1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN án TIẾN sĩ THÔNG TIN và vấn đề TIẾP NHẬN xử lý THÔNG TIN THEO tư DUY NGƯỜI VIỆT NAM

213 507 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 213
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông tin và vấn đề tiếp nhận, xử lý thông tin của tư duy người Việt Nam đang được đặt ra rất cấp bách đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) nước ta. Bởi lẽ, ngày nay với cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, đặc biệt là cuộc cách mạng thông tin (CMTT), loài người đang thực hiện bước chuyển từ nền văn minh công nghiệp sang nền văn minh tin học, từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức, thì hơn bao giờ hết thông tin đang trở thành tài sản số một của mỗi quốc gia, dân tộc và sự phồn thịnh của mỗi quốc gia, dân tộc ấy phụ thuộc trước hết và quyết định vào vấn đề tư duy của con người ở đó tiếp nhận và xử lý thông tin như thế nào

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thông tin và vấn đề tiếp nhận, xử lý thông tin của tư duy ngườiViệt Nam đang được đặt ra rất cấp bách đối với sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa (CNH, HĐH) nước ta Bởi lẽ, ngày nay với cuộc cách mạngkhoa học công nghệ hiện đại, đặc biệt là cuộc cách mạng thông tin(CMTT), loài người đang thực hiện bước chuyển từ nền văn minh côngnghiệp sang nền văn minh tin học, từ nền kinh tế công nghiệp sang nền

kinh tế tri thức, thì hơn bao giờ hết thông tin đang trở thành tài sản số một của mỗi quốc gia, dân tộc và sự phồn thịnh của mỗi quốc gia, dân tộc ấy phụ thuộc trước hết và quyết định vào vấn đề tư duy của con người ở đó tiếp nhận và xử lý thông tin như thế nào Hơn nữa, Việt Nam lại là một

nước nông nghiệp, sản xuất nhỏ, thực hiện CNH, HĐH trong điều kiện hiệnnay tất yếu phải đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ cực kỳ to lớn: chuyểnbiến từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp và từ kinh tế công

nghiệp sang kinh tế tri thức thì nhu cầu về thông tin, tri thức càng rất lớn

để mau chóng rút ngắn được khoảng cách về tri thức, và đặc biệt vấn đề tiếp nhận, xử lý thông tin của tư duy người Việt Nam càng là một thách thức nghiệt ngã, một bài toán hóc búa!

Thông tin là một trong những nhu cầu sống còn của con người, đểtồn tại và phát triển, tư duy con người phải thường xuyên tiếp nhận và xử lýthông tin Nhưng không phải ngay từ đầu thông tin và vấn đề tiếp nhận, xử

lý thông tin của tư duy con người đã được con người đề cập đến Có thểnói, phải đến khi lý thuyết thông tin ra đời, con người mới tiếp cận hiện

tượng thông tin ở cấp độ khái niệm và cũng từ đó nó đòi hỏi sự khái quát triết học về bản chất chung nhất của thông tin vì thông tin là thuộc tính khách quan của vật chất, nó gắn liền với phản ánh - thuộc tính vốn có của

Trang 2

vật chất Và đồng thời cũng từ đó triết học mới bắt đầu quan tâm tới bản chất của tư duy con người về phương diện tiếp nhận, xử lý thông tin, đó là

quá trình tiếp nhận, xử lý thông tin của con người diễn ra như thế nào? theo

cơ chế nào và có những đặc trưng gì? hệ các yếu tố nào quy định năng lựctiếp nhận, xử lý thông tin của tư duy con người? Thực sự đây là nhữngvấn đề rất khó, cho đến nay những hiểu biết và những khái quát triết học vềchúng chưa nhiều, đang còn bỏ ngỏ Thì nay, thông tin và vấn đề tiếp nhận,

xử lý thông tin của tư duy con người nói chung và tư duy người Việt Namnói riêng một lần nữa lại được đặt ra nhưng trực tiếp và cấp thiết hơn lúcnào hết Và cũng chính lúc này, với cuộc CMTT toàn cầu hiện nay, lịch sửđang tạo ra những tiền đề, điều kiện cho phép con người có thể tiếp tụcnghiên cứu làm rõ thêm về bản chất của thông tin cũng như quá trình tiếpnhận, xử lý thông tin trong tư duy con người (trong đó có tư duy người ViệtNam) Thật vậy, trong điều kiện cuộc CMTT hiện nay, chưa bao giờ thôngtin phát triển phong phú, đa dạng như bây giờ và cũng chưa bao giờ quátrình tiếp nhận, xử lý thông tin của tư duy con người lại thể hiện rõ sứcmạnh sáng tạo như bây giờ Do đó con người sẽ có điều kiện hơn để tiếpcận làm rõ thông tin và vấn đề tiếp nhận, xử lý thông tin của tư duy con

người Bởi vì như chúng ta biết, bản chất của sự vật, hiện tượng sẽ bộc lộ

rõ hơn khi chúng vận động, phát triển đến giai đoạn cao của nó!

Như vậy, đã đến lúc cuộc sống đang yêu cầu, đòi hỏi và cũng là mách bảo chúng ta cần phải có những khái quát triết học về thông tin và vấn đề tiếp nhận, xử lý thông tin của tư duy người Việt Nam Thông tin và

vấn đề tiếp nhận, xử lý thông tin của tư duy người Việt Nam, có thể nói

rằng, đang là một trong những đề tài triết học trong tin học, có ý nghĩa lý

luận và thực tiễn quan trọng nhằm tìm ra những giải pháp nâng cao nănglực tiếp nhận, xử lý thông tin của tư duy người Việt Nam, giúp họ có thểđáp ứng và tiến tới làm chủ được thông tin trong điều kiện của cuộc CMTT

Trang 3

hiện nay Vì vậy nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần tạo ra và phát huynguồn lực tư duy, trí tuệ - nguồn lực quyết định cho sự phồn thịnh của dântộc Việt Nam vững bước bước vào thiên niên kỷ mới!

Nhận thức được tính cấp thiết trên đây, chúng tôi đã quyết định

chọn và nghiên cứu đề tài: "Thông tin và vấn đề tiếp nhận, xử lý thông tin

của tư duy người Việt Nam".

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Thông tin là một hiện tượng tồn tại khách quan, nhưng có thể nói,phải từ khi có sự bùng nổ thông tin thì triết học mới có thêm cơ sở và điềukiện để chú ý đúng mức hơn đến hiện tượng thông tin và khái niệm "thôngtin" về phương diện triết học, cũng như quan tâm hơn đến mối quan hệ giữathông tin và phản ánh (thuộc tính phổ biến của vật chất) và đặc biệt đến quátrình thông tin diễn ra trong tư duy con người Một số công trình nghiêncứu về những vấn đề đó của các tác giả trong và ngoài nước đã được chínhthức công bố

Trước hết phải kể đến một số công trình của các tác giả nước ngoài

Trong đó đáng chú ý là các công trình của N.I.Jucôv: "Những cơ sở triết học của điều khiển học", Nxb Minxcơ, 1973; B.V.Birjukốp: "Điều khiển học và phương pháp luận của khoa học", Nxb Khoa học Matxcơva, 1974;

và A.D.Urxun: "Vấn đề thông tin trong khoa học hiện đại" Nxb Khoa học

Matxcơva, 1975 Đặc biệt là công trình cộng tác của các nhà triết học và

khoa học Liên Xô (trước đây) và Bungari do T.Páplốp làm chủ biên, đó là:

"Lý luận phản ánh của Lênin và thời đại", Xôphia, 1969; "Lý luận phản ánh của Lênin và khoa học hiện đại", tập 1, 2, 3, Xôphia, 1973; "Lý luận phản ánh của Lênin dưới ánh sáng của sự phát triển khoa học và thực tiễn", tập 1, 2, Xôphia, 1981 Các tác giả trên đây đã tìm hiểu, nghiên cứu

bản chất của thông tin và mối quan hệ giữa thông tin với phản ánh để từ đónêu ra định nghĩa triết học về thông tin Các tác giả cũng đã bước đầu đặt

Trang 4

vấn đề vận dụng lý thuyết thông tin và điều khiển học để mô hình hóa hoạtđộng trí tuệ, tư duy của con người Tuy nhiên, những quan điểm trên đâycòn có phần khác nhau, chưa thống nhất và có những vấn đề còn phải tiếptục nghiên cứu.

Tiếp thu có chọn lọc và góp phần bổ sung những tư tưởng trêntrong điều kiện CMTT toàn cầu hiện nay, một số các nhà triết học và khoahọc Việt Nam đã có những công trình đề cập đến những khía cạnh nhấtđịnh của các vấn đề đó

Về thông tin và mối quan hệ giữa thông tin với phản ánh, phải kể

đến các công trình và bài viết như: "Thông tin và phản ánh" của Nguyễn Duy Thông, Tạp chí Giảng viên, 5/1981, tr 7-14; "Lý luận phản ánh 70 năm sau cách mạng tháng 10" của Nguyễn Trọng Chuẩn và Phạm Văn Đức, Triết học, số 3, 1987, tr 162-177; "Về mối quan hệ giữa con người và

tự nhiên qua các cuộc cách mạng thông tin - công nghệ" của Phạm Thị Ngọc Trầm, Tạp chí Cộng sản, số 10, 1999, tr 37-39; "Sức mạnh thông tin trong xã hội hiện đại" của Trần Hồng Lưu, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, số 4,

1994, tr 49-51,

Về thông tin và vấn đề tiếp nhận, xử lý thông tin của tư duy conngười, những vấn đề đặt ra của thông tin đối với tư duy con người, cũngnhư tư duy con người tiếp nhận, xử lý thông tin như thế nào để đáp ứngđược nhu cầu thông tin hiện nay cũng đã được một số công trình của cácnhà triết học và khoa học Việt Nam đề cập đến ở những khía cạnh và mức

độ nhất định Đó là Vũ Đình Cự với "Khoa học - công nghệ - lực lượng sản xuất hàng đầu", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; Đó là Lê Hữu Nghĩa và Phạm Duy Hải với "Tư duy khoa học trong giai đoạn cách mạng khoa học - công nghệ", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998 Và đó là, Bùi Biên hòa (chủ biên) với "Sự đột phá của khoa học thông tin trước thế

Trang 5

kỷ XXI", Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện Thông tin

khoa học xã hội, Hà Nội, 1998

Từ đề tài thông tin với vấn đề tiếp nhận, xử lý thông tin của tư duycon người nói chung, một số tác giả khác đã tiếp cận cụ thể thông tin vớivấn đề tiếp nhận, xử lý thông tin của tư duy người Việt Nam Nhưng chưa

có công trình nào nghiên cứu một cách khái quát, hệ thống vấn đề đó, cũngnhư chưa có công trình nào khái quát được những đặc điểm cơ bản của quátrình tiếp nhận, xử lý thông tin của tư duy người Việt Nam trên cơ sở chỉ ra

cơ chế và những đặc trưng của quá trình tiếp nhận, xử lý thông tin của tưduy con người nói chung Và, mới chỉ có một số tác giả, công trình đề cậpđến phương diện tiếp nhận và xử lý thông tin của tư duy người Việt Namtrong một lĩnh vực cụ thể và với một mức độ nhất định nào đó Chẳng hạn

như Lê Thị Lan với "Tìm hiểu một số quan niệm chi phối tư duy các nhà cải cách Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX", Tạp chí Triết học, số 1, tháng 3/1995; Lê Hữu Tuấn với "Ảnh hưởng của Phật giáo đối với tư duy của người Việt trong lịch sử", Tạp chí Triết học, số 6, 12/1998; và Nguyễn Hùng Hậu: "Âm và Nhu phải chăng là đặc tính cơ bản của người Việt, của dân tộc Việt?", Tạp chí Triết học, số 3, 6/1999 Vấn đề đó còn được thể

hiện ở một số bài viết, bài nghiên cứu về nhận diện tư duy của các nhân vật

lịch sử như: "Nhận dạng và suy ngẫm về tư duy Hồ Chí Minh" của Hồ Bá Thâm, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, 1/1995; "Tư tưởng đổi mới của Nguyễn Trường Tộ, một biểu hiện mới của tinh thần dân tộc ở nửa sau thế kỷ XIX" của Nguyễn Trọng Văn, Triết học, số 4, 12/1991; và "Bản lĩnh văn hóa Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa" của Hoàng Quốc Hải, Báo Văn nghệ,

số 12, 18-3-2000

Nhìn chung lại có thể nói rằng, tình hình chung trên thế giới và nhất

là ở Việt Nam, triết học chưa chú ý đúng mức đến việc luận chứng bản

Trang 6

chất của thông tin và CMTT hiện nay về mặt thế giới quan và phương pháp luận cũng như tìm hiểu quá trình tiếp nhận, xử lý thông tin của tư duy con người diễn ra như thế nào Những khái quát triết học về thông tin và vấn đề

tiếp nhận, xử lý thông tin của tư duy con người còn rất "mỏng" so với nhucầu, đòi hỏi phát triển của thông tin cũng như nhu cầu xử lý thông tin hiệnnay Và, đã đến lúc thông tin cũng như nhu cầu tiếp nhận, xử lý thông tincủa tư duy con người đòi hỏi sự khái quát của triết học một cách kịp thời,

đầy đủ hơn và sâu sắc hơn Và đặc biệt, với tư duy người Việt Nam, tiếp cận nó từ góc độ thông tin, xem xét nó ở phương diện tiếp nhận, xử lý thông tin, cho đến nay có thể nói là chưa có công trình nào nghiên cứu đề tài này một cách trực tiếp, hệ thống, sâu sắc và khái quát Nó mới chỉ được

đề cập đến ở những khía cạnh cụ thể, với một mức độ nhất định nào đó và được trình bày một cách rải rác, lồng ghép thông qua các vấn đề khác.

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án

- Mục đích: Làm sáng tỏ bản chất chung của thông tin và quá trình

tiếp nhận, xử lý thông tin diễn ra trong tư duy con người; khái quát nhữngđặc điểm cơ bản của quá trình tiếp nhận, xử lý thông tin của tư duy ngườiViệt Nam và những tác động của CMTT hiện nay đến quá trình này, trên

cơ sở đó đề xuất những giải pháp cơ bản để nâng cao năng lực tiếp nhận,

xử lý thông tin của tư duy người Việt Nam hiện nay

- Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên, luận án cần phải giải quyết

một số nhiệm vụ cơ bản sau đây:

+ Phân tích bản chất thông tin và quá trình thông tin trong thế giớikhách quan, từ đó làm rõ cơ chế và những đặc trưng khác hẳn và hơn hẳn

về chất của quá trình tiếp nhận, xử lý thông tin của tư duy con người so vớicác quá trình thông tin khác

Trang 7

+ Phân tích và khái quát những đặc điểm cơ bản của quá trình tiếpnhận, xử lý thông tin trong tư duy người Việt Nam và chỉ ra những tácđộng của cuộc CMTT hiện nay đến quá trình đó.

+ Trình bày một số giải pháp cơ bản để nâng cao năng lực tiếpnhận, xử lý thông tin của tư duy người Việt Nam trong điều kiện cuộcCMTT hiện nay

4 Phạm vi nghiên cứu của luận án

Với mục đích nghiên cứu ở trên, phạm vi nghiên cứu của luận án

"Thông tin và vấn đề tiếp nhận, xử lý thông tin của tư duy người ViệtNam" được xác định như sau:

Luận án tiếp cận thông tin ở phương diện triết học, thông tin được

xem xét với tư cách là thuộc tính khách quan của vật chất, là một mặt củaphản ánh Trong đó, thông tin xã hội - dạng thông tin phát triển cao nhất,phức tạp nhất - chính là đối tượng tiếp nhận, xử lý của tư duy con người,trong đó có tư duy người Việt Nam

Luận án nghiên cứu và làm rõ bản chất của tư duy con người nói chung và đặc biệt là đặc điểm của tư duy người Việt Nam nói riêng ở phương diện tiếp nhận và xử lý thông tin.

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Vận dụng các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa

duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đặc biệt là lý luận nhận thứcmácxít; luận án cũng vận dụng các quan điểm đường lối của Đảng Cộngsản Việt Nam về phát huy trí tuệ, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước trên

cơ sở CNH, HĐH đất nước, lấy công nghệ thông tin (CNTT) làm côngnghệ số một Đồng thời luận án còn sử dụng chọn lọc những tư liệu vàkết quả nghiên cứu của các khoa học liên quan đến phạm vi nghiên cứu

Trang 8

đề tài như lý thuyết thông tin, điều khiển học, tin học, cũng như tâm lýhọc, sinh học hiện đại, âm sinh học nhằm làm rõ các luận điểm nêu ratrong luận án.

- Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng đồng thời các

phương pháp phân tích và tổng hợp, khái quát hóa và trừu tượng hóa, lôgíc

và lịch sử, phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể, phương pháp hìnhthức hóa và mô hình hóa

6 Đóng góp mới của luận án

- Với việc tiếp cận hai mặt bản thể luận và nhận thức luận của khái

niệm thông tin, luận án đã góp phần làm sáng tỏ và phân tích sâu hơn định

nghĩa triết học về thông tin: "Thông tin là cái đa dạng được phản ánh" Từ

đó làm phong phú thêm phạm trù "phản ánh" của chủ nghĩa duy vật biện

chứng mácxít Luận án còn trình bày một cách hệ thống nấc thang phát triển của các dạng thông tin của thế giới vật chất với những cứ liệu xác đáng của các khoa học cụ thể

- Luận án đã góp phần làm rõ và sâu sắc thêm nhận thức luận

mácxít về bản chất của tư duy con người nói chung ở phương diện tiếp nhận và xử lý thông tin Và, vấn đề tiếp nhận, xử lý thông tin của tư duy người Việt Nam được xem xét trên bình diện những khái quát triết học, trong đó đặc biệt là làm rõ những đặc điểm của quá trình tiếp nhận, xử lý thông tin của tư duy người Việt Nam Trên cơ sở đó, đề xuất những giải

pháp cơ bản để nâng cao năng lực tiếp nhận, xử lý thông tin của tư duyngười Việt Nam trong điều kiện CMTT hiện nay

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Luận án góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định

đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tạo điều kiện,

Trang 9

bồi dưỡng và phát triển tư duy, trí tuệ, nâng cao năng lực tiếp nhận và xử lýthông tin của tư duy người Việt Nam trong điều kiện của cuộc CMTT hiện

nay Và, luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và

giảng dạy triết học, cũng như lý thuyết thông tin, điều khiển học và tin học

8 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận

án gồm 3 chương, 7 tiết

Trang 10

Chương 1

THÔNG TIN VÀ QUÁ TRÌNH TIẾP NHẬN,

XỬ LÝ THÔNG TIN CỦA TƯ DUY CON NGƯỜI

1.1 BẢN CHẤT CỦA THÔNG TIN

1.1.1 Khái niệm thông tin

1.1.1.1 Hiện tượng thông tin trong thế giới khách quan

Chúng ta đã từng biết, D.Roa der - nhà sinh thái Mỹ khám phá rarằng cây cối trao đổi thông tin cho nhau bằng những tín hiệu vô hình Khisâu tấn công vào cây nào đó, cây liền phát ra dấu hiệu hóa học để "báođộng" cho những cây kế cận, những cây này sẽ tăng chất chát trong lá đểhạn chế sâu

Xung quanh ta có biết bao cây cỏ, hoa lá thế giới thực vật là đadạng, muôn màu, muôn vẻ, chúng không chỉ "thông tin" cho nhau mà cònluôn luôn tiếp nhận và "xử lý" những thông tin nhận được từ môi trườngxung quanh Cây cối sống được là nhờ năng lượng lấy từ mặt trời và nguồnthức ăn lấy từ lòng đất và không khí Rễ của cây đâm sâu vào lòng đất, lenlách, tìm tòi khắp nơi Đầu rễ mong manh, mềm mại nhưng lại hoạt độngnhư một chiếc khoan hiện đại có "đầu óc tinh khôn" và "khoa học" như conngười Vì thế rễ cây thường vươn rộng và xa về phía đất màu mỡ và khi rễgặp chướng ngại vật như hòn đá chẳng hạn, nó "biết", đi vòng hoặc đi lui,thậm chí phá vỡ đá bằng cách tiết axit phá hủy đá vôi Cây sống được còn

là nhờ ánh sáng mặt trời, lá cây thường vươn về phía có nhiều ánh nắng Sựthích nghi của cây cối để tồn tại và lớn lên hay sự diệt vong của chúng đều

là kết quả của quá trình thường xuyên tiếp nhận thông tin từ môi trườngxung quanh và khả năng tự điều chỉnh phù hợp hay không phù hợp vớinhững thông tin đó

Trang 11

Và, mỗi loài động vật đều có đời sống riêng của nó Từng cá thểloài chỉ có thể tồn tại được nếu nó trao đổi được thông tin không chỉ vớimôi trường mà với những cá thể khác trong loài Với kiến, để trao đổithông tin với nhau chúng nhờ vào việc tiết chất dịch đặc biệt để báo hiệucho đồng loại Còn với chim, thực chất của tiếng chim hót là bảo đảm cho

sự tồn tại của chim Nếu chúng ta lấy đi "món quà" đó thì nhiều loài chim

sẽ bị tiêu diệt bởi vì chúng không còn có thể bảo vệ được khu cư trú khỏi

sự lấn chiếm của chim ngoại lai, không thể quyến rũ con cái để bảo vệ nòigiống Nhờ tiếng chim hót của mình và đồng loại, chim thông báo chonhau những thông tin nào đó (thông qua tín hiệu tai họa, cảnh giới, thức ăn,kết đôi, tấn công, gọi bầy, làm tổ )

Có thể nói, thông tin là một hiện tượng tất yếu, đóng vai trò cực kỳquan trọng trong đời sống sinh tồn của động vật Động vật thường xuyêntrao đổi thông tin cho nhau thông qua tiếng kêu, tiếng hú, mùi vị, qua dángđiệu và cử động thân thể của chúng

Với con người và xã hội loài người thì thông tin càng trở thànhmột trong những nhu cầu sống còn của mình Người nguyên thủy thôngtin cho nhau về thú dữ, về sự tấn công của các thị tộc, bộ lạc khác, vềnguồn thức ăn, về nhu cầu tình cảm Con người hiện đại thông tin chonhau về thời tiết, về kinh nghiệm sản xuất, đấu tranh xã hội, về nhữngvấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, về nhu cầu tình cảm, về những nguyêntắc đạo đức hay thị hiếu thẩm mỹ Chúng ta có thể cảm nhận đượcthông tin ở mọi lúc, mọi nơi với vô vàn cách biểu hiện phong phú và đadạng của thế giới xung quanh Chúng ta thường xuyên nhận được thôngtin về tình hình chính trị, văn hóa - xã hội, thể thao trong nước và trênthế giới qua ti vi, báo chí, đài phát thanh chúng ta còn có thể nhậnđược thông tin về trận động đất sẽ xảy ra ở một nơi nào đó, về nhật thực,nguyệt thực

Trang 12

Và ngày nay, qua mạng Internet, con người có thể hàng ngày, hànggiờ, có khi tới từng phút, từng giây trao đổi thông tin với tất cả mọi ngườitrên thế giới, biết được về quá khứ, hiện tại và những dự báo tương lai

Như vậy, thông tin rõ ràng là hiện tượng vốn có của thế giới kháchquan Dường như mọi dạng vật chất đều có thông tin Thông tin được thểhiện qua các thông báo bằng các biểu hiện vật chất hết sức đa dạng do bảnthân tự nhiên, xã hội (trong đó có con người) tạo ra theo các quy tắc nào đó

mà mọi sinh vật (con người, động vật, thực vật) tùy mức độ tiếp nhận và xử

lý mới có thể tồn tại và phát triển được

Sự tồn tại của hiện tượng thông tin trong thế giới khách quan và vaitrò quan trọng của nó đối với bản thân thế giới đó đặc biệt là cuộc CMTTtrong thời đại ngày nay đã thôi thúc nhân loại cũng như khoa học của họ

phải nghiên cứu và trả lời cho được câu hỏi: thông tin là gì? Cũng có nghĩa

là phải tìm hiểu nguồn gốc, bản chất của thông tin, và từ đó - cũng như quátrình nhận thức sự vật, hiện tượng bất kỳ nào trong thế giới khách quan -chúng ta phải nêu lên được định nghĩa về thông tin!

1.1.1.2 Thông tin là gì?

Không phải ngay từ đầu loài người đã nhận thức được hiện tượngthông tin ở cấp độ khái niệm Mặc dù con người nhận thấy rất rõ rằng hiệntượng thông tin tồn tại ở khắp mọi nơi, xung quanh chúng ta và chính họcũng không thể tồn tại được nếu thiếu chúng

Lần đầu tiên thông tin được con người chú ý nghiên cứu đến về mặt

ý nghĩa xã hội của nó và được đề cập đến trong lý thuyết báo chí vào nhữngnăm 20 - 30 của thế kỷ XX Theo cách hiểu kinh điển, thông tin chính làthông báo về một cái gì đó khác với những cái đã biết Kế thừa tư tưởngtrên, khái niệm thông tin đi vào khoa học hiện đại, trước hết là lý thuyếtthông tin của C.Sênông Và, đặc biệt ngày nay với cuộc CMTT, thông tin

đã trở thành đối tượng nghiên cứu chủ yếu, trực tiếp của điều khiển học,

Trang 13

của lý thuyết thông tin và tin học Từ đó có rất nhiều định nghĩa về thôngtin và những định nghĩa đó mới chỉ tiếp cận được với hiện tượng thông tin

ở những góc độ, phương diện nhất định

Có thể, từ góc độ phân biệt các loại thông tin: thông tin kinh tế,thông tin khoa học kỹ thuật, thông tin văn hóa - xã hội chẳng hạn như:

"Thông tin kinh tế là các tín hiệu mới thu nhận được, được thụ cảm (hiểu)

và được đánh giá là có ích cho việc ra quyết định quản lý" [20, tr 15].Cũng có thể từ góc độ đánh giá vai trò của thông tin, như nhà khoa họcĐức E.Pietch đã chỉ ra: "Thông tin là một sản phẩm mà với ý nghĩa côngdụng của nó có thể xem ngang hàng với trữ lượng nguyên liệu của nướcđó" [102, tr 41]

Có thể, từ góc độ nhận thức của con người: "Thông tin thường đượchiểu là nội dung chứa trong thông báo bằng văn bản hay lời nói" [53, tr 3]hoặc "thông tin là dữ liệu mà có thể nhận thấy, hiểu được và sắp xếp lại vớinhau thành hình kiến thức" [19, tr 9], hay "thông tin là nội dung thế giới bênngoài được thể hiện trong sự nhận thức của con người" (N.Viner) [45, tr.8]

Ngoài những cách tiếp cận theo từng góc độ trên, một số cách tiếpcận đã có tầm khái quát hơn Đó là: "Thông tin là sự truyền đưa độ đa dạng"(R.E sbi) [45, tr 8]; "thông tin là thực thể, là độ đo tính phức tạp" (H.Mole)[45, tr 8] và "thông tin là xác suất sự lựa chọn" (I.Aglom) [45, tr 8]

Dù tiếp cận thông tin ở phương diện, góc độ nào nhưng những địnhnghĩa trên đều là cơ sở góp phần làm rõ bản chất của hiện tượng thông tin

Để làm rõ được bản chất của hiện tượng thông tin, trước hết chúng ta hãyxuất phát từ một thuộc tính của vật chất mà thuộc tính này có liên quan đến

sự xuất hiện, hình thành thông tin: đó là thuộc tính phản ánh

Vậy phản ánh là gì? - "Phản ánh là năng lực một hệ thống vật chấtnày (A) tái hiện ở trong nó, dưới dạng ít nhiều đã biến đổi những đặc điểm,

Trang 14

thuộc tính của một hệ thống vật chất khác (B), khi nó chịu tác động củaB" [44, tr 39] hay nói cách khác: phản ánh là sự tái tạo những đặc điểmcủa hệ thống vật chất này ở hệ thống vật chất khác trong quá trình tác độngqua lại giữa chúng.

Ta có thể hình dung thuộc tính phản ánh của vật chất qua sơ đồ sau:

B > A

(Vật tác động) Tác động (Vật bị tác động)vật bị phản ánh trở lại vật phản ánh

Sơ đồ 1.1

Phản ánh gắn liền và thông qua tương tác giữa các sự vật hiệntượng A gọi là hệ thống phản ánh, còn B là hệ thống được phản ánh.Không có hệ thống phản ánh thì không có phản ánh Nhưng nếu không cócái được phản ánh cũng không có cái phản ánh Hệ thống được phản ánhquy định nội dung phản ánh, nhưng tính chất, mức độ đầy đủ, chính xáccủa sự phản ánh lại phụ thuộc vào bản tính, trình độ tổ chức vật chất của hệthống phản ánh Có nghĩa là sự phản ánh phụ thuộc vào cả hai vật

Nhưng một vấn đề đặt ra là: phản ánh có phải là thuộc tính của mọidạng vật chất hay không?

Từ một giả thuyết thiên tài, hợp lôgíc của Lênin, luận điểm: phảnánh là một thuộc tính phổ biến của vật chất đã được nâng lên là một chân lýbởi sự chứng minh của khoa học và thực tiễn gần một thế kỷ qua Nói về sựluận chứng, bảo vệ và phát triển học thuyết của Lênin về phản ánh phải kểđến công lao của T.Páplốp với công trình: "Lý luận phản ánh" viết năm1936; Viện sĩ Anôkhin với công trình: "Sự phản ánh vượt trước hiện thực"viết năm 1962; đặc biệt là sự hợp tác nghiên cứu của các nhà khoa học, triếthọc Liên Xô (cũ) và Bungari với ba công trình: "Lý luận phản ánh của Lênin

và thời đại", Xôphia, 1969; "Lý luận phản ánh của Lênin và khoa học hiện

Trang 15

đại" gồm ba tập, Xôphia, 1973 và "Lý luận phản ánh của Lênin dưới ánhsáng của sự phát triển khoa học và thực tiễn" gồm hai tập, Xôphia, 1981.

Như vậy, phản ánh là thuộc tính của mọi đối tượng vật chất, cónghĩa là mọi hệ thống vật chất (A) đều có năng lực tái hiện ở trong nónhững đặc điểm, tính chất, mối quan hệ, cấu trúc, của hệ thống vật chấtkhác (B) tác động vào nó Những đặc điểm, tính chất, mối quan hệ, ấycủa (B) được lưu lại trong (A) thông qua tác động qua lại giữa chúng, lànhững dấu ấn của B trong A Những dấu ấn này chính là cái mà chúng tavẫn thường gọi là thông tin về B đối với A Mỗi hệ thống vật chất đều là

tổng hợp của những đặc điểm, thuộc tính, mối quan hệ, và nếu tạm thời

bỏ qua sự khác biệt về chất thì có thể coi mỗi hệ thống vật chất đều là sự thống nhất của cái đa dạng Do đó cũng có thể nói, mỗi hệ thống vật chất

(A) đều có năng lực tái hiện ở trong nó cái đa dạng của hệ thống vật chấtkhác (B) tác động vào nó Vì vậy, thông tin về B đối với A chính là cái đadạng của B được lưu lại trong A thông qua tác động của B đối với A (tấtnhiên B cũng sẽ chịu tác động trở lại của A đối với nó)

Sự phân tích ở trên cho thấy, thông tin trong thế giới vật chất vô

cùng phong phú, muôn màu, muôn vẻ nhưng chúng đều là cái đa dạng được truyền tải, được tái tạo của hệ thống vật chất này đối với hệ thống vật chất khác thông qua sự tác động giữa chúng Đó là dấu hiệu cơ bản, khác

biệt của hiện tượng thông tin so với các hiện tượng và quá trình khác trongthế giới khách quan

Trên cơ sở những thành tựu của điều khiển học, lý thuyết thông tin

và tin học - những khoa học trực tiếp nghiên cứu thông tin, triết học đãkhông ngừng cố gắng tiếp cận với bản chất chung nhất ấy của thông tin Vàmột định nghĩa triết học về thông tin đã được A.D.Urơxun nêu lên, đó là:

"Thông tin là cái đa dạng được phản ánh" [137, tr 25] Theo chúng tôi,

Trang 16

đây là một định nghĩa triết học (ở phương diện triết học) khá xác đáng vềthông tin! Bởi vì, tuy có những vấn đề còn phải tiếp tục nghiên cứu nhưngcho đến nay, có thể nói sự phát triển của thực tiễn cũng như khoa học vềthông tin, đặc biệt là cuộc CMTT hiện nay không thể phủ nhận được bảnchất vốn có ấy của thông tin.

Hơn nữa, chúng tôi thiết nghĩ rằng để luận chứng cho tính xác đángcủa định nghĩa trên về thông tin cần phải tiếp cận về mặt bản thể luận vàmặt nhận thức luận của khái niệm thông tin trên cơ sở định nghĩa ấy Đồngthời qua đó chúng tôi muốn khẳng định và bảo vệ quan điểm cho rằng:

Thông tin là thuộc tính vốn có của thế giới vật chất, khác với quan điểm

cho rằng thông tin không tồn tại trong giới vô sinh

Trong các từ điển triết học cũng như trong các sách báo triết họcthường mới chỉ để cập đến mặt bản thể luận và nhận thức luận với tư cáchnhư là học thuyết về bản thân sự vật, về sự tồn tại của sự vật và học thuyết

về quá trình nhận thức sự vật của con người: "Bản thể luận là học thuyết vềnhững quy luật phát triển chung nhất của tồn tại" [99, tr 28] và "nhận thứcluận là lý luận nhận thức nó nghiên cứu bản chất của quan hệ nhận thứccủa con người đối với thế giới" [99, tr 341] Nhưng từ cấp độ là họcthuyết, chúng ta có thể rút ra được bản thể luận và nhận thức luận ở cấp độ

là hai mặt của khái niệm: Mặt bản thể luận của một khái niệm nói lên sựvật mà khái niệm đó phản ánh là gì, bản chất của nó như thế nào, nó cónguồn gốc từ đâu, nó vận động và phát triển ra sao; còn mặt nhận thức luậncủa khái niệm nói lên sự vật mà khái niệm đó phản ánh được con ngườinhận thức như thế nào

Vậy trước hết, mặt bản thể luận của khái niệm thông tin bao gồmnhững nội dung gì?

- Thứ nhất: Thông tin có nguồn gốc từ tính đa dạng, nhiều vẻ về thuộc tính, cấu trúc cũng như các mối quan hệ của các sự vật, hiện tượng

Trang 17

trong thế giới khách quan Nếu trong một sự vật đang diễn ra những biến

đổi phản ánh sự tác động của một sự vật khác (sự vật biến đổi ấy phù hợp íthay nhiều với những thuộc tính, cấu trúc, mối quan hệ của sự vật khác đó)thì có thể nói sự vật thứ nhất đang trở thành vật thể mang thông tin về sựvật thứ hai Ngay từ vật chất vô sinh, chẳng hạn như một thanh sắt để trongkhông khí, lâu ngày sẽ bị gỉ, lớp gỉ đó chính là hợp chất ôxýt sắt do ôxi cótrong thành phần không khí đã tác dụng với sắt mà tạo thành

4Fe + 3O2 = 2 Fe2O3

Sự biến đổi của sắt thành ôxýt sắt (ở lớp bề ngoài của thanh sắt nơi tiếp giáp với không khí) đã lưu lại (phản ánh) "dấu ấn" ôxi của khôngkhí, hay nói cách khác sắt đã mang thông tin về không khí Tuy nhiênthông tin ấy chỉ tồn tại với tính cách là thông tin về mặt cú pháp (phần này

-sẽ được phân tích cụ thể ở 1.1.2.a) Với vật chất hữu sinh, như ví dụ dẫn ra

ở phần 1.1.1.a, cây cối tăng thêm chất chát ở trong lá, sự biến đổi ấy làphản ánh tác động của môi trường có nhiều sâu bọ phá hoại, hay nói cáchkhác khi đó cây cối đã mang thông tin về thuộc tính có sâu bọ phá hoại củamôi trường Tất nhiên thông tin này (cũng như thông tin trong thế giớiđộng vật, đặc biệt đối với con người và xã hội loại người), khác với thôngtin trong thế giới vô sinh vì đó là những thông tin có điều khiển, ở đây vậtnhận thông tin có khả năng điều chỉnh sự tồn tại của mình trên cơ sở thôngtin ấy

Như vậy, thông tin không phải tự nhiên mà có, nó bắt nguồn từ chính những đặc điểm, tính chất vốn có của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan Thông tin, vì thế là sự phủ định, sự xóa bỏ tính không khác nhau, hay nói cách khác thông tin chính là tính không khác nhau bị xóa bỏ, là tính đa dạng Thông tin có mặt ở nơi nào có tính đa dạng, tính không đồng nhất.

Trang 18

Vậy "cái đa dạng" ấy là gì? chúng ta cần phải làm rõ hơn bản chấtcũng như mặt định tính và định lượng của nó Như chúng ta biết, đối vớicác nhà điều khiển học thì độ bất định trong việc phân bố vật chất và nănglượng trong không gian và thời gian là hạt nhân xuất phát của tư tưởngkhoa học về thông tin Hay nói các khác độ bất định của một hệ thống vậtchất quy định cái đa dạng của nó Theo nhiệt động học thì độ bất định củamỗi hệ thống vật chất được biểu thị bằng hàm: S = k ln W [51, tr 247],được gọi là entrôpi của hệ Trong đó: W - xác suất nhiệt động của mộttrạng thái vĩ mô đã cho, là số các trạng thái vi mô tương ứng với trạng thái

vĩ mô đó, nó đặc trưng cho mức độ hỗn loạn của trạng thái vĩ mô; k là hằng

số Boltzmann Như vậy, mỗi hệ thống vật chất nhất định đều có entrôpi của

nó Entrôpi của hệ là con số biểu hiện mức độ vô tổ chức, mất trật tự của hệthống Và do đó, entrôpi của hệ là con số, đại lượng biểu thị tính đa dạng,

là thước đo độ không xác định của hệ

Mặt bản thể luận của khái niệm thông tin là "cái đa dạng" - biểu thịbằng entrôpi vốn có của hệ, nhưng nếu chỉ như vậy thì chưa đủ, vì sẽ khôngphân biệt rõ thông tin với bản thân các thuộc tính của sự vật, hiện tượng

Do đó khái niệm thông tin cũng chưa phân xuất được so với khái niệm

"thuộc tính" của sự vật Mà chúng ta phải thấy rằng "cái đa dạng" của sựvật chỉ là thông tin khi nó gắn liền và thông qua tác động lại giữa sự vật đóvới các sự vật, hiện tượng khác

Do đó, nội dung thứ hai của mặt bản thể luận của khái niệm thông tin là: thông tin gắn liền và thông qua tác động qua lại giữa các sự vật, hiện tượng Nếu không có tác động qua lại đó thì không thể có thông tin.

Tác động qua lại giữa các sự vật là quá trình các sự vật đó ảnh hưởng lẫnnhau, là một hình thức vận động, phát triển chung nhất, phổ biến nhất Sự

tác động qua lại là "kiểu liên hệ đặc biệt mà trong đó các sự vật, hiện tượng

là đối tượng biến đổi của nhau một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, nhờ đó

Trang 19

mà sự vận động biến hóa của thế giới thực hiện thường xuyên, liên tục" [44,

tr 55] Sự tác động qua lại quy định sự tồn tại và tổ chức kết cấu của mọi

hệ thống vật chất, quy định sự liên kết của nó cùng với các sự vật khác vàomột hệ thống lớn hơn, quy định các tính chất của tất cả các sự vật, hiệntượng và quá trình Chính tác động qua lại giữa các yếu tố trong một sự vật,giữa các sự vật với nhau, làm cho chúng vận động, biến đổi Sự vậnđộng, biến đổi ấy mang dấu ấn về những đặc điểm, tính chất, mối quan hệcủa vật tác động vào nó Có nghĩa là chúng có được những thông tin vềnhau Vì vậy, tác động qua lại giữa các sự vật là cơ sở làm nảy nở, hìnhthành thông tin và truyền thông tin đó từ vật tác động sang vật bị tác động.Chúng ta biết rằng, thế giới khách quan luôn luôn tác động đến con người,qua đó con người tiếp nhận được những thông tin về thế giới ấy Nhưngđồng thời con người (khác hẳn so với con vật) thường xuyên tác động vàothế giới khách quan một cách chủ động, có ý thức, tích cực và sáng tạo.Nhờ đó, con người làm cho thế giới khách quan bộc lộ nhiều hơn, rõ hơn,đầy đủ hơn những đặc điểm, tính chất, mối quan hệ vốn có của nó Vànhững đặc điểm, tính chất, ấy lại tác động đến con người, con người sẽtiếp nhận được những thông tin phong phú hơn về thế giới khách quan.Chính ngày nay con người đang nhận được thông điệp của tự nhiên, đó lànếu con người tiếp tục khai thác đến cạn kiệt và thậm chí phá hoại sự cânbằng sinh thái thì tất yếu họ sẽ khó tránh khỏi những hiểm họa do tự nhiêngây ra

Như vậy, thông tin bắt nguồn từ tính đa dạng của sự vật, và nó được hình thành thông qua tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác Nhưng chúng ta thấy rằng, "cái đa dạng" của sự vật chỉ trở thành thông tin khi nó được tái hiện, được phản ánh ở một sự vật khác nào đó trong mối quan hệ tác động qua lại với sự vật ban đầu.

Trang 20

Do đó, nội dung thứ ba của mặt bản thể luận của khái niệm thông tin là: thông tin luôn luôn gắn với quá trình phản ánh Như vậy, bản chất

của thông tin về sự vật được quy định bởi những thuộc tính vốn có của nó

và năng lực phản ánh những thuộc tính ấy của các sự vật khác trong sự tácđộng lẫn nhau với sự vật này Không có thông tin chung chung mà thôngtin là thông tin về sự vật B đối với sự vật A nào đó Như chúng ta biết,Galoa một nhà toán học vĩ đại Pháp (khi mất chưa đầy 21 tuổi) đã tìm rađiều kiện cần và đủ để một phương trình đại số bậc 5 trở lên có thể giảiđược Trước Galoa, rõ ràng tính chất có thể giải được (với điều kiện nhấtđịnh) của phương trình đại số bậc 5 trở lên chưa nằm trong trường thông tincủa nó, vì nhận thức của loài người chưa phát hiện ra, chưa phản ánh đượcmặc dù đó là tính chất vốn có của nó Nhưng khi tính chất ấy được conngười phát hiện ra thì nó trở thành thông tin đối với những người có nhucầu nghiên cứu loại phương trình này

Như vậy, về mặt bản thể luận, thông tin mang tính khách quan Nó bắt nguồn từ tính đa dạng, nhiều vẻ về cấu trúc cũng như về mối quan hệ của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan, và nó còn bắt nguồn

từ thuộc tính khách quan, phổ biến của vật chất - thuộc tính phản ánh Vì

thế chúng tôi hoàn toàn tán thành quan điểm của B V Biriukốp là mộttrong những chuyên gia nổi tiếng trong lĩnh vực nghiên cứu lôgíc - phươngpháp luận của điều khiển học: "Vạch ra bản chất của thông tin thông quacái đa dạng và giải thích nó như cái đa dạng được phản ánh là cơ sở đầy đủcho luận đề về tính khách quan của thông tin" [136, tr 250] Và như trên đã

phân tích nếu cái đa dạng biểu thị bằng entrôpi của hệ thì thông tin về hệ

đó sẽ là neentrôpi Thông tin chính là neentrôpi, cho biết mức độ tổ chức, trật tự, ổn định của hệ thống!

Hiện nay có một số ý kiến giải thích thông tin gắn liền với phảnánh chỉ là biểu thị mặt nhận thức luận của nó Nếu vậy, mặt bản thể luận

Trang 21

của khái niệm thông tin bị thu hẹp và chúng ta chưa thấy rõ được bản chấtcủa thông tin là "cái đa dạng được phản ánh" sự nhìn nhận phiến diện ấy

là do ảnh hưởng của quan niệm triết học trước Mác về nguyên tắc phảnánh và bản thân khái niệm "phản ánh" theo quan niệm này, nguyên tắcphản ánh và khái niệm "phản ánh" thường bị tách khỏi mặt bản thể luậncủa vấn đề cơ bản của triết học và chỉ đảm nhiệm chức năng nhận thứcluận (!)

Từ việc tiếp cận mặt bản thể luận của khái niệm thông tin, một vấn

đề đặt ra là: Khái niệm thông tin là cái đa dạng được phản ánh có bao quátđược một dạng thông tin đặc biệt - thông tin tiềm năng không? Hay nóicách khác thông tin tiềm năng có thuộc ngoại diện của khái niệm thông tinđược định nghĩa như trên không?

Theo một số các nhà lý thuyết thông tin, một số nhà triết học thìthông tin tiềm năng chính là cái đa dạng của khách thể tự nó, là cấu trúc, tổchức của nó, có khi còn gọi là vắn tắt là thông tin cấu trúc Do vậy, địnhnghĩa: "Thông tin là cái đa dạng được phản ánh" còn hạn chế là chưa kháiquát được loại thông tin tiềm năng nó mới chỉ bao quát được loại thông tinhoạt động - là cái đa dạng được truyền đi, được phản ánh Chính hạn chếnày đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục nghiên cứu để bổ sung, hoàn thiện thêmcái khái niệm thông tin: một khái niệm trừu tượng ở tầng triết học! việc nhậnthức nó đòi hỏi phải có sự khái quát triết học trên cơ sở những kết quảnghiên cứu của các khoa học cụ thể, đặc biệt là các khoa học chung, liênngành như điều khiển học, lý thuyết thông tin, trong những thập kỷ tới

Tuy vậy, chúng tôi thấy rằng, nếu dấu hiệu " được phản ánh" của thông

tin không chỉ bao hàm nội dung: được truyền đi rồi, được phản ánh rồi màcòn bao hàm cả khả năng sẽ được truyền đi, sẽ được phản ánh (khi hệthống vật chất ấy tác động vào hệ thống vật chất nào đó ở thuộc tính, tínhchất này) thì định nghĩa trên vẫn là xác đáng và thông tin tiềm năng chỉ là

Trang 22

một dạng đặc biệt của thông tin, bởi vì bản thân các sự vật, hiện tượngtrong thế giới vật chất vốn tồn tại trong mối liên hệ phổ biến, tác động qualại lẫn nhau.

Về mặt nhận thức luận, khái niệm thông tin được con người nhậnthức như thế nào?

Như đã trình bày ở 1.1.1.2 các cách tiếp cận với bản chất của thôngtin từ phương diện các khoa học chung liên ngành như: lý thuyết thông tin,tin học, điều khiển học hay từ một số cách tiếp cận khái quát hơn, chunghơn đều chưa thỏa đáng với những gì con người đã biết về thông tin Hơnnữa, trên cơ sở phân tích mặt bản thể luận của thông tin chúng ta càng thấyrằng: tiếp cận với khái niệm thông tin không thể không bắt đầu từ phạm trù

"phản ánh" của triết học Chính mặt bản thể luận của khái niệm thông tin:Thông tin bắt nguồn từ thuộc tính phản ánh của vật chất đã quy định mặtnhận thức luận của nó Có nghĩa là con người sẽ không nhận thức được bảnchất của thông tin nếu như nghiên cứu nó tách rời với quá trình phản ánhcủa vật chất, không thấy được thông tin là một mặt của phản ánh Như vậy,thông tin gắn liền với phản ánh, thông tin không phải là phản ánh nhưngcũng không nằm ngoài phản ánh! Thuật ngữ do R.Esbi nêu lên: "Truyền cái

đa dạng" được giải thích cụ thể hơn trên cơ sở phạm trù phản ánh Đồngthời chính khái niệm thông tin đã làm sâu sắc thêm phạm trù "phản ánh"trong triết học

Mối quan hệ giữa phản ánh và thông tin, vì vậy không thể khôngđược đặt ra nếu như chúng ta muốn tìm hiểu mặt nhận thức luận của kháiniệm thông tin

Trước hết, chúng ta thấy rằng phản ánh của vật chất có bao hàmphản ánh thông tin Vì thực chất của quá trình phản ánh giữa các hệ thốngvật chất bao hàm quá trình trao đổi vật liệu, năng lượng, cấu trúc và cái đa

Trang 23

dạng thông qua liên hệ tác động qua lại giữa các hệ thống vật chất đó Màtruyền cái đa dạng chính là truyền thông tin từ hệ thống vật chất này đến hệthống vật chất khác Như vậy phản ánh của vật chất có bao hàm phản ánhthông tin nhưng đó mới là một mặt của sự phản ánh, ngoài ra phản ánhthông tin, phản ánh của vật chất còn phản ánh vật liệu, năng lượng, cấutrúc Nhưng vì thông tin bắt nguồn, có nguồn gốc từ tính bất định của hệthống vật chất nên thông tin "thẩm thấu" vào tất cả các tính chất của hệthống vật chất: vào vật liệu, năng lượng và cấu trúc Do đó, mọi phản ánhcủa vật chất đều bao hàm mặt phản ánh thông tin Và, vì thông tin đượcquy định bởi tính bất định của sự vật nên "thông tin" thường gắn liền vớiphương pháp nghiên cứu về mặt số lượng, còn "phản ánh" gắn liền vớiphương pháp nghiên cứu về mặt nội dung, chất lượng.

Về vấn đề này, một số đại biểu cho rằng chỉ có giới hữu sinh, conngười và các thiết bị điều khiển mới có thông tin, còn giới vô sinh không

có thông tin, do đó theo họ, phản ánh của giới vô sinh không gắn với thôngtin, không bao hàm thông tin Theo chúng tôi, thực chất của quan điểm trên

là đã phủ nhận mặt bản thể luận của khái niệm thông tin, tức là phủ nhậnbản chất khách quan của thông tin đó là "thông tin là cái đa dạng được phảnánh" Theo quan điểm ấy, nội hàm của khái niệm thông tin đã bị thu hẹp:

"Nếu như phản ánh có thể tồn tại độc lập thì thông tin không thể tự tồn tạinếu thiểu phản ánh, hơn nữa thông tin không gắn liền với bất cứ phản ánhnào mà chỉ gắn liền với phản ánh tích cực" [2, tr 34]

Mặt khác chúng ta phải thấy rằng, thông tin luôn luôn gắn liền vớiphản ánh, nó không nằm ngoài phản ánh, điều đó không có nghĩa là thôngtin như là một phạm trù phổ biến, ngang hàng và trùng với phạm trù phảnánh như V.G Aphanaxép đã từng nhận xét khi vạch ra thiếu sót của địnhnghĩa thông tin là cái đa dạng của phản ánh: "định nghĩa đó không thể thừanhận là đúng vì ở đây thông tin trên thực tế là trùng với khái niệm phản

Trang 24

ánh" [2, tr 28] (!) Thực ra, như chúng tôi đã phân tích ở trên khái niệm

"thông tin là cái đa dạng được phản ánh" là khá xác đáng và nó chỉ rõ rằng:thông tin là một mặt của phản ánh

Từ sự phân tích ở trên chúng ta thấy rằng thông tin rõ ràng là một

mặt của phản ánh, đó là mặt phản ánh cái đa dạng Vì vậy, có thể nói khái

niệm thông tin đã làm sâu sắc thêm phạm trù "phản ánh" trong triết học.Bởi vì thuộc tính phản ánh được miêu tả về mặt số lượng chính xác bởilượng thông tin mà nó phản ánh và thông tin còn làm rõ cơ cấu, trình độcủa thuộc tính phản ánh của vật chất!

Như vậy, tiếp cận với mặt bản thể luận và nhận thức luận của khái

niệm thông tin đã cho chúng ta thấy rõ sự khái quát triết học về bản chất khách quan, phổ biến của hiện tượng thông tin trên lập trường duy vật biện chứng là đúng đắn, khoa học Khái niệm: "Thông tin là cái đa dạng được

phản ánh" thực sự là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận cho các khoahọc cụ thể, đặc biệt là lý thuyết thông tin, điều khiển học, tin học pháttriển! và hơn nữa nó còn là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận để tưduy con người có thể tiếp nhận, xử lý, làm chủ được thông tin trong thờiđại thông tin hiện nay

Nhưng một vấn đề tất yếu đặt ra là: "Thông tin là cái đa dạng đượcphản ánh" mà phản ánh của vật chất lại phát triển từ thấp đến cao theo nấcthang phát triển của thế giới vật chất, thông tin là một mặt của phản ánh, vìvậy nó cũng vận động, phát triển tương ứng với tính chất và trình độ củaphản ánh Do đó, để làm rõ thêm bản chất của thông tin chúng ta phải tiếptục nghiên cứu tính chất, đặc điểm và trình độ của thông tin trong thế giới

vô sinh, trong thế giới hữu sinh, trong xã hội con người và trong các thiết bị

kỹ thuật điều khiển

Trang 25

1.1.2 Thông tin trong thế giới vô sinh, hữu sinh, trong xã hội con người và trong các thiết bị kỹ thuật điều khiển

1.1.2.1 Thông tin trong thế giới vô sinh (tự nhiên vô sinh)

Thế giới tự nhiên xung quanh chúng ta thật muôn màu, muôn vẻ.Các sự vật, hiện tượng đó không phải là bất biến mà luôn luôn vận động,biến đổi trong không gian và thời gian do tác động qua lại với các sự vật,hiện tượng khác trong môi trường: mất năng lượng, các ngôi sao sẽ tắt;dưới tác động của gió và nước, các tảng đá sẽ phân hủy; các thanh kim loại

bị biến dạng do va đập mạnh vào nhau hoặc bị hoen gỉ khi để lâu ngàytrong không khí; tiếng vang của âm thanh dội vào vách núi vọng lại Tất

cả những biến đổi lý - hóa này tuy do những tác động bên ngoài khác nhaugây ra và phụ thuộc vào các vật nhận tác động khác nhau nhưng chúng đều

là sự phản ánh vật lý - loại phản ánh đặc trưng của giới vô sinh

Hình thức phản ánh này mang tính chất đơn giản, thụ động, chưa cótính định hướng và chọn lọc Đó là trình độ phản ánh thấp nhất trong nấcthang phát triển của thuộc tính phản ánh của vật chất Đó là phản ánh màvật nhận tác động thường chỉ phản ứng lại môi trường bằng những biến đổi

lý - hóa trong thành phần, cấu trúc của bản thân nó

Thông tin trong thế giới vô sinh, với tính cách là một mặt của dạngphản ánh vật lý ấy chính là cái đa dạng về thành phần, cấu trúc, tính chấtcủa một khách thể này được giữ lại, lưu lại ở một khách thể khác khi chúngtác động qua lại với nhau Ở đây, cái đa dạng được truyền từ khách thể nàyđến khách thể kia mà không có chủ thể Bởi vì, khác với giới hữu sinh,trong đó có động vật bậc cao, đặc biệt là đối với con người, thì vật vô sinhkhông có khả năng từ thông tin nhận được đó mà điều chỉnh sự tồn tại củamình cho thích nghi với môi trường

Trang 26

Nhưng, để khái quát được đặc điểm của thông tin trong giới vô sinhchúng ta cần xem xét thông tin ở giai đoạn phát triển cao của nó (dạngthông tin xã hội mà phần 1.1.2.3 dưới đây sẽ đi sâu phân tích) - nhằm chỉ ra

sự khác nhau giữa thông tin ở trình độ thấp và thông tin ở trình độ cao.Thông tin ở trình độ cao, phát triển đầy đủ bao giờ cũng có ba mặt: cú

pháp, ngữ nghĩa và thực dụng Về mặt cú pháp thì khái niệm thông tin có quan hệ đến tiến trình cải tiến, xây dựng và hình thành thông báo; về mặt ngữ nghĩa của thông tin nói lên sự phù hợp của tín hiệu đối với những đối tượng hoặc những sự kiện nào đó; về mặt thực dụng: sự hiểu biết những tín hiệu thông tin là cơ sở của hoạt động thực tiễn Hay nói cách khác, thông

tin được truyền đi thông qua tín hiệu, nhưng để xét đầy đủ các mặt của nóthì phải đề cập tới ba mặt: mặt cú pháp, tức là nghiên cứu quan hệ của tínhiệu: như quan hệ giữa các ký tự hay các nhóm ký tự, không phụ thuộc vào

ý nghĩa cũng như cách sử dụng và diễn giải hoặc các luật để xây dựng mộtlệnh ; mặt ngữ nghĩa: nghiên cứu nghĩa của tín hiệu và mặt thực dụng:nghiên cứu giá trị của tín hiệu

Thông tin trong giới vô sinh, như chúng tôi đã phân tích ở trên, chỉnói về sự thể hiện tính trật tự và tính phức tạp của khách thể này đối vớikhách thể kia mà thôi Và, đó là những thông tin vật chất vì ở đó khách thểnày đã tiếp nhận được những dấu hiệu, đặc điểm, cấu trúc vật chất củakhách thể kia Những thông tin vật chất này là những dấu ấn vật chất lưulại ở vật nhận tác động, chúng được sắp xếp theo một phương thức phù hợpnhất định với vật tác động Về mặt này, thông tin trong giới vô sinh giống

và tương đồng với phương thức kết cấu, liên hệ giữa các ký tự hay nhóm

ký tự trong tín hiệu của các thông tin trong giới hữu sinh và con người.Tuy nhiên, ở đây chỉ có sự giống nhau, tương đồng nhau mà chúng khôngđồng nhất với nhau, vì ở thế giới vô sinh, đó là sự liên kết giữa các dấuhiệu vật chất, còn ở thế giới hữu sinh, đặc biệt trong xã hội con người, đó

Trang 27

lại là sự liên kết các ký tự hay nhóm ký tự Vì vậy, thông tin trong thế giới

vô sinh chỉ tồn tại về mặt cú pháp, tuy nhiên bản thân mặt cú pháp ấy chưa đạt tới trình độ mặt cú pháp trong thông tin của giới hữu sinh và con người cũng giống như mặt ngữ nghĩa của thông tin ở động vật bậc cao cũng chưa đạt tới trình độ mặt ngữ nghĩa của thông tin trong xã hội con người (phần này sẽ được phân tích cụ thể ở 1.1.2.3 dưới đây).

Vì thông tin trong thế giới vô sinh là thông tin vật chất, nó chỉ tồntại về mặt cú pháp trong mối liên hệ tác động qua lại giữa khách thể nàyvới khách thể kia mà không có chủ thể nên thông tin đó là thông tin sơđẳng, thông tin trước điều khiển hay thông tin phi điều khiển Quá trìnhthông tin trong thế giới vô sinh chỉ biểu hiện ở tính phản ứng do các thông

số lý - hóa của các hệ thống vật chất tác động qua lại với nhau và do điềukiện của bản thân sự tác động ấy gây nên Trong các hệ thống vật chất vôsinh không hề có sự tự do tương đối trong lựa chọn hành vi Vì khách thể bịtác động tiếp nhận thông tin một cách thụ động

Có thể nói rằng, thông tin trong giới tự nhiên vô sinh là sự chuẩn bị,

là cơ sở để chuyển phương thức phản ánh cái đa dạng từ bị động, đơn giản,chưa có tính chọn lọc lên chủ động, phức tạp và có tính chọn lọc trong giới

tự nhiên hữu sinh

1.1.2.2 Thông tin trong thế giới hữu sinh (tự nhiên hữu sinh)

Như chúng ta biết, thế giới vật chất luôn vận động, biến đổi khôngngừng và trong lịch sử phát triển của nó, tự nhiên vô sinh đã phát triểnthành tự nhiên hữu sinh, vật chất sống bắt nguồn từ vật chất không sống

Từ giới tự nhiên với hai dạng vật chất cơ bản là chất và trường đã phát triểnlên tự nhiên hữu sinh với các trình độ tổ chức vật chất là: sinh quyển - sinhkhu - quần thể - cơ thể đa bào - tế bào - tiền tế bào: các axit nuclêich (ADN

Trang 28

và ARN) và chất anbumin Đó chính là thế giới sinh vật bao gồm thực vật

và động vật vô cùng phong phú, muôn màu, muôn vẻ

Thế giới vật chất phát triển từ vô sinh đến hữu sinh thì năng lựcphản ánh của nó cũng có sự đổi mới về chất, đó là từ trình độ phản ánh vật

lý tiến tới trình độ phản ánh sinh vật Hình thức đầu tiên, thấp nhất củaphản ánh sinh vật là tính kích thích Tính kích thích đặc trưng cho thế giớithực vật và các động vật bậc thấp chưa có hệ thần kinh Ngay ở hình thứcđầu tiên này đã có sự khác hẳn về chất so với phản ánh vật lý ở tự nhiên vôsinh Vì thực vật và động vật chưa có hệ thần kinh có khả năng phản ánhđịnh hướng, chọn lọc đối với những tác động của môi trường xung quanh.Nhờ vậy, chúng có thể tự điều chỉnh, thích nghi được với hoàn cảnh sống

Đó là sự phát triển cành lá của cây cối về phía có nhiều ánh sáng mặt trời,

là sự phát triển rễ cây về phía đất có nhiều chất dinh dưỡng, đó là sự tăng

độ chát trong lá của cây khi môi trường có nhiều sâu, là sự dày lên của lá

và có gai trên cành lá nếu cây sống trên sa mạc

Thông tin là một mặt của phản ánh, vậy ở hình thức phản ánh - tínhkích thích của thực vật và động vật chưa có hệ thần kinh, thông tin cónhững đặc điểm gì? Sự khác biệt căn bản của nó so với thông tin trong tựnhiên vô sinh đó là tính có điều khiển Nhưng nếu so sánh với thông tintrong động vật có hệ thần kinh, rồi tiến lên có hệ thần kinh trung ương, đặcbiệt là con người thì trình độ điều khiển của thông tin này cũng mới dừnglại chủ yếu ở phản ứng có chọn lọc đối với những tác động của môi trườngxung quanh trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động sống của chúng Tuy vậyvai trò của thông tin ấy là cơ sở quyết định sự sống của thực vật Và tínhchọn lọc của chúng có thể đạt tới mức khá tinh tế Chẳng hạn như có loàithực vật ăn ruồi: ruồi mà đậu lên lá của nó thì lá liền cụp lại ngay và ruồi sẽ

bị hút hết tinh chất Nhiều thí nghiệm cho thấy rằng loài thực vật này

Trang 29

không phản ứng đối với bất cứ một mô phỏng nào, dù có giống ruồi thế nào

đi nữa về trọng lượng, kích thước, hình dạng

Rõ ràng là, thông tin ở hình thức phản ánh - tính kích thích của thựcvật và động vật chưa có hệ thần kinh, một mặt vừa chứa đựng, bao hàmnhững đặc điểm của thông tin trong giới vô sinh - đó là thông tin đượctruyền từ khách thể này đến khách thể kia về mặt cú pháp - nhưng mặtkhác, nó đã chứa đựng yếu tố mới, phát triển hơn hẳn về chất, đó là tínhchất phản ứng lại môi trường bằng sự tự điều chỉnh của hệ thống vật chấtnhận tác động

Thông tin ở trình độ phản ánh tính kích thích chính là khâu trung gian, bước chuyển hóa giữa thông tin vô sinh và thông tin trong giới động vật có hệ thần kinh Thực vật chỉ phản ánh bằng sự hưng phấn và phản ứng

ngược trở lại đối với những tác động của môi trường xung quanh trực tiếpảnh hưởng đến hoạt động sống của chúng Còn đối với những tác độngkhông ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại của chúng thì thực vật hầu nhưchưa có khả năng phản ánh, có chăng thì cũng chỉ là yếu ớt, tản mạn vàchưa là đặc trưng chung cho loài Chẳng hạn như dẫn chứng đã nêu ra từ1.1.1.1, ở đó cây cối có thể phản ánh được môi trường nhiều sâu bọ qua tínhiệu chất hóa học đặc biệt do cây đã bị sâu cắn phát ra

Sự tiến hóa tiếp theo của giới hữu sinh dẫn đến sự ra đời của cácđộng vật có hệ thần kinh, bắt đầu từ ngành ruột khoang có dạng mạng lưới

Hình thức phản ánh đặc trưng cho động vật có hệ thần kinh là tính cảm ứng (hay năng lực có cảm giác) Tính cảm ứng được thực hiện ở ngay

trong quá trình hệ thần kinh điều khiển mối liên hệ giữa cơ thể và môitrường bên ngoài, thông qua các phản xạ bẩm sinh (tức phản xạ không điềukiện) Nhờ đó, động vật có thể phản ánh có tính lựa chọn đối với các tínhchất riêng biệt của sự vật thành các cảm giác khác nhau

Trang 30

So với thực vật và ngay cả so với động vật chưa có hệ thần kinh thìđộng vật có hệ thần kinh đã có thể tiếp nhận được nhiều thông tin hơn vềmôi trường, về điều kiện sống Vì những thông tin đó là dấu ấn để lại khôngchỉ của những tác động của môi trường trực tiếp ảnh hưởng đến sự sống còncủa chúng mà cả những tác động của những thuộc tính, tính chất riêng lẻ củavật tác động Hơn nữa, ở trình độ phản ánh - tính cảm ứng của động vật có hệthần kinh không chỉ dừng lại ở việc tạo ra sự kích thích và sự hưng phấn như

ở thực vật và động vật chưa có hệ thần kinh mà nó còn trở thành những cảm

giác Năng lực có cảm giác là sự phát triển hơn hẳn về chất của động vật có

hệ thần kinh Chính những cảm giác ấy là những thông tin vật chất về thế

giới xung quanh Tuy so với động vật phát triển ở nấc thang cao hơn thìnhững thông tin đó mới là những dấu ấn về những thuộc tính riêng lẻ của sựvật tác động vào nó Nhưng nhờ có cảm giác đó mà động vật có hệ thần kinh

có thể phản ứng được linh hoạt, nhạy bén hơn và có thể thích nghi được với

điều kiện sống có nhiều thay đổi hơn so với thực vật và động vật chưa có hệ

thần kinh

Như vậy, thông tin trong thế giới động vật có hệ thần kinh là một

"nấc thang" phát triển cao hơn so với những thông tin ở trình độ tính kíchthích Nhưng, cùng với sự hoàn thiện của cơ thể sống, sự ra đời của hệ thầnkinh trung ương thì tính cảm ứng chuyển sang trình độ phản ánh mới, cao

hơn, đó là phản ánh tâm lý Và thông tin - cảm giác dựa trên hệ thống phản

xạ không điều kiện chuyển thành thông tin - hình ảnh dựa trên hệ thống phản xạ có điều kiện Thông tin tham gia vào quá trình phản ánh tâm lý

tương đối phức tạp, một mặt nó phải bảo toàn mặt cú pháp, tức là thông tinvật chất - những biến đổi nhất định của cơ thể động vật do tác động trựctiếp hoặc gián tiếp của môi trường, rồi sự hưng phấn và tính bị kích thíchphù hợp với môi trường và cao hơn nữa là những cảm giác của động vật vềnhững thuộc tính riêng lẻ của môi trường, của vật tác động - Mặt khác, với

Trang 31

sự hoạt động của hệ thống thần kinh cao cấp, quá trình phản ánh tâm lýkhông chỉ dừng lại ở những cảm giác mà còn xuất hiện cả tri giác, biểutượng Nhờ đó động vật có hệ thần kinh trung ương tiếp nhận từ môitrường không chỉ những thông tin vật chất mà chủ yếu và đặc trưng lànhững thông tin hình ảnh Bởi vì nhờ có sự điều khiển của hệ thần kinhtrung ương mà động vật không chỉ ghi nhận được những tính chất, thuộctính riêng lẻ của vật tác động vào nó mà nó còn "chụp" được, "ghi nhận"được hình ảnh của vật tác động trong tính chỉnh thể, toàn vẹn của nó - tuynhiên tính chỉnh thể, toàn vẹn ấy cũng mới dừng lại ở hình thức bên ngoài,ngẫu nhiên Đồng thời, cũng nhờ có hệ thần kinh trung ương và các phản

xạ có điều kiện mà động vật bậc cao đã phản ứng cả với những kích thích

tự thân chúng vốn không trực tiếp liên quan đến hoạt động sống của con vật, nhưng trong những điều kiện nhất định lại có ý nghĩa đối với đời sống của nó Những kích thích đó là do những sự vật, hiện tượng, những phương

tiện vật chất - tuy không trực tiếp liên quan đến sự sinh tồn của con vậtnhưng lại đóng vai trò tín hiệu để thông báo cho con vật về chính nhữnghiện tượng có giá trị sinh vật trực tiếp ảnh hưởng đến đời sống của nó.Những tín hiệu đó khi tác động lên con vật cũng gây hưng phấn trong bộ óc

nó, hình thành nên những mối liên hệ tạm thời và làm xuất hiện ở trong đóhình ảnh về chính những hiện tượng có giá trị sinh vật trực tiếp đối với nó

Như vậy, thông tin trong thế giới động vật có hệ thần kinh trung ương, ngoài mặt cú pháp nó còn thể hiện mặt ngữ nghĩa của mình Thông tin đó

chính là cái đa dạng được truyền từ khách thể đến chủ thể, vì khác vớithông tin trong giới vô sinh, thông tin này không chỉ phụ thuộc vào kháchthể tác động mà còn bị quy định bởi chủ thể con vật "giải mã" được nhữngtín hiệu của môi trường đến mức nào để từ đó có thể thích nghi được vớiđiều kiện sống luôn thay đổi

Trang 32

Ở động vật bậc cao, chúng trao đổi thông tin với nhau và với môitrường thông qua hệ thống tín hiệu như dáng điệu và cử động thân thể,

tiếng kêu, mùi Những tín hiệu này là những vật, những hiện tượng vật chất mang tính cụ thể, cảm tính và được gọi là hệ thống tín hiệu thứ nhất.

Những tín hiệu đó chứa đựng một lượng thông tin nhất định thông báo chođồng loại và những cá thể của loài khác Có thể là không thái quá khi nóirằng các con vật có thể "nói chuyện" với nhau nhờ ngôn ngữ động vật.Ngôn ngữ động vật là một khái niệm phức tạp và không chỉ giới hạn ở kênhliên hệ bằng tiếng kêu Thật vậy, ngôn ngữ về dáng điệu và cử động thânthể đều đóng vai trò quan trọng trong sự trao đổi thông tin giữa chúng,trong đó đuôi và tai có vai trò rất lớn Những tư thế đặc trưng và đa dạngcủa tai và đuôi cũng chứng tỏ sắc thái tâm trạng và ý đồ tinh vi hơn của convật mà ý nghĩa của nó chưa được hiểu rõ đối với con mắt ngoại lai củangười quan sát chúng, mặc dù đồng bọn của chúng thì lại "hiểu" rất rõ

Có thể nói, tín hiệu, ngôn ngữ của động vật là một thế giới đầy hấp

dẫn và lý thú: "Hiểu biết được ngôn ngữ của động vật - đó là ước mơ cổ đại như bản thân nhân loại" [71, tr 12] - đúng như K.Phabri đã từng nói!

Hiểu được ngôn ngữ động vật sẽ có ý nghĩa rất lớn để con người có thể bảotồn, nuôi dưỡng và phát triển động vật

Như vậy cùng với mặt cú pháp, thông tin trong thế giới động vậtbậc cao có mặt ngữ nghĩa, nhưng ngữ nghĩa của thông tin ấy mới ở mức độ

sơ đẳng là "giải nghĩa" cho bản năng sinh tồn động vật của chúng Chẳnghạn như con ác thú "phản ánh" con mồi của nó theo những phương diệnnào? - phải chăng như một miếng thịt, nói đúng hơn là "một miếng thịt biếtchạy" - để bắt được nó thì cần phải rượt theo! Dĩ nhiên, đó là sự phản ánhchính xác, nhưng chỉ phản ánh được cái phương diện của con mồi bị sănđuổi có liên quan trực tiếp tới những điều kiện sinh tồn quan trọng nhất củacon ác thú Còn bản chất của động vật bị săn đuổi lại không phải ở chỗ nó

Trang 33

là "một miếng thịt biết chạy" - nó là gì? Thì không làm con ác thú quantâm, cần phải đi tìm bản chất ấy trong đặc điểm của chúng với tính cách làmột loài động vật có vú nhất định - con ác thú không phản ánh phương diệnấy.

Phương diện ngữ nghĩa của thông tin ở động vật bậc cao được con

vật tiếp nhận và "giải mã" chỉ trong giới hạn làm cho nó thích nghi được với môi trường luôn có sự thay đổi chứ không thể đạt tới trình độ cải tạo, tác động vào môi trường như đối với con người và xã hội loài người.

Chẳng hạn như đối với loại khỉ, chúng ta đưa cho nó một thứ đồ ngọt - mộtmiếng đường bọc trong giấy, nó sẽ giải quyết vấn đề một cách dễ dàng: mởhoặc xé giấy ra rồi ăn miếng đường Nhưng sau đó ta lại cuộn một miếngđường khác trong giấy nhưng lần này có thêm con ong đất; khi xé giấy thìong bay ra và đốt khỉ rất đau Bấy giờ khỉ bắt đầu từ chối sự thết đãi.Nhưng sau đó ít lâu nó lại giải quyết được vấn đề đó: áp viên giấy bên tainghe ngóng, nếu có tiếng bay vo vo thì nhất quyết vất đi, nếu không thìthận trọng mở mảnh giấy !

Trong hệ thống tín hiệu thứ nhất của thông tin ở động bật bậc caothì âm thanh là kênh truyền thông tin đặc trưng và chủ yếu nhất của chúng

Và động vật càng có tổ chức phức tạp, đứng ở bậc thang tiến hóa càng caohơn, thì tín hiệu hóa âm thanh của chúng càng phức tạp và hoàn thiện hơn,

số lượng thông tin mà con vật có khả năng truyền đạt và kênh liên hệ âmthanh sẽ càng nhiều

Như vậy là, ở trình độ phản ánh tâm lý của động vật bậc cao, thôngtin vừa phải bao toàn mặt cú pháp, tức là thông tin vật chất, chẳng hạn nhưthông tin di truyền trong cơ thể sinh vật, được truyền từ thế hệ này sang thế

hệ khác qua các mã di truyền thông qua quá trình biến dị - di truyền, theoquy luật tiến hóa của sinh vật; đồng thời nó có dạng mới về chất đó làthông tin hình ảnh Chính vì vậy, ngoài mặt cú pháp, ở động vật bậc cao

Trang 34

thông tin còn có mặt ngữ nghĩa - gắn liền với sự mã hóa và giải mã bằng tínhiệu.

1.1.2.3 Thông tin trong xã hội con người

Nếu động vật bậc cao chỉ dừng lại ở trình độ phản ánh tâm lý thìcon người, trong quá trình phản ánh hiện thực đã đạt đến trình độ phản ánh

ý thức Đó là dạng phản ánh cao nhất và nó chỉ có ở con người ! Nhưchúng ta đã biết, trong lịch sử tiến hóa của thế giới vật chất con người đãthoát thai ra từ động vật

Từ những điều kiện địa - vật lý rất đặc biệt trong lịch sử đã tạo raquá trình đột biến về gen có lợi cho vượn người; từ 48 nhiễm sắc thể trong

tế bào vượn người đến 46 nhiễm sắc thể trong tế bào người Cùng với quátrình đột biến gen ấy là hoạt động lao động - hoạt động có tác động vào thếgiới xung quanh một cách có mục đích là những nhân tố quyết định chuyểnbiến vượn thành người với tính cách là một thực thể sinh vật và xã hội Vànhư Ăngghen đã chỉ rõ sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ,lao động và ngôn ngữ là hai sức kích thích chủ yếu làm chuyển biến dầndần bộ óc con vật thành bộ óc con người, tâm lý động vật thành ý thức

Như vậy, phản ánh có ý thức của bộ óc con người khác hẳn về chất

so với phản ánh tâm lý động vật Đó là sự phản ánh tích cực, chủ động,sáng tạo, hai chiều trên cơ sở của hoạt động thực tiễn Chính nhờ có laođộng và thông qua lao động, ý thức con người không chỉ phản ánh đượcnhững thuộc tính, đặc điểm bên ngoài của sự vật và có ảnh hưởng đến sựsinh tồn nòi giống mà chủ yếu là phản ánh được những thuộc tính, mối liên

hệ bên trong, bản chất của sự vật Trên cơ sở đó con người tác động cải tạo

sự vật một cách có hiệu quả phù hợp với lợi ích của mình Con người không chỉ dừng lại thích nghi với môi trường mà còn cải tạo nó phục vụ cho nhu cầu vật chất và đặc biệt là nhu cầu tinh thần ngày càng tăng của họ.

Trang 35

Thích ứng với dạng phản ánh có ý thức của con người - một dạng phản ánh đặc trưng cho hình thức vận động xã hội của vật chất - là dạng thông tin xã hội Thông tin xã hội là dạng cao nhất, phức tạp nhất và hết sức đa dạng trong số các dạng thông tin.

Là dạng thông tin cao nhất, thông tin xã hội mang trong mình nódưới dạng ẩn giấu và đã được cải biến những thông tin trong thế giới vôsinh, thông tin trong thế giới hữu sinh và những đặc điểm riêng của nó Bởi

vì, thông tin xã hội vừa có mặt cú pháp (thông tin vật chất trong thế giới vôsinh) vừa có mặt ngữ nghĩa, nhưng so với động vật bậc cao thì mặt ngữnghĩa của thông tin xã hội đạt đến một trình độ hơn hẳn về chất Trước hết,

đó là do việc giải mã thông tin xã hội không chỉ thuần túy do nhu cầu bảnnăng sinh vật quy định (như đã phân tích ở 1.1.2.2) mà chủ yếu là do nhucầu hiểu biết, tìm tòi, khám phá bản chất sự vật để từ đó cải tạo sự vật mộtcách có ý thức Và hơn nữa, để nhận thức và cải tạo thế giới hiện thực, conngười không những nắm vững thông tin về các mặt của thế giới mà cònphải chọn lọc, đề ra những biện pháp thực hiện mục đích của mình, do đóngoài mặt cú pháp và ngữ nghĩa, thông tin xã hội còn có mặt thực dụng Nógắn liền với hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần của con người

Chính vì thế tính chủ thể của thông tin xã hội thể hiện đậm nét và sâu sắc hơn hẳn so với tính chủ thể của thông tin ở động vật bậc cao Chẳng hạn

như cùng một tín hiệu thông tin nào đó thì sự phản ứng của các cá thể trongmột loài động vật bậc cao dường như là giống nhau, nhưng với mỗi conngười trong xã hội thì ngữ nghĩa, giá trị của thông tin đó là không giốngnhau, thậm chí là trái ngược nhau! Như vậy, thông tin xã hội - cái đa dạng

được phản ánh (như mọi thông tin khác) - là sự thống nhất giữa tính khách quan và tính chủ quan Do đó thông tin xã hội là vô cùng phong phú, đa

dạng và phức tạp từ mặt nội dung đến hình thức truyền đạt, từ sự phân loạiđến chức năng của chúng trong những lĩnh vực hoạt động khác nhau của

Trang 36

đời sống xã hội Nhưng việc nghiên cứu chúng lại vượt ra khỏi phạm viluận án này Luận án của chúng tôi chỉ muốn làm rõ bản chất chung nhấtcủa mọi dạng thông tin xã hội, dù đó là thông tin vật chất hay thông tin tinhthần, dù đó là thông tin thu được từ kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễncuộc sống của con người hay thông tin tiếp nhận từ kho tàng tri thức nhânloại và của những quan hệ xã hội vô cùng phong phú trong lịch sử pháttriển của xã hội loài người.

Nếu như thông tin của động vật bậc cao được mã hóa và truyền đạt bằng hệ thống tín hiệu thứ nhất thì thông tin xã hội không chỉ dừng lại ở đó

mà chủ yếu thông qua hệ thống tín hiệu thứ hai - Ngôn ngữ của con người!

Đó là hệ thống trừu tượng hóa rất phức tạp và hoàn thiện những đối tượng cụthể của hiện thực xung quanh Và dù chúng ta có lấy làm ngạc nhiên baonhiêu đi chăng nữa về khả năng giao tiếp của động vật nhờ âm thanh, thì khảnăng đó ở con người còn đạt tới trình độ hoàn thiện cao nhất Ngôn ngữ củađộng vật luôn luôn cụ thể, có nghĩa là thông báo về tình huống cụ thể bênngoài hoặc về trạng thái của con vật Nhưng ngôn ngữ của con người có khảnăng truyền đạt một khối lượng vô tận các thông tin phức tạp không chỉ cótính cụ thể mà còn có tính trừu tượng Và chính nhờ có ngôn ngữ (tiếng nói vàchữ viết) mà thông tin xã hội được trao đổi vừa theo chiều dọc (từ thế hệ nàysang thế hệ khác) vừa theo chiều ngang (từ người này hay nhóm người này sang người khác hay nhóm người khác ) tạo ra quá trình di truyền xã hội bêncạnh quá trình di truyền sinh vật Do đó thông tin xã hội không ngừng tănglên, nhất là trong cuộc CMTT hiện nay thì thông tin gia tăng với tốc độ

"chóng mặt"!

Và, khác với thông tin của động vật bậc cao, thông tin xã hội đượcbảo quản, lưu trữ trong trí nhớ của con người cùng các phương tiện vật chấtkhác do con người sáng tạo ra và xã hội càng phát triển thì những phươngtiện trên đó càng hiện đại Đó là những kho tàng sách, tài liệu được lưu trữ

Trang 37

qua các thế hệ, các thời đại là những băng ghi âm, những thước phim, và đặcbiệt những đĩa mềm trong CNTT và tin học ngày nay có thể lưu trữ đượcmột lượng thông tin - tri thức ngang với thư viện có tầm cỡ quốc gia! Vàmạng Internet có thể nhập - truy thông tin trong tất cả các lĩnh vực ở mọinơi, mọi lúc v.v Nhờ lưu trữ và bảo quản được thông tin cùng với cácphương tiện kỹ thuật truyền thông ngày càng phát triển nên thông tin xã hộiđược giao lưu, trao đổi không chỉ trực tiếp (như thông tin của động vật bậccao) mà còn gián tiếp, có thể vượt qua được cả giới hạn của không gian vàthời gian.

Nếu ở động vật bậc cao, thông tin có chức năng giúp con vật tự điềuchỉnh để thích nghi với môi trường, thì trong xã hội con người, tính đặc thùcủa thông tin xã hội chính là giúp con người có thể tự định hướng hành vicủa mình để không những thích nghi mà chủ yếu là để tác động và cải tạomôi trường một cách chủ động, sáng tạo Quá trình đó đồng thời cũng làquá trình con người tự làm giàu tri thức, hiểu biết của mình và hoàn thiệndần dần về mọi mặt

Như vậy, thông tin xã hội là dạng thông tin cao nhất và phức tạp nhất Đó là cái đa dạng (không phải chỉ những tính chất, đặc điểm bên

ngoài của sự vật mà cả những thuộc tính, mối quan hệ bên trong, bản chấtcấp 1, rồi cấp 2, ) được phản ánh nhưng không phải là phản ánh thụ động,không chọn lọc mà là phản ánh tích cực, có chọn lọc, hơn nữa đó là phảnánh sáng tạo, có ý thức của bộ óc con người đối với hiện thực khách quantrên cơ sở hoạt động thực tiễn của họ Ngọn nguồn tạo ra sức mạnh củathông tin xã hội chính là quá trình tiếp nhận và xử lý thông tin trong tư duycon người mà cơ chế và những đặc trưng của quá trình này sẽ được luận ánchúng tôi nghiên cứu và làm sáng tỏ ở tiết 1.2

Hơn nữa, so với thông tin trong thế giới hữu sinh động vật bậc cao,thông tin xã hội chủ yếu và đặc trưng là được tín hiệu hóa nhờ hệ thống tín

Trang 38

hiệu thứ hai và thông qua những phương tiện truyền thông ngày càng hiệnđại nên khi vừa xuất hiện, nó được xã hội hóa rất nhanh chóng Đặc biệtngày nay, có thể nói rằng lượng thông tin trong xã hội được "sản xuất" ratăng theo quy luật hàm mũ! Trong tất cả các lĩnh vực của xã hội loài ngườinhư kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, giáo dục, y tế, quân sự, thể thaov.v từ khoảng giữa thế kỷ XX, nhất là trong gần hai thập kỷ lại đây đều

có sự bùng nổ thông tin

1.1.2.4 Thông tin trong các thiết bị kỹ thuật điều khiển

Các thiết bị kỹ thuật điều khiển là một trong những thành tựu kỳdiệu nhất của loài người ở thế kỷ XX này, đặc biệt là vào những thập kỷcuối của nó Dựa trên việc phát hiện ra quy luật điều khiển trong các cơ thểđộng vật cấp cao, trong con người và trong xã hội của khoa học hiện đại,con người đã sáng tạo ra những máy móc điều khiển tự động có khả năngthu thập, tàng trữ, cải biến và xử lý thông tin để tìm ra những phương án tối

ưu cho việc giải quyết một mục tiêu nào đó do con người đề ra

Thông tin trong máy móc điều khiển cũng mang những đặc điểmgiống như thông tin xã hội, nhờ đó các máy móc điều khiển có thể đảmnhiệm một phần chức lao động của bộ óc con người Nhưng vì các thiết bị

kỹ thuật điều khiển chỉ mô phỏng được một số thuộc tính, đặc điểm nhấtđịnh của cơ chế điều khiển và tự điều khiển trong các cơ thể sống hữu sinhbậc cao, đặc biệt là bộ óc con người Ngành điện tử tin học hiện nay nghiêncứu trí tuệ nhân tạo đã bắt đầu chế tạo ra các mạch điện tử bán dẫn môphỏng được một số chức năng của mạng nơ ron (mạng các tế bào nãongười ở một mức độ nhất định) Người ta có thể dạy nó như sau: đề ra mộtnhiệm vụ, mỗi khi mạng nơ ron điều khiển được hệ thống thực hiện tốtnghiệm vụ đó thì ta phát tín hiệu ghi nhận Sau một số lần như vậy mạng

nơ ron ghi nhớ "lời dạy" và luôn luôn thực hiện đúng nhiệm vụ đã được

"dạy"

Trang 39

Cơ chế hoạt động chung của các thiết bị kỹ thuật điều khiển nhưmáy tính, Rô bốt, con tàu vũ trụ, các vệ tinh, các hệ thống đèn hiệu giaothông là tiếp nhận thông tin đã được mã hóa (theo ngôn ngữ máy), sau đódùng chính ngôn ngữ máy để giải mã thông tin ấy, trên cơ sở đã "hiểu" đượcthông tin và chương trình xử lý thông tin đã được con người cài đặt trongmáy, máy lựa chọn và đưa ra đáp số phương án cho hoạt động của conngười Vì vậy, quá trình tiếp nhận và xử lý thông tin trong máy chỉ là bắtchước một số chức năng của vỏ não và làm việc theo những quy tắc hết sứcmáy móc, khác hẳn về chất so với quá trình thông tin trong bộ óc của conngười, cho đến nay, có thể nói rằng máy tính mới chỉ làm được những tínhtoán dựa trên các quan hệ hình thức và giải quyết được những nhiệm vụ đãđược cài lệnh sẵn, tức là máy móc chỉ đảm nhiệm được phần trí năng của tưduy con người còn phần tuệ năng, tức là năng lực sáng tạo và hướng đích thìmáy chưa thể và không thể làm được Máy móc không thể có ý thức, khôngthể thay thế tư duy của con người với những đặc điểm năng động và sáng tạocủa nó.

Như vậy, mặc dù có những đặc điểm giống như thông tin xã hội

-có đầy đủ ba mặt; cú pháp, ngữ nghĩa và thực dụng và thông tin ấy gắn liềnvới điều khiển - nhưng phạm vi hoạt động cũng như chức năng điều khiểncủa nó rất hạn chế so với thông tin xã hội Và nếu như thông tin xã hộiđược biểu đạt và trao đổi thông qua ngôn ngữ tự nhiên (là hệ thống ký hiệu

âm thanh, sau đó là chữ viết được hình thành trong lịch sử xã hội) và cảngôn ngữ nhận tạo (là hệ thống ký hiệu bổ trợ được tạo ra bằng cách riêngtrên cơ sở của ngôn ngữ tự nhiên) thì thông tin trong các thiết bị kỹ thuậtđiều khiển chỉ được tín hiệu hóa thông qua ngôn ngữ nhân tạo, mà đặctrưng là ngôn ngữ máy

Trang 40

Tuy nhiên, một thực tế không ai có thể phủ nhận được, đó là nănglực tính toán của máy tính điện tử thuộc thế hệ mới đã đạt tới hơn 1012 phéptính trong một giây có nghĩa là thông tin khi được đưa vào thiết bị điềukhiển nó sẽ được xử lý rất nhanh "nhanh như máy"! Và hơn nữa tốc độ tínhtoán đó chỉ có máy mới làm được, vượt xa khả năng của con người mặc dùmáy (cả phần cứng và phần mềm) do chính con người sáng tạo ra Nhưng dùmáy có hiện đại đến mức nào thì máy cũng không thể thực hiện được cácchức năng tâm lý, xúc cảm thẩm mỹ, nhận dạng âm thanh và hình ảnh, đặcbiệt không thể có được tư duy sáng tạo v.v Có thể nói máy không suynghĩ mà chỉ "bắt chước và thể hiện" [52, tr 3] các thao tác tư duy của conngười Nhưng sự "bắt chước" đó là tất yếu và vô cùng cần thiết đối với conngười, đặc biệt trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, khi mà lượng thôngtin quá nhiều và sẽ quá tải đối với bộ óc của con người nếu như thiếu máytrợ giúp.

Qua việc nghiên cứu nấc thang phát triển của thuộc tính thông tincủa thế giới vật chất, chúng ta thấy rằng dù là thông tin trong giới vô sinh,hữu sinh, trong xã hội hay trong các thiết bị kỹ thuật điều khiển một hệthống vật chất này muốn nhận thông tin về một hệ thống vật chất khác thìthông tin đều phải qua một quá trình vận động nhất định, đó là quá trìnhthông tin Mô tả và làm rõ quá trình thông tin cũng là góp phần làm sáng tỏbản chất của thông tin!

1.1.3 Quá trình thông tin

Trong tự nhiên cũng như trong xã hội, một quá trình thông tin đầy

đủ bao gồm sáu yếu tố (khâu) cơ bản sau:

- Nguồn thông tin

- Mã hóa thông tin để đưa nó vào kênh liên lạc

- Truyền tín hiệu theo kênh liên lạc

- Giải mã

Ngày đăng: 19/12/2016, 08:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Quang A (2000), "Nền kinh tế tri thức - vai trò của các thành viên và các nhân tố ảnh hưởng", Hoạt động Khoa học - Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, (8), tr. 15-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nền kinh tế tri thức - vai trò của các thành viên và các nhân tố ảnh hưởng
Tác giả: Nguyễn Quang A
Năm: 2000
2. V.G.A. Fanaxép (1979), Thông tin xã hội và quản lý xã hội, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin xã hội và quản lý xã hội
Tác giả: V.G.A. Fanaxép
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1979
3. Đặng Đức An (Chủ biên) (1994), Nhân vật lịch sử và danh nhân văn hóa thế giới, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân vật lịch sử và danh nhân văn hóa thế giới
Tác giả: Đặng Đức An (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1994
4. Đào Duy Anh (1994), "Vài ý kiến về ảnh hưởng của Nho giáo đối với xã hội Việt Nam", Nho giáo tại Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài ý kiến về ảnh hưởng của Nho giáo đối với xã hội Việt Nam
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1994
5. Lê Ngọc Anh (1999), "Về ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt Nam", Triết học, (3), tr. 19-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt Nam
Tác giả: Lê Ngọc Anh
Năm: 1999
6. Nguyễn Thành Bang (2000), "Xu thế phát triển khoa học và công nghệ trong thế kỷ XXI - thách thức và thời cơ đối với Việt Nam", Tạp chí Cộng sản, (7), tr. 21-22 và 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu thế phát triển khoa học và công nghệ trong thế kỷ XXI - thách thức và thời cơ đối với Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thành Bang
Năm: 2000
7. Trương Bá Cần (1988), Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo, xuất bản tại TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Tác giả: Trương Bá Cần
Năm: 1988
8. P.Chambadal (1992), Sự phát triển và áp dụng của khái niệm Entrôpi, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển và áp dụng của khái niệm Entrôpi
Tác giả: P.Chambadal
Nhà XB: Nxb Khoa học kỹ thuật
Năm: 1992
9. Hồ Châu (2000), "Cuộc chiến giành giật chất xám cho thế kỷ XXI", Hoạt động Khoa học - Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, (8), tr. 17-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc chiến giành giật chất xám cho thế kỷ XXI
Tác giả: Hồ Châu
Năm: 2000
10. Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức (1987), "Lý luận phản ánh: 70 năm sau cách mạng tháng Mười", Triết học, (3), tr. 162-177 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận phản ánh: 70 năm sau cách mạng tháng Mười
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức
Năm: 1987
11. Nguyễn Trọng Chuẩn (chủ biên) (1991), Tiến bộ Khoa học - kỹ thuật và công cuộc đổi mới, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến bộ Khoa học - kỹ thuật và công cuộc đổi mới
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1991
12. Nguyễn Trọng Chuẩn (1992), "Một vấn đề cần được quan tâm: Mối quan hệ giữa các yếu tố sinh học và các yếu tố xã hội trong con người", Triết học, (3), tr. 13-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vấn đề cần được quan tâm: Mối quan hệ giữa các yếu tố sinh học và các yếu tố xã hội trong con người
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 1992
13. Nguyễn Trọng Chuẩn (1996), "Vai trò động lực của dân chủ đối với sự hoạt động và sáng tạo của con người", Triết học, (5), tr. 3-6 và 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò động lực của dân chủ đối với sự hoạt động và sáng tạo của con người
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 1996
14. Phạm Văn Chúc (1999), "Có hay không một thời đại hậu tư bản?", Tạp chí Cộng sản, (20), tr. 61-64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Có hay không một thời đại hậu tư bản
Tác giả: Phạm Văn Chúc
Năm: 1999
15. Vũ Đình Cự (1996), Khoa học và công nghệ - lực lượng sản xuất hàng đầu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học và công nghệ - lực lượng sản xuất hàng đầu
Tác giả: Vũ Đình Cự
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
16. Vũ Đình Cự (2000), "Góp phần tìm hiểu nền kinh tế tri thức", Hoạt động Khoa học - Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, (8), tr.12-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu nền kinh tế tri thức
Tác giả: Vũ Đình Cự
Năm: 2000
17. Phan Đình Diệu (1998), "Tri thức là gì?", Xã hội học, (4), tr. 10-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tri thức là gì
Tác giả: Phan Đình Diệu
Năm: 1998
18. Đặng Ngọc Dinh (1992), Công nghệ năm 2000 đưa con người về đâu, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ năm 2000 đưa con người về đâu
Tác giả: Đặng Ngọc Dinh
Nhà XB: Nxb Khoa học kỹ thuật
Năm: 1992
19. Hà Dũng (1995), Quản trị thông tin tinh giản, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị thông tin tinh giản
Tác giả: Hà Dũng
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 1995
21. Thanh Đạm (1990), "Tư duy triết học của Nguyễn Trường Tộ", Triết học, (3), tr. 53-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư duy triết học của Nguyễn Trường Tộ
Tác giả: Thanh Đạm
Năm: 1990

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.3 - LUẬN án TIẾN sĩ   THÔNG TIN và vấn đề TIẾP NHẬN xử lý THÔNG TIN THEO tư DUY NGƯỜI VIỆT NAM
Sơ đồ 1.3 (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w