1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn tốt NGHIỆP PHÁT TRIỂN các KHU CÔNG NGHIỆP tập TRUNG gắn với TĂNG CƯỜNG sức MẠNH QUỐC PHÒNG AN NINH TRÊN địa bàn TỈNH BÌNH DƯƠNG

57 640 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 320,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

30 năm qua dưới ánh sáng của đường lối đổi mới: “Toàn diện, đồng bộ, triệt để” của Đảng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nền kinh tế của nước ta đã có những bước phát triển nhảy vọt. Việt Nam của chúng ta đang chuyển mình nhờ vào đường lối đúng đắn của Đảng, sức mạnh và ý chí của con người Việt Nam, đang được đặt đúng chỗ. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang được phát huy một cách có hiệu quả Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ

Trang 1

BẢNG DANH MỤC VIẾT TẮT

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

30 năm qua dưới ánh sáng của đường lối đổi mới: “Toàn diện, đồng bộ,triệt để” của Đảng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Nền kinh tế củanước ta đã có những bước phát triển nhảy vọt Việt Nam của chúng ta đangchuyển mình nhờ vào đường lối đúng đắn của Đảng, sức mạnh và ý chí của conngười Việt Nam, đang được đặt đúng chỗ Nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa đang được phát huy một cách có hiệu quả Nghị quyết Đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ IX xác định đường lối phát triển kinh tế của nước ta là:

“Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ,đưa đất nước ta trở thành một nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượng sảnxuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủnghĩa” Trong bối cảnh một nền kinh tế mà đặc điểm “to nhất” đó là sản xuấtnhỏ là phổ biến, đi lên từ một nước nông nghiệp có lẽ quyết sách sớm xây dựngnước ta cơ bản là một nước công nghiệp là thực sự là một khó khăn cho chínhlĩnh vực công nghiệp và chính sự nghiệp CNH-HĐH đất nước trong giai đoạnhiện nay

Trong điều kiện mới, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

mở cửa và hội nhập, bài toán khó khăn trên của nền kinh tế Việt Nam đã tìmđược một trong những lời giải: xây dựng các KCNTT

Sau 26 năm phát triển KCNTT (25/1/1994), hiệu ứng của nó có thể nhìnlại với những thành tựu đáng trân trọng KCNTT đã thực sự là một trong nhữngđầu tàu thu hút FDI của nước ngoài, thúc đẩy công nghiệp trong nước phát triển,góp phần từng bước thực hiện mục tiêu CNH-HĐH đất nước…Tuy nhiên bêncạnh đó việc phát triển các KCNTT đã bộc lộ một số vấn đề cả trên bình diệnnền kinh tế vĩ mô và tăng cường củng cố quốc phòng trong chiến lược BVTQ.Vấn đề này đang đặt ra cho việc nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn để tìm rahướng đi và giải pháp thích hợp

Trang 3

Bình Dương là một tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm Đông Nam Bộ có

vị trí chiến lược cả về kinh tế và quốc phòng Từ khi tái thành lập 1997 đến nayGDP của tỉnh gia tăng đều đặn trung bình 14% giai đoạn 1997-2005 Cơ cấukinh tế chuyển dịch theo hướng CNH-HĐH Tiền đề cho sự phát triển đó, ngoàiyếu tố khách quan về lợi thế so sánh chung thì chủ trương xây dựng phát triểncác KCNTT của tỉnh mang tính chất đột phá đã tạo ra bước ngoặt tác động đến

sự phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh trên con đường CNH-HĐH Mặc dù vậyquá trình phát triển các KCNTT ở Bình Dương cũng đã và đang nảy sinh nhiềuvấn đề mới đặc biệt trong mối quan hệ giữa phát triển KCNTT với tăng cườngsức mạnh QP-AN

Xuất phát từ lý do đó nên tác giả chọn đề tài: “ Phát triển các khu công nghiệp tập trung gắn với tăng cường sức mạnh quốc phòng-an ninh trên địa bàn tỉnh Bình Dương” làm đối tượng nghiên cứu.

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Có thể nói phát triển các KCNTT là vấn đề được nhiều nhà khoa học quantâm vì sự mới mẻ và hiệu quả tích cực của nó Mỗi đề tài nghiên cứu đề cậpdưới một góc độ khác nhau, giải quyết những vấn đề đặt ra khác nhau, đưa ranhững kiến nghị và giải pháp khác nhau Song cũng chỉ mới dừng lại ở dạngphát hiện, đánh giá tổng kết về thu hút đầu tư, chuyển dịch cơ cấu lao động, quyhoạch…Những công trình mang tính khái quát cả về lý luận và thực tiễn chưanhiều

Vấn đề đặt ra ở trên chỉ mới giải quyết được một khía cạnh đó là sự pháttriển kinh tế, nửa còn lại của vấn đề phát triển KCNTT đó là củng cố quốcphòng, tăng cường sức mạnh QP-AN ở một địa phương năng động, phát triểnnhanh như Bình Dương thì lại là vấn đề còn rất mới Chưa có một công trìnhkhoa học nào đề cập đến vấn đề này

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

Trang 4

* Mục đích: Từ những nhận thức chung về KCNTT ở các nước trên thế

giới, ở trong nước đề tài nêu lên sự cần thiết của việc xây dựng và phát triển cácKCN ở Bình Dương

Phân tích thực trạng và một số kinh nghiệm bước đầu trong quá trình xâydựng và phát triển các KCN của tỉnh Bình Dương trong thời gian qua Yêu cầunổi bật nhất của đề tài là làm rõ việc phát triển các KCNTT trên địa bàn tỉnhBình Dương gắn với tăng cường sức mạnh QP-AN của địa phương và chỉ ranhững giải pháp để giải quyết vấn đề này

* Nhiệm vụ: - Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển các KCNTT gắn với tăng cường sức mạnh QP-AN trên địa bàn tỉnh Bình Dương

- Chỉ rõ thực trạng và những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triểnKCNTT với tăng cường sức mạnh QP-AN

- Đề xuất một số giải pháp để giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triểnKCNTT với tăng cường sức mạnh QP-AN ở tỉnh Bình Dương

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, phươngpháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp nghiên cứu đặc thùcủa kinh tế chính trị như: phương pháp thống ke, phương pháp lôgíc, toán họcđặc biệt là phương pháp trừu tượng hoá khoa học Ngoài ra đề tài còn dựa vàomột số tác phẩm kinh điển, tư tưởng Hồ Chí Minh, các NQ của Đảng bộ tỉnhBình Dương về phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng, NQ Đại hội đảng bộQuân khu VII, báo cáo kết quả hoạt động các KCN do ban quản lý KCN BìnhDương thực hiện

5 Ý nghĩa của luận văn

Luận văn làm rõ mối quan hệ giữa quá trình phát triển kinh tế với củng

cố quốc phòng nói chung và phát triển các KCNTT gắn với tăng cường sứcmạnh QPAN ở tỉnh Bình Dương

Trang 5

Kết quả của đề tài đề cập tới những quan điểm và giải pháp của vấn đềnày qua đó góp phần xây dựng các chính sách, đẩy mạnh sự nghiệp côngnghiệp hoá ở Bình Dương.

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, các phụ lục, danh mục tài liệu tham khảoluận văn gồm 2 chương (4 tiết)

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TẬP TRUNG GẮN VỚI TĂNG CƯỜNG SỨC MẠNH QUỐC PHÒNG – AN

NINH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG

1.1 Phát triển khu công nghiệp tập trung- mô hình kinh tế trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Mác và Ăngghen đă giành nhiều thời gian nhgiên cứu quá trình côngnghiệp hoá dưới CNTB.Các nhà kinh tế chính trị Mác xít đă đi đến kết luận:Máy móc và nền đại công nghiệp cơ khí là bước nhảy vọt của nền sản xuất xã hội

nó có tác dụng vô cùng to lớn trong việc phát triển lực lượng sản xuất và xã hội hóalao động Máy móc và nền đại công nghiệp làm cho tính chất xã hội hoá của lựclượng sản xuất cao lên và thúc đẩy khoa học kỹ thuật phát triển Dưới góc độ vănhoá xã hội nó xoá dần phong tục tập quán của sản xuất nhỏ, xoá bỏ quan hệ sảnxuất gia đình, hình thành tác phong và kỷ luật mới- tác phong công nghiệp

Trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở nước ta, dưới ánh sáng của đườnglối đổi mới, nền kinh tế nước ta chuyển sang phát triển theo hướng hình thànhmột nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có

sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN Với phương hướng trên liêntục nhiều năm nhất là từ cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lênCNXH đến nay tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình của nước ta trên 7%/năm.Đất nước thoát khỏi khủng hoảng đời sống nhân dân được cải thiện Các điều

Trang 6

kiện về kinh tế- chính trị - xã hội đã chín muồi cho phép chúng ta bước vào giaiđoạn phát triển quyết định sự thành công của tiến trình CNH-HĐH đất nước

Thực hiện mục tiêu CNH-HĐH nền kinh tế trong điều kiện phát triển kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, một trong những lời giải cho kinh tếViệt Nam đó là phát triển các KCNTT Đây là một vấn đề không mới đối vớilịch sử phát triển các nước công nghiệp nhưng lại là điều hoàn toàn mới mẻ đốivới một nước mà điểm xuất phát thấp, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu như ởnước ta Vì vậy cần phải giải quyết vấn đề này như thế nào?

1.1.1 Khái niệm và một số loại hình về Khu công nghiệp tập trung -Khái niệm

Như đã trình bày KCNTT là vấn đề mới ở nước ta Ơ các nước do nhu cầuphát triển kinh tế- xã hội người ta đã thành lập ở dạng này hay dạng khác của loạihình KCNTT , điều đó đã giải quyết được vấn đề mấu chốt về nhu cầu khoa học-công nghệ, trình độ quản lý nhằm thực hiện mục tiêu CNH,HĐH

Ban đầu người ta mới đưa ra những khái niệm sơ sài về cụm công nghiệp,KCN, KCX…và đề ra phương hướng phát triển cho các loại hình này Việcnghiên cứu để đưa ra một khái niệm thống nhất, hoàn chỉnh cả về nội hàm,ngoại diên, phạm vi hoạt động có lẽ vẫn đang còn chờ đợi lý luận khái quát làm

rõ Dưới góc độ kinh tế chính trị tác giả nghiên cứu vấn đề này trong sự pháttriển mang tính lịch sử của nó

Trong quy chế KCN, KCX, KCNC được ban hành kèm theo Nghị định36/CP ngày 24/4/1997 Chính phủ đã giải thích ngắn gọn như sau:

Khu công nghiệp: Là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuấtcông nghiệp và thực hiện các dịch vụ sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa

lý xác định, không có dân cư sinh sống do Chính phủ hoặc thủ tướng chínhphủ quyết định thành lập, trong KCN có thẻ có doanh nghiệp chế xuất (xuấtkhẩu 100%)

Khu chế xuất: Là khu công nghiệp tập trung các doanh nghiệp chế xuất,chuyên sản xuất hàng hoá xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có

Trang 7

dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc thủ tướng chính phủ quyết định thànhlập.

Khu công nghệ cao: Là khu tập trung các doanh nghiệp kỹ thuật cao vàcác đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghiệp cao gồm: Nghiên cứuphát triển khoa học công nghệ đào tạo dịch vụ liên quan, có ranh giới địa lý xácđịnh, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc thủ tướng chính phủ quyếtđịnh thành lập, trong khu công nghệ cao có doanh nghiệp chế xuất (xuất khẩu100%)

Từ các khái niệm KCN, KCX, KCNC của quy chế KCN ban hành kèmtheo nghị định 36/CP của chính phủ có thể rút ra một số vấn đề chung tạm gọi làdấu hiệu chung của KCN đó là:

- Khu tập trung các doanh nghiệp

- Có ranh giới địa lý xác định

- Không có dân cư sinh sống

- Do chính phủ hoặc thủ tướng chính phủ quyết định thành lập

KCN, KCX, KCNC là ba loại hình của khu kinh tế đặc biệt Đặc biệt ởchỗ đó là một khu vực không gian kinh tế mà ở đó bằng các chính sách vĩ môngười ta thiết lập một chế độ ưu tiên riêng như được miễn giảm các loại thuế,nới lỏng quy tắc thuế quan và ngoại hối, nhằm thúc đẩy các hoạt động sản xuấtkinh doanh hoặc nghiên cứu khoa học trong khu vực

Tạp chí cộng sản số 59 (8/1987) cũng quan niệm rằng giữa KCN, KCX,KCNC có những đặc trưng khác nhau về tính mục đích, đối tượng tham gia, haymối liên hệ của chúng đối với nền kinh tế Điều đáng chú ý là, chính tạp chícộng sản cũng quan niệm rằng: KCX được xác định như là KCN, tập trungnhững doanh nghiệp nước ngoài chuyên sản xuất, chế biến các sản phẩm xuấtkhẩu, được sự ưu tiên đặc biệt của chính phủ có vai trò then chốt trong việcchuyển từ nền kinh tế khép kín, chỉ huy tập trung sang nền kinh tế mở cửa vàhội nhập với thế giới

Trang 8

Khu công nghệ cao được thành lập với mục đích phát triển công nghệ, kỹthuật cao, thu hút công nghệ tiên tiến hiện đại của nước ngoài, tiếp thu vàchuyển giao công nghệ từ đó nâng cao năng lực công nghệ trong nước Vì vậy ởđây tập trung các xí nghiệp công nghệ cao và các trung tâm nghiên cứu khoahọc Là nơi gắn kết công tác nghiên cứu khoa học, sáng chế, thực nghiệm vớiquá trình sản xuất và phát triển công nghiệp

Như vậy vấn đề KCNTT đã được bàn đến dưới dạng này hay dạng khácvới tư cách là những hình thức cụ thể thông qua các quan niệm KCN, KCX,KCNC như đã nêu ở trên Song bàn về thế nào là một KCNTT với tư cách làmột không gian kinh tế công nghiệp lãnh thổ thì chỉ mới là những phác thảogiản đơn Điều đó được lý giải bởi những lý do sau:

- Đây là vấn đề mới mẻ ở nước ta nếu cần phải có thời gian để cho phép

có những khái quát mang tầm lý luận

- Xuất phát từ nhu cầu quản lý vĩ mô cùng những chính sách thuần tuý vềkinh tế, tài chính, khoa học công nghệ và phần nào đó là về mặt xã hội tức là nhữngvấn đề thiết thân, sát sườn của doanh nghiệp của bản thân KCN, KCX, KCNC vàcủa quản lý…nên người ta đưa ra những khái niệm cụ thể hơn

- Dưới góc độ nghiên cứu vấn đề phát triển các KCNTT gắn với tăngcường sức mạnh QP-AN lại là vấn đề mới trong thực tiễn mới nên cần có những

dữ liệu, những tổng kết mang tính khái quát chung Đây là những vấn đề chưahội tụ đủ các yếu tố chín muồi vì vậy các nhà nghiên cứu cũng chưa kịp kháiquát

Tác giả Nguyễn Đức Phượng trong luận văn thạc sĩ năm 1999, Học việnChính trị- Quân sự đã đưa ra một khái niệm khá đầy đủ như sau: “ KCNTT làmột thuật ngữ dùng để chỉ một không gian kinh tế lãnh thổ Theo đó các loạihình tổ chức công nghiệp như KCN, KCX, KCNC hay một tổ chức mà bao gồm

cả ba dạng cụ thể nói trên, được thành lập nhằm mục đích phát triển công nghiệptrong quá trình CNH-HĐH với điều kiện kinh tế thị trường mở cửa và hội nhậpđược ưu đãi về chính sách kinh tế, tài chính, khoa học-công nghệ, được đảm bảo

Trang 9

các điều kiện tốt về kết cấu hạ tầng và các điều kiện khác, được tổ chức ở cácđịa bàn có vị trí quan trọng về kinh tế- xã hội, QP-AN Mục đích giải quyết tối

ưu về vốn, về khoa học- công nghệ, về bảo vệ môi trường sống thuận tiền choquản lý vĩ mô cả về mặt kinh tế- xã hội, QP-AN trong quá trình CNH-HĐH đấtnước” [22.Tr15}

Khái niệm trên đưa ra khi KCN đầu tiên ở nước ta được thành lập gần 8năm (25/1/1991 chính phủ ra quyết định thành lập KCX Tân Thuận – Thành phố

Hồ Chí Minh) đến nay đã có nhiều vấn đề mới nảy sinh đặc biệt cả về cơ chế, hệthống các chính sách đã là hành lang thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của ngànhcông nghiệp ở nước ta nói chung và các KCN nói riêng Dưới góc độ QP-AN,vấn đề kết hợp kinh tế với quốc phòng, tư duy quân sự mới về nhiệm vụ bảo vệ

Tổ quốc trong điều kiện thực hiện kinh tế thị trường, định hướng XHCN …đangđòi hỏi chúng ta phải khẩn trương nhanh chóng có những chính sách về kinh tế,

về QP-AN với tính chất vừa là chính sách tổng thể, bao quát vừa là đối sách đốivới sự phát triển của tình hình trong sự hiện diện của các tổ chức công nghiệpmang tính chất không gian lãnh thổ ưu tiên

Từ cách tiếp cận như vậy, để bảo đảm tính lịch sử trong xem xétnghiên cứu vấn đề đồng thời dự báo được sự phát triển của thực tiễn Theotác giả quan niệm về KCNTT nhìn từ góc độ tăng cường sức mạnh QP-ANđược phát biểu như sau:

“KCNTT là một thuật ngữ mang tính lịch sử dùng để chỉ một không gian kinh tế lãnh thổ, được tồn tại dưới các loại hình tổ chức công nghiệp khác nhau

cụ thể như : KCN, KCX, KCNC hay một tổ chức bao gồm các loại hình nói trên.

Do chính phủ hoặc thủ tướng chính phủ quyết định thành lập nhằm mục đích phát triển công nghiệp, thu hút đầu tư, chuyển giao KH-CN, giải quyết các vấn

đề về vốn, về bảo vệ môi trường sống thuận tiện cho quản lý vĩ mô cả về mặt kinh tế- xã hội-QPAN trong quá trình CNH-HĐH đất nước”

- Các loại hình khu công nghiệp tập trung

Trang 10

Khu công nghiệp là một mô hình sản xuất đặc biệt trong đó có các hìnhthức tổ chức xa xưa như : KCN mậu dịch tự do, khu tự do…cũng như gần đây

là KCN, KCX Chương trình môi trường liên hợp quốc xếp các loại hình KCNtrên thế giới thuộcloại bất động sản gồm:

- Khu công nghiệp (Industrial Parks, Industrial Zones)

- Khu chế xuất (Epz – Export Processing Zones)

- Khu tự do (Free Zones)

- Khu chế biến công nghiệp (Industrial Dovelopment Zones)

- Khu công nghệ sinh học (Bio Technology Parks)

- Khu công nghệ sinh thái (Eco-Industrial Parks)

Đối với nước ta có các loại hình KCNTT đó là: KCN, KCX, KCN Xuấtphát từ khái niệm về KCN là khu tập trung các doanh nghiệp, do đó KCN có đặcđiểm là tập trung vốn và các nguồn lực khác để tạo nên cơ sở hạ tầng thật tốt thuhút các doanh nghiệp vào sản xuất, trong một phạm vi lãnh thổ nhất định, đượcchính phủ áp dụng một cơ chế quản lý ưu đãi để động viên khuyến khích cácnhà đầu tư sản xuất trong KCNTT Mục đích là tập trung các điều kiện thuận lợi

về mọi mặt (cơ sở hạ tầng, cơ chế quản lý…) nhằm bảo vệ môi trường sinh thái,nâng cao hiệu quả hoạt động công nghiệp và thương mại, bảo đảm an toàn chonhà đầu tư yên tâm sản xuất

Với đặc điểm và mục đích việc thành lập các KCNTT như trên, trong thờigian qua (từ năm 1991 đến nay) ở nước ta đã thành lập các loại hình KCNTT cónhững đặc điểm mà có thể khái quát thành các loại hình như sau:

- Các KCNTT được thành lập trên một phạm vi khuôn viên có sẵn một sốdoanh nghiệp công nghiệp đang hoạt động Nghĩa là khu công nghiệp hình thành

từ các cụm công nghiệp có sẵn

- Các KCNTT hình thành do yêu cầu di dời các nhà máy, các xí nghiệpđang hoạt động ở các nội thành, nội thị, vùng đông dân cư sinh sống gây ảnhhưởng đên hoạt động của đời sống xã hội, làm mất vẻ mỹ quan, ô nhiễm môitrường, hoặc do yêu cầu di dời giải toả để xây dựng các công trình xã hội khác

Trang 11

Mặt khác một số công ty, xí nghiệp do yêu cầu mở rộng sản xuất, đầu tư đổi mớicông nghệ phải chọn giải pháp di dời

- Các KCNTT hiện đại, có quy mô lớn được xây dựng mới, loại hình này

có đặc điểm tập trung vốn ban đầu tương đối lớn nên tốc độ xây dựng nhanh,chất lượng các công trình hạ tầng đạt tiêu chuẩn quốc tế, có các hệ thống hạ tầngđồng bộ, hệ thống xử lý các chất thải tiên tiến, một số khu có nhà máy điện riêngbảo đảm tốt cho quá trình sản xuất của các doanh nghiệp trong KCNTT

Trên đây là một số loại hình KCNTT ở nước ta mà thực tiễn đã diễn ratrong những năm vừa qua Đây cũng chính là đối tượng mà đề tài nghiên cứunhìn từ dưới góc độ phát triển các KCNTT gắn với tăng cường sức mạnh QP-

AN trong chiến lược BVTQ thời kỳ tiến hành CNH,HĐH đất nước

1.1.2 Thực tiên phát triển KCNTT ở các nước và Việt Nam trong quá trình CNH,HĐH đất nước

Từ lâu trong lịch sử phát triển kinh tế thế giới, người ta đã phát triển loạihình KCN để tập trung các nhà máy sản xuất công nghiệp vào một khu vực Khucông nghiệp đầu tiên trên thế giới được thành lập vào năm 1896 ở TraffordParks thành phố Manchester (Anh) với tư cách là một doanh nghiệp tư nhân.Sau đó vào năm 1899 vùng công nghiệp Clearning ở thành phố Chicago bắt đầuhoạt động được coi là KCN đầu tiên ở Mỹ Tuy nhiên trong giai đoạn này vìđiều kiện địa lý, môi trường và lịch sử phát triển công nghiệp nên lợi thế giữaKCNTT và công nghiệp riêng lẻ chưa có sự chênh lệch đáng kể.Những năm1950-1960 do điều kiện công nghiệp phát triển mạnh nên ngoài điều kiện môitrường sinh thái, và các điều kiện xã hội đã có sự bùng nổ về phát triển các vùngcông nghiệp và khu công nghiệp tập trung Năm 1959 ở Mỹ đã có 452 vùngcông nghiệp và 1000 KCN cho đến năm 1970 đã tăng khoảng 1400 KCN, cũngtrong thời kỳ này ở Anh có 55 KCN (1959) Pháp có 230 vùng công nghiệp vàCanada có 21 vùng công nghiệp năm 1965

Đối với những nước đang phát triển PuertoRico là nước đầu tiên biết sửdụng hệ thống KCN.Trong những năm 1947-1963 Chính phủ PuertoRico đã xây

Trang 12

dựng 480 nhà máy cho thuê với cơ sở hạ tầng phù hợp để thu hút các công tychế biến của Mỹ, hầu hết các nhà máy này tập trung trong hơn 30 KCN

Khu công nghiệp đầu tiên ở các nước Châu á được khai sinh ở Singaporevào năm 1951, đến năm 1954 Malaysia cũng bắt đầu thành lập KCN và đến giữathập kỷ 90 đã có 139 KCN, Ấn Độ cũng bắt đầu thành lập KCN từ năm 1953đến năm 1979 đã có 705 KCN

Đặc biệt một số nước trong khu vực Châu á đã thành công rất lớn trongviệc sử dụng các hình thức KCN, KCX, KCNC để phát triển kinh tế của quốcgia Điển hình là khu công nghệ cao Tân Trúc của Đài Loan được xây dựng năm

1980 với diện tích xây dựng 650 ha trên tổng diện tích quy hoạch 2.100 ha vớitổng số vốn đầu tư năm 1995 lên tới 7 tỷ USD, sau 15 năm hoạt động tổngdoanh số hàng hoá và dịch vụ của kho đạt 10,94 tỉ USD chiếm 3,6% GDP củaĐài Loan, Đài Loan cũng là nơi đầu tiên sử dụng thể chế khu chế xuất đượcsáng lập từ năm 1966, khu chế xuất Cao Hùng là KCX đầu tiên trên thế giới.Cho đến năm 1992 thế giới đã có tới 280 KCX được xây dựng ở 40 quốc giatrong đó có khoảng 60 khu hoạt động và mang lại hiệu quả rất cao

- Về giải quyết việc làm: Năm 1990 tổng số người làm việc trong cácKCX từ các nước đang phát triển đạt tới 530.000 người

- Về xuất khẩu: Tổng giá trị xuất khẩu các sản phẩm chế biến của cácnước đang phát triển năm 1988 là 258 tỷ USD khoảng 80% xuất khẩu là của cácKCX Các nước Malaysia, Hàn Quốc, Đài Loan giá trị xuất khẩu được tính trênmột người công nhân là hơn 30.000 USD ở Malaysia, 50.500 USD ở Đài Loan

và 67.800 USD ở Hàn Quốc

Các KCX đã thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài phần lớn từ cácngành điện tử như ở Hàn Quốc, Malaixia, Đài Loan…Rõ ràng việc phát triểnKCN, KCX, KCNC cao ở các nước đang phát triển đóng một vai trò quan trọngtrong việc phát triển các ngành công nghiệp và thu nhập kinh tế quốc dân Quaviệc phát triển của các KCN, KCX, KCNC đã đẩy mạnh việc xuất khẩu và thungoại tệ của các quốc gia

Trang 13

Đẩy mạnh sự nghiệp CNH,HĐH chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướngcông nghiệp- nông nghiệp hiện đại và dịch vụ, mở rộng và nâng cao hiệu quảcủa quá trình phát triển kinh tế Năm 1991 chính phủ Việt Nam đã ban hành quychế KCX kèm theo Nghị định 322/HĐBT, đă tạo cơ sở pháp lý năm 1994 chínhphủ ban hành quy chế KCN kèm theo nghị định 192/CPđă tạo cơ sở pháp lý cho

sự phát triển KCN, KCX ở nứoc ta Năm 1997 chính phủ ban hành nghị định 36/

CP thống nhất các quy chế KCN, KCX, KCNC là bước phát triển mới trong quátrình hoàn thiện hệ thống pháp lý cho sự phát triển KCN, KCX, KCNC trong sựnghiệp CNH,HĐH trước nhưng thách thức cạnh tranh quyết liệt trong khu vực

và thế giới

Trang 14

1.2 Tính tất yếu của phát triển KCNTT gắn với tăng cường sức mạnh QP-AN trên địa bàn tỉnh Bình Dương

1.2.1 Đặc điểm vị trí địa lý, kinh tế- xã hội,QP-AN của tỉnh Bình Dương

Bình Dương là một tỉnh được tách ra từ tỉnh Sông Bé cũ (Bình Dương vàBình Phước), Bình Dương thuộc Miền Đông Nam Bộ nằm trong vùng kinh tếtrọng điểm phía Nam (Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, BàRịa- Vũng Tàu) phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước, phía Nam giáp thành phố HồChí Minh, phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai, phía Tây giáp thành phố Hồ Chí Minh

và tỉnh Tây Ninh

Thị xã Thủ Dầu Một là trung tâm hành chính của tỉnh, cách thành phố HồChí Minh 30 km (từ Thủ Dầu Một đến UBND thành phố) Tổng diện tích tựnhiên của toàn tỉnh là 2,716 km2 với dân số 683.000 người, mật độ trung bình

251 người/km2, tỉ lệ tăng dân số của tỉnh trong những năm qua bình quân 2,1%,lao động trong độ tuổi chiếm 52% dân số Về chất lượng lao động công nhân kỹthuật, trung học, cao đẳng và đại học chiếm 0,5% số lao động Hàng năm có từ15.000 – 20.000 người tham gia vào lực lượng lao động của tỉnh Cơ cấu laođộng được phân bố như sau:

- Lao động trong công nghiệp- xây dựng: chiếm 26%

- Lao động trong nông nghiệp: chiếm 57%

Trang 15

Bình Dương có mạng lưới sông ngòi khá dày, trong đó có 2 con sông lớn

là sông Sài gòn hướng Tây Nam và Sông Đồng Nai hướng Đông Bắc Đây là 2con sông cung cấp nguồn nước đồng thời là đường giao thông rất thuận lợi choviệc giao thông mua bán Bình Dương có 86 điểm khai thác mỏ, khoáng sản chủyếu là đất cao lanh, đá xây dựng có trữ lượng lớn và chất lượng tốt, đây là tiềmnăng thế mạnh của tỉnh để phát triển những ngành nghề gốm sứ, xây dựng cácngành nghề khác

Các KCN Bình Dương được quy hoạch và xây dựng chủ yếu tập trung ởhai huyện Thuận An và Dĩ An thuộc các huyện phía Nam tỉnh nơi có nền đất lýtưởng cho việc xây dựng các công trình Ngoài ra tỉnh dự kiến thêm một sốlượng thuộc phía Bắc thị xã Thủ Dầu Một và huyện Bến Cát Nơi có những điềukiện địa lý, thổ nhưỡng thích hợp việc thành lập các KCNTT

Bình Dương là một tỉnh nằm trong vị trí thuận lợi của khu vực kinh tếtrọng điểm phía Nam, sát cạnh thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế vănhoá khoa học kỹ thuật lớn, là một thành phố công nghiệp, giữ vai trò quan trọng

đi đầu trong khu vực và trong cả nước Bên cạnh đó Bình Dương lại nằm cạnhtỉnh Đồng Nai, một tỉnh có các vùng công nghiệp tập trung được xem là điểmsáng của cả nước về phát triển công nghiệp Chính nhờ điều kiện địa lý, xã hội

mà Bình Dương thừa hưởng những lợi thế của khu vực công nghiệp Tuy nhiênBình Dương cũng gặp không ít những khó khăn khi phát triển các KCNTT, BìnhDương không có nhiều kinh nghiệm như thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai…

Do đó đòi hỏi Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Bình Dương phải có những nỗlực rất lớn, tận dụng những điều kiện thuận lợi mà tự nhiên-xã hội đã ban cho,

để tiến hành phát triển các KCN, thu hút vốn đầu tư góp phần giữ vững nhịp độphát triển kinh tế chuyển biến cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, dịch vụ

và nông nghiệp

Bình Dương từ khi được tái lập đã nhanh chóng kế thừa những kết quả vềphát triển KCN của tỉnh Sông Bé để lại, Đảng bộ chính quyền Bình Dương kiêntrì thực hiện đường lối CNH-HĐH,mà trọng tâm là phát triển các KCNTT đă tạo

Trang 16

sự chuyển biến tích cực trên linh vực kinh tế của tỉnh Với lợi thế là một tỉnhnằm cạnh thành phố Hồ Chí Minh có cảng lớn, có sân bay quốc tế Tân SơnNhất, các KCN Bình Dương có vị trí thuận tiện cho các tuyến đường giao thông:thuỷ bộ và hàng không, chỉ cách sân bay Tân Sơn Nhất 15-20km, cách cảng SàiGòn 9-15km lại có ga hàng hoá xe lửa Sóng Thần nằm cạnh KCN là cầu nốigiao lưu hàng hoá khắp các tỉnh thành trong cả nước Bên cạnh đó đất đai quyhoạch xây dựng các KCN là địa bàn có điều kiện thổ nhưỡng thuận lợi cho việcxây dựng các công trình kiến trúc, kết cấu hạ tầng KCN Với những lợi thế trênphát triển các KCNTT sẽ mang lại những hiệu quả to lớn về kinh tế, QP-AN

Bình Dương không chỉ là một địa bàn chiến lược trong phát triển kinh tếcủa khu vực miền Đông Nam Bộ mà là một địa bàn có tầm quan trọng về chiếnlược quân sự Bình Dương là trung tâm của bốn tỉnh Tây Ninh, Bình Phước,Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh tạo thành khu vực phòng thủ chiến lượccủa quân khu VII và cả nước Trong xu hướng mở cửa nền kinh tế, Bình Dương

là địa phương có thuận lợi nhanh chóng tiếp cận được vốn tích lũy phát triểnkinh tế của cả nước và khu vực, song cũng là một trong những địa bàn lý tưởng

để các thế lực thù địch tiến hành các hoạt động chống phá cách mạng và thànhquả kinh tế- xã hội, đặc biệt trong thực hiện các âm mưu của chiến lược “Diễnbiến hoà bình” Vì vậy việc tập trung phát triển kinh tế gắn với tăng cường củng

cố sức mạnh QP-AN là vấn đề hết sức quan trọng thể hiện nhất quán tư tưởngchỉ đạo của nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ chính trị về xây dựng thế trận quốcphòng toàn dân

Là một tỉnh có địa hình khá phong phú: Đồng bằng, trung du cấu trúc địachất và địa hình có nhiều thuận lợi cho việc xây dựng các công trình phòng thủtrong kế hoạch tác chiến của lực lượng vũ trang Có nhiều rừng và khu vực câytrồng khá rộng lớn trong việc tập trung vũ khí trang bị, lương thực thực phẩmthuận lợi cho việc cất giấu và xây dựng căn cứ hậu phương, củng cố nền QP-

AN, bảo đảm cho chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới giành đượcthắng lợi

Trang 17

Từ những đặc điểm về địa lý, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế-chính trị- xãhội trên đây đặt ra yêu cầukhách quan cho Bình Dương trong quá trình xây dựngphát triển kinh tế nói chung, phát triển KCNTT nói riêng phải gắn với tăngcường sức mạnh QP-AN

1.2.2 Vai trò của các khu công nghiệp tập trung đối với phát triển kinh

tế và củng cố quốc phòng trên địa bàn tỉnh Bình Dương

- Vai trò của các khu công nghiệp tập trung trong đối với phát triển kinh

tế trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Phát triển khu công nghiệp tập trung từ lâu đã được các nước trên thế giớicoi là công cụ của chính sách công nghiệp, nhằm thúc đẩy công nghiệp hoáhướng về xuất khẩu, tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư nước ngoài, tiếpthu công nghệ tiên tiến và học hỏi kinh nghiệm quản lý sản xuất kinh doanh.Mặt khác sự hình thành các khu công nghiệp sẽ sử dụng có hiệu quả các nguồnlực tại chỗ như nguồn lao động, tài nguyên…Việc phát triển các KCNTT sẽ cóđiều kiện thuận lợi trong việc quản lý môi trường sinh thái, giảm được chi phítrong việc xử lý môi trường sinh thái, giảm được chi phí trong việc xử lý chấtthải công nghiệp (so với những nhà máy hoạt động riêng lẻ) Đồng thời khucông nghiệp có vai trò đóng góp rất quan trọng trong việc giải quyết các vấn đềkinh tế- xã hội của quốc gia, nhất là đối với những nước chậm phát triển vànhững vùng khó khăn góp phần rất lớn làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăngtrưởng kinh tế

Với Bình Dương, thông qua những lợi thế đã trình bày, việc tập trungphát triển các KCN đã đem lại những lợi thế như sau:

Một là, KCNTT tạo ra công ăn việc làm, giảm được áp lực của xã hội về nạn thất nghiệp nhất là lao động dư thừa ngày càng nhiều trong lĩnh vực nông nghiệp của tỉnh và của cả nước

Với chủ trương: “Trải chiếu hoa để mời gọi đầu tư, trải thảm đỏ để đónnhững nhà tri thức”{20.Tr18} Bình Dương đă thu hút được môt lượng lao độngđáng kể trong và ngoài nước

Trang 18

Đến nay có trên 11 KCN ở Bình Dương đi vào hoạt động và giải quyếtđược một lượng lao động đáng kể Bình Dương là một tỉnh có cơ cấu dân sô trẻ,

số người trong độ tuổi lao động là 401.116 người, tính đến nay các KCN ở tỉnhBình Dương đã thu hút 113.098 lao động

Lao động nước ngoài chiếm 1,5% số lao động.Thực tế số lao động nướcngoài ở đây cao hơn rất nhiều đó là nhưng chuyên gia phục vụ cho quá trình lắpđặt thiết bị máy móc, huấn luyện tay nghề cho công nhân, kiểm tra sản phẩm,quản lý chất lượng…nhưng cho đến nay việc chuyển giao vận hành nhà máy chocác lao động có tay nghề do người Việt Nam đảm nhiệm ngày càng tăng do chõgiảm được chi phí, hạ giá thành sản phẩm tăng sức cạnh tranh trên thị trường.Ngày càng nhiều hơn các doanh nghiệp KCN đưa công nhân Việt Nam sangnứoc ngoài học tập vận hành và sửa chữa các thiết bị máy móc của nhà máy.Con số 1.797 lao động nước ngoài nói ở trên (1,5%) chưa bao gồm các nhân sựchủ chốt của doanh nghiệp như: Hội đồng quản trị, ban giám đốc, kế toán trưởngcác chức danh này có khoảng 380 người

Lao động là người Việt Nam khoảng 111.301 người chiếm 98,5% tổng sốlao động Những con số này là lao động làm việc trực tiếp trong các doanhnghiệp KCN còn có khoảng 8.000 lao động gián tiếp của các ngành dịch vụ ăntheo như: nấu ăn, cung cấp nhiên liệu, văn phòng phẩm…

Hai là, thực hiện chính sách phát huy nội lực, tiềm năng của tỉnh nhà việc tập trung phát triển các KCN có tác dụng lớn trong thực hiện phát triển kinh tế hướng vào xuất khẩu, thay thế và làm chủ trong vấn đề nhập khẩu Kim ngạch

xuất khẩu năm 2005 của các doanh nghiệp KCN là 602.180.000 USD chiếm28% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn tỉnh So với năm 2002 tăng 35% trongđó: Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 50%, khu vực kinh tế trongnước tăng 48%

Đạt được kết quả trên là do chính sách khuyến khích các doanh nghiệpKCN tiến hành xuất khẩu và vai trò của các cơ quan chức năng trong hệ thốngcác KCNTT trên địa bàn được phát huy một cách có hiệu quả, đồng thời đó

Trang 19

cũng chính là kết quả của việc ban hành, thiết lập các chính sách quản lý vĩ môkịp thời và đồng bộ

Ba là, khu công nghiệp tập trung còn là một công cụ quan trọng để thu hút đàu tư nước ngoài, đẩy mạnh sản xuất, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế của tỉnh

Tính đến hết năm 2005 các KCN Bình Dương có 503 dự án, trong đó có

364 doanh nghiệp đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đầu tư là 1.173.680.000USD, 139 doanh nghiệp đầu tư trong nước với tổng số vốn điều lệ đăng ký là839.337 tỷ đồng

Về cơ cấu ngành nghề trong khu công nghiệp được chia thành 7 nhómchính trong đó chiếm nhiều nhất là công nghiệp chế biến gồm 57 doanh nghiệp(25,22%), công nghiệp cơ khí, điện tử gồm 43 doanh nghiệp (19,03%), ít nhất làdịch vụ hỗ trợ các doanh nghiệp KCN Điều này do giá thuê đắt trong KCN caohơn do đó các doanh nghiệp dịch vụ thường xây dựng ngoài KCN sau đó đăng

ký dịch vụ ở Ban quản lý các KCN và được phép hoạt động tại KCN

Qua phân bố trên cho thấy các ngành nghề sản xuất trong KCNTT đều cóđầy đủ các hình thức đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài Tuy nhiên việchướng các nhà đầu tư vào những KCN vẫn còn một số hạn chế Nhà đầu tư cóthể chọn cho mình một vị trí thích hợp để xây dựng nhà máy mà chưa tính đếnyếu tố quy hoạch ngành của địa phương Hầu hết các KCNTT ở Bình Dươngđều có phân theo chức năng và có thể bố trí nhiều loại hình ngành nghề khácnhau chính vì thế mà dẫn đến manh mún chưa có quy mô cao và thiếu sự liênkết chặt chẽ với nhau Điều này cũng dẫn đến hiện nay ở Bình Dương chưa cóKCN nào đã lấp kín được 100% diện tích do còn lại những diện tích nằm giữahai doanh nghiệp có yếu tố ô nhiễm môi trường các doanh nghiệp ngại đầu tưgây lãng phí đất trong khu công nghiệp

Bốn là: Phát triển KCNTT còn tạo ra sự tác động trở lại đối với phát triển các lĩnh vực khác trong đời sống kinh tế- xã hội như tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trang 20

Với Bình Dương các doanh nghiệp KCN bắt đầu triển khai xây dựng vàonăm 1995 – 1997 do đó đều mới đi vào hoạt động sản xuất Chính vì vậy hàngnăm có thêm khoảng 25-30 doanh nghiệp KCN đi vào hoạt động nên phần lớndoanh nghiệp phát sinh tăng hàng năm là gia tăng các doanh nghiệp mới vào sảnxuất chứ không phải là phát triển sản xuất của các doanh nghiệp cũ So với giátrị sản lượng công nghiệp của toàn tỉnh thì sản lượng công nghiệp ở các KCNđóng góp là 58,29% điều này là một động lực rất lớn góp phần chuyển dịch cơcấu trên địa bàn tỉnh cả về cơ cấu ngành, cơ cấu lao động Cũng chính vì vậy màđường lối phát triển kinh tế Bình Dương theo hướng công nghiệp- dịch vụ- nôngnghiệp là đúng hướng

Năm là: phát triển KCNTT cho phép tiếp cận với khoa học kỹ thuật hiện đại, nâng cao trình đô quản lý và tay nghề người lao động

Khi mà đường lối mở cửa, hội nhập của Đảng và Nhà nước được thựchiện, cùng với chính sách trải thảm đỏ kêu gọi đầu tư của Đảng bộ chính quyềnnhân dân tỉnh Bình Dương có hiệu quả thì việc phát triển KCNTT đã là cầu nối

để cho phép chúng ta tiếp cận với khoa học kỹ thuật hiện đại Nếu chúng ta cóđội ngũ cán bộ kỹ thuật giỏi, đội ngũ cán bộ quản lý có đủ bản lĩnh tham gia liêndoanh thì việc tiếp cận với kỹ thuật và công nghệ hiẹn đại, học hỏi cách quản lýtiên tiến và nâng cao trình độ dạy nghề cho đội ngũ công nhân là điều hoàn toàn

có thể thực hiện được

Rõ ràng, phát triển các KCNTT là con đường, biện pháp thích hợp một xuhướng phát triển đúng đắn của quá trình CNH,HĐH ở Việt Nam nói chung và ởtỉnh Bình Dương nói riêng

Sự đóng góp của các KCNTT đối với sự phát triển ngành công nghiệpmới chỉ là một thời gian ngắn, nhưng kết quả đạt được đã khẳng định vai trò tấtyếu trong sự nghiệp phát triển kinh tế của tỉnh Bình Dương Đồng thời nó có ýnghĩa quan trọng đối với sự nghiệp củng cố tăng cường QP-AN trên địa bàn tỉnhvững mạnh

Trang 21

- Vai trò của khu công nghiệp tập trung đối với tăng cường sức mạnh quốc phòng- an ninh trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Quá trình thực hiện chủ trương phát triển các KCNTT trong tiến trìnhcông nghiệp đất nước nằm trong bối cảnh Đảng ta đổi mới về tư duy quân sự vàchiến lược BVTQ Đảng ta chỉ rõ “Củng cố quốc phòng giữ vững an ninh quốcgia là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, toàn dân và toànquân Phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị để tăng cường tiềm lựcQP-AN Xây dựng lực lượng quân đội và công an nhân dân cách mạng, chínhquy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; xây dựng vững chắc thé trận quốc phòngtoàn dân, kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân; quán triệt tư tưởngcách mạng, tiến công tích cực chủ động, sẵn sàng đánh bại âm mưu và hoạtđộng chống phá của kẻ thù “ [7.Tr119]” Thực hiện nghị quyết 02/NQ của BộChính trị, vấn đề đặt ra là các địa phương có KCNTT kết hợp QP-AN với kinh

tế là phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển KCNTT với tăng cường sứcmạnh QP-AN Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII chỉ rõ: “Kết hợp chặt chẽkinh tế với quốc phòng trong việc hoạch định và phát triển các vùng kinh tế, cácngành công nghiệp, lấy hiệu quả kinh tế gắn với yêu cầu bảo đảm QP-AN làm

cơ sở cho các chủ trương cụ thể” [6Tr.184]

Bình Dương là một địa phương có các KCNTT phát triển năng động sovới cả nước, ngay từ khi thành lập các dự án đầu tư Bình Dương đã làm văn bảnxin ý kiến Bộ tư lệnh QK VII và Bộ Quốc phòng về quy hoạch phòng thủ vàphối hợp giữ vững an ninh trật tự Qua khảo sát, xem xét trên bình diện lý luận

và thực tiễn thấy được những vai trò của việc phát triển các KCNTT gắn vớităng cường sức mạnh QP-AN trên địa bàn tỉnh Bình Dương như sau:

Một là: Phát triển KCNTT góp phần tạo cơ sở kinh tế, chính trị xã hội để tăng cường sức mạnh QP-AN

Quá trình phát triển các KCNTT không những tạo ra sự tăng cường dochính lĩnh vực công nghiệp mà còn thúc đẩy các ngành kinh tế liên quan nhưxây dựng, giao thông vận tải, thương mại, tài chính, tín dụng, ngân hàng, bưu

Trang 22

chính viễn thông…phát triển theo Quá trình đó có tính chất dây chuyền, đây là

cơ sở để tăng các khoản thu cho ngân sách, tăng điều kiện về tài chính, giảiquyết các vấn đề xã hội Đây cũng là cơ sở cho xã hội ổn định, tạo sự thống nhấtcao về chính trị tinh thần cho sức mạnh QP-AN được tăng cường Là quá trìnhvừa xây dựng vừa góp phần chống tiêu cực trong xã hội, xây dựng văn hoá gắnchặt xây dựng kinh tế, tạo sự ổn định lành mạnh, sống có văn hoá pháp luật kỷcương được giữ vững tất cả cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc

Nhìn chung tình hình an ninh chính trị- trật tự xã hội ở các khu côngnghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương được giữ vững Năm 2005 tổng doanh thucủa các doanh nghiệp khu công nghiệp là 886 triệu USD Đây là nguồn lực quantrọng góp phần củng cố tiềm lực quốc phòng là cơ sở vật chất để xây dựng, tăngcường sức mạnh QP-AN

Hai là: phát triển KCNTT, đẩy nhanh quá trìnhCNH,HĐH xây dựng kết cấu hạ tầng thuận lợi cho phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng.

Chủ trương kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế trêntất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và đã được Đảng và Nhà nước ta xácđịnh Trong xây dựng về kinh tế phải xây dựng về mặt lực lượng sản xuất và cảxây dựng về quan hệ sản xuất mới KCNTT phát triển cũng sẽ là phản ứng dâychuyền kéo theo các hệ thống văn bản, hệ thống công trình, công sự, các trậnđịa, hệ thống đường xá, thông tin…nhất là tạo được cơ sở hạ tầng, phương tiện

cơ động thông tin vững chắc có thể đáp ứng yêu cầu chiến tranh lớn xảy ra

Tính đến tháng 12/2005 các KCN Bình Dương đã thực hiện được 980,39

tỷ đồng chi phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đạt 66,31% tổng vốn đầu tư xâydựng cơ sở hạ tầng KCN Nhận thấy rằng các chủ đầu tư cơ sở hạ tầng BìnhDương đã rất chú trọng đến công tác đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng Đảm bảocho các doanh nghiệp KCN được hoạt động trong điều kiện tốt nhất Qua đó gópphần cung cấp, hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ theo sự nghiệp củng

cố quốc phòng, BVTQ

Trang 23

Ba là: Phát triển KCNTT góp phần thực hiện thắng lợi quá trình HĐH nông nghiệp, nông thôn tạo nguồn lương thực, thực phẩm dồi dào cho lực lượng vũ trang và nguồn nguyên liệu cho công nghiệp quốc phòng

CNH-Trong phát triển các KCNTT, bên cạnh các xí nghiệp công nghiệp mà sảnphẩm của nó phục vụ trực tiếp cho các ngành công nghiệp, kết cấu hạ tầng còn

có các xí nghiệp mà sản phẩm của nó liên quan trực tiếp đến phát triển cácngành nông, lâm, ngư nghiệp Đó là các xí nghiệp sản xuất ra các máy móc phục

vụ nông, lâm, ngư nghiệp, các chế phẩm hoá chất, vi sinh phục vụ bảo vệ, tăngtrưởng cây trồng vật nuôi, các sản phẩm chế biến và bảo quản sản phẩm nôngnghiệp sau thu hoạch

Nông nghiệp không chỉ có vai trò quan trọng đối với đời sống kinh tế- xãhội nói chung mà còn có vai trò to lớn đối với sự nghiệp củng cố quốc phòng,xây dựng quân đội

Trong tình hình mới, yêu cầu khách quan của sự nghiệp công nghiệp BìnhDương còn có hướng đi đúng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng côngnghiệp-dịch vụ- nông nghiệp Không vì thế mà nông nghiệp Bình Dương chịu

“lép vế” Trên thực tế nông nghiệp Bình Dương vẫn trên đà phát triển các trangtrại cây ăn quả, trang trại bò sữa ở Tân Uyên, Bến Cát phát triển đi loên sản xuấtlớn, đặc biệt là vườn cây ăn quả Lái Thiêu đã có thương hiệu trên thị trường.Năm 2005 tỷ trọng GDP của nông nghiệp là 8,5% tỷ lệ lôa động trong nôngnghiệp 53%- Đất nông nghiệp chiếm 200.000 ha (trong đó đất hàng năm là40.000ha, cây lâu năm là 114.000 ha chủ yếu là cây cao su, tiêu, điều là cây ăntrái)

Sự phát triển của nông nghiệp ở Bình Dương tạo ra lương thực, thựcphẩm dồi dào đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của toàn xã hội trong đó có lựclượng vũ trang Mặt khác tạo ra cơ sở hậu cần tại chỗ của chiến tranh nhân dân

và quốc phòng toàn dân

Nông nghiệp phát triển, Nhà nước có khả năng chủ động bảo đảm lươngthực, thực phẩm cho bộ đội đồng thời có lương thực, thực phẩm dự trữ, xuất

Trang 24

khẩu và làm nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, đặc biệt là côngnghiệp chế biến quốc phòng để sản xuất ra các sản phẩm phục vụ chiến đấu dàingày như lương khô, thịt, cá hộp…Với chất lượng cao phù hợp với nhu cầu đặcthù của quân đội Đây là nhân tố quan trọng góp phần nâng cao sức mạnh quốcphòng, xây dựng lực lượng vũ trang lớn mạnh

Bốn là: Phát triển các KCNTT sẽ hình thành các cụm hậu cần – kỹ thuật quân sự cho KVPT nói riêng và tăng cường sức mạnh QP-AN nói chung.

Như đã trình bày mỗi KCNTT có hàng trăm xí nghiệp thuộc các lĩnh vựckhác nhau: cơ khí, điện, điện tử…sản xuất có, chế biến có, sửa chữa khi được tổchức, bố trí sắp xếp hợp lý thực sự chúng sẽ thành các cơ sở hậu cần-kỹ thuậtquân sự cho các khu vực phòng thủ khi có tác chiến

Hiện nay ở Bình Dương diện tích đất công nghiệp trong các KCN là128,48 ha trong đó đã cho thuê được 648,41ha chiếm 69,31% diện tích Theođánh giá của thế giới và nhiều nhà chuyên môn, các KCN thành công khi đã chothuê được trên 30% diện tích đất Bình Dương cá biệt có KCN Việt Nam,Singapo đã cho thuê trên 90% diện tích KCN ** đã cho thuê được 90,47%…Điều này chứng to các KCN Bình Dương có lợi thế so sánh rất lớn, điều đó cũng

có vai trò quan trọng trong việc hình thành các cụm hậu cần- kỹ thuật cho tăngcường sức mạnh QP-AN Mặt khác cơ cấu ngành nghề lĩnh vực cũng hết sức đadạng: cơ khí điện tử 17,98%, dệt may 18.26%, chế biến gỗ 11,52%, hoá chất, dadày trên 10%…

Những số liệu trên cho thấy bên cạnh những tác động mang tính cụ thể cònphải tính đến một khía cạnh khác liên quan đến tăng cường sức mạnh QP-AN đó làcác KCNTT thực sự sẽ trở thành các căn cứ hậu cần-kỹ thuật vững chắc khi chiến

sự xảy ra và có thể huy động được tiềm lực sức mạnh vật chất ấy

Tóm lại, để đẩy nhanh tiến trình CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thịtrường mở cửa nhằm phát triển kinh tế, thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu làm choBình Dương mạnh cả về kinh tế lẫn QP-AN thì phát triển các KCNTT là một

Trang 25

trong những con đường và biện pháp thích hợp, cần thiết phù hợp với các điềukiện về vốn, tài chính, kết cấu hạ tầng còn nhiều khó khăn và nhiều vấn đề phảigiải quyết như ở Bình Dương Thực tiễn 30 năm đổi mới đă chứng minh điều

đó

1.2.2 Những tồn tại, nguyên nhân và vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển các khu công nghiệp tập trung với tăng cường sức mạnh quốc phòng-an ninh trên địa bàn

Nét nổi bật ở Bình Dương trong những năm qua là đã tận dụng và pháthuy thế mạnh của mình về nội lực để tập trung phát triển kinh tế- xã hội trên cơ

sở phát triển các KCNTT- mũi nhọn trong tiến trình công nghiệp ở địa phương

Là một trong những tỉnh quán triệt sâu sắc quan điểm kết hợp kinh tế với quốcphòng trong quá trình CNH-HĐH nói chung và trong phát triển các KCNTT nóiriêng thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và BVTQ Việt Nam xã hộichủ nghĩa ở địa phương: phát huy vai trò, thế mạnh trực tiếpcủa các KCNTT đểtăng cường, củng cố sức mạnh QP-AN

Mặc dù vậy, trong thời gian qua việc phát triển các KCNTT trên địa bànBình Dương nhìn từ dưới góc độ tăng cường sức mạnh QP-AN vẫn nổi lên một

số vấn đề hạn chế sau:

Một là: Trong phát triển các KCNTT mới, di chuyển các KCN, bố trí các doanh nghiệp vào từng khu công nghiệp vẫn chủ yếu dựa vào những vị trí thuận lợi, cơ sở hạ tầng, giao thông, điện nước…để có lợi nhuận cao trong kinh doanh, chưa chú ý khai thác có hiệu quả tài nguyên đi đôi với bảo vệ môi trường nhất là việc kết hợp giữa phát triển kinh tế với tăng cường sức mạnh QP-AN

Bình Dương về mặt hành chính bao gồm 06 huyện, 1 thị xã trong đó điềukiện tự nhiên, ưu thế so sánh hoàn toàn khác nhau Đảng bộ và bộ chỉ huy quân

sự tỉnh xác định: Tàu, thuyền, Bến Cát, Dầu Tiếng, Phủ Giáo là những địa bàngiữ vai trò chiến lược cả về mặt vị trí địa lý, cả về chiến lược trong chiến tranhbảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên đây là những địa bàn ít được chú trọng trong phát

Trang 26

triển kinh tế đặc biệt là phát triển các KCNTT vì là địa hình ở đây khá phức tạp,giao thông khó khăn, xa trung tâm thị xã và thành phố Hồ Chí Minh Trên thực

tế các địa bàn này có rất ít doanh nghiệp đầu tư, kể cả doanh nghiệp trung ương

và địa phương, các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, các doanh nghiệpthuộc kinh tế Nhà nước cũng như các doanh nghiệp tư nhân Trong khi thị xãhội Thủ Dầu I, huyện Thuận An và Dĩ An là những địa bàn chiếm hầu hết các

dự án thu hút đầu tư Có 2/11 KCN * trên địa bàn hai huyện này Trong khi đónguồn nguyên liệu tại chỗ của các huyện: Tân Uyên, Bến Cát, Phủ Giáo, DầuTiếng hết sức phong phú; cà phê, mía đường, cao su, tiêu, đường…Để khai thác,

sử dụng có hiệu quả số nguyên liệu này phải được vận chuyển về thị xã Thủ DầuMột, Dĩ An, Thuận An Hơn nữa nguồn lao động ở các huyện nói trên dư thưabởi vì họ chỉ dừng lại với mùa vụ cây trồng, trình độ lao động không được nânglên, đời sống thu nhập phụ thuộc vào mùa vụ, dẫn đến hạn chế việc xây dựng vàphát triển nguồn lực tại chỗ cho sự nghiệp QP-AN

Nhà máy đường Bình Dương là một ví dụ điển hình: Nguồn nguyên liệucủa nhà máy chủ yếu từ Tân Uyên, Bến Cát, nhà máy đóng quân ở thị xã ThủDầu Một – công tác vận chuyển nguyên liệu hết sức tốn kém, lãng phí lao động

và tiền bạc Mấy năm liền làm ăn thua lỗ, đời sống công nhân gặp nhiều khókhăn Ngay cả các đội dân quân tự vệ trong nhà máy cũng không duy trì được

Đó là một thực tiễn của việc bố trí, di dời các KCNTT không phù hợp mâuthuẫn với nhu cầu thực tiễn nội lực trên địa bàn

Ở Bình Dương, chính sách của địa phương là khuyến khích đầu tư pháttriển, đô thị hoá nông thôn, vùng sâu, vùng xa; song thực tế việc thực hiện chủtrương này đang bị kìm hãm do đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng chưa phù hợp

Hệ thống đường giao thông, chuyển tải năng lượng, cung cấp nước sạch…đangthực sự cần được phát triển Do vấn đề chưa được giải quyết nên đến nay cáchuyện như: Bến Cát, Phú Giáo…mặc dù là những khu vực có nguồn lực lớn,song vấnm đề cơ sở hạ tầng kém, chưa hấp dẫn các nhà đầu tư vào các KCNTT

ở đây

Trang 27

Hai là, việc phát triển KCNTT phải kết hợp với đào tạo nguồn nhân lực

có kỹ thuật cho sự nghiệp xây dựng củng cố QP-AN còn hạn chế

Trong số lao động làm việc trong các doanh nghiệp các KCNTT ở BìnhDương hiện nay, lực lượng lao động giản đơn còn chiếm số lượng lớn Trongtổng số 113.098 lao động ở các KCNTT thì lao động là người nước ngoài chiếm1,5%, lao động có trình đọ từ trung cấp kỹ thuật, cao đẳng đại học, sau đại họcchỉ chiếm khoảng 0,5% như vậy lao động phổ thông, giản đơn là chủ yếu Mộtvấn đề đặt ra là lao động phổ thông thường là số lao động hợp đồng không thờihạn hoặc ngắn hạn dưới 1 năm hoặc từ 1 đến 3 năm Các doanh nghiệp trongKCNTT có nhu cầu sử dụng lao động này vào các công việc không cần đào tạothêm hoặc sử dụng theo thời hạn Vì vậy lực lượng lao động này thường khônggắn kết với sản xuất, doanh nghiệp, xí nghiệp là lực lượng lao động trôi nổi, việcxây dựng các tổ chức quần chúng nói chung, xây dựng lực lượng dự bị- tự vệtrong các doanh nghiệp của KCNTT cho chiến lược QPTD vì thế gặp rất nhiềukhó khăn

Mặt khác, các doanh nghiệp trong các KCNTT ở Bình Dương không chỉthu hút lực lượng lao động ở địa phương mà còn thu hút lực lượng lao động cáctỉnh thành khác, thậm chí cả người nước ngoài Tính đến cuối năm 2005 đã có1,717 lao động nước ngoài làm việc tại các KCNTT Bình Dương- Vì vậy sốlượng lao động này doanh nghiệp chỉ quản lý được trong giờ làm việc theo cakíp ngoài ra họ là những người cư trú tạm thời ở địa phương, khi có khả nănghuy động khi cần thiết, nhất là về an ninh khu vực…rõ ràng là việc gắn kết chặtchẽ về cơ cấu quân sự của các KCNTT với quản lý lực lượng tại chỗ trên địabàn KVPT, QP-AN còn nhiều vấn đề phải giải quyết

Ba là, thực trạng về tình hình và công tác bảo vệ an ninh trật tự KCN Bình Dương vừa qua cho thấy trên lĩnh vực an ninh chính trị việc quản lý sinh hoạt của chuyên gia và công nhân nước ngoài…nhất là trên lĩnh vực quản lý an ninh kinh tế còn bỡ ngỡ lúng túng trong việc quản lý đầu tư vốn, hoạt động liên doanh liên kết của các doanh nghiệp

Trang 28

Trên lĩnh vực an ninh quốc gia chú ý, đặc biệt chú ý đến âm mưu dùngkinh tế để chuyển hoá chính trị, dùng chịnh trị để chuyển hoá chính trị Đối vớingười nước ngoài tại các KCN trung bình hàng ngày khoảng từ 450-500 ngườitrong hơn 150 doanh nghiệp nước ngoài của 24 quốc gia và vũng lãnh th tại cácKCN trên địa bàn tỉnh Bình Dương Về các hoạt động dùng kinh tế để chuyểnhoá chính trị và có một số công nghiệp nước ngoài thông qua con đường hợp tácliên doanh dùng thủ đoạn lấn áp, buộc phía Việt Nam phải nhường lại cổ phầnnhằm chuyển dịch vốn thành 100% nước ngoài từ đó dễ hoạt động, kể cả hoạtđộng phi pháp, thậm chí cả mục đích chính trị

Những vấn đề trên không chỉ ảnh hưởng đến an ninh trật tự mà còn cótác động xấu đến củng cố QP-AN, xây dựng với QPTD trên địa bàn tỉnh BìnhDương

Tình hình trên đây được bắt nguồn từ các nguyên nhân khách quan vànguyên nhân chủ quan sau:

Thứ nhất: Quá trình phát triển KCNTT ở Bình Dương tuy là một trong

những địa phương làm sớm nhưng vẫn chưa có kinh nghiệm về kết hợp kinh tếvới quốc phòng trong lĩnh vực này Công tác quản lý vĩ mô còn nhiều lúng túng.Quá trình đó lại diễn ra trong điều kiện kinh tế nước ta đang dần hình thành nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong xu hướng mở cửa và hộinhập quốc tế, khi vai trò quản lý vĩ mô còn những bất cập, tất yếu không tránhkhỏi những tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường Khi động cơ thuận lợi độcchiếm vị trí độc tôn, ý thức quốc phòng không được đề cao, thì sự nghiệp củng

cố quốc phòng trong tiến trình CNH-HĐH đất nước nói chung, của mỗi địaphương nói riêng sẽ bị xâm hại

Thứ hai: cũng như nhiều địa phương trong cả nước, Bình Dương chưa xây

dựng được một quy hoạch hoàn chỉnh về chiến lược phát triển công nghiệptrong quá trình CNH-HĐH đất nước trong đó có quy hoạch về một chiến lượcphát triển các KCNTT Điều này hoàn toàn khách quan bởi một lẽ trên lĩnh vực

cả nước; chúng ta tiến hành đổi mới đồng bộ, toàn diện, triệt để từ năm 1986

Ngày đăng: 19/12/2016, 08:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Đặng Thị Kim Nguyên, PCT UBND tỉnh Đồng Nai, "Một số giải pháp phát triển KCN tại Đồng Nai"; kinh tế và dự báo 5/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp phát triển KCN tại Đồng Nai
9. GS,TS Trần Ngọc Hiên: "Cơ sở lý luận phát triển mô hình KCN trong quá trình CNH - HĐH ở nước ta", thông tin KHXH số 2/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận phát triển mô hình KCN trong quá trình CNH - HĐH ở nước ta
10."Một số vấn đề về quản lý và phát triển các KCN, KCX" kinh tế và dự báo 6/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về quản lý và phát triển các KCN, KCX
14. Nguyễn Đức Phượng "Phát triển các KCNTT trên địa bàn tỉnh Đồng Nai và tác động của nó đến KVPT ". Luận văn Th.S, HVCT - QS, H.1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển các KCNTT trên địa bàn tỉnh Đồng Nai và tác động của nó đến KVPT
18. TS Vũ Anh Tuấn "Phát triển KCN, KCX những vấn đề đặt ra". Tạp chí phát triển kinh tế tháng 2/ 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển KCN, KCX những vấn đề đặt ra
1. Báo cáo tổng kết của BQLKCN Việt Nam - Sigapore năm 1999- 2004 Khác
2. Báo cáo tổng kết của BQLKCN Bình Dương 1996-2003 Khác
3. Báo cáo tổng kết của UBND tỉnh Bình Dương về tình hình kinh tế - xã hội các năm 1996-2003 Khác
4. Các Mác - Ph. Ăngghen toàn tập, tập 20, NXB CTQG, H. 1995 Khác
5. Đ CSVN - Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, NXB Sự thật, H. 1991 Khác
6. ĐCSVN - Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB CTQG, H. 1996 Khác
7. ĐCSVN - Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB CTQG, H.2001 Khác
11.Nghị quyết số 02/NQTW của Bộ chính trị về "Xây dựng các đơn vị tỉnh (thành phố) thành khu vực PT vững chắc bảo vệ tổ quốc&#34 Khác
12.Nghị định 36/ CP ngày 24/04/1997 của Chính phủ 13. Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương năm 2004 Khác
15. Mười năm xây dựng và phát triển các KCN Việt Nam (1991-2001) của PGS,TS Đinh Thu Cúc. Viện sử học và tạp chí nghiên cứu lý luận số 2/2003 Khác
16.Phát triển KCN, KCX và những kiến nghị. Kinh tế và dự báo số6/2003 Khác
20.Quyết định 108/1999/ QĐ- UB ngày 07/07/1999 của UBND tỉnh Bình Dương về phê duyệt QH tổng thể kinh tế xã hội tỉnh Bình Dương từ nay đến 2010 Khác
21.Văn kiện đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Dương lần VII Khác
22. Văn kiện đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Dương lần VIII Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w