1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Áp dụng biện pháp phòng, chẩn đoán, điều trị bệnh cho đàn gia súc, gia cầm tại xã bình minh – thanh oai hà nội

54 1,1K 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 486,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều kiện của bản thân - Đang học ngành thú y có trình độ đại học, đã được học các môn cơ sở và chuyên ngành như: sinh lí vật nuôi, sinh hóa, nội khoa, ngoại khoa, bệnh truyền nhiễm gia

Trang 1

NGUYỄN THỊ THẢO

Tên đề tài:

“ÁP DỤNG BIỆN PHÁP PHÕNG, CHẨN ĐOÁN, ĐIỀU TRỊ BỆNH CHO ĐÀN GIA SÖC, GIA CẦM

TẠI XÃ BÌNH MINH - THANH OAI - HÀ NỘI”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Liên thông chính quy Chuyên ngành : Thú Y

Thái Nguyên, năm 2014

Trang 2

NGUYỄN THỊ THẢO

Tên đề tài:

“ÁP DỤNG BIỆN PHÁP PHÕNG, CHẨN ĐOÁN, ĐIỀU TRỊ BỆNH CHO ĐÀN GIA SÖC, GIA CẦM

TẠI XÃ BÌNH MINH - THANH OAI - HÀ NỘI”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Liên thông chính quy Chuyên ngành : Thú Y

Giảng viên hướng dẫn : ThS Dương Thị Hồng Duyên

Thái Nguyên, năm 2014

Trang 3

Thực hiện phương châm "Học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với

xã hội", việc trang bị cho người học kiến thức thực tế về nghề nghiệp trước khi ra trường là một vấn đề hết sức quan trọng và cấp thiết

Xuất phát từ quan điểm trên, được sự đồng ý và giới thiệu của khoa Chăn nuôi thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi được thực tập tại xã Bình Minh – Thanh Oai – Hà Nội Đến nay tôi đã thực tập xong và hoàn thành chuyên đề thực tập tôt nghiệp của mình dưới sự cố gắng, tinh thần làm việc khẩn trương của bản thân và sự chỉ đạo, giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn thực tập cũng như các đồng chí lãnh đạo, cán bộ chuyên môn UBND xã Bình Minh

Vậy cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo ThS

Dương Thị Hồng Duyên đã quan tâm, giúp đỡ, tận tình hướng dẫn tôi hoàn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

Trang Bảng 3.1: Kết quả công tác phục vụ sản xuất……… 41

Bảng 3.2: Điều tra tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm tại xã Bình Minh –

Thanh Oai – Hà Nội 42

Bảng 3.3: Tình hình mắc bệnh trên đàn gia súc, gia cầm nuôi tại xã Bình

Minh – Thanh Oai – Hà Nội 43

Bảng 3.4 Kết quả công tác chẩn đoán và điều trị cho đàn gia súc, gia cầm

tại xã Bình Minh – Thanh Oai – Hà Nội……… 45

Trang 5

UBND: Ủy ban nhân dân

HĐND: Hội đồng nhân dân

Trang 6

Trang

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC BẢNG BIỂU ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Sự cần thiết tiến hành nội dung thực tập 2

1.3 Điều kiện thực hiện chuyên đề 2

1.3.1 Điều kiện của bản thân 2

1.3.2 Điều kiện của cơ sở thực tập 2

1.4 Mục tiêu cần đạt được sau khi kết thúc chuyên đề 11

1.5 Tổng quan tài liệu 11

1.5.1 Cơ sở của việc chẩn đoán, điều trị bệnh gia súc, gia cầm 11

1.5.2 Cơ sở của việc phòng bệnh cho gia súc, gia cầm 13

1.5.3 Một số bệnh thường gặp 15

1.5.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 28

PHẦN 2 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

2.1 Đối tượng nghiên cứu 32

2.2 Nội dung nghiên cứu 32

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 32

2.2.2 Thời gian nghiên cứu 32

2.2 Nội dung nghiên cứu 32

2.3 Địa điểm, thời gian tiền hành 32

2.3.1 Địa điểm nghiên cứu 32

Trang 7

2.4.1 Phương pháp điều tra 32

2.4.2 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 33

2.4.3 Phương pháp sử lý số liệu 34

PHẦN 3 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 35

3.1 Kết quả phục vụ sản xuất 35

3.1.1 Công tác tuyên truyền vận động 35

3.1.2 Công tác vệ sinh thú y 36

3.1.3 Công tác tiêm phòng 37

3.1.4 Công tác khác 37

3.2 Kết quả thực hiện chuyên đề 38

3.2.1 Kết quả điều tra tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm tại xã Bình Minh – Thanh Oai – Hà Nội 38

3.2.2 Tình hình mắc bệnh trên đàn gia súc, gia cầm nuôi tại xã Bình Minh – Thanh Oai – Hà Nội 39

3.2.3 Kết quả chẩn đoán và điều trị cho gia súc, gia cầm tại xã Bình Minh – Thanh Oai – Hà Nội 40

PHẦN 4 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 44

4.1 Kết luận 44

4.2 Tồn tại 44

4.3 Đề nghị 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

I Tài liệu tiếng việt 46

II Tài liệu dịch từ nước ngoài 47

III Tài liệu tiếng Anh 47

Trang 8

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây sản xuất nông nghiệp nước ta đã có những bước tiến mới Song song với ngành trồng trọt thì chăn nuôi cũng đã và đang là ngành chính chiếm vị trí quan trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nước nhà Ngành chăn nuôi cung cấp nguồn thực phẩm chính, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người và cung cấp nguồn phân bón hữu cơ cho ngành trồng trọt, đồng thời tận dụng được các sản phẩm dư thừa trong đời sống sinh hoạt của người dân

Ngoài ra, ngành chăn nuôi còn góp phần làm tăng kim ngạch xuất khẩu,

là nguồn thu nhập ngoại tệ đáng kể cho nền kinh tế quốc dân, chính vì vậy mà ngành chăn nuôi nước ta ngày càng phát triển cả về số lượng, năng suất cũng như chất lượng sản phẩm

Tuy nhiên, bên cạnh những tiến bộ đã đạt được, ngành chăn nuôi còn gặp không ít khó khăn, đó là vấn đề dịch bệnh Hiện nay người chăn nuôi thường gặp một số khó khăn trở ngại như gia súc mắc phải một số bệnh truyền nhiễm gây tổn thất khá lớn về kinh tế cho người chăn nuôi Do kỹ thuật không đảm bảo, vệ sinh chuồng trại không phù hợp, không tiêm phòng vacxin hoặc có tiêm phòng nhưng không đúng quy trình kỹ thuật, tập quán chăn nuôi lạc hậu cũng làm cho chăn nuôi đạt hiệu quả kinh tế thấp

Xã Bình Minh thuộc huyện Thanh Oai - Hà Nội, đa số người dân sống bằng nghề nông nghiệp, phát triển kinh tế theo kiểu tăng gia sản xuất bằng hình thức chăn nuôi trong các hộ gia đình, với quy mô vừa và nhỏ dưới nhiều hình thức khác nhau Tuy nhiên việc chăn nuôi hiện nay còn gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh ngày càng gia tăng, đặc biệt là bệnh truyền nhiễm gây chết hàng loạt làm thiệt hại lớn về kinh tế cho người chăn nuôi

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn sản xuất tại địa phương, được sự phân công của Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông - Lâm Thái Nguyên,

Trang 9

dưới sự hướng dẫn của cô ThS Dương Thị Hồng Duyên, tôi tiến hành nội dung

thực tập: “Áp dụng biện pháp phòng, chẩn đoán, điều trị bệnh cho đàn gia

súc, gia cầm tại xã Bình Minh – Thanh Oai - Hà Nội”

1.2 Sự cần thiết tiến hành nội dung thực tập

Tình hình dịch bệnh hiện nay trên đàn gia súc, gia cầm trên cả nước đang bùng phát mạnh, đặc biệt là dịch Lở mồm long móng, tai xanh… trên đàn gia súc có có tốc độ lây lan nhanh Do vậy, là một cán bộ thú y tương lai, việc tham gia công tác phòng chống dịch và điều trị bệnh cho đàn gia súc, gia cầm tại địa phương là hết sức cần thiết

1.3 Điều kiện thực hiện chuyên đề

1.3.1 Điều kiện của bản thân

- Đang học ngành thú y có trình độ đại học, đã được học các môn cơ sở và chuyên ngành như: sinh lí vật nuôi, sinh hóa, nội khoa, ngoại khoa, bệnh truyền nhiễm gia súc, gia cầm

- Đã được tiếp cận với thực tiễn sản xuất thông qua các đợt thực tập nghề nghiệp ở các địa điểm khác nhau Tuy nhiên, kinh ngiệm thực tế chưa có nhiều,

do vậy thông qua đợt thực tập tốt ngiệp là cơ hội thuân lợi để học hỏi về chuyên môn từ đó nâng cao tay nghề của bản thân góp phần vào sự phát triển chung của ngành chăn nuôi thú y

- Có khả năng đọc tài liệu khoa học về chuyên môn, với sự hướng dẫn, giúp

đỡ của thầy cô giáo khoa chăn nuôi thú y, đặc biệt là ThS Dương Thị Hồng Duyên

- Bản thân có sức khỏe tốt để tham gia hoạt động tốt công tác chăn nuôi thú y xã

1.3.2 Điều kiện của cơ sở thực tập

1.3.2.1.Điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý

Bình Minh là xã thuộc vùng bán sơn địa năm ở phía bắc của huyện Thanh Oai, cách trung tâm huyện 9 km địa hình rộng với diện tích tự nhiên toàn xã là 672,3 ha Địa giới hành chính được xác định:

Trang 10

- Phía Bắc giáp xã Bích Hòa

- Phía Đông giáp xã Cự Khê và xã Mỹ Hưng

- Phía Tây giáp xã Thanh Cao và xã Cao Viên

- Phía Nam giáp xã Thanh Mai và xã Tam Hưng

Là xã có vị trí thuận lợi cho việc giao lưu hàng hóa phát triển kinh tế - xã hội bởi có hai trục đường quốc lộ là 21B và 427 chạy qua

* Địa hình, đất đai

Địa hình của xã bị chia cắt khá phức tạp với độ cao, thấp không đồng đều mang đặc thù của xã thuộc đồng bằng Bắc Bộ Với địa hình không đồng đều, đất vùng trũng được phân bố nằm rải rác trong phạm vi toàn xã đã gây không ít khó khăn cho việc bố trí, lựa chọn các giống cây trồng, vật nuôi…

Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thay thế được trng sản xuất nông nghiệp Vai trò của đất đai càng trở lên quan trọng hơn đối với những địa phương mà sản xuất nông nghiệp là chủ yếu như xã Bình Minh Vấn đề sử dụng đất đai có ý nghĩa rất lớn trong vấn đề phát triển kinh tế - xã hội của một địa phương

Bình Minh là xã có tổng diện tích tự nhiên trung bình trong huyện Trong đó: + Nhóm đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn chiếm tới 52,10% tổng diện tích, nhóm đất chưa sử dụng đến năm 2012 giảm còn 1,19 ha, chiếm 0,18% tổng diện tích đất tự nhiên Đất chưa sử dụng giảm chủ yếu do các vùng đất trũng được cải tạo, khắc phục thoát nước đưa vào sản xuất nông nghiệp chủ yếu là sản xuất cây rau Diện tích mặt nước sông ngòi là 39,97 ha Đây là nguồn tài nguyên nước rất thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp tại địa phương Với diện tích ngày càng giảm thì vấn đề trồng và phát triển cây gì có hiệu quả trên những thửa đất của hộ nông dân là điều rất quan trọng Nhà nước cần có những chủ trương, chính sách hỗ trợ, khuyến khích để khai thác triệt để tư liệu sản xuất đất đai quý hiếm này đồng thời phát huy được thế mạnh về đất đai của vùng

* Giao thông, thủy lợi

- Về giao thông: Toàn xã có 11,6 km đường trục xã và liên xã trong đó tỷ

lệ cứng hóa đạt 90,38% Các tuyến đường trục xã và liên xã đảm bảo cho các loại xe cơ giới đi lại song đến mùa mưa đường trũng bị ngập nhiều, lưu lượng xe

Trang 11

cơ giới đi lại nhiều gây nên khó khăn cho việc đi lại giao lưu phát triển kinh tế -

xã hội của nhân dân địa phương và khu vực Đường thôn, ngõ, xóm tổng chiều dài 37 km được phân bố trên địa bàn 10 thôn và các trục đường nối các thôn Trong những năm qua được sự quan tâm hỗ trợ từ ngân sách cấp trên cùng ngân sách hỗ trợ một phần, đảng ủy, UBND xã tập trung chỉ đạo phát huy nội lực của nhân dân tổ chức bê tông hóa được 35 km đạt 94,59%, tạo điều kiện việc đi lại giao lưu và buôn bán được thuận lợi

- Về thủy lợi: Trên địa bàn xã có 9 trạm bơm cục bộ do địa phương quản

lý để phục vụ tưới cho trên 200 ha đất canh tác nông nghiệp được phục vụ tưới nước từ hệ thống công trình thủy lợi Bảo Sơn Nguồn nước bơm phục vụ sản xuất được lấy từ song Tiêu Sái chạy qua địa bàn xã Các trạm bơm điện chủ yếu được xây dựng từ những năm 1980 – 1992, có 4 trạm bơm được sửa chữa nâng cấp từ năm 1995 – 2000 nên cơ bản các trạm đã xuống cấp, vận hành chi phí cao, hiệu quả thấp không đáp ứng được nhu cầu phục vụ sản xuất của nhân dân địa phương

* Thời tiết, khí hậu

Xã Bình Minh nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa và chịu ảnh hưởng của khí hậu vùng Đồng bằng Sông Hồng Thời tiết trong năm được chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa nóng và mùa lạnh Mùa nóng: ẩm, mưa nhiều còn mùa lạnh: hanh, khô và mưa ít

Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,50C Nhiệt độ cao nhất vào các tháng 5,6,7,8 lên tới 35 - 36,50C Nhiệt độ thấp nhất là vào các tháng 12, 1, 2 xuống còn 15 - 170C

Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 64,5%

Lượng nước bốc hơi trung bình hàng năm là 960 mm

Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.650 – 1.812 mm/ năm Tháng có lượng mưa lớn nhất lên tới 900 mm, tháng có lượng mưa nhỏ nhất chỉ đạt 17 -

24 mm

Trang 12

Tổng số giờ nắng trung bình hàng năm là 1.680 giờ Số giờ nắng trung bình vào mùa hè là 6 - 7 giờ/ ngày Trung bình số giờ nắng trong tháng là 23 ngày Nhìn chung, khí hậu và thời tiết nơi đây tương đối thuận lợi và thích hợp cho sự phát triển ngành nông nghiệp nói chung và cây rau nói riêng

1.3.2.2 Điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội

* Điều kiện kinh tế - xã hội

Tính đến tháng 6/ 2014 toàn xã có 607 hộ với 9594 khẩu chỉ có duy nhất

một dân tộc sinh sống phân bố đều tại 10 thôn trong xã

Về lao động trong xã: Từ 2012 – 2014 số lao động tăng lên 2982 người với tốc độ phát triển bình quân qua 3 năm là 29%, lao động có độ tuổi trung bình

từ 40 – 50 tuổi Trong tổng số lao động thì lao động trong lĩnh vực nông nghiệp

là nhiều nhất và đang giảm dần do có sự chuyển dịch về cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn Nguồn lao động chủ yếu là lao động nông nghiệp do đó, sau mùa vụ số lao động nông nhàn khá cao, tình trạng dư thừa sức lao động khá phổ biến, trong khi đó các ngành nghề khác thu hút sức lao động chưa tực sự phát triển mạnh

Về việc trẻ hóa đội ngũ lao động và phấn đấu số lao động có trình độ từ trung học phổ thông trở lên ngày càng cao Do điều kiện tự nhiên và kinh tế của xã nên phần lớn thanh niên của xã làm trong các công ty hoặc đi xuất khẩu lao động

Do nông nghiệp là ngành chủ đạo nên số hộ nông nghiệp còn chiếm tỷ lệ khá cao, năm 2012 là 8,4% tương đương 2046 hộ nên số khẩu nông nghiệp cũng

có tỷ lệ lớn Song cơ cấu hộ nông nghiệp so với tổng số hộ có xu hướng giảm dần qua các năm điều này giúp thúc đẩy kinh tế của xã có sự chuyển dịch đáng

kể Trong những năm gần đây, chủ trương công nghiệp hóa nông thôn diễn ra khá mạnh, qua 3 năm số hộ phi nông nghiệp trong xã tăng nhanh (bình quân tăng 12,38%) làm số khẩu phi nông nghiệp cũng tăng

* Y tế - văn hóa - giáo dục

- Về y tế: Xã có trạm y tế xã nằm ở khu vực trung tâm của xã, trạm y tế tương đối khang trang, sạch sẽ, đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn trung

Trang 13

cấp, cao đẳng và đại học Trong những năm qua, trạm đã thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia như tiêm chủng mở rộng, phòng chống bệnh uốn ván, sốt rét, viêm gan B, lao, bướu cổ, mù lòa, kế hoạch hoá gia đình

- Về văn hóa: Phong trào "Toàn dân đoàn kết văn hóa xây dựng đời sống văn hóa" được phát động mạnh mẽ và được quần chúng nhân dân đồng tình hưởng ứng đã tạo nên được không khí sôi nổi trong các ngày lễ như: Ngày Quốc

tế lao động 1/5, ngày thương binh liệt sĩ 27/7, ngày thành lập Đảng 3/2, ngày quốc tế phụ nữ 8/3, ngày quốc tế thiếu nhi 1/6 Tham gia các giải thể thao của huyện như: bóng đá, bóng chuyền, cầu lông Hiện nay, mỗi thôn đều có nhà văn hóa riêng, năm 2013 có 10/10 thôn đạt làng văn hóa cấp huyên, 5/10 thôn đạt làng văn hóa cấp tỉnh

- Về giáo dục: Thực hiện tốt công tác xã hội hóa giáo dục, quan tâm thực hiện tốt có hiệu quả phong trào xây dựng "Trường học thân thiện, học sinh tích cực"

+ Đối với mầm non: Được công nhận là trường chuẩn quốc gia, làm tốt công tác vận động trẻ trong độ tuổi đi nhà trẻ và mẫu giáo, không ngừng nâng cao chất lượng dinh dưỡng bữa ăn cho trẻ

+ Đối với hệ Tiểu học và THCS: Không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, đẩy mạnh phong trào thi đua dạy tốt học tốt, hệ thống cơ sở ngày càng được đảm bảo, nhờ vậy mà chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cấp

+ Trong 6 tháng đầu năm 2014, xã đã tổ chức được 7 lớp chuyển giao khoa học kĩ thuật trong đó có 5 lớp về trồng trọt, 2 lớp về chăn nuôi, ngoài ra xã còn tổ chức tập huấn về phòng chống bão lụt, mở lớp đào tạo nghề cho đối tượng chính sách

1.3.2.3 Điều kiện sản xuất của cơ sở

* Tình hình phát triển ngành chăn nuôi

Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước theo hướng công nghiệp hóa và đa dạng hóa các thành phần kinh tế theo cơ chế thị trường thì ngành chăn nuôi của xã ngày càng được đẩy mạnh và hiệu quả

Trang 14

chăn nuôi ngày càng được nâng cao Nhân dân trong xã chủ yếu nuôi các loại gia súc, gia cầm như trâu bò, lợn, gà, vịt

+ Chăn nuôi đại gia súc (trâu, bò)

Chăn nuôi trâu, bò chiếm một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi, nó không những cung cấp sức kéo cho nông nghiệp mà còn cung cấp các sản phẩm như thịt, cung cấp nguyên liệu cho các ngành chế biến như xương, da , cung cấp phân bón cho cây trồng, làm giảm đáng kể chi phí mua phân bón

Số lượng gia súc hiện có: Theo số liệu điều tra năm 2014 đàn trâu, bò của

xã là 209 con trong đó trâu là 94 con, bò là 115 con

Thức ăn: Chủ yếu là tận dụng từ nông nghiệp như: cây ngô, cây lạc, khoai lang, cám, tấm, cỏ, rơm rạ, chăn thả tự do ở các sườn mương bãi, bờ đê, bờ ruộng Nhìn chung chất lượng thức ăn còn thấp do người dân chưa quan tâm đến vấn đề dinh dưỡng thức ăn cho trâu, bò nên khả năng sinh trưởng, phát triển của trâu, bò chưa cao

Giống: Ngày càng được bà con chú trọng, nhất là giống bò Laisind được nuôi phổ biến nhất và loại giống này có ưu điểm vừa thích nghi với điều kiện khí hậu nước ta, vừa phù hợp với phương thức chăn nuôi hộ gia đình, có khả năng chống bệnh tật tốt

Chuồng trại: Mặc dù đã được xây dựng kiên cố nhưng vấn đề vệ sinh thú

y chưa được cao, mặt khác người chăn nuôi còn cần nhiều phân bón cung cấp cho ngành trồng trọt nên chuồng nuôi thường lầy lội, ẩm ướt nên tình hình dịch bệnh vẫn còn xảy ra đặc biệt là vào mùa mưa

Chăm sóc nuôi dưỡng: Đối với những hộ chăn nuôi trâu, bò lấy thịt và quy

mô lớn thì vấn đề chăm sóc nuôi dưỡng được chú trọng hơn, còn đa phần thì người chăn nuôi chưa thật sự quan tâm đến vấn đề chăm sóc nuôi dưỡng

Thu nhập từ chăn nuôi trâu bò: Việc chăn nuôi trâu, bò là phục vụ sản xuất cày kéo cho ngành trồng trọt và cung cấp phân bón, nuôi sinh sản và giết thịt Do giá trị sản phẩm thịt từ chăn nuôi trâu, bò cao nên thu nhập chăn nuôi trâu, bò tương đối cao so với các ngành khác Vì vậy, chúng ta cần có kế hoạch đầu tư hợp lý để thúc đẩy hơn nữa trong việc cải tạo giống trâu, bò, nâng cao sản

Trang 15

phẩm thịt, nâng cao giá trị kinh tế từ chăn nuôi trâu, bò Do vậy, người chăn nuôi cần có biện pháp khắc phục các dịch bệnh bằng cách vệ sinh gia súc, chăm sóc nuôi dưỡng tốt, tiêm phòng đầy đủ trước khi dịch bệnh xảy ra

+ Chăn nuôi lợn

Tổng đàn lợn của toàn xã là 2262 con

Thức ăn: Những hộ chăn nuôi chủ yếu cho ăn theo phương thức công nghiệp, sử dụng thức ăn chế biến sẵn như các loại thức ăn hỗn hợp, những hộ chăn nuôi nhỏ lẻ thì tận dụng thức ăn từ sản phẩm của nông nghiệp: ngô, khoai, sắn, cám gạo kết hợp với thức ăn đậm đặc hoặc thức ăn viên Các hộ chăn nuôi

đã chú trọng đến và quan tâm nhiều đến vấn đề dinh dưỡng thức ăn cho lợn, họ

đã biết phối trộn thức ăn với nhau để đảm bảo giá trị dinh dưỡng trong khẩu phần thức ăn cho đàn lợn, tăng khả năng sinh trưởng, phát triển và đảm bảo được chất lượng thịt

Giống: Được nhập các giống tốt như lợn Ỉ, lợn Móng cái, lợn Duroc, lợn Yorkshire, lợn Landrace, lợn Pietrain đều là các giống lợn cao sản có giá trị kinh

tế cao khả năng sinh trưởng và cho chất lượng thịt cao

Chuồng trại: Quy mô xây dựng chuồng trại trong chăn nuôi lợn phụ thuộc vào kinh tế cũng như sự hiểu biết về kĩ thuật trong chăn nuôi, đa phần chuồng trại được xây dựng thoáng mát về mùa hè và ấm áp về mùa đông, chuồng nuôi hợp vệ sinh, có máng ăn máng uống, còn lại số ít hộ bố trí chuồng nuôi chưa được hợp vệ sinh, chưa có hệ thống thoát nước, làm tồn đọng gây ô nhiễm môi trường Đây cũng là nguyên nhân làm cho mầm bệnh phát sinh, phát triển gây bệnh cho vật nuôi làm ảnh hưởng đến năng xuất chăn nuôi

Chăm sóc nuôi dưỡng: Đa phần các hộ chăn nuôi đều chú trọng quan tâm đến công tác chăm sóc nuôi dưỡng, đảm bảo khẩu phần ăn hợp lý, cân đối, đầy

đủ dinh dưỡng cho vật nuôi Tuy nhiên, một số hộ nuôi ít thì vấn đề vệ sinh còn kém, chưa đảm bảo như thức ăn còn bị ôi thiu, nấm mốc, gây ra các bệnh về đường tiêu hóa, làm cho lợn chậm lớn, năng xuất thấp

Trang 16

Thu nhập từ chăn nuôi lợn: Hàng năm trong chăn nuôi lợn cho thu nhập rất cao so với các nguồn thu nhập khác từ nông nghiệp, chủ yếu cung cấp thịt trong vùng và xuất khẩu ra vùng lân cận, ngành chăn nuôi lợn được các hộ hưởng ứng một phần tận dụng nguồn thức ăn dư thừa, không tốn thời gian nhiều nên việc chăn nuôi lợn được người dân địa phương nuôi với số lượng tương đối lớn

+ Chăn nuôi gia cầm:

Tổng đàn gia cầm của toàn xã là 35950 con

Thức ăn: Những hộ chăn nuôi, quy mô lớn thì hầu hết cho ăn theo phương thức công nghiệp còn những hộ chăn nuôi nhỏ thì tận dụng thức ăn từ nông nghiệp Tận dụng nguồn thức ăn là sản phẩm phụ của gia đình và ngành trồng trọt như: ngô, khoai, sắn, thóc, gạo chủ yếu là nuôi thả với các hộ gia đình chăn nuôi nhỏ, còn đối với các hộ chăn nuôi bán công nghiệp vừa là tận dụng các nguồn thức ăn có sẵn vừa sử dụng một phần thức ăn công nghiệp như sử dụng ngô để pha trộn các thức ăn đậm đặc Một số hộ gia đình chăn nuôi theo hình thức công nghiệp với số lượng lớn thì thức ăn chủ yếu là được chế biến sẵn bán trên thị trường

Giống: Nhập các giống tốt, siêu trứng, chuyên thịt như các giống gà ri, vịt

cỏ, ngan sen, các giống gia cầm nhập nội có khả năng tăng trọng nhanh có năng xuất cao như gà lai mía, gà lương phượng, ngan pháp

Chuồng trại: Đa phần đều có chuồng trại hợp vệ sinh, có đầy đủ máng ăn, máng uống, kín đáo và khô ráo

Thu nhập từ chăn nuôi gia cầm: So với các ngành chăn nuôi khác thì thu nhập từ ngành chăn nuôi gia cầm là tương đối cao, đáp ứng đầy đủ tiêu dùng của người dân trong vùng và các vùng lân cận Hiện nay, trên địa bàn xã có hơn 50

hộ chăn nuôi từ 500 con trở lên và nguồn thu nhập chính của họ là chăn nuôi gia cầm, tuy nhiên tổn thất từ dịch bệnh cũng làm cho giá cả ngành chăn nuôi gia cầm không ổn định

+ Chăn nuôi các loại gia súc khác

Chăn nuôi chó, mèo: Số lượng đàn chó mèo năm 2014 theo thống kê là

1585 con, các hộ chăn nuôi chỉ với mục đích giữ nhà và bắt chuột là chính, một số ít nuôi kinh tế nhưng thu nhập kinh tế chưa cao, vì vậy mà người dân

Trang 17

chưa chú trọng đến phương thức chăn nuôi chó mèo, chưa quan tâm đến việc chăm sóc nuôi dưỡng vệ sinh phòng dịch, dịch bệnh vẫn thường xảy ra nhất là những lúc chuyển giao thời tiết giữa các mùa như bệnh đường tiêu hóa, bệnh đường hô hấp

Chăn nuôi cá: Trong toàn xã hiện nay có 45 ha diện tích mặt nước nuôi

cá Hằng năm cho thu nhập trung bình 367 tấn cá, thức ăn sử dụng để chăn nuôi

cá thường là rau, cỏ

* Công tác thú y xã Bình Minh

Mạng lưới thú y xã tương đối đầy đủ, đứng đầu là trưởng thú y xã, cùng với 10 thú y viên ở 10 thôn Tất cả đội ngũ thú y cơ sở đều được đào tạo và dặn kinh nghiệm Thú y viên chịu trách nhiệm tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm của địa phương Họ tham gia chẩn đoán, điều trị bệnh cho vật nuôi của toàn xã

và các xã lân cận Đặc biệt một công việc quan trọng là thường xuyên kiểm tra, giám sát, theo dõi tình hình dịch bệnh của địa phương để có biện pháp xử lý kịp thời khi có dịch bệnh xảy ra

Trong công tác phòng chống dịch thì biện pháp quan trọng nhất đó là tiêm phòng vacxin tạo miễn dịch chủ động cho vật nuôi

Công tác tiêm phòng được chia ra làm các đợt sau:

- Tiêm phòng định kì: tiêm phòng đại trà cho đàn gia súc, gia cầm gồm 2 đợt: Đợt 1: Vào tháng 3

Các bệnh được tiêm phòng chủ yếu là các bệnh dễ lây lan như:

+ Bệnh ở trâu bò: Bệnh tụ huyết trùng, bệnh lở mồm long móng

Trang 18

+ Bệnh ở lợn: Bệnh dịch tả, tai xanh, tụ huyết trùng, phó thương hàn, lở mồm long móng, bệnh tai xanh

+ Bệnh ở gia cầm: Bệnh cúm H5N1, Newcastle, tụ huyết trùng, Gumboro, dịch tả vịt

- Có hệ thống thú viên chặt chẽ (mỗi thôn có một thú y viên riêng), có trình

độ từ trung cấp trở lên, có kinh nghiệm hoạt động nhiều năm tại thôn phụ trách

- Người dân có ý thức trong công tác phòng bệnh, luôn phối hợp với cán

bộ thú viên

* Khó khăn

- Mức độ đầu tư, chế độ chăm sóc, quản lý trong ngành chăn nuôi thực hiện còn chưa tốt nên chưa phát huy hết lợi thế về chăn nuôi

- Cơ sở vật chất phục vụ công tác thú y của xã còn hạn chế

1.4 Mục tiêu cần đạt đƣợc sau khi kết thúc chuyên đề

- Tham gia công tác tiêm phòng, chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn gia súc, gia cầm tại địa phương

- Giúp đỡ các nông hộ xây dựng quy trình vệ sinh phòng bệnh, nhằm nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi

Từ đó nâng cao tay nghề trong việc phòng bệnh, chẩn đoán và điều trị

1.5 Tổng quan tài liệu

1.5.1 Cơ sở của việc chẩn đoán, điều trị bệnh gia súc, gia cầm

Nước ta nằm ở khu vực Đông Nam Á thuộc khu vực nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều, với nhiều đồi núi, đồng cỏ là điều kiện thuận lợi cho việc sinh

Trang 19

sống, phát triển của vi sinh vật gây bệnh cho gia súc, gia cầm Những tác động gây bệnh đó có thể là do virus, vi khuẩn, ký sinh trùng, nấm mốc chúng xâm nhập vào cơ thể gia súc, gia cầm gây tổn thương và làm mất giá trị cân bằng sinh học của cơ thể Khi gia súc, gia cầm bị bệnh sẽ gây ra tác hại không nhỏ đối với ngành chăn nuôi như số lượng gia súc, gia cầm bị bệnh tăng dẫn đến sản lượng và chất lượng thịt, trứng, sữa và các sản phẩm khác giảm , vật nuôi

bị bệnh thì khả năng lao tác bị giảm, ảnh hưởng tới thời vụ sản xuất và năng xuất cây trồng giảm Ngoài ra, khi đàn gia súc, gia cầm bị bệnh truyền nhiễm thì việc buôn bán, trao đổi vật nuôi phải ngừng lại Chính vì những tác hại to lớn đó mà việc chẩn đoán và điều trị kịp thời cho đàn gia súc, gia cầm mắc bệnh là vấn đề bức thiết đặt ra

Chẩn đoán bệnh là việc vận dụng các phương pháp chẩn đoán khác nhau

để phát hiện hết các triệu trứng, biểu hiện của bệnh nhằm đánh giá, phân tích tổng hợp các triệu trứng và rút ra kết luận của bệnh Một chẩn đoán đúng và sớm

là điều kiện trước tiên để đề ra biện pháp điều trị bệnh có hiệu quả cao Các phương pháp chẩn đoán gồm: Chẩn đoán lâm sàng, các phương pháp chẩn đoán trong phòng thí nghiệm

Yêu cầu của quá trình chẩn đoán bệnh cần phải làm rõ các nội dung sau:

Vị trí của cơ quan, tổ chức bị bệnh trong cơ thể, tính chất của bệnh, hình thái và mức độ rối loạn trong cơ thể bệnh, nguyên nhân gây bệnh

Phương pháp điều trị bệnh có nhiều phương pháp khác nhau, trong đó có

4 phương pháp sau đây được áp dụng:

+ Phương pháp điều trị bằng thuốc: sử dụng các loại dược liệu, hóa dược, chế phẩm sinh học để điều trị bệnh

+ Phương pháp vật lý trị liệu: Dùng các nhân tố vật liệu như ánh sáng, cơ học, nhiệt để điều trị bệnh

+ Phương pháp điều trị bằng Protein: Dựa trên sơ sở hình thành kháng thể của cơ thể khi có Protein lạ xâm nhập

Trang 20

+ Phương pháp điều trị bằng điều hòa dinh dưỡng: Một số bệnh nội khoa

có nguyên nhân nuôi dưỡng kém như suy dinh dưỡng, rối loạn tiêu hóa, ngộ độc thức ăn, chỉ cần điều hòa lại chế độ dinh dưỡng là bệnh tự khỏi

Tóm lại, trong điều trị bệnh thông thường ở vật nuôi, ngoài việc xác định triệu chứng, chẩn đoán chính xác bệnh, cần phải nắm vững nguyên tắc và phương pháp điều trị bệnh Trên cơ sở đó, vận dụng chính xác, phù hợp cho từng trường hợp cụ thể mới nâng cao hiệu quả trong điều trị bệnh

1.5.2 Cơ sở của việc phòng bệnh cho gia súc, gia cầm

Phòng bệnh là việc sử dụng tất cả các biện pháp để bảo vệ vật nuôi không

bị mắc bệnh Các biện pháp phòng bệnh cho vật nuôi như sau:

- Vệ sinh phòng bệnh gồm:

+ Vệ sinh chuồng trại: Thường xuyên quét dọn chuồng trại sạch sẽ, thu gom phân mang ủ, giữ cho chuồng trại mát mẻ về mùa hè, ấm áp về mùa đông Sát trùng và vệ sinh chuồng nuôi bằng cách quét nước vôi đặc 20% xung quanh chuồng nuôi hoặc dùng các loại thuốc sát trùng như Formol nồng độ 2% - 5%, sút 2% hoặc Chloramin 0,5% - 2%

+ Vệ sinh máng ăn, máng uống: Phải cọ rửa sạch rồi sát trùng bằng Formol nồng độ 2% hoặc Cloramin 2%, sau đó đem phơi nắng

+ Vệ sinh dụng cụ thú y: Bơm, kim tiêm, dao, kéo, pank, kim khâu sát trùng băng cồn 900

hoặc luộc trong nước sôi 30 phút

+ Tăng sức đề kháng cho vật nuôi để giúp vật nuôi có sức đề kháng tốt với bệnh tật Ngăn ngừa bệnh dịch lây lan: cách ly trước khi nhập đàn, cách ly con ốm với con khỏe, xử lý xác chết

Khi có dịch bệnh xảy ra: đốt rồi chôn sâu, sát trùng chuồng nuôi và khu vực xung quanh chuồng nuôi, tẩy trùng kỹ quần áo, giầy dép của người tiếp xúc với vật ốm, vật chết

- Tiêm phòng vắc xin

Theo Phạm Sỹ Lăng và Lê Thi ̣ Tài (1994) [6] cho biết: Các chế phẩm sinh học dùng để phòng bệnh truyền nhiễm được gọi là vắc xin Các vắc xin đó được

Trang 21

chế bằng bản thân mầm bệnh gây ra bệnh mà ta muốn phòng Khi chế bằng mầm bệnh đã bị giết chết gọi là vắc xin chết và chế bằng mầm bệnh được làm yếu đi sức gây bệnh gọi là vắc xin nhược độc Trong thú y hiện nay đang sử dụng 4 loại vaxin chính là vắc xin chết và vắc xin sống, vắc xin hỗn hợp và vắc xin giải độc tố

* Một số điều cần chú y khi sử dụng vắc xin:

- Trước khi dùng vắc xin phải kiểm tra kĩ, đảm bảo các tiêu chuẩn mới được dùng

- Vắc xin là thuốc thường được dùng để phòng bệnh cho động vật khỏe, chưa mắc bệnh

- Hiệu lực của vắc xin phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe của động vật Bình thường không nên dùng vắc xin cho động vật quá non và rất thận trọng với động vật mang thai

- Thời gian tạo miễn dịch ở động vật: Sau khi sử dụng vắc xin, động vật

sẽ tao được miễn dịch sau 2 - 3 tuần Khi dùng vắc xin lần đầu thì động vật sớm nhất sau một tuần mới có có khả năng miễm dịch nhưng kháng thể hình thành chưa nhiều và giảm đi rất nhanh Để tránh nhược điểm đó, phải sử dụng vắc xin lần thứ 2 cách lần thứ nhất 3 - 4 tuần

- Chất bổ trợ của vắc xin: Một số vắc xin được cho thêm chất bổ trợ với mục đích giữ lâu kháng nguyên trong cơ thể động vật, tăng sức miễn dịch và kéo dài thời gian miễn dịch

- Liều sử dụng: Cần sử dụng vắcn xin (cho uống, nhỏ mắt hay tiêm) đúng theo liều chỉ định đã ghi trên nhãn của lọ thuốc

Một số loại vắc xin thường được dùng trong thú y như sau:

- Vắc xin phòng bệnh cho trâu, bò như vắc xin tụ huyết trùng trâu bò, vắc xin nhũ hóa tụ huyết trùng trâu bò, vắc xin nhiệt thán

- Vắc xin phòng bệnh cho lợn như vắc xin đóng dấu lợn I (keo phèn), vắc xin đóng dấu lợn II (nhược độc), vắc xin tụ huyết trùng lợn, vắc xin dịch tả lợn, vắc xin phó thương hàn lợn, vắc xin sưng phù đầu

Trang 22

- Vắc xin phòng bệnh cho gia cầm như vắc xin Newcastle hệ I, vắc xin Newcastle hệ II đông khô chủng F, vắc xin dịch tả vịt đông khô

- Vắc xin phòng bệnh cho chó như vắc xin dại tươi, vắc xin dại đông khô, vắc xin phòng bệnh care (sài sốt chó)

Trên thế giới, bệnh tụ huyết trùng đã có từ lâu: Ở châu Âu (Pháp, Thụy

Sỹ, Đan Mạch, Liên Xô, Hungari, Braxin ), ở Châu Phi (Bắc phi, Ai Cập ), ở Châu Á (Trung Quốc, Miến Điện, Thái Lan )

Ở nước ta có bệnh khắp nơi, có khi chỉ có những ổ dịch lác đác, bệnh thường hay xảy ra vào mùa mưa, khí hậu nóng ẩm

* Căn bệnh

Bệnh gây ra bởi vi khuẩn Pasteurella multocida và vi khuẩn gây bệnh bại

huyết, xuất huyết cho gia súc, gia cầm

P multocida là loại trực khuẩn cầu nhỏ, hình trứng hoặc hình bầu dục,

hình tròn, kích thước 0,25 - 0,4 x 0,4 - 1,5µm, vi khuẩn không có lông, không hình thành nha bào Trong cơ thể gia súc mắc bệnh hình thành giáp mô nhưng khi nhuộm xem khó trông thấy Vi khuẩn có sức đề kháng kém với ngoại cảnh, nhiệt độ cao và các dung dịch sát trùng

* Dịch tễ học

- Loài mắc bệnh: Bệnh tụ huyết trùng gây ra trên tất cả các loài động vật

kể cả con người Động vật non cảm nhiễm mạnh hơn động vật trưởng thành

Trang 23

- Đường xâm nhập của vi khuẩn: Đường tiêu hóa là đường xâm nhập chính Vi khuẩn cũng có thể xâm nhập qua đường hô hấp nhất là phần trên

- 18 tháng giãy giụa, run rẩy, có triệu chứng thần kinh, rồi ngã xuống đất chết

Có khi con vật đang ăn, đột nhiên bỏ chạy như điên rồi đứng lại, run rẩy, ngã xuống, lịm đi và chết (thể kịch liệt)

+ Thể cấp tính

Thời kì nung bệnh ngắn từ 1 - 3 ngày, những triệu chứng nặng xuất hiện đột ngột Con vật mệt lả, không cử động, không nhai lại, bứt dứt, thân nhiệt tăng nhanh trong vài giờ lên tới 40 - 42oC Niêm mạc mắt, mũi đỏ ửng như màu gạch rồi tái xám đi Con vật chảy nước mắt, nước mũi, nước dãi Thường ngoài những triệu chứng chung này con vật còn có những triệu chứng cục bộ như: có những triệu chứng phổi, viêm màng phổi, viêm ngoại tâm mạc có nước màu vàng, trường hợp khu trú ở bụng có triệu chứng viêm ruột cấp tính lúc đầu đi táo, rồi đi tháo có máu, sau cùng viêm phúc mạc có nước vàng; trường hợp khu trú ở hạch lâm ba có triệu chứng viêm hạch ở mọi nơi, hạch bị sưng to, chỗ sưng nóng và đau, thường sưng hạch sau hầu

Thường bệnh tiến triển từ vài giờ đến 3 - 5 ngày, nếu bệnh chuyển sang thể bại huyết thì con vật chết nhanh chóng trong khoảng 24 giờ Ở trâu bệnh tiến triển nhanh hơn bò Trâu dễ mắc bệnh hơn có thể chết từ 90 - 95%, bò chết đột ngột 5 - 10%

+ Thể mạn tính: Bệnh kéo dài, xuất hiện những bệnh mạn tính ở ruột, phổi

và cuống phổi, có khi cả ngoại tâm mạc Thể này thường tiếp theo thể cấp tính hoặc ghép với một số bệnh khác như bệnh dịch tả trâu bò Bệnh tiến triển vài

Trang 24

tuần và kết thúc bằng cách hoặc con vật khỏi có triệu chứng nhẹ dần đi, hoặc con vật chết

Bệnh ở lợn

+ Thể quá cấp tính: con vật ốm nằm riêng một chỗ, không ăn, không cử động Nhiệt độ thân nhiệt tăng 40 - 42oC, thường thấy thủy thũng ở cổ, thở khó, khò khè Những vết đỏ nâu hoạc đỏ tím xuất hiện ở cuống tai và cổ Con vật chết trong vòng 12 - 24 giờ

+ Thể cấp tính: Bệnh bắt đầu như thể quá cấp tính nhưng có triệu chứng không rõ rệt và sau đó thì phát những dấu hiệu như viêm phổi hoặc viêm màng phổi, ho khan từng cơn, chảy nước mũi Con vật lúc đầu đi táo sau đó ỉa chảy có khi có máu hoặc cục máu do xuất huyết ruột Có những vết tím trên da, hầu sưng thủy thũng, lan rộng xuống vùng cổ và cằm Bệnh tiến triển từ 3 - 12 ngày, con vật gầy dần, ít ăn hoặc không ăn rồi chết Tỷ lệ chết tới 80% Nếu con vật không chết thì bệnh chuyển sang thể mạn tính

+ Thể mạn tính: Thể này thường tiếp theo thể cấp tính, con vật thở khó, thở nhanh, thở khò khè, ho từng hồi, ho liên miên, nhất là khi bị đuổi bắt, lúc vận động nhiều, ỉa chảy liên miên Khớp xương bị viêm, sưng nóng đau, nhất là

ở đầu gối Bệnh có thể kéo dài đến 6 tuần lễ

Bệnh ở gia cầm

Theo Nguyễn Xuân Bình (2005) [1] cho biết: Bệnh gây chết rất nhanh ở

gà trên một tháng tuổi và gà đẻ, liệt chân hoặc liệt cánh, tỷ lệ chết của đàn có thể lên 70 - 80%

+ Thể quá cấp tính: Bệnh xuất hiện nhanh và đột ngột Bề ngoài gia cầm hoàn toàn bình thường không có triệu chứng gì bỗng nhiên chết Nếu quan sát

kỹ trước khi chêt có tháy gà ủ rũ cao độ, thân nhiệt tăng

+ Thể cấp tính : Gia cầm bị bệnh yếu ớt, ủ rũ, đứng một nơi, từ mỏ và mũi chảy nhiều dịch nhờn và lẫn bọt Con vật thở khó, thở khò khè, thân nhiệt cao từ 42,5 - 43,5oC, lông xù, phân màu xám, vàng hoặc xanh đôi khi lẫn máu Mào, tích tím bầm do tụ máu Gà bị bệnh bỏ ăn, khát nước, yếu ớt và chết sau 3 ngày

Trang 25

+ Thể mãn tính: Ở gà bệnh mào tích bị sưng, thủy thũng sau đó bị thoái hóa cứng lại Ngoài ra còn thấy gà bị què, ngoẹo đầu

Bệnh dịch tả trâu, bò: Có bệnh tích đặc biệt như loét dạ múi khế, van hồi manh tràng và trực tràng

Đối với lợn cần phân biệt với các bệnh như:

+ Bệnh dịch tả lợn: Có dử thành sợi ở gốc mắt Mổ khám trên ruột già có nhiều vết loét hình cúc áo, lách nhồi huyết hình răng cưa, thận xuất huyết như kim châm

+ Bệnh đóng dấu lợn: Trên da xuất huyết nhiều hình thù khác, khi ấn tay vào và buông tay ra để lại vết lõm

+ Bệnh phó thương hàn: Chủ yếu ở lợn con theo mẹ sau cai sữa, ỉa chảy, phân có mầu nâu, có mùi thối khắm, trên da xuất huyết đỏ

* Phòng và điều trị:

- Phòng bệnh:

+ Phòng bệnh bằng vắc xin khi chưa có dịch

Đối với trâu, bò: Ở những vùng có lưu hành bệnh tổ chức tiêm phòng vắc xin cho trâu, bò 6 tháng/ lần để đảm bảo cho trâu bò được miễn dịch trống lại vi khuẩn tụ huyết trùng như: Vắc xin keo phèn, vắc xin P52, vắc xin nhũ hóa

Đối với lợn: Vắc xin keo phèn tiêm dưới da 3 - 5 ml

Trang 26

+ Khi đã có dịch xảy ra:

Phát hiện gia súc ốm để cách ly, điều trị kịp thời, tránh lây nhiễm mầm bệnh sang gia súc khỏe

Thực hiện pháp lệnh thú y: Công bố dịch, cấm không vận chuyển và giết

mổ trâu, bò, lợn, gia cầm trong vùng có dịch Trâu, bò chết không được mổ ăn thịt, phải hủy, chôn sâu và đổ vôi sát trùng

Chuồng trại gia súc ốm phải được quét dọn sạch sẽ, tẩy uế bằng nước vôi, phân, rác phải ủ hoặc đốt để diệt mầm bệnh Tổ chức tiêm phòng vắc xin thẳng vào vùng có dịch tạo miễn dịch cho gia súc khỏe phòng nhiễm vi khuẩn tụ huyết trùng

Vệ sinh, chăm sóc bồi dưỡng để tăng sức trống đỡ của con vật, tránh cho con vật bị cảm nóng, cảm nắng, bị lạnh đột ngột, bị mệt nhọc, cho ăn thức ăn sạch, dễ tiêu, có đủ thành phần dinh dưỡng, chuồng khô dáo thoáng

- Điều trị:

Đối với trâu, bò:

Phác đồ: Phối hợp sử dụng Streptomyxin và Sulfamelazin

+ Streptomyxin với liều: 10 - 15 mg/ kg TT, tiêm bắp

+ Sulfamelazin với liều: 0,2 - 0,25 g/ kg TT, cho uống

Dùng thuốc liên tục 4 - 5 ngày

+ Thuốc trợ sức: Kết hợp cafein hoặc long não nước, tiêm vitamin C, B1 + Chăm sóc, nuôi dưỡng tốt và thực hiện đúng quy trình vệ sinh thú y

Đối với lợn:

Pneumotic: 1 ml/ 10 kg TT, tiêm bắp, ngày 2 lần; Vitamin B1 5 ml + vitamin C 5 ml/ 50 kg TT, ngày 1 lần, tiêm liên tục 3 ngày

Đối với gia cầm

Có thể dùng một trong các loại thuốc như Gentamycin, Streptomycin và tăng sức đề kháng của cơ thể gà bằng thuốc trợ sức, trợ lực, chăm sóc nuôi dưỡng tốt

1.5.3.2 Bệnh lợn tai xanh (hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp)

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [7], Tô Long Thành (2007) [13], Lê Văn Năm (2007) [10] cho biết:

Trang 27

* Nguyên nhân

Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn còn gọi là "Bệnh tai xanh", trong một thời gian dài trước đây vẫn gọi là bệnh bí hiểm, không rõ nguyên nhân Ngày nay đã được các nhà khoa học Hà Lan và Mỹ nghiên cứu, tìm ra vi rút gây bệnh (1990)

Đó là một loại virus mới thuộc họ Togaviridae, có ARN được đặt tên là Lelystad virus, đã gây ra hội chứng rối loạn sinh sản như: xảy thai, chết lưu thai ở lợn

nái Lợn con chết yểu sau khi sinh và trạng thái viêm phổi ở lợn con và lợn choai

* Dịch tễ học

Lợn ở các lứa tuổi có thể mắc nhiễm virus

Lợn nái thường truyền mầm bệnh cho bàn thai, gây xẩy thai, thai chết lưu

và lợn con chết yểu với tỷ lệ cao Lợn rừng ở các lứa tuổi đều có thể cảm nhiễm virus, có thể phát hiện, nhưng thường không có triệu chứng lâm sàng và trở thành nguồn tàng trữ trong tự nhiên Virus bệnh tai xanh không cảm nhiễm và gây bệnh cho các loài thú khác và người

* Triệu chứng

- Lợn nái:

+ Giai đoạn mang thai: Lợn sốt 40 - 420C, biếng ăn, sẩy thai vào giai đoạn chửa 2 hoặc thai chết lưu thành thai gỗ Thể cấp tính tai chuyển mầu xanh, đẻ non vào giai đoạn cuối của thời kỳ mang thai hoặc thai chết yểu

+ Ở giai đoạn đẻ và nuôi con: Sốt cao, biếng ăn, lười uống nước, mất sữa, viêm vú phần da mỏng biến màu (lúc đầu hồng sau đỏ sẫm), lờ đờ hoặc hôn mê, lợn con mới sinh bị chết yểu

+ Ở giai đoạn cai sữa: Lợn nái động dục không bình thường kéo dài hoặc phối giống mà không thụ thai, ho và viêm phổi nặng

- Lợn con: Sốt cao 40 - 420C, gầy yếu, khó thở, mắt có dử màu nâu, phần

da mỏng như da bụng, gần mang tai thường có màu hồng, đôi khi da có vết phồng rộp, ỉa chảy nhiều, ủ rũ, run rẩy và thường bị chết

Ngày đăng: 19/12/2016, 08:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Xuân Bình (2005), Kỹ thuật chăn nuôi và phòng trị bệnh ở gà, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật chăn nuôi và phòng trị bệnh ở gà
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2005
3. La Tấn Cường (2005), "Sự lưu hành và ảnh hưởng của hội chứng rối loạn sinh sản hô hấp trên heo (PRRS) ở một số trại chăn nuôi ở TP Cần Thơ", Luận Văn Thạc sỹ - Trường Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự lưu hành và ảnh hưởng của hội chứng rối loạn sinh sản hô hấp trên heo (PRRS) ở một số trại chăn nuôi ở TP Cần Thơ
Tác giả: La Tấn Cường
Năm: 2005
4. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngo ̣c Mỹ (1995), Bệnh đường tiêu hóa ở lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh đường tiêu hóa ở lợn
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngo ̣c Mỹ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1995
5. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Ngân (1995), "Một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn tại Thái Nguyên", Tạp chí khoa học kĩ thuật thú y, tập VIII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn tại Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Ngân
Năm: 1995
6. Phạm Sỹ Lăng, Lê Thị Tài (1994), Thuốc điều trị và vắc xin sử dụng trong thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc điều trị và vắc xin sử dụng trong thú y
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Lê Thị Tài
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1994
7. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (2009), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2009
8. Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thi ̣ Kim Lan và Nguyễ n Hữu Vũ (2009), Sổ tay thú y viên cơ sở. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay thú y viên cơ sở
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thi ̣ Kim Lan và Nguyễ n Hữu Vũ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2009
9. Trần Thị Bích Liên và Trần Thị Dân (2007), "Xác định tỷ lệ nhiễm và chủng vi rút PRRS tại một số cơ sở chăn nuôi heo tại miền Đông Nam Bộ", Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định tỷ lệ nhiễm và chủng vi rút PRRS tại một số cơ sở chăn nuôi heo tại miền Đông Nam Bộ
Tác giả: Trần Thị Bích Liên và Trần Thị Dân
Năm: 2007
10. Lê Văn Năm (2007), "Khảo sát bước đầu biểu hiện lâm sàng và bệnh tích đại thể tai xanh ở lợn (PRRS) tại một số địa phương vùng đồng băng Bắc Bộ", Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát bước đầu biểu hiện lâm sàng và bệnh tích đại thể tai xanh ở lợn (PRRS) tại một số địa phương vùng đồng băng Bắc Bộ
Tác giả: Lê Văn Năm
Năm: 2007
11. Nguyễn Ngã (1996), "Đặc tính sinh học và tương đồng của vi khuẩn P. multocida gây bệnh tụ huyết trùng trâu bò ở miền trung với chủng Iran chế tạo vắc xin", Luận án PTS Khoa học Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc tính sinh học và tương đồng của vi khuẩn P. multocida gây bệnh tụ huyết trùng trâu bò ở miền trung với chủng Iran chế tạo vắc xin
Tác giả: Nguyễn Ngã
Năm: 1996
12. Hồ Soái, Đinh Thị Bích Lân (2005), "Xác định nguyên nhân chủ yếu gây tiêu chảy ở lợn con và thử nghiệm phác đồ điều trị", Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập XII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định nguyên nhân chủ yếu gây tiêu chảy ở lợn con và thử nghiệm phác đồ điều trị
Tác giả: Hồ Soái, Đinh Thị Bích Lân
Năm: 2005
13. Tô Long Thành (2007), "Hội chứng rối loạn và hô hấp ở lợn", Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, tập XIV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội chứng rối loạn và hô hấp ở lợn
Tác giả: Tô Long Thành
Năm: 2007
14. Nguyễn Vĩnh Phước (1978),"Giáo trình bệnh truyền nhiễm gia súc", Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh truyền nhiễm gia súc
Tác giả: Nguyễn Vĩnh Phước
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1978
15. Nguyễn Hữu Vũ và cs (2000), "Một số bệnh quan trọng ở trâu bò", Nxb Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh quan trọng ở trâu bò
Tác giả: Nguyễn Hữu Vũ và cs
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 2000
16. Eduardo Fano, Luis Olea, Carlos Pijoan (2005), "Thanh toán vi rut gây hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn bằng cách tiêm truyền huyết thanh của lợn nái hậu bị", Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập XIVII. Tài liệu dịch từ nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh toán vi rut gây hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn bằng cách tiêm truyền huyết thanh của lợn nái hậu bị
Tác giả: Eduardo Fano, Luis Olea, Carlos Pijoan
Năm: 2005
17. Labiro và Axovach (1993), "Histemin với bệnh Colibacteria", Phạm Gia Ninh dịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Histemin với bệnh Colibacteria
Tác giả: Labiro và Axovach
Năm: 1993
18. Laval A. (1997), "Báo cáo hội thảo thú y về bệnh của lợn", Cục thú y và hội thú y tổ chức tại Hà Nội.III. Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hội thảo thú y về bệnh của lợn
Tác giả: Laval A
Năm: 1997
2. Bùi Bá Bổng , Bùi Quang Anh (2008), "Cẩm nang phòng chống bệnh cúm gia cầm thể độc lực cao (H5N1), Nxb Nông nghiệp Khác
19. Carter G. R. (1967), "Pasteurellosis and P. multocida, P. hecmolytica in advance in veterinary Science&#34 Khác
20. Heddleston R. L. (1972), "Fowlchoterra: Geldiffusion prepition tesi ò sero typing P. multocida avian speccies, aviandidecise&#34 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Kết quả công tác phục vụ sản xuất - Áp dụng biện pháp phòng, chẩn đoán, điều trị bệnh cho đàn gia súc, gia cầm tại xã bình minh – thanh oai   hà nội
Bảng 3.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất (Trang 45)
Bảng 3.2: Điều tra tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm tại - Áp dụng biện pháp phòng, chẩn đoán, điều trị bệnh cho đàn gia súc, gia cầm tại xã bình minh – thanh oai   hà nội
Bảng 3.2 Điều tra tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm tại (Trang 45)
Bảng 3.3: Tình hình mắc bệnh trên đàn gia súc, gia cầm nuôi tại - Áp dụng biện pháp phòng, chẩn đoán, điều trị bệnh cho đàn gia súc, gia cầm tại xã bình minh – thanh oai   hà nội
Bảng 3.3 Tình hình mắc bệnh trên đàn gia súc, gia cầm nuôi tại (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w