Nguồn nhân lực có vai trò quan trọng trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội, nhất là khi kinh tế tri thức đang dần chiếm vị thế và trở thành xu hướng phát triển tất yếu của nền kinh tế thế giới hiện nay thì NNL trở thành nguồn lực chủ yếu giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển.
Trang 11 1 Nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 11
1 2 Vai trò của quân đội trong phát triển nguồn nhân lực phục vụ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay 261.3 Những thành tựu và hạn chế trong phát huy vai trò
của quân đội trong phát triển nguồn nhân lực phục vụcông nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay 46
Chương 2 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY
VAI TRÒ CỦA QUÂN ĐỘI TRONG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC PHỤC VỤ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 57
2 1 Một số định hướng cơ bản nhằm phát huy vai trò của
quân đội trong phát triển nguồn nhân lực phục vụ côngnghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay 572.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy hơn nữa vai
trò của quân đội trong phát triển nguồn nhân lực phục
vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay 68
Trang 3VIẾT ĐẦY ĐỦ VIẾT TẮT
Trang 4MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Nguồn nhân lực có vai trò quan trọng trong quá trình tăng trưởng và pháttriển kinh tế - xã hội, nhất là khi kinh tế tri thức đang dần chiếm vị thế và trởthành xu hướng phát triển tất yếu của nền kinh tế thế giới hiện nay thì NNLtrở thành nguồn lực chủ yếu giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển
Trong sự nghiệp đổi mới và đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước hiện nay, Đảng
ta xác định phát triển GDĐT con người Việt Nam là một trong những nhiệm vụquan trọng, là “quốc sách hàng đầu” quyết định sự thành công của cách mạngViệt Nam Tuy nhiên, chất lượng GDĐT của chúng ta còn thấp với nhiều yếukém và bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế Do vậy, pháttriển NNL là đòi hỏi bức thiết, khách quan để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩymạnh CNH,HĐH, là yếu tố hàng đầu bảo đảm cho sự phát triển bền vững của đấtnước
Quân đội ta với chức năng là đội quân chiến đấu, đội quân công tác, độiquân sản xuất, vừa phải làm tốt những chức năng trên vừa phải tham gia vàoquá trình CNH,HĐH đất nước Với những tiềm năng về nhân lực, về khoa họccông nghệ và kinh nghiệm trong công tác đào tạo, quân đội là một trongnhững nguồn lực của quốc gia không chỉ góp phần thực hiện thắng lợi sựnghiệp CNH,HĐH đất nước mà còn trực tiếp tham gia đào tạo, phát triểnNNL cho các mục tiêu kinh tế xã hội và quốc phòng, an ninh trong giai đoạn
Trang 5hiện nay Một trong những nội dung đó là tham gia đào tạo, phát triển NNLphục vụ CNH,HĐH ở nước ta hiện nay Thực tiễn trong thời gian quaHTNTQĐ và các đơn vị trong toàn quân đã và đang có những đóng góp to lớntrong sự nghiệp CNH,HĐH nói chung và phát triển NNL nói riêng.
Với mong muốn nghiên cứu một cách hệ thống nhằm làm rõ thêm cơ sở
lý luận và thực tiễn của vấn đề này, tác giả lựa chọn đề tài “Vai trò của quân đội trong phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay” làm nội dung nghiên cứu của luận văn.
2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ở nước ta, vấn đề NNL và phát triển NNL trong quá trình CNH,HĐH đãđược nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở các góc độ khác nhau, cả trong vàngoài quân đội Có thể khái quát thành các nhóm nghiên cứu sau:
* Nhóm các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học ngoài quân đội
- Con người và nguồn lực con người trong phát triển của Trung tâm
khoa học xã hội nhân văn quốc gia, H, 1995
Cuốn sách đã tập hợp các bài viết, công trình nghiên cứu của nhiều tácgiả trên thế giới bàn về vấn đề con người theo các góc độ khác nhau; về động
cơ hoạt động của con người; mô hình mới về sử dụng nguồn lực con người;trí tuệ hoá lao động và đào tạo chuyên môn; tiếp cận mới đối với chính sáchviệc làm, con người và môi trường
Trang 6Phát huy nguồn lực con người để công nghiệp hoá, hiện đại hoá của
Tiến sĩ Vũ Bá Thể, Nxb Lao động - xã hội, H, 2005
Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm phát triển NNL của một số nước trênthế giới và thực trạng NNL ở nước ta, tác giả đã đưa ra những quan điểm vềNNL và phát triển NNL; vai trò của NNL đối với tăng trưởng kinh tế và sựnghiệp CNH,HĐH ở Việt Nam Đồng thời, đưa ra định hướng và những giảipháp nhằm phát huy nguồn lực con người ở nước ta hiện nay
- Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam của Tiến sĩ Đoàn Văn Khái, Nxb Lý luận Chính trị, H, 2005.
Tác giả đã trình bày một số vấn đề chung về CNH,HĐH trên thếgiới và Việt Nam; vai trò của nguồn lực con người trong quá trìnhCNH,HĐH; thực trạng nguồn lực con người ở Việt Nam và những vấn đềđặt ra trước yêu cầu CNH,HĐH; những giải pháp cơ bản nhằm khai thác
và phát triển có hiệu quả nguồn lực con người đáp ứng yêu cầuCNH,HĐH ở Việt Nam hiện nay
- Phát triển nguồn nhân lực - kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta
của Tiến sĩ Trần Văn Tùng và Lê Ái Lâm, H, 1998
Cuốn sách đã khái quát những kinh nghiệm về phát triển NNL của các nướcphát triển trên thế giới Tuy nhiên, cuốn sách chưa trình bày nội dung tổng quátcủa phát triển NNL như chăm sóc sức khoẻ, nâng cao mức sống, việc làm… màtập trung vào lĩnh vực GDĐT - yếu tố quyết định phát triển NNL
Trang 7- Từ chiến lược phát triển giáo dục đến chính sách phát triển nguồn nhân lực của Viện phát triển giáo dục, H, 2002.
Cuốn sách đã tập hợp kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học và cácnhà quản lý ở nhiều lĩnh vực khoa học kinh tế và xã hội khác nhau với mụctiêu thống nhất quan điểm, chính sách về phát triển NNL Đồng thời, đề xuấtmột khung chính sách phát triển NNL nhằm triển khai thành công các mụctiêu đề ra trong chiến lược phát triển GDĐT
- Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước của Tiến sĩ Nguyễn Thanh, Nxb CTQG, H, 2005.
Tác giả đã luận giải rõ: phát triển NNL là yếu tố quyết định sự thànhcông của sự nghiệp CNH,HĐH, đồng thời nêu lên một số thực trạng về pháttriển NNL có chất lượng, trên cơ sở đó đưa ra một số định hướng chủ yếutrong phát triển NNL cho CNH,HĐH ở nước ta hiện nay
- “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội
nhập quốc tế” của Tiến sĩ Phạm Công Nhất, Tạp chí Lý luận chính trị, số
3/2008
Tác giả đã khái quát kết quả hơn hai mươi năm đổi mới đất nước và hơnmột năm gia nhập Tổ chức thương mại thế giới, đồng thời chỉ rõ thực trạngphát triển NNL ở nước ta và đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm nâng caochất lượng NNL đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và sự nghiệpCNH,HĐH đất nước
Trang 8* Nhóm các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong quân đội
- “Tài nguyên chất xám, tài nguyên con người, nhân tố quyết định sựphát triển của đất nước trong giai đoạn chuyển sang thời kỳ mới - thời kỳ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” của Lê Khả Phiêu, Quốc phòng, an ninh trong công cuộc đổi mới đất nước, Nxb QĐND, H, 1997
Tác giả đã nhấn mạnh vai trò của GDĐT đối với sự phát triển kinh tế
-xã hội Theo tác giả, trong mọi điều kiện của nền kinh tế thì nguồn tài nguyêncon người, tài nguyên chất xám là nhân tố quyết định sự phát triển, đặc biệtkhi nguồn lực tài chính và vật chất ở nước ta hiện nay còn hạn hẹp
- Quân đội nhân Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng nền kinh tế đất nước trong tình hình hiện nay của Vũ Thanh Chế, Luận án tiến sĩ, Học viện
- Xây dựng và phát triển các khu kinh tế - quốc phòng ở nước ta hiện nay và vai trò của quân đội trong quá trình đó của Trần Xuân Phương, Luận
án tiến sĩ, Học viện Chính trị quân sự, 2003
Trang 9Tác giả đã luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng, phát triểncác khu kinh tế - quốc phòng cũng như vai trò của quân đội trong xây dựng và pháttriển các khu kinh tế và quốc phòng ở nước ta hiện nay Từ đó, đề xuất một số quanđiểm và giải pháp cơ bản để xây dựng và phát triển các khu kinh tế - quốc phòng.
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam và vai trò của quân đội trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, của Nguyễn Minh
Khải, Luận án phó tiến sĩ, Học viện Chính trị quân sự, 1996
Tác giả đã làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về CNH,HĐH ở ViệtNam, đồng thời làm rõ vai trò của quân đội trong sự nghiệp CNH,HĐH đấtnước và những giải pháp chủ yếu để tiến hành CNH, HĐH cũng như sử dụngnguồn lực quân đội trong quá trình đó
- “Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước với công cuộc củng
cố nền quốc phòng toàn dân, xây dựng Quân đội nhân dân” của Đoàn Khuê,
Xây dựng quân đội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
Nxb QĐND, H, 1997
Tác giả nói về mục tiêu, quan điểm, tư tưởng cơ bản của CNH,HĐH màĐảng ta đã khẳng định Đồng thời chỉ rõ: sự nghiệp CNH,HĐH đất nước theođịnh hướng XHCN càng vĩ đại, thì trách nhiệm xây dựng, củng cố nền quốcphòng toàn dân vững mạnh, xây dựng Quân đội nhân dân chính quy, hiện đạicàng là yêu cầu bức thiết
Trang 10- Tác động của đào tạo NNL trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đến củng cố quốc phòng ở nước ta hiện nay của Bùi Thúc Vịnh, Luận
văn cao học Kinh tế chính trị, Học viện Chính trị quân sự, 2000
Tác giả đã làm rõ tính cấp thiết của đào tạo NNL cho CNH,HĐH và tácđộng của nó đối với củng cố nền quốc phòng Trên cơ sở đó, đề xuất các quanđiểm, giải pháp cơ bản để công tác đào tạo NNL vừa đáp ứng nhu cầuCNH,HĐH vừa đáp ứng nhu cầu củng cố nền quốc phòng toàn dân
- Phát triển thị trường sức lao động và tác động của nó đến đảm bảo NNL cho QĐNDVN hiện nay của Trần Văn Ban, Luận văn cao học kinh tế
chính trị, Học viện Chính trị quân sự, 2006
Tác giả đã phân tích sự phát triển của thị trường sức lao động trong nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN và tác động của nó đến đảm bảo NNL choQĐNDVN Trên cơ sở đó đề xuất quan điểm, giải pháp thúc đẩy sự phát triển củathị trường lao động gắn với bảo đảm NNL cho quân đội trong giai đoạn hiện nay
- Phát triển nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở thành phố Hải Phòng và tác động của nó đến tăng cường sức mạnh khu vực phòng thủ thành phố của Phạm Tiến Điện, Luận văn cao học kinh tế
chính trị, Học viện Chính trị quân sự, 2000
Tác giả đã luận giải cơ sở lý luận về phát triển NNL, từ đó xem xét pháttriển NNL theo hướng CNH,HĐH ở thành phố Hải Phòng; làm rõ tác độngcủa phát triển NNL ở thành phố Hải Phòng đến việc xây dựng khu vực phòng
Trang 11thủ thành phố Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp chủ yếunhằm phát triển NNL ở thành phố Hải Phòng gắn với việc tăng cường sứcmạnh khu vực phòng thủ thành phố.
- “Nắm vững định hướng chiến lược và quan điểm giáo dục - đào tạo củaĐảng, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quân đội thực sự làm nòng cốt xây
dựng quân đội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” của Đoàn Khuê, Xây dựng quân đội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nxb Quân đội nhân dân, H, 1997.
Tác giả đã đánh giá hai năm thực hiện Nghị quyết 93 của ĐUQSTW vềtiếp tục đổi mới công tác đào tạo cán bộ, nhân viên chuyên môn, kỹ thuật vàxây dựng nhà trường chính quy; trong đó, khẳng định những nội dung cơ bảncủa Nghị quyết 93 đến nay vẫn phù hợp với những định hướng chiến lược pháttriển GDĐT trong thời kỳ CNH,HĐH Tác giả phân tích rõ đối tượng đào tạo,bồi dưỡng; về nội dung, phương pháp để nâng cao chất lượng đào tạo, bồidưỡng; về công tác tạo nguồn tuyển sinh và xây dựng nhà trường chính quy vớiđội ngũ giáo viên tương xứng
Từ thực tiễn trên cho thấy, đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu
một cách tổng thể về vai trò của quân đội trong phát triển NNL ở nước ta hiệnnay Với lý do đó, tác giả lựa chọn “Vai trò của quân đội trong phát triểnnguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay”làm đề tài nghiên cứu
Trang 123 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu vai trò của quân đội trong phát
triển NNL cả về số lượng và chất lượng trên cả hai bình diện: thứ nhất, khai
thác có hiệu quả tiềm năng của quân đội trong phát triển NNL, một mặt đápứng nhu cầu về NNL cho xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ,từng bước hiện đại; mặt khác, tham gia phát triển NNL cho CNH,HĐH đất
nước Thứ hai, nâng cao khả năng đào tạo NNL của quân đội; đồng thời gắn
với việc huy động mọi nguồn lực của xã hội để tạo sự chuyển biến mạnh vềchất lượng NNL đáp ứng nhu cầu quân sự, quốc phòng và phát triển kinh tế -
xã hội trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu vai trò của quân
đội, trong đó chủ yếu là HTNTQĐ trong phát triển NNL gắn với quá trìnhCNH,HĐH đất nước trong thời kỳ đổi mới trên cơ sở tư duy mới của Đảng ta
về kinh tế, chính trị, quân sự, quốc phòng và an ninh
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích:
Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của quân đội trong pháttriển NNL phục vụ sự nghiệp CNH,HĐH đất nước, trên cơ sở đó đề xuấtmột số định hướng và giải pháp nhằm phát huy vai trò của quân đội trongquá trình này
Nhiệm vụ:
Trang 13- Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của quân đội trong pháttriển NNL phục vụ CNH,HĐH.
- Phân tích vai trò của quân đội trong phát triển NNL phục vụCNH,HĐH
- Đề xuất một số định hướng và những giải pháp để phát huy vai trò củaquân đội trong phát triển NNL phục vụ CNH,HĐH ở nước ta hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: vận dụng quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng về vai trò của quânđội trong phát triển kinh tế đất nước; về mối quan hệ giữa kinh tế với quốcphòng, quốc phòng với kinh tế; về phát triển con người, phát triển NNL
Kế thừa và phát triển kết quả của các nhà nghiên cứu liên quan đến vấn đề
mà đề tài nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu: dựa trên các phương pháp chung củakinh tế chính trị mác-xít và một số phương pháp nghiên cứu đang đượcvận dụng trong khoa học kinh tế và kinh tế quân sự
6 Ý nghĩa của luận văn
- Góp phần luận giải vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của quân độitrong phát triển NNL
- Đề tài góp phần làm rõ hơn về thực trạng và giải pháp về vai trò củaquân đội trong phát triển NNL
Trang 14- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho nghiên cứu, họctập, giảng dạy một số nội dung liên quan đến phát triển NNL và vai trò củaquân đội trong phát triển NNL.
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luậnvăn gồm 2 chương, 5 tiết
Trang 15Chương 1 NGUỒN NHÂN LỰC VÀ VAI TRÒ CỦA QUÂN ĐỘI TRONG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC PHỤC VỤ CÔNG NGHIỆP HOÁ,
HIỆN ĐẠI HOÁ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 1.1 Nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực
1.1.1 Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực quan trọng nhất để pháttriển kinh tế - xã hội, vì vậy, các quốc gia trên thế giới đều quan tâm nghiêncứu NNL Tuy mỗi quốc gia có khái niệm khác nhau về NNL nhưng nhìnchung NNL được xem xét dưới các góc độ như số lượng, chất lượng và cơcấu
Theo Từ điển thuật ngữ của Pháp (1977-1985), NNL xã hội bao gồmnhững người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và mong muốn cóviệc làm Theo quan điểm này, những người trong độ tuổi lao động có khảnăng lao động nhưng không muốn có việc làm thì không phải là NNL xã hội.Trong khi đó, ở Úc NNL bao gồm toàn bộ những người bước vào tuổi laođộng, có khả năng lao động Như vậy, quan niệm này không giới hạn cuối vềtuổi lao động và có hay không có mong muốn có việc làm của những ngườituy đã bước vào tuổi lao động, có khả năng lao động
Theo Lưu Tĩnh Noãn: “Nguồn nhân lực là nhân khẩu có năng lực laođộng tất yếu, thích ứng được với nhu cầu phát triển kinh tế và xã hội Nghĩarộng của tài nguyên nhân lực là chỉ tổng nhân khẩu xã hội Tài nguyên nhân
Trang 16lực là tiền đề vật chất của tái sản xuất xã hội Đặc điểm chủ yếu: tài nguyênnhân lực là động lực và chủ thể phát triển trong tái sản xuất xã hội, có tínhnăng động Tài nguyên nhân lực có chu kỳ sống, nếu không lợi dụng hợp lí,
có thể hạ thấp, thậm chí mất đi, do vậy nó có tính thời điểm Tài nguyênnhân lực chịu sự khống chế của phương thức sản xuất xã hội, nên có tính xãhội Phát triển hợp lí, quản lí và lợi dụng tài nguyên nhân lực đối với tăngtrưởng kinh tế có ý nghĩa quan trọng Do đó phải khống chế trong phạm vihợp lí tốc độ tăng trưởng dân số, phát triển sự nghiệp giáo dục nâng caophẩm chất của người dân, kết hợp tái sản xuất tư liệu vật chất và tái sản xuấtnhân khẩu, làm cho tài nguyên nhân lực và phát triển kinh tế thích ứng vớinhau thúc đẩy nền kinh tế phát triển” [8, tr.1064]
Ở Việt Nam, vấn đề NNL và phát triển NNL đã được nhiều tác giả nghiêncứu, đặc biệt từ khi đổi mới đất nước (1986) đến nay Theo tiến sĩ NguyễnThanh, “Nguồn nhân lực, nguồn lực con người là tổng thể các chỉ số phát triểncon người mà con người có được nhờ sự trợ giúp của cộng đồng xã hội và sự
nỗ lực của bản thân, là tổng thể số lượng dân và chất lượng con người, là tổngthể sức mạnh thể lực, trí lực, kinh nghiệm sống, nhân cách, đạo đức, lí tưởng,chất lượng văn hoá, năng lực chuyên môn và tính năng động trong công việc
mà bản thân con người và xã hội có thể huy động vào cuộc sống lao động sángtạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội” [47, tr.75] Ngoài ra còn nhiều tác giả
Trang 17khác đã đề cập đến vấn đề NNL như tiến sĩ Phạm Văn Đức, tiến sĩ Đoàn VănKhái…
Từ những vấn đề trên, xác định NNL hay nguồn lực con người cần phảiđược hiểu như thế nào? Theo Từ điển tiếng Việt: Nguồn là “Nơi bắt đầu cửasông, suối Nơi bắt đầu, nơi phát sinh ra hoặc nơi có thể cung cấp” [54, tr.692];Nhân lực là “Sức người, về mặt dùng trong lao động sản xuất” [54, tr.710].Trong đó, sức người dùng trong lao động sản xuất hay sức lao động được C.Mác chỉ rõ: “sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thểchất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống, vàđược người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nàođó” [38, tr.251] Từ góc độ kinh tế chính trị học, nhân lực là lực lượng và nănglực những người lao động sản xuất được bao gồm cả thể lực và trí lực; là nănglực lao động tồn tại trong cơ thể con người, do con người đảm nhận
Do vậy, NNL là nơi bắt đầu, nơi phát sinh, nơi cung cấp sức lao độngđược dùng trong lao động sản xuất Từ đó, có thể hiểu, NNL theo nghĩa rộng
và nghĩa hẹp Nghĩa hẹp, NNL “Là nhân khẩu có năng lực lao động tất yếu,thích ứng được với nhu cầu phát triển kinh tế và xã hội” [8, tr.1064]; mà nhânkhẩu là “người trong một gia đình, một địa phương” [54, tr.710] Tiến sĩ kinh tếTrần Thị Tuyết Mai đưa ra khái niệm NNL (theo nghĩa hẹp và có thể lượng hoáđược): “Nguồn nhân lực là bộ phận của dân số bao gồm những người trong độtuổi quy định, có khả năng lao động” [41, tr.17] Nghĩa rộng, NNL được hiểu
Trang 18với tư cách là tổng hợp cá nhân, những con người cụ thể tham gia vào quá trìnhlao động, gồm tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vàoquá trình lao động Tiến sĩ Hà Quý Tình cho rằng: “Nguồn nhân lực là toàn bộsức lao động của những người trong độ tuổi lao động có khả năng huy độngtrong các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội” [50, tr.6].
Xuất phát từ đặc điểm kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, đạo đức,truyền thống cũng như tính chất và đặc điểm của việc tổ chức và xây dựngnền quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân ở Việt Nam, thì nhữngngười ở ngoài độ tuổi lao động có nhu cầu làm việc họ vẫn tham gia hoạtđộng trong những lĩnh vực mà họ có khả năng; mặt khác, trong điều kiệnchiến tranh, bộ phận dân cư được huy động vào quá trình sản xuất của xãhội hoặc các hoạt động phục vụ chiến tranh có thể ngoài cả lứa tuổi laođộng theo luật pháp hiện hành
Từ những vấn đề trên, tác giả cho rằng: NNL là một nguồn lực đặc biệt của xã hội bao gồm bộ phận dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động và có nhu cầu lao động.
Nghiên cứu NNL, cần phải nghiên cứu cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu
Số lượng được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu về quy mô và tốc độ tăng củaNNL Các chỉ tiêu về số lượng có quan hệ mật thiết với chỉ tiêu quy mô và tốc
độ tăng dân số: quy mô dân số càng lớn, tốc độ tăng dân số càng cao thì quy
mô và tốc độ tăng NNL càng lớn và ngược lại Mối quan hệ này chỉ được thể
Trang 19hiện sau một thời gian nhất định (khoảng 15 năm khi con người bước vào độtuổi lao động theo luật định của từng quốc gia).
Chất lượng NNL là tình trạng sức khoẻ, văn hoá, đạo đức tư tưởng, kỹnăng lao động của người có năng lực lao động Một số chỉ tiêu thường dùng đểđánh giá chất lượng NNL như: sức khoẻ, thống kê bệnh tật, tỷ lệ bệnh tật; trình
độ học vấn; trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng lao động; cơ cấu NNL; tỷ lệphạm tội của một nước Những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng NNL:thể chất, di truyền trí tuệ; tình hình phát triển sự nghiệp giáo dục; mức sống vàtình trạng dinh dưỡng; đời sống tinh thần, văn hoá và hoàn cảnh kinh tế - xã hội.Chất lượng NNL là một bộ phận cấu thành quan trọng của tình hình quốc gia,đóng vai trò to lớn trong việc tạo ra của cải vật chất, là điểm xuất phát và chỗdựa của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước
1.1.2 Phát triển nguồn nhân lực
Phát triển NNL là quá trình tạo ra sự biến đổi về số lượng, chất lượng và
cơ cấu hợp lý của NNL biểu hiện ở sự hình thành và hoàn thiện từng bước vềthể lực, kiến thức, kỹ năng, năng lực, thái độ và nhân cách nghề nghiệp đápứng những nhu cầu hoạt động, lao động của cá nhân và sự phát triển xã hội.Theo Đại từ điển kinh tế thị trường “Để tận dụng đầy đủ sức lao động, phảithông qua giáo dục và bồi dưỡng, xúc tiến việc làm, mở mang hoạt động vàchính sách quản lý nhân sự, sử dụng sức lao động” [8, tr.1064]
Trang 20Như vậy, phát triển NNL là hướng tới việc đào tạo và đào tạo lại NNLnhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng cho công việc đang làm hoặc công việcmới, làm cho con người trở thành những người lao động có năng lực và phẩmchất đáp ứng được yêu cầu sử dụng lao động của các ngành, lĩnh vực trong nềnkinh tế Để thực hiện điều đó phải tiến hành bằng một số nội dung: “1) Mởrộng bồi dưỡng huấn luyện và chỉ đạo việc làm, một mặt, thông tin ra xã hội vềnhu cầu sức lao động; mặt khác, tại các loại trường lớp bồi dưỡng việc làm, chỉđạo việc lựa chọn nghề như thế nào cho chính xác; 2) Đặt ra việc xúc tiến cácbiện pháp điều chỉnh cơ cấu các sản nghiệp về việc làm, cổ vũ người lao động
có việc làm; 3) Hoàn thiện việc bảo hiểm thất nghiệp và tiến hành bồi dưỡnghuấn luyện chuyên nghiệp, xúc tiến tái nhận việc; 4) Triển khai huấn luyện tạichức khiến cho người lao động giỏi một nghề, thạo nhiều nghề; 5) Cần thôngqua giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp, xúc tiến việc làm; 6) Đặt rachính sách lao động đặc thù đối với những vùng kinh tế lạc hậu và nông thôn;7) Dự đoán sự biến đổi các hình thức việc làm trong tương lai và tình trạngcung, cầu sức lao động trong tương lai Thường xuyên làm tốt công tác tuyêntruyền trong nhân dân để những người tìm việc có hành vi, thái độ chọn việcđúng đắn Tiến hành mở mang, phát triển nguồn nhân lực, nên đặc biệt coitrọng phát triển năng lực có tổ chức, đề cao hiệu suất công tác của họ Đồngthời, sử dụng thoả đáng những nhân viên có kỹ năng đạt mức người tài làm hết
Trang 21sức mình, tiến hành kiểm tra các hoạt động đã được triển khai, đánh giá xemxét có đạt được mục tiêu dự kiến của từng thời kỳ hay không” [8, tr.1064].Đối với Việt Nam càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nó thể hiện đượcbản chất và tính ưu việt của chế độ XHCN Mở rộng cơ hội lựa chọn, nângcao năng lực hoạt động của con người; tạo điều kiện cho mọi người có cơ hộilựa chọn, tiếp cận việc giáo dục tốt hơn, các dịch vụ y tế tốt hơn, chỗ ở tiệnnghi hơn và việc làm đúng người, đúng việc, đúng khả năng hơn.
Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP), đưa ra năm yếu tốcủa sự phát triển NNL gồm: GDĐT; sức khoẻ và dinh dưỡng; môi trường;việc làm và sự giải phóng con người, trong đó, GDĐT là cơ sở của tất cả cácyếu tố khác, là yếu tố cơ bản cho sự phát triển bền vững Trong “Báo cáo pháttriển con người 1990” của Ngân hàng Thế giới, vấn đề nguồn lực con người
đã được đặt vào vị trí trung tâm của sự phát triển và khái niệm này được dựatrên cách tiếp cận về mối liên hệ chặt chẽ giữa con người và phát triển Theo
tư tưởng này, phát triển con người là một quá trình mở rộng sự lựa chọn củacon người Về nguyên lý, những lựa chọn này có thể xác định và thay đổi theothời gian, ở những mức độ phát triển khác nhau, điều kiện và hoàn cảnh khácnhau, không gian khác nhau Tuy nhiên, phát triển con người về cơ bản gồm
ba khía cạnh: thể chất, trí tuệ và tinh thần trong mối quan hệ với các yếu tố tựnhiên - xã hội của con người Trong đó, về thể chất gồm: sức khoẻ, dinhdưỡng, dân số, nguồn nước sạch, môi trường, hệ thống an toàn xã hội… Về trí
Trang 22tuệ gồm: giáo dục, đào tạo, trình độ biết chữ, kỹ năng lao động, khả năngthích ứng linh hoạt trong nền sản xuất công nghệ cao… Về tinh thần gồm:quyền con người, bình đẳng giới, phát triển cộng đồng, tạo quyền, giải phápcho các xung đột, tự do tín ngưỡng… Trong mối quan hệ này, GDĐT có tácđộng trực tiếp tới phát triển trí tuệ của con người cũng như phát triển thể chất,tinh thần của con người Trong cấu trúc phát triển NNL, vai trò của giáo dụcngày càng trở nên quan trọng trong nền sản xuất hiện đại Sản xuất càng pháttriển thì phần đóng góp của trí tuệ ngày càng chiếm tỷ trọng lớn so với đónggóp của các yếu tố khác trong cơ cấu giá trị sản phẩm của lao động.
Ngày nay, vai trò NNL đã trở thành yếu tố năng động nhất trong việcphát huy các nguồn lực khác Để phát triển NNL có hiệu quả, cần phải đặtnhân tố này trong hệ thống quản lý NNL quốc gia Quản lý NNL quốc gia baogồm: Phát triển NNL (đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện, tự học và nghiên cứu);
Sử dụng NNL (tuyển dụng, sàng lọc, bố trí, đánh giá, đãi ngộ, kế hoạch hoásức lao động); Môi trường NNL (mở rộng chủng loại việc làm, mở rộng quy
mô việc làm, phát triển tổ chức tạo việc làm) Trong đó, phát triển NNL có ýnghĩa đặc biệt quan trọng trong hệ thống quản lý NNL quốc gia, là cơ sở để
phát huy có hiệu quả các nguồn lực khác Đảng ta khẳng định: “Muốn tiến
hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh
-và bền vững” [15, tr.19]
Trang 23Đại hội IX, Đại hội X, Đảng ta tiếp tục khẳng định quan điểm trên, đặcbiệt trong điều kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới và hộinhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng Đẩy mạnh CNH,HĐH gắn với pháttriển kinh tế tri thức, tranh thủ các cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra
và tiềm năng, lợi thế của đất nước để rút ngắn quá trình CNH,HĐH đất nướctheo định hướng XHCN Trong đó, vấn đề NNL, NNL chất lượng cao càngđặt ra yêu cầu bức thiết cho phát triển kinh tế - xã hội
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu về NNL, phát triển NNL đã trình bàytrên đây, xuất phát từ yêu cầu về NNL của quá trình CNH,HĐH ở nước tahiện nay có thể đưa ra khái niệm về phát triển NNL như sau:
Phát triển NNL là tổng thể các cơ chế, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng NNL với cơ cấu và số lượng hợp lý, chất lượng cao đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sử dụng lao động của xã hội.
Nghiên cứu vấn đề NNL và phát triển NNL để đưa ra khái niệm trên,không chỉ đơn thuần là tìm hiểu nội hàm của khái niệm, mà đó còn là cơ sởquan trọng để đưa ra đường lối, chính sách, chủ trương, cơ chế đúng trongđào tạo, bồi dưỡng và phát triển NNL Đây còn là cơ sở định hướng choviệc nuôi dưỡng, khơi dậy và phát huy tốt tiềm năng con người, nhờ đó màkhai thác có hiệu quả các nguồn lực khác phục vụ sự nghiệp CNH,HĐH đấtnước trong thời gian tới
Trang 241.1.3 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực Việt Nam từ khi đổi mới đất nước đến nay (1986 - 2008)
Thực trạng phát triển NNL ở Việt Nam từ khi đổi mới đất nước đến nay,bước đầu có thể khái quát như sau:
Thứ nhất, về cơ chế, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng NNL.
Từ khi đất nước tiến hành đổi mới đến nay, Đảng, Nhà nước và các cơquan chức năng luôn quan tâm đến những vấn đề về cơ chế, chính sách và biệnpháp để không ngừng nâng cao số lượng, chất lượng và cơ cấu hợp lý trong pháttriển NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước
Về cơ chế, nhà nước có vai trò quan trọng đối với việc phát triển NNL đấtnước, vai trò ấy được biểu hiện thông qua nội dung và công cụ, cơ chế tác độngđến NNL nhằm tạo ra số lượng, chất lượng NNL đáp ứng ngày càng tốt hơn nhucầu sử dụng lao động của xã hội
Trong thời gian qua, nhà nước và các cơ quan chức năng đã xây dựng đượcmột cơ chế tương đối hoàn chỉnh nhằm gắn kết, phát huy vai trò, trách nhiệmcủa các tổ chức, cá nhân trong tham gia phát triển NNL Xây dựng cơ chế phốihợp giữa các cơ quan có liên quan từ Trung ương tới địa phương trong phát triểnNNL Thực hiện sự phân cấp quản lý nhằm tăng cường quyền chủ động, sángtạo và trách nhiệm cho từng cấp, từng cơ sở quản lý, đồng thời giúp các địaphương chủ động tạo nguồn lực để phát triển NNL, đáp ứng nhu cầu phát triển
Trang 25của các ngành, gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng NNL của ngành và của từng địaphương.
Tuy nhiên, trước sự biến đổi nhanh chóng của đời sống kinh tế - xã hội, hệthống cơ chế của chúng ta cũng đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết, chưa thực sự đồng
bộ, chưa phát huy vai trò của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong tham gia pháttriển NNL phục vụ CNH,HĐH; chưa liên kết được các khâu, các cấp của quátrình đào tạo nhằm đảm bảo chất lượng NNL được đào tạo; cơ chế phát triển và sửdụng NNL còn nhiều bất cập hạn chế, gây lãng phí lớn cho cả nhà nước và cánhân
Về chính sách, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề GDĐT.Đặc biệt, từ khi đổi mới mới đến nay, trước yêu cầu phát triển nhanh chóng củanền kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều văn bản, pháp luật về GDĐT như:Nghị quyết Trung ương hai khóa VIII về định hướng chiến lược phát triểnGDĐT; Chỉ thị 50 - CT/TW của Bộ Chính trị khoá VIII về tăng cường sự lãnhđạo của Đảng đối với hội khuyến học Việt Nam; Nghị quyết Trung ương sáukhóa IX về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương hai khóa VIII; Nghị quyếtTrung ương bảy khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnhCNH,HĐH; Luật Giáo dục; chiến lược phát triển GDĐT đến năm 2010 - 2020
và nhiều văn bản pháp quy khác Hệ thống chính sách này đã bao hàm nhữnglĩnh vực như: GDĐT; chăm sóc sức khoẻ; văn hoá; dân số; chính sách khoa họccông nghệ; chính sách tuyển dụng, sử dụng, đánh giá, đề bạt cán bộ; chính sách
Trang 26tiền lương, tiền thưởng, đãi ngộ; chính sách đối với các nhà nghiên cứu khoa học
và làm công quản lý, giảng dạy Thông qua việc ban hành, thực hiện hệ thốngcác chính sách mà Nhà nước tác động vào quá trình chuẩn bị, sử dụng, phát triểnNNL hướng vào mục tiêu đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động của xã hội ngàycàng tốt hơn, góp phần đẩy nhanh quá trình CNH,HĐH
Trong quá trình tổ chức thực hiện, Đảng và nhà nước ta đã tiếp tục sửađổi và bổ sung nhiều chính sách theo yêu cầu của công cuộc đổi mới và sự đổimới này đã mang ý nghĩa tích cực trong việc phát triển NNL Tuy nhiên, dotồn tại trong một thời gian dài với cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp nên sựthay đổi chính sách vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của thực tiễnđất nước Hiện nay, còn nhiều chính sách bất hợp lý và thiếu đồng bộ, chưaphát huy tốt nguồn lực con người, NNL của đất nước còn lãng phí, tình trạng
“chất xám” chạy ra ngoài vẫn còn diễn ra Tình trạng tiền lương còn quá thấp,chính sách chưa thoả đáng đối với đội ngũ cán bộ làm công tác nghiên cứukhoa học, chính sách sử dụng nhân tài làm cho nhân tài bị mai một
Vì vậy, trong thời gian tới, Nhà nước và các cơ quan chức năng cần tiếp tụcnghiên cứu, ban hành những chính sách phù hợp với điều kiện phát triển của nềnkinh tế nhằm phát triển NNL bền vững, có hiệu quả Cần xây dựng được một hệthống cơ chế, chính sách đồng bộ trong phát triển NNL, đặc biệt chính sách sửdụng hợp lý NNL, chính sách cho các đối tượng công tác ở vùng sâu, vùng xa,biên giới, hải đảo, những nơi độc hại và có điều kiện khó khăn Cần xây dựng
Trang 27một hệ thống cơ chế, chính sách nhằm thực hiện quan điểm của Đảng về xãhội hoá GDĐT đáp ứng yêu cầu phát triển NNL phục vụ CNH,HĐH đấtnước Hệ thống cơ chế, chính sách đó phải đạt được các tiêu chí: rõ ràng,minh bạch, công khai; nhất quán; bao quát và được sự ủng hộ của quảng đạiquần chúng, có như vậy, hệ thống cơ chế, chính sách mới đi vào thực tiễncuộc sống và có hiệu quả Đối với quân đội, Nhà nước, Chính phủ và các bộ,ngành có liên quan đã có những văn bản về quân đội tham gia đào tạo, pháttriển NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước Gần đây, ngày 26 tháng 6 năm 2008,Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân trong buổi làm việc với Bộ Quốc phòng
đã khẳng định nhiệm vụ của quân đội là tiếp tục tham gia tốt hơn công tác đàotạo, phát triển NNL phục vụ CNH,HĐH đất nước
Về biện pháp, trên cơ sở chiến lược phát triển con người, Đảng và Nhànước, các cơ quan bộ, ngành chức năng đã đưa ra được một hệ thống giảipháp nhằm bảo đảm thực hiện thắng lợi chiến lược đã vạch ra Trong cácvăn kiện, Nghị quyết của Đảng, Đảng ta đã đưa ra những quan điểm, giảipháp cơ bản nhằm phát triển mạnh hệ thống giáo dục quốc gia Trong đó,Nhà nước phải tăng cường vai trò quản lý của mình về GDĐT; hoàn thiện
cơ cấu hệ thống đào tạo phù hợp nhằm tạo NNL đất nước có đủ số lượng
và chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Chính phủ đã phêduyệt quy hoạch mạng lưới các cơ sở dạy nghề trong cả nước, từng bướctạo sự cân đối về cơ cấu NNL, cả về cơ cấu ngành, nghề đào tạo và cơ cấu
Trang 28trình độ đào tạo Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tăng cường các điều kiện bảođảm để nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển NNL; bao gồm: phát triểnđội ngũ giáo viên, đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, bảo đảm cơ sởvật chất, trang thiết bị… Đồng thời, tích cực đẩy mạnh công tác xã hội hoáGDĐT và thực hiện liên thông liên kết, hợp tác quốc tế về GDĐT Tuynhiên, kết quả GDĐT trong thời gian qua vẫn chưa thực sự đáp ứng đượcyêu cầu phát triển nhanh chóng của nền kinh tế.
Trong thời gian tới, cần phải tiếp tục định hướng lại hệ thống giáo dụcquốc gia theo hướng phát triển NNL toàn diện, cân đối, đồng bộ và có trọngđiểm Quy mô giáo dục đại học và dạy nghề cần phát triển phù hợp với điềukiện kinh tế của nước ta và thế giới, tập trung nâng cao chất lượng NNL, tăngcường đào tạo sau đại học, nhất là đội ngũ các nhà khoa học đầu ngành, cácnhà nghiên cứu chuyên sâu trong các lĩnh vực mũi nhọn Hoàn thiện hệ thốngchính sách đào tạo, sử dụng và phát triển NNL cũng như những chính sáchđãi ngộ thích đáng đối với đội ngũ các nhà khoa học, nhất là các nhà khoa họctrình độ cao
Thứ hai, về cơ cấu, số lượng và chất lượng NNL đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động của xã hội.
Sau hơn hai mươi năm đổi mới và từng bước hội nhập quốc tế, NNLViệt Nam đã có sự phát triển nhanh chóng cả về số lượng, chất lượng và cơ
Trang 29cấu lao động cũng đã có sự chuyển đổi tích cực gắn liền với quá trình chuyểndịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH,HĐH.
Về cơ cấu, Đại hội X, Đảng ta đã đánh giá: “Cơ cấu lao động cũng
đã có sự chuyển đổi tích cực gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế Tỷ trọng lao động của ngành công nghiệp và xây dựng trongtổng số lao động xã hội tăng từ 12,1% năm 2000 lên 17,9% năm 2005;lao động trong các ngành dịch vụ tăng từ 19,7% lên 25,3%; lao độngtrong ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản giảm từ 68,2% xuống còn56,8% Tỷ trọng lao động đã qua đào tạo tăng từ 20% năm 2000 lên 25%năm 2005” [19, tr.145,146] Sự phát triển nhanh chóng của khoa học vàcông nghệ trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và dịch vụ đã làmbiến đổi nhanh chóng về nội dung và tính chất lao động cũng như cơ cấungành nghề và cơ cấu trình độ
So sánh cơ cấu lao động của Việt Nam và thế giới theo ba khu vựcsản xuất cho thấy: để chuyển dịch cơ cấu lao động với mục tiêu đến năm
2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đạicòn gặp không ít khó khăn Đây là thực trạng cần được nghiên cứu, đánhgiá một cách khoa học để sớm có chính sách phát triển NNL Việt Namtrong thời gian tới, “vì cơ cấu lao động trong cơ cấu giai tầng xã hội là đốitượng rất quan trọng của quản lý lãnh đạo Cơ cấu lao động là đầu ra của
cơ cấu đào tạo” [23, tr.475]
Trang 30Cơ cấu lao động (theo ba khu vực sản xuất) trên thế giới và Việt Nam(% t ng l c lổng lực lượng lao động) ực lượng lao động) ượng lao động)ng lao động)ng)
Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam (2007)
C c u lao ơ cấu lao động của nước ngoài và Việt Nam (% tổng số lao động) ấu lao động của nước ngoài và Việt Nam (% tổng số lao động) động)ng c a nủa nước ngoài và Việt Nam (% tổng số lao động) ước ngoài và Việt Nam (% tổng số lao động)c ngo i v Vi t Nam (% t ng s lao ài và Việt Nam (% tổng số lao động) ài và Việt Nam (% tổng số lao động) ệt Nam (% tổng số lao động) ổng lực lượng lao động) ố lao động) động)ng)
Lao động giản đơn bán lành nghề
Công nhân lành nghề
Cán bộ kỹ thuật và công nghệ
Cán bộ quản lý
Cán bộ phát minh Các nước đang phát
Trang 317%; số người tốt nghiệp đại học trở lên: 2% Theo điều tra của Hội Sinh viênViệt Nam, 63% sinh viên tốt nghiệp đại học không có việc làm; hơn một nửatrong số có việc làm đã làm việc không đúng ngành đào tạo Tăng trưởng kinh
tế hiện nay chủ yếu do số lượng vốn tạo nên 57,5%; do số lượng lao động chỉtạo nên 20%; do hiệu quả quản lý và năng suất lao động tạo nên 22,5%
Theo điều tra của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) năm 2005 về chất lượngNNL, Việt Nam được xếp hạng 53/59 quốc gia được khảo sát và mất cân đốinghiêm trọng Ở Việt Nam “cứ 01 người tốt nghiệp đại học, có 1,31 người tốtnghiệp trung cấp và 4,8 công nhân kỹ thuật, trong khi đó tỷ lệ này của thế giới là
01 - 04 - 10” [23, tr.478]; cứ một vạn dân có 181 sinh viên đại học, trong khi đócủa thế giới là 100 và Trung Quốc là 140 Thực tiễn cho thấy, chúng ta cần phảinghiên cứu, xem lại cơ cấu đào tạo trên phạm vi cả nước, cũng như từng vùng; vì,
cơ cấu đào tạo là một nội dung cực kỳ quan trọng trong chiến lược GDĐT
Về số lượng, NNL đã có những bước phát triển nhanh trong những nămqua “Tính đến giữa năm 1998 cả nước có 591 người có học vị tiến sĩ, 11.127phó tiến sĩ và 10.000 người là thạc sĩ; đến đầu năm 1999 cả nước đã có gần mộttriệu người tốt nghiệp cao đẳng, đại học, có 807 giáo sư; đến năm 2000 đã đàotạo được lực lượng lao động có chuyên môn kỹ thuật khoảng 8 triệu người,chiếm 22,2% trong tổng số hơn 36 triệu lao động của cả nước” [52, tr.31] Đếnnay, “Số người đã qua đào tạo khoảng 26%, ước tính là hơn 12 triệu, trong đótrình độ công nhân kỹ thuật (kể cả đào tạo ngắn hạn): 8 - 9 triệu; trung học
Trang 32chuyên nghiệp: hơn một triệu; cao đẳng, đại học: hơn một triệu; thạc sĩ: hơn20.000; tiến sĩ: 5.000; tiến sĩ khoa học: 500; hơn 5.000 phó giáo sư, hơn 1.000giáo sư (khoảng 2/3 số này đang làm việc)” [23, tr.470] Điều đó, cho thấy NNLnước ta đã có sự phát triển nhanh chóng về số lượng.
Đất nước hiện có đội ngũ nhân lực khá dồi dào so với nhiều nước trongkhu vực và trên thế giới Theo Niên giám thống kê năm 1995, 1997 và 2007của Tổng cục thống kê, dân số nước ta từ 59.872.000 người (năm 1986) lên76.709.000 người (năm 1997) và 84.155.800 người (năm 2006); trong đó lựclượng lao động từ 27.398.000 người (năm 1986) lên 36.994.000 người (năm1997) và 43.347.200 người năm (2006) Như vậy, Việt Nam là quốc giađứng thứ hai trong khu vực và đứng thứ 13 trên thế giới về quy mô dân số và
là một trong số ít các quốc gia trong khu vực có tỷ lệ về cơ cấu độ tuổi củadân số và lao động khá lý tưởng với trên 50% số dân trong độ tuổi lao động(từ 15 - 60), trong đó 45% có độ tuổi dưới 54 Đây là yếu tố rất thuận lợi đểphát triển kinh tế - xã hội Song, trên thực tế thì quy mô nguồn lao độngnước ta còn lớn hơn mức gia tăng của lực lượng lao động, bởi số ngườingoài độ tuổi lao động hàng năm tăng và phần lớn vẫn có nhu cầu việc làm
Dự báo dân số Việt Nam sẽ tăng trong vài ba thập kỷ tới Do vậy, trong thời
kỳ tiến hành CNH,HĐH, nguồn lao động của nước ta luôn tăng Nếu xét từgóc độ cung cấp số lượng lao động, thì đây là một thuận lợi, song đó cũng làmột khó khăn không nhỏ, khi nền sản xuất xã hội của ta không đáp ứng đủ
Trang 33việc làm Đồng thời, qua nghiên cứu thực tiễn, lực lượng lao động ở nước tachủ yếu là lao động phổ thông còn lao động trí tuệ chiếm một tỷ lệ khôngđáng kể Trong giai đoạn đẩy mạnh CNH,HĐH gắn với phát triển kinh tế trithức, nước ta đang thiếu hụt một lượng lớn NNL chất lượng cao Đảng takhẳng định: tranh thủ môi trường thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra, pháthuy tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình CNH,HĐH đất nướctheo định hướng XHCN gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế trithức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và CNH,HĐH.
CNH,HĐH với quy mô dân số đông, lực lượng lao động dồi dào là điềukiện thuận lợi để chúng ta đẩy nhanh tốc độ phát triển Tuy nhiên, với một nướcchậm phát triển như nước ta cùng với những hạn chế về nguồn vốn, trang thiết
bị, nguyên, nhiên vật liệu, cơ sở hạ tầng… và nguồn lao động dư thừa lại tăngvới tốc độ lớn sẽ gây sức ép về việc làm Tình trạng thừa lao động, thiếu việclàm, thừa lao động phổ thông lại thiếu lao động qua đào tạo, nhất là trong cácngành kinh tế mũi nhọn đang là vấn đề phải tiếp tục giải quyết trong thời kỳđẩy mạnh CNH,HĐH đất nước
Về chất lượng, việc đặt mục tiêu xây dựng và phát triển một nền giáo dụchướng về cộng đồng với sự tham gia đóng vai trò chủ đạo, quản lý chặt chẽcủa Nhà nước đã góp phần nâng cao mặt bằng dân trí cho mọi tầng lớp nhândân Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ người lớn biết chữ và trẻ em trong độ tuổiđến trường khá cao so với các nước trong khu vực, trình độ giáo dục phổ cập
Trang 34và số lượng học sinh, lực lượng lao động có đào tạo, số người tốt nghiệp cácbậc học tăng nhanh so với nhiều nước Hơn hai mươi năm đổi mới đất nước,lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật đã tăng từ 7,6% năm
1986 lên gần 30% năm 2007, với chất lượng NNL cao hơn trước, thể hiện rõnét nhất ở năng suất lao động của toàn xã hội đã thay đổi hẳn cục diện pháttriển kinh tế nước ta kể từ khi tiến hành đổi mới, tạo ra tốc độ tăng trưởngkinh tế đứng thứ hai trên thế giới trong những năm gần đây
Tuy nhiên, so với yêu cầu của quá trình phát triển nền kinh tế đất nướctrong bối cảnh có sự hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng thì thực tế chất lượngNNL hiện nay còn nhiều bất cập và hạn chế Mặc dù các chỉ số thống kê về giáodục hàng năm ở nước ta khá cao (hơn 90% dân số biết chữ, nhiều địa phương đãthực hiện xong chương trình phổ cập giáo dục cấp I, II), song, thực tế, chấtlượng nền giáo dục ở nước ta còn ở mức thấp Báo cáo phát triển thế giới năm
2006 củaaNgan hàng thế giới (WB) đưa ra nhận định: Việt Nam chỉ có 2% dân
số được học từ 13 năm trở lên, tụt hậu khá xa so với các nước trong khu vực Nhìn chung, NNL ở nước ta hiện nay sau nhiều năm tiến hành công nghiệphoá, vẫn còn khoảng 70% lao động cả nước thuộc lĩnh vực nông nghiệp Tuy tỷ
lệ học sinh, tỷ lệ các trường trung học, đại học, tỷ lệ tốt nghiệp đại học, tỷ lệ cóhọc vị tiến sĩ trên triệu dân của nước ta cao hơn các nước có mức thu nhập bìnhquân tương đương, nhưng chất lượng NNL lại đang bộc lộ nhiều hạn chế Quađiều tra của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2006, cả nước có tới 63% số sinh viên
ra trường không có việc làm, trong số 37% có việc làm thì hầu hết phải đào tạo
Trang 35lại hoặc làm không đúng nghề đã được đào tạo Trong khi đó, chúng ta lại đangthiếu NNL, nhất là NNL chất lượng cao ở cả khu vực kinh tế nhà nước và khuvực tư nhân trong các lĩnh vực như: ngân hàng, công nghệ thông tin, công nghệsinh học, đóng tàu, dầu khí Nhiều doanh nghiệp, kể cả những doanh nghiệp cóFDI và nhiều dự án kinh tế quan trọng khác rất thiếu NNL chuyên nghiệp.Khoảng 2/3 số người có học vị tiến sĩ trong cả nước không làm khoa học màđang làm công tác quản lý; mặc dù số tiến sĩ của Việt Nam hàng năm nhận bằngthường nhiều hơn của Thái Lan nhưng số công trình khoa học được công bố hàngnăm chỉ bằng 1/4 của Thái Lan và bằng 0,00043% của thế giới Ngoài những yếu
tố về cơ cấu, số lượng và chất lượng NNL, ở hướng điều tra khác cũng cho thấymức độ sẵn sàng tham gia vào sân chơi thế giới của người lao động nước ta cũngcòn có những hạn chế về tác phong lao động, ý thức tổ chức kỷ luật
Thực trạng phát triển NNL ở nước ta hiện nay đã và đang đặt ra yêu cầubức thiết phải phát triển NNL cả về số lượng, chất lượng với một cơ cấu hợp lý
và cơ chế, chính sách đào tạo, phát triển, sử dụng có hiệu quả nhằm góp phầnthực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH,HĐH đất nước
1.2 Vai trò của quân đội trong phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay
QĐNDVN với chức năng là đội quân chiến đấu, đội quân công tác, độiquân sản xuất; quân đội vừa phải làm tốt chức năng, nhiệm vụ cơ bản củamình, vừa phải tham gia tích cực vào quá trình CNH,HĐH trên nhiều lĩnh vựckhác nhau Một trong những lĩnh vực đó là tham gia đào tạo, phát triển NNL
Trang 36phục vụ CNH,HĐH đất nước Vai trò của quân đội trong phát triển NNL phục
vụ CNH,HĐH đất nước được khẳng định trên cơ sở lý luận và thực tiễn quátrình xây dựng và trưởng thành, cũng như kết quả quá trình tham gia đào tạo,phát triển NNL những năm vừa qua của quân đội
1.2.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của quân đội trong phát triển nguồn nhân lực
* Cơ sở lý luận về vai trò của quân đội trong phát triển nguồn nhân lực
Vai trò của quân đội trong phát triển NNL phục vụ CNH,HĐH đất nướchiện nay bắt nguồn từ mối quan hệ giữa kinh tế với chính trị mà trực tiếp làmối quan hệ giữa chiến tranh, quốc phòng và kinh tế; quốc phòng và an ninh;
từ chức năng, nhiệm vụ của quân đội, từ yêu cầu của sự nghiệp CNH,HĐHđất nước trong tình hình hiện nay
Chiến tranh và quốc phòng với kinh tế theo quan điểm của chủ nghĩaMác - Lênin có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, tuy nhiên, chiến tranh và quốcphòng là các khái niệm không đồng nhất Từ điển bách khoa quân sự ViệtNam đã định nghĩa: “Chiến tranh, hiện tượng chính trị - xã hội có tính lịch
sử, là sự tiếp tục của chính trị bằng thủ đoạn bạo lực… Đặc trưng của chiếntranh là đấu tranh vũ trang có tổ chức, theo những quy tắc nhất định vàthường kết hợp với những hình thức đấu tranh khác” [53, tr.158] và “Quốcphòng, công cuộc giữ nước của một quốc gia, gồm tổng thể hoạt động đối
Trang 37nội và đối ngoại về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học … của nhànước và nhân dân để phòng thủ đất nước, tạo nên sức mạnh toàn diện, cânđối, trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng, nhằm giữ được hoà bình, đẩylùi, ngăn chặn các hoạt động gây chiến của kẻ thù và sẵn sàng đánh thắngchiến tranh xâm lược dưới mọi hình thức và quy mô Quốc phòng là hoạtđộng của cả nước, trong đó lực lượng vũ trang là lực lượng nòng cốt” [53,tr.680] Hoạt động quốc phòng là hoạt động được diễn ra thường xuyên,ngay cả trong điều kiện thời bình vì phải luôn sẵn sàng đối phó với nguy cơchiến tranh có thể xảy ra Trong tình hình hiện nay, hoạt động quốc phònggắn liền với an ninh, Đại hội X, Đảng ta khẳng định: “Xây dựng thế trậnquốc phòng toàn dân kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân” [19,tr.110].
Từ định nghĩa trên, nhận thấy đặc trưng cơ bản của chiến tranh là đấu tranh
vũ trang; quốc phòng là hoạt động của cả nước, trong đó lực lượng vũ trang lànòng cốt; điểm chung của cả hai định nghĩa này đều gồm các hoạt động quân sự,trong đó hoạt động của lực lượng vũ trang là nòng cốt Từ đó, khẳng định cảchiến tranh và quốc phòng đều có chung mối quan hệ biện chứng với kinh tế.Kinh tế được hiểu là toàn bộ các quan hệ sản xuất hợp thành kết cấu kinh
tế - xã hội trong một giai đoạn lịch sử, mang tính hệ thống, nó tác động đếnchiến tranh, quốc phòng với tư cách là một hệ thống chứ không phải ở từngnhân tố biệt lập Do vậy, theo quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen, kinh tế
Trang 38là nguồn gốc, là cơ sở của chiến tranh và quốc phòng; trong mối quan hệ giữaChiến tranh, quốc phòng với kinh tế xét đến cùng kinh tế là nhân tố quyếtđịnh chiến tranh và quốc phòng.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, chiến tranh và quốc phòngmột mặt phụ thuộc vào kinh tế, mặt khác, chúng lại tác động trở lại đối với sựphát triển kinh tế
Thứ nhất, sự phụ thuộc của chiến tranh và các hoạt động quốc phòng vào kinh tế.
Bàn về vấn đề này, Ph.Ăngghen đã có luận điểm nổi tiếng: “không có gìlại phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế hơn là chính ngay quân đội và hạmđội, vũ trang, biên chế, tổ chức, chiến thuật, chiến lược phụ thuộc trước hếtvào trình độ sản xuất đạt được trong một thời điểm nhất định và vào phươngtiện giao thông” [1, tr.235] Như vậy, kinh tế là nhân tố suy đến cùng quyếtđịnh quân đội (quyết định đến tổ chức, biên chế, phương hướng xây dựng lựclượng vũ trang và nghệ thuật quân sự…)
Sự phụ thuộc của chiến tranh, quốc phòng đối với kinh tế được thể hiện
ở một số vấn đề sau:
Một là, lợi ích kinh tế, suy cho cùng là nguyên nhân làm nảy sinh các mâuthuẫn và xung đột xã hội Việc giải quyết các mâu thuẫn và xung đột ấy đến mộtlúc nào đó sẽ được thực hiện bằng biện pháp quân sự thông qua chiến tranh
Trang 39Học thuyết Mác-Lênin về chiến tranh và quân đội đã vạch rõ nguồngốc, bản chất của chiến tranh: sự xuất hiện và tồn tại của chế độ chiếm hữu
tư nhân về tư liệu sản xuất là nguồn gốc kinh tế, nguồn gốc sâu xa, suy đếncùng đã dẫn đến sự xuất hiện, tồn tại chiến tranh Chiến tranh trở thành
“bạn đường” của mọi chế độ tư hữu Đồng thời, sự xuất hiện và tồn tại củacác giai cấp đối kháng, sự bất bình đẳng kinh tế giữa người với người lànguồn gốc xã hội trực tiếp dẫn đến sự xuất hiện, tồn tại của chiến tranh.Theo V.I.Lênin: chiến tranh chỉ là sự tiếp tục của chính trị bằng những biệnpháp khác, cụ thể là bằng bạo lực Từ đó, ông nêu lên những luận điểm nềntảng: “Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế” [33, tr.349]; “Chínhtrị tức là kinh tế được cô đọng lại” [34, tr.147] “Chính trị không thể khôngchiếm địa vị hàng đầu so với kinh tế ” [33, tr.349]
Nguyên nhân kinh tế của chiến tranh trở nên thực sự rõ nét trong thời đại
tư bản chủ nghĩa Chiến tranh gắn liền với xu hướng bành trướng thế lực tưbản ra thế giới nhằm tìm kiếm thị trường tiêu thụ, nguồn nguyên liệu và nhâncông giá rẻ Hoạt động của quy luật giá trị thặng dư trong nền sản xuất tư bảnchủ nghĩa đã kích thích các nhà tư bản dùng mọi thủ đoạn, kể cả gây chiếntranh để thu lợi nhuận Thực tiễn hai cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất vàlần thứ hai đã chứng minh nhận định trên Chiến tranh xâm lược, giành thuộcđịa luôn gắn với bản chất kinh tế của chủ nghĩa đế quốc Trong điều kiện hiệnnay, bản chất hiếu chiến, xâm lược của chủ nghĩa đế quốc vẫn không thay đổi,
Trang 40còn chủ nghĩa đế quốc là còn nguy cơ chiến tranh, do vậy, các quốc gia, dântộc vẫn phải duy trì các hoạt động quốc phòng.
Từ những phân tích trên cho thấy, tuy chiến tranh không trực tiếp sinh ra
từ kinh tế mà thông qua chính trị; song chính trị bao giờ cũng phản ánh nhữnglợi ích kinh tế nhất định Vì vậy, kinh tế vẫn là nguyên nhân suy cho cùng làmnảy sinh chiến tranh
Hai là, kinh tế là nguồn cung cấp các phương tiện vật chất, kỹ thuật đểtiến hành chiến tranh và thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng
Để tiến hành chiến tranh và nâng cao khả năng phòng thủ của đất nước, tấtyếu phải có vũ khí và các phương tiện quân sự khác; những cái đó chỉ có thể sảnxuất ra bởi các ngành kinh tế quốc dân Ph.Ăngghen khẳng định: “Bất cứ ở đâu
và bất cứ lúc nào, những điều kiện kinh tế và tài nguyên kinh tế đều là những cái
đã giúp cho “bạo lực” chiến thắng, nếu không có những điều kiện và tài nguyên
đó thì bạo lực không còn là bạo lực nữa” [1, tr.242]
Trình độ phát triển của nền kinh tế càng cao thì khả năng trang bị, đáp ứngnhu cầu của chiến tranh và quốc phòng càng tốt; từ cơ sở vật chất kỹ thuật, khítài, trang bị, khả năng bảo đảm hậu cần nuôi dưỡng và huấn luyện bộ đội; vai trònày được tăng lên cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất Tuy nhiên, việcbảo đảm cơ sở vật chất kỹ thuật, NNL cho chiến tranh và quốc phòng không chỉphụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế mà còn phụ thuộc cả vào chế độ kinh tế,tức là phụ thuộc vào tính chất xã hội của nền kinh tế