi bị tổn thương và vùng tổ chức phổi bình thường Phần bị ảnh hưởng của phổi sẽ có sự
biến đổi màu sắc từ đỏ sang xám xanh phụ thuộc vào giai đoạn của bệnh
Các trường hợp bệnh nghiêm trọng có thể xuất hiện viêm phế mạc và apxe ở các mức độ khác nhau Trong các trường hợp này thường thấy phế mạc dính chặt vào thành xoang ngực và phế mạc có vùng mờ đục, khô Đây là
bệnh tích chủ yếu để phân biệt viêm phổi do Pasteurella với viêm phổi do
Actinobacillus, trong đó thường thấy mủ chảy ra có màu vàng và dính cùng
với rất nhiều sợi fibrin
Theo Trần Văn Bình (2008) [5], lợn mắc bệnh ở thể này có biểu hiện đang bình thường đột nhiên kêu rống lên rồi lăn ra chết, sau khi chết xác lợn tím bầm, sùi bọt mép Trường hợp này xảy ra khi mầm bệnh đã có sẵn ở cơ sở chăn nuôi
* Chẩn đoán: Việc chẩn đoán viêm phổi do Pasteurella multocida gây
ra chủ yếu dựa vào xét nghiệm vi khuẩn học Thường có thể thấy được vi
khuẩn trực tiếp lên đĩa thạch máu
* Điều trị: Theo Phan Thanh Phượng và cs (2006) [20], thì trong thực
tế vi khuẩn P multocida có nhiều biến chủng kháng lại các thuốc kháng sinh
thông thường, nên muốn điều trị có hiệu quả cần phải tiến hành kiểm tra tính mẫn cảm với kháng sinh để chọn loại kháng sinh có hiệu quả
Đỗ Quốc Tuấn (2008) [24] cho biết: các chủng P multocida phân lập
được ở lợn tại một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam mẫn cảm cao với
Trang 27norfloxacin, lincomycin, neomycin và đã chọn hai kháng sinh là lincomycin
và norfloxacin điều trị lợn mắc bệnh do vi khuẩn P multocida gây ra, tỷ lệ lợn khỏi bệnh từ 84,37% đến 91,48%
* Phòng bệnh:
- Cũng như các bệnh truyền nhiễm khác, biện pháp phòng chống bệnh
do vi khuẩn P multocida gây ra ở lợn chủ yếu là tuân thủ nghiêm ngặt các
điều kiện cách ly khi bổ sung lợn mới vào đàn Duy trì các biện pháp thú y chặt chẽ, có hệ thống hố sát trùng ở cửa ra vào chuồng trại, có quần áo bảo hộ lao động cho công nhân chăn nuôi, có hệ thống “chuồng nuôi”
- “Chuồng nghỉ”, có kế hoạch diệt loài gặm nhấm,77 khử trùng tiêu độc chuồng trại theo định kỳ bằng vôi bột, dung dịch NaOH 2%, dung dịch foocmol 0,5%, Han - Iodine 10% Khi có lợn mắc bệnh cần cách ly triệt để những con ốm và điều trị kịp thời bằng thuốc kháng sinh đặc hiệu nhằm tiêu diệt vi khuẩn, tiêu diệt mầm bệnh ngay trong cơ thể lợn mắc bệnh; chất thải của mắc bệnh phải được tiêu huỷ và tiêu độc, sát trùng chuồng trại Không được bán chạy, vận chuyển lợn đang bị mắc bệnh đi nơi khác Đồng thời, cần
tập trung nghiên cứu về vi khuẩn P multocida gây bệnh ở lợn chọn ra các
chủng mới để chế tạo vaccine phòng bệnh thật hiệu quả Tùy từng địa phương có thể sử dụng vaccine chế từ các chủng vi khuẩn khác nhau; thực hiện tiêm phòng vaccine thường xuyên, định kì, đều đặn, đúng qui trình với tỷ lệ tiêm phòng đạt cao 90 - 100% đàn lợn là biện pháp phòng bệnh hữu hiệu nhất (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2006) [13]
2.1.3.3 Bê ̣nh viêm phổi do Mycoplasma gây ra
* Nguyên nhân: Mycoplasma được biết đến với bệnh suyễn lợn hay còn
gọi là hội chứng viêm phổi địa phương của lợn Bệnh gây thiệt hại nhiều về
kinh tế, tăng trọng kém, tiêu tốn thức ăn/kg thể trọng cao
Trang 28Sau khi xâm nhập vào phổi qua đường hô hấp, Mycoplasma tạo trạng
thái cân bằng nếu sức đề kháng của cơ thể tốt Khi sức đề kháng của cơ thể
giảm do chuồng trại không hợp lý, chăm sóc kém… Mycoplasma tác động
gây hội chứng viêm phổi ở thuỳ đỉnh, thuỳ tim, thuỳ hoành cách mô Sự kết
hợp của các vi khuẩn kế phát như Pasteurella multocida, Streptococcus,
Staphylococcus… tác động làm cho bệnh thêm trầm trọng và gây biến chứng
viêm phổi, nung mủ phổi…
* Triệu chứng: Thời kì nung bệnh từ 1 - 3 tuần, trung bình 10 - 16 ngày
trong tự nhiên, 5 - 12 ngày trong phòng thí nghiệm Triệu chứng ho, khó thở xuất hiện sau 25 - 65 ngày Bệnh có thể chia làm 3 thể: cấp tính, á cấp tính và
mãn tính
+ Thể cấp tính: Lúc đầu triệu chứng rất nhẹ, khó phát hiện bệnh, lợn
ốm thường rời đàn, đứng hoặc nằm ở góc chuồng, kém ăn, chậm lớn Thân nhiệt bình thường hoặc hơi cao, sốt nhẹ 39 - 39,50
C; khi có biểu hiện bệnh, con vật hắt hơi từng hồi lâu do có chất dịch bài tiết sâu ở trong đường hô hấp hoặc do viêm phổi có dịch bài xuất ở giai đoạn sau của bệnh Vài ngày sau, con vật ho, ho khi vận động mạnh, thường biểu hiện bệnh lúc sáng sớm và chiều tối Lợn bệnh ho liên tục trong 2 - 3 tuần, có khi kéo dài hơn
+ Thể á cấp tính: Thường gặp ở giống lợn tạp giao, lợn lai, lợn con còn
bú mẹ Bệnh có triệu chứng giống thể cấp tính nhưng không trầm trọng bằng Lợn ốm thường ho, thở nhanh, tần số hô hấp tăng, mồm há ra để thở, thân nhiệt tăng ít Nếu ghép với bệnh tụ huyết trùng thì sốt cao Bệnh có thể kéo dài vài tuần lễ
+ Thể mãn tính: Thể bệnh này thường từ thể cấp tính và thể á cấp tính
chuyển sang Không như trong thể cấp tính, bệnh khó phát hiện do biểu hiện không rõ ràng Con vật ho khan vào buổi sáng sớm, buổi chiều tối sau khi ăn xong Lợn ho từng tiếng một hoặc từng hồi kéo dài, ho một tuần rồi giảm đi
Trang 29hoặc kéo dài liên miên Con vật khó thở, thở nhanh, tần số hô hấp tăng từ 40 -
100 lần/phút Hít vào dài hơn thở ra, thở khò khè vào ban đêm
Con vật đi táo rồi ỉa chảy Thân nhiệt tăng ít, khoảng 39 - 400C, có thể tăng lên đến 400C rồi hạ thấp xuống
Bệnh tiến triển vài tháng có khi đến nửa năm, thỉnh thoảng có con chết Nếu chăm sóc nuôi dưỡng tốt thì đàn lợn có thể phục hồi, tỷ lệ chết không cao, nhưng hầu hết giảm tốc độ sinh trưởng Nếu lợn con mắc bệnh này sẽ gầy còm, lông xù, có thể chết do kiệt sức
Cũng có khi lợn mắc bệnh ở thể ẩn tính Thể này thường thấy ở những lợn đực trưởng thành, lợn nái sinh sản Triệu chứng không rõ, thỉnh thoảng ho nhẹ, khi con vật bị stress do thời tiết thay đổi hoặc thức ăn không đảm bảo thì bệnh mới phát ra Con vật sinh trưởng, phát triển chậm, thời gian nuôi vỗ béo kéo dài
* Bệnh tích: Chủ yếu ở cơ quan hô hấp, đặc biệt là ở phổi, hạch phổi
Bệnh tích viêm phổi bắt đầu từ thuỳ tim lan sang thuỳ đỉnh về phía trước, thường phát triển ở rìa, vùng thấp của phổi Bắt đầu xuất hiện những đốm đỏ hoặc xám bằng hạt đậu xanh to dần rồi tập trung lại thành vùng rộng hơn Theo dõi bằng chụp X - quang ta thấy bệnh tích lan từ trước ra sau theo một quy luật nhất định Hai bên phổi đều có bệnh tích như nhau và có giới hạn rõ
giữa chỗ phổi bị viêm và chỗ phổi bình thường
Chỗ viêm ở phổi cứng dần, màu đỏ thẫm hoặc màu xám nhạt, mặt bóng láng, trong suốt, bên trong có chất keo nên gọi là viêm phổi kính Phổi có bệnh thì dày lên, cứng rắn, bị gan hoá hoặc thịt hoá Cắt phổi ra có nước hơi lỏng màu trắng xám, có bọt, phổi dày và đặc lại, khi dùng tay bóp không xốp như bình thường Sau khi viêm từ 10 - 20 ngày, vùng nhục hoá đục dần, ít trong hơn, màu tro hồng, vàng nhạt hoặc vàng xám, cuối cùng màu đục hẳn, bóp rất cứng, sờ giống như tuỵ tạng hoá Cắt phổi có bệnh thấy nhiều bọt,
Trang 30nhiều vùng hoại tử màu vàng trắng Bệnh tích lan rộng, trên mặt có nhiều sợi
tơ huyết trắng, phổi dính vào lồng ngực khi màng phổi bị viêm nặng
Một bệnh tích đặc trưng nữa là hạch lâm ba phổi sưng rất to, gấp 2 - 5 lần hạch bình thường, chứa nhiều vi khuẩn, nhiều nước màu tro, hơi tụ máu nhưng không xuất huyết, sưng thuỷ thũng, mọng nước
* Chẩn đoán: Hiện nay có nhiều phương pháp để chẩn đoán bệnh như:
chẩn đoán vi khuẩn học, chẩn đoán huyết thanh học… Trong đó, phương pháp chẩn đoán lâm sàng được sử dụng phổ biến nhất, căn cứ vào các biểu hiện điển hình của bệnh như: ho vào buổi sáng sớm và chiều tối, khi thời tiết lạnh, sau khi vận động Bệnh tích điển hình là viêm phổi kính, có vùng gan
hoá, nhục hoá, đỏ thẫm, vàng xám ở thuỳ đỉnh, thuỳ tim
* Điều trị: Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại thuốc kháng sinh
dùng để điều trị bệnh do Mycolasma gây ra như: Tylogenta 1ml/10kg TT/ngày;
Vetrimoxin L.A 1ml/10kg TT/ngày; Daynamutilin 1ml/20kg TT/ngày; Florject 1ml/30kg TT/ngày Kết hợp sử dụng một số thuốc có tác dụng giảm đau hạ sốt,
trợ sức trợ lực… Làm tăng hiệu quả điều trị của thuốc kháng sinh
* Phòng bệnh: Để phòng và chữa bệnh suyễn lợn đạt hiệu quả cao thì
phải thực hiện những nội dung sau:
- Phòng bệnh khi chưa có dịch:
Tăng sức đề kháng cho lợn bằng cách vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng tốt, khẩu phần đủ protein, chất khoáng, vitamin Chuồng trại thông thoáng, sạch sẽ, định kỳ quét vôi diệt khuẩn
Tự túc về con giống, nếu nhập giống từ bên ngoài thì nên mua giống ở những vùng an toàn dịch Lợn mới về phải được nhốt riêng để theo dõi ít nhất một tháng, nếu không có triệu chứng ho, khó thở thì mới nhập đàn Đối với đực giống cần phải chặt chẽ hơn: kiểm tra lại lai lịch, nguồn gốc, nhốt riêng ít
Trang 31nhất hai tháng, hàng ngày theo dõi triệu chứng hô hấp sao cho đảm bảo mới đưa vào sử dụng Bên cạnh đó, việc tiêm phòng mang lại hiệu quả rất tốt
- Phòng bệnh khi có dịch:
Sử dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp mới đạt hiệu quả cao trong việc phòng trừ dịch bệnh, tạo cho con vật có sức đề kháng tốt, sinh trưởng, phát triển nhanh Phải có chuồng cách ly để nuôi dưỡng những lợn mới nhập vào hoặc những lợn ốm
Phải định kỳ sát trùng, tiêu độc chuồng trại, phân rác, dụng cụ chăn nuôi bằng nước vôi 20%, NaOH 10%, Formon 5%, rắc vôi bột, quét vôi tường
Chăm sóc, nuôi dưỡng tốt đàn lợn ốm, cho ăn thức ăn dễ tiêu, protein, vitamin và muối khoáng, có thể trộn thêm kháng sinh Oreomicin, Tetramycin vào thức ăn để phòng bệnh
2.1.3.4 Bê ̣nh viêm phổi do virus gây ra
* Nguyên nhân:
- Coronavirus (Virus pneumoniae của lợn) gây viêm phổi truyền nhiễm
của lợn: Bệnh thường phát sinh ở thể mãn tính, với triệu chứng hô hấp như: khó thở, thở thể bụng (bụng hóp lại và giật), lợn ở các lứa tuổi đều mắc nhưng lợn con 1 - 2 tháng và lợn mới cai sữa dễ mắc và có tỷ lệ chết cao
- Influenzavirus typ A (H 1 N 1 ) gây bệnh cúm lợn: Tác nhân gây bệnh là
virus nhóm A: H1N1, H1N2, H3N2 Các virus trên thuộc họ Orthomyxoviridae, nhóm A gồm những virus gây bệnh cho người, gia súc, gia cầm và chim thú hoang dã, trong đó có lợn Virus cúm có thể lây truyền từ lợn, gia cầm và người
- Virus gây hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (PRRS): Đó là
một loại virus thuộc họ Togaviridae, có ARN đặt tên là Lelystad đã gây ra gây
ra hội chứng rối loạn sinh sản như: sảy thai, chết lưu thai, lợn con chết yểu sau khi sinh và trạng thái viêm phổi ở lợn con và lợn choai
Trang 32* Triệu chứng: Virus xâm nhập và cơ thể lợn qua niêm mạc đường hô
hấp, khi lợn hít thở không khí có mầm bệnh Sau khi xâm nhập vào cơ thể lợn, virus tác động đến cơ quan sinh dục của lợn cái gây ra hiện tượng viêm
tử cung và âm đạo, làm giảm tỷ lệ thụ thai, đặc biệt gây sảy thai ở lợn cái chửa thời kỳ 2, chết lưu thai ở lợn chửa kỳ 3, đẻ non và làm lợn con chết yểu Lợn con theo mẹ và lợn sau cai sữa bị bệnh là do lợn mẹ Những lợn con này thường gầy yếu, thể hiện hội chứng viêm phổi rõ rệt: chảy dịch mũi, thở khó,
ho nhiều vào ban đêm và sáng sớm, nhất là khi thời tiết lạnh
Sau thời gian ủ bệnh khoảng 4 - 7 ngày, lợn con sốt cao 40 - 410
C, kém
ăn, uể oải, sau khi thể hiện các triệu chứng viêm phổi như: thở khó, thở thể bụng ho tăng dần và chảy dịch mũi Đặc biệt, lợn con và lợn choai bị bệnh phần lớn tai bị xanh từng đám như nốt chàm nên còn được gọi là lợn tai xanh
Ở lợn choai, lợn thịt: Lợn mắc bệnh sốt cao 40 - 42oC, bỏ ăn, ủ rũ, khó thở, ho; những phần da mỏng gần tai, phần da bụng lúc đầu có màu hồng nhạt, dần dần chuyển sang màu hồng thẫm và xanh nhạt Lợn con mới sinh hầu như
sẽ chết sau vài giờ; số còn sống sót tiếp tục chết vào tuần thứ nhất Lợn con
có triệu chứng gầy yếu, bỏ bú, da xuất huyết phồng rộp, khó thở và tiêu chảy (Bùi Quang Anh và cs, 2008) [2]
* Bệnh tích: Lợn mắc PRRS bệnh tích thường thấy như thận xuất huyết
lấm tấm như đầu đinh ghim; não xung huyết; hạch hầu, amidan sưng hoặc sung huyết; gan sưng, tụ huyết; lách sưng, nhồi huyết; hạch màng treo ruột xuất huyết; loét van hồi manh tràng; phổi tụ huyết, xuất huyết, cuống phổi chứa đầy dịch nhớt, sầu bọt (Bùi Quang Anh và cs, 2008) [2]
Theo Nguyễn Tiến Dũng (2011) [7], bệnh tích đặc trưng nhất là viêm phổi kẽ và viêm hạch lâm ba ở cả 2 dạng (PRRS dạng cổ điển và PRRS dạng sốt cao) Viêm phổi hoại tử và thâm nhiễm đặc trưng bởi những đám đặc chắc (nhục hóa) trên các thùy phổi Thùy phổi bị viêm có màu đỏ xám, có mủ và
Trang 33đặc chắc Trên mặt cắt ngang của thùy bị viêm lồi ra, khô Nhiều trường hợp lợn mắc bệnh bị viêm phế quản phổi hóa mủ ở mặt dưới thùy đỉnh
* Chẩn đoán:
- Chẩn đoán lâm sàng và dịch tễ: Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, nếu
thấy đàn lợn nái có hiện tượng xảy thai, thai chết lưu và lợn con sơ sinh chết yểu Lợn con theo mẹ, lợn choai có tỷ lệ cao bị viêm đường hô hấp thì phải nghĩ đến hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp do virus Tuy nhiên, lợn nái bị
sảy thai còn do nhiều virus và vi khuẩn khác như virus Parvo, virus Aujeszky, virus dịch tả lợn, vi khuẩn Blucellla abortus và vi khuẩn Leptospira spp Do
vậy, cần tiến hành chẩn đoán vi sinh vật như: nuôi cấy tìm virus trong bệnh phẩm thu thập từ lợn nghi bị bệnh
- Chẩn đoán miễn dịch: Các phương pháp ELISA và miễn dịch huỳnh
quang IFAT đã được áp dụng chẩn đoán cho độ chính xác cao (90 - 95%) và phát hiện được bệnh sau 8 ngày nhiễm virus
* Điều trị: Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu
Ở các nước nuôi lợn công nghiệp với quy mô lớn thuộc Bắc Mỹ Châu
Âu, Châu Á và Châu Phi, khi phát hiện trong đàn có bệnh rối loạn sinh sản hô hấp, thì người ta thường diệt số lợn bị bệnh này và thay thế cả đàn lợn ở cơ sở
chăn nuôi, bởi lẽ bệnh tồn tại lâu dài trong đàn lợn rất khó thanh toán
* Phòng bệnh: Để phòng bệnh đặc hiệu, các nhà khoa học đã tiến
hành sản xuất vaccine PRRS dựa trên việc nghiên cứu công nghệ lựa chọn kháng nguyên MJPRRS Sử dụng vaccine nhược độc và vaccine vô hoạt tiêm phòng bệnh cho đàn lợn ở những vùng có lưu hành bệnh, theo định kỳ
2 lần/năm Nhưng hiện nay chưa có một loại vaccine có hiệu lực phòng bệnh
như mong muốn
Ứng dụng các phương pháp chẩn đoán miễn dịch sớm để phát hiện lợn
bị bệnh và lợn mang virus, xử lý kịp thời bằng cách: huỷ bỏ để tránh lây nhiễm