1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ vấn đề THIẾU VIỆC làm ở HƯNG yên và tác ĐỘNG của nó đến CỦNG cố QUỐC PHÒNG TRÊN địa bàn

78 417 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 560 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thất nghiệp ở thành thị, thiếu việc làm ở nông thôn còn ở mức cao đang là một trong những vấn đề kinh tế xã hội nổi cộm nhất hiện nay. Đại hội lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ: “Lực lượng lao động gia tăng tự nhiên mỗi năm khoảng 1,2 triệu người, trong khi tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị năm 2000 còn ở mức 6,4 % và tỉ lệ thời gian lao động được sử dụng ở nông thôn mới đạt 73,8% so với mục tiêu là 75% đang trở thành vấn đề gay gắt, nổi cộm nhất hiện nay”

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thất nghiệp ở thành thị, thiếu việc làm ở nông thôn còn ở mức cao đang làmột trong những vấn đề kinh tế - xã hội nổi cộm nhất hiện nay Đại hội lần thứ IXcủa Đảng đã chỉ rõ: “Lực lượng lao động gia tăng tự nhiên mỗi năm khoảng 1,2triệu người, trong khi tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị năm 2000 còn ở mức 6,4 % và tỉ

lệ thời gian lao động được sử dụng ở nông thôn mới đạt 73,8% so với mục tiêu là75% đang trở thành vấn đề gay gắt, nổi cộm nhất hiện nay”[4, tr.255]

Hưng Yên là một tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, có vị trí địa lýthuận lợi, là cửa ngõ giao thông thuỷ, bộ phía Đông bắc Thành phố Hà Nội, mộttỉnh giầu tiềm năng về nông nghiệp, dân cư đông đúc, nguồn lực lao động dồi dào,

có truyền thống cần cù, sáng tạo và chí vươn lên làm giầu Song với sự gia tăngdân số khá cao và tốc độ dịch chuyển cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động chậm như hiện nay thì tình trạng lao động thiếu việc làm ở Hưng Yên đang là vấn đề bứcxúc, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng, an ninh trên địabàn tỉnh Để thực hiện mục tiêu: đưa Hưng Yên thoát khỏi tình trạng thuần nôngkém phát triển, đòi hỏi phải giải quyết nhiều vấn đề kinh tế - xã hội, quốc phòng -

an ninh, trong đó khắc phục hiện trạng thiếu việc làm là một nhân tố quan trọng đểphát huy nội lực, vươn lên trở thành một tỉnh mạnh về kinh tế, vững chắc về quốcphòng, an ninh

Từ khi tái lập tỉnh đến nay, mặc dù các cấp chính quyền và nhân dân HưngYên có nhiều cố gắng giải quyết tình trạng thiếu việc làm Song vấn đề này đangcòn rất nan giải, có tác động không nhỏ đến sự phát triển kinh tế và tăng cườngcủng cố quốc phòng trên địa bàn của tỉnh

Chính vì vậy, tác giả chọn: “Vấn đề thiếu việc làm ở Hưng Yên và tác động của nó đến củng cố quốc phòng trên địa bàn” làm đề tài luận văn tốt

nghiệp cao học

2 Tình hình nghiên cứu:

Trang 2

Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới trở lại đây, ở Việt Nam đã có khá nhiềucông trình và các bài viết của nhiều tác giả đề cập đến vấn đề việc làm, thất nghiệp,

thiếu việc làm Tiêu biểu trong đó có một số bài như:"Nghiên cứu chính sách xã hội nông thôn Việt Nam", Nxb Chính trị quốc gia 1996, chủ biên PTS Bùi Ngọc Thanh “Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam”, Nxb Chính trị Quốc gia

1997, chủ biên PTS Nguyễn Hữu Dũng và PTS Trần Hữu Trung; "Thị trường lao động, thực trạng và giải pháp", Nxb Tổng cục Thống kê, Hà Nội 1995, chủ biên PTS Nguyễn Quang Hiển; "Giải quyết việc làm cho người lao động và tác động của nó đến củng cố quốc phòng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang", Luận văn Thạc sĩ

kinh tế của Dương Văn Thi… Ngoài ra đã có một số cuộc hội thảo ở trong nước vàquốc tế bàn về vấn đề việc làm như: Chương trình quốc gia về giải quyết việc làm;

về xoá đói giảm nghèo

Mặc dù vậy, cho tới nay chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề thiếuviệc làm được đặt trong mối quan hệ với củng cố quốc phòng nói chung và trên địabàn của một tỉnh nói riêng

3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng phạm vi nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu:

Làm rõ vấn đề thiếu việc làm và tác động của nó tới củng cố quốc phòng

trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm giải quyếtviệc làm kết hợp với củng cố quốc phòng

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

+ Luận giải vấn đề thiếu việc làm và tác động của nó đến củng cố quốcphòng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên trong điều kiện hiện nay

+ Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm giải quyết việc làm kết hợp vớicủng cố quốc phòng trên địa bàn tỉnh

- Đối tượng phạm vi nghiên cứu:

+ Luận văn tiếp cận vấn đề thiếu việc làm trong sự tác động của nó tới củng

cố quốc phòng làm đối tượng nghiên cứu và trên địa bàn tỉnh Hưng Yên với giớihạn thời gian từ khi tái lập tỉnh (1997) đến nay

Trang 3

4 Cơ sở lý luận, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận:

Luận văn được trình bày dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta, đồng thời tiếp thu có chọn lọc cáccông trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, các báo cáo tổng kết của tỉnh HưngYên

- Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:

Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng,duy vật lịch sử Đồng thời kết hợp vận dụng phương pháp nghiên cứu đặc thù củakhoa học kinh tế chính trị kết hợp với các phương pháp khác như: phân tích, tổnghợp, thống kê, so sánh, điều tra, phỏng vấn

5 Ý nghĩa của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể là gợi ý tốt với lãnh đạo và các cơquan hữu trách của tỉnh Hưng Yên trong việc kết hợp kinh tế với quốc phòng trênđịa bàn tỉnh, đồng thời có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảngdạy và học tập một số nội dung của bộ môn kinh tế chính trị, kinh tế quân sự ở cácHọc viện, nhà trường quân đội

6 Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm phần mở đầu, 2 chương, phần kết luận và danh mục tài liệutham khảo, phụ lục

Trang 4

1.1.1 Một số khái niệm có liên quan đến thiếu việc làm

Để có thể hiểu thấu đáo vấn đề thiếu việc làm và giải quyết tình trạng thiếuviệc làm nói chung, trước hết phải tiếp cận vấn đề này trong mối quan hệ giữa laođộng và việc làm Bởi lao động và việc làm là hai phạm trù luôn gắn liền, khôngthể tách rời

- Sức lao động, là tổng hợp thể lực, trí lực, trình độ kỹ năng, kỹ xảo, kinh

nghiệm thói quen nghề nghiệp tồn tại trong cơ thể của một con người đang sống vàngười đó có thể sử dụng vào quá trình lao động sản xuất

- Lao động là quá trình kết hợp sức lao động với công cụ phương tiện và đối

tượng lao động nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người và xãhội loài người

Như vậy, sức lao động mới là khả năng lao động, còn lao động mới là nguồngốc của mọi của cải Đúng như Ph Ăngghen viết: “Lao động là nguồn gốc của mọicủa cải… lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người vànhư thế đến một mức độ mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: Lao động

đã sáng tạo ra bản thân con người" [1, tr.641] Lao động và sức lao động là haiphạm trù khác nhau Sức lao động tồn tại ở bên trong cơ thể sống, còn lao độngđược biểu hiện ra bên ngoài thông qua việc kết hợp với công cụ lao động

- Việc làm, Theo điều 13 chương II của Bộ Luật lao động nước Cộng hoà

XHCN Việt Nam, khái niệm việc làm được xác định là: Mọi hoạt động lao độngtạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm

Như vậy, việc làm là lao động của con người trong những lĩnh vực ngànhnghề có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, đem lại thu nhập để nuôi sống bản thân

và gia đình, đồng thời góp một phần cho xã hội Việc làm là sự thống nhất giữa sứclao động và lao động với một ngành nghề chuyên môn, nghiệp vụ nhất định, sửdụng công cụ phương tiện nhất định

- Lực lượng lao động Theo quan niệm của tổ chức lao động Quốc tế ILO:

Lực lượng lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, bao gồm nhữngngười có việc làm, đang tìm việc làm và những người thất nghiệp

Trang 5

- Thất nghiệp: Có nhiều quan niệm khác nhau về thất nghiệp Theo quan

niệm của tổ chức lao động Quốc tế ILO: Thất nghiệp là người trong độ tuổi laođộng, có khả năng lao động, hiện chưa có việc làm và đang tích cực tìm việc làm

Theo quan niệm của kinh tế học hiện đại: "Thất nghiệp là người

không có việc làm, bao gồm cả những người đang trong giai đoạn tìm việc làmmới hoặc những người không thể tìm được việc làm với đồng lương thực tế hiệnhành" [24, tr.1053]

Hai khái niệm trên đều phản ánh bản chất của thất nghiệp là ngườikhông có việc làm, đó là sự tách rời giữa sức lao động và lao động, là những người

có khả năng lao động nhưng không lao động Tuy nhiên, khái niệm của tổ chức laođộng quốc tế ILO phản ánh rõ hơn thất nghiệp chỉ được áp dụng đối với nhữngngười trong độ tuổi lao động Khái niệm của kinh tế học hiện đại chỉ nêu bản chấtcủa thất nghiệp, điều đó rất khó phân biệt người trong độ tuổi lao động với ngườingoài độ tuổi lao động, vì thế việc xác định giải pháp khắc phục nó sẽ gặp khókhăn

Như vậy, thất nghiệp được hiểu là người trong độ tuổi lao động, có sức laođộng, chưa có việc làm, đang muốn làm việc nhưng chưa tìm được việc làm Theo

Bộ luật lao động ở nước ta những người từ 15 tuổi đến 60 tuổi đối với nam và từ

15 tuổi đến 55 tuổi đối với nữ đang ở độ tuổi lao động, không tìm được việc làm,đang mong muốn làm việc nhưng không có việc làm là những người thất nghiệp

Tỉ lệ thất nghiệp là tỉ lệ người trong lực lượng lao động không có việc làm

và tích cực tìm kiếm việc làm Tỉ lệ này được tính bằng số người thất nghiệp hoặcbằng số những người đăng ký thất nghiệp hoặc điều tra các hộ gia đình chia cholực lượng lao động

Số người thất nghiệp

Tỉ lệ thất nghiệp = x 100%

Lực lượng lao động

- Thiếu việc làm là trạng thái có việc làm, nhưng ngoài ý muốn của người

lao động, họ làm việc không hết thời gian cần thiết hoặc làm những việc có thunhập thấp, không đủ sống, muốn tìm việc làm bổ sung

Trang 6

Thực chất của thiếu việc làm là tình trạng người lao động có việc làm nhưng không sử dụng hết khả năng sức lao động của mình, làm việc không hết thờigian lao động hoặc những người có thu nhập thấp, mong muốn được làm thêm,hiện trạng này diễn ra phổ biến trong nền kinh tế ở nước ta Từ khái niệm trên đâyphân chia các hình thức thiếu việc làm như sau:

Thiếu việc làm do thời gian lao động rút ngắn (thời gian làm việc trong

ngày, trong tuần hoặc trong năm ngắn hơn theo mức trung bình) Biểu hiện làngười lao động không đủ số giờ làm việc trong ngày, số ngày làm việc trong tuầnhoặc số ngày làm việc trong năm Theo bộ Luật lao động ở nước ta, những ngườilàm việc dưới 40 giờ/ tuần, và dưới 240 ngày/ năm là những người thiếu việc làm

Thiếu việc làm theo mùa vụ thực chất là sự gián đoạn lao động theo chu kỳ

kinh tế, sau mỗi mùa vụ hoặc mỗi kỳ chu chuyển kinh tế người lao động phải nghỉviệc trong một khoảng thời gian nhất định chờ mùa vụ tiếp theo

Thiếu việc làm do không sử dụng hết khả năng sức lao động là tình trạng

người lao động có việc làm nhưng làm việc không đúng chuyên môn ngành nghềđào tạo năng suất lao động thấp, người lao động mong muốn chuyển đổi nghề

Thiếu việc làm vô hình là những người đang làm việc với số giờ gần như

bình thường, nhưng đó chưa phải là một việc làm đích thực cho họ Đa số trongtrường hợp này là những thanh niên trẻ có trình độ học vấn cao

Giữa việc làm, thất nghiệp và thiếu việc làm là các khái niệm không đồngnhất, nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau và có thể chuyển hoá cho nhau, trong đóthiếu việc làm là trạng thái trung gian giữa có việc làm và thất nghiệp Về bản chấtthiếu việc làm và thất nghiệp đều không phát huy và sử dụng hết năng lực laođộng, lãng phí nguồn nhân lực, thậm chí còn cản trở đến sự phát triển kinh tế - xãhội Sự khác nhau cơ bản giữa thất nghiệp và thiếu việc làm ở chỗ, thiếu việc làm

là người lao động có việc làm nhưng làm việc không hết thời gian hoặc không cóđiều kiện để phát huy hết khả năng lao động Thất nghiệp là người có sức lao độngnhưng không có việc làm hoặc không có điều kiện để lao động Phân biệt các kháiniệm việc làm, không có việc làm và thiếu việc làm nhằm mục đích nghiên cứu chỉ

rõ bản chất và hiện tượng của nó Trong thực tế giữa việc làm, thất nghiệp và thiếu

Trang 7

việc làm luôn có tác động đan xen vào nhau Với mỗi đối tượng, ở thời điểm này

có thể không có việc làm, nhưng vào thời điểm khác lại tìm được việc làm, hoặcthiếu việc làm Ngược lại, cũng đối tượng đó, thời điểm này đang có việc làm hoặcthiếu việc làm nhưng ở thời điểm khác lại trở thành không có việc làm (thấtnghiệp) Việc nghiên cứu chỉ rõ các khái niệm trên chỉ tính đến các đối tượng tronglực lượng lao động, nhưng khi đề ra giải pháp phải quan tâm đến cả việc làm, thấtnghiệp, thiếu việc làm và đối tượng ngoài lực lượng lao động nhưng có nhu cầulàm việc để đảm bảo cuộc sống của bản thân, gia đình, đồng thời đóng góp mộtphần cho sự phát triển của xã hội

1.1.2 Thất nghiệp, thiếu việc làm trong lịch sử và quan điểm của Đảng ta

về giải quyết tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Thất nghiệp, thiếu việc làm là một hiện tượng kinh tế - xã hội gắn liền vớinhững điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Trong các chế độ xã hội trước CNTB,thất nghiệp, thiếu việc làm chưa trở thành hiện tượng kinh tế phổ biến đòi hỏi cần

có sự can thiệp của nhà nước Với nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, mà đặc trưngcủa sức sản xuất thời kỳ này chủ yếu dựa vào sức lao động giản đơn của con người

và súc vật Lao động thủ công là phương thức sản xuất chủ yếu, năng suất lao độngthấp, trong khi các nguồn lực tự nhiên của sản xuất như đất đai, tài nguyên còn rấtdồi dào Do đó, lao động của con người là nguồn lực chính và được thu hút hầu hếtvào các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

Mặc dù lực lượng sản xuất đã có sự tiến bộ so với các chế độ trước đó,nhưng phân công lao động trong xã hội Phong kiến chưa phát triển, chủ yếu diễn ra

ở lĩnh vực nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, người lao động vừa là người sởhữu tư liệu sản xuất vừa là người trực tiếp sản xuất Sự tách biệt sức lao động và tưliệu sản xuất chưa trở thành phổ biến, nền kinh tế còn mang nặng tính chất tự cung,

tự cấp khép kín Quan hệ sản xuất phong kiến dựa trên chế độ bóc lột bằng địa tô

và bằng các biện pháp cưỡng bức lao động, đã biến người nông dân thành công cụlao động và được toàn dụng một cách triệt để Ngoài phần nộp tô cho địa chủ, để

có thể sống được người nông dân phải làm việc hết sức mình trên mảnh ruộng thuê

Trang 8

của địa chủ Với điều kiện kinh tế - xã hội như vậy, thất nghiệp, thiếu việc làmchưa thể xuất hiện và chưa trở thành hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến.

Đến thời kỳ TBCN, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất,

mà đặc trưng của nó là chuyển từ lao động thủ công sang lao động bằng máy móc

đã thúc đẩy nhanh chóng quá trình phân công lao động trên phạm vi toàn xã hội

Sự xuất hiện của quan hệ sản xuất TBCN và quá trình tích luỹ tư bản đã biến hàngtriệu nông dân trở thành những người vô sản, cung cấp lực lượng lao động cho sựphát triển của CNTB trong quá trình công nghiệp hoá Sự phát triển của lực lượngsản xuất TBCN, một mặt làm tăng thêm lượng cung về sức lao động do nhữngngười sản xuất nhỏ bị phá sản trong cạnh tranh và gia tăng dân số tự nhiên Mặtkhác, tích luỹ tư bản làm cho cấu tạo hữu cơ tư bản tăng lên, trong khi đó tỉ lệ tưbản khả biến quyết định quy mô cầu về sức lao động ngày càng giảm xuống mộtcách tương đối so với tư bản bất biến Trong quá trình tích luỹ tư bản, cầu về sứclao động bổ sung cũng giảm xuống một cách tương đối do cường độ lao động sảnxuất tăng lên và do ngày lao động thường bị kéo dài C.Mác viết: "Vì lượng cầu vềlao động không phải do quy mô của tổng tư bản quyết định, mà do quy mô của bộphận tư bản khả biến của tư bản quyết định, cho nên cùng với sự tăng lên của tổng

tư bản thì lượng cầu về lao động cũng dần dần giảm bớt đi chứ không phải tăng lêntheo tỷ lệ với sự tăng thêm của tổng tư bản" [13, tr.886] Điều này đã dẫn đến tìnhtrạng nhân khẩu thừa tương đối và là một trong những nguyên nhân dẫn đến thấtnghiệp trong nền sản xuất TBCN

Số người lao động dư thừa không được sử dụng trong nền sản xuất TBCN làhiện tượng kinh tế khách quan, là hậu quả của quá trình tích luỹ TBCN Tuy nhiên,đây chỉ là hiện tượng thừa tương đối so với nhu cầu của tư bản về sức lao động bổsung Thất nghiệp, thiếu việc làm vừa là nguyên nhân, vừa là điều kiện tồn tại vàphát triển của phương thức sản xuất TBCN Sự có mặt của những người thấtnghiệp muốn có việc làm không những tạo điều kiện cho nhà tư bản lợi dụng đểduy trì mức lương thấp, mà còn là cớ để đe doạ sa thải công nhân hoặc buộc họphải cam chịu tăng cường độ lao động, kéo dài ngày lao động, và giảm tiền lươngxuống thấp hơn giá trị sức lao động Đồng thời, đội quân lao động hậu bị lại là sự

Trang 9

cần thiết để bổ sung cho nền sản xuất TBCN khi nền kinh tế trong thời kỳ phụchồi Số nhân khẩu thừa tương đối, hoặc là đội quân lao động hậu bị như V.I Lênin

đã viết: "đó là những công nhân mà CNTB cần có cho trường hợp sắp tới có khảnăng mở rộng các xí nghiệp, nhưng họ vẫn không bao giờ có thể làm việc một cáchthường xuyên, nhân khẩu thừa là một yếu tố cần thiết của nền kinh tế TBCN,không có nhân khẩu thừa thì kinh tế TBCN không thể tồn tại và cũng không thểphát triển được" [12, tr.208]

Đội quân thất nghiệp dưới CNTB ngày càng gia tăng cùng với sự tăng quy

mô tích luỹ của tư bản Mức độ thất nghiệp phụ thuộc vào các giai đoạn biến đổicủa chu kỳ công nghiệp, đặc biệt là trong thời kỳ khủng hoảng và ngừng trệ Tuyvậy, ở thời kỳ hưng thịnh, thì thất nghiệp cũng không phải là hoàn toàn biến mất

mà nó chỉ được khắc phục một phần nào Số người thất nghiệp luôn biến đổi còn

do sự thay đổi trong phân bố lao động trong từng ngành, từng vùng và giữa cácngành, các vùng kinh tế khác nhau Trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, đặc biệttrong thời kỳ tổng khủng hoảng của CNTB, thất nghiệp đã trở thành căn bệnh trầmkha của CNTB và trở nên phổ biến ngay cả ở những nước TBCN phát triển nhất.Đứng trước tình trạng đó các nhà nước tư sản đã cố gắng tìm mọi cách để hạn chế,nhưng mọi nỗ lực đều có hạn bởi không thể vượt qua những cản trở của quan hệsản xuất TBCN đã lỗi thời Bằng chứng sinh động là trong những năm 1980-1984

số người thất nghiệp ở các nước TBCN đăng ký chính thức bình quân hàng năm là25,5 triệu Riêng năm 1984 các nước TBCN có 28,4 triệu người thất nghiệp, trong

đó ở Mỹ chiếm 8,5 triệu người Tỉ lệ những người thất nghiệp đăng ký chính thứctrong số dân có khả năng lao động ở tất cả các nước TBCN là 8%, ở Mỹ là 7,5%,

ở các nước Tây Âu là 10% [25, tr.340] Bên cạnh đó, nạn thất nghiệp bộ phận cũngphát triển rộng rãi, nó biểu hiện ở việc không sử dụng hết thời gian của ngày làmviệc hoặc không sử dụng hết công suất sản xuất Trong điều kiện hiện nay dưới tácđộng sâu sắc của cuộc cách mạng khoa học công nghệ làm cho cơ cấu sản xuấtTBCN phải không ngừng biến đổi để thích nghi, theo đó mà tác động đến cả cơcấu thất nghiệp Sự xuất hiện những ngành, lĩnh vực mới kéo theo sự hối thúc độingũ người lao động có trình độ chuyên môn nghiệp vụ ngày càng cao, đòi hỏi đào

Trang 10

tạo công phu để thích ứng với điều kiện sản xuất mới Đồng thời với quá trình đócũng tạo nên những tình cảnh mà người lao động không theo kịp do trình độ, sứckhoẻ, tuổi tác và khả năng lao động buộc phải bật khỏi guồng máy sản xuất và trởthành người thất nghiệp Điều đáng lưu ý là, số người thất nghiệp ngày nay ở cácnước TBCN không chỉ có những người lao động phổ thông mà còn có cả đông đảonhững người lao động trí thức.

Như vậy, CNTB tỏ ra bất lực trước tình trạng thất nghiệp Điều đó cũng làhiển nhiên bởi thất nghiệp, thiếu việc làm vừa là hậu quả của phương thức kinhdoanh tư bản, vừa là điều kiện phát triển CNTB Nó được xem là phương cách củacác chủ tư bản chống lại cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân Mục tiêu giảiquyết tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm trong nền kinh tế thị trường TBCN chỉđược xem là phương tiện duy trì sự ổn định tạm thời của CNTB chứ không phải làmục đích của chế độ TBCN

Dưới chế độ xã hội XHCN giải quyết tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làmluôn là mục tiêu phấn đấu trong mọi đường lối chiến lược phát triển kinh tế- xã hộicủa mọi quốc gia, trong mọi thời kỳ Đó cũng là bản chất ưu việt của chế độXHCN, điểm khác nhau căn bản so với chế độ TBCN Một trong những thành tựuquan trọng của hệ thống XHCN hiện thực trước đây chính là đã giải quyết căn bảntình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm Trong thời kỳ này, các nước XHCN trong đó

có cả Việt Nam đã giải quyết cơ bản tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm, mọingười đến tuổi lao động đều được vào làm việc trong thành phần kinh tế quốcdoanh, và kinh tế tập thể Các nông trường, lâm trường, công trường, các hợp tác

xã tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, các nhà máy, xí nghiệp dướihai hình thức: quốc doanh và tập thể đã thu hút và tạo việc làm ổn định cho ngườilao động Trong thời kỳ này, người lao động không lo sợ bị thất nghiệp, thiếu việclàm, bởi Nhà nước XHCN đã giải quyết việc làm ổn định cho mọi người lao động.Giải quyết thất nghiệp, thiếu việc làm theo mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung,quan liêu, bao cấp đã dần bộc lộ những hạn chế làm nảy sinh tư tưởng thụ động, ỷlại của người lao động, gây nên những lãng phí về sức lao động, của cải vật chất,

Trang 11

kìm hãm sự phát triển kinh tế- xã hội Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến

sự trì trệ, tụt hậu của các nước XHCN trong những năm 80 của thế kỷ XX

Bước vào thời kỳ đổi mới, nền kinh tế nước ta từng bước chuyển đổi sang cơchế thị trường có sự quản lý của nhà nước Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theohướng CNH, HĐH đã tác động đến chuyển dịch lao động, phân bố và sử dụng laođộng xã hội theo hướng hiệu quả Việc tổ chức, sắp xếp lại sản xuất, phân công lạilao động đều phải tính đến các yêu cầu khách quan của cơ chế thị trường và tácđộng của các quy luật thị trường Trong tình hình đó Đảng và Nhà nước ta đã cónhiều chủ trương, chính sách giải quyết vấn đề thất nghiệp, thiếu việc làm Nghịquyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã xác định: Bảo đảm việc làm cho ngườilao động, trước hết ở thành thị và cho thanh niên là nhiệm vụ kinh tế - xã hội hàngđầu trong những năm tới Nhà nước cố gắng tạo thêm nhiều việc làm và có chínhsách để người lao động tự tạo ra việc làm, tăng thu nhập Sau 5 năm thực hiện nghịquyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, tình hình giải quyết việc làm cho ngườilao động vẫn chưa có kết quả đáng kể Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đãthông qua một loạt các văn kiện chứa đựng những quan điểm, giải pháp quan trọngđối với vấn đề việc làm cho người lao động, trong đó đặc biệt nhấn mạnh nhân tốcon người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển Mọi chủ trương chínhsách giải quyết việc làm đều phải bám vào mục tiêu đó để phấn đấu Chiến lược ổnđịnh và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 của đất nước đã xác định giảiquyết việc làm, sử dụng tối đa tiềm năng lao động xã hội là mục tiêu quan trọnghàng đầu của chiến lược, là một tiêu chuẩn để định hướng cơ cấu kinh tế và lựachọn công nghệ Hội nghị Trung ương V (khoá VII) họp tháng 6 năm 1993, tiếptục bàn sâu thêm về chính sách nông nghiệp, nông thôn Hội nghị đã đề ra phươnghướng giải pháp cụ thể đổi mới nông nghiệp, nông thôn, trong đó xác định giảiquyết tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm là một nhiệm vụ cấp bách Hội nghị đãnhấn mạnh những năm trước mắt cần phải quan tâm giải quyết việc làm, nâng caothu nhập của người lao động Chương trình giải quyết việc làm, phát triển nôngnghiệp và kinh tế nông thôn được Hội nghị xác định là: Phát triển đa dạng côngnghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản với quy mô nhỏ và vừa là chủ yếu, khôi phục

Trang 12

và phát triển các làng nghề, nhà nghề; tranh thủ công nghệ hiện đại, kết hợp vớicông nghệ truyền thống, chú trọng những công nghệ tốn ít vốn và tạo nhiều việclàm Các cơ sở phục vụ xuất khẩu cần nhanh chóng áp dụng công nghệ hiện đại đểtăng sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường thế giới Tiếp đó Hội nghị đạibiểu Đảng toàn quốc giữa nhiệm kỳ (Khoá VII) nhấn mạnh: "Phương hướng quantrọng nhất để tạo công ăn việc làm là nhà nước cùng toàn dân ra sức tiết kiệm đểđầu tư phát triển, thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, khuyến khíchmọi thành phần kinh tế, mọi công dân, mọi nhà đầu tư trong và ngoài nước mởrộng ngành nghề, tạo nhiều việc làm cho người lao động, giảm nhanh số ngườichưa có hoặc thiếu việc làm" [5 tr.51].

Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ IV (khoá VIII) tháng 12 năm

1997 đã dành một phần nói về chủ trương, chính sách lớn tích cực giải quyết việclàm Hội nghị đã đề ra những vấn đề có tính nguyên tắc và xác định những vấn đềcấp bách để giải quyết việc làm Hội nghị đã nhấn mạnh: "Kết hợp chương trìnhquốc gia giải quyết việc làm với chương trình dự án phát triển kinh tế để tạo nhiềuchỗ làm việc mới, đặc biệt là dự án đầu tư bằng vốn ngân sách và đầu tư của nướcngoài Khuyến khích phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, các làng nghề truyềnthống, phát triển các ngành nghề ở nông thôn để giải quyết việc làm tại chỗ Hoànthiện cơ chế quản lý và tăng quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm" [6, tr.80] Hội nghị đãđánh giá sâu sắc những thành tựu và hạn chế, chỉ rõ những yếu kém trong chỉ đạo

và thực hiện giải quyết tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm Trong đó nhấn mạnh:

cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, việc ứng dụng khoa học, công nghệ nhất là vềgiống, cây trồng, vật nuôi còn hạn chế; công nghiệp chế biến, và ngành nghề kémphát triển, thị trường tiêu thụ nông sản hàng hoá gặp nhiều khó khăn, khả năngcạnh tranh của nông sản hàng hoá yếu, lao động dư thừa nhiều, cơ sở hạ tầng phục

vụ sản xuất và đời sống ở một số vùng còn thấp; tiềm năng về đất đai, rừng, biển

và lao động ở nhiều vùng chưa được khai thác có hiệu quả Trên cơ sở đánh giáđúng thực trạng Nghị quyết đã xác định một số chủ trương giải pháp để phát triểnkinh tế nông thôn, giải quyết việc làm là: đẩy mạnh CNH, HĐH trong nông nghiệp

và kinh tế nông thôn Đẩy mạnh thâm canh hình thành các vùng tập trung sản xuất

Trang 13

lúa, cây công nghiệp, rau quả, thực hiện thâm canh tăng vụ, sử dụng các giống cónăng suất cao gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; khuyến khích kinh tế hộ,hợp tác xã và trang trại chăn nuôi quy mô vừa và lớn Nền kinh tế nhiều thànhphần trong nông nghiệp, nông thôn tồn tại lâu dài, đều được khuyến kích phát triển

mở rộng đầu tư tạo nhiều chỗ làm việc

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã nhấn mạnh thất nghiệp ở thành thị vàthiếu việc làm ở nông thôn là một vấn đề kinh tế - xã hội nổi cộm nhất hiện nay,đồng thời đã chỉ rõ yêu cầu, giải pháp cơ bản giải quyết tình trạng thất nghiệp,thiếu việc làm là: "Bằng nhiều giải pháp, tạo ra nhiều việc làm mới, tăng quỹ thờigian lao động được sử dụng, nhất là trong nông nghiệp và nông thôn Các thànhphần kinh tế, mở mang các ngành nghề, các cơ sở sản xuất, dịch vụ có khả năng sửdụng nhiều lao động Chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, bảo đảm an toàn và vệsinh lao động, phòng chống tai nạn và bệnh nghề nghiệp cho người lao động" [4,tr.105]

Bộ Luật lao động đầu tiên ở nước ta được Quốc hội khoá IX thông qua đãthực sự đánh dấu bước ngoặt quan trọng, tạo cơ sở điều kiện pháp lý cho giải quyếttình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm, phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế thịtrường định hướng XHCN Ngày 11/4 /1992 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chínhphủ) đã ban hành Nghị quyết số 120/HĐBT về thực hiện chương trình quốc giagiải quyết việc làm, trong đó đã nhấn mạnh: "Lập quỹ quốc gia về việc làm, chovay với lãi suất nâng đỡ đối với hộ tư nhân, hộ gia đình, cá nhân, doanh nghiệp tạođược chỗ làm việc mới hoặc thu hút thêm lao động… mở rộng các trung tâm dạynghề và dịch vụ việc làm ở một số ngành, tổ chức xã hội và địa phương có yêu cầulớn về dạy nghề trước hết là cho thanh niên đến tuổi lao động" [10,tr.13] Ngày11/7/1998 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia vềviệc làm đến năm 2010, mục cơ bản là giải quyết việc làm cho người lao động,giảm tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị xuống 5% và nâng tỉ lệ thời gian lao động ở nôngthôn lên hơn 75% Chính phủ đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo quốc gia và quốc tế

về thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, phát triển ngành nghề, tạo công

ăn việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn, mở rộng hợp tác đầu tư, xuất khẩu lao

Trang 14

động ra nước ngoài, liên kết đào tạo nghề, truyền nghề cho người lao động Báocáo của Chính phủ tại Hội nghị nhóm tư vấn 12/1998 đã chỉ đạo các hoạt động hỗtrợ như: quỹ quốc gia giải quyết việc làm, tiến hành các dự án hỗ trợ các doanhnghiệp vừa và nhỏ phát triển sản xuất, tạo việc làm, giảm tỉ lệ thất nghiệp và thiếuviệc làm ở nông thôn [11, tr.19] Gắn chương trình giải quyết việc làm với chươngtrình kinh tế - xã hội khác như: chương trình phủ xanh đất trống, đồi núi trọc,chương trình trồng 5 triệu ha rừng, chương trình phát triển đánh bắt xa bờ, chươngtrình phát triển giao thông nông thôn, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,chương trình dân số kế hoạch hoá gia đình nâng cao chất lượng cuộc sống, chươngtrình xoá đói giảm nghèo, đẩy mạnh giáo dục, đào tạo, đặc biệt chú trọng đào tạonghề cho người lao động, tổ chức hội chợ việc làm Thực hiện các chương trình,

kế hoạch giải quyết việc làm của Chính phủ các địa phương đã cụ thể hoá thànhcác chương trình, kế hoạch, dự án, biện pháp giải quyết việc làm phù hợp với đặcđiểm tình hình kinh tế- xã hội trên địa bàn tỉnh

Như vậy, thất nghiệp, thiếu việc làm trong nền kinh tế thị trường là một hiệntượng kinh tế khách quan Song dưới CNXH Đảng, Nhà nước và các cấp chínhquyền địa phương thường xuyên quan tâm giải quyết việc làm, coi đó là nhiệmkinh tế - xã hội vì con người, do con người

1.2 Thực trạng và nguyên nhân thiếu việc làm ở Hưng Yên

1.2.1 Thực trạng thiếu việc làm ở Hưng Yên

Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường tình trạng thiếu việc làm đã trởthành hiện tượng phổ biến không chỉ đối với Hưng Yên mà còn trên phạm vi cảnước Nhà nước và các cấp chính quyền địa phương trong đó có Hưng Yên đã cónhiều cố gắng tập trung giải quyết việc làm cho người lao động Tuy nhiên donhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan nên giải quyết tình trạng thiếu việclàm vẫn chưa được như mong muốn Thực trạng lao động thiếu việc làm của HưngYên trong những năm từ khi tái lập Tỉnh đến nay có thể được xem xét trên nhữngnội dung chủ yếu sau đây:

Một là: Thiếu việc làm phân theo vùng lãnh thổ:

Trang 15

Là một tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ, do đặc điểm vị trí địa lý nên HưngYên có hai vùng kinh tế chủ yếu là thành thị và nông thôn Ở các vùng nông thôntrong Tỉnh tỉ lệ thất nghiệp thấp hơn so với các thị trấn, thị xã và các khu côngnghiệp tập trung Nhưng đặc trưng nổi bật ở các vùng nông thôn là hiện tượngthiếu việc làm trở thành phổ biến, kéo dài và đáng lo ngại Kết quả điều tra laođộng, việc làm của Tỉnh năm 2003 cho thấy tỉ lệ lao động có đủ thời gian làm việc

ở khu vực nông thôn chỉ chiếm 72,7% Số lao động thiếu việc làm ở khu vực nàyvẫn chiếm tỉ lệ cao 27,3% và số người không có việc làm 4,1% Số người thiếuviệc làm ở thị xã, thị trấn là 16,9%, đủ việc làm 83,1% và không có việc làm là7,6% Tính chung trong toàn Tỉnh số người đủ việc làm 74,2%, số người thiếu việclàm 25,8% và không có việc làm 4,62 (xem bảng 1.1)

Bảng 1.1 Tình hình lao động thiếu việc làm và tỉ lệ thời gian lao động được sử dụng ở các vùng trong tỉnh Hưng Yên năm 2003

Đơn vị

Chung

cả tỉnh

Khu vực thành thị

Khu vực nông thôn

112.91410,15

999.53789,85

82.87315,06

467.04284,94

%Người

%

524.469389.25174,20135.218

76.57563.63383,1012.94216,90

447.894325.61872,70122.27627,30

Trang 16

19.1484,10

Nguồn: Báo cáo dân số, lao động, việc làm ở Hưng Yên - Sở lao động thương binh - xã hội Năm 2003 [17, tr.5]

Thực trạng trên đây cho thấy, đến nay Hưng Yên vẫn là một tỉnh nôngnghiệp, cư dân nông thôn chiếm gần 89,85%, thành thị 10,5% Việc phấn đấu đểgiảm tỉ lệ thiếu việc làm của lực lượng lao động là một trong những vấn đề cầnđược quan tâm hàng đầu hiện nay cả về mặt kinh tế và xã hội Phần lớn các hộ đóinghèo trong vùng thuần nông là do thiếu việc làm, thu nhập không ổn định Đâychính là một nguyên nhân cơ bản dẫn đến phân hoá giữa hộ giầu và hộ nghèo, đẩynhanh tốc độ phân cực xã hội Phân hoá giầu nghèo dẫn đến phân tầng trong vănhoá, giáo dục và nguy cơ mất việc làm, hoặc không kiếm được việc làm của con

em các hộ đói, nghèo càng lớn Thực trạng thiếu việc làm trong nông thôn đi liềnvới các tệ nạn xã hội: rượu, chè, nghiện hút, trộm cắp, buôn lậu, mại dâm, và gâynên những vấn đề xã hội phức tạp khác

Như vậy, thiếu việc làm không chỉ làm lãng phí sức lao động, kìm hãm tốc

độ tăng trưởng kinh tế mà còn làm biến dạng các giá trị văn hoá truyền thống, bănghoại đạo đức xã hội, vì thế giải quyết việc làm cho người lao động là một nội dungquan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hưng Yên hiệnnay

Hai là: Thiếu việc làm phân theo nhóm tuổi

Theo phân tích của Sở lao động thương binh và xã hội tỉnh Hưng Yên, trongcách phân nhóm theo lứa tuổi, điều đáng chú ý là số người trẻ tuổi trong tổng sốlao động thất nghiệp, thiếu việc làm chiếm một tỉ lệ rất cao Theo thống kê năm

2003 số người thiếu việc làm của toàn tỉnh trong độ tuổi từ 15 đến 34 chiếm76,34% Trong đó, tỷ lệ thiếu việc làm ở độ tuổi từ 15 - 24 là cao nhất chiếm52,59% tổng số người thiếu việc làm toàn Tỉnh, tiếp đến là nhóm tuổi từ 25 -34chiếm tỉ lệ 23,4% (xem bảng 1.2) Thất nghiệp, thiếu việc làm trong nhóm tuổi 15

Trang 17

-24 chiếm tỉ lệ cao bởi nhóm này mới bước vào tuổi lao động còn non kém vềkinh nghiệm tìm việc làm và tự tạo việc làm, mặt khác công tác định hướng nghềnghiệp của các cấp chính quyền địa phương, nhà trường phổ thông chưa quan tâmđúng mức.

Bảng 1.2 Tỉ lệ thiếu việc làm của các nhóm tuổi ở Hưng Yên năm

Ba là: Thiếu việc làm phân theo trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật nghề nghiệp

Hưng Yên đang trong qúa trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH Trong cơ cấu lao động đang tồn tại ở

Trang 18

Hưng Yên hiện nay lao động thiếu việc làm chiếm tỉ lệ cao ở nhóm người không

có trình độ chuyên môn kỹ thuật, trong khi đó lao động có chuyên môn kỹ thuật lạithiếu nghiêm trọng, đặc biệt là công nhân kỹ thuật có tay nghề cao Theo điều tratrong 23 doanh nghiệp trong tỉnh kết quả cho thấy: các doanh nghiệp đều có nhucầu tuyển dụng lao động là công nhân kỹ thuật có trình độ nghề nghiệp từ sơ cấptrở lên, nhưng nguồn đáp ứng còn thiếu nghiêm trọng Trong khu công nghiệp PhốNối, Như Quỳnh hiện nay hàng năm cần khoảng hơn 2000 công nhân có trình độchuyên môn kỹ thuật từ trung cấp hoặc đào tạo nghề trở lên, nhưng thường chỉtuyển được 60% lao động trong tỉnh Do vậy, số lao động thiếu việc làm ở HưngYên phần lớn là do không có trình độ chuyên môn nghề nghiệp Số lao động từ 15tuổi trở lên hoạt động kinh tế thường xuyên ở khu vực thành thị không có trình độchuyên môn kỹ thuật chiếm đến 54,24%, có trình độ sơ cấp học nghề 1à 14,76%,

có trình độ chuyên môn kỹ thuật được cấp bằng là 31% Tương tự như vậy, tỉ lệnày ở nông thôn là 70,19%; 20,81%; 8,78% Đây cũng là tình trạng phổ biến hiệnnay trong cả nước Song điều đặt ra đáng phải suy nghĩ đối với một tỉnh đồngbằng, điều kiện vị trí địa lý thuận lợi, có nhiều khả năng phát triển kinh tế, mở rộngngành nghề, người lao động có truyền thống cần cù, thông minh sáng tạo nhưHưng Yên (Xem bảng 1.3)

Bảng 1.3 Cơ cấu số người từ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế thường xuyên trong 12 tháng qua chia theo nhóm trình độ chuyên môn kỹ thuật.

Đơn vị: %

Đơn vị

Không có chuyên môn kỹ thuật

Sơ cấp học nghề trở lên

Trang 19

Nguồn: Dân số, lao động, việc làm, Nxb Tổng cục thống kê, Hà Nội 6/2004 [23 tr 45- 48].

Như vậy, tỉ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm ở Hưng Yên chủ yếu là do không

có trình độ chuyên môn nghề nghiệp Do vậy, vấn đề đặt ra đối với sự nghiệp giáodục và đào tạo ở nước ta nói chung và tỉnh Hưng Yên nói riêng là cần quan tâmchú trọng đào tạo nghề, coi đó là một nhiệm vụ cấp bách hiện nay Tuy nhiên, tìnhtrạng sử dụng nguồn nhân lực không đúng với trình độ chuyên môn nghề nghiệpđược đào tạo đang diễn ra, vì thế không phát huy hết được khả năng của người laođộng, đó là biểu hiện của thất nghiệp trá hình Theo kết quả điều tra khảo sát của

Sở lao động thương binh - xã hội Tỉnh thì chỉ có 48,8% nhân lực đã qua đào tạođược sử dụng đúng với ngành nghề chuyên môn Học sinh tốt nghiệp các ngànhnông, lâm nghiệp ở các trường trung học chuyên nghiệp chỉ có 40% làm việc đúngngành nghề, số sinh viên tốt nghiệp đại học ở khoa nông, lâm, ngư nghiệp chỉ có

20 % lao động đúng ngành nghề trong địa bàn Tỉnh Tình trạng đó đòi hỏi phải đổimới toàn diện hệ thống giáo dục đào tạo cả về chất lượng, số lượng và cơ cấu, giáodục đào tạo phải bám sát với đòi hỏi thực tiễn của nền kinh tế - xã hội

Qua phân tích ở bảng 1.4 cho thấy trình độ học vấn của lực lượng lao độngtrong tỉnh còn thấp Số người hoạt động kinh tế thường xuyên ở khu vực thành thị

có trình độ học vấn cao hơn số người hoạt động kinh tế thường xuyên ở khu vựcnông thôn Theo số liệu thống kê năm 2003 chỉ rõ số lao động hoạt động kinh tếthường xuyên, ở thị xã, thị trấn, khu công nghiệp chưa biết chữ chiếm tỉ lệ 0,55%;

số lao động chưa tốt nghiệp tiểu học 6,12%; số lao động đã tốt nghiệp tiểu học là16,73%; đã tốt nghiệp phổ thông cơ sở là 55,34%; số lao động đã tốt nghiệp phổthông trung học là 21,26% Ở nông thôn tỉ lệ lao động hoạt động kinh tế thườngxuyên chưa biết chữ là 0,57%; số lao động chưa tốt nghiệp tiểu học là 6,50%; sốlao động đã tốt nghiệp tiểu học là 17,46%; số lao động đã tốt nghiệp phổ cơ sở là56,65% và số lao động tốt nghiệp phổ thông trung học là 18,81% (xem bảng 1.4)

Bảng 1.4 Cơ cấu số người đủ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế thường xuyên trong 12 tháng chia theo trình độ học vấn.

Đơn vị: %

Trang 20

vị

Chưa biết chữ

Chưa tốt nghiệp tiểu học

Đã tốt nghiệp tiểu học

Đã tốt nghiệp phổ thông cơ sở

Đã tốt nghiệp phổ thông trung học

Như vậy, việc phân bố lao động trên đây cho thấy, lực lượng lao động

ở thành thị có trình độ học vấn cao hơn so với lao động ở nông thôn Điều nàyphản ánh thực tế khách quan quá trình phân công lại lao động và chuyển dịch cơcấu kinh tế trên địa bàn tỉnh Sự chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn diễn rachậm chạp, biểu hiện tính chất thuần nông nghiệp còn tồn tại phổ biến và khá lâudài ở Hưng Yên Điều đó làm cho tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm trở thành

"căn bệnh" kinh tế - xã hội phức tạp đòi hỏi các cơ quan lãnh đạo, chính quền địaphương phải đặc biệt quan tâm giải quyết

Bốn là: Thực trạng thiếu việc làm phân theo thành phần kinh tế

Trước hết phải nói đến tình hình thiếu việc làm của lao động trong khuvực kinh tế nhà nước Đây là thành phần kinh tế giữ vai trò chủ đạo, chi phối cácthành phần kinh tế khác Do đó, cố gắng giải quyết việc làm trong khu vực này sẽ

có ý nghĩa củng cố vai trò, uy tín của khu vực kinh tế nhà nước, đồng thời có tácđộng không nhỏ đến các khu vực khác của nền kinh tế

Trong quá trình sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn HưngYên theo hướng cổ phần hoá đã xuất hiện tình trạng dôi dư lao động khá phổ biến

ở nhiều doanh nghiệp Thành phần kinh tế nhà nước sau khi sắp xếp lại ở thời điểmnăm (2002) chỉ thu hút được 57.010 người chiếm 10,87% tổng lao động So với

Trang 21

năm 1997 số lao động trong doanh nghiệp nhà nước thu hút trên địa bàn là 83.400người Như vậy, số lao động dôi dư từ khu vực kinh tế nhà nước sau khi sắp xếp lạichiếm 26.390 người bằng 1/3 tổng số lao động trước khi sắp xếp [19, tr.88] Số laođộng này để có thể tái sử dụng và thích ứng với sự phân công lao động mới đòi hỏiphải có thời gian đào tạo lại Đây thực sự đang là gánh nặng của doanh nghiệp nhànước và tích tụ những vấn đề chính sách xã hội mà địa phương phải giải quyết Trước đổi mới, thành phần kinh tế hợp tác ở địa bàn tỉnh Hưng Yên làkhu vực thu hút hầu hết lực lượng lao động trong tỉnh Từ khi chuyển sang cơ chếthị trường, các hợp tác xã kiểu cũ bị giải thể hàng loạt, người lao động làm việctrong mô hình kinh tế hộ gia đình, theo tinh thần Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị.Trong quá trình thực hiện Luật hợp tác xã (sửa đổi 1997) mô hình hợp tác kiểu mới

ra đời, tuy nhiên đến nay thành phần kinh tế này phát triển rất chậm chạp Đến năm

2002 mới chỉ có 163 hợp tác xã kiểu mới, thu hút được 14.520 lao động chiếm2,76% tổng lao động toàn tỉnh [19, tr.101] Mặc dù, thành phần kinh tế hợp tácđang có xu hướng tăng lên cả về tỉ trọng GDP và tỉ lệ lao động, nhưng so với cácthành phần kinh tế khác thì tỉ lệ lao động trong thành phần kinh tế này còn hết sứcnhỏ bé Điều đó phản ánh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao độngtrong các thành phần kinh tế diễn ra chậm chạp, khó khăn cho công tác quản lý laođộng, phân công lao động, phân bố dân cư trên địa bàn

Hiện nay, trên địa bàn Hưng Yên, lao động phổ biến làm việc trongthành phần kinh tế tư nhân, cá thể Theo kết quả điều tra của Tổng Cục thống kênăm 2002 số lao động trong khu vực kinh tế cá thể là 271.800 người chiếm 51,83% tổng số lao động có việc làm Khu vực kinh tế tư nhân 17.300 người chiếm3,29%, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 8750 người chiếm 1,66% tổng sốlao động có việc làm, khu vực kinh tế hỗn hợp 3300 người chiếm 0,62% tổng sốlao động có việc làm [19, tr.105, 110] Ngoài ra còn hơn 20% lực lượng lao độnglàm việc trong các cơ quan hành chính Đặc điểm nổi bật trong thành phần kinh tế

tư nhân cá thể là việc làm bấp bênh, thiếu ổn định Theo tổng hợp của Tổng Cụcthống kê năm 2003, ở vùng nông thôn thời gian lao động 180 ngày đến dưới 200ngày/ năm chiếm tới 25,39%; từ 200 ngày đến dưới 240 ngày/ năm chiếm 25,97%,

Trang 22

điều đó đồng nghĩa với tình trạng thiếu việc làm [23, tr.57, 60] Thời gian lao độngtrong các doanh nghiệp tư nhân, trong các xí nghiệp, các đội nhóm sản xuất mangtính thời vụ, trong đó rõ nhất là các ngành xây dựng, may mặc… thời gian laođộng trong các xí nghiệp này liên tục bị co giãn và thường không đảm bảo được sốngày làm việc/ năm và số giờ làm việc/ tuần, đó là biểu hiện của thiếu việc làm.

Hiện trạng lao động trong các thành phần kinh tế ở Hưng Yên phản ánh sựbất hợp lý giữa quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế với cơ cấu lao động Trongkhi các thành phần kinh tế đang đổi mới sắp xếp tổ chức sản xuất kinh doanh theohướng CNH, HĐH cần nhiều lao động có trình độ chuyên môn nghề nghiệp đượcđào tạo, thì nguồn lực lao động lại phổ biến là lao động thủ công Mặt khác, tỉ lệlao động trong thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế hợp tác xã chiếm tỉ trọnglao động rất nhỏ, đó là trở ngại cho công tác giải quyết tình trạng thiếu việc làm ởHưng Yên

Như vậy, thất nghiệp, thiếu việc làm ở Hưng Yên hiện nay vẫn còn làvấn đề kinh tế, xã hội phức tạp, đang là lực cản đến tiến trình đẩy nhanhCNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn, tác động không nhỏ đến an sinh xã hội vàcủng cố quốc phòng

1.2.2 Nguyên nhân thiếu việc làm ở Hưng Yên

Thiếu việc làm là một hiện tượng kinh tế, xã hội gắn liền với sự vận độngcủa nền kinh tế thị trường Với tính đặc thù của một tỉnh thuần nông nghiệp, đangtrong quá trình chuyển sang kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trường, thấtnghiệp, thiếu việc làm ở Hưng Yên có thể được xem xét bởi những nguyên nhân

cơ bản sau đây:

Một là, sự chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị

trường, yêu cầu sắp xếp lại tổ chức, hoạt động trong khu vực kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, dẫn đến có một lực lượng lao động dôi dư.

Do hậu quả của cơ chế kinh tế kế hoạch tập trung bao cấp đã dẫn đến tìnhtrạng "nhà nước hoá" trong việc đào tạo, sắp xếp bố trí tuyển dụng lao động đếnthôi việc Nhà nước thực hiện "biên chế suốt đời", chế độ tiền lương do nhà nướcbao cấp và chi trả do đó quan hệ lao động bị hành chính hoá Người lao động khi

Trang 23

vào biên chế nhà nước sẽ được nhà nước bao cấp nuôi suốt đời Vì vậy, đã tạo ratâm lý trông chờ, ỷ lại vào sự sắp xếp việc làm của nhà nước, chính sách phân phốibình quân nên việc làm cũng bình quân chia đều, triệt tiêu động lực thúc đẩy ngườilao động học tập, sáng tạo nâng cao trình độ tay nghề Bước vào cơ chế thị trườngcũng như các tỉnh khác trong cả nước, các doanh nghiệp nhà nước của tỉnh cũngphải thực hiện hạch toán kinh doanh, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước trên địabàn, thực hiện đổi mới công nghệ nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Để thựchiện điều đó buộc các doanh nghiệp nhà nước phải tổ chức lại sản xuất và đầu tưđổi mới công nghệ, sắp xếp lại quản lý và lao động, một số doanh nghiệp phá sản,

do đó một bộ phận lao động không đáp ứng với yêu cầu mới bị loại khỏi quá trìnhsản xuất trở thành thất nghiệp, thiếu việc làm

Các hợp tác xã kiểu cũ giải thể hàng loạt, chuyển sang tổ chức sản xuất mới,nhiều cán bộ quản lý, kế toán trong các ban quản trị và người lao động bị thấtnghiệp, thiếu việc làm Quá trình chuyển đổi các hợp tác xã diễn ra chậm chạp, cáchợp tác xã mới hình thành còn non kém trong tổ chức quản lý sản xuất kinh doanhthua lỗ cũng là nguyên nhân dẫn đến thiếu việc làm

Các thành phần kinh tế tư nhân, cá thể và kinh tế hộ gia đình chiếm tỉ trọnglao động lớn nhưng do tính chất cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường, các thànhphần kinh tế này sức cạnh tranh yếu, cộng với tính chất tiểu nông, nhỏ lẻ từ lâu đời

đã hạn chế sự vươn lên của khu vực kinh tế nông nghiệp trong tỉnh Sản xuất kinhdoanh mang nặng tính chất tự nhiên, bấp bênh, thiếu nhạy bén trong tìm nguồn đầuvào, và đầu ra, dẫn đến thu lỗ, phá sản, lao động trở thành thất nghiệp, thiếu việclàm

Hai là, do sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra chậm chạp nên khả năng

tạo việc làm hạn chế, không thu hút được nhiều lao động, dẫn đến thất nghiệp thiếu việc làm.

Theo số liệu thống kê của tỉnh, ở thời điểm năm 2003 lao động nông nghiệpchiếm 74,3% tổng lực lượng lao động, chỉ có 13,4% lao động trong công nghiệpxây dựng, tiểu thủ công nghiệp và 12,2% trong ngành dịch vụ, còn trong cơ cấu sửdụng đất nông nghiệp vẫn dành chủ yếu cho trồng cây lương thực là 102 nghìn ha,

Trang 24

trong đó trồng lúa 89.5 nghìn ha chiếm 68,6% diện tích đất nông nghiệp, diện tíchtrồng cây công nghiệp hàng năm 1500 ha chiếm 31,4% diện tích đất nông nghiệp[17, tr.17] Điều đó cho thấy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp,nông thôn diễn ra rất chậm, các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ pháttriển chưa tương xứng với tiềm năng trong Tỉnh Vì thế tỉ lệ thời gian lao độngđược sử dụng ở khu vực nông thôn thấp, tình trạng thiếu việc làm diễn ra phổ biến.

Hiện nay, lực lượng lao động ở vùng nông thôn trong tỉnh chiếm tỉ lệ cao

(89,85%) Để tạo việc làm thu hút lao động lại phụ thuộc vào đầu tư vốn, quy môruộng đất và hiệu quả sử dụng ruộng đất, cũng như quy mô ngành nghề còn hạnchế Là một tỉnh thuần nông, trồng lúa là chủ yếu, bình quân ruộng đất đầu ngườithấp (225,5 m2/ người), trong khi quá trình đô thị hoá, xây dựng các công trìnhthuỷ lợi, do sự phát triển mạnh mẽ các thị tứ, thị trấn, thị xã, các khu công nghiệptập trung trên địa bàn đã chiếm đi một phần đất canh tác Đến nay các khu côngnghiệp Phố Nối, Như Quỳnh, Chợ Gạo, đang hoàn thành, điều này tạo cơ hội chothu hút đầu tư, phát triển ngành nghề và thu hút lao động trong Tỉnh, nhưng cũnglàm cho hàng trăm ha đất nông nghiệp phải chuyển đổi mục đích sử dụng, theo đó

số lao động nông nghiệp dôi ra sẽ phải đối phó với sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế

và thích ứng với quá trình đó Trong khi đó phân công lại lao động ở nông thôndiễn ra chậm chạp Trình độ của lực lượng lao động nông nghiệp, nông thôn chưathích ứng với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đào tạo nghề cho người laođộng chưa được quan tâm đúng mức, họ không được dung nạp vào làm việc ở cáckhu công nghiệp, nên đã làm cho tình trạng thiếu việc làm thêm trầm trọng

Điều đáng lo ngại hơn là trong số những người thiếu việc làm ở nông thônthì đại bộ phận là không có nghề, không có vốn, thiếu ruộng đất, cá biệt không córuộng đất Điều tra ở các vùng thuần nông trong tỉnh cho thấy có tới 70 - 80% số

hộ thiếu vốn, 30- 40 % số hộ thiếu đất canh tác và phương tiện sản xuất [17, tr.15]

Ở một số nơi trong tỉnh đã xuất hiện tích tụ ruộng đất, số lao động nông nghiệpthiếu ruộng đất và không có ruộng đất tăng lên Trong khi đó quá trình chuyển dịch

cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn diễn ra chậm chạp Việc khôi phục vàphát triển các làng nghề, nhà nghề ở nông thôn chưa được chú trọng, phần lớn các

Trang 25

hộ ngành nghề lao động thủ công hoặc trang bị máy móc cũ, năng suất lao độngthấp Mặc dù, các làng nghề truyền thống được khôi phục nhưng số lượng, quy mônhỏ bé nên không đủ sức dung nạp số lao động dư thừa Thực tế này cho thấy nguy

cơ thiếu việc làm ở các vùng thuần nông trong tỉnh rất khó có thể giải quyết trongthời gian ngắn Do sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế đang diễn ra chạm chạp trên địabàn tỉnh, lực lượng lao động trong nông nghiệp vẫn chiếm tỉ lệ cao, trong đó laođộng trong trồng trọt và chăn nuôi chiếm tỉ trọng: 66,7% Mặt khác, khả năng thâmcanh gối vụ còn hạn chế, cộng với tính chất mùa vụ đã làm cho thiếu việc làm chưathể giải quyết một cách đáng kể

Ba là, do cung lao động chưa phù hợp với cầu lao động về số lượng, chất lượng và cơ cấu.

Sự gia tăng dân số cao trong những năm trước làm cho chu kỳ dân sốđến độ tuổi lao động trong những năm gần đây liên tục tăng Thêm nữa nhờ thànhtựu phát triển kinh tế - xã hội, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cảithiện, y tế cộng đồng, giáo dục dinh dưỡng sức khoẻ của nhân dân được nâng cao,

tỉ lệ tử vong trẻ em giảm, tuổi thọ của dân cư tăng làm cho số người có khả nănglao động tăng cao Đó là một thế mạnh trong phát triển kinh tế, đồng thời lại là sức

ép giải quyết vấn đề thiếu việc làm do cung lao động liên tục gia tăng trong khi cầu

về nguồn nhân lực trong tỉnh giải quyết việc làm có hạn [xem bảng 1.5]

Bảng 1.5 cho thấy, từ năm 1999 đến năm 2003 tỉ lệ tăng số người trong độtuổi lao động ở Hưng Yên là 3,34 % đồng nghĩa với cung lao động tăng Trong khi

đó cầu về lao động phụ thuộc vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, quy môđầu tư, mở rộng sản xuất tăng chậm hơn dẫn đến một bộ phận lao động không cóviệc làm Cung lao động chưa phù hợp với cầu lao động, biểu hiện nguồn cung laođộng của tỉnh hiện nay chủ yếu là lao động không có chuyên môn kỹ thuật thì cầu

về lao động đòi hỏi chủ yếu là lao động chuyên môn kỹ thuật cao, các nhà quản lý

am hiểu cơ chế thị trường Tình hình trên đã dẫn đến thực trạng hiện nay là trongkhi hàng nghìn người không có chuyên môn kỹ thuật không tìm được việc làm, thì

ở một số ngành nghề và cơ sở sản xuất kinh doanh đang thiếu lao động kỹ thuật cótrình độ chuyên môn nghề nghiệp và trình độ kỹ thuật phù hợp Điều đó tất yếu

Trang 26

dẫn đến tình trạng vừa thừa lao động giản đơn, thủ công vừa thiếu lao động cótrình độ chuyên môn kỹ thuật, tay nghề cao.

1.033.20023.5001009,7

1.068.70592.977975.728

1.112.451112.914999.537

2 Trong độ tuổi lao

động

Tỉ lệ so với tổng dân

số

Người

%

462,87044,8

504.00046,10

549.91549,44

Nguồn: * Tư liệu thống kê 61 tỉnh thành (1999), Nxb Tổng cục thống kê, Hà Nội 2000 [22, tr 194].

* *Dân số, lao động, việc làm, NXB Tổng cục thống kê [23 tr.15].

Như vậy, vấn đề đặt ra để giải quyết việc làm cho người lao động trênđịa bàn Tỉnh trong những năm tới cần phải đẩy mạnh giáo dục và đào tạo, trướchết ưu tiên đào tạo nghề và đào tạo lại nghề cho người lao động

Bốn là, công tác tư vấn giới thiệu việc làm trong tỉnh chưa phát triển rộng khắp, chưa trở thành cầu nối giữa cung - cầu lao động Các trung tâm, dịch vụ

giới thiệu việc làm được hình thành nhưng còn mang nặng tính tự phát, quản lýlỏng lẻo, chưa thực sự là cầu nối giữa cung và cầu lao động Các trung tâm tư vấn,giới thiệu việc làm đã được hình thành, nhưng nhiều khi các trung tâm này chưabám sát được thông tin thị trường lao động, chưa thực sự nắm chắc nhu cầu việclàm của các doanh nghiệp Cơ cấu tổ chức chưa hợp lý, cơ chế hoạt động chưa rõ

Trang 27

ràng, chưa thể chế hoá thành các quy định chi tiết, cụ thể Các trung tâm tư vấnviệc làm tập trung chủ yếu ở thị xã, thị trấn, trong khi đó lao động muốn tìm việclàm chủ yếu ở nông thôn trong tỉnh Vì vậy, công tác tư vấn việc làm gặp nhiềukhó khăn Hơn nữa, hoạt động của các trung tâm tư vấn, giới thiệu việc làm chưathống nhất, còn có biểu hiện nhiều tiêu cực, chưa tạo được uy tín, niềm tin chongười lao động đang mong muốn tìm việc làm Một số kẻ cơ hội núp danh trungtâm giới thiệu việc làm để lợi dụng lừa đảo người lao động bằng các thủ đoạn rấttinh vi, tổ chức đưa người ra nước ngoài bất hợp pháp, làm hợp đồng lao độnggiả…

Mặc dù, trong các nghị quyết của Tỉnh, hàng năm đều nhấn mạnh yêu cầugiải quyết việc làm cho lực lượng lao động Song các chính sách về hỗ trợ vốn, đầu

tư sản xuất cho nông dân còn nhiều bất hợp lý, thủ tục rườm rà, đào tạo đội ngũcán bộ, phối hợp liên kết bốn nhà: nhà nông, nhà khoa học, nhà đầu tư và nhàthương nghiệp chưa được chú trọng đúng mức Tình trạng ứ đọng sản phẩm sauthu hoạch diễn ra khá phổ biến, nhiều hộ nông dân đầu tư trồng nhãn, vải, chănnuôi, sản xuất các mặt hàng kỹ nghệ… quy mô lớn nhưng không có đầu ra tiêu thụsản phẩm, một số cơ sở sản xuất phải đóng cửa, thậm chí bị phá sản, không đủ sức

để đầu tư tiếp theo dẫn đến thất nghiệp, thiếu việc làm

Những nguyên nhân chủ yếu trên đây đã làm cho tình trạng thất nghiệp,thiếu việc làm ở Hưng Yên trở nên bức xúc, tác động không nhỏ đến phát triểnkinh tế - xã hội Điều đó đặt ra trong các chính sách, kế hoạch của tỉnh phải đặcbiệt chú ý đến giải quyết tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm

1.3 Tác động của thiếu việc làm đến củng cố quốc phòng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên

1.3.1 Tư duy mới về quốc phòng và nội dung củng cố quốc phòng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên

Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng ViệtNam Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế, phảithường xuyên tăng cường củng cố quốc phòng bảo vệ Tổ quốc Củng cố quốcphòng là một nhiệm vụ chiến lược của Đảng, Nhà nước và nhân dân, là trách

Trang 28

nhiệm của tất cả các cấp chính quyền địa phương, trong đó lấy quân đội nhân dânlàm lực lượng nòng cốt Trong giai đoạn lịch sử mới yêu cầu xây củng cố quốcphòng có sự phát triển Tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc đã đặt ra cho nhiệm vụ củng

cố quốc phòng bảo vệ Tổ quốc những yêu cầu mới Nhiệm vụ quốc phòng ngàynay không chỉ nhằm bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ, vùng đất, vùng trời, vùng biểntrước các cuộc chiến tranh xâm lược của kẻ thù mà còn là bảo vệ toàn vẹn chủquyền của quốc gia trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, bảo

vệ vững chắc độc lập dân tộc, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ Đảng và nhân dânnhằm đập tan các âm mưu thủ đoạn chiến tranh vũ trang và phi vũ trang của tất cảcác đối tượng, trong bất kỳ tình huống nào Hội nghị lần thứ VIII, Ban chấp hànhTrung ương Đảng (Khoá IX) đã thông qua Nghị quyết về chiến lược bảo vệ Tổquốc trong điều kiện mới và xác định: "Tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh,quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của toàn Đảng,toàn dân, toàn quân Tiếp tục xây dựng quân đội nhân dân và công an nhân dâncách mạng chính quy tinh nhuệ và từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổquốc trong tình hình mới Củng cố hoàn thiện thế trận quốc phòng toàn dân và thếtrận an ninh nhân dân Xây dựng các cơ quan nội chính, bảo vệ pháp luật trongsạch vững mạnh"[26, tr.2]

Ngày nay tình hình thế giới đang diễn biến cực kỳ phức tạp, các thếlực đế quốc cấu kết với nhau tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược các quốc giađộc lập có chủ quyền, chiến tranh khủng bố bí mật, bất ngờ bùng phát ở mọi lúc,mọi nơi trên thế giới Điều đó đã đặt ra trong chiến lược phát triển của các nướcphải kết hợp chặt chẽ cả hai quá trình kinh tế và quốc phòng

Kết hợp kinh tế với quốc phòng là quá trình phát hiện xử lý các mâuthuẫn nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng nhằm pháthuy những mặt tích cực, hạn chế tối thiểu những mặt tiêu cực Điều này có nghĩa

là làm thế nào để mỗi bước phát triển kinh tế cũng đồng thời tăng cường củng cốquốc phòng và khi quốc phòng được củng cố vững chắc tạo môi trường quan trọng

để duy trì sự ổn định, hoà bình cho phát triển kinh tế

Trang 29

Quán triệt và thực hiện quan điểm trên, Hưng Yên không chỉ chú trọngphát triển kinh tế- xã hội nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân màcòn quan tâm đến củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn

xã hội Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV đã nhấn mạnh: "Giữvững ổn định chính trị, làm thất bại mọi âm mưu diễn biến hoà bình, bạo loạn lật

đổ của kẻ thù và sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống phức tạp có thể xảy ra Xâydựng thế trận quốc phòng toàn dân từ cơ sơ, tập dượt và hoàn chỉnh các phương ánchiến đấu, phối hợp lực lượng, bảo vệ chính trị nội bộ, phát hiện kịp thời và giảiquyết tại chỗ những mâu thuẫn trong nhân dân, không để kẻ xấu lợi dụng kíchđộng, củng cố trung đội dân quân thường trực tại cơ sở, ngăn chặn mọi loại tộiphạm, làm chuyển biến rõ rệt về trật tự an toàn xã hội Xây dựng lực lượng quânđội nhân dân, công an nhân dân trong địa bàn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và

tổ chức, tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp của cấp uỷ, sự quản lý của Nhà nước đốivới nhiệm vụ quốc phòng"[7, tr.32]

Nghị quyết Đại hội đảng bộ tỉnh Hưng Yên là cơ sở xác định nhữngnhiệm vụ, phương hướng cơ bản tăng cường củng cố quốc phòng trên địa bàn tỉnh.Trong điều kiện mới, nhiệm vụ quốc phòng của Tỉnh được xác định một số nộidung chủ yếu sau đây:

Một là, xây dựng cơ sở kinh tế cho quốc phòng Sức mạnh quốc phòng là

sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, khoa học

kỹ thuật, nghệ thuật quân sự, thế trận… trong đó kinh tế là nhân tố giữ vai trò cơbản đối với tăng cường sức mạnh quốc phòng Giải quyết việc làm thực chất là tậndụng và phát huy tiềm năng lao động sản xuất của cải vật chất cho xã hội Qua đónhằm phát triển kinh tế nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân, đồngthời tạo tiền đề vật chất để tăng cường, củng cố quốc phòng Để thực hiện được sựkết hợp cả hai quá trình đó phải đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướngCNH, HĐH, cho phép khai thác tối ưu mọi nguồn lực của tỉnh để đẩy mạnh pháttriển kinh tế, tăng khả năng tích luỹ và nộp ngân sách cho nhà nước Trên cơ sở đó

sẽ có điều kiện để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, xây dựng

cơ sở hậu cần tại chỗ đáp ứng kịp thời nhu cầu lực lượng vũ trang nhân dân địa

Trang 30

phương Đồng thời tạo điều kiện xây dựng khu vực phòng thủ vững mạnh, xâydựng làng xã, căn cứ chiến đấu, tăng cường củng cố quốc phòng.

Hai là, xây dựng về mặt chính trị Đây là yêu cầu hết sức quan trọng,

là cơ sở vững chắc tạo nên sức mạnh tổng hợp xây dựng nền quốc phòng toàn dân

và thế trận an ninh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Giải quyết việc làm sẽ có điều kiệncải thiện thu nhập cho người lao động, nhờ đó mà từng bước ổn định, nâng cao đờisống Đồng thời cũng là điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh công tác tuyên truyền,giáo dục cho quần chúng nhân dân hiểu và thực hiện đường lối chính sách củađảng, pháp luật của nhà nước, nhiệm vụ của địa phương, tin yêu vào chế độ Qua

đó xây dựng "thế trận lòng dân" sẵn sàng đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn "diễn biếnhoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, thực hiện mục tiêu "dân giầunước mạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" theo định hướng XHCN

Ba là, xây dựng về mặt văn hoá, xã hội đó là đẩy mạnh sự nghiệp giáo

dục, đào tạo, nâng cao trình độ dân trí, chú trọng đào tạo nghề, chăm lo đời sốngvật chất và tinh thần của nhân dân trong Tỉnh Bảo tồn, phát huy truyền thống vănhoá của địa phương, của dân tộc, giáo dục ý thức đoàn kết, nhân ái, thuỷ chung,trọng đạo lý, xây dựng con người mới XHCN Giải quyết chính sách xã hội, thựchiện dân chủ hoá mọi mặt đời sống xã hội, xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc,đẩy lùi các tệ nạn, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Làm tốt đượcnhững nội dung trên đó cũng chính là xây dựng và tăng cường khả năng quốcphòng của Tỉnh

Bốn là, xây dựng nền quốc phòng toàn dân ở địa bàn tỉnh Hưng Yên

về mặt quân sự

Đây là nhiệm vụ giữ vai trò quan trọng, là hạt nhân tạo nên sức mạnhcủa nền quốc phòng toàn dân Nội dung nhiệm vụ quân sự bao gồm xây dựng lựclượng, xây dựng thế trận, xây dựng cơ sở hậu cần tại chỗ nhằm tạo ra sức mạnhquốc phòng trong khu vực phòng thủ tỉnh

- Về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong tỉnh Hưng Yên gồm:

bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên

Trang 31

Đối với xây dựng bộ đội địa phương tỉnh, đây là lực lượng nòng cốt của lực

lượng vũ trang tỉnh Bộ đội địa phương Tỉnh cần được xây dựng tinh nhuệ về kỹ,chiến thuật, vững vàng về chính trị, cơ động nhanh, linh hoạt đáp ứng tốt với yêucầu của địa phương tăng cường sức mạnh phòng thủ Tỉnh

Đối với lực lượng dân quân tự vệ, trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá

nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường với tính chất có nhiều biến độngphức tạp, đòi hỏi tổ chức dân quân tự vệ phải gọn nhẹ, gắn với tổ chức hành chính:

xã, thôn, phố, xí nghiệp… trên từng địa bàn, gắn với tổ chức ngành nghề trong sảnxuất và phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, theophương châm mỗi đơn vị sản xuất độc lập có một bộ phận bảo vệ sản xuất với sốlượng thích hợp Hiện nay ở Hưng Yên lực lượng dân quân tự vệ được tổ chức ởmỗi xã có một trung đội dân quân tự vệ cơ động, mỗi thôn có một tiểu đội dânquân bảo vệ, ở mỗi huyện có một trung đội dân quân đặc nhiệm, (thành phần lựachọn số dân quân ở các xã gần trung tâm huyện) Lực lượng này vẫn là thành viênlao động trong các xí nghiệp, các thành phần kinh tế, nhưng khi cần có thể huyđộng được ngay Trên toàn tỉnh có 6.690 dân quân thường trực (cơ động) và12.532 dân quân tự vệ làm lực lượng chiến đấu tại chỗ; 4.422 dân quân trong lựclượng binh chủng, đặc nhiệm [2, tr.1-26]

Đối với xây dựng lực lượng dự bị động viên: với phương châm "ngụ

binh ư nông", yêu cầu thực hiện tốt việc đăng ký và huấn luyện lực lượng dự bịđộng viên định kỳ, nâng cao trình độ kỹ chiến thuật và chất lượng tổng hợp, bảođảm sẵn sàng huy động bổ sung cho lực lượng chủ lực và bảo vệ địa bàn Trên địabàn tỉnh có một trung đoàn dự bị động viên, mỗi huyện có một tiểu đoàn Đến năm

2003 toàn tỉnh đã quản lý và huấn luyện 94.220 quân dự bị động viên [2, tr.126]

- Về xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên địa bàn tỉnh Hưng Yên là xây dựng hệ thống làng, xã chiến đấu, các cụm chiến đấu liên hoàn, các khu

vực phòng thủ then chốt, các hướng chủ yếu, xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng;đường hướng cơ động lực lượng, thông tin, kho tàng, bến bãi trên địa bàn tỉnhHưng Yên Kết hợp chặt chẽ giữa thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận anninh nhân dân, lấy "thế trận lòng dân" làm cơ sở phát huy sức mạnh tổng hợp của

Trang 32

nhân dân trong tỉnh tham gia xây dựng quê hương giầu mạnh, quốc phòng-an ninhvững chắc.

- Về xây dựng cơ sở hậu cần, kỹ thuật tại chỗ: Đó là quá trình chuẩn

bị các cơ sở sản xuất dịch vụ mang tính lưỡng dụng, vừa đáp ứng cho nhu cầu đờisống vừa sẵn sàng bảo đảm cho quốc phòng bao gồm: lương thực, thực phẩm, cácphương tiện kỹ thuật lưỡng dụng có thể sử dụng cho phát triển kinh tế và sẵn sàngchuyển sang phục vụ quốc phòng trên địa bàn tỉnh

Tóm lại, nhiệm vụ củng cố quốc phòng ở tỉnh Hưng Yên là toàn diện

trên tất cả các mặt: kinh tế, chính trị, văn hoá, quân sự Các mặt đó có quan hệ gắn

bó chặt chẽ với nhau tạo thành sức mạnh tổng hợp của nền quốc phòng toàn dân

Do đó, giải quyết việc làm, phát triển kinh tế phải luôn gắn kết chặt chẽ với củng

cố quốc phòng Thực chất là giải quyết việc làm phải làm tăng sức mạnh tổng hợpcủa cả kinh tế và củng cố quốc phòng, khi quốc phòng được củng cố, kinh tế pháttriển, lại tạo điều kiện cơ sở để giải quyết tốt hơn việc làm cho người lao động

1.3.2 Tác động của thiếu việc làm đến củng cố quốc phòng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên

Với tư cách là một nhân tố kinh tế trong mối quan hệ với quốc phòng thiếuviệc làm tác động đến nền quốc phòng có thể được xem xét theo các khía cạnh sauđây:

Một là, ảnh hưởng đến cơ sở kinh tế- xã hội của quốc phòng

Xét theo góc độ kinh tế, sức mạnh quốc phòng ở Hưng Yên được cấu thànhbởi các yếu tố: Nguồn ngân sách cho củng cố quốc phòng, cơ sở hạ tầng kỹ thuậtsẵn sàng bảo đảm cho quốc phòng; bảo đảm cung cấp lương thực, thực phẩm hậucần tại chỗ cho quốc phòng và trang thiết bị phục vụ cho quốc phòng… Thiếu việclàm có tác động đến tất cả các nội dung trên theo hướng cơ bản sau đây:

- Thiếu việc làm hạn chế khả năng lao động sản xuất ra của cải vật chất, giảm nguồn thu ngân sách, ảnh hưởng đến cung cấp nguồn ngân sách củng cố quốc phòng Hưng Yên có lợi thế nguồn lao động trẻ giầu tiềm năng tri thức, có

truyền thống lao động cần cù sáng tạo Trong điều kiện nguồn tài nguyên khanhiếm thì việc tăng trưởng kinh tế của Hưng Yên phụ thuộc chủ yếu vào tăng sức

Trang 33

sản xuất Lao động, việc làm, và các nguồn lực khác là những nhân tố có quan hệgắn bó chặt chẽ với nhau, tạo nên sự tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng kinh tế lại làđiều kiện để khai thác tốt hơn các nguồn lực, giải quyết việc làm Giải quyết việclàm đầy đủ cho người lao động chính là tận dụng hết nguồn lực quan trọng và dồidào để khai thác có hiệu quả tiềm năng về tài nguyên, thiên nhiên, nâng cao nănglực sản xuất, thúc đẩy kinh tế của Tỉnh tăng trưởng Sự tăng trưởng cao bền vữngđến lượt nó sẽ là điều kiện vật chất để đẩy mạnh các hoạt động quốc phòng trongphạm vi tỉnh Song thiếu việc làm sẽ phá vỡ mối quan hệ tác động qua lại đó, gâyhậu quả là cản trở sự phát triển kinh tế và hạn chế khả năng cung cấp cho quốcphòng Thất nghiệp, thiếu việc làm hạn chế phát triển kinh tế biểu hiện ở nguồn thungân sách của Hưng Yên còn thấp, năm 2002 ngân sách của tỉnh mới chỉ đáp ứngđược khoảng 44% chi thường xuyên, còn lại dựa vào nguồn ngân sách nhà nước.Thất nghiệp, thiếu việc làm ở Hưng Yên còn ở mức cao hạn chế mức tăng trưởngkinh tế Điều đó được thể hiện rõ ở mức tăng trưởng bình quân GDP/ người thấp.[Xem bảng 1.6]

Bảng 1.6 Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Hưng Yên

2,581,2

3.105,5

4.090,6

5.006GDP bình quân đầu

người

Nguồn: Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2003 và phương hướng mục tiêu năm 2004 của UBND tỉnh Hưng Yên, Số 04/BC-UB [31, tr 6].

Như vậy, hiện nay Hưng Yên vẫn là một tỉnh nghèo, khó khăn nhất ở vùngđồng bằng sông Hồng Mức tăng trưởng GDP bình quân đầu người thấp hơn sovới các tỉnh khác trong vùng (năm 2001 thu nhập bình quân đầu người Hưng Yênchỉ đạt 297 USD, khi đó ở tỉnh Hải Dương là 330 USD), cho đến hết năm 2002 thu

Trang 34

ngân sách của tỉnh đạt xấp xỉ 165 tỉ đồng chỉ đáp ứng được 44% nhu cầu chithường xuyên của tỉnh [31, tr.6].

- Thiếu việc làm trong nền kinh tế thị trường ảnh hưởng đến công tác đảm bảo trang thiết bị và hậu cần tại chỗ cho khu vực phòng thủ tỉnh Trong nền kinh tế

thị trường mọi hoạt động kinh tế đều diễn ra một cách tự do dưới tác động của cácquy luật thị trường, các chủ doanh nghiệp lựa chọn những nơi có lợi, chi phí thấp

để tổ chức sản xuất, kinh doanh Thiếu việc làm, người lao động sẽ di chuyển tự do

để tìm việc làm phù hợp với bản thân Điều đó dẫn đến lao động, vật tư, phươngtiện từ lĩnh vực này, ngành này sẽ di chuyển đến lĩnh vực khác, ngành hàng khác,nhiều khi dẫn đến mất cân đối về cơ cấu ngành nghề của lao động, cơ cấu mặt hàngkhông phù hợp với sự tính toán của thế bố trí chiến lược trong khu vực phòng thủ,ảnh hưởng đến khả năng bảo đảm lương thực, thực phẩm, nguyên, nhiên liệu, trang

bị vật chất, kỹ thuật cho củng cố quốc phòng

- Thiếu việc làm là một trong những nguyên nhân cơ bản của những vấn đề

xã hội phức tạp ảnh hưởng đến củng cố quốc phòng - an ninh Trong nền kinh tế

thị trường, thất nghiệp, thiếu việc làm không chỉ hạn chế phát triển kinh tế mà còn

là nguyên nhân gây lên vấn đề xã hội phức tạp Các công trình nghiên cứu và khảosát thực tiễn tình hình gia tăng tệ nạn xã hội trong những năm gần đây cho thấy,người phạm tội phần lớn là những người không có việc làm Không có việc làm,không có thu nhập, đói nghèo và các tệ nạn xã hội thường là những hiện tượng xãhội song hành Thiếu việc làm nhiều thanh niên sa vào tệ nạn nghiện hút, nhiềuphụ nữ trở thành gái mại dâm Thiếu việc làm nhiều người lao động đành phải tiếptay cho bọn buôn lậu, vận chuyển hàng cấm Những hiện tượng đó làm phức tạptình hình trật tự an toàn xã hội Để khắc phục các tệ nạn này hàng năm tỉnh phảichi nguồn ngân sách khá lớn, do đó làm giảm nguồn vốn đầu tư cho phát triển sảnxuất Mặt khác, vì việc làm và cuộc sống mà những người thất nghiệp, thiếu việclàm sẵn sàng xâm lấn, chặt phá cảnh quan khu di tích lịch sử văn hoá, khai tháccát… bất chấp pháp luật đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến bảo vệ đê điều và cảnhquan khác Việc đào đất ruộng canh tác, đốt gạch, ngói diễn ra một cách tự do chưa

Trang 35

kiểm soát dễ làm sạt lở đê, bạc mầu đất, ô nhiễm môi trường vì khói và chất thảikhác.

Như vậy, giải quyết tình trạng thiếu việc làm vừa là chính sách kinh tế, vừa

là chính sách xã hội vì con người, do con người Quan tâm đến giải quyết việc làmcho người lao động là yêu cầu cấp bách trên địa bàn tỉnh, đó vừa là biện pháp tăngsức sản xuất, tăng năng suất lao động, phát triển kinh tế và góp phần tăng cườngsức mạnh quốc phòng

Hai là, khó khăn trong đảm bảo nguồn nhân lực cho củng cố quốc phòng trên địa bàn tỉnh

Thiếu việc làm là nguyên nhân dẫn đến đói nghèo, đến lượt nó đói nghèo lạiảnh hưởng đến sự phát triển thể lực, trí lực và kể cả trạng thái tâm lý, tinh thần củacon người Suy rộng là ảnh hưởng đến chất lượng nguồn lực lao động xã hội Theo

đó gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực cho quốc phòng Sự tácđộng đó biểu hiện theo các khía cạnh dưới đây:

- ảnh hưởng đến chất lượng nguồn lực xã hội

Thất nghiệp, thiếu việc làm là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến đói nghèo,phân hóa thu nhập Do thất nghiệp thiếu việc làm mà thu nhập của người lao độngkhông ổn định, đời sống bấp bênh, gặp không ít khó khăn, cơ hội học hành tiếnthân của bản thân họ và con em họ là không thuận lợi Thiếu việc làm dẫn đến thunhập thấp, chất lượng cuộc sống giảm sút ảnh hưởng đến thể lực và trí tuệ Khi thểlực và trí lực không đáp ứng được với nhu cầu thị trường lao động lại trở thànhngười thất nghiệp, thiếu việc làm Đó là cái "vòng luẩn quẩn" do tình trạng thiếuviệc làm gây ra, muốn phá vỡ được nó phải giải quyết việc làm cho người laođộng, nâng cao năng suất lao động Thực trạng những hộ nghèo đói ở Hưng Yênchủ yếu là do thất nghiệp, thiếu việc làm Đến năm 2002 Hưng Yên vẫn còn 19000

hộ nghèo, thu nhập bình quân ở nông thôn chỉ đạt 2,1 triệu đồng/năm [27, tr.10].Quan ngại hơn là phân hoá giầu nghèo đang có xu hướng gia tăng, ảnh hưởng xấuđến tâm lý của dân cư đối với các chính sách xoá đói, giảm nghèo, giải quyết việclàm của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương

Trang 36

Thể lực, trí lực người lao động nhân tố quyết định năng suất chất lượng vàhiệu quả kinh tế Đến lượt nó năng suất chất lượng và hiệu quả kinh tế lại là cơ sởvật chất đáp ứng cho nhu cầu tái sản xuất sức lao động Để tái sản xuất sức laođộng cần có nhiều yếu tố, trong đó ăn, ở, học hành là yếu tố cơ bản đầu tiên quyếtđịnh Nhưng để có được những cái thiết yếu đó lại phụ thuộc vào lao động sản xuấtvật chất Trong nền kinh tế thị trường, người lao động không có việc làm đồngnghĩa với việc không có thu nhập, tức là không có đầy đủ các yếu tố để bảo đảm táisản xuất sức lao động, thể lực, trí lực thấp kém Biểu hiện rõ ở chỉ số chiều caotrung bình của dân cư nông thôn hiện nay cao khoảng 156cm, trong đó nam161cm, nữ là 151cm lần lượt thấp hơn thành thị là: 0,8 cm, 0,9cm, tương tự cânnặng trung bình của nam nông thôn là 51kg, nữ là 45 kg, lần lượt nhẹ hơn cân nặngtrung bình của nam, nữ thành thị là: 3,1 và 4,4kg [20, tr.47] Chỉ số đó cho thấymức sống của cư dân nông thôn thấp hơn mức sống thành thị, mà nguyên nhân chủyếu là do thiếu việc làm và năng suất lao động thấp Điều đó, ảnh hưởng đến sứcsản xuất và khả năng chịu đựng, tính dẻo dai, bền bỉ trong môi trường quân sự đầykhắc nghiệt.

Thiếu việc làm dẫn đến thu nhập thấp, đời sống kinh tế khó khăn, do đóthiếu những điều kiện cần thiết để đảm bảo việc học tập nâng cao trình độ cho bảnthân và gia đình họ Ngược lại, trong nền kinh tế thị trường, khi người lao độngkhông đủ các điều kiện về sức khoẻ, trình độ văn hoá, chuyên môn nghề nghiệp thìnguy cơ thất nghiệp, thiếu việc làm tăng lên Một bộ phận nguồn nhân lực ở HưngYên đang rơi vào vòng luẩn quẩn đó Biểu hiện là số người đủ 15 tuổi trở lên hoạtđộng kinh tế thường xuyên chưa biết chữ chiếm 0,55%; chưa tốt nghiệp tiểu học6,12%, đã tốt nghiệp tiểu học 16,73%, đã tốt nghiệp phổ thông cơ sở 55,34%, tốtnghiệp phổ thông trung học 21,4% Đặc biệt tỉ lệ số lao động hoạt động kinh tếthường xuyên chưa qua đào tạo nghề chiếm tới 76,3%, số lao động hoạt động kinh

tế thường xuyên qua đào tạo nghề được cấp bằng là 10,99% [23, tr.39] Như vậy,

số người có trình độ tiểu học, phổ thông cơ sở và số lao động chưa qua đào tạonghề chiếm phần lớn trong tổng số lao động ở Hưng Yên, điều đó cho thấy chấtlượng nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng còn hạn chế,

Trang 37

chưa đáp ứng tốt yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, và xâydựng nền quốc phòng toàn dân trên địa bàn Tỉnh vững mạnh.

- Khó khăn trong quản lý, huy động nguồn nhân lực tham gia dân quân tự

vệ và quân dự bị động viên.

Dân quân tự vệ và quân dự bị động viên là lực lượng có vai trò to lớn trongquá trình xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân, cũngnhư xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh Nhưng dưới tác động của tình trạng thiếuviệc làm, việc huy động, quản lý nguồn nhân lực cho hai lực lượng này đang cónhững khó khăn, trở ngại nhất định Dưới tác động của kinh tế thị trường và yêucầu của giải quyết việc làm, sự biến động của các doanh nghiệp thường xuyên diễn

ra trên địa bàn tỉnh, đã gây nên không ít khó khăn trong việc tổ chức biên chế lựclượng và quản lý quân số (chưa nói đến chất lượng huấn luyện đào tạo đội ngũnày) Thiếu việc làm, những ngày nông nhàn, lực lượng lao động trẻ khoẻ "lyhương" đi làm thuê khắp các địa phương trong cả nước Với thời gian lao độngtrung bình ở nông thôn Hưng Yên là 240 ngày/ năm, còn có khoảng gần 1/3 (Xemphụ lục 4) quỹ thời gian lao động trong năm không có việc làm, buộc họ dời quêhương đi tìm kiếm việc làm ở các đô thị lớn, và một số nơi khác Nhiều làng xãhầu như chỉ còn lại người già và trẻ em trong các ngày nông nhàn Qua điều tra ở

xã Nhật Quang- Ân Thi; Duyệt Văn - Phủ Cừ và Từ Hồ- Khoái Châu sau khi thuhoạch mùa màng song lực lượng lao động đã di chuyển đi làm thuê ở các địaphương khác chiếm tới 85% tổng lực lượng lao động, và số di dời này chủ yếu làthanh niên và bộ đội xuất ngũ chiếm tỉ lệ 57,5 tổng lực lượng "ly hương" của 3thôn này Điều đó làm cho công tác quản lý dân số, lao động nói chung và quản lýlực lượng dự bị động viên dân quân tự vệ gặp rất nhiều khó khăn Vào những ngàynông nhàn, lực lượng dự bị động viên và dân quân tự vệ thường không có mặt ởđịa bàn Đến ngày mùa họ lại trở về, công việc mang tính thời vụ, hết việc họ lại đilàm thuê ảnh hưởng lớn đến xây dựng lực lượng phòng thủ, rất khó khăn cho côngtác quản lý các đối tượng, chế độ báo cáo đăng ký tạm vắng, thời gian vắng, địa chỉliên lạc, bố trí thời gian địa điểm huấn luyện, và tiêu tốn một khoản ngân sách quốc

Trang 38

phòng cho gọi tập trung huấn luyện Đặc biệt, khi có tình huống xẩy ra bất thườngkhó có thể triển khai kế hoạch một cách kịp thời, nhanh chóng.

Ba là, thiếu việc làm ảnh hưởng yếu tố chính trị tinh thần của nhân dân theo hướng bất lợi cho củng cố quốc phòng

Để bảo vệ vững chắc khu vực phòng thủ, củng cố sức mạnh quốc phòng ởHưng Yên đòi hỏi phải phát huy sức mạnh tổng hợp, trong đó yếu tố quan trọnghàng đầu là xây dựng bản lĩnh chính trị, nâng cao nhận thức tư tưởng, trình độnăng lực, đạo đức lối sống và lý tưởng cách mạng cho mọi người dân để trong mọitình huống sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu thủ đoạn diễn biến hoà bình, bạo loạnlật đổ của kẻ thù

Ngày nay, trong điều kiện đất nước có hoà bình, chúng ta tập trung mọinguồn lực để phát triển kinh tế Trong đó nguồn lực lao động có vai trò quyết định.Nguồn lao động được phát huy triệt để sẽ đẩy nhanh sự phát triển kinh tế, tăngcường tiềm lực quốc phòng Ngược lại, lao động thiếu việc làm sẽ gây khó khăn cho củng cố quốc phòng Thiếu việc làm dẫn đến đói nghèo, phân hoá giầu nghèo,

từ đó tác động đến tâm tư, tình cảm, ý thức chính trị của nhân dân Điều đó đượcbiểu hiện ở ý thức của một bộ phận dân cư thất nghiệp, thiếu việc làm có sự biếnđổi theo chiều hướng ít quan tâm đến nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xây dựng khu vựcphòng thủ Công tác giáo dục truyền thống cách mạng, niềm tự hào của quê hương,đất nước, ý chí tự lực, tự cường, công tác giáo dục quốc phòng gặp rất nhiều khókhăn, chưa trở thành hệ thống và hiệu quả chưa cao Ý thức tự do di chuyển tìmviệc làm trở thành thói quen của một bộ phận thanh niên thiếu việc làm khi thamgia các lực lượng vũ trang sẽ rất khó uốn nắm theo kỷ luật quân đội

Lao động thiếu việc làm là nguyên nhân dẫn đến thu nhập thấp, đói nghèo,phân hoá giầu nghèo, đời sống của lực lượng này gặp nhiều khó khăn Theo điềutra ở Hưng Yên, khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa nhóm 5% cao nhất vớinhóm 5% thấp nhất là 20 lần, còn giữa nhóm 20% có mức thu nhập cao nhất vớinhóm 20% có mức thu nhập thấp nhất là13 lần [27,tr.10] Trong thực tế, nhữngnăm gần đây khoảng cách giữa người giầu và người nghèo ở Hưng Yên nói riêng

và cả nước nói chung đang có xu hướng doãng ra Sự phân hoá giầu nghèo ngày

Trang 39

càng gia tăng điều đó tác động trực tiếp đến tâm lý tình cảm của người lao độngđối với các cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương Niềm tin của quần chúng nhândân vào chính sách của Đảng, Nhà nước và các cấp uỷ đảng, chính quyền địaphương bị giảm sút Từ đó nảy sinh những hoài nghi, giao động vào mục tiêu conđường XHCN Khi niềm tin và ý thức chính trị bị giảm sút thì việc huy động cácnguồn lực cho tăng cường sức mạnh quốc phòng sẽ bị hạn chế Việc huy động cácnguồn lực của nhân dân cho sự nghiệp củng cố quốc phòng gặp nhiều khó khăn.

Tóm lại, những tác động của thiếu việc làm đến phát triển kinh tế và củng cố

quốc phòng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên là những tác động trái chiều, nó trở thànhmột trong những nguyên nhân chủ yếu kìm hãm sự phát triển kinh tế và ảnh hưởngsức mạnh quốc phòng trên địa bàn tỉnh Điều đó đặt ra yêu cầu cấp bách phải giảiquyết việc làm cho người lao động kết hợp với tăng cường củng cố quốc phòng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên

1.3.3 Những vấn đề đặt ra trong giải quyết việc làm kết hợp với củng cố quốc phòng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên

Một là, chưa có sự kết hợp chặt chẽ giữa giải quyết việc làm với tăng cường củng cố quốc phòng trong xây dựng kế hoạch, quy hoạch phát triển kinh tế

- xã hội của tỉnh

Tình trạng thất nghiệp thiếu việc làm và tác động trái chiều của nó tới củng

cố quốc phòng có nhiều nguyên nhân, một trong những nguyên nhân cơ bản là dothiếu sự kết hợp chặt chẽ giữa các chương trình, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế,giải quyết việc làm với củng cố quốc phòng Mặc dù, UBND tỉnh đã có chươngtrình kế hoạch giải quyết việc làm cho người lao động đến năm 2010, song chươngtrình kế hoạch đó còn ở tầm vĩ mô, các cấp chính quyền huyện, xã, thị trấn trongtỉnh quán triệt chưa kỹ và triển khai thực hiện thiếu đồng bộ các chương trình giảiquyết việc làm, phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng trên địa bàn Phần lớncác huyện, phường, thị trấn, chưa xây dựng được kế hoạch cụ thể phù hợp với địabàn về giải quyết tình trạng thiếu việc làm Do đó, chương trình kế hoạch, dự ántriển khai thực hiện chưa ăn khớp với giải quyết việc làm cho người lao động, mâuthuẫn giữa cầu lao động chất lượng cao với cung lao động chất lượng thấp chưa

Ngày đăng: 19/12/2016, 08:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w