1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN án TIẾN sĩ QUAN điểm TRIẾT học mác lê NIN về CON NGƯỜI với VIỆC xây DỰNG CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG THỜI kỳ CÔNG NGHIỆP hóa, HIỆN đại hóa

170 894 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 170
Dung lượng 791 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tư tưởng về con người của triết học MácLênin được hình thành trên cơ kế thừa biện chứng những tư tưởng tiến bộ của nhân loại; từ đó, triết học Mác Lênin đã khẳng định vai trò cải tạo thế giới, làm nên lịch sử của con người. Trong tư tưởng khoa học và cách mạng ấy, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển của lịch sử. Bản chất nhân đạo, mục tiêu cao cả, thước đo nhân văn của sự phát triển xã hội là phát triển vì con người, đưa con người từ vương quốc của tất yếu sang vương quốc của tự do.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tư tưởng về con người của triết học Mác-Lênin được hình thànhtrên cơ kế thừa biện chứng những tư tưởng tiến bộ của nhân loại; từ đó,triết học Mác - Lênin đã khẳng định vai trò cải tạo thế giới, làm nên lịch sửcủa con người Trong tư tưởng khoa học và cách mạng ấy, con người vừa làmục tiêu, vừa là động lực phát triển của lịch sử Bản chất nhân đạo, mục

tiêu cao cả, thước đo nhân văn của sự phát triển xã hội là phát triển vì con người, đưa con người từ vương quốc của tất yếu sang vương quốc của tự

do O

Triết học Mác-Lênin còn khẳng định rằng, để có những con ngườiphát triển toàn diện, cần phải có một nền kinh tế phát triển cao, một nềnvăn hóa tiên tiến, một nền khoa học - kỹ thuật hiện đại, một nền giáo dụcphát triển Việc tạo ra những thành tựu kinh tế - xã hội đó không những làđiều kiện để làm tăng thêm nền sản xuất xã hội, mà còn là điều kiện duynhất để tạo ra những con người phát triển toàn diện; trong đó, sự phát triển

tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người

Những quan điểm trên của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin

đã được thực tiễn hơn một thế kỷ qua chứng minh tính đúng đắn của nó.Song, ngày nay, đứng trước sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa, chủnghĩa Mác-Lênin nói chung và quan niệm về con người của triết học Mác-Lênin nói riêng đang bị tấn công từ nhiều phía Những kẻ chủ trương xét lạichủ nghĩa Mác cho rằng, tư tưởng giải phóng con người của triết học Mác đã

cũ, lạc hậu, một chiều và không tưởng; rằng, học thuyết Mác đã bị nhữngngười kế tục làm cho xơ cứng, trở thành cái không thể vận dụng và pháttriển phù hợp với thời đại mà khoa học - kỹ thuật đang tiến nhanh như vũ

Trang 2

bão; rằng, triết học Mác đã bị giáo điều hóa, học thuyết Mác về con người

bị khủng hoảng, ngừng trệ; rằng, do chỉ do chú ý đến con người trong đấutranh giai cấp mà chưa chú ý đến con người cá nhân, con người với tư cách

là chủ thể sáng tạo, nên quan niệm của triết học Mác về con người đã bộc

lộ nhiều bất cập, trở thành cái mang tính áp đặt, giả tạo và duy ý chí, v.v

Trước tình hình đó, việc làm rõ thực chất quan điểm của triết họcMác-Lênin về con người để bảo vệ tính khoa học và cách mạng của chủnghĩa Mác-Lênin là một yêu cầu cấp thiết

Trên bình diện thực tiễn, nhờ những thành tựu đạt được trong quátrình đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đang bước vàogiai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm biến nước ta từmột nước nông nghiệp lạc hậu trở thành một nước công nghiệp có cơ sở vậtchất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phùhợp với trình độ phát triển của lượng sản xuất; đời sống vật chất và tinhthần cao; quốc phòng, an ninh vững chắc; dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ và văn minh

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII và tại các Hội nghịTrung ương của mình, Đảng ta đã nhiều lần khẳng định: công nghiệp hóa

gắn với hiện đại hóa phải lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố

cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững Tăng trưởng kinh tế gắn với

cải thiện đời sống nhân dân; phát triển văn hóa, giáo dục Nâng cao dân trí,đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao và đồng bộ; kết hợp đào tạo kiếnthức, kỹ năng nghề nghiệp với bồi dưỡng phẩm chất, đạo đức nhằm hìnhthành một đội ngũ lao động giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ; có tác phongcông nghiệp, có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao; có ý thức phấn đấu vì

sự phồn vinh của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân Chỉ những conngười như vậy mới đáp ứng nhu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiệnđại hóa

Trang 3

Trong khi vấn đề đặt ra như vậy thì, do nhiều nguyên nhân, vấn đềxây dựng con người, phát huy vai trò của họ lại đang đứng trước những khó

khăn không nhỏ cả từ phương diện nhận thức lẫn tổ chức thực tiễn Về nhận thức, chúng ta thấy có hai cực đoan sai lầm: Một là, tuyệt đối hóa vai

trò nhân tố con người tới mức tái sinh trở lại yếu tố của bệnh duy ý chí; hai

là, tuyệt đối hóa nhân tố kỹ thuật-công nghệ dẫn tới xuất hiện yếu tố của

chủ nghĩa kỹ trị Về mặt thực tiễn: việc đầu tư cho sự phát triển nguồn lực

con người chưa thật sự được xem trọng; việc phát huy nguồn nhân lực đang

có cũng chưa thật có hiệu quả Không khắc phục những thiếu sót trên đây,

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa khó đi tới đích Để góp phần giảiquyết có hiệu quả vấn đề vừa nêu, việc làm rõ giá trị khoa học, bản chấtcách mạng trong quan điểm của triết học Mác-Lênin về con người sẽ giúpchúng ta thấy rõ rằng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước tahiện nay chỉ có thể thắng lợi nhờ chiến lược phát triển con người Việt Namtoàn diện với tư cách vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp đó

Xuất phát từ cách đặt vấn đề như vậy, chúng tôi chọn vấn đề: " Quan điểm của triết học Mác-Lênin về con người với việc xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa" làm đề tài của luận

án này

2.Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề con người trong triết học Mác - Lênin đã được các nhà khoahọc thế giới và Việt Nam đề cập đến từ nhiều góc độ khác nhau

Liên quan tới đề tài này, ở Liên xô (trước đây) và Cộng hòa dân chủĐức (cũ) đã có nhiều cuốn sách được xuất bản Chẳng hạn: N.M.Beredơnôi:

"Vấn đề con người trong các tác phẩm của C.Mác", M.,1981; D.M.Kakabátde:

"Con người với tư cách một vấn đề triết học", Tbidixi, 1970; "Những vấn

đề về chủ nghĩa nhân đạo trong triết học Mác - Lênin", M., 1975 Nhiều bài

báo, công trình nghiên cứu về con người đã được đăng tải trên tạp chí

Trang 4

Những vấn đề triết học của Nga, có nhiều bài đã được dịch ra tiếng Việt vàđược đăng trên tạp chí Triết học Trong số các công trình có liên quan tới

đề tài này, đáng chú ý nhất là hai tập: "Con người-những ý kiến mới về một

đề tài cũ" do nhà xuất bản Điétxơ xuất bản năm 1982 tại Béc-lin, Nhà xuất

bản Sự thật, Hà Nội dịch và cho xuất bản năm 1986 Đây là một công trìnhphối hợp của một số nhà khoa học Liên xô và Cộng hòa dân chủ Đức

Những năm gần đây, nhiều cuốn sách về con người tiếp tục đượcxuất bản tại Liên bang Nga, song, do điều kiện hạn chế, chúng tôi khôngthể đề cập tới trong luận án này

Trong những năm qua ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứuvấn đề con người trong triết học Mác - Lênin Chỉ điểm qua tình hìnhnghiên cứu vấn đề này từ năm 1975 đến nay cũng đủ thấy điều đó Năm

1978, Viện Triết học đã cho xuất bản cuốn: "Về vấn đề con người và xây dựng con người mới" (Giáo sư Phạm Như Cương chủ biên), trong đó giới

thiệu một cách tương đối hệ thống những ý kiến của Mác, Ăngghen, Lênin

và các đồng chí lãnh đạo Đảng ta về vấn đề con người Trong những nămtiếp theo, nhiều bài viết đã đề cập tới vấn đề: làm thế nào để tạo ra đượcnhững con người lao động kiểu mới, những con người biết tổ chức, biết quản

lý nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa và toàn bộ các mặt của đời sống xã hội

Từ năm 1991 đến năm 1995, công trình khoa học cấp nhà nước KX-07:

"Con người Việt Nam-mục tiêu và động lực phát triển kinh tế-xã hội" do

GS-TS Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm đã tiến hành nghiên cứu con ngườiViệt Nam trong sự nghiệp đổi mới Cùng với quá trình thực hiện chươngtrình nghiên cứu cơ bản này, đã có hàng trăm bài báo, báo cáo khoa họccủa các nhà khoa học trong cả nước viết về con người được liên tục đăngtải trên các tạp chí Cộng sản, Triết học, Nghiên cứu lý luận, Thông tin lýluận, Khoa học xã hội Các tác giả như Nguyễn Duy Quý, Lê Hữu Tầng,Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Thị Ngọc Trầm, Dương Phú Hiệp, Lê Thi,Phạm Như Cương, Nguyễn Ngọc Long, Phạm Ngọc Quang, Đặng Hữu Toàn,

Trang 5

đã công bố nhiều bài báo đề cập đến các góc độ khác nhau của việc xâydựng con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Nhiều luận án tiến sĩ xung quanh vấn đề con người cũng đã được bảo

vệ trong những năm qua Chẳng hạn, Nguyễn Thế Kiệt: "Vai trò của những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong việc xây dựng con người mới trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam"; Vũ Thị Tùng Hoa:

"Mối liên hệ giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội trong quá trình hình thành

và phát triển con người" Các luận án tiến sĩ trên đã đi sâu giải quyết ở các

góc độ khác nhau nhiều vấn đề có liên quan tới quan niệm của triết họcMác - Lênin về con người, tới việc xây dựng con người Việt Nam Song, chođến nay, việc vận dụng quan điểm của triết học Mác-Lênin về con người vàoviệc xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đạihóa với tư cách là một luận án tiết sĩ triết học vẫn chưa có Chính vì vậy,chúng tôi chọn đề tài nêu trên để thực hiện luận án tiến sĩ triết học của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án

Luận án có mục đích: Góp phần nhận thức những quan điểm cơ bản

của triết học Mác-Lênin về con người Trên cơ sở đó, phân tích những yêucầu đối với việc xây dựng con người Việt Nam trong quá trình công nghiệphóa, hiện đại hóa và đề ra phương hướng, giải pháp nhằm xây dựng conngười đáp ứng yêu cầu đó

Để đạt được mục đích đó, luận án có nhiệm vụ:

- Trình bày một cách khái quát những quan điểm cơ bản của triếthọc Mác-Lênin về con người

- Làm rõ thực chất của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta vàmột số vấn đề đặt ra đối với việc xây dựng con người Việt Nam hiện nay

- Đề ra phương hướng và một số giải pháp nhằm xây dựng conngười Việt Nam đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 6

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Luận án được thực hiện trên cơ sở những tác phẩm chính yếu củaC.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về con người vàxây dựng con người; các Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồngthời, tham khảo các công trình nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong,ngoài nước có liên quan đến đề tài

- Phương pháp tổng quát được vận dụng trong quá trình nghiên cứu

và thực hiện luận án là phương pháp biện chứng duy vật; kết hợp cácphương pháp: lịch sử và lôgíc, phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh,

hệ thống hóa và điều tra xã hội học

5 Cái mới về mặt khoa học của luận án

- Luận án góp phần nhận thức rõ hơn những quan điểm cơ bản củatriết học Mác-Lênin về con người

- Góp phần làm rõ những yêu cầu đối với việc xây dựng con ngườiViệt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Góp phần đề ra phương hướng và những giải pháp có tính khả thinhằm xây dựng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong việc hoạchđịnh chiến lược phát triển con người trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiệnđại hóa ở Việt Nam hiện nay

- Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việcnghiên cứu và giảng dạy triết học Mác-Lênin nói chung, quan niệm củatriết học Mác - Lênin về con người nói riêng trong sự vận dụng cụ thể vàonước ta hiện nay

7 Kết cấu của luận án

Trang 7

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận

án gồm ba chương, 7 tiết

Chương 1

QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN

VỀ CON NGƯỜI

1.1 QUAN ĐIỂM VỀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI

Trên cơ sở tiếp thu một cách có chọn lọc, kế thừa và phát triểnnhững tư tưởng hợp lý của các nhà triết học trong lịch sử nhân - loại từ triếthọc ấn Độ, Trung Quốc, Hy Lạp cổ đại, đến các nhà triết học cổ điển Đức,các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã khắc phục được những hạn chế của họ,

và do vậy, các ông đã đưa ra được những tư tưởng đúng đắn về bản chấtcon người, về con người

Ngày nay, chúng ta đều nhận thức được rằng con người là chủ thểcủa xã hội Nói đến xã hội, người ta hiểu ngay rằng đó là sản phẩm riêng cócủa con người trong sự gắn kết cộng đồng, trong những mối quan hệ đadạng của họ Ai đó có nói đến tính chất "xã hội" của những loài vật có tổchức bầy đàn, có tổ chức cuộc sống tinh vi, phức tạp thì cũng chỉ là nói đến

"cái xã hội" theo nghĩa nào đó, có cái gì đó mang tính "tổ chức" gần với tổchức xã hội của con người mà thôi, chứ bản thân việc tổ chức cuộc sốngcủa những loài sinh vật đó dù có tinh vi đến đâu cũng không thể có xã hộitheo đúng nghĩa của nó

Xã hội loài người là một kết cấu phức hợp, bao gồm những mốiquan hệ đa dạng của con người Bản thân con người không chỉ là sản phẩmcao nhất trong sự phát triển lâu dài của tự nhiên, mà còn là một thực thể xã

Trang 8

hội phức tạp Con người ngay từ khi là con người đã tự mình khám phá tựnhiên, thúc đẩy xã hội phát triển và khám phá những bí mật của chính bảnthân mình Có thể nói rằng, trong suốt quá trình phát triển lâu dài của lịch

sử tư tưởng nhân loại, con người bao giờ cũng là đối tượng nghiên cứu củanhiều ngành khoa học Mỗi ngành khoa học nghiên cứu một mặt, một khíacạnh nào đó của con người Trong đó, các nhà khoa học tự nhiên thườngtập trung vào bản thể sinh học của con người, các nhà khoa học xã hội lạitập trung vào lĩnh vực tinh thần-một lĩnh vực hết sức đặc trưng-của conngười Các nhà khoa học ấy đã có nhiều thành công đáng kể trong côngcuộc khám phá con người Ngày nay, sinh học hiện đại đã có thể chỉ ra mộtcách tương đối chính xác cấu trúc vi mô của cơ thể con người, hơn nữa,còn chỉ ra được cấu trúc và chức năng của bộ não người Những phát hiệncủa sinh học hiện đại đã trở thành cơ sở khoa học chắc chắn để loài ngườinhận thức về chính mình Tuy vậy, khi phải đối mặt với những câu hỏi, nhưbản chất con người là gì? con người có vai trò gì trong thế giới tự nhiên? thì không chỉ sinh học hiện đại, mà cả các môn khoa học khác (như tâm lýhọc, đạo đức, y học, sử học hay dân tộc học ) cũng không dễ gì trả lời mộtcách đầy đủ và có sức thuyết phục

Khi xây dựng quan niệm duy vật về lịch sử, vạch ra vai trò quyếtđịnh của sản xuất vật chất và các hình thức giao tiếp, các quan hệ sản xuấtđược phát triển từ chính quá trình sản xuất vật chất ấy và ngày càng hoànthiện cùng với sự phát triển xã hội, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã tạo

ra bước ngoặt căn bản trong quan niệm về con người, về bản chất conngười Các ông cho rằng bản thân những trừu tượng tư biện chỉ là sảnphẩm, là sự thể hiện của những điều kiện sản xuất và giao tiếp nhất địnhnào đó Phê phán quan niệm duy tâm - tư biện về bản chất con người, cácông đã coi những trừu tượng tư biện chẳng qua chỉ là sự xuyên tạc mangtính tư tưởng hệ bản chất thực sự của con người Chẳng hạn, đối với các

Trang 9

khái niệm "thực thể", "bản chất của con người" mà phái Hêghen trẻ đưa ra,C.Mác nhận xét rằng: "Tổng số những lực lượng sản xuất, những tư bản vànhững hình thức xã hội của sự giao tiếp mà mỗi cá nhân và mỗi thế hệ thấyhiện có, là cơ sở hiện thực của cái mà các nhà triết học hình dung là "thựcthể", "bản chất con người", của cái mà họ tôn sùng hoặc đả kích, một cơ sởhiện thực mà tác động và ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển của conngười không hề bị ngăn trở bởi việc nhà triết học ấy với tư cách là "tự ýthức" và "kẻ duy nhất" nổi dậy chống lại nó" [69, 3; tr 55] (số thứ nhất chỉthứ tự trong "Danh mục tài liệu tham khảo", số thứ hai (nếu có) chỉ số tập,

số tiếp theo là trang trong tài liệu)

Đối với những suy luận của Stiếcnơ (một đại diện tiêu biểu của pháiHêghen trẻ) về mối quan hệ giữa cái nhân tính và phi nhân tính, giữa conngười và không phải con người, C Mác cho rằng những suy luận về cáinhân tính và cái phi nhân tính ấy chỉ có ý nghĩa và hợp lý, nếu quy nó vềbiện chứng của sự phát triển sản xuất và các phương thức đáp ứng nhu cầucủa con người Ông viết: "Từ ngữ khẳng định "người" thích ứng với nhữngquan hệ nhất định thống trị trong một giai đoạn phát triển nào đó của sảnxuất và thích ứng với phương thức thỏa mãn nhu cầu do những quan hệ ấyquyết định,-cũng tựa như từ ngữ phủ định "phi thân" thích hợp với những ý

đồ hòng phủ định bên trong phương thức sản xuất hiện hành những quan hệthống trị ấy và phương thức thỏa mãn nhu cầu thống trị trong điều kiện cónhững quan hệ ấy, những ý đồ do chính cái giai đoạn sản xuất ấy khôngngừng sản sinh ra hàng ngày" [69, 3, tr 633-634]

Để tìm ra bản chất con người và nhận thức đời sống con người, theocác ông, người ta không cần đến những trừu tượng tư biện ấy Để tìm rabản chất đích thực của con người, nhận thức đúng đời sống con người, cácông khẳng định, cần phải nghiên cứu một cách cụ thể đời sống sinh hoạt

Trang 10

hiện thực của con người Chỉ bằng cách nghiên cứu cụ thể đời sống sinhhoạt hiện thực của con người, mới có thể biết được những hoạt động củacon người ấy Do vậy, với các ông, nhiệm vụ nhận thức con người cần phảiđược tiến hành trên cơ sở của quan niệm duy vật về lịch sử.

Để làm rõ việc đặt ra theo một cách mới nhiệm vụ nhận thức conngười ở các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, trước hết chúng ta cần phải lưu ýtới bức thư của Ph Ăngghen gửi C.Mác ngày 19-11-1844 Trong bức thưnày, Ph Ăngghen đã chỉ rõ, "con người" của Phoiơbắc là "cái phái sinh từThượng đế"; Phoiơbắc đi từ Thượng đế đến "con người" và, vì vậy, "conngười" của ông vẫn còn được phủ lên trên một lớp "hào quang trừu tượngthần thánh" Ph.Ăngghen cho rằng con đường thật sự dẫn đến "con người"

là con đường hoàn toàn ngược lại Chúng ta phải xuất phát từ cái "tôi", từ

"cá nhân mang tính kinh nghiệm, có thể xác", nhưng không phải để giẫmchân ở điểm này như Stiếcnơ, mà phải từ cá nhân đó vươn tới "Con người"

"Con người" sẽ mãi mãi chỉ là nhân vật hư ảo, nếu cơ sở của nó không phải

là "con người mang tính kinh nghiệm" Chúng ta phải xuất phát từ chủnghĩa kinh nghiệm, chủ nghĩa duy vật, nếu chúng ta muốn làm cho ý niệmcủa chúng ta và đặc biệt là "con người" của chúng ta trở thành một cái gì

đó hiện thực Chúng ta phải từ cái đơn nhất để rút ra cái phổ biến, "chứkhông phải từ cái chính bản thân mình hoặc từ cái không tồn tại, nhưHêghen đã làm" Và, theo ông, "cá nhân mang tính thể xác là cơ sở thực sự,

là xuất phát điểm thực sự cho "con người" của chúng ta" [69, 27, tr 23].Như vậy, theo Ph.Ăngghen, chúng ta cần phải nghiên cứu một cách cụ thể,một cách kinh nghiệm về các cá nhân, và mục đích cuối cùng của việc nghiêncứu các cá nhân trong hiện thực kinh nghiệm của họ là tiến tới "con người".Với quan niệm ấy, Ph.Ăngghen coi phạm trù "con người" là phạm trù tốicao của nhận thức, đồng thời phải luận chứng vì sao nó là phạm trù tối caocủa nhận thức Theo ông, chúng ta chỉ có thể hiểu "con người" theo đúng

Trang 11

nghĩa của nó, khi xuất phát từ các cá nhân kinh nghiệm, bằng xương, bằngthịt và chỉ có trên cơ sở ấy, các cá nhân mới không còn đơn giản là các cánhân, mà trở thành những con người hiện thực với đúng nghĩa của nó.

Dõi theo quá trình hình thành quan niệm về con người của các nhàsáng lập chủ nghĩa Mác, chúng ta thấy, chỉ khi đã ý thức được một cách rõràng lịch sử nhân loại là sự cải biến không ngừng "bản tính con người",rằng "bản tính nội tại của con người" bao giờ cũng là sản phẩm của lịch sử,thì nhận thức về bản chất của con người mới trở nên rõ ràng

Để làm rõ vấn đề này, theo chúng tôi, cần phải lưu ý rằng, vào thờiđiểm các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác tiến hành xây dựng quan niệm củamình về bản chất con người, các nhà triết học tư biện Đức thường lạm dụngcác thuật ngữ "bản chất con người’, "tộc loại", "bản tính con người" đểtrình bày quan niệm của họ về con người Và, do sự lạm dụng đó, họ đãbiến những luận điểm của mình thành những câu nói trống rỗng, khoatrương Bởi vậy, khi đối lập một cách có ý thức phương pháp tư duy củamình với những triết lý tư biện, các ông đã phải cố tránh sử dụng nhữngthuật ngữ nêu trên, khi trình bày các quan điểm của mình Sự nghiêm ngặt

về mặt thuật ngữ này là một trong những biểu hiện cụ thể, nói lên tính triệt

để, kiên quyết của các ông trong tranh luận Và nhờ đó, thế giới quan mới,quan niệm mới về con người, về bản chất con người của các ông mới mangtính khoa học và cách mạng so với các kiểu thế giới quan, các quan niệmcủa các nhà triết học tiền bối Khi tiến hành luận chiến với các nhà triết học

tư biện Đức về vấn đề con người, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã đốilập một cách toàn diện, triệt để quan điểm của mình với quan điểm của cácnhà triết học ấy và luôn nhấn mạnh sự mới mẻ trong cách tiếp cận củamình Các ông sử dụng những khái niệm được vay mượn từ các nhà triếthọc cổ điển Đức không phải vì mục đích khoa trương, hình thức, mà là để

Trang 12

xây dựng cơ sở phương pháp luận cho toàn bộ sự phê phán triết học duytâm tư biện và chủ nghĩa duy vật nhân bản để luận chứng cho quan niệmduy vật về lịch sử của các ông Các ông không đặt thành vấn đề cấp báchviệc xem xét những lập luận trừu tượng, tư biện về đời sống sinh hoạt củacon người có nội dung khách quan hay không Với các ông, bản thân đờisống sinh hoạt của con người đã vốn mang tính hiện thực, hoạt động cơ bảncủa con người là hoạt động sản xuất vật chất của những cá nhân nắm quyềnlàm chủ các lực lượng sản xuất nhất định, hoạt động trong khuôn khổ củanhững quan hệ sản xuất và giao tiếp nhất định Bởi vậy, theo các ông, cáckhái niệm - dẫu đó là những khái niệm trừu tượng, tư biện, song đó là nhữngkhái niệm phản ánh đời sống sinh hoạt hiện thực, phản ánh hoạt độngsản xuất vật chất của con người, tất yếu phải mang tính khách quan.

Điều đó cho thấy, đối với các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, hiệnthực bao giờ cũng là cụ thể và mang tính đặc thù, nhiệm vụ của nhận thức

là đạt tới và phản ánh đúng tính cụ thể, đặc thù đó Những lập luận về conngười, về hoạt động con người về vật chất chỉ là phương tiện để giải quyếtnhiệm vụ đó Nhưng, để những lập luận ấy giữ được vai trò này, chúngphải được xem xét trong văn cảnh những hiện tượng và quan hệ cấu thành

cơ sở hiện thực của chúng Với quan niệm đó, các ông cho rằng, khi giảiquyết vấn đề con người, cần phải chấm dứt những bàn luận chung chung,trừu tượng về con người, phải xuất phát từ những con người với tư cách lànhững "cá nhân kinh nghiệm", những cá nhân mà trong đời sống sinh hoạt,trong mọi hoạt động đều luôn dựa vào những tiền đề hiện thực, trong nhữngđiều kiện thực tiễn xác định Tương tự như vậy, các ông cho rằng cần phảichấm dứt những bàn luận chung chung, trừu tượng về hoạt động lao động;phải nghiên cứu hoạt động con người trong tính quy định cụ thể của nó, tức

là trong tổng thể các lực lượng sản xuất của con người, các quan hệ sảnxuất cũng như các hình thức tổ chức xã hội của nó

Trang 13

Trong quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen, giới tự nhiên bao giờcũng tồn tại hiện thực đối với con người và là đối tượng cho hoạt động củacon người; song, trong mọi hoạt động của mình, con người luôn xuất phát

từ những nhu cầu của bản thân mình Điều này đặc trưng cho sự vận độnglịch sử của đời sống sinh hoạt hiện thực của con người cũng như cho việcnhận thức sự vận động ấy Trong quá trình nhận thức lịch sử nhân loại, conngười bao giờ cũng bắt đầu từ sự nhận thức về bản thân mình với tư cách làtiền đề xuất phát Nhận thức về lịch sử không phải là sự nhìn nhận cái bênngoài Lịch sử là kết quả hoạt động của chính con người Với ý nghĩa đó,nhận thức về lịch sử thực chất cũng là sự tự nhận thức và hoạt động củachính con người, là khát vọng nắm bắt tiến trình lịch sử của con người dựatrên những thành tựu mới nhất về con người, tức là từ chính bản thân conngười Song, các nhà triết học tư biện lại không xuất phát từ đó, họ xuấtphát từ những lập luận triết học trừu tượng của mình và coi những lập luận

ấy là đỉnh cao lý luận, để từ đó, nhìn nhận lịch sử và chỉ nhận thấy ở lịch sử

ấy sự vận động của các tư tưởng, các phạm trù, gán ép nội dung hiện thựccủa cuộc sống vào những khái niệm trừu tượng của tư duy

Trong bối cảnh đó, với việc chuyển sang lập trường vô sản, các nhàsáng lập chủ nghĩa Mác đã đoạn tuyệt với thứ triết học tư biện truyền thốngcủa triết học cổ điển Đức Trong quan niệm về lịch sử nhân loại, các ông đãcăn cứ vào các điều kiện, xu hướng và nhiệm vụ hiện thực của phong tràocách mạng do giai cấp vô sản tiến hành mà các ông đã nhận thức được khixây dựng học thuyết về chủ nghĩa tư bản với tư cách là một phương thứcsản xuất xã hội Từ những nghiên cứu lý luận về xã hội tư bản với tư cách

là một hệ thống xã hội đặc thù được đặc trưng bởi một sự phát triển nhấtđịnh của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, phân hóa xã hội, v.v., cácông đã phát hiện ra những đặc trưng phổ biến trong đời sống sinh hoạt xãhội của con người Trong xã hội tư bản, những đặc trưng đó, theo các ông,

đã đạt tới mức độ phát triển cao, nhờ vậy, cơ sở hiện thực của tồn tại con

Trang 14

người đã trở nên rõ ràng và, do đó, cũng đã xuất hiện xu hướng vượt rakhỏi khuôn khổ của xã hội ấy Với các ông, xã hội tư bản đã trở thành đốitượng nghiên cứu mà từ đó, các ông nhìn nhận sự phát triển của con ngườitrong tính chỉnh thể của nó

Quan điểm ấy cho thấy, đối với các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, đểnhận thức được vấn đề con người, bản chất con người, trước hết cần nhậnthức những điều kiện sinh hoạt và phát triển của con người trong khuônkhổ xã hội tư bản, gắn với cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại hệthống nô dịch tư bản chủ nghĩa Khi còn chưa có được những nhận thứcđầy đủ, sâu sắc về chủ nghĩa tư bản với tư cách là một phương thức sảnxuất đặc thù, khi sự phân tích một cách lịch sử - cụ thể về chủ nghĩa tư bản

ở các ông đang còn chịu ảnh hưởng của quan niệm nhân bản-trừu tượng,trong quan niệm của các ông về con người chúng ta vẫn còn bắt gặp cáckhái niệm trừu tượng (như tộc loại, bản chất tộc loại, tha hóa và v.v.) với tưcách là các khái niệm cơ bản, then chốt Chỉ khi quan niệm duy vật về lịch

sử đã được hình thành trên một cơ sở vững chắc, chỉ khi xã hội tư bản đãđược hiểu là một phương thức tồn tại mang tích lịch sử - cụ thể của conngười mà trong đó, những điều kiện hiện thực để chuyển sang một phươngthức tồn tại khác của con người đang hình thành, các ông mới không còn sửdụng những khái niệm trừu tượng ấy với tư cách là cơ sở cho sự hình thànhphương pháp nghiên cứu của mình Chỉ khi đó, các ông mới nhận thấy việcnâng những khái niệm trừu tượng ấy lên cấp độ các phạm trù nền tảng với

tư cách là các yếu tố cấu thành hệ thống lý luận là trở ngại cho việc nhậnthức hiện thực về con người, cho sự nghiên cứu cụ thể về những điều kiện

và triển vọng phát triển của con người Chỉ từ đó, cách xem xét con ngườicủa các ông mới trở nên rõ ràng, đứng vững trên lập trường duy vật về lịchsử

Đối với các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, hướng nghiên cứu ấy cầnphải được coi là tiền đề, là cách tiếp cận với quan niệm duy vật về đời sống

Trang 15

sinh hoạt hiện thực của con người Nếu chỉ dừng lại ở tiền đề này tức làbiến nó thành câu nói rỗng tuếch, biến con người thành sự trừu tượng tưbiện có thể "phù hợp và không phù hợp" với mọi giai đoạn và mọi thời đạiphát triển xã hội.

Khi xuất phát từ con người hiện thực để nghiên cứu đời sống sinhhoạt của con người, các ông đã khẳng định rằng con người cần phải đượchiểu trong hoàn cảnh sinh hoạt hiện thực-cụ thể của họ Những tiền đề củaquan niệm duy vật về lịch sử ấy, theo các ông, "là những con người, khôngphải những con người ở trong một tình trạng biệt lập và cố định tưởngtượng mà là những con người trong quá trình phát triển - quá trình pháttriển hiện thực và có thể thấy được bằng kinh nghiệm - của họ dưới nhữngđiều kiện nhất định" [69, 3, tr 38] "Những tiền đề xuất phát của chúng tôi,

- các ông viết,- không phải là những tiền đề tùy tiện, không phải là giáođiều; đó là những tiền đề hiện thực mà người ta chỉ có thể bỏ qua trong trítưởng tượng thôi Đó là những cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ vànhững điều kiện sinh hoạt vật chất của họ, những điều kiện mà họ thấy cósẵn cũng như những điều kiện do hoạt động của chính họ tạo ra Như vậy,những tiền đề ấy là có thể kiểm nghiệm được bằng con đường kinh nghiệmthuần túy" [69, 3, tr 28-29]

Chính vì vậy, khi nói tới những tiền đề của quá trình hoạt động sinhhoạt hiện thực của con người, -tiền đề để nhận thức con người, -các ôngluôn nhấn mạnh rằng các ông nói tới những điều kiện và yếu tố hoạt độngsinh hoạt-cụ thể của con người Các ông không nói một cách chung chung,trừu tượng về con người, về hoạt động và điều kiện sinh hoạt của họ, mà

về những con người cụ thể, hoạt động cụ thể của họ trong những điều kiệnlịch sử - cụ thể Đối với các ông, quan niệm duy vật về lịch sử là phươngpháp đem lại khả năng xác nhận hệ thống những tiền đề xuất phát, cụ thể

Trang 16

mà dựa vào đó, có thể hiểu được quá trình phát triển của con người trong

sự vận động, trong tính đa dạng của nó

Các ông đã chỉ rõ rằng: " Chúng ta buộc phải bắt đầu bằng việcxác định tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại của con người và do đó là tiền

đề của mọi lịch sử, đó là: người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể

"làm ra lịch sử" Hành vi lịch sử đầu tiên hay phương diện cơ bản đầu tiêncủa hoạt động xã hội của con người là sản xuất ra những tư liệu để thỏamãn những nhu cầu ấy của con người là những quan hệ cơ bản, mang tínhlịch sử, là những phương diện cơ bản của đời sống xã hội, các ông đã chỉ rõ

sự xuất hiện những nhu cầu mới, sự sản xuất ra bản thân con người với tưcách một phương thức hoạt động chung, một thang bậc, một hình thức giaotiếp xã hội nhất định của con người

Ngày nay, cả lý luận và thực tiễn đều chứng minh rằng chỉ có triếthọc Mác - Lênin mới đưa ra quan niệm đúng đắn, khoa học và mang tínhcách mạng về bản chất con người, về con người Khi phân tích quá trìnhtích lũy nguyên thủy "đầm đìa máu và bùn nhơ" của chủ nghĩa tư bản, phântích tình trạng lao động bị tha hóa, sự bần cùng hóa tương đối và tuyệt đốicủa người công nhân, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã khẳng định rằng:

"Trong thời đại chúng ta, mọi vật đều tựa hồ như bao hàm mặt đối lập của

nó Chúng ta thấy rằng máy móc có sức mạnh kỳ diệu trong việc giảm bớtsức lao động của con người và làm cho lao động của con người có kết quảhơn thì lại đem lại nạn đói và sự kiệt quệ đến cho con người Những nguồncủa cải mới từ xưa đến nay chưa ai biết, dường như do một sức mạnh thần

kỳ nào đó lại đang biến thành nguồn gốc của sự nghèo khổ Những thắnglợi của kỹ thuật dường như đã được mua bằng cái giá của sự suy đồi về mặttinh thần Dường như loài người càng chinh phục được thiên nhiên nhiềuhơn thì con người lại càng trở thành nô lệ của những người khác hoặc nô lệ

Trang 17

cho sự đê tiện của chính mình Dường như ngay cả ánh sáng thuần khiếtcủa khoa học cũng không thể chiếu rọi bằng cách nào khác ngoài cáchchiếu rọi vào cái bối cảnh tối tăm của sự ngu dốt Tất cả những phát minhcủa chúng ta và tất cả sự tiến bộ của chúng ta tựa hồ như đang dẫn tới chỗ

là những thắng lợi vật chất thì được ban cho một đời sống tinh thần, cònđời sống con người vốn đã bị tước mất các mặt tinh thần rồi thì nay lại bị

hạ xuống trình độ của những vật chất đơn thuần" [69, 12, tr 10] Các ôngcho rằng, chính "lao động bị tha hóa làm cho thân thể của bản thân conngười cũng như giới tự nhiên ở bên ngoài con người, cũng như bản chấttinh thần của con người, bản chất nhân loại của con người trở thành xa lạivới con người" [68, I, tr 121]

Điều đó cho thấy, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã trình bàyquan niệm của mình về con người với mục đích giải phóng con người khỏi

sự nô lệ, sự tha hóa, sự áp bức bất công, sự bần cùng hóa Giải phóngngười lao động, giải phóng con người là lý tưởng cao cả của các ông Vàtrong suốt cuộc đời, các ông đã cống hiến tất cả những gì có thể làm đượccho cuộc đấu tranh giải phóng con người Đây là điểm xuất phát khác hẳncác nhà triết học tiền bối của các ông Với cách đặt vấn đề như vậy, cácông đã mang lại cho học thuyết về con người của mình một điểm mới về cơbản: coi con người là điểm xuất phát và sự giải phóng con người là mụctiêu cao nhất mà nhân loại cần đạt tới

Thật vậy, trong "Bản thảo kinh tế triết học năm 1844", với phạm trù

"lao động bị tha hóa", C.Mác đã xây dựng một hệ thống lý luận triết học cókhả năng soi sáng con đường giải phóng nhân loại, khắc phục triệt để tìnhtrạng tha hóa bản chất con người Tuy nhiên, trước đó, khi phê phán quanđiểm trừu tượng của Hêghen về con người, ngay từ năm 1843, C.Mác đãquan niệm con người là sinh vật - xã hội Vì thế, trong "Góp phần phê phán

Trang 18

triết học pháp quyền của Hêghen", ở "Lời nói đầu", C.Mác đã khẳng định:

"Con người không phải là một tồn tại trừu tượng, ẩn náu đâu đó ở ngoài thế giới Con người chính là thế giới những con người, là nhà nước, là xãhội" [69, 5, tr 569]

Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác không phải là những người đầutiên đưa ra quan niệm gắn con người với xã hội, với chính trị Trong lịch sửtriết học trước Mác, Arixtốt đã từng định nghĩa "người là động vật chínhtrị" Chỉ có điều là, trong quan niệm của Arixtốt, mặt xã hội ấy của conngười chủ yếu gắn với chính trị, đạo đức và nó chỉ có ở tầng lớp chủ nô,tầng lớp bên trên, do vậy, nó là cái mang tính đẳng cấp, chứ không phải làcái gắn với loài người nói chung, là cái vốn có ở mỗi con người nói riêngnhư quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác Xét về thực chất, quanniệm con người gắn với xã hội của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác kháchẳn về chất so với quan niệm về con người xã hội của Arixtốt

Vào mùa xuân năm 1845, khi phê phán Phoiơbắc đã "hòa tan thếgiới tôn giáo vào cơ sở trần tục của nó", đã hòa tan bản chất tôn giáo vàobản chất con người, C.Mác cho rằng: "Tôn giáo biến bản chất con ngườithành tính hiện thực ảo tưởng, vì bản chất con người không có tính hiện thựcthực sự Do đó, đấu tranh chống tôn giáo là gián tiếp đấu tranh chống cái thếgiới mà lạc thú tinh thần của nó là tôn giáo" [69, 1, tr 570] Tôn giáo khôngthể đem lại sự giải phóng cho con người một cách thực sự, mà là "thuốcphiện của nhân dân" Tôn giáo là sự tha hóa của con người và, theo C.Mác,

"Sau khi cái hình tượng thần thánh của sự tha hóa của con người đã bị bóctrần thì nhiệm vụ cấp thiết của cái triết học đang phục vụ lịch sử là bóc trần

sự tha hóa trong những hình tượng không thần thánh của nó [69, 1, tr 571].Với quan niệm đó, C.Mác cho rằng phê phán tôn giáo, phê phán tính chất

ảo tưởng về tính hiện thực của con người phải gắn liền một cách trực tiếp

Trang 19

với giải phóng con người về mặt tinh thần "Việc phê phán tôn giáo đanglàm cho con người thoát khỏi ảo tưởng, để con người suy nghĩ, hành động,xây dựng tính hiện thực của mình , để con người xoay xung quanh bảnthân mình" [69, 1, tr 570], giúp con người trở về với sự tồn tại hiện thực,chân chính của mình, đối mặt với chính mình trong các quan hệ xã hội Do

vậy, trong "Luận cương về Phoiơbắc", C.Mác đã khẳng định: "Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan

hệ xã hội" (Chúng tôi nhấn mạnh - V.T.V) [69, 3, tr 11].

Luận điểm trên đây là luận điểm nổi tiếng, tiêu biểu nhất của triếthọc Mác-Lênin về bản chất con người Luận điểm này đã trở thành cơ sở lýluận khoa học cho chủ nghĩa Mác-Lênin và các khoa học khác khi nghiêncứu, giải quyết vấn đề con người Đúng là "khó mà tìm thấy trong lịch sửnhận thức khoa học một chân lý mà mới nhìn tưởng như đơn giản và rõràng hơn nhưng thực chất lại sâu sắc và căn bản hơn luận điểm về bản chấtcon người của Mác" [105, tr 198] Tuy nhiên, để đến được luận điểm ngắngọn, súc tích này, C.Mác đã phải trải qua một quá trình nghiên cứu khoahọc nghiêm túc và hết sức tỉ mỉ Khi tiếp thu những thành tựu của triết học,trực tiếp là triết học Cổ điển Đức, C Mác đã nhận ra những sai lầm củaHêghen và Phoiơbắc về vấn đề bản chất con người C Mác đã phê phánquan điểm duy tâm khách quan của Hêghen về con người, khi Hêghen coicon người là hiện thân của "ý niệm tuyệt đối" C Mác cũng nhận rõ tínhchất siêu hình trong quan niệm của Phoiơbắc, khi Phoiơbắc đồng nhất tínhsinh học vào bản chất con người, tách con người ra khỏi đời sống xã hội vàhòa tan vào bản chất tôn giáo, do đó, đã không thấy hoạt động đích thựccủa con người là hoạt động thực tiễn, mà "chỉ coi hoạt động lý luận là hoạtđộng đích thực của con người [69, 3, tr 9] C Mác đã chỉ rõ rằng: "Đời sống

Trang 20

xã hội về thực chất có tính thực tiễn Tất cả những sự thần bí đang đưa lýluận đến chủ nghĩa thần bí, đều được giải đáp một cách hợp lý trong thựctiễn của con người và trong sự hiểu biết thực tiễn ấy" [69, 3, tr 12] Hơnnữa, trong "Luận cương về Phoiơbắc", C.Mác còn nhấn mạnh vai trò to lớncủa thực tiễn, C Mác viết: "Các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằngnhiều cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới" [69, 3, tr 12] Vậy

là, đặc tính hiện thực của con người hay con người tồn tại hiện thực kháchquan chính là con người tồn tại trong thực tiễn của nó Tính hiện thực của bảnchất con người được thể hiện trước hết ở chỗ, con người tồn tại thực, hiểnnhiên, cảm tính chứ không phải là cái gì đó mang tính trừu tượng Con ngườitồn tại trong tự nhiên, gắn bó chặt chẽ với giới tự nhiên, giới tự nhiên làthân thể vô cơ của con người Khẳng định điều này, C Mác nhấn mạnh:

"Như thế nghĩa là giới tự nhiên là thân thể của con người, thân thể mà với nócon người phải duy trì một quá trình thường xuyên để tồn tại Nói rằng đờisống thể xác và tinh thần của con người là gắn liền khăng khít với bản thângiới tự nhiên, vì con người là bộ phận của giới tự nhiên" [68, I, tr 117] Nhưvậy, rõ ràng là, đối với C Mác, con người tồn tại bao giờ cũng gắn liền vớiđiều kiện tự nhiên nhất định; hơn thế nữa, con người là một bộ phận khôngthể tách rời giới tự nhiên

Trong "Hệ tư tưởng Đức", C Mác và Ph Ăngghen còn cho rằng,người- "đó là những cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ, những điềukiện mà họ thấy có sẵn cũng như những điều kiện do hoạt động của chính

họ tạo ra" [69, 3, tr 29] Điều đó cho thấy, khi xác định bản chất con người,các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác không tập trung nghiên cứu cấu trúc cơ thểcủa con người, mà tập trung vào những hoạt động của con người trong lịch

sử C Mác cho rằng: "Bản thân con người bắt đầu bằng sự phân biệt vớisúc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt củamình-đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người quy định Sản

Trang 21

xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếpsản xuất ra chính đời sống vật chất của mình" [69, 3, tr 29].

Để tồn tại, con vật cũng phải kiếm sống, nhưng cách thức kiếmsống của chúng khác hẳn với hoạt động sản xuất của con người Về điểmnày, C Mác chỉ rõ: "Cố nhiên là con vật cũng sản xuất Nó xây dựng tổ,chỗ ở của nó, như con ong, con hải ly, con kiến Nhưng nó chỉ sản xuất cái

mà bản thân nó hoặc con nó trực tiếp cần đến, nó sản xuất một cách phiếndiện; còn con người thì sản xuất một cách toàn diện, con vật chỉ sản xuất vì

bị chi phối bởi nhu cầu thể xác trực tiếp; còn con người sản xuất ngay cảkhi được giải phóng khỏi nhu cầu thể xác" [68, I, tr 119]

C Mác còn nhấn mạnh thêm: "Con vật chỉ tái sản xuất ra bản thân

nó, còn con người thì tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên" [68, I, tr 120].Hơn thế nữa, việc tái sản xuất của con người không chỉ nhằm giải quyếtnhững nhu cầu vật chất, mà còn vì những nhu cầu tinh thần Do đó, theo

C Mác, "con vật chỉ chế tạo theo kích thước và nhu cầu của loài nó, còncon người thì có thể sản xuất theo kích thước của bất kỳ loài vật nào và ởđâu cũng biết vận dụng bản chất cố hữu của mình vào đối tượng; do đó conngười cũng chế tạo theo quy luật của cái đẹp" [68, I, tr 120] C Mác còncho rằng: "Con vật tự đồng nhất mình một cách trực tiếp với hoạt động sinhsống của nó Nó không tự phân biệt nó với hoạt động sinh sống của nó Nó

là hoạt động sinh sống ấy còn con người thì biến bản thân hoạt động sinhsống của mình thành đối tượng của ý chí và của ý thức của mình Con người

có hoạt động sinh sống có ý thức Hoạt động sinh sống có ý thức phân biệttrực tiếp con người với hoạt động sinh sống của con vật" [68, I, tr 118]

Như vậy, có thể nói, trong quan niệm của các nhà sáng lập chủnghĩa Mác, con người luôn tồn tại một cách hiện thực, tồn tại với phươngthức đặc thù của nó Phương thức hoạt động của con người hoàn toàn khác

Trang 22

với phương thức hoạt động của động vật nói chung Hoạt động của con vậthoàn toàn mang tính bản năng Nó hành động trước hết vì miếng ăn, vì sựbảo tồn nòi giống hay, cao hơn, là bảo vệ lãnh thổ kiếm sống Hoạt độngcủa con vật chỉ là hoạt động vì sự tồn tại trực tiếp của nó, của con nó, ngoài

ra, không có ý nghĩa nào khác Còn con người thì khác hẳn Hoạt động củacon người là hoạt động có ý thức, hoạt động có ý thức này là hoạt độngriêng có ở con người Đây là điểm cơ bản để phân biệt con vật với conngười Nếu thiếu tiêu chí này, người ta có thể nhầm lẫn hoạt động của convật với hoạt động của con người Nói về khả năng hành động mạnh mẽ của

cơ bắp hay một sự khéo léo nào đó của con vật, người ta có thể so sánh vớihoạt động của con người, thậm chí mắt chim ưng còn tinh hơn mắt người,nhưng có nhiều hiện tượng chỉ con người mới nhìn thấy, còn loài chim mắttinh kia không thể nhìn thấy được Điều này được giải thích bởi con người

là động vật có ý thức, có tư duy và có khả năng nhận thức cái trừu tượng

Trong triết học Mác - Lênin, lao động là hoạt động bản chất của conngười Đó chính là quá trình con người chế tạo ra công cụ lao động và dùng

nó để tác động vào giới tự nhiên, tạo ra sản phẩm phục vụ cho cuộc sốngcủa mình; đồng thời, qua đó, làm biến đổi giới tự nhiên, sáng tạo ra thế giớicủa mình Thông qua lao động, con người không chỉ biến đổi giới tự nhiêntheo mục đích của mình, mà qua đó, con người còn biến đổi chính bản thânmình Nhờ có lao động mà con người ngày càng phát triển, ngày càng hoànthiện, nhận thức của con người về thế giới khách quan ngày càng sâu sắc,khả năng chinh phục tự nhiên ngày càng có hiệu quả Điều này giúp chocon người trong khi khai thác tự nhiên để phục vụ cho cuộc sống ngày càngcao của mình đã tái tạo lại tự nhiên Hơn nữa, thông qua lao động, conngười đã gắn bó và thiết lập mối quan hệ mật thiết với tự nhiên và với đồngloại Với triết học Mác - Lênin, "lao động trước hết là một quá trình diễn ragiữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó, bằng hoạt động của

Trang 23

chính mình, con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chấtgiữa họ và tự nhiên Bản thân con người đối diện với thực thể của tự nhiênvới tư cách là một lực lượng của tự nhiên Để chiếm hữu được thực thể của

tự nhiên dưới một hình thức có ích cho đời sống của bản thân mình, conngười vận dụng những sức tự nhiên về thân thể của họ: tay và chân, đầu vàhai bàn tay Trong khi tác động vào tự nhiên ở bên ngoài thông qua sự tácđộng đó, và làm thay đổi tự nhiên, con người cũng đồng thời làm thay đổibản tính của chính nó" [69, 23, tr 266]

Thông qua lao động, con người đã tạo ra những tư liệu thỏa mãnnhu cầu của mình; đồng thời, cũng thông qua lao động, bản chất tự nhiêncủa con người được biểu hiện ra Đó là những nhu cầu khách quan để duytrì cuộc sống như ăn, mặc, ở, đi lại Để thỏa mãn những nhu cầu này, conngười phải hành động Tuy nhiên, những hành động vì cuộc sống của conngười không phải là những hành động bản năng, hành động sinh vật đơnthuần Tuy có một số hành động của con người cũng mang tính bản năngthuần túy (như sinh đẻ con cái, hoạt động duy trì nòi giống), nhưng ngay ở

đó, con người cũng đã biết điều tiết sao cho sự sinh sản phù hợp với điềukiện sản xuất và phù hợp với nhu cầu xã hội

Như vậy, có thể nói, trong quan niệm của triết học Mác - Lênin, conngười bằng hoạt động lao động của mình đã làm biến đổi bản chất tự nhiên

và tạo ra bản chất xã hội của chính mình

Con người không chỉ sống trong môi trường tự nhiên, mà còn sốngtrong môi trường xã hội, nên tự nhiên và xã hội trong mỗi con người gắn bókhăng khít với nhau Yếu tố sinh học trong mỗi con người không phải tồntại bên cạnh yếu tố xã hội, mà chúng hòa quyện vào nhau và tồn tại trongyếu tố xã hội Bản tính tự nhiên của con người được chuyển vào bản tính

xã hội của con người và được cải biến ở trong đó Trong công trình hợptác: "Con người-những ý kiến mới về một đề tài cũ", các tác giả Liên Xô và

Trang 24

Cộng hòa dân chủ Đức đều cho rằng thông qua bản tính xã hội, bản tính tựnhiên của con người được biến đổi về chất và thường gắn liền với quá trìnhbiến đổi của con người về tự nhiên Song, khi lý giải vấn đề này, người ta

đã quên rằng quá trình đó chỉ là quá trình xuất hiện của xã hội, là sự mởđầu cho quá trình lịch sử phát triển và trưởng thành của con người thôngqua sự phát triển của những quan hệ xã hội Xã hội, như C Mác đã chỉ rõ,cho dù tồn tại với hình thức nào đi chăng nữa, thì nó vẫn cứ là sản phẩmcủa sự tác động qua lại giữa con người với con người

Trong triết học Mác - Lênin, hoạt động của con người chủ yếu làhoạt động lao động sản xuất, hoạt động cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội vàthông qua những hoạt động này, con người cải tạo chính bản thân mình,làm cho con người ngày càng hoàn thiện Chính những hoạt động này chứkhông phải là cái gì khác đã làm biến đổi mặt sinh học của con người vàlàm cho nó mang tính người-tính xã hội Và cũng chính hoạt động thực tiễn

ấy đã làm cho những nhu cầu sinh vật ở con người trở thành nhu cầu xãhội Với quan niệm này, trong: "Vai trò của lao động trong quá trình vượnbiến thành người", Ăngghen đã viết: "Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiêncủa toàn bộ đời sống của con người, và như thế đến một lúc mà trên một ýnghĩa nào đó, chúng ta phải nói: Lao động đã sáng tạo ra chính bản thâncon người" [69, 20, tr 641] Con người tồn tại gắn liền với lao động, bởinhờ có lao động mà con người thỏa mãn những nhu cầu của cuộc sống Vìthế, lao động không chỉ trở thành thuộc tính chung của con người, lao độngcòn được xã hội hóa

Trong quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, con người làsản phẩm của sự phát triển cao nhất của tự nhiên, con người gắn bó chặtchẽ với tự nhiên, tự nhiên là thân thể vô cơ của con người; và bằng hoạtđộng thực tiễn của mình, nhất là hoạt động sản xuất, con người đã biếnthuộc tính tự nhiên của mình thành bản chất xã hội Chỉ có trong xã hội,

Trang 25

con người mới thể hiện bản chất của mình Tự nhiên và xã hội thống nhấtvới nhau trong bản chất con người Con người là một tổng thể tồn tại baogồm cả hai mặt tự nhiên và xã hội Con người chính là "động vật xã hội",động vật biết chế tạo và sử dụng công cụ lao động, động vật tự nhận thứcđược mình, tự cải tạo chính mình Con người không chỉ gắn với tự nhiên,

mà còn có khả năng làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội Con người vừa làchủ thể của nhận thức, vừa là khách thể của nhận thức Con người, đó làcon người hiện thực, con người nhục thể, đứng vững trên mảnh đất vữngchắc để thu hút vào mình và tự mình lại tỏa ra tất cả các lực lượng tựnhiên Con người hiện thực, theo quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩaMác, được thể hiện ra thông qua hoạt động thực tiễn hết sức phong phú của

nó Bằng hoạt động thực tiễn, con người hình thành nên những phẩm chấtđặc thù của nó, những phẩm chất mà không một loài vật nào có được-phẩmchất xã hội Từ đó, các ông cho rằng bản chất đặc thù của con người khôngphải là ở thân xác, máu thịt của nó, không phải là ở thể xác trừu tượng của

nó, mà là phẩm chất xã hội của nó

Bản chất ấy của con người đã được các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác

đề cập đến trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể, gắn với một thời đại nhấtđịnh Như vậy, có thể nói luận điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác vềbản chất con người không những chỉ vạch ra cái bản chất tộc loại chungcủa con người, phân biệt con người với con vật, mà quan trọng hơn là nó

đã vạch ra cái bản chất cụ thể - xác định của con người, để qua đó, cùngvới quá trình cải tạo tự nhiên và xã hội, con người cũng cải tạo luôn cả bảnchất của chính mình, nâng mình lên cao hơn nữa Luận điểm ấy chỉ chochúng ta thấy thế nào là bản chất con người nói chung, thấy rõ bản chất ấybiến hình như thế nào trong mỗi thời đại lịch sử nhất định, bởi bất kỳ lịch

sử nào cũng không phải là cái gì khác, mà là sự biến đổi không ngừng củabản chất con người [56, tr 67]

Trang 26

Bản chất con người chính là cái chung của con người, nhưng trongmỗi thời đại lịch sử, bản chất ấy lại thể hiện những nét riêng Cái chung vànét riêng ở đây thống nhất biện chứng với nhau, chuyển hóa cho nhau Ởnhững thời đại khác nhau, bản chất con người hiện ra với những đặc điểmkhác nhau Điều này được lý giải bởi xã hội loài người luôn luôn vận động

mà con người lại là sản phẩm của xã hội, vì thế, nó cũng biến đổi theo Conngười của thời đại nào thì mang dấu ấn của thời đại ấy Trong xã hội có sựphân chia giai cấp, bản chất của con người tất mang tính chất giai cấp

Như vậy, rõ ràng là trong quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩaMác, con người không phải là cái gì trừu tượng, mà là sản phẩm của tựnhiên, của xã hội, mang tính lịch sử-cụ thể Con người-đó là con người hiệnthực, con người cụ thể, cảm tính Bản chất của con người được thể hiện ra,tồn tại và phát triển trong lao động sản xuất, trong hoạt động chinh phục tựnhiên và đấu tranh giai cấp, cải tạo xã hội của con người Bản chất conngười do những mối quan hệ xã hội quy định

Để thấy rõ bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội,chúng ta cần hiểu rằng, bản chất ấy của con người không phải là tổng sốgiản đơn các quan hệ xã hội phức tạp, đan chéo nhau, mà đó là sự khái quáttất thảy những quan hệ xã hội của con người, và đó là một cái mới, khác vềchất so với những quan hệ cụ thể Sự tổng hòa những quan hệ xã hội đã trởthành thuộc tính bản chất của con người và nó được truyền từ thế hệ nàysang thế hệ khác Trong xã hội có giai cấp, bản chất con người mang tínhchất giai cấp, tính giai cấp trở thành quan hệ đặc trưng của xã hội, của mỗicon người trong xã hội đó

Quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác về bản chất conngười còn đòi hỏi chúng ta phải hiểu rằng, bản chất ấy của con người vừaphản ánh cái chung của sự phát triển xã hội loài người, lại vừa phản ánh cáiriêng biệt của mỗi thời đại lịch sử Nói cách khác, tuy con người có bản

Trang 27

chất chung xuyên suốt mọi thời đại, nhưng cái chung ấy lại được biểu hiệnthông qua cái riêng Con người bao giờ cũng là con người riêng biệt, conngười cụ thể của những thời đại lịch sử cụ thể, của mỗi giai đoạn lịch sửnhất định Con người ấy sống trong những tập đoàn người nào đó, song nóvẫn mang bản chất chung của nhân loại Do đó, trong xã hội có giai cấp,con người là con người giai cấp, nhưng nó đồng thời cũng là con người nóichung, phát triển cùng với sự phát triển của lịch sử nhân loại Cái chung ấy

là cái chung biện chứng [104, tr 137]

Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác không bàn đến toàn bộ vấn đề conngười Trước hết các ông phê phán chủ nghĩa duy vật siêu hình của Phoiơbắc,khi nhà duy vật này xuất phát từ "sự tha hóa về mặt tôn giáo" để "hòa tanbản chất tôn giáo vào bản chất con người" Đây là một phát hiện có giá trịkhoa học to lớn Với phát hiện này, các ông đã vượt qua tất cả những hiệntượng không bản chất vây quanh con người, bỏ qua những yếu tố khôngbản chất và, do đó, tránh được quan niệm siêu hình và duy tâm về conngười-điều mà các nhà triết học trước C Mác đều vấp phải-để đến được cái

có tính bản chất của con người Theo các ông, con người không phải dothần linh, Thượng đế sáng tạo ra; con người cũng không phải là một sinhvật thuần túy; con người càng không phải là sản phẩm, hiện thân của lối tưduy tư biện; sự xuất hiện của con người vừa là kết quả của sự phát triển lâudài của tự nhiên, vừa là kết quả của sự hoạt động thực tiễn của con người.Chính hoạt động thực tiễn phong phú và đa dạng của con người, hoạt độngtạo nên quan hệ giữa người với người mới là cái giữ vai trò quyết định, mới

là cái nói lên bản chất của con người

Sự phát triển của con người trong thời đại này cho phép chúng takhẳng định một cách chắc chắn rằng, quan niệm của các nhà sáng lập chủnghĩa Mác về bản chất con người hoàn toàn khác với các quan niệm về conngười trong lịch sử tư tưởng nhân loại trước các ông Với quan niệm này,

Trang 28

các ông đã thể hiện một cách nhìn mới, cách nhìn biện chứng, khoa học, vềbản chất con người, tạo nên một bước ngoặt mang tính cách mạng tronglĩnh vực tư tưởng về con người Quan niệm của các ông đã xóa tan lớpsương mù mờ ảo, thần bí vây quanh con người bấy lâu, đồng thời, vạch rabản chất đích thực, đầy sức thuyết phục về con người Quan niệm của cácông có giá trị to lớn cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn Quan niệm này thực sự

đã trở thành cơ sở lý luận cho nhiều ngành khoa học đang nghiên cứu vềcon người, đồng thời, nó cũng là cơ sở vững chắc cho lý luận đấu tranh giaicấp, giải phóng con người khỏi lao động đã bị tha hóa trong chủ nghĩa tưbản; khỏi ách áp bức bóc lột, bất công, trả lại giá trị đích thực của conngười cho con người; tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện, đểcon người vươn tới tự do Tư tưởng khẳng định "bản chất con người là tổnghòa những mối quan hệ xã hội" của các ông còn cho thấy, trong quan niệmcủa các ông, con người không chỉ luôn tồn tại trong mối quan hệ conngười-tự nhiên-xã hội, mà con người là chủ thể của lịch sử, con người sángtạo ra lịch sử của chính mình

Quan niệm của các nhà sáng lập của nghĩa Mác về con người xuấtphát từ con người, đấu tranh vì tự do, bình đẳng, vì hạnh phúc và sự pháttriển toàn diện của con người, lấy con người làm trung tâm cho sự pháttriển xã hội Với học thuyết khoa học ấy, các ông đã chỉ rõ tiến trình pháttriển của lịch sử nhân loại được quy định bởi sự phát triển của lực lượngsản xuất xã hội, trong đó, sự phát triển con người, trước hết là người laođộng, giữ vai trò quan trọng Hơn nữa, sự phát triển của lực lượng sản xuất

mà trong đó, người lao động giữ vai trò trung tâm, nói lên trình độ chinhphục tự nhiên của con người và quyết định mối quan hệ giữa con người vớicon người trong sản xuất, từ đó, quyết định luôn những quan hệ còn lại của

họ trong xã hội Con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vậtchất, là yếu tố hàng đầu, đóng vai trò quyết định của lực lượng sản xuất,

mà còn đóng vai trò chủ thể hoạt động của quá trình lịch sử, con người

Trang 29

thông qua sản xuất vật chất của mình đã sáng tạo ra lịch sử của chính mình.

Sự phát triển của lực lượng của sản xuất vừa thúc đẩy sự phát triển xã hội,vừa thúc đẩy sự phát triển chính bản thân con người-chủ thể xã hội

Con người vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của quá trình phát triểnlịch sử Lịch sử của xã hội loài người không chỉ là một hệ thống những sựkiện được tạo nên bởi những điều kiện khách quan, mà còn là một hệ thốngnhững hoạt động do con người thực hiện Con người là sản phẩm của hoàncảnh, nhưng chính con người lại là chủ thể của tất cả những biến đổi to lớncủa hoàn cảnh khách quan xung quanh con người Con người vừa là tiền đềthường xuyên của lịch sử, vừa là sản phẩm, kết quả thường xuyên của lịch

sử Hoàn cảnh tạo ra con người và con người làm thay đổi hoàn cảnh là sựthống nhất biện chứng trong quá trình phát triển xã hội

1.2 CON NGƯỜI - CHỦ THỂ SÁNG TẠO CỦA LỊCH SỬ

Sự tồn tại của con người bắt nguồn không phải từ tinh thần, khôngphải từ sự vận động của ý thức Sự tồn tại ấy mang tính chất tự nhiên, vật

chất-cảm tính Khi khẳng định con người với tư cách là một thực thể tự nhiên đặc thù, tồn tại trong mối liên hệ và tác động qua lại khăng khít với các vật thể tự nhiên khác, C.Mác cũng cho rằng, những sức mạnh và khát

vọng đặc trưng cho con người với tư cách thực thể tự nhiên tích cực, vềthực chất, là những sức mạnh tự nhiên C.Mác viết: "Những đối tượng củabản năng của nó tồn tại bên ngoài nó như những đối tượng không phụ thuộcvào nó; nhưng những đối tượng ấy là những đối tượng của nhu cầu của nó;

đó là những đối tượng tự nhiên, chủ yếu đối với sự biểu hiện và sự xácnhận của những lực lượng bản chất của nó Con người là thực thể nhục thể,

có những lực lượng tự nhiên, sinh động, hiện thực, cảm tính, đối tượng hóa,điều đó có nghĩa là con người có những đối tượng hiện thực, cảm tính làmđối tượng của bản chất của mình, của biểu hiện sinh hoạt của mình hoặccon người chỉ có thể biểu hiện sinh hoạt của mình dựa trên những đối

Trang 30

tượng hiện thực, tự nhiên, cảm tính, điều đó cũng tức là có đối tượng, tựnhiên, cảm tính ở bên ngoài mình hoặc bản thân mình là đối tượng, tựnhiên, cảm tính đối với một thực thể thứ ba nào đó" [67, tr 201].

Với quan niệm như vậy về hoạt động của con người, các nhà sánglập chủ nghĩa Mác cho rằng, sự tha hóa là một sự kiện mang tính cảm tính,hoàn toàn hiện thực của đời sống con người C.Mác viết: "Hoàn toàn tựnhiên là thực thể sống, tự nhiên, được võ trang bằng những lực lượng bản

chất bẩm sinh, có tính chất đối tượng, nghĩa là vật chất cũng có những đối tượng tự nhiên hiện thực của bản chất của mình, cũng giống như sự tự tha hóa của thực thể là sự thiết định một thế giới đối tượng hiện thực nào đó, nhưng hiện ra dưới hình thức tính bên ngoài và do đó không thuộc về bản

chất của nó và thống trị nó Ở đây không có gì là không thể hiểu và huyền

bí cả Trái lại, cái ngược lại mới là huyền bí" [67, tr 199] Với tư cách làmột hiện thực thực tế có thể cảm nhận được, một phương thức tồn tại hiệnthực của con người trong thế giới đối tượng, sự tha hóa không thể bị lột bỏbởi sự vận động nào đó của ý thức tự nó Việc khắc phục sự tha hóa ấyluôn đòi hỏi những hoạt động vật chất hiện thực

Như vậy, khi xuất phát từ lập trường duy vật, từ quan niệm duy vật

về lịch sử, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã phát hiện ra tính khách quantrong đời sống sinh hoạt của con người, tính khách quan trong các hìnhthức vận động của đời sống con người Và từ đó, các ông đã đi tới quanniệm coi con người và đời sống xã hội của con người là các hình thức tồntại vật chất-tự nhiên Từ đó có thể nói, để có thể nhận thức được bản chấtcon người và đời sống xã hội của con người trong tính quy định đặc thù của

nó, phải xuất phát từ lập trường thế giới quan duy vật Trong "LutvíchPhoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức", Ph.Ăngghen đã nói

về điều này, khi ông thừa nhận sự đúng đắn của Phoiơbắc trong việc phêphán tính chất phiến diện trong quan niệm của chủ nghĩa duy vật cũ về con

Trang 31

người Theo ông, "Phoiơbắc đã hoàn toàn đúng, khi ông nói rằng chủ nghĩaduy vật thuần túy tự nhiên là "cơ sở của tòa kiến trúc tri thức con người,nhưng không phải là bản thân tòa kiến trúc đó" Vì chúng ta không nhữngchỉ sống trong thế giới tự nhiên, mà còn sống trong xã hội loài người, mà

xã hội loài người thì cũng có lịch sử phát triển của nó, không kém gì tựnhiên" Và do vậy, theo Ph.Ăngghen, "Vấn đề là làm cho khoa học xã hội,nghĩa là toàn bộ những khoa học được gọi là khoa học lịch sử và triết học,phù hợp với cơ sở duy vật chủ nghĩa và xây dựng lại khoa học xã hội phùhợp với cơ sở đó" [69, 21, tr 412] Cũng với một quan niệm như vậy, saunày V.I.Lênin đã khẳng định rằng: "Trong khi nghiên cứu sâu và phát triểnchủ nghĩa duy vật triết học, C.Mác đã đưa học thuyết đó tới chỗ hoàn bị và

mở rộng học thuyết ấy từ chỗ nhận thức giới tự nhiên đến chỗ nhận thức xãhội loài người" [54, tr 53], rằng, "do vận dụng triết học duy vật vào lĩnhvực lịch sử, vào lĩnh vực các khoa học xã hội, nên chủ nghĩa duy vật biệnchứng của C.Mác và Ph.Ăngghen đi xa hơn nhóm Bách Khoa toàn thư vàPhoiơbắc" [57, tr 514]

L.Phoiơbắc coi con người là một thực thể tự nhiên đặc biệt và tínhđặc thù ấy là ở chỗ, con người là một thực thể tộc loại (loài), có khả nănghiểu được tộc loại của mình và có quan hệ với bản thân mình như với tộcloại của mình, và qua đó, đạt tới tính tộc loại của các sự vật khác Còn

C.Mác thì cho rằng: "Con người không phải chỉ là thực thể tự nhiên, nó là thực thể tự nhiên có tính chất người (chúng tôi nhấn mạnh-V.T.V), có

nghĩa là thực thể tồn tại cho bản thân mình và do đó là thực thể tộc loại Nóphải biểu hiện và tự khẳng định như là thực thể tộc loại trong tồn tại của nócũng như trong tri thức của nó" [67, tr 203] Tuy nhiên, những kết quả màC.Mác và Phoiơbắc rút ra từ quan niệm của mình lại rất khác nhau Xuhướng chung trong quan niệm về con người của Phoiơbắc là đi từ chủnghĩa duy vật đến chủ nghĩa duy tâm Còn C.Mác thì đi từ quan niệm duy

Trang 32

vật chung về con người đến quan niệm duy vật lịch sử về con người.Phoiơbắc đã không thể biến lôgíc chung của chủ nghĩa duy vật thành lôgíccủa quan niệm duy vật về đời sống xã hội của con người, và do vậy, quanniệm về tộc loại ở ông chỉ là một kết cấu hoàn toàn tư biện C.Mác đã cụthể hóa các nguyên lý chung của chủ nghĩa duy vật thành các nguyên lýcủa quan niệm duy vật về con người và xã hội, trên cơ sở đó, ông đã xâydựng nên hệ thống khái niệm thể hiện tính thực tại đặc thù của đời sốngcon người.

Khi xem xét mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, các nhà sánglập chủ nghĩa Mác luôn đặt trọng tâm vào sản xuất, vào đời sống sản xuất củacon người mà các ông đánh giá là đời sống tộc loại của con người "Côngnghiệp là quan hệ lịch sử hiện thực của tự nhiên và do đó cả của khoa học tựnhiên đối với con người" [67, tr 140] "Còn đối với con người, -C.Mác nhấnmạnh, -thì ruộng đất tồn tại chỉ thông qua lao động, canh tác" [67, tr 120].Với quan niệm ấy, các ông coi tính đặc thù của tồn tại con người là ở chỗ,

sự tồn tại của con người dựa trên quá trình sản xuất, trên sự cải tạo thựctiễn thế giới vật chất Với các ông, lịch sử nhân loại, lịch sử xã hội loàingười bao giờ cũng phải bắt đầu từ hoạt động sản xuất vật chất của conngười Và do vậy, theo các ông, tự nhiên tồn tại đối với con người với tưcách con người chỉ trong quá trình sản xuất, trong hoạt động lao động củacon người Xem xét mối quan hệ của con người với tự nhiên mà lại trừutượng hóa nó khỏi quá trình sản xuất và lao động như Phoiơbắc đã làm (đốivới Phoiơbắc, quan hệ lao động thực tiễn của con người với thế giới chỉ tồntại với tư cách là sự thể hiện lao động thực tiễn của con người với thế giớichỉ tồn tại với tư cách là sự thể hiện tự ý thức ích kỉ-vụ lợi của con người),theo các ông, là một sai lầm Bởi lối xem xét như vậy đã gạt bỏ, tước mất

cơ sở nền tảng, vốn có của tồn tại con người, đưa nó ra khỏi lĩnh vực phântích duy vật

Trang 33

Khi lấy hoạt động sản xuất làm xuất phát điểm trong việc xem xétmối quan hệ của con người với tự nhiên, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác

đã vạch rõ tính chất lịch sử của mối quan hệ đó Với tư cách là tiền đề, làđiều kiện cho đời sống con người, là khách thể có quan hệ với con người,

tự nhiên trở thành kết quả lịch sử Tự nhiên ấy được mở ra cho con ngườitrong sự phong phú vô tận của nó, mang lại những cái cần thiết cho đờisống con người cùng với quá trình phát triển của bản thân con người, tạonên sức mạnh vật chất và khả năng sáng tạo của con người C.Mác viết:

"Nếu những đối tượng có tính chất người không phải là những đối tượng tựnhiên dưới hình thức như những đối tượng này trực tiếp có sẵn trong tựnhiên, thì cảm giác của con người như nó tồn tại trực tiếp, trong tính đốitượng của con người Tự nhiên theo ý nghĩa khách quan, cũng như tự nhiêntheo ý nghĩa chủ quan đều không được đem lại một cách trực tiếp và phùhợp cho thực thể con người" [67, tr 203] Do vậy, "toàn bộ cái gọi là lịch

sử toàn thế giới", theo C.Mác, là "sự sáng tạo con người kinh qua lao độngcủa con người, sự sinh thành của tự nhiên cho con người" [67, tr 145] Vaitrò của lao động đối với sự hình thành và phát triển của con người đã đượcPh.Ăngghen đề cập một cách hết sức rõ ràng trong bài viết: "Tác dụng củalao động trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người" Theo ông, laođộng của con người là điều kiện cơ bản, đầu tiên của toàn bộ đời sống loàingười, là cái đã sáng tạo ra bản thân con người [69, 20, tr 641-658] Trong

"Tư bản", C.Mác chỉ rõ, lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữacon người và tự nhiên, trong đó, bằng hoạt động của mình, con người "làmtrung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên" Conngười đối diện với thực thể của tự nhiên với tư cách là một lực lượng của tựnhiên Để chiếm hữu sản phẩm tự nhiên, con người vận dụng sức mạnh tựnhiên thuộc về thân thể của họ Tác động vào tự nhiên thông qua sự vận

Trang 34

động ấy, con người làm thay đổi tự nhiên và, qua đó, làm thay đổi chínhbản thân mình, thay đổi bản tính của mình [69, 23, tr 266].

Khi khẳng định một đặc trưng cơ bản đối với con người với tư cáchthực thể tộc loại là tính phổ biến, C.Mác đã gắn tính phổ biến ấy với sảnxuất Ông viết: "Về mặt thực tiễn, tính phổ biến của con người biểu hiện rachính ở trong cái tính phổ biến nó biến toàn bộ tự nhiên thành thân thể vô

cơ của con người, vì một là tự nhiên dùng làm tư liệu sinh hoạt trực tiếpcho con người và hai là nó dùng làm vật chất, đối tượng và công cụ củahoạt động sinh hoạt của con người Giới tự nhiên là thân thể vô cơ của conngười, và nó chính là giới tự nhiên trong chừng mực bản thân nó không phải

là thân thể con người Con người sống dựa vào tự nhiên (Chúng tôi nhấn

mạnh-V.T.V)" [67, tr 91-92] Trong "Biện chứng của tự nhiên", Ph.Ăngghen

đã chứng minh rằng con người không chỉ là sản phẩm của tự nhiên, mà còn

là sản phẩm cao nhất của sự tiến hóa của vật chất, là bộ phận đặc biệt của

tự nhiên Như vậy, đối với các ông, luận điểm cho rằng "tự nhiên là thânthể vô cơ của con người" không phải là một ẩn dụ hay nghịch lý Đó là mộtluận điểm lý luận hoàn toàn xác định mà sau này, C.Mác đã trở lại với luậnđiểm này, khi ông viết "Tư bản" Luận điểm này có một ý nghĩa phươngpháp luận to lớn đối với hàng loạt vấn đề về nhận thức con người, trong đó

có vấn đề về mối tương quan giữa cái xã hội và cái sinh học trong conngười Không tính đến luận điểm nêu trên của các nhà sáng lập chủ nghĩaMác, vấn đề này không thể được đặt ra đầy đủ, chứ chưa nói tới việc giảiquyết triệt để Thiếu nó, khó có thể tránh khỏi thiên hướng tự nhiên chủnghĩa, sinh học chủ nghĩa, sùng bái lý luận trừu tượng trong cách tiếp cận,trong cách lý giải vấn đề con người

Tính tự nhiên đặc thù của con người còn được các nhà sáng lập chủnghĩa Mác phân tích trong bối cảnh lao động bị tha hóa Xem xét vấn đề

Trang 35

này, các ông đã đặt ra vấn đề sự tha hóa của tự nhiên khỏi con người Ởđây, các ông không nói tới những trừu tượng nào đó, mà nói về các sự kiệnhoàn toàn hiện thực, thể hiện tính quy định lịch sử-cụ thể của nên sản xuấtnhân loại Các ông coi sự tha hóa của tự nhiên khỏi con người là cái xuấthiện từ địa vị hiện thực của người công nhân trong quá trình sản xuất tưbản chủ nghĩa Đề cập đến vấn đề này, các ông cho rằng người công nhân

là một thực thể tự nhiên sống động, "hoạt động một cách có đối tượng"trong thế giới tự nhiên Ở họ có sự phụ thuộc song trùng vào tự nhiên: mộtmặt, họ nhận được ở tự nhiên các đối tượng và phương tiện lao động củamình; mặt khác, họ cũng nhận được ở tự nhiên các phương tiện sinh hoạtcủa mình với tư cách một cơ thể vật lý "Công nhân-C.Mác viết, - khôngthể sáng tạo ra cái gì hết, nếu không có tự nhiên, nếu không có thế giới cảmtính bên ngoài" [67, tr 86] C.Mác cho rằng cần phải nhấn mạnh điều đó,bởi nó quan trọng không những để đối lập quan niệm duy vật với cách lýgiải duy tâm về tồn tại con người và tính tích cực của con người, mà còn đểchỉ rõ địa vị bị áp bức của người công nhân làm thuê, để vạch rõ nguồn gốckhiến cho họ phụ thuộc vào nhà tư sản, và hơn nữa, để thấy rõ sự cần thiếtphải giải phóng họ Sau này C.Mác đã quay lại tư tưởng đó, đào sâu vàphát triển nó trong "Tư bản" và các tác phẩm khác Chẳng hạn, trong "Phêphán Cương lĩnh Gôta", ông viết: "Bọn tư sản có những lý do quan trọng để

gán cho lao động cái sức sáng tạo siêu tự nhiên đó, vì chính là do lao động

bị tự nhiên quyết định cho nên người nào khác ngoài sức lao động củamình ra thì trong mọi trạng thái xã hội và văn hóa, đều nhất định sẽ phảilàm nô lệ cho những kẻ khác nắm trong tay những điều kiện vật chất củalao động Người đó chỉ có thể lao động và do đó chỉ có thể sinh sống, khiđược những kẻ này cho phép" [69, 19, tr 27]

Nhận thấy tính được thiết định hiển nhiên của lao động trong hệthống lao động bị tha hóa đã dẫn tới việc tách rời người công nhân khỏi các

Trang 36

yếu tố vật chất, tới sự lệ thuộc theo kiểu nô lệ của họ vào các yếu tố này,C.Mác đã khẳng định rằng người công nhân trở thành nô lệ cho đối tượngcủa mình về hai phương diện: một là, anh ta nhận được đối tượng cho laođộng, nghĩa là nhận được công việc làm và, hai là, anh ta nhận được tư liệusinh hoạt Do đó, chỉ có một người công nhân và như một "chủ thể nhụcthể" "Chỉ có với tư cách là công nhân thì anh ta mới có thể duy trì sinh tồncủa mình như một chủ thể nhục thể và chỉ có với tư cách chủ thể nhục thểthì anh ta mới là công nhân" [67, tr 86-87].

Những suy luận đó bắt nguồn từ tiền đề duy vật của C.Mác về tính

tự nhiên của con người Vì con người là một thực thể tự nhiên, nên xét trênbình diện nguồn gốc, sự phát triển và sự thực hiện bản tính ấy một cáchhiện thực thì tồn tại con người, đời sống xã hội của con người chỉ có thểnhận thức được thông qua tự nhiên Nhưng trong khuôn khổ của tiền đềduy vật chung đó, C.Mác đã thể hiện định hướng đặc thù của sự phát triểncon người Ở ông, tự nhiên với tư cách cơ sở chung cho sự phát triển conngười là cơ sở cụ thể, trực tiếp của con người Bởi vậy, xu hướng lịch sửphải được thể hiện với tư cách là một mệnh lệnh nào đó đối với sự vậnđộng của tự nhiên, là xu hướng và lực lượng khởi thủy của tự nhiên Việccon người là thực thể tự nhiên không đơn giản mà đó là quá trình hìnhthành một kiểu quan hệ nhất định của con người, là sự khẳng định phươngthức tồn tại đích thực của con người cũng như sự xuất hiện xã hội thực sựcủa con người

Như vậy, có thể nói, khi xem xét mối quan hệ giữa con người và tựnhiên, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã đi đến khẳng định rằng xã hội là

sự thống nhất hoàn hảo giữa con người và tự nhiên, là sự phục hồi đíchthực của tự nhiên, là chủ nghĩa tự nhiên đã hiện thực hóa của con người, làchủ nghĩa nhân đạo đã hiện thực hóa tự nhiên

Trang 37

Quan hệ của con người với tự nhiên, sự tác động của con người vào

tự nhiên nhằm khai thác và chinh phục tự nhiên theo quan niệm của cácnhà sáng lập chủ nghĩa Mác mà chúng tôi đã trình bày trên, sẽ không thểhiểu được, nếu không tính đến mối quan hệ qua lại giữa người với người,tính quy định lẫn nhau, sự trao đổi hoạt động và sản phẩm giữa họ, tức là

không tính đến tính chất xã hội của bản chất con người Bởi, tính quy định

tộc loại của con người là ở chỗ, con người không phải là một thực thể tách

biệt, khép kín Con người là một thực thể xã hội, đời sống sinh hoạt của nó

là một quá trình xã hội, xét về thực chất Quá trình này được thực hiện như

là tổng hòa các quan hệ con người, các quan hệ xã hội.

Nhưng, khái niệm "loài người" không chỉ được hiểu là khái niệmxác nhận tính chất xã hội của đời sống sinh hoạt của con người "Loàingười" - đó không đơn giản là xã hội không có liên quan gì tới các hìnhthức và phương thức tổ chức cụ thể của nó "Loài người" là xã hội trongtính đích thực của nó, là xã hội tự nó, phù hợp với nội dung khái niệm của

nó Do vậy, khái niệm "loài người" không đơn giản là một cấu trúc lý luận

mô tả thực tại hiện hữu và thể hiện ra là công cụ để tiếp tục nghiên cứu và lýgiải nó, cho phép tiên đoán con đường phát triển tiếp theo của nó Cái đượcđặt lên vị trí hàng đầu trong khái niệm "loài người" là chức năng đánh giá hiệnthực căn cứ vào mô hình xã hội chân chính, là yêu cầu thực hiện mô hìnhchân chính đó vào cuộc sống

Các mối quan hệ xã hội của con người là cái tạo thành tính quy địnhnội tại, cơ bản của đời sống sinh hoạt của con người Việc phát hiện ra hoạtđộng sản xuất, hoạt động thực tiễn với tư cách là cơ sở trong đời sống sinhhoạt xã hội của con người đã cho phép các nhà kinh điển mác xít tiếp cậntheo một cách mới với việc phân tích mối quan hệ giữa người với người.Tính chất đối tượng của hoạt động cũng được các ông hiểu là tính chất đốitượng của quan hệ giữa người với người C.Mác cho rằng: "Đối tượng tức

Trang 38

là sản phẩm trực tiếp của hoạt động của cá tính con người đồng thời cũng làtồn tại của bản thân con người đối với người khác, cũng là tồn tại củangười khác và tồn tại của người sau đối với người trước như thế nào" [67,

tr 130] Trong "Gia đình thần thánh", C.Mác và Ph.Ăngghen viết: "Vật thể,

với tư cách là sự tồn tại vì con người, với tư cách là sự tồn tại vật thể của con người thì đồng thời cũng là sự tồn tại hiện có của con người vì người khác, là quan hệ người của anh ta đối với người khác, là quan hệ xã hội của người đối với người" [69, 2, tr 65] Nhận xét về luận điểm này của

C.Mác và Ăngghen, trong "Bút ký triết học", V.I.Lênin đã khẳng định đây

là luận điểm "hết sức đặc sắc, vì nó vạch rõ Mác đã tiến gần như thế nàođến tư tưởng cơ bản của toàn bộ "hệ thống" của ông , tức là tư tưởng vềnhững quan hệ sản xuất xã hội" [56, tr 17]

Gắn quan hệ xã hội với nội dung đối tượng của hoạt động conngười, với sự vận động của bản chất con người dưới hình thức đối tượng,các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã đi đến một quan niệm duy vật về quan

hệ xã hội Quan hệ xã hội, theo các ông, không phải là các sơ đồ lôgíc, cáctâm thế và cảm xúc nhất định của con người, mà là toàn bộ các yếu tố vàđiều kiện hiện thực, vật chất - cảm tính, chúng trung gian hóa sinh hoạt củacon người, quy định các phương thức và hình thức vận động của mối liên

hệ ấy trong nội dung con người Với cách tiếp cận như vậy, các ông đãchống lại các quan niệm hình thức chủ nghĩa về quan hệ xã hội, chống lạicác quan niệm mô tả quan hệ xã hội của con người như là một hình thứctrống rỗng nào đó, bao bọc một nội dung con người xác định, bảo đảm sự

tự do ít hay nhiều trong việc thể hiện nội dung con người đó Theo quanđiểm của các ông, quan hệ xã hội của con người khi được xem xét dướimột góc độ nhất định là toàn bộ các mối liên hệ của con người trong sựtrung gian hóa đối tượng của chúng, là toàn bộ những hoạt động có kế thừacủa con người

Trang 39

Điểm tiếp theo cần đề cập tới trong quan niệm của các nhà sáng lậpchủ nghĩa Mác về bản chất xã hội của con người, theo chúng tôi, là vấn đềmối quan hệ giữa cá nhân với xã hội Nói về mối quan hệ giữa cá nhân và

xã hội, các ông cho rằng, vì bản chất của con người là mối liên hệ xã hộichân chính giữa người với người, nên trong quá trình thực hiện bản chấtcủa mình, nhờ hoạt động mà con người sáng tạo ra, sản xuất ra các mốiquan hệ xã hội, bản chất xã hội của mình, bản chất này không phải là mộtlực lượng phổ biến, trừu tượng nào đó, đứng đối lập với cá nhân riêng biệt,

mà là bản chất của mỗi cá nhân riêng biệt, là hoạt động, là sinh hoạt, là sựhưởng thụ, là sự phong phú của bản thân con người Và theo các ông,những cá nhân con người như thế nào thì bản thân mối quan hệ xã hội đócũng là như vậy Với quan niệm ấy, các ông cho rằng khi nói tới mối quan

hệ của con người với xã hội, đặc biệt phải tránh không được đối lập lại lầnnữa "xã hội" với tính cách là một sự trừu tượng với cá nhân Cá nhân là

thực thể xã hội Cho nên mọi biểu hiện sinh hoạt của nó - ngay cả nếu nó không xuất hiện dưới hình thức trực tiếp của biểu hiện sinh hoạt tập thể,

được hoàn thành đồng thời với những người khác-là biểu hiện và sự khẳng

định của sinh hoạt xã hội Bởi sinh hoạt cá nhân và sinh hoạt tộc loại của con người không phải là một cái gì khác biệt, mặc dù phương thức tồn tại của sinh hoạt cá nhân tất nhiên là một biểu hiện hoặc là đặc thù hơn, hoặc

là phổ biến hơn của sinh hoạt tộc loại, còn sinh hoạt tộc loại là một sinh

hoạt cá nhân hoặc là đặc thù hơn, hoặc là phổ biến hơn [67, tr 132]

Với tư tưởng này, trước hết các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác nhằmchống lại sự mô tả đời sống xã hội của con người trên lập trường của chủnghĩa duy tâm tư biện Theo cách mô tả của chủ nghĩa duy tâm tư biện thìnhững nhân tố và các khâu riêng biệt của đời sống xã hội đã được nâng cấplên cấp độ các lực lượng, các chủ thể độc lập mà đối với chúng, hoạt độngcủa các cá nhân hiện thực chỉ là vật liệu để chúng bộc lộ tính tích cực

Trang 40

Theo đó, toàn bộ quá trình nhận thức xã hội đã bị thần bí hóa: Việc nghiêncứu các điều kiện tồn tại, tình cảnh sinh hoạt, khát vọng, hoạt động của các

cá nhân kinh nghiệm là cái không có một ý nghĩa mang tính nguyên tắc, tự

nó, các sự kiện kinh nghiệm không có ý nghĩa, nhận thức chúng có nghĩa lànhận thức sự thể hiện, sự hiện thực hóa "lực lượng phổ biến - trừu tượng"của chủ thể siêu hình

Về phương diện phương pháp luận, quan điểm trên của C Mác đãđem lại một định hướng mới cho sự nhận thức xã hội Theo quan điểm nàycủa C Mác thì việc nghiên cứu xã hội, nghiên cứu tổng thể các quan hệ xãhội chỉ có thể có hiệu quả và đúng đắn, với điều kiện nó được bắt đầu từviệc nghiên cứu những con người hiện thực, nghiên cứu tổng thể nhữngđiều kiện tồn tại hiện thực và hoạt động thực tiễn của con người

Luận điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác về con người với tưcách chủ thể hiện thực của quan hệ xã hội, luận điểm coi xã hội là quá trìnhhoạt động của con người và tất cả những gì diễn ra và tồn tại trong đó, diễn

ra và tồn tại trong hoạt động, trong các mối quan hệ và sự nỗ lực của các cánhân hiện thực, một mặt, là kết quả, là kết luận được rút ra từ sự phê pháncủa các ông đối với sự lý giải tư biện về quá trình lịch sử - xã hội; mặtkhác, nó là tiền đề cho sự nghiên cứu duy vật, lịch sử - cụ thể về quá trìnhsinh hoạt xã hội của con người

Khi phân tích mối quan hệ giữa đời sống cá nhân và đời sống xã hộicủa con người, sinh hoạt cá nhân và sinh hoạt tộc loại của con người, cácnhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã vạch ra sự đồng nhất của chúng Sự phânbiệt cái cá nhân và cái xã hội không phải là đối tượng phân tích lý luận củacác ông, nó vốn được các ông coi là một sự thật Cái xã hội và cái cá nhânđược các ông xem xét không phải với tư cách là những thực tại độc lập nào

đó, không phải là những cái có mối quan hệ bề ngoài với nhau Về thựcchất, chúng là hai mặt của một thực thể thống nhất, chúng trung gian hóa

Ngày đăng: 19/12/2016, 08:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Chí Bảo (1989), "Quyền con người trong chủ nghĩa xã hội", Tạp chí Triết học, (2), tr. 36-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền con người trong chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 1989
2. Hoàng Chí Bảo (1996), "Chủ nghĩa Mác là chủ nghĩa nhân đạo hiện thực mang đặc trưng khoa học và cách mạng", Tạp chí Triết học, (2), tr.16-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa Mác là chủ nghĩa nhân đạo hiện thực mang đặc trưng khoa học và cách mạng
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 1996
3. Trương Khuê Bích (1982), "Hồ Chí Minh và chủ nghĩa nhân đạo", Tạp chí Triết học, (2), tr. 108-120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh và chủ nghĩa nhân đạo
Tác giả: Trương Khuê Bích
Năm: 1982
4. Nguyễn Đức Bình (1994), "Không có chuyện chủ nghĩa Mác- Lênin sụp đổ hay lỗi thời", Tạp chí Cộng sản, (11), tr. 11-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không có chuyện chủ nghĩa Mác- Lênin sụp đổ hay lỗi thời
Tác giả: Nguyễn Đức Bình
Năm: 1994
5. Nguyễn Đức Bình (1998), "Sống mãi tư tưởng vĩ đại của Tuyên ngôn", Tạp chí Cộng sản (5), tr. 10-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống mãi tư tưởng vĩ đại của Tuyên ngôn
Tác giả: Nguyễn Đức Bình
Năm: 1998
6. Bùi Đình Bôn (1990), "Mấy ý kiến về nội dung khái niệm "Giai cấp công nhân" trong giai đoạn hiện nay", Tạp chí Triết học, (4), tr. 59-61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy ý kiến về nội dung khái niệm "Giai cấp công nhân" trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Bùi Đình Bôn
Năm: 1990
7. L.P. Buêva (1980), "Sự hình thành con người mới", Tạp chí Triết học, (4), tr. 137-151 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hình thành con người mới
Tác giả: L.P. Buêva
Năm: 1980
8. Quang Chiến (1984), "Nhân học triết học- một học thuyết về người và chống lại người", Tạp chí Triết học, (1), tr. 93-116 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân học triết học- một học thuyết về người và chống lại người
Tác giả: Quang Chiến
Năm: 1984
9. Quang Chiến (1992), "Về đơn tử người trong nhân học triết học", Tạp chí Triết học, (1), tr. 53-58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về đơn tử người trong nhân học triết học
Tác giả: Quang Chiến
Năm: 1992
10."Chủ nghĩa Mác đã lỗi thời chăng"? Tạp chí Thông tin lý luận, (2), 1990, tr. 2-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa Mác đã lỗi thời chăng
11."Chủ nghĩa Mác như một khoa học: Những thách thức của lịch sử và sự phát triển của lý luận", Thông tin Công tác tư tưởng, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa Mác như một khoa học: Những thách thức của lịch sử và sự phát triển của lý luận
12.Nguyễn Trọng Chuẩn (1980), "Những tư tưởng của Ph.Ăngghen về quan hệ giữa con người và tự nhiên trong "Biện chứng của tự nhiên"", Tạp chí Triết học, (4), tr. 119-139 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tư tưởng của Ph.Ăngghen về quan hệ giữa con người và tự nhiên trong "Biện chứng của tự nhiên
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 1980
13.Nguyễn Trọng Chuẩn (1992), "Một vấn đề cần được quan tâm: Mối quan hệ giữa các yếu tố sinh học và các yếu tố xã hội trong con người", Tạp chí Triết học, (3), tr. 13-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vấn đề cần được quan tâm: Mối quan hệ giữa các yếu tố sinh học và các yếu tố xã hội trong con người
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 1992
14.Nguyễn Trọng Chuẩn (1997), "Để cho khoa học và công nghệ trở thành động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa", Tạp chí Triết học, (1), tr. 3-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để cho khoa học và công nghệ trở thành động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 1997
15.Con người - Những ý kiến mới về một đề tài cũ, tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người - Những ý kiến mới về một đề tài cũ
Nhà XB: Nxb Sự thật
16.Con người - Những ý kiến mới về một đề tài cũ, tập 2, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người - Những ý kiến mới về một đề tài cũ
Nhà XB: Nxb Sự thật
17.Trần Côn (1974), "C.Mác và Ph.Ăngghen về vấn đề con người", Tạp chí Triết học, (6), tr. 108-135 Sách, tạp chí
Tiêu đề: C.Mác và Ph.Ăngghen về vấn đề con người
Tác giả: Trần Côn
Năm: 1974
18.Phạm Như Cương (Chủ biên) (1978), Về vấn đề xây dựng con người mới, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề xây dựng con người mới
Tác giả: Phạm Như Cương (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1978
19.Đanien Benxaiđơ (1998), Mác - Người vượt trước thời đại, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mác - Người vượt trước thời đại
Tác giả: Đanien Benxaiđơ
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
20.Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w