Yêu nước vốn là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam đã được hình thành từ hàng nghìn năm lịch sử, là một thành tố rất quan trọng có vai trò quyết định đến sức mạnh dựng nước và giữ nước của nhân dân ta nói chung, sức mạnh chiến đấu của quân đội ta nói riêng. Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã làm nên những kỳ tích vĩ đại hơn mười thế kỷ Bắc thuộc không bị đồng hoá, đã đánh thắng những đế chế phong kiến phương Bắc và các thế lực đế quốc lớn phương Tây, xây dựng một nước Việt Nam ngày một thịnh vượng. Với ý nghĩa đó giáo dục chủ nghĩa yêu nước trong Quân đội nói chung và các nhà trường quân sự nói riêng đã góp phần to lớn nâng cao tinh thần yêu nước cho toàn quân, tạo nên sức mạnh chính trị, tinh thần to lớn trong lịch sử, đảm bảo cho quân đội ta luôn trưởng thành và chiến thắng. Đó là bài học hết sức quý báu mà ngày nay cần được tiếp thu phát huy có hiệu quả hơn trong điều kiện mới.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Yêu nước vốn là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam đã đượchình thành từ hàng nghìn năm lịch sử, là một thành tố rất quan trọng có vai tròquyết định đến sức mạnh dựng nước và giữ nước của nhân dân ta nói chung, sứcmạnh chiến đấu của quân đội ta nói riêng Trong lịch sử dựng nước và giữ nước,dân tộc ta đã làm nên những kỳ tích vĩ đại hơn mười thế kỷ Bắc thuộc không bịđồng hoá, đã đánh thắng những đế chế phong kiến phương Bắc và các thế lực đếquốc lớn phương Tây, xây dựng một nước Việt Nam ngày một thịnh vượng Với
ý nghĩa đó giáo dục chủ nghĩa yêu nước trong Quân đội nói chung và các nhàtrường quân sự nói riêng đã góp phần to lớn nâng cao tinh thần yêu nước cho toànquân, tạo nên sức mạnh chính trị, tinh thần to lớn trong lịch sử, đảm bảo cho quânđội ta luôn trưởng thành và chiến thắng Đó là bài học hết sức quý báu mà ngàynay cần được tiếp thu phát huy có hiệu quả hơn trong điều kiện mới
Hiện nay trong điều kiện mới, trước tác động của nhiều yếu tố khách quan
và nhân tố chủ quan, thì vấn đề giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho học viên cácnhà trường quân sự đang có những thuận lợi cơ bản Đồng thời còn phải đối mặtvới không ít thách thức khó khăn trước diễn biến phức tạp của tình hình thế giới,tình hình kinh tế chính trị văn hoá xã hội trong nước, sự chống phá quyết liệt của
kẻ thù trong chiến lược “Diễn biến hoà bình”, những tác động tiêu cực của mặttrái cơ chế thị trường đã ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức, tình cảm yêunước, đến quá trình rèn luyện phẩm chất nhân cách và chất lượng học tập, côngtác của học viên trong nhà trường quân sự Một số học viên có hiện tượng bộc lộkhuynh hướng đề cao lợi ích vật chất, xem nhẹ giá trị truyền thống tốt đẹp củadân tộc, nhận thức chưa đầy đủ về tri thức lịch sử, thiếu niềm tin vào chủ nghĩa
Trang 2xã hội vào sự lãnh đạo của Đảng, mơ hồ mất cảnh giác với kẻ thù, sao nhãngnhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Những biểu hiện đó đã phần nào ảnh hưởng tới danh
dự, bản chất, truyền thống của quân đội, nhà trường, đơn vị, hạn chế đến côngtác giáo dục CNYN cho học viên hiện nay Vì vậy, giáo dục CNYN cho họcviên ở các NTQS hiện nay là một đòi hỏi bức thiết và có ý nghĩa hết sức quantrọng, trực tiếp góp phần nâng cao trình độ nhận thức, cũng cố niềm tin, xâydựng động cơ, thái độ, đúng đắn trong học tập và rèn luyện để trở thành người sĩquan có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, vớiĐảng, với nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH
Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xây dựng quân đội, xây dựng các NTQStrong điều kiện hội nhập đang đặt ra yêu cầu đòi hỏi phải tăng cường giáo dụcCNYN cho HV đào tạo sĩ quan cấp phân đội Họ là những cán bộ, sĩ quantương lai, là lực lượng kế cận đảm đương nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiếnđấu và chiến đấu ở các đơn vị cơ sở Muốn họ hoàn thành nhiệm vụ phải giáodục- đào tạo họ phát triển toàn diện cả về phẩm chất, năng lực, trình độ, trong
đó giáo dục CNYN là cơ sở nền tảng, là điều kiện để phát triển hoàn thiệnnhân cách, là động lực thúc đẩy họ hoàn thành mục tiêu, yêu cầu đào tạo củanhà trường Trong những năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng uỷ, chỉ huy cáccấp, sự cố gắng nỗ lực trong công tác giáo dục- đào tạo của các nhà trườngnên giáo dục CNYN cho HV ở các NTQS đạt được thành tựu đáng kể gópmột phần quan trọng làm cho quân đội ta tiếp tục phát huy truyền thống vẻvang “Trung với Đảng, hiếu với dân sẵn sàng chiến đấu huy sinh vì độc lập tự
do của Tổ quốc, vì CNXH, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nàocũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”[25, tr.34] trong sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được,
Trang 3trong công tác giáo dục CNYN cho HV còn bộc lộ nhiều bất cập, nội dung,hình thức, phương pháp giáo dục chậm đổi mới, thiếu sáng tạo chưa đáp ứngvới yêu cầu của thực tiễn, quá trình giảng dạy các môn KHXH-NV cũng nhưcác môn khoa học kỹ thuật quân sự chỉ mới chú trọng đến việc truyền thụkiến thức, kỹ xảo, kỹ năng, chưa thực sự quan tâm nhiều đến việc bồi dưỡng
về lập trường, tư tưởng, tình cảm, trách nhiệm đối với Tổ quốc, đối với truyềnthống dân tộc và CNXH cho HV Một số cán bộ, HV trong nhận thức và hànhđộng còn giản đơn coi CNYN là vấn đề “vốn có ở người Việt Nam” từ đó chogiáo dục CNYN là mất thời gian, vô bổ, cần tập trung làm việc khác Mặtkhác về phương diện lý luận tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu về giáodục CNYN cho quân nhân hiện nay, nhưng với đối tượng cụ thể là HV ở cácNTQS thì chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cơ bản hệ thống Từnhững lý do trên việc nghiên cứu vấn đề giáo dục CNYN cho HV ở NTQShiện nay là một yêu cầu khách quan, cấp thiết, có ý nghĩa quan trọng cả về lý
luận và thực tiễn Đó là lý do chúng tôi chọn đề tài “ Giáo dục chủ nghĩa yêu
nước cho học viên NTQS hiện nay” với hy vọng góp phần nhỏ vào việc nâng
cao hiệu quả giáo dục CNYN cho HV các NTQS hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những căn cứ về lý luận và thực tiễn của việc giáo dục
HV ở các NTQS, tác giả đề xuất hệ thống biện pháp giáo dục CNYN cho họnhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo sĩ quan cấp phân đội ở cácNTQS, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ của quân đội trong tình hình mới
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu là quá trình giáo dục-đào tạo ở các NTQS hiện nay
Trang 4- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là biện pháp giáo dục chủ nghĩa yêunước cho HV các NTQS hiện nay
4 Giả thuyết khoa học
Phẩm chất yêu nước của HV các NTQS được hình thành, phát triển bởi
sự tác động từ nhiều nhân tố, trực tiếp và chủ yếu là do quá trình giáo dục và
tự giáo dục của HV Trong quá trình giáo dục đào tạo ở các NTQS, nếu thôngqua dạy học các môn học trong quá trình đào tạo; hoàn thiện nội dung; đổimới hình thức tổ chức và phương pháp giáo dục, sử dụng có hiệu quả cácphương tiện giáo dục; phối hợp chặt chẽ các lực lượng trong và ngoài nhàtrường quân đội; xây dựng môi trường văn hoá giáo dục tạo điều kiện
thuận lợi Thì có thể giáo dục CNYN cho HV trong các NTQS sẽ đạt tới
chất lượng, kết quả cao
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc giáo dục chủ nghĩa yêu nướccho HV các NTQS hiện nay
- Đề xuất các biện pháp giáo dục CNYN cho HV các NTQS hiện nay
6 Phạm vi nghiên cứu
Chủ nghĩa yêu nước được hình thành bằng nhiều con đường khácnhau, nhưng trong phạm vi đề tài này chúng tôi chỉ bàn đến con đường giáodục CNYN thông qua các biện pháp giáo dục nhằm tác động vào nhậnthức, tình cảm, hành vi hành động yêu nước của HV đào tạo sĩ quan cấpphân đội ở các NTQS hiện nay
7 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Về phương pháp luận, tác giả dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biệnchứng, những quan điểm, tư tưởng về giáo dục của chủ nghĩa Mác- Lênin, Hồ Chí
Trang 5Minh và Đảng cộng sản Việt Nam Đồng thời quán triệt, vận dụng quan điểm hệ thốngcấu trúc, quan điểm thực tiễn, lô-gíc và lịch sử trong quá trình nghiên cứu đề tài.
* Về phương pháp nghiên cứu, tác giả đã kết hợp, sử dụng các phươngpháp nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn sau đây:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết gồm: phương pháp phân tích,tổng hợp, khái quát hoá, hệ thống hoá các nguồn tài liệu lý luận chuyên ngành,liên quan…để xây dựng cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn bao gồm:
+ Quan sát thái độ, hành vi, hoạt động hàng ngày của lực lượng giáo dụctrong quá trình thực hiện nhiệm vụ, nội dung giáo dục CNYN
+Tiến hành điều tra bằng phiếu (An két) 500 HV đang được đào tạothành sĩ quan cấp phân đội, 250 cán bộ, giáo viên trực tiếp giảng dạy, quản
lý HV ở một số NTQS
+ Toạ đàm trao đổi với HV và cán bộ quản lý, giáo viên khoa Khoa học
xã hội nhân văn, các cơ quan của một số NTQS
+ Nghiên cứu sản phẩm giáo dục, tự giáo dục như: chương trình, kế hoạch,báo cáo, tổng kết hàng năm từ 2002- 2007 của cơ quan chức năng và các báo cáotổng kết của các tiểu đoàn quản lý HV của một số nhà trường sĩ quan
+ Tổng kết kinh nghiệm thực tiễn giáo dục CNYN cho HV ở các NTQS.+ Tham khảo ý kiến của một số nhà khoa học, nhà sư phạm
+ Khảo nghiệm đối với cán bộ quản lý và giáo viên về một số nội dungnhằm kiểm chứng biện pháp đã đề xuất
8 Đóng góp mới của đề tài
- Đề tài góp phần khái quát và làm rõ một số vấn đề lý luận về giáo dụcCNYN cho HV các NTQS Chủ yếu trong đó là hệ thống khái niệm gồm:
Trang 6CNYN; giáo dục CNYN; biện pháp giáo dục CNYN cho HV đào tạo sĩ quan
cấp phân đội ở các nhà trường quân sự hiện nay
- Góp phần làm rõ những vấn đề thực tiễn đặt ra đối với việc giáo dụcCNYN cho HV đào tạo sĩ quan cấp phân đội ở NTQS hiện nay
- Đề xuất một số biện pháp giáo dục CNYN cho HV trong quá trình đàotạo tại các NTQS mang tính đồng bộ, khả thi, tạo sơ sở cho việc nâng cao chấtlượng đào tạo ở NTQS hiện nay
9 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm mục lục; mở đầu; chương 1; chương 2; kết luận và kiếnnghị; danh mục tài liệu tham khảo; phụ lục
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ GIÁO DỤC CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC CHO HỌC VIÊN NHÀ TRƯỜNG QUÂN SỰ 1.1 Những vấn đề lý luận về chủ nghĩa yêu nước và giáo dục chủ nghĩa yêu nước
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
* Chủ nghĩa yêu nước trong lịch sử dân tộc Việt Nam
Ngay từ buổi đầu dựng nước trong nhận thức, tư tưởng và tâm hồn ngườiViệt Nam đã hình thành lòng yêu nước, thương nòi rất nồng nàn và mãnh liệt Đó
là dòng tư tưởng, tình cảm chủ yếu, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử ViệtNam mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu
Trang 7nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bịxâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ,
to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước
và lũ cướp nước” [26, tr.171] Chính vì vậy, chủ nghĩa yêu nước đã được cáclãnh tụ, các nhà khoa quan tâm nghiên cứu, tiêu biểu là những bài nói, bài viếtcủa Chủ tịch Hồ Chí Minh về yêu nước (trong Hồ Chí Minh toàn tập); LêDuẩn với tác phẩm “Chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam”; Phạm VănĐồng với “Chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã hội” Nxb ST, H, năm 1959;giáo sư Trần Xuân Trường với “Chủ nghĩa yêu nước thời đại Hồ Chí Minh”Nxb QĐND 1999” Lương Gia Ban với “Chủ nghĩa yêu nước trong sự nghiệpcông nghiệp hoá hiện đại hoá” Nxb CTQG 1999 Các tác giả đã khái quát chủnghĩa yêu nước Việt Nam bắt nguồn và phát triển từ thời vua Hùng dựngnước xuyên suốt cho đến ngày nay, từ tinh thần yêu nước của Hai Bà Trưng,
Bà Triệu đứng lên chống lại quân thù, đến Lý Bí khi dành được độc lập xưng
là Lý Nam Đế để quyết không chấp nhận quan hệ “phiên thuộc” với “thiêntriều” CNYN Việt Nam từ thời Lý Thường Kiệt đã được khẳng định thànhvăn ý chí bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia
Từ thời Lê Lợi và Nguyễn Trãi, CNYN Việt Nam đã nêu ra lý tưởng dập tắtmuôn đời ngọn lửa chiến tranh xâm lược, xây dựng nền thái bình muôn thuở
Và CNYN Việt Nam được giương cao trong phong trào nông dân Tây Sơnvới lãnh tụ thiên tài Quang Trung đã thể hiện một ý chí mãnh liệt của nhândân ta đòi chống áp bức, chống xâm lược để bảo vệ một Tổ quốc độc lập,thống nhất: Đánh cho chúng trích luân bất phản, đánh cho chúng phiến giápbất hoàn, đánh cho sử thi Nam Quốc anh hùng chi hữu chủ Đến thời đại HồChí Minh CNYN truyền thống Việt Nam được Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí
Trang 8Minh khơi dậy và phát huy mạnh mẽ, cao độ hơn bao giờ hết, được thể hiện ở
ý chí “Không có gì quý hơn độc lập tự do” “Thà huy sinh tất cả chứ khôngchịu mất nước, không chịu làm nô lệ” đã thôi thúc toàn dân tộc đứng lên dũngcảm, kiên cường, đập tan mọi lực lượng và phương tiện chiến tranh hiện đạinhất của chủ nghĩa đế quốc, giải phóng Miền Nam, thống nhất Tổ quốc, cảnước tiến lên xây dựng CNXH Ngày nay quan niệm về yêu nước không chỉdừng lại ở việc sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc mà còn phải được thể hiện
ở việc xây dựng Tổ quốc, làm cho dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ văn minh, phải chiến thắng sự nghèo hèn, lạc hậu, sự kém cỏi của dântộc, từng bước vươn lên theo kịp các nước trong khu vực và thế giới
Như vậy, các công trình khoa học trên đã đề cập, luận giải CNYN ởnhững cấp độ khác nhau, song đều chứng minh cho sự hiện diện, hình thành,tồn tại, phát triển CNYN Việt Nam là một quá trình xuyên suốt chiều dài lịch
sử từ khi dựng nước và giữ nước đến nay, đó là những ý tưởng, tiền đề rất quantrọng để kế thừa giáo dục CNYN cho HV các NTQS
* Giáo dục chủ nghĩa yêu nước trong lịch sử dân tộc
Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước đi đôi với giữ nước cha ông ta đãxây dựng nên hệ thống những tư tưởng giáo dục CNYN hết sức quý báu, có ýnghĩa to lớn trong việc khơi dậy lòng yêu nước truyền thống cho các tầng lớpnhân dân và quân sĩ có đủ bản lĩnh chính trị tinh thần, ý chí quyết chiến, quyếtthắng chống giặc ngoại xâm giải phóng dân tộc Do vậy, nghiên cứu vấn đề này
có nhiều công trình khoa học trong và ngoài quân đội đề cập đến tiêu biểu như:
- Lịch sử Việt Nam, Tập1, Nxb KHXH 1971; Lịch sử giáo dục quân sựViệt Nam, Nxb QĐND 2001; Đề tài KX- 07-19 “Tìm hiểu hoạt động giáodục truyền thống yêu nước bảo vệ Tổ quốc trong lịch sử dân tộc” do Thiếu
Trang 9tướng Nguyễn Chu Phát chủ nhiệm đề tài, Nxb QĐND 1994 Các công trìnhkhoa học trên đã khái quát một số vấn đề về nội dung, phương pháp, hình thứcgiáo dục CNYN trong thời kỳ phong kiến như
+ Về nội dung giáo dục
Giáo dục lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc cho binh sĩ, nhằm khích
lệ tinh thần, phát huy nhân tố vật chất tạo thành sức mạnh tổng hợp chiếnthắng quân thù Ở thế kỷ XIII trước nạn xâm lược tàn bạo của quân Nguyên,vua Trần thông qua triệu tập hội nghị “Diên Hồng” để bàn cách đánh giặc cứunước, Trần Quốc Tuấn viết Hịch tướng sĩ để kích lệ, động viên, giáo dục lòngyêu nước của tướng sĩ: “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối ruột đaunhư cắt nước mắt đầm đìa, chỉ giận không được ăn thịt lột da nuốt gan uốngmáu quân thù ”[20,tr 200] Việc làm trên đã phát huy được tinh thần yêunước trong mọi tầng lớp nhân dân từ người đan sọt đến người đánh cá, từ trẻ
em đến bậc cao niên, từ vua tôi đến tướng sĩ đều cháy bỏng lòng căm thùgiặc, thể hiện tinh thần yêu nước cao độ, tạo nên dấu ấn một thời đại gọi là
“hào khí Đông A” ba lần chiến thắng quân Nguyên hung bạo Trong cuộckháng chiến chống quân Minh xâm lược (1418- 1427) giáo dục lòng yêu nước
và quyết tâm chiến đấu được thể hiện sinh động trong lời thề ở lũng nhai LêLợi cùng 18 người thân tín: thề chết sống đều phải cùng nhau đánh tan quângiặc Ngô không dám quên lời thề ước Trong cuộc tiến công chiến lược đạiphá quân Thanh xâm lược (1789), tại buổi lễ duyệt binh lớn ở trấn Nghệ An,Quang Trung đã kêu gọi, giáo dục lòng yêu nước cho quân sĩ: Quân Thanhsang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long các ngươi đã biết chưa? từ đời Hánđến nay, chúng đã mấy phen cướp nước ta, vơ vét của cải, người mình khôngthể chịu nổi ai cũng muốn đánh đuổi chúng đi Cùng với giáo dục lòng yêu
Trang 10nước thì ông cha ta bao giờ cũng gắn với giáo dục lòng căm thù giặc để tạonên động lực mạnh mẽ ở quân sĩ khiến họ chiến đấu dũng cảm tiêu diệt kẻthù Trong hịch tướng sĩ Trần Quốc Tuấn vạch rõ tội ác của giặc Nguyên
“Uốn lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình, đem thân dê chó bắt nạt tể phụ…giả hiệu Vân Nam Vương để vét vàng bạc”[21, tr.258] Trong bình ngô đạicáo Nguyễn Trãi nói lên tội ác của giặc Minh đến mức tát cạn nước Đông Hảikhông đủ rửa vết nhơ, chặt hết trúc Nam Sơn chẳng đủ ghi hết tội ác: Thui dânđen trên lò bạo ngược, hãm con đỏ dưới hố tai ương Đó chính là mạch nguồnlàm nên chiến thắng
Giáo dục tinh thần độc lập dân tộc, lòng tự hào tự tôn dân tộc và ý chí kiên cường bất khuất, quyết chiến quyết thắng Trải qua các thế hệ nối tiếp
nhau ông cha ta luôn thể hiện tinh thần kiên quyết chống giặc ngoại xâm, thựchiện mục tiêu cao cả bảo vệ quyền độc lập tự chủ của Tổ quốc, bất kể quânxâm lược lớn mạnh thế nào ông cha ta vẫn không hề khuất phục Cuộc khángchiến chống quân Tống xâm lược thế kỷ XI, nhân danh dân tộc Lý thườngkiệt đã cảnh cáo đanh thép đối với kẻ cướp nước đồng thời cũng tuyên bốquyền bất khả xâm phạm và ý chí kiên quyết bảo vệ nền độc lập dân tộc
“Sông núi nước Nam vua Nam ở, rành rành định phận ở sách trời, cớ sao lũgiặc sang xâm phạm, chúng bay sẽ bị đánh tơi bời” [20, tr.181] Bài thơ thần
đó được lịch sử dân tộc ghi nhận như một bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên củadân tộc ta hơn một nghìn năm bắc thuộc Thời Trần trước kẻ thù xâm lược
Mông- Nguyên hung bạo, nhưng ý chí kiên cường bất khuất, quyết chiến
quyết thắng được biểu hiện qua tiếng hô đồng thanh “Đánh” vang lên từ hộinghị Diên Hồng của các phụ lão; tấm gương yêu nước của Trần Quốc Tuấn:xin bệ hạ hãy chém đầu thần trước rồi sẽ hàng; tinh thần “Sát thát” của binh
Trang 11sĩ Trong kháng chiến chống quân Minh “Bình ngô đại cáo” của Nguyễn Trãiđược coi là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc, với niềm tự hào sâusắc Nguyễn Trãi viết “Như nước Đại Việt ta từ trước, vốn xưng nền văn hiến
đã lâu…trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước…mà hào kiệt khôngbao giờ thiếu” [21, tr 257] Quang Trung trên đường hành binh ra Bắc Hà đạiphá quân Thanh đã giáo dục quân sĩ về lòng tự hào dân tộc với gương các anhhùng cứu nước tiêu biểu “Đời Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Đinh TiênHoàng, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ các Ngài… chỉđánh một trận là thắng và đuổi chúng về phương Bắc”[30, tr 82]
Giáo dục tinh thần đoàn kết và lòng nhân ái trong quân sĩ, là điều có ý
nghĩa cực kỳ quan trọng trong tiến hành chiến tranh yêu nước bảo vệ độc lậpdân tộc, nhất là trước hiểm hoạ xâm lược của kẻ thù ông cha ta đã tập hợp đượclực lượng đông đảo rộng lớn “Bách tính vi binh” để chiến thắng quân thù Ởthế kỷ VIII quân Mông- Nguyên là đội quân hung hãn vào bậc nhất thế giới đãchinh phục được nhiều nước, song khi đến nước ta thì cả ba lần đều bị thất bạithảm hại, bởi vua tôi đồng lòng, anh em hoà thuận, cả nước góp sức Trongcuộc khởi nghĩa Lam sơn vấn đề đoàn kết, đồng cam cộng khổ trong quân sĩđược Nguyễn Trãi nêu rõ “Hoà rượu cùng uống, binh sĩ một dạ cha con”[35,tr.79] Với quân đội của Tây Sơn được Quang Trung xây dựng theo nguyêntắc “Quân lính cốt hoà thuận, không cốt đông” [34, tr.101] Như vậy, đoànkết trên dưới, đoàn kết nội bộ trong quân là nhân tố cơ bản góp phần làm nênchiến thắng trong sự nghiệp giữ nước của dân tộc ta
Giáo dục tư tưởng nhân đạo, nhân văn, trong chống giặc ngoại xâm, để
chiến thắng ông cha ta không chỉ bằng tài thao lược mà còn biết dùng phép
“Mưu phạt công tâm” Kế sách đánh vào lòng người thể hiện tính nhân đạo
Trang 12truyền thống của dân tộc Việt Nam, không chỉ tiết kiệm xương máu của binh
sĩ trong chiến tranh mà còn thể hiện sự độ lượng, tầm nhìn xa trông rộng với
sự bang giao, hoà hiếu về sau giữa hai nước Lòng nhân đạo của ông cha taluôn được thể hiện một cách sâu sắc, nó trở thành vấn đề nhất quán về mặtchính sách được đem ra giáo dục cho quân sĩ Ta hiếu sinh, không hiếu sát,khi kẻ địch đã lâm vào cảnh cùng đường chỉ còn chờ chết thì ông cha ta cũngsẵn sàng “Thể lòng trời, mở đường hiếu sinh” Điều đó được chứng minhtrong kháng chiến chống quân Minh, khi chiến thắng nghĩa quân Lam sơn đãtha cho mười vạn hàng binh, cấp lương thực phương tiện cho chúng về nước
Đó chính là cốt cách nhân nghĩa, nhân văn con người Việt Nam, của văn minhĐại Việt mà ông cha đã giáo dục cho quân sĩ
+ Về hình thức giáo dục tinh thần yêu nước cho quân sĩ phổ biến cóhiệu quả nhất là những chiếu chỉ của vua, lời kêu gọi, lời tuyên thề, lời hịch,lời thơ hùng hồn thống thiết đầy tâm huyết của tướng lĩnh trước khi ra quân.Như lời thề của hai bà Trưng cùng quân sĩ khi khởi nghĩa đánh quân Ngô; lờithề ở lũng nhai Lê Lợi cùng 18 người thân tín làm lễ tuyên thệ trước thần linhmột lòng sống chết đứng lên khởi nghĩa đánh giặc cứu nước; bài “Hịch tướng sĩ”của Trần Quốc Tuấn; bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt; các bàichiếu của Quang Trung, để kêu gọi động viên binh sĩ Thông qua việc tổ chức cáchội nghị như: “Hội nghị Diên Hồng” “Hội nghị Bình Than” Thông qua các câuhoà, điệu hát trên đường hành quân, các câu truyện cổ tích, truyền thuyết về cộinguồn dân tộc, về những anh hùng có công với nước để tuyên truyền, khích lệtinh thần nhân dân, quân sĩ quyết tâm đánh giặc, tin tưởng vào chiến thắng + Về phương pháp giáo dục, các triều đại phong kiến đã thông qua nhữnggương sáng của các triều đại trước đó, gương sáng của vua, quan, tướng lĩnh về
Trang 13lòng yêu nước, thương dân như: Lý Thường kiệt, Trần Quốc Tuấn, Trần QuangKhải, Nguyễn Trãi, Lê Lợi, Quang Trung… để khơi dậy lòng tự hào, tự tôn dântộc và cho quân sĩ học tập noi theo Ngoài ra các vương triều, tướng lĩnh thường
sử dụng phương pháp tuyên truyền, giải thích, thuyết phục, động viên, khenthưởng, ưu đãi với tướng sĩ, binh lính và những người có công với đất nước, nhưthời Lê sơ đã xúc tiến định các hạng công cho các hoả thủ và quân nhân quân thiếtđột có công ở Lũng Nhai cộng có 221 người được ban họ vua và 93 người trong
số này được ban biển ngạch công thần, phong tước hầu Có chính sách chăm lođến đời sống và lợi ích của nhân dân
- Công trình khoa học “Một số vấn đề về giáo dục chủ nghĩa yêu nước, xâydựng ý chí quyết chiến quyết thắng cho quân và dân ta trong tình hình mới”do trungtướng Phùng Khắc Đăng chủ biên, Nxb QĐND Hà nội 2006; “Đẩy mạnh giáodục yêu nước trong quân đội dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh” của PGS
Lê Hồng Quang; “ Một số vấn đề đổi mới nội dung phương pháp giáo dục CNYN
” của GS, TSKH Thái Duy Tuyên các công trình khoa học trên đã nêu ra một sốvấn đề về giáo dục CNYN, trong đó làm rõ những nội dung, phương pháp tiếnhành giáo dục CNYN trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ như:
+Về nội dung, giáo dục đường lối kháng chiến của Đảng, mục tiêu độc
lập dân tộc và CNXH; giáo dục lòng tự hào dân tộc, tinh thần đoàn kết, tự lựccánh sinh, lòng căm thù giặc sâu sắc, ý chí quyết tâm chiến đấu cao sẵn sàng xảthân vì nước; xây dựng niềm tin vững chắc vào thắng lợi cuối cùng của cuộckháng chiến cho quân và dân ta
+Về phương pháp, hình thức như: tuyên truyền, giải thích, động viên,
thuyết phục liên tục và sâu rộng đến đông đảo mọi tầng lớp nhân dân; pháthuy tính tiền phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ Đảng viên; thông qua
Trang 14các tác phẩm văn học nghệ thuật, các phương tiện thông tin đại chúng, cáccuộc mít tinh để vạch trần hành động tàn bạo của địch, khơi dậy lòng cămthù giặc sâu sắc, xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu đến thắng lợi cuốicùng; thường xuyên tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị- tư tưởng, đấu tranhkhắc phục khuynh hướng lệch lạc, bi quan, kém tin tưởng, chủ quan, nônnóng của một số cán bộ, đảng viên, quần chúng; tổ chức các cuộc vậnđộng chính trị, phát động các phong trào cách mạng như “Quỹ kháng chiến”,
“Hũ gạo kháng chiến”, “Mùa đông binh sĩ”, “Hội mẹ chiến sĩ”; các phongtrào thi đua yêu nước như: công nhân thi đua “Đạt ba điểm cao”; nông dânthì ngày đêm bám ruộng đồng “Thóc thừa cân, quân thừa người”; phụ nữ
“Ba đảm đang”; tri thức có phong trào “Ba quyết tâm”; lực lượng vũ trang
“Thi đua giết giặc lập công”; thi đua trở thành “Dũng sĩ diệt Mỹ”…Cácphong trào đó đã phát huy sức mạnh to lớn của các lực lượng, trong mọi lĩnhvực góp phần vào đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và
đế quốc Mỹ, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc thống nhất Tổ quốc
Ngoài ra các công trình khoa học trên còn đề xuất một số biện pháp nhằmnâng cao hiệu quả giáo dục CNYN cho quân và dân ta trong tình hình mới như:nâng cao hiệu quả của hệ thống giáo dục tuyên tuyền CNYN; phát huy vai trò của hệthống chính trị; tổ chức các phong trào quân chúng sâu rộng; đổi mới nội dung, đadạng hoá các hình thức phương pháp giáo dục CNYN, xây dựng ý chí quyết chiếnquyết thắng cho quân và dân ta hiện nay
- Ngày nay trong công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng XHCN, vấn
đề giáo dục CNYN luôn được Đảng và nhà nước quan tâm Hội nghị lần thứ 5 banchấp hành Trung ương Đảng khoá VIII chủ trương mở cuộc vận động giáo dụcCNYN gắn với thi đua yêu nước “Giáo dục CNYN phải gắn chặt với phong trào
Trang 15thi đua yêu nước và giáo dục về CNXH Làm cho mọi người thấm nhuầntruyền thống lịch sử và cách mạng của dân tộc, đóng góp xứng đáng vào côngcuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới” [6, tr.70] Hội nghịTrung ương 5 khoá IX về công tác tư tưởng trong tình hình mới cũng yêu cầugiáo dục sâu sắc truyền thống yêu nước, động viên tinh thần yêu nước nhằmthực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.Văn kiện đại hội X Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ “Đổi mới mạnh mẽ nộidung, hình thức, biện pháp giáo dục chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh bồi dưỡng lòng yêu nước, yêu nhân dân, lý tưởng độc lập dân tộc vàchủ nghĩa xã hội trong toàn Đảng toàn dân.” [8, tr.283]
Những tư tưởng, quan điểm giáo dục CNYN(cả nội dung, phươngpháp, hình thức) của các đề tài nghiên cứu, của các nhà khoa học đã kháiquát trên là nền tảng, cơ sở lý luận giúp cho việc nghiên cứu vấn đề giáo dụcCNYN cho HV các NTQS hiện nay
1.1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài
* Khái niệm chủ nghĩa yêu nước
- Khi bàn về chủ nghĩa yêu nước có nhiều quan niệm khác nhau :
Theo V.I.Lênin, CNYN nói chung “Là một trong những tình cảm sâusắc nhất đã được củng cố qua hàng trăm, hàng nghìn năm tồn tại của các Tổquốc biệt lập” [19, tr 226]
Theo từ điển triết học viết “Chủ nghĩa yêu nước- nguyên tắc đạo đức
và chính trị, một tình cảm xã hội, mà nội dung là tình yêu và lòng trung thànhvới Tổ quốc….”.[39, tr.712]
Từ điển tiếng Việt định nghĩa “Chủ nghĩa yêu nước là lòng thiết tha với Tổquốc của mình, thường biểu hiện tinh thần sẵn sàng huy sinh vì Tổ quốc”[40, tr.173]
Trang 16Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam lại quan niệm “CNYN là nguyêntắc đạo đức về chính trị mà nội dung là tình yêu, lòng trung thành, ý thứcphục vụ Tổ quốc” [38, tr.518]
Từ những khái niệm trên có thể khái quát CNYN trên một số nội dung sau:CNYN là phạm trù lịch sử, nó được hình thành, phát triển và biến đổiqua các thời kỳ lịch sử, tinh thần yêu nước, lòng yêu nước có thể nảy sinh rấtsớm từ khi nhà nước mới hình thành, cộng đồng quốc gia mới xuất hiện.Nhưng CNYN đòi hỏi một bước phát triển cao của tinh thần yêu nước, khitình cảm yêu nước được nâng lên một trình độ nhận thức sâu sắc, có hệ thống,chi phối một cách có ý thức mọi hành vi ứng xử của con người
CNYN là tình cảm vừa có tính phổ quát của nhân dân các quốc gia dântộc, vừa mang tính đặc thù của từng quốc gia dân tộc, do điều kiện tự nhiên,đặc điểm tộc người, hoàn cảnh, nội dung, lịch sử cụ thể của từng nước quy định.Trong xã hội có giai cấp, CNYN mang tính giai cấp, biểu thị quyền lợi vànguyện vọng của các giai cấp khác nhau, nhưng cũng không loại trừ tình cảmyêu nước của cả cộng đồng và trước lợi ích chung của cộng đồng các giai cấp cóthể liên kết lại trong cuộc đấu tranh chung vì lợi ích cộng đồng Về phương diệnnày, CNYN được coi là chuẩn mực đạo đức và có thể giữ vai trò điều tiết lợiích và mối quan hệ giữa các giai cấp, các nhóm xã hội trong cộng đồng
- Từ những vấn đề trên, tác giả quan niệm chủ nghĩa yêu nước là hệ thống những tư tưởng tình cảm, lý trí, thái độ đối với đất nước, được biểu hiện ở tình yêu quê hương, xứ sở, đồng bào , sự cống hiến sức lực, tài năng và trí tuệ, lòng trung thành, tinh thần xả thân vì sự nghiệp xây dựng và Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ Là một giá trị văn hoá tinh thần quy báu và bền vững, một động lực cách mạng to lớn góp phần vào sự trường tồn và phồn vinh của dân tộc.
Trang 17Chủ nghĩa yêu nước là hệ thống quan điểm, tư tưởng thái độ, tình cảmcủa con người đối với đất nước mình, được hình thành phát triển lâu dài tronglịch sử CNYN của người dân Việt Nam là một tình yêu cụ thể, không trừutượng, từ yêu những cảnh quan thiên nhiên nơi mảnh đất họ đã sinh ra, đếntình yêu Tổ quốc bao la Tư tưởng yêu nước gắn liền với thương nòi, đã sảnsinh ra những hành động yêu nước rất cụ thể, chủ nghĩa anh hùng trong sảnxuất, chiến đấu, và hình thành nên những tình cảm yêu thương, đùm bọc lẫnnhau của những người con Lạc, cháu Hồng, cùng chung một nguồn gốc tổtiên, cùng ra đời từ cái “bọc trăm trứng”.
Chủ nghĩa yêu nước được biểu hiện ở ý chí, trách nhiệm, nghĩa
vụ, hành động của mỗi người Việt Nam phải đem hết sức lực, trí tuệphấn đấu không biết mệt mỏi cho sự phồn vinh của đất nước, cho hạnhphúc của nhân dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì Tổ quốc
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được hình thành phát triển qua từng giai
đoạn lịch sử: CNYN Việt Nam truyền thống, CNYN Việt Nam thời đại Hồ Chí
Minh Trong đó CNYN Việt Nam truyền thống là một quan niệm được dùng
để phân biệt và so sánh tương đối với một giai đoạn phát triển mới của nó là
CNYN Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh Do đó, CNYN Việt Nam truyền
thống là một nội dung cơ bản của tư tưởng Việt Nam, của nhân sinh quan vàthế giới quan Việt Nam được hun đúc trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước
và giữ nước như Giáo sư Trần Văn Giầu viết “CNYN truyền thống Việt Namhẳn không phải là một triết thuyết thâm viễn, cũng không phải là một tínngưỡng huyền diệu, nó là hệ thống tư tưởng nhận thức và ứng xử đơn giảnnhưng vừa đủ để cho dân tộc Việt Nam tồn tại và tồn tại trong danh dự” [15,tr.6] CNYN thời đại Hồ Chí Minh không đối lập mà kế thừa phát triển CNYN
Trang 18truyền thống lên tầm cao mới, chất lượng mới Đó là CNYN trên lập trườnggiai cấp công nhân, gắn với chủ nghĩa Mác- Lênin, độc lập dân tộc gắn vớiCNXH, giải phóng dân tộc gắn với giải phóng giai cấp công nhân, giải phónglao động, giải phóng xã hội, giải phóng con người
- Biểu hiện CNYN của HV các nhà trường quân sự
Học viên các nhà trường quân sự là những lực lượng đông đảo, baogồm những người khoẻ, trẻ, tiêu biểu cho ý chí, hành động mưu trí, sáng tạo,dũng cảm Do tính chất, nhiệm vụ đào tạo của NTQS nên vừa có những biểuhiện chung của CNYN Việt Nam, vừa có những nét đặc thù riêng Nhữngbiểu hiện chủ yếu của CNYN trong HV các NTQS hiện nay là:
+ Nhận thức sâu sắc nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong thời kỳmới đó là bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của
Tổ quốc và chế độ XHCN, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân, bảo vệ mọi thànhquả cách mạng trong bất kể tình huống nào Có tinh thần hy sinh quên mìnhluôn đặt lợi ích cách mạng, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân Có lòng trungthành vô hạn tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân, lòng thuỷ chungvới bạn bè trên thế giới Ngày nay chúng ta đang đứng trước những tháchthức mới, kẻ thù đang tiến hành âm mưu xoá bỏ nền độc lập dân tộc, xoá bỏchế độ XHCN ở nước ta Chúng không từ một thủ đoạn nào và không loại trừkhả năng chúng dùng lực lượng trực tiếp phát động cuộc chiến tranh bằng vũkhí công nghệ cao tiến hành xâm lược nước ta như chúng đã làm ở một số nơitrên thế giới Do vậy, hơn lúc nào hết CNYN của HV phải thể hiện ở sựnhận thức
sâu sắc nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc
Trang 19+ Chủ nghĩa yêu nước của HV được biểu hiện ở bản lĩnh chính trị kiênđịnh, vững vàng, có niềm tin, lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với chếđộ
XHCN, với Tổ quốc, với nhân dân, có ý chí quyết chiến, quyết thắng,sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập dân tộc, vì CNXH, vì hạnh phúc củanhân dân Kiên định, vững vàng trước mọi khó khăn thử thách, đem hết sứclực, tài năng, trí tuệ cho nhiệm vụ học- rèn, công tác Sẵn sàng nhận mọinhiệm vụ và đi bất cứ nơi đâu khi Tổ quốc cần
+ Được biểu hiện ở tinh thần cảnh giác cách mạng, nhận thức sâu sắc
về đối tượng tác chiến, có thái độ, hành động kịp thời, kiên quyết, sáng suốttrước mọi âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hoà bình” “Phi chính trị hoá quânđội” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch Nhận rõ kẻ thù cơ bảnlâu dài, kẻ thù nguy hiểm trực tiếp trước mắt, không lơ là, mơ hồ mất cảnhgiác với các loại kẻ thù hiện nay
+Tích cực đấu tranh chống lại những luận điệu tuyên truyền phản độngxuyên tạc lịch sử dân tộc, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của chúng, nhất làtrên mặt trận đấu tranh chính trị- tư tưởng, phê phán những quan điểm sai trái,bảo vệ chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểmcủa Đảng, sự nghiệp đổi mới của đất nước
+ Tinh thần vì nhân dân chiến đấu, vì nhân dân phục vụ, vì nhân dân quênmình Hơn ai hết mỗi HV ở NTQS đều hiểu rõ mục đích học tập, rèn luyện, côngtác và sẵn sàng chiến đấu của họ là vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc củanhân dân trong đó có gia đình người thân của họ Trong điều kiện hiện nay ở đâu,lúc nào quân đội cũng thể hiện rõ tinh thần tận tâm, tận lực phục vụ, bảo vệ giúp đỡnhân dân, biết bao tấm gương dám hy sinh quyền lợi, tính mạng của mình để cứu
Trang 20giúp dân trong hoạn nạn những việc làm thiết thực đó thực sự là chổ dựa tin cậy,kính trọng, yêu mến của nhân dân.
+ Chủ nghĩa yêu nước của HV được thể hiện ở việc tham gia tích cựcvào
các hoạt động ngoại khoá, hoạt động đền ơn đáp nghĩa; ủng hộ đồng bào gặphoạn nạn; xoá đói giảm nghèo; chăm sóc bà mẹ Việt Nam anh hùng, gia đình
có công với đất nước ; đấu tranh phòng chống các tệ nạn xã hội
+ Chủ nghĩa yêu nước của HV còn được biểu hiện ở động cơ, thái độ,
ý chí quyết tâm học tập, nghiên cứu chiếm lĩnh tri thức các môn KHXH-NV,khoa học-kỹ thuật quân sự, nghệ thuật quân sự, để vận dụng linh hoạt, sángtạo có hiệu quả trong hoạt động thực tiễn nghề nghiệp; ở việc chấp hànhnghiêm pháp luật của nhà nước, kỷ luật quân đội, nhà trường, tích cực tudưỡng rèn luyện mọi mặt để trở thành người Đảng viên, người sĩ quan cấpphân đội “có phẩm chất chính trị vững vàng và đạo đức cách mạng trongsáng, có mặt bằng kiến thức trình độ đại học có kiến thức quân sự chuyênngành ” [9, tr.14,15], đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trongtình hình mới Biểu hiện cao nhất về CNYN của người HV là quá trìnhnhận thức phải được chuyển hoá thành kết quả học tập, kết quả rènluyện, công tác và tinh thần sẵn sàng nhận nhiệm vụ đi bất cứ nơi đâukhi ra trường và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao
+ Chủ nghĩa yêu nước của HV còn được biểu hiện ở tình yêu quêhương, đất nước, gia đình, làng xóm, phố phường nơi họ sinh ra và lớn lên.Đồng thời còn là tình cảm sâu đậm đối với bạn bè, đồng chí, đồng đội cùngnhau học tập, công tác, được thể hiện rất cụ thể ở ý thức, tình cảm và hành
động của mỗi HV gắn bó, quan tâm, yêu mến đối với đơn vị, nhà trường và
Trang 21giải quyết đúng đắn hài hoà các mối quan hệ trong xã hội, trong đơn vị vớitinh thần trách nhiệm cao (quan hệ cán bộ, giáo viên với HV, HV với HV, cánhân với tập thể, lãnh đạo chỉ huy và phục tùng) Nếu không có từng đơn vị
HV mạnh, sẽ không có nhà trường, quân đội mạnh và cũng không có lựclượng nòng cốt bảo vệ Tổ quốc, không thể nói “tôi yêu nước” mà lại khôngyếu mến gắn bó với đơn vị mình, không đưa hết sức lực, khả năng của mình
để học tập rèn luyện góp phần xây dựng và tô thắm thêm truyền thống vẽvang
của nhà trường, đơn vị vững mạnh
Những biểu hiện CNYN trên của người HV là cụ thể hoá, hiện thựchoá với yêu cầu, chất lượng mới truyền thống, bản chất của quân đội ta trong
điều kiện mới: Trung với Đảng, Hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì
độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội Nhiệm vụ nào cũng hoànthành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng như lờikhen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh
* Khái niệm giáo dục CNYN cho học viên ở NTQS
Trong bất kỳ xã hội nào, thời đại nào giáo dục CNYN là vấn đề có ýnghĩa đặc biệt quan trọng, nhằm khơi dậy lòng tự hào, tự tôn dân tộc, tinhthần đoàn kết yêu nước cho mỗi người dân và mỗi quân nhân Song CNYNcủa mỗi người Việt Nam, mỗi cán bộ, HV không bao giờ hình thành và pháttriển một cách tự phát, mà phải trải qua quá trình giáo dục liên tục và bền bỉtrong từng gia đình, nhà trường, xã hội, quân đội mới có được Giáo dụcCNYN có phạm vi không gian rộng lớn, nội dung phong phú, đối tượng đadạng cần phải được tiến hành sâu rộng, phải phát huy vai trò của mọi lựclượng, phương tiện và lựa chọn các nội dung, phương pháp tác động phù hợp
Trang 22để nâng cao giác ngộ lý tưởng cách mạng, trách nhiệm với vận mệnh dân tộc,hạnh phúc của nhân dân, góp phần thiết thực vào sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc XHCN
Từ đó chúng ta có thể quan niệm giáo dục CNYN là những hoạt động
tự giác, tích cực của các lực lượng giáo dục với những mục tiêu, yêu cầu, nội dung, phương pháp cụ thể phù hợp với từng đối tượng, điều kiện, thực tiễn giáo dục nhất định để tác động đến từng con người, từng tổ chức nhằm nâng cao nhận thức về lòng tự hào dân tộc, trách nhiệm, nghĩa vụ với Tổ quốc; bồi dưỡng tình yêu quê hương, đất nước, con người, được thể hiện ra ý chí quyết tâm vượt qua mọi huy sinh gian khổ mang hết sức lực trí tuệ tài năng thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Quan niệm trên cho thấy giáo dục CNYN là quá trình nhà giáo dục làmcho đối tượng giáo dục nhận thức được những giá trị đích thực của CNYN để
từ đó đối tượng giáo dục có niềm tin vững chắc, có thái độ đúng đắn và hànhđộng yêu nước tích cực trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Từ vấn đề trên có thể hiểu giáo dục CNYN cho HV ở NTQS là hệ thống những cách thức, biện pháp tác động giáo dục liên tục, có chủ đích từ các lực lượng giáo dục đến học viên trong quá trình đào tạo nhằm nâng cao nhận thức
về lòng tự hào dân tộc, tình yêu quê hương, đất nước, nâng cao trách nhiệm nghĩa vụ với Tổ quốc; xây dựng ý chí quyết tâm vượt qua mọi khó khăn gian khổ thực hiện tốt nhiệm vụ học- rèn, góp phần phát triển nhân cách người sĩ quan theo mục tiêu yêu cầu đào tạo, đáp ứng với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
- Giáo dục CNYN cho HV ở NTQS với tư cách là một quá trình giáodục mang tính tự giác, tích cực, liên tục diễn ra sự tác động hai chiều giữa các
Trang 23lực lượng giáo dục và đối tượng HV, tập thể HV thông qua hoạt động học tập,rèn luyện, công tác, văn hoá văn nghệ, thể thao, tăng gia sản xuất, vui chơigiải trí Trong đó lực lượng giáo dục bao gồm cấp uỷ, tổ chức Đảng, đội ngũgiáo viên, cán bộ quản lý các cấp, các tổ chức đoàn, tập thể quân nhân, các tổchức quần chúng với tư cách là những cá nhân và tập thể tổ chức điều hànhquá trình giáo dục ở nhà trường Các lực lượng giáo dục là nhân tố năng độnggiữ vai trò quyết định đến chất lượng hiệu quả của quá trình giáo dục, chiphối các nhân tố khác trong quá trình giáo dục Vì vậy, trong quá trình giáodục CNYN cho HV đòi hỏi các lực lượng giáo dục phải có trình độ kiến thứchiểu biết sâu sắc về CNYN, có năng lực sư phạm, có phẩm chất đạo đức trongsáng, có tư tưởng tình cảm thiết tha yêu quê hương đất nước, tận tụy say mêgắn bó với nghề Đây chính là cơ sở bảo đảm cho những nội dung giáo dụccủa các lực lượng giáo dục có sức thuyết phục cao Còn đối tượng giáo dục lànhững HV, tập thể HV trong NTQS Họ vừa là khách thể tiếp nhận tác động
sư phạm, chịu sự điều khiển chi phối bởi mục tiêu, phương pháp, hình thức vàcác tác động khác của các lực lượng giáo dục, vừa là chủ thể có vai trò tíchcực, sáng tạo, độc lập, tự tổ chức, tự chỉ đạo quá trình lĩnh hội, rèn luyện nhâncách của mình, là nhân tố trực tiếp quyết định đến trình độ, khả năng tiếp thutri thức, tình cảm yêu nước của chính mình
- Mục tiêu giáo dục CNYN cho HV các NTQS là một bộ phận của mụctiêu giáo dục nhân cách toàn diện cho họ Giáo dục CNYN ở đây không có nghĩa
là dạy hay truyền thụ mà là sự tác động của nhà giáo dục nhằm phát triển ý thức,thái độ của HV đối với các giá trị về CNYN, tạo nên một tác nhân tâm lý bêntrong mỗi HV, khiến cho việc giáo dục có hiệu quả hơn Vì vậy, mục tiêu giáodục CNYN cho HV là làm cho họ có sự hiểu biết về truyền thống lịch sử dân
Trang 24tộc có lòng kiên định với mục tiêu lý tưởng chiến đấu, lập trường cách mạng,bản lĩnh chính trị, lòng trung thành tuyệt đối với Đảng với Tổ quốc, với nhân dân;
có tình yêu quê hương, đất nước, gia đình, người thân, bè bạn, tinh thần đồng chíđồng đội, đồng cam chịu khổ cùng nhau học tập, rèn luyện, công tác; có lòng vịtha, lòng tự hào tự tôn dân tộc dám xả thân vì Tổ quốc; tự giác tham gia đầy đủ và
có hiệu quả những việc làm thiết thực như: học tập, rèn luyện, phòng chống thiêntai lũ lụt, tham gia xoá đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, bảo vệ môi trường,chống tệ nạn xã hội Sẵn sàng nhận nhiệm vụ, đi bất cứ nơi đâu khi Tổ quốc cần
- Giáo dục CNYN được xem là một trong những nhiệm vụ, nội dunggiáo dục nhân cách toàn diện cho các HV ở NTQS, nó được tiến hành đồngthời đan xen trong sự vận động của các nhiệm vụ, nội dung giáo dục phẩmchất nhân cách, giáo dục chính trị tư tưởng, đặc biệt là các nội dung hoạtđộng của công tác đảng công tác chính trị, nhằm góp phần to lớn trong việcxây dựng yếu tố chính trị tinh thần cho HV, phát huy sức mạnh, đoàn kếttrong thực hiện nhiệm vụ học- rèn và các nhiệm vụ khác được giao, đáp ứngyêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới
- Giáo dục CNYN cho HV các NTQS được thực hiện trong suốt thời gianđào tạo, đó là quá trình họ lựa chọn tiếp nhận, tích luỹ dần những giá trị vềCNYN, từ đó để nâng cao hiểu biết về lịch sử, văn hoá, truyền thống của dântộc, đất nước quân đội, nhà trường đơn vị, từng bước xây dựng tình cảm, niềmtin, thái độ, hành động yêu nước của người sĩ quan tương lai Sự chuyển biến
về giác ngộ CNYN của HV được biểu hiện rõ nét thông qua kết quả học tập,rèn luyện, công tác của họ ở từng năm học, khoá học, so với mục tiêu giáo dục-đào tạo ở các nhà trường và thông qua sự tin tưởng, lòng trung thành tuyệt đốivới Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ gì khi
Trang 25được phân công Đây là thời điểm để đánh giá sự trưởng thành“nhảy vọt” vềchất trong quá trình học- rèn tại trường nói chung, giáo dục CNYN nói riêng
- Giáo dục CNYN ở các NTQS có vai trò quan trọng là cơ sở để mọi
HV kiên định lý tưởng chiến đấu, lập trường cách mạng, nâng cao bản lĩnhchính trị, lòng trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân Quán triệtsâu sắc và quyết tâm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụquân đội, nhà trường và nhiệm vụ học tập, rèn luyện của bản thân để trở thànhngười cán bộ trong quân đội Đồng thời để mọi HV nhận rõ bản chất, âmmưu, thủ đoạn của kẻ thù đối với cách mạng Việt Nam, xác định rõ đối tượngtác chiến của quân đội trong từng giai đoạn cụ thể Là cơ sở quan trọng để xâydựng củng cố phát huy tinh thần đoàn kết quân dân, đoàn kết trong đơn vị, có
ý thức chấp hành kỷ luật, khắc phục khó khăn, vươn lên trong học- rèn
* Khái niệm biện pháp giáo dục CNYN cho học viên ở NTQS
Theo Từ điển Tiếng Việt, do Nguyễn Như Ý chủ biên, biện pháp làmột danh từ nói lên cách làm, cách thức tiến hành, giải quyết một vấn đề
cụ thể Từ điển Giáo dục học đã định nghĩa: biện pháp giáo dục là “cáchtác động có định hướng, có chủ đích phù hợp với tâm lý đến đối tượnggiáo dục nhằm bồi dưỡng hoặc làm thay đổi những phẩm chất và năng lựccủa đối tượng” [41, tr 26]
Từ những khái niệm trên và lý luận về quá trình giáo dục nhân cách quân
nhân có thể coi biện pháp giáo dục CNYN cho học viên ở NTQS là quá trình vận dụng tổng hợp các phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục, phát huy ảnh hưởng tích cực từ các lực lượng giáo dục và vai trò tự giáo dục của học viên, cùng các nhân tố liên quan nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu, nhiệm
vụ và nội dung giáo dục CNYN cho học viên NTQS đã đề ra.
Trang 26Khái niệm trên, cho thấy tính hướng đích của biện pháp giáo dục CNYN ởđây là tập trung vào giải quyết những nội dung, nhiệm vụ giáo dục nhằm đạt tớimục tiêu giáo dục CNYN cho học viên NTQS Đó là hình thành cho họ có nhậnthức, tình cảm, thái độ- hành vi đúng đắn về những giá trị đặc trưng của CNYN Biện pháp giáo dục CNYN cho HV được coi là tổng hợp các cách thứccủa NGD tác động đến các HV bằng những hình thức thể hiện khác nhau Nóđược đặc trưng bởi các hành động, thao tác, thủ thuật tổ chức giáo dục của cán
bộ quản lý, giáo viên và các lực lượng khác liên quan tới việc giáo dục- đào tạo
ở nhà trường Việc tác động tới HV được thực hiện với nhiều con đường khácnhau như thông qua dạy học, qua quá trình tổ chức các hoạt động quân sự, quacác hình thức giao lưu và phát huy ảnh hưởng từ môi trường giáo dục cũngnhư tự giáo dục của HV
Để đạt hiệu quả cao trong việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ, nội dunggiáo dục CNYN cho HV, NGD phải xác định mục tiêu giáo dục CNYN cho họmột cách cụ thể, thiết kế nội dung, thông qua các con đường giáo dục phù hợpvới điều kiện, lực lượng, qui trình, tiến độ đào tạo và đặc điểm HV Từ đó, sẽtạo nên những cơ hội tốt nhất cho HV nâng cao giác ngộ CNYN
1.1.3 Những yếu tố tác động đến quá trình giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho học viên nhà trường quân sự hiện nay
Giáo dục CNYN cho HV ở NTQS thường xuyên chịu sự tác động củanhững yếu tố bên trong và bên ngoài Các yếu tố đó luôn ở trạng thái vậnđộng, biến đổi Nó tác động hai chiều cả tích cực và tiêu cực tới chủ thể vàđối tượng giáo dục trên mọi phương diện Vì vậy, chất lượng giáo dục CNYNchịu ảnh hưởng nhất định của sự tác động của các yếu tố đó Cho nên, nhận
Trang 27thức đầy đủ, đúng đắn các yếu tố đó là vấn đề có ý nghĩa quan trọng nhằmnâng cao chất lượng giáo dục CNYN cho HV ở NTQS hiện nay
* Các yếu tố bên ngoài
- Tác động từ những âm mưu, thủ đoạn do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tiến hành chống phá nước ta.
Đây là yếu tố tác động không nhỏ tới giáo dục CNYN cho HV trong
quá trình đào tạo ở các NTQS Qua điều tra có 81,3% đồng ý với yếu tố này
Vì hiện nay chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch vẫn chưa chịu từ bỏ âmmưu phá hoại, làm suy yếu để lật đổ chế độ XHCN ở nước ta Chúng đangthực hiện chiến lược “Diễn biến hoà bình” ở giai đoạn mới, tinh vi, thâm độchơn Cùng với tiến công toàn diện về tư tưởng, chính trị, kinh tế, văn hoá, xãhội, thì chúng dùng nhiều thủ đoạn nham hiểm, nhằm làm chuyển hoá ĐảngCộng sản Việt Nam thành một Đảng xã hội - dân chủ và hình thành chế độ đanguyên chính trị, từ bỏ các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, làm biến chất Đảng về chính trị tư tưởng, từng bướcchệch hướng CNXH, cuối cùng rơi vào quĩ đạo tư bản chủ nghĩa Chúng tiếptục sử dụng lá bài “dân chủ” “nhân quyền” hòng tạo ra sự đối lập và phân hoá
xã hội, gây dựng lực lượng phá hoại từ bên trong, kích động khuynh hướng lykhai, khơi dậy một số vấn đề do lịch sử để lại, gây nên mâu thuẫn, xung độtdân tộc, lấy cớ can thiệp vào đất nước ta Đối với quân đội thì chủ nghĩa đếquốc thực hiện âm mưu “Phi chính trị hoá quân đội”, nhằm xoá bỏ hoặc làm vôhiệu hoá sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quân đội, làm mấtbản chất giai cấp công nhân, gây mơ hồ chính trị và phai nhạt lý tưởng chiến đấu
vì độc lập dân tộc và CNXH của quân đội ta Bên cạnh đó các thế lực thù địchkhông từ bỏ việc sử dụng sức mạnh quân sự để đạt được mục tiêu chống phá
Trang 28cách mạng nước ta, khi có điều kiện cho phép và tình huống diễn ra Vì vậy,giáo dục CNYN phải góp phần làm cho HV hiểu rõ bản chất và âm mưu thủđoạn của kẻ thù, luôn luôn mài sắc ý chí chiến đấu, sẵn sàng đập tan mọi hànhđộng của kẻ thù để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹnlãnh thổ và công cuộc xây dựng CNXH của Đảng và nhân dân ta
- Sự tác động chi phối của bối cảnh kinh tế- xã hội.
Đất nước ta sau hơn 20 năm đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu to lớn vàquan trọng, kinh tế phát triển, sản phẩm của xã hội tăng nhanh, văn hoá xã hội cónhiều chuyển biến tiến bộ, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng cao,trong đó có quân đội, vị thế của đất nước đối với khu vực và thế giới ngày càng đư-
ợc mở rộng Chính điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho giáo dục CNYN, củng cốlòng tin của HV đối với chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh và sự lãnhđạo của Đảng Tuy nhiên mặt trái cơ chế thị trường và những tồn tại của chế độkinh tế - xã hội hiện nay đã tạo nên sự phân hoá giàu nghèo và các tệ nạn xã hộingày càng phức tạp như lề thói thực dụng, chạy theo đồng tiền, chủ nghĩa cánhân, ích kỷ; lối sống hưởng thụ; coi thường kỷ cương, tính gian dối, hạ thấpgiá trị tinh thần, luân thường, đạo lý cao đẹp, bên cạnh đó tệ quan liêu, thamnhũng và sự thoái hoá về phẩm chất, đạo đức của một bộ phận cán bộ đảngviên chưa được đẩy lùi, tình trạng “chạy chức, quyền”, gia trưởng, cục bộ, bèphái ở một số cán bộ và đơn vị Thực tế khách quan đó đang hàng ngày, hànggiờ tác động tiêu cực tới chất lượng giáo dục CNYN cho HV các NTQS Quađiều tra khảo sát có đến 83,2% đồng ý mặt trái kinh tế thị trường, tham nhũng,tiêu cực trong xã hội tác động nhiều đến giáo dục CNYN cho HV
- Sự tác động ảnh hưởng của truyền thống quê hương, gia đình
Trang 29Quê hương, gia đình là cái nôi nuôi dưỡng, giáo dục con người trưởngthành Do đó, quê hương, gia đình có tác động rất lớn đến giáo dục CNYNcho HV đào tạo sĩ quan cấp phân đội hiện nay, Qua điều tra khảo sát cán bộquản lý, giáo viên và HV một số nhà trường có 81,7% đồng ý vấn đề này.Thông qua những truyền thống tốt đẹp của quê hương, nề nếp gia phong, tưtưởng, tình cảm, giáo dục định hướng của gia đình mà từng bước HV tiếp nhậnnhững giá trị truyền thống yêu nước của dân tộc, hình thành nhân cách củamình Trong đó yếu tố gia đình có sự tác động không nhỏ tới giáo dục CNYNcho HV, gia đình HV hiện nay phần đông ở vùng nông thôn, đều mang đậm néttruyền thống văn hoá dân tộc Việt Nam, cần cù sáng tạo chịu thương chịu khó,tình làng nghĩa xóm, nhân ái nhân văn Trong những năm kháng chiến họ mộtlòng theo Đảng, cống hiến sức người, sức của cho sự nghiệp cách mạng giảiphóng thống nhất đất nước Trong giai đoạn cách mạng hiện nay thực hiệnđường lối đổi mới của Đảng, đời sống gia đình HV không ngừng được nângcao, tạo điều kiện cho HV an tâm thực hiện tốt nhiệm vụ học tập rèn luyện.Tuy nhiên bên cạnh đó sự tác động của mặt trái cơ chế thị trường, sự phân tầng,phân hoá giàu nghèo dẫn đến một số gia đình HV còn gặp không ít khó khăn,đặc biệt gia đình các HV dân tộc ít người, vùng sâu vùng xa Mặt khác có một
số gia đình HV chủ yếu quan tâm đến làm ăn kinh tế, ít có điều kiện quan tâmđến giáo dục, định hướng nên dẫn đến một số HV mang tính thực dụng, ít quantâm đến đồng chí đồng đội, biểu hiện ngại khó ngại khổ trong học- rèn Tínhtoán so đo khi ra trường “về đâu, ở đâu” có điều kiện tốt, ngại đến nơi khókhăn gian khổ Từ thực tế trên cho thấy gia đình HV có vai trò quan trọng tácđộng ảnh hưởng đến quá trình giáo dục CNYN cho HV ở NTQS hiện nay
* Các yếu tố bên trong
Trang 30- Sự tác động chi phối của đặc điểm tâm lý HV các NTQS
Đặc điểm tâm lý lứa tuổi HV là một trong những yếu tố tác động mạnh mẽđến quá trình giáo dục CNYN cho HV trong quá trình đào tạo ở NTQS hiện nay.Khi điều tra, khảo sát ảnh hưởng của yếu tố này tới giáo dục CNYN cho HV có
85,3% đồng ý vấn đề này Học viên ở NTQS là những thanh niên và những
quân nhân đã và đang trưởng thành tuổi từ 18- 22, có sự phát triển tương đốihoàn thiện về mặt thể chất Đây là lứa tuổi thường tỏ ra nhạy cảm với cái mớiham học hỏi, thích tìm tòi khám phá phát hiện những điều mới lạ trong hoạtđộng quân sự, là lứa tuổi sôi nổi nhiệt tình có quyết tâm cao, yêu thích cáchoạt động tập thể có khả năng thích ứng với sự biến đổi của xã hội và điềukiện phức tạp của hoạt động quân sự Đồng thời họ là những người sinh ra vàlớn lên trong điều kiện hoà bình nên có nhiều thuận lợi cho sự phát triển cácphẩm chất nhân cách cá nhân Thành phần xuất thân thì phong phú đa dạng,phần lớn là con em nông dân và công nhân viên chức nhà nước, trong đó tỷ lệcon gia đình quân nhân, cán bộ, Đảng viên tương đối cao nên họ được thừahưởng nhiều đức tính tốt đẹp của thế hệ cha ông ngày trước Bên cạnh đó họđược giáo dục- đào tạo dưới mái trường XHCN có mặt bằng kiến thức tươngđối đồng đều có trình độ văn hoá tốt nghiệp phổ thông trung học, có nguyệnvọng phục vụ lâu dài trong quân đội Khi thi tuyển vào các trường quân sự, họđược tuyển chọn một cách kỹ lưỡng tại các cơ quan quân sự địa phương hoặctại các đơn vị cơ sở nơi mà họ đang công tác, có đủ các tiêu chuẩn về lai lịchchính trị, phẩm chất đạo đức, tham gia dự thi các kỳ tuyển sinh quân sự theođúng qui chế tuyển sinh của Bộ quốc phòng và Bộ giáo dục- đào tạo Khitrúng tuyển được gọi nhập học vào các trường quân sự, được trang bị đầy đủkiến thức văn hoá, ngoại ngữ, các môn KHXH- NV, các chuyên ngành quân sự
Trang 31Sau khi tốt nghiệp ra trường đảm nhiệm tốt cương vị trung đội trưởng, đại đội phóchính trị và chức vụ tương đương, có điều kiện phát triển lên các chức vụ cao hơn,đồng thời biết tiến hành và tiến hành tốt công tác đảng, công tác chính trị ở đơn vị
cơ sở Họ là những sĩ quan quân đội tương lai, lực lượng rường cột của quânđội, giữ vai trò quan trọng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Bên cạnh nhữngđặc điểm thuận lợi trên thì cũng còn không ít khó khăn cản trở đến quá trình giáodục CNYN, bởi họ thuộc lớp người trẻ tuổi, chưa được rèn luyện thử thách quachiến tranh ác liệt và cuộc đấu tranh trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng Vì vậy,
sự giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị của họ có phần hạn chế, dễ giao động
tư tưởng khi gặp khó khăn gian khổ, dễ bi quan chán nản, thiếu tính kiên trì,nhẫn nại có thể dẫn đến sự do dự, cực đoan trong thái độ, hành vi Đặc biệttrong điều kiện hiện nay, sự chống phá quyết liệt của kẻ thù trong chiến lược
“Diễn biến hoà bình”, sự tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường đã ảnhhưởng không nhỏ đến nhận thức tình cảm, phẩm chất nhân cách của HV Mặtkhác một bộ phận HV thuộc diện cử tuyển vào các NTQS về trình độ, năng lựcnhận thức, khả năng tiếp thu khoa học, kỹ thuật có phần hạn chế, động cơ nghềnghiệp chưa thật sự ổn định vững chắc; nhận thức về chức trách, nhiệm vụ củangười HV đào tạo sĩ quan cấp phân đội còn đơn giản; trong ý thức của họ còn inđậm những “dấu vết” truyền thống, thói quen, tập quán của mỗi dân tộc, địaphương mà họ là thành viên Đáng chú ý ở một số NTQS phía Nam do điều kiệnlịch sử - xã hội để lại nên nhận thức chính trị- xã hội của một số HV còn hạn chế,mặc dù không chịu ảnh hưởng trực tiếp của nền văn hoá thực dân mới nhưng vẫncòn chịu ảnh hưởng tàn dư và di hại của nó Những vấn đề trên tác động ảnhhưởng không nhỏ đến quá trình giáo dục CNYN cho HV ở các NTQS hiện nay
- Sự tác động chi phối của nhiệm vụ giáo dục- đào tạo của NTQS.
Trang 32Quá trình giáo dục CNYN cho HV luôn bị chi phối ảnh hưởng từ thực
tiễn hoạt động giáo dục- đào tạo của các NTQS, yếu tố này giữ vai trò quantrọng có sức chi phối thường xuyên và trực tiếp đối với cách thức tổ chức giáodục CNYN cho HV Qua điều tra khảo sát ảnh hưởng của yếu tố này tới giáodục CNYN có tới 96,1% HV đồng ý Những yếu tố tác động cơ bản tronghoạt động giáo dục- đào tạo đó là chương trình, nội dung, thời gian, phươngpháp, đánh giá chất lượng kết quả giáo dục- đào tạo, cùng những đặc điểmcủa giáo viên, cán bộ quản lý và hoạt động học tập, rèn luyện của HV Trong
đó chương trình, nội dung, thời gian, phương pháp được tổ chức một cáchkhoa học, hợp lí, theo trình tự lô-gíc chặt chẽ, kết quả giáo dục- đào tạo đượcđánh giá một cách khách quan thì sẽ làm cho HV có hứng thú say mê tronghọc- rèn, và quá trình giáo dục CNYN sẽ nhanh chóng đạt được kết quả, mức
độ giác ngộ CNYN cũng được nâng cao Ngoài ra lực lượng cán bộ quản lý,giáo viên, đặc biệt là đặc điểm hoạt động học tập, rèn luyện của HV là nhữngyếu tố tác động trực tiếp vào quá trình giáo dục CNYN Bởi vì, hoạt động họctập, rèn luyện của HV diễn ra trong môi trường sư phạm có tổ chức kỷ luậtchặt chẽ và nghiêm minh, vừa mang tính chất của trường đại học, đồng thời làmột đơn vị vũ trang Do đó, về cơ cấu tổ chức lãnh đạo, chỉ huy, quản lý giáodục- đào tạo của nhà trường vừa tuân thủ theo qui định chung của Bộ giáo dục-đào tạo đồng thời vừa mang những đặc điểm riêng của hoạt động quân sự Nếucác trường ngoài quân đội sinh viên được tổ chức theo từng khoá học, việc quản
lý chủ yếu là sinh viên tự quản từ việc ăn ở, sinh hoạt, học tập ngoài giờ, diễn ratheo nhu cầu cá nhân, sau các giờ lên lớp họ có thể về sống cùng gia đình, ở nhàtrọ hoặc ký túc xá của nhà trường Ngược lại HV ở NTQS thực hiện nhiệm vụhọc tập rèn luyện diễn ra trong sự quản lý chặt chẽ của một hệ thống tổ chức chỉ
Trang 33huy, quản lý từ tiểu đội đến trung đội, đại đội, tiểu đoàn và sự chỉ đạo thống nhất
từ trên xuống dưới, luôn luôn đảm bảo tính sẵn sàng chiến đấu cao đáp ứng yêucầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống Nơi ăn, ở, sinh hoạt mang tính tập trungtrong doanh trại, bảo đảm thống nhất về trật tự nội vụ, thực hiện tốt các chế độtrong ngày và trong tuần, xây dựng đơn vị chính qui theo chỉ thị 37 của Đảng uỷquân sự trung ương Hoạt động học tập, rèn luyện của HV không chỉ đơn thuầndiễn ra ở trong phòng học, giảng đường mà còn diễn ra trên các thao trường, bãitập, dã ngoại, tham gia diễn tập tổng hợp trong mọi điều kiện địa hình thời tiếtkhác nhau, sát với ngành nghề, sát với tình huống chiến đấu, sát với đối tượngtác chiến Điều này có ý nghĩa thiết thực đối với việc rèn luyện sự vững vàng vềbản lĩnh chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, ý thức tổ chức kỷ luật cũng như cácphẩm chất yêu nước của người sĩ quan cấp phân đội Bên cạnh đó hoạt động họctập, rèn luyện của HV diễn ra với cường độ cao cả về trí tuệ và thể lực, để tiếpthu một khối lượng kiến thức toàn diện cả về chính trị và quân sự, khoa học
kỹ thuật và kiến thức chuyên ngành, trong điều kiện môi trường học tập vôcùng khó khăn, gian khổ; cơ sở vật chất và các điều kiện bảo đảm học tập,sinh hoạt còn có mặt thiếu thốn; kỷ luật quân sự chặt chẽ và nghiêm túc Dođặc điểm địa lý nơi đóng quân của từng NTQS, HV luôn phải học tập, rènluyện ở môi trường thời tiết rất khắc nghiệt, có nơi khi trời nóng tới 40,41oC,
bộ đội vẫn ra thao trường, hoặc nhiệt độ xuống tới 9 -10oC HV vẫn phải vượtsông theo giáo án Có những lần diễn tập tổng hợp HV phải hành quân hàngtrăm cây số với đầy đủ vũ khí trang bị, với nhiều tình huống chiến thuật cóphần ác liệt hơn thực tế chiến đấu thật trong một thời gian ngắn, với điều kiệnđêm tối, địa hình sông nước, rừng núi hiểm trở, thời tiết mưa rét, nắng nóngthất thường; kỷ luật học tập, hành quân, diễn tập được duy trì chặt chẽ,
Trang 34nghiêm túc Từ đó có thể thấy hoạt động học tập, rèn luyện của HV diễn ra có
tổ chức kỷ luật chặt chẽ, nghiêm minh và cường độ cao cả về thể chất và trítuệ là yếu tố tác động ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình giáo dục CNYN cho
HV hiện nay
Nhận thức và phân tích một cách khoa học những yếu tố, đặc điểm tácđộng trên đây vừa là cơ sở để xác định các nội dung và tìm ra những biện phápgiáo dục CNYN phù hợp, đồng thời đó cũng là yếu tố tác động có tính haimặt tới quá trình giáo dục CNYN cho HV ở NTQS hiện nay
1.2 Thực trạng giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho học viên nhà trường quân sự hiện nay
Qua tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, nghiên cứu sản phẩm giáo dục CNYN;cũng như điều tra bằng phiếu (An két) 500 HV đang được đào tạo sĩ quan cấpphân đội, 250 cán bộ, giáo viên trực tiếp giảng dạy, quản lý HV ở một số nhàtrường sĩ quan Tác giả đưa ra những thông tin cần thiết về thực trạng giáo dụcCNYN cho HV ở NTQS hiện nay trên các vấn đề sau đây:
1.2.1 Những kết quả trong giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho học viên nhà trường quân sự hiện nay
* Thực trạng việc giáo dục CNYN cho HV các NTQS
- Về nội dung giáo dục CNYN cho HV, trong những năm qua nội dung
giáo dục CNYN cho HV các NTQS tương đối toàn diện, kết cấu khá chặtchẽ
và luôn đổi mới trên các nội dung như: giáo dục về lịch sử truyền thống,lòng tự hào dân tộc; chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đườnglối quan điểm của Đảng, nhiệm vụ của quân đội, nhà trường; giáo dục lòngtrung thành với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân; tinh thần cảnh giác cách
Trang 35mạng, nhận rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù; tinh thần đoàn kết nội
bộ, đoàn kết quân dân cho HV
Các nội dung trên đã góp phần nâng cao nhận thức cho HV về độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, vun đắp tình yêu quê hương đất nước, nâng cao lòng tựhào về Đảng, tin tưởng sự lãnh đạo của Đảng và quyết tâm bảo vệ Đảng, lòngquý trọng và tinh thần bảo vệ dân, bảo vệ Nhà nước, có tình cảm thiết tha vớichế độ XHCN Đồng thời thông qua các nội dung giáo dục CNYN đã làmchuyển hoá tinh thần yêu nước trong mọi HV từ trạng thái tâm lý, tình cảm trởthành bản lĩnh chính trị và mang tính tự nguyện tự giác, với ý chí sẵn sàng hy sinh
vì độc lập dân tộc và CNXH, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốcXHCN trong thời kỳ mới Qua khảo sát Trường SQLQ1, Trường SQLQ2,HVCT-QS (phân viện 2), Trường SQTT, đại đa số HV được hỏi ý kiến đều cónhận thức tốt về những nội dung của CNYN (từ 53,7 - 81,6%)
- Về phương pháp giáo dục CNYN cho HV các NTQS đã có sự lựa chọn
theo hướng đa dạng các phương pháp cho phù hợp với điều kiện học tập, rènluyện của HV như: đưa HV vào hoạt động thực tiễn để giáo dục; gắn giáo dục
thuyết phục với thực tiễn, minh họa và toạ đàm, trao đổi; thông qua những tấm
gương yêu nước trong lịch sử và hiện tại, gương người tốt việc tốt để giáo dục,tuyên truyền, động viên, khuyến khích HV Qua khảo sát hơn 45% cán bộ giáoviên, HV Trường SQLQ1, Trường SQLQ2, HVCT-QS (phân viện 2), TrườngSQTT được hỏi ý kiến đều đánh giá đã có sự lựa chọn, đổi mới theo hướng đadạng các phương pháp giáo dục CNYN phù hợp với điều kiện học- rèn của HV
- Về hình thức tổ chức giáo dục CNYN cho HV thường được các nhà
trường sử dụng chủ yếu là: thông báo chính trị tuần, tháng; học các văn kiện,nghị quyết của Đảng; sinh hoạt quán triệt nhiệm vụ; thi tìm hiểu truyền thống;
Trang 36toạ đàm giao lưu kết nghĩa; nghe kể chuyện chiến đấu; tham quan di tích lịchsử; sinh hoạt văn hoá- văn nghệ và thông qua tham gia công tác xã hội, xâydựng địa bàn cơ sở Các hình thức này có tác dụng rất lớn đến giáo dụctruyền thống, xây dựng tinh thần yêu nước, ý thức tự hào dân tộc, tạo nguồnsức mạnh mới cho HV trong học- rèn, chiếm lĩnh mọi tri thức khoa học quân
sự đáp ứng với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Qua điều tra khảo sát ởTrường SQLQ1, SQLQ2, HVCT-QS (phân viện 2), Trường SQTT có từ 78,3 -86,1% HV khẳng định các hình thức trên đều có tác dụng tốt đến giáo dụcCNYN Song do từng nhà trường có điều kiện hoàn cảnh, địa bàn đóng quânkhác nhau, nên mức độ sử dụng các hình thức trên vào giáo dục CNYN cho
HV cũng không ngang bằng nhau Qua kết quả điều tra bằng phiếu cho thấymức độ sử dụng các hình thức giáo dục CNYN của các nhà trường như sau:
Bảng1: Mức độ sử dụng các hình thức giáo dục CNYN của các NTQS
T
T Hình thức giáo dục
Số lần sử dụng các hình thức TSQL
Q 1
TSQL Q 2
TSQ
(PV2)
1 Học các văn kiện, nghị quyết của Đảng 65 -70 67 - 72 60 - 69 69-72
2 Sinh hoạt đơn vị; thông báo chính trị tuần,
4 Giáo dục chính trị tư tưởng, học tập chính trị 71 - 80 72 - 80 70 - 79 75 - 84
5 Thi tìm hiểu truyền thống. 55 - 62 56 -64 52 -60 59-67
6 Tổ chức các hoạt động kết nghĩa quân dân 33 - 40 32 -43 30 -35 36-45
7 Nghe kể chuyện chiến đấu 22 - 31 26 -33 20 -29 25-34
Trang 379
Sinh hoạt văn hoá, văn nghệ
Sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng
như đọc báo, nghe đài, xem vô tuyến…
- Phương tiện giáo dục, thời gian qua lực lượng giáo dục ở các NTQS đã
có bước chuyển quan trọng về nhận thức, đã quan tâm đúng mức hơn việc trang bị
và sử dụng các phương tiện giáo dục phù hợp, đa dạng, hiện đại hơn Nhiều nhàtrường đã kết hợp được “sự cộng hưởng” của các phương tiện khác nhau như:phương tiện nghe, nhìn; các hiện vật lịch sử, các chứng nhân lịch sử, các mô hìnhthực tiễn để giáo dục CNYN cho HV
- Phát huy vai trò của các lực lượng giáo dục, các NTQS đã chú ý phát
huy vai trò của đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý cũng như tăng cường phốihợp chặt chẽ các lực lượng, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nhà trường vàotrong quá trình giáo dục CNYN cho HV Qua phỏng vấn, có 49,2% cán bộ,giáo viên khẳng định việc phối hợp, phát huy sức mạnh tổng hợp từ các lựclượng nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục CNYN cho HV đã được thực hiệntốt; có 51,2% HV cho rằng tấm gương sáng của giáo viên, cán bộ quản lý trong việcphát triển tình cảm, niềm tin của họ đối với đất nước, quê hương, đồng đội, với sựnghiệp bảo vệ Tổ quốc được phát huy tốt
- Xây dựng môi trường giáo dục đã được các nhà trường quan tâm đầu tư
xây dựng, tạo điều kiện thuận lợi cho giáo dục CNYN Qua điều tra có 39,4% ý
Trang 38kiến của cán bộ giáo viên, 40,5% của HV đánh giá tốt việc xây dựng môitrường theo hướng tăng cường giáo dục các giá trị về CNYN cho HV
- Sự cố gắng trên đây của các NTQS đã có kết quả rõ rệt trong việc giáodục CNYN cho HV, điều đó được biểu hiện qua nhận thức- thái độ- hành độngcủa HV như sau:
+ Về nhận thức của HV:
Thông qua giáo dục đại đa số HV nhận thức rõ ràng về độc lập dân tộcgắn liền với CNXH, về giá trị của độc lập tự do của Tổ quốc và nhận thức rõvai lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, về mọi mặt của Đảng đối với quân đội Quađiều tra có 79,2% HV các NTQS nhận thức tốt về độc lập dân tộc gắn vớiCNXH và 68,3% về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội
Nhận thức của HV về lịch sử truyền thống văn hóa dân tộc, Đảng,quân đội, nhà trường và truyền thống các địa phương khá sâu sắc Kết quảđiều tra chỉ rõ có 53,7% HV các NTQS nhận thức tốt về truyền thống củaĐảng, dân tộc, của quân đội, nhà trường và truyền thống các địa phương
Học viên luôn xác định đúng kẻ thù, nhận rõ âm mưu, thủ đoạn củachúng đặc biệt là chiến lược “Diễn biến hoà bình” bạo loạn lật đổ “Phi chínhtrị hoá” quân đội của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch Kết quả điềutra chỉ rõ có 75,4% HV nhận thức tốt về đối tượng tác chiến, bản chất, âmmưu, thủ đoạn của kẻ thù
Đại đa số HV đã nhận thức đúng về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt NamXHCN trong thời kỳ mới là bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc, bảo vệ chủquyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ chế độ XHCN; bảo vệ Đảng,Nhà nước, nhân dân Kết quả điều tra cho thấy nhận thức của HV về nhiệm
vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam với tỉ lệ cao 81,6%
Trang 39+ Về thái độ yêu nước của HV
Hứng thú khi nghe kể chuyện, hoặc tham quan truyền thống(80,5%);phản ứng mạnh mẽ việc nói xấu, xuyên tạc lịch sử truyền thống dân tộc, Đảng,quân đội (70,4%); mong muốn đạt kết quả cao trong học tập (76,2%); lựa chọnnơi công tác khi ra trường, mặc dù các HV có nguyện vọng không thống nhất,nhưng đã có tới 32,5% tình nguyện được công tác ở những nơi khó khăn
+Về hành động yêu nước của HV, được thể hiện tham gia ngày càng
nhiều vào các hoạt động: đền ơn đáp nghĩa; ủng hộ đồng bào gặp hoạnnạn; chăm sóc bà mẹ Việt Nam anh hùng, người có công; tham gia đấutranh giữ gìn xây dựng bản sắc văn hóa dân tộc; tích cực đấu tranh phòngchống các tệ nạn xã hội, chống luận điệu tuyên truyền phản động củađịch; đoàn kết trong đơn vị, thương yêu đồng chí đồng đội, gắn bó vớinhân dân có 87,6,% HV thực hiện tốt; nêu cao tính tự giác, tích cực tronghọc- rèn, chiếm lĩnh tri thức khoa học quân sự có 79,4% HV thực hiện tốt;phát huy dân chủ XHCN, chấp hành nghiêm pháp luật nhà nước, kỷ luậtcủa quân đội, nhà trường có 90,3% HV thực hiện tốt
+ Kết quả giáo dục CNYN cho HV được biểu hiện trong học- rèn, công
tác và tham gia các hoạt động chính trị xã hội Qua điều tra cũng như theo báocáo tổng kết năm học của một số nhà trường từ năm học 2002 trở lại đây cho thấy:
Kết quả học tập các môn học: Trường SQTT tỷ lệ HV đạt mức khá, giỏi từ65% - 75%; Trường SQLQ1 đạt khá, giỏi từ 67% - 76%; Trường SQLQ2 đạt mứckhá, giỏi từ 68% - 77%; HVCT- QS (phân viện 2) đạt mức khá, giỏi từ 70% - 79%
Kết quả rèn luyện kỷ luật của HV: Trường SQTT tỷ lệ HV đạt tốt90,2%; Trường SQLQ1 đạt tốt 91,5%; Trường SQLQ2 đạt tốt 91,28%;HVCT-QS (phân viện 2) đạt tốt 92,3%
Trang 40Sẵn sàng nhận nhiệm vụ và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao quađiều tra có 90,1% hoàn thành tốt
Tham gia các hoạt động ngoại khoá, đền ơn đáp nghĩa, ủng hộ đồngbào gặp hoạn nạn, phòng chống bão lụt có 67,4% đánh giá tốt
Những số liệu trên chứng tỏ giữa nhận thức và hành động của HVvề
CNYN hiện nay tương đối thống nhất
* Nguyên nhân của kết quả đã đạt được
Qua tìm hiểu cho thấy, nhân tố giữ vai trò quan trọng quyết định đến khâu
tổ chức thực hiện việc giáo dục CNYN cho HV đào tạo sĩ quan cấp phân đội ởNTQS là hệ thống lãnh đạo, chỉ huy các cấp của nhà trường Nội dung giáo dụcCNYN đã được các lực lượng giáo dục lồng ghép vào các hoạt động chung nhưlên lớp theo chuyên đề, toạ đàm, diễn đàn, hội thảo, sinh hoạt kỷ niệm các ngày
lễ, ngày truyền thống, Các biện pháp giáo dục đã có tính đa dạng, phong phúvà
thiết thực hơn, góp phần từng bước nâng cao chất lượng giáo dục CNYN
Trong quá trình giáo dục CNYN cho HV các nhà trường đã phát huy đượcsức mạnh tổng hợp của các thành phần, lực lượng, đặc biệt là giáo viên cán bộquản lý trong giáo dục CNYN Đã kết hợp giữa giáo dục thuyết phục với nhữngảnh hưởng của công tác chính sách, thi đua khen thưởng, rèn luyện kỷ luật,xây dựng chính qui, các phong trào thi đua trong giảng dạy và học tập, tạonên những điều kiện thuận lợi cho HV tiếp thu các tri thức về truyền thốnglịch sử dân tộc, Đảng, quân đội, nhà trường Bên cạnh đó HV đã phát huy tốttinh thần trách nhiệm trong học tập, rèn luyện phẩm chất đạo đức nói chung
và nhận thức về những giá trị của CNYN nói riêng