1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN án TIẾN sĩ bộ đội BIÊN PHÒNG VIỆT NAM TRONG sự NGHIỆP bảo vệ CHỦ QUYỀN AN NINH BIÊN GIỚI QUỐC GIA HIỆN NAY

206 1K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 206
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủ quyền an ninh biên giới quốc gia và việc tổ chức lực lượng, phương tiện bảo vệ CQANBG là mối quan tâm hàng đầu của bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Tính chất, nhiệm vụ và việc xây dựng tổ chức lực lượng chuyên trách bảo vệ CQANBGQG phải luôn luôn phù hợp với tình hình chính trị và đường lối đối nội, đối ngoại của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chủ quyền an ninh biên giới quốc gia và việc tổ chức lực lượng,

phương tiện bảo vệ CQANBG là mối quan tâm hàng đầu của bất cứ quốcgia nào trên thế giới Tính chất, nhiệm vụ và việc xây dựng tổ chức lựclượng chuyên trách bảo vệ CQANBGQG phải luôn luôn phù hợp với tìnhhình chính trị và đường lối đối nội, đối ngoại của mỗi quốc gia trong từnggiai đoạn lịch sử cụ thể

Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến mới phức tạp và chứa đựng những yếu tố không ổn định Đất nước ta bước vào thời

kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bên cạnh những

thuận lợi cơ bản, cũng còn không ít những thách thức và nguy cơ mới: cácmâu thuẫn cơ bản của thời đại vẫn tồn tại và diễn biến phức tạp; các thế lựcthù địch vẫn luôn coi Việt Nam là một mục tiêu chống phá, hòng xóa bỏchủ nghĩa xã hội (CNXH) ở nước ta

Biên giới nước ta có vị trí chiến lược quan trọng cả về kinh tế, chính

trị, quốc phòng, an ninh và đối ngoại Trên các tuyến biên giới đất liền vàvùng biển hiện đang trong xu thế hòa hoãn, hữu nghị, hợp tác nhưng vẫncòn chịu nhiều sự tác động, xâm nhập, phá hoại của các loại đối tượng, cáclực lượng thù địch trong và ngoài nước Lợi dụng đường lối đổi mới vàchính sách mở cửa của Đảng của Nhà nước ta, chủ nghĩa đế quốc cùng cácthế lực thù địch đẩy mạnh xâm nhập về kinh tế hòng làm chuyển hóa vềchính trị; lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo để tấn công vào nội bộ taphá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất ổn định trên các tuyến biên giới

Tình trạng tranh chấp chủ quyền biên giới đất liền, trên biển diễnbiến hết sức phức tạp Do lịch sử để lại, việc giải quyết các mâu thuẫn tồntại trên biên giới đất liền, trên biển còn kéo dài, vừa hợp tác vừa đấu tranh

Trang 2

và chưa thể loại trừ hành động mở rộng lấn chiếm bằng vũ lực từ bên kiabiên giới.

Tình hình nêu trên đang đặt ra yêu cầu mới cho sự nghiệp bảo vệCQANBG ,nói chung và cho việc xây dựng, phát triển lực lượng bộ độiBiên phòng (BĐBP), nói riêng

BĐBP là một thành phần của Quân đội nhân dân Việt Nam, một lực

lượng vũ trang của nhân dân ta đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, là lực lượngnòng cốt, chuyên trách quản lý, bảo vệ CQANBGQG; là lực lượng thànhviên của các khu vực phòng thủ tỉnh, huyện biên giới Từ ngày thành lậpđến nay, BĐBP đã phấn đấu khắc phục nhiều khó khăn, chịu đựng nhiều hysinh gian khổ, hoàn thành tốt nhiệm vụ quản lý, bảo vệ CQANBGQG; tíchcực tham gia xây dựng cơ sở chính trị và thực hiện các chương trình kinhtế-xã hội, góp phần đoàn kết đồng bào các dân tộc xây dựng và bảo vệ biêngiới của Tổ quốc ngày càng vững mạnh

Tuy nhiên, trong công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ

nghĩa (XHCN) ở nước ta hiện nay, nhiều vấn đề mới và phức tạp đang đặt

ra cả về nhận thức cũng như hành động cần phải giải quyết trên lĩnh vựcbảo vệ CQANBGQG gắn với việc củng cố và xây dựng lực lượng BĐBP.Thực tiễn 40 năm xây dựng và trưởng thành của BĐBP cho thấy, bên cạnh

những ưu điểm, BĐBP còn bộc lộ nhiều mặt hạn chế: trình độ và năng lực

tổ chức, chỉ huy, lãnh đạo của một số đơn vị chưa đáp ứng được yêu cầunhiệm vụ; đời sống cán bộ, chiến sĩ còn nhiều khó khăn; trang thiết bị, kỹthuật thiếu thốn, lạc hậu; các văn bản pháp luật làm cơ sở cho tổ chức vàhoạt động của BĐBP chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, chưa tạo được sự phốihợp chặt chẽ giữa BĐBP với các lực lượng, các ngành, các địa phương, đặcbiệt là sự phối hợp giữa BĐBP với nhân dân khu vực biên giới, vùng biển,đảo Do đó, BĐBP chưa phát huy được cao nhất sức mạnh tổng hợp bảo

vệ CQANBGQG Hơn nữa, một số khu vực biên giới trên đất liền, trên

Trang 3

biển và đảo của nước ta còn đang bị nước ngoài xâm lấn, chiếm giữ Thờigian qua còn có những nhận thức chưa đầy đủ, đúng đắn về vai trò củaBĐBP trong sự nghiệp bảo vệ CQANBGQG

Trong giai đoạn hiện nay và những năm tới, với đường lối đổi mới

mở rộng hợp tác và giao lưu quốc tế, vai trò của BĐBP trong sự nghiệp bảo

vệ CQANBGQG càng đặc biệt quan trọng Vấn đề này cần được tìm hiểu,

nghiên cứu sâu sắc, toàn diện về vai trò, chức năng, nhiệm vụ và tổ chứcxây dựng lực lượng BĐBP, sao cho phù hợp với những điều kiện mới củađất nước, khu vực, thế giới và thời đại Trên cơ sở đó xác định rõ và đúngđắn vai trò của BĐBP trong sự nghiệp bảo vệ CQANBGQG để có chủtrương, phương hướng chiến lược đúng xây dựng BĐBP vững mạnh đápứng đòi hỏi của nhiệm vụ quản lý, bảo vệ CQANBGQG trong tình hình

mới Vì thế, đề tài luận án này có ý nghĩa thiết thực cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Sự nghiệp bảo vệ CQANBG là một nội dung quan trọng của côngcuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở nước ta, vì thế, vấn đề này đã đượcnhiều người nghiên cứu ở các góc độ khác nhau Trong số đó, đáng chú ý là

một số công trình nghiên cứu: Nguyễn Văn Tấn: "Những luận cứ khoa học của chiến lược bảo vệ vùng biên giới trong giai đoạn mới", (Đề tài KX 09-06,

Hà Nội, 1994); Đặng Vũ Liêm: "Xây dựng mô hình an ninh cộng đồng ở biên giới lấy đồn biên phòng làm nòng cốt", (Đề tài cấp bộ - Bộ Nội vụ, 1994); Phạm Hữu Bồng: "Ổn định lâu dài biên giới quốc gia", (Đề tài

KX-XH 07 05, 1999);

Ngoài ra, còn một số công trình, bài viết đề cập ở những khía cạnh

khác nhau của đề tài như: Nguyễn Đức Châu - Nguyễn Tuấn Chung: "Ông cha ta bảo vệ biên giới quốc gia ", (Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, 1994); Bộ Tư lệnh BĐBP: "Lịch sử bộ đội Biên phòng tập I, II", (Nhà

Trang 4

xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, 1990; Đỗ Mười: "Trách nhiệm của chúng ta hôm nay và các thế hệ mai sau là bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền của Tổ quốc", (Báo Quân đội nhân dân, ngày 21-3-1994, tr.4); Trần Đức Lương: "Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng trong khai thác thế mạnh vùng biển và thềm lục địa", (Báo Quân đội nhân dân, ngày 20-3-

1994, tr.1); Đinh Văn Tuy: "Những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh

về bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia", (Tạp chí Công an nhân dân, số 1985); "Mấy vấn đề về biên giới Việt Nam", (Tạp chí Nghệ thuật quân sự,

3-số 4-1997); Lò A Ngân: "Đoàn kết một lòng đấu tranh bảo vệ CQANBG", (Tạp chí Công an nhân dân, số 3-1995); Trịnh Trân: " Tăng cường công tác quản lý bảo vệ CQANBG Tổ quốc phục vụ sự nghiệp đổi mới đất nước", (Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 3-1995); Phạm Hữu Bồng: "Tư tưởng

Hồ Chí Minh về công tác biên phòng", (Nhà xuất bản Quân đội nhân dân,

Hà Nội, 1999); Đặng Vũ Liêm: "Bảo vệ biên giới quốc gia chống Diễn biến hòa bình", (Tạp chí Nghiên cứu Lý luận số 5-1994), "Bộ đội Biên phòng với việc xây dựng điểm sáng văn hóa trên biên giới, hải đảo", (Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 7-1998); Tăng Huệ: "Bộ đội Biên phòng trong

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc", (Tạp chí Nghệ thuật quân sự, số

2-1996) v.v

Ngoài các đề tài cấp Nhà nước, cấp bộ; một số cuốn sách, các bàiviết đăng trên các tạp chí, báo đã công bố, một số tác giả đã chọn lĩnh vựcbảo vệ CQANBGQG làm đề tài cho các luận án tiến sĩ, phó tiến sĩ như:

Đặng Vũ Liêm: "Vai trò nhân dân các dân tộc trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia phía Bắc nước ta hiện nay", (Luận án PTS Triết học, Hà Nội, 1997); Tăng Huệ: "Nghiên cứu phương pháp đấu tranh của bộ đội Biên phòng phòng chống lấn chiếm biên giới tuyến biên giới đất liền phía Bắc", (Luận án PTS khoa học Quân sự, Hà Nội, 1996); Hoàng Minh Hiểu: "Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra đảng viên chấp

Trang 5

hành Điều lệ Đảng ở các đảng bộ bộ đội Biên phòng hiện nay", (Luận án

TS khoa học Quân sự, Hà Nội, 1997); Bùi Xuân Hoàn: "Cơ sở tâm lý - xã hội của việc củng cố nâng cao uy tín cán bộ chính trị đơn vị cơ sở BĐBP",

(Luận án TS khoa học Quân sự, Hà Nội, 1998), v.v

Như vậy, vấn đề biên giới quốc gia và lực lượng BĐBP đã được một

số tác giả quan tâm nghiên cứu Song, cho đến nay, trên những công trình

đã được công bố, ở nước ta chưa có công trình nào ở cấp độ luận án tiến sĩ,

đi sâu đề cập một cách tập trung, cơ bản, có hệ thống về vai trò, nhiệm vụ

của BĐBP trong việc quản lý, bảo vệ CQANBGQG Chọn đề tài: "Bộ đội

Biên phòng Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia hiện nay", tác giả luận án hy vọng góp phần nhỏ vào việc

giải quyết vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách ở nước ta hiệnnay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

- Dưới góc độ chính trị - xã hội, luận án có mục đích làm rõ những

căn cứ lịch sử, lý luận, thực tiễn của quá trình hình thành, phát triển và vaitrò của BĐBP do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo trong sự nghiệp bảo vệCQANBGQG Từ đó, đề xuất một số giải pháp cơ bản, khả thi để xây dựnglực lượng BĐBP vững mạnh toàn diện, bảo vệ vững chắc CQANBG trong

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN thời kỳ mới

Để đạt mục đích trên, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ

sau đây:

+ Trình bày một cách khái quát những vấn đề liên quan và tác độngtrực tiếp đến việc xác định vai trò của BĐBP trong thời kỳ mới, như: kháiniệm "bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới", những bài học lịch sử về bảo vệbiên giới quốc gia, đặc điểm của BĐBP với tính cách là một bộ phận củalực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam

+ Nêu lên những nét cơ bản nhất về thực trạng của BĐBP nước ta

Trang 6

hiện nay, xác định, phân tích làm sáng rõ vai trò to lớn của BĐBP trong sựnghiệp bảo vệ CQANBG, nhất là trong thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

+ Xác định phương hướng cơ bản và những giải pháp chủ yếu để xâydựng BĐBP Việt Nam vững mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp bảo vệCQANBG trong thời kỳ mới

4 Cơ sở lý luận và thực tiễn; phương pháp và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng cộng sản ViệtNam; các chỉ thị, nghị quyết của Đảng ủy Quân sự Trung ương, Tổng cụcChính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; các tác phẩm của các đồng chí lãnhđạo Đảng, Nhà nước, quân đội liên quan trực tiếp đến đề tài Luận án có sửdụng tài liệu của các nhà khoa học, các cơ quan nghiên cứu trong và ngoàinước, các tài liệu thống kê, báo cáo sơ kết, tổng kết có liên quan đến đề tài

Mác Cơ sở thực tiễn của luận án là những thành tựu và hạn chế tronglịch sử bảo vệ biên giới của ông cha ta; thực trạng biên giới, BĐBP trongnhững năm qua và yêu cầu của sự nghiệp bảo vệ CQANBGQG trong thời

kỳ mới ở nước ta

- Luận án được tiến hành trên cơ sở vận dụng phương pháp luận duyvật biện chứng, duy vật lịch sử, kết hợp với phương pháp lịch sử - lôgíc và

sử dụng các phương pháp của xã hội học (điều tra, khảo sát, nghiên cứuthực tiễn, phân tích tổng hợp, tham khảo chuyên gia, ) trong đó phươngpháp lịch sử - lôgíc được đặc biệt chú ý

- Phạm vi nghiên cứu của luận án là các đơn vị BĐBP tuyến biêngiới đất liền, tuyến biên giới biển, đảo trong phạm vi cả nước; quá trìnhhình thành và phát triển của lực lượng BĐBP Việt Nam từ năm 1959 đếnnay

Trang 7

5 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận án

- Dưới góc độ chính trị - xã hội, luận án đã hệ thống hóa những vấn đề

lý luận và thực tiễn cơ bản liên quan đến lực lượng BĐBP và sự nghiệp bảo

vệ CQANBGQG

- Trên cơ sở đó, luận án phân tích rõ phương hướng xây dựng BĐBPViệt Nam trong tình hình mới và một hệ giải pháp cơ bản có tính khả thitác động để lực lượng này phát triển vững mạnh, toàn diện theo hướng cáchmạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại đáp ứng được yêu cầubảo vệ vững chắc CQANBG nước ta hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Luận án cũng góp phần cung cấp một số luận cứ làm cơ sở khoahọc cho việc lãnh đạo và chỉ huy BĐBP trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệCQANBG nước ta hiện nay

- Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiêncứu về BĐBP và giảng dạy nghiệp vụ công tác biên phòng ở các cấp họcđại học, trung học thuộc hệ thống đào tạo của lực lượng BĐBP

7 Kết cấu luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận

án gồm 3 chương 6 tiết

Trang 9

Chương 1

BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG - LỰC LƯỢNG NÒNG CỐT,

CHUYÊN TRÁCH QUẢN LÝ, BẢO VỆ CHỦ QUYỀN AN NINH BIÊN GIỚI QUỐC GIA

1.1 CHỦ QUYỀN AN NINH BIÊN GIỚI VÀ SỰ NGHIỆP BẢO VỆ CHỦ QUYỀN AN NINH BIÊN GIỚI Ở NƯỚC TA

1.1.1 Khái niệm bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia

Khái niệm bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia có nội dung

phong phú, toàn diện, liên quan đến nhiều vấn đề: lãnh thổ quốc gia, chủquyền lãnh thổ quốc gia, biên giới quốc gia, an ninh biên giới quốc gia, v.v

Lãnh thổ quốc gia là một phần của quả đất, bao gồm vùng đất, vùng

nước, vùng trời và lòng đất giới hạn bởi biên giới quốc gia và thuộc chủquyền của một quốc gia, trong đó, nhà nước có thể áp đặt một chế độ pháp

lý cho việc quản lý các hoạt động kinh tế, chính trị-xã hội Lãnh thổ quốcgia có thể to, nhỏ khác nhau, tỉ lệ giữa vùng đất, vùng nước, vùng trời cóthể khác nhau, nhưng không thể thiếu ba thành phần cơ bản này Theo luậtpháp và các điều ước quốc tế, lãnh thổ quốc gia còn bao gồm phần lãnh thổđặc biệt như trụ sở ngoại giao ở nước ngoài, tàu biển, phương tiện bay, tàu

và trạm vũ trụ, xe cộ mang quốc kỳ hoặc các dấu hiệu phân biệt của cácquốc gia đó, đường dây cáp, ống dẫn thuộc quốc gia nằm ngoài lãnh thổcủa quốc gia [72, 456]

Lãnh thổ quốc gia xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước Khicác quốc gia đầu tiên xuất hiện, lãnh thổ quốc gia chỉ là những vùng đấtnhỏ hẹp được giới hạn trên mặt đất, những vùng đó thường có điều kiện địa

lý thuận tiện cho việc sản xuất nông nghiệp Cùng với sự phát triển của các

hệ thống chính trị - xã hội và khoa học kỹ thuật, lãnh thổ quốc gia dần dần

Trang 10

được mở rộng ra biển, lên không trung và sâu xuống tầng ngầm của tráiđất Lãnh thổ quốc gia là một trong ba yếu tố cơ bản hợp thành quốc gia(lãnh thổ, dân cư, nhà nước) Trong đó, lãnh thổ là điều kiện vật chất, là môitrường sống, sinh tồn và phát triển của mỗi quốc gia Bàn về vấn đề này,nhà sử học Phan Huy Chú đã nhận xét rằng: "Của báu của một nước không

gì quí bằng đất đai, nhân dân, của cải từ đó mà ra" [14, 25] Vì vậy, việcbảo vệ toàn vẹn lãnh thổ đã trở thành vấn đề sống còn của mỗi quốc gia,dân tộc

Lãnh thổ quốc gia là những bộ phận nhạy cảm nhất của quyền lợigiai cấp, dân tộc; là một trong những đối tượng có thể bị xâm hại và cầnđược chú trọng bảo vệ đầu tiên Lãnh thổ quốc gia có mối liên hệ hữu cơvới chủ quyền lãnh thổ quốc gia Bởi vì, một khi đã xác định một khu vựcnào đó là lãnh thổ của một quốc gia thì tất yếu sẽ dẫn tới sự cần thiết phảixác định chủ quyền của quốc gia đó đối với lãnh thổ của mình

Chủ quyền quốc gia là quyền làm chủ một cách độc lập, toàn vẹn và

đầy đủ về mọi mặt lập pháp, hành pháp và tư pháp của một quốc gia trongphạm vi lãnh thổ của quốc gia đó Mỗi quốc gia đều thể hiện chủ quyền củamình trên mọi phương diện kinh tế, chính trị, ngoại giao Tất cả các nước,không tính đến qui mô lãnh thổ, dân số, chế độ xã hội, đều có chủ quyềnquốc gia [72, 195] Chủ quyền quốc gia là đặc trưng chính trị và pháp lý thiếtyếu của một quốc gia độc lập, được thể hiện trong hoạt động của các cơquan nhà nước và trong hệ thống pháp luật quốc gia Tôn trọng chủ quyềnquốc gia là một nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế Hiến chương Liênhợp quốc khẳng định nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia.Không một quốc gia nào được can thiệp hoặc khống chế, xâm phạm chủquyền của một quốc gia độc lập Trong những nội dung về chủ quyền quốcgia thì chủ quyền về lãnh thổ là một nội dung có tầm quan trọng đặc biệt

Chủ quyền lãnh thổ quốc gia là quyền tối cao và tuyệt đối của nhà nước

Trang 11

đối với lãnh thổ quốc gia Nhà nước là chủ sở hữu, quản lý, sử dụng và bảo

vệ lãnh thổ của mình Đó là quyền thiêng liêng và bất khả xâm phạm Khôngmột tổ chức, một cá nhân nào từ bên ngoài được áp đặt với quyền này Mộtnhà nước có bản lĩnh thực sự là giữ được tính độc lập cao của mình đối vớichủ quyền lãnh thổ quốc gia, không chia sẻ quyền này cho bất kỳ một thế lựcnào

Trong chế độ phong kiến, lãnh thổ quốc gia được coi là vật sở hữucủa Triều đình Vua chúa có toàn quyền đối với lãnh thổ, có thể đemnhượng bán, làm của hồi môn, làm quà " phong thưởng " cho các quan lại

Trong thời đại ngày nay, chủ quyền tối cao và tuyệt đối của nhà nướcđối với lãnh thổ được thực hiện theo nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết vềlãnh thổ Quyền tối cao đối với việc định đoạt lãnh thổ là thuộc về nhândân sống trên lãnh thổ đó Trong quan hệ quốc tế, nhà nước là người đạidiện tối cao, hợp thức cho quyền lợi của dân tộc và cũng là người chủ sởhữu duy nhất về lãnh thổ quốc gia

Chủ quyền lãnh thổ quốc gia là một trong những cơ sở đảm bảo choviệc thực hiện chủ quyền quốc gia, là yếu tố hàng đầu để ghi nhận chủquyền quốc gia và là dấu hiệu trước hết của chính nhà nước Về vấn đề này,Ph.Ăngghen đã viết: "So với tổ chức thị tộc trước kia thì đặc trưng thứ nhất

của nhà nước là ở chỗ nó phân chia thần dân của nó theo địa vực" Về địa

vực- tức lãnh thổ, Người còn giải thích thêm rằng: "Như chúng ta đã biết,những liên minh thị tộc cũ, do quan hệ dòng máu tạo thành và duy trì đều

đã trở nên không thích hợp nữa, phần lớn là vì chúng đòi hỏi các thành viêncủa chúng phải gắn liền với một địa vực nhất định, và vì từ lâu những mốiquan hệ ấy không còn nữa Địa vực vẫn còn đó, nhưng người đã trở nên diđộng Cho nên, người ta lấy việc phân chia địa vực làm điểm xuất phát vàngười ta để cho những công dân thực hiện những quyền lợi và những nghĩa

vụ xã hội của họ tại nơi cư trú, không kể họ thuộc thị tộc nào, bộ lạc nào,

Trang 12

cách tổ chức những công dân của nhà nước theo địa vực họ cư trú như thế,

là một đặc điểm chung của tất cả các nhà nước" [53, 253]

Chủ quyền lãnh thổ không được bảo đảm thì các mặt chủ quyền kháckhông thể, hoặc khó có thể thực hiện đầy đủ Chủ quyền về lãnh thổ nếukhông được giữ vững và khai thác hiệu quả thì trực tiếp làm giảm vai tròcủa bản thân nhà nước cũng như hạn chế đối với sự phát triển quốc gia vàlợi ích dân tộc

Tôn trọng quyền tối cao và tuyệt đối của nhà nước về lãnh thổ lànguyên tắc quan trọng của luật pháp quốc tế Theo đó, một mặt, các quốcgia có quyền định đoạt sử dụng, giữ gìn lãnh thổ của mình, quản lý cư dântrong lãnh thổ; mặt khác, nghiêm cấm các quốc gia tiến hành bất cứ hànhđộng xâm phạm đến lãnh thổ của các quốc gia khác Chủ quyền lãnh thổcủa một quốc gia bao giờ cũng tồn tại trong một giới hạn nhất định, giớihạn đó là biên giới quốc gia

Biên giới quốc gia là ranh giới (đường và mặt thẳng đứng) xác định

phạm vi chủ quyền của một quốc gia đối với vùng đất và lòng đất phíadưới; vùng biển, đáy biển, lòng đất dưới đáy biển và khoảng không tiếpliền vùng đất và vùng biển đó [72, 42] Theo định nghĩa này thì biên giớiquốc gia là đường phân chia lãnh thổ quốc gia của một quốc gia này vớimột quốc gia khác hoặc với vùng biển thuộc chủ quyền tài phán của quốc gia

đó Trên cơ sở các bộ phận cấu thành lãnh thổ, biên giới quốc gia bao gồm:biên giới trên đất liền, biên giới trên biển và biên giới trên không

Biên giới quốc gia trên đất liền được thành lập trên cơ sở thỏa thuận

giữa các quốc gia có liên quan trên cơ sở lịch sử hình thành và có thể cónhững ghi nhận của quốc tế Thông thường, các thỏa thuận về biên giới

quốc gia gồm hai nội dung chính: một là, hoạch định đường biên giới (xác

định vị trí đường biên giới và thể hiện đường biên giới đó trên bản đồ kèm

Trang 13

theo điều ước hoạt động biên giới); hai là, phân giới cắm mốc (xác định

đường biên giới trên thực địa bằng các dấu hiệu biên giới - hệ thống mốcgiới) Trong thực tiễn, biên giới quốc gia trên đất liền tùy theo hoàn cảnh

cụ thể của các quốc gia liên quan có thể thỏa thuận dựa vào các yếu tố địa hình (sông, hồ, núi, thung lũng ), thiên văn (kinh tuyến, vĩ tuyến) hoặchình học (bằng những đường thẳng nối liền các điểm qui ước) để thiết lậpđường biên giới

Biên giới quốc gia trên biển là ranh giới phía ngoài của lãnh hải do

quốc gia ven biển thiết lập phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế Đốivới đảo của một quốc gia nằm ngoài phạm vi lãnh hải của quốc gia này,biên giới quốc gia là đường ranh giới phía ngoài của lãnh hải bao quanhđảo Biên giới quốc gia trên biển giữa các quốc gia kế cận hoặc đối diệnnhau có lãnh hải chồng lấn nhau được thiết lập trên cơ sở thỏa thuận giữacác quốc gia có liên quan, và được thể hiện bằng điều ước và hoạch địnhtrên biển

Biên giới trên không là mặt thẳng đứng đi theo đường biên giới quốc

gia trên đất liền, trên biển

Biên giới có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quan hệ quốc tế củacác quốc gia Vấn đề tranh chấp lãnh thổ giữa các quốc gia xảy ra hầu hếtxoay quanh việc xác định vị trí đường biên giới Vì vậy, sau khi hoạch địnhđường biên giới quốc gia, nghĩa là sau khi được mô tả cụ thể hướng đi trênbản đồ địa hình, phải tiếp tục được xác định rõ và cố định chắc chắn trênthực địa bằng quá trình phân giới, cắm mốc

Biên giới quốc gia là bất khả xâm phạm Đó là một nguyên tắc cơbản của pháp luật quốc gia và luật pháp quốc tế [72, 43] Trong thực tế,biên giới quốc gia bao giờ cũng là đối tượng dễ bị xâm hại bằng bạo lực

Do đó, bất cứ quốc gia độc lập có chủ quyền nào cũng phải tổ chức lựclượng vũ trang chuyên trách quản lý và bảo vệ biên giới của mình

Trang 14

Trong lịch sử thế giới, sự ra đời và phát triển của biên giới quốc giagắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của lãnh thổ quốc gia, là một

bộ phận hợp thành gắn bó với sự ra đời và phát triển của nhà nước Khi cácquốc gia cổ đại đầu tiên ra đời, giữa các quốc gia còn có phần lãnh thổ vôchủ, thường là những chướng ngại vật tự nhiên như núi rừng, sa mạc, sôngngòi, v.v Phần lớn những phần được xem như vô chủ đó được gọi là miềnbiên thùy hay miền biên giới Hình thức sơ khai của biên giới quốc gia là

biên giới vùng Khi nghiên cứu về vấn đề này, V.I.Lênin đã viết: "Hồi đó,

núi, sông, biển là những trở ngại lớn hơn bây giờ nhiều, và nhà nước cũnghình thành trong những biên giới địa lý nhỏ hẹp hơn nhiều Bộ máy nhànước, rất kém về mặt kỹ thuật, lúc đó phục vụ cho một quốc gia có biêngiới tương đối nhỏ hẹp và có phạm vi hoạt động hạn chế" [38, 85]

Cùng với việc hình thành nhà nước phong kiến, các quốc gia khôngngừng củng cố và mở rộng lãnh thổ của mình, lãnh thổ vô chủ bị hẹp lại,lãnh thổ các quốc gia ngày càng xích lại gần nhau, biên giới vùng chuyển

sang hình thức biên giới đường.

Các đường biên giới đầu tiên thường nằm trùng với ranh giới cáccông xã, làng mạc, thành phố, con suối, vách đá, Đó là mốc chủ yếu đểphân chia lãnh thổ trên mặt đất, cùng với sự phát triển của lãnh thổ quốcgia ra biển, lên không trung và xuống sâu lòng đất, biên giới đường đã dần

dần chuyển sang hình thức biên giới mặt.

Trong xã hội có giai cấp đối kháng, đấu tranh giai cấp không chỉdiễn ra trong nội bộ quốc gia mà đôi khi còn diễn ra ở ngoài quốc gia Mỗinhà nước có chính sách đối nội, đối ngoại để thu hút những nguồn lợi chínhcủa giai cấp thống trị Do đó, từ xưa đến nay, vấn đề lãnh thổ, biên giớiquốc gia thường là ngòi nổ gây ra các cuộc xung đột vũ trang, chiến tranhxâm lược nhằm tranh giành, chiếm đoạt lãnh thổ của nhau Khi cần thiết,mọi quốc gia phải thực hiện các cuộc đấu tranh để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh

Trang 15

thổ biên giới của mình Hiến chương của Liên hợp quốc đã ghi rõ: "Trongquan hệ quốc tế, các quốc gia Liên hợp quốc không được có hành động đedọa bằng vũ lực hay dùng vũ lực để chống lại quyền bất khả xâm phạm vềlãnh thổ hay nền độc lập chính trị của bất cứ nước nào, bằng cách này haycách khác làm trái với mục đích của Liên hợp quốc" [12, 10] Luật phápquốc tế cũng đã xác định những nguyên tắc cơ bản về biên giới: "Đó là tínhbất khả xâm phạm của biên giới quốc gia" [72, 43] ổn định biên giới quốcgia, tôn trọng biên giới quốc gia của nước khác chính là điều kiện tiênquyết cho sự ổn định trong quan hệ quốc tế.

Lịch sử phát triển biên giới của các nước trên thế giới cho thấy, ởnhiều nơi, giai cấp bóc lột nắm quyền thống trị, vì lợi ích ích kỷ của mình

đã đưa ra một số lý thuyết không xác đáng và vô lý về biên giới Các lýthuyết đó đã trở thành cơ sở để biện minh cho hành động xâm lược lãnh thổcác quốc gia khác:

Lý thuyết thứ nhất, thường khoác áo tôn giáo, lấy lý do thần thánh

khác nhau, mang tính cực đoan cuồng tín: "Do ý muốn của Thượng đế",

"nghĩa vụ thiêng liêng đi tìm mộ Chúa", "vì ý Chúa", "diệt trừ tà giáo", v.v

để phân chia biên giới quốc gia Ngày nay, ở một số nước, giai cấp thốngtrị vẫn tuyên truyền cho việc lấy biên giới tôn giáo làm biên giới quốc gia,nếu như điều đó có lợi cho quyền thống trị của chúng

Lý thuyết thứ hai, thường giương cao chiêu bài "tự do - văn minh",

"truyền bá ánh sáng văn hóa, văn minh phương Tây", "khai hóa các dân tộclạc hậu" của chủ nghĩa thực dân cũ, hoặc "giúp đỡ các quốc gia chậm pháttriển", "cộng đồng trách nhiệm bảo vệ thế giới Tự do", v.v của chủ nghĩathực dân mới nhằm xâm chiếm, thôn tính lãnh thổ của các quốc gia độc lậpkhác

Lý thuyết thứ ba, thường kích động tinh thần chủng tộc, sắc tộc, lợi

dụng các mối quan hệ "cùng tiếng nói, dòng máu, màu da" để xác định lại

Trang 16

biên giới quốc gia hiện có, đòi lập nên các biên giới quốc gia theo chủngtộc, nhằm thôn tính lãnh thổ các quốc gia khác.

Lý thuyết thứ tư, thường nêu cao lý do "vì lợi ích lâu dài của quốc

phòng" Thực chất, đó là loại lý thuyết của chủ nghĩa đế quốc, bành trướng,dựa trên sức mạnh quân sự để quyết định biên giới quốc gia, nhằm tìm choquốc gia mình một biên giới vượt ra ngoài biên giới hiện có

Lý thuyết thứ năm, thường lấy sức mạnh kinh tế, văn hóa, ngoại

giao, sinh thái để xác định biên giới quốc gia Đây là một hình thức bànhtrướng biên giới của một số quốc gia nhằm mở rộng không gian sinh tồn,là"biên giới mềm", tức biến đối phương thành thuộc địa kinh tế, thuộc địathông tin, thuộc địa sinh thái, thuộc địa văn hóa của mình

Những lý thuyết nêu trên, dù màu sắc khác nhau, đã được nảy sinhtrong từng thời kỳ lịch sử nhất định, nhưng đều phục vụ đắc lực cho lợi íchích kỷ của chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, dân tộc sô-vanh nhằm mê hoặc quầnchúng nhân dân để xâm chiếm lãnh thổ của các quốc gia khác Trong hoàncảnh không thể lợi dụng được các chiêu bài trên, thì giai cấp thống trị ởmột số nước ngang nhiên phát động chiến tranh xâm lược, xâm chiếm lãnhthổ các nước khác Thực tế đó đã đặt ra yêu cầu đối với mọi quốc gia cóchủ quyền là cùng với việc phê phán, đấu tranh với các loại lý thuyết phảnđộng, phản khoa học về biên giới, đồng thời phải tổ chức tiến hành cuộcchiến tranh chống xâm lược, chống xâm chiếm lãnh thổ và thường xuyênhoạt động bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và an ninh biên giới của mình

An ninh biên giới quốc gia là trạng thái ổn định của tình hình chính

trị - xã hội ở khu vực biên giới ở mọi quốc gia, an ninh biên giới là mộttrong những nội dung quan trọng của an ninh quốc gia, là một nhân tốmang tính chất quyết định đến việc giữ vững và củng cố hòa bình đất nước.Nội dung của an ninh biên giới, bao gồm: an ninh chính trị, an ninh xã hội,

an ninh văn hóa - tư tưởng, an ninh kinh tế, trong đó, điều quan trọng là giữ

Trang 17

vững ổn định về chính trị - tinh thần của nhân dân, xây dựng ý thức, tìnhcảm thiêng liêng của công dân với nền độc lập của dân tộc và sự toàn vẹnlãnh thổ của biên giới quốc gia, thái độ tôn trọng pháp luật về biên giới,tích cực tham gia vào sự nghiệp bảo vệ CQANBGQG.

CQANBGQG là một bộ phận quan trọng của chủ quyền quốc gia.

Bất cứ quốc gia nào trong lịch sử muốn phát triển, trước hết phải giữ đượctrạng thái ổn định trên các mặt Đây là yếu tố khách quan Trong sự ổn địnhchung đó, sự ổn định về chủ quyền lãnh thổ biên giới quốc gia là một trongnhững yếu tố rất quan trọng Sự vững vàng về khả năng quốc phòng và anninh biên giới quốc gia là điều kiện đảm bảo thường xuyên cho sự pháttriển chung của đất nước

Từ việc tìm hiểu những vấn đề liên quan trên, có thể nhận thức được

rằng, bảo vệ CQANBG ở nước ta là bảo vệ quyền tối cao của Nhà nước đối với mọi vấn đề trong phạm vi lãnh thổ khu vực biên giới quốc gia, duy trì, giữ gìn đường biên giới quốc gia trên đất liền, trên biển, giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội ở khu vực biên giới; là bảo vệ quyền làm chủ của Nhà nước đối với mọi lĩnh vực ở khu vực biên giới quốc gia Quyền làm

chủ ở đây không chỉ là sự quản lý, bảo vệ biên giới mà còn bao gồm mộtloạt chủ trương xây dựng toàn diện các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xãhội ở khu vực biên giới, từng bước ổn định và phát triển Đồng thời, đócũng là quá trình chống lại tất cả các trào lưu, những quan điểm tư tưởng,những hành động làm mất ổn định, trái với đường lối của Đảng, chính sách,pháp luật của Nhà nước ở khu vực này Bảo vệ CQANBGQG là một côngtác vừa có tính chất đối nội, vừa có tính chất đối ngoại Đó là nhiệm vụ củatoàn Đảng, toàn dân, trong đó, BĐBP là lực lượng chuyên trách và nòngcốt Việc bảo vệ CQANBGQG phải tuân thủ các điều ước quốc tế, phápluật của Nhà nước, qui chế khu vực biên giới của Chính phủ và hệ thống

Trang 18

điều lệnh, điều lệ qui định.

Sự nghiệp bảo vệ CQANBG trở thành một nội dung quan trọng trongtiến trình bảo vệ Tổ quốc, nhiều khi được coi là đồng nghĩa với công cuộc

bảo vệ Tổ quốc XHCN [43, 16].

1.1.2 Những bài học kinh nghiệm về sự nghiệp bảo vệ chủ quyền

an ninh biên giới ở nước ta trong lịch sử

Việt Nam là một trong những nước nằm trên bán đảo Đông Dương,thuộc Đông - Nam châu Á, có vị trí chiến lược quan trọng cả về địa lý, kinh

tế, chính trị, quân sự, văn hóa Từ xưa đến nay, Việt Nam luôn là một mụctiêu, là đối tượng nhòm ngó của các thế lực xâm lược, bành trướng Dovậy, một đặc điểm nổi bật có tính qui luật trong lịch sử phát triển của dân

tộc Việt Nam là, dựng nước đi đôi với giữ nước Trong quá trình dựng

nước và giữ nước đó, ông cha ta luôn coi biên giới là "phên dậu" trọng yếucủa đất nước, nên đã không tiếc tiền của và sức lực, mồ hôi và xương máu

để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia Qua đó, ông cha ta cũng đã để lại

nhiều bài học quí báu cho chúng ta kế thừa, vận dụng vào sự nghiệp bảo vệ

CQANBGQG ngày nay Có thể rút ra những bài học cơ bản sau đây:

Một là, bảo vệ CQANBG luôn gắn liền với việc giữ vững độc lập

dân tộc, thống nhất Tổ quốc, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.

Ý chí bảo toàn nền độc lập chủ quyền đối với đất đai, sông, núi, biển,trời của Tổ quốc là nền móng tư tưởng quan trọng, là cội nguồn tinh thần

để các thế hệ ông cha ta liên tục đánh bại mọi mưu đồ và hành động xâmlược, nô dịch của ngoại bang, bảo vệ trọn vẹn chủ quyền lãnh thổ, cương vựccủa Tổ quốc

Ngay từ thời dựng nước, tuy chưa tìm thấy tài liệu nào nói về cáchthức tổ chức biên phòng của thời Văn Lang- Âu Lạc, nhưng các cuộc

Trang 19

kháng chiến chống quân xâm lược Tần và Triệu Đà ở vùng biên cương phíaBắc, cho thấy, việc phòng giữ, bảo vệ các miền biên giới thời kỳ này đãđược đặc biệt chú trọng Các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược đầutiên trong lịch sử của dân tộc ta cũng còn là sự khẳng định ý chí độc lậpdân tộc, hình thành ý thức quốc gia, quốc giới của dân cư Âu - Lạc ở cácmiền biên giới tiếp giáp với lãnh thổ Trung Quốc [13, 17]

Trong thời kỳ Bắc thuộc, các triều đại phong kiến Trung Hoa tăngcường sự quản lý chặt chẽ đất đai, dân cư, tìm mọi cách đồng hóa dân tộc

ta, nhưng chúng đã vấp phải sự phản kháng mạnh mẽ của các thế hệ ngườiViệt Nam, trong đó có những cuộc đấu tranh rất điển hình về tinh thần độclập dân tộc với việc giữ gìn, khẳng định một biên giới, lãnh thổ rõ ràng

Năm 40, cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (Trưng Trắc, Trưng Nhị)

nổ ra và giành thắng lợi Một vùng lãnh thổ rộng lớn từ Trung Bộ đến HợpPhố được giải phóng khỏi ách thống trị của nhà Hán Trưng Trắc xưng Vương

để khẳng định nền độc lập và tự chủ Nguy cơ ngoại xâm chưa hết, nền độclập non trẻ còn đang bị đe dọa, công việc phòng thủ các miền biên giới trọngyếu được Trưng Vương coi trọng và cử nhiều tướng tài ra đảm nhiệm [13,21]

Năm 248, cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu (Triệu Thị Trinh) đã tiếnhành bền bỉ trong gần ba năm Nghĩa quân đã đánh đuổi quân giặc và làmchủ nhiều vùng rộng lớn Nữ tướng Triệu Thị Trinh khẳng định ý chí độclập dân tộc với việc giành lại toàn vẹn đất nước: "Tôi muốn cưỡi cơn giómạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá Kình ở biển khơi, đánh đuổi quân Ngô,giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ" [46, 84]

Thời nhà Lý (thế kỷ XI), ý chí bảo vệ độc lập của dân tộc đượckhẳng định rõ tính chất tối cao, tuyệt đối bất khả xâm phạm về chủ quyềnlãnh thổ biên giới quốc gia Trong khí thế vươn lên của cả dân tộc để chiếnđấu và chiến thắng kẻ xâm lược, Lý Thường Kiệt đã viết lên bài thơ "thần"

Trang 20

bất hủ - "Nam quốc sơn hà":

"Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư" [46, 181]

Bài thơ ngắn gọn, nhưng đã nói lên khí phách, tư thế và quyết tâmcủa dân tộc ta, tuyên bố khẳng định chủ quyền độc lập thiêng liêng vàquyền bình đẳng của dân tộc, cảnh cáo nghiêm khắc kẻ ngoại xâm Bài thơ

đã được ghi vào lịch sử như bản "tuyên ngôn độc lập" đầu tiên của dân tộc

ta sau hơn một nghìn năm bị phong kiến phương Bắc đô hộ

Thời Lê (thế kỷ XV), ngay sau khi đất nước giải phóng khỏi ách đô

hộ của nhà Minh, chế độ phong kiến ở nước ta phát triển đến giai đoạn cựcthịnh, đất nước hùng cường, công cuộc biên phòng vẫn chiếm một vị tríquan trọng trong quốc sách xây dựng và bảo vệ đất nước Nguyễn Trãi viết

"Bình Ngô đại cáo", một lần nữa khẳng định lại những giá trị tư tưởngthiêng liêng về sự vẹn toàn biên cương, lãnh thổ của đất nước:

"Như nước Đại Việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,Cõi bờ sông núi đã riêng,Phong tục Bắc - Nam cũng khác,Trải Đinh, Lý, Trần, Lê nối đời dựng nướcCùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương

Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,

Mà hào kiệt không bao giờ thiếu" [46, 257]

Ở "Bình Ngô đại cáo", ý thức biên phòng đã phát triển đến đỉnh cao

Trang 21

Ngoài việc khẳng định núi, sông bờ cõi riêng, bản anh hùng ca này còn xácđịnh rõ giá trị vật chất, tinh thần của một dân tộc độc lập, đó là nền "vănhiến", là "hào kiệt", là thế đối xứng lịch sử các triều đại Đinh, Lý, Trần, Lêcủa Đại Việt với Hán, Đường, Tống, Nguyên của Trung Hoa Những nhân

tố có chiều sâu lịch sử ấy đã tạo nên sức mạnh của dân tộc ta, một dân tộcđộc lập trên một lãnh thổ thống nhất, có chủ quyền

Cũng như vậy, sau này, Nguyễn Huệ - Quang Trung (thế kỷ XVIII) đãtuyên bố: "Trong khoảng vũ trụ, trời nào, sao đấy đã phân định rõ ràng,phương Nam, phương Bắc chia nhau mà cai trị, một thước đất, một ngườidân, bốn bề giáp ranh những đâu, đã có sách chép rõ" [6, 221] Điều khẳngđịnh ấy đã biểu hiện rõ quan điểm về sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia của ôngcha ta

Trong lịch sử bảo vệ CQANBG của dân tộc ta, ý chí độc lập, sự toàn

vẹn lãnh thổ còn là thước đo giá trị của các triều đại, các nhân vật lịch sử

trước vận mệnh của dân tộc Ông cha ta cho rằng, người nào quan tâm đếnviệc bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ và an ninh biên giới là có cônglớn Và ngược lại, để mất đất hoặc mất dân vì hám lợi riêng bị coi là trọngtội Lý Nhân Tông, trong tờ biểu gửi cho vua Tống đòi thu hồi đất đai bịlấn chiếm đã nêu ra một nguyên tắc bất di bất dịch: Mặc dù đất ấy chỉ nhỏhơn hòn đạn nhưng vẫn khiến lòng tôi đau xót, luôn nghĩ đến cả trong giấcmộng Vua Lê Thánh Tông, trong lời dụ bảo Lục khoa Lê Cảnh Huy trướckhi đi sứ sang nhà Minh để giải quyết biên sự vào cuối năm 1471, có viết:

"Một thước núi, một tấc sông của ta lẽ nào tùy tiện vứt bỏ đi được? Phảikiên quyết để tranh luận, không để cho họ lấn dần Nếu họ không theo, còn

có thể sai sứ sang tận triều đình của họ biện bạch rõ lẽ phải trái Nếu kẻ nàođem một thước núi, một tấc đất đai của Thái Tổ làm mồi cho giặc, tội phảichu di" [14, 180]

Trang 22

Tiếc thay, một số tập đoàn phong kiến vì quyền lợi ích kỷ của dòng

họ, đã đang tâm cắt một phần đất cho nước ngoài (như Mạc Đăng Dung dângbiểu nộp cho nhà Minh một vùng đất biên cương rộng lớn ) Đây cũng là bàihọc lịch sử - bài học phản diện, cho thấy việc giữ gìn toàn vẹn biên cươngphải gắn liền với sự ổn định chính trị quốc gia và thống nhất đất nước

Hai là, nhiệm vụ bảo vệ biên giới là nhiệm vụ chung của cả dân tộc,

là công việc của Triều đình, của từng người dân, công cuộc biên phòng phải dựa vào sức mạnh toàn diện của đất nước.

Lịch sử phát triển của dân tộc cũng như lịch sử giữ gìn biên cương

đất nước đã ghi nhận vai trò to lớn của nhân dân cả nước Đó chính là sức

mạnh to lớn của yếu tố con người trong sự nghiệp bảo vệ biên giới quốcgia, nói riêng và phát triển dân tộc, nói chung Điều mà ông cha ta đã từngđúc kết: "Dân cường, nước thịnh" Trước khi lâm chung, Trần Quốc Tuấnkhuyên vua Trần Anh Tông: "Phải khoan thứ sức dân để làm kế bền gốc,sâu rễ, đó là thượng sách giữ nước" [46, 25] Đầu thế kỷ thứ XV, Lê Lợi vàNguyễn Trãi đã biết: "Sức dân như nước", "Chở thuyền là dân mà lậtthuyền cũng là dân" [73, 87]

Nhân dân Việt Nam với truyền thống đoàn kết, yêu nước, với khảnăng tài trí vô tận đã sáng tạo ra lịch sử đất nước và giữ gìn nền độc lập dân

tộc Đặc biệt, nhân dân các dân tộc vùng biên giới là những "phên dậu"

kiên cố nơi cửa ngõ của đất nước Đó là các bộ tộc vốn cư trú lâu đời ở miềnbiên cương, những người dân đến khai hoang, sinh cơ lập nghiệp, trải quaquá trình đấu tranh xây dựng và bảo vệ đất nước, họ ngày càng sống đoànkết, hòa hợp với nhau và hòa nhập với cộng đồng các dân tộc Việt Nam.Nhân dân vùng biên cương là chủ nhân trực tiếp của đất đai, rừng núi, sôngbiển tiếp giáp với các nước láng giềng; thường xuyên đối diện với âm mưu,hành động xâm lấn, quấy rối của người nước ngoài đối với quê hương của

Trang 23

họ và là khu vực biên giới thiêng liêng của Tổ quốc Thông qua nhữngcuộc đấu tranh ấy, tinh thần đoàn kết dân tộc, ý thức quốc gia của nhân dânđược tôi luyện, thử thách, góp phần tạo nên sự bền vững cho cương vực đấtnước

Trong những thời điểm khó khăn của đất nước, Triều đình phongkiến suy yếu, thiếu chăm lo công việc biên phòng thì nhân dân các dân tộcvùng biên giới đã chủ động đấu tranh chống lại những hành động xâm lấn,quấy phá biên giới của kẻ thù Nhiều phong trào đã dựa vào địa bàn vànhân dân các dân tộc vùng biên giới để tập hợp, xây dựng lực lượng, tổchức đánh giặc cứu nước Điều này phản ánh rõ nét sự phát triển của ý thức

về độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia của nhân dân ta, trong đó có nhândân các dân tộc vùng biên giới

Để phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân trong nhiệm vụ bảo vệ biên

giới, các triều đại phong kiến Việt Nam đã thực hiện nhiều chính sách dân tộc, trong đó có những chính sách tiến bộ, nhằm phát huy nguồn lực con

người vào công cuộc biên phòng của dân tộc: dùng quan tước, bổng lộc, hônnhân; nuôi dạy con cái của các tù trưởng để kết thân thủ lĩnh địa phươngmiền núi biên giới, vốn là nòng cốt trong nhân dân các dân tộc ở vùng biên,v.v

Việc dùng hôn nhân để ràng buộc các biên thần là một nét đặc trưngtrong chính sách dân tộc dưới thời phong kiến ở nước ta Điển hình là thời

Lý, theo sử sách để lại, có đến chín lần gả các công chúa cho những tùtrưởng vùng biên giới Như vậy, công cuộc biên phòng đất nước đã vượtlên khỏi ranh giới của sự kỳ thị dân tộc, dòng họ Biện pháp này tạo ra mộttầng lớp "ngoại thích" ở biên cương, là cơ sở đáng tin cậy nhất cho việc bảo

vệ biên giới quốc gia

Nhiều tù trưởng được Triều đình phong cho tước trọng, ban cho

Trang 24

quyền cao đã hết lòng tổ chức nhân dân giúp Nhà nước trung ương bảo vệlãnh thổ biên giới Thời Lý, vua phong cho Lưu Kỷ làm quan Sát sứ ở vùngQuảng Nguyên; người họ Nùng ở Cao Bằng được phong chức Thái Bảo(chức dành cho quan Đại thần), v.v Thời Lê Sơ, một số tù trưởng ở MộcChâu được hưởng đặc ân của vua Lê Thái Tổ là được mang họ vua Hìnhthức này gọi là "ban quốc tính", thể hiện sự tin cậy, tạo động lực và lòngtrung thành cho các tù trưởng nơi biên cương.

Các Triều đình phong kiến Việt Nam, nhất là trong giai đoạn tiến

bộ, đã có sự quan tâm nhất định đến đời sống của nhân dân, trong đó cóđồng bào các dân tộc thiểu số Vào những thời điểm khó khăn đã giải quyếtnhững vấn đề có tính chất chính sách xã hội đối với nhân dân Thông qua

họ, các triều đình đã nắm được dân, được đất, thắt chặt hơn mối quan hệthân tộc, đồng thời mở rộng phạm vi ảnh hưởng của triều đình tới miềnbiên giới xa xôi

Ba là, các Triều đại phong kiến Việt Nam đã phát huy được vai trò

to lớn của Nhà nước trong trong sự nghiệp bảo vệ CQANBGQG.

Nếu nhân dân là cội nguồn của mọi sức mạnh của đất nước và sứcmạnh biên phòng thì sự thành công hay thất bại của công cuộc biên phòng

lại lệ thuộc một phần không nhỏ vào vai trò của Nhà nước, tùy thuộc trình

độ nhận thức, những phương lược, kế sách biên phòng và đường lối ngoạigiao của mỗi triều đại

Nhà nước là đại diện cho chủ quyền dân tộc, là người tập hợp vàphát huy sức mạnh nhân dân, tổ chức và thực hiện mọi hoạt động bảo vệchủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và an ninh khu vực biên giới Trong lịch sửdựng nước và giữ nước của dân tộc ta, ở mỗi thời kỳ lịch sử nhất định đều có

những nét riêng trong kế sách biên phòng Các cuộc kháng chiến chống

xâm lược Tần của quân Triệu Đà ở vùng biên cương phía Bắc cho thấy việcphòng giữ, bảo vệ miền biên giới thời Âu Lạc đã được đặt ra một cách thực

Trang 25

tế

Cuộc kháng chiến chống xâm lược đầu tiên trong lịch sử nước ta thời

Âu Lạc đồng thời cũng là sự khẳng định ý chí độc lập dân tộc, hình thành ýthức quốc gia, quốc giới của cư dân Âu Lạc ở các miền biên giới tiếp giápvới lãnh thổ Trung Quốc Nhà nước sơ khai Văn Lang - Âu Lạc đã đặt những

"viên gạch" đầu tiên trong sự nghiệp biên phòng của nước ta Đến thế kỷthứ X, Triều Tiền Lê đã định hình được những nét cơ bản cho công cuộcbiên phòng Các Vua Lý đã chú trọng thu phục cư dân biên giới để củng cố vàbảo vệ cương vực đất nước Nhà Lê Sơ duy trì kỷ cương trong lực lượnglàm nhiệm vụ biên phòng nên biên cương được yên ổn, lãnh thổ được vẹntoàn

Vai trò to lớn của nhà nước trong công cuộc biên phòng, trước hết

phải kể đến vai trò to lớn của các nhà vua thuộc các triều đại phong kiến.

Nhà vua nắm trong tay quyền lập pháp, hành pháp, có quyền lực tối cao.Trong lịch sử bảo vệ biên giới quốc gia, thời kỳ nào các vị vua quan tâmđến quyền lợi dân tộc, chú ý phát triển đất nước về mọi mặt, thường xuyênchăm lo bảo vệ biên giới thì thời kỳ đó biên phòng mạnh, hoạt động bảo vệCQANBG có hiệu quả Thời kỳ nào vua chúa xem nhẹ quyền lợi dân tộc,sao nhãng việc biên phòng thì thời kỳ đó chủ quyền lãnh thổ quốc gia bịxâm phạm, nhân dân biên giới, ven biển bị cướp bóc, quấy phá Nhiều vịvua, không những chỉ đạo giải quyết từng biên sự cụ thể, mà còn trực tiếp

đi kinh lý khảo sát biên giới, trực tiếp cầm quân đánh giặc bảo vệ biên giớinước nhà

Công việc biên phòng là mối quan tâm thường xuyên, là nhiệm vụcực kỳ quan trọng trong công cuộc dựng nước và giữ nước của nhiều vị vuanước ta Vua Lê Hoàn được nhà sử học Phan Huy Chú gọi là "ông vua cẩnthận về biên phòng" [14, 159] Vua Lý Anh Tông đã thân chinh đi xem xét

kỹ càng biên giới và soạn ra sách "Nam - Bắc phân giới địa đồ" Sách này

Trang 26

giúp ích cho các tướng sĩ hiểu rõ địa hình, dân tình nơi biên cương, hải đảo.

Sự việc này được ghi lại rằng: "Mùa xuân, tháng hai, vua đi tuần các nơiven biển Tây - Nam, xem khắp hình thế núi sông, muốn biết dân tình đaukhổ và đường đi xa gần thế nào Mùa xuân, tháng hai, vua lại đi tuần cáchải đảo ở địa giới các phiên bang Nam, Bắc, vẽ bản đồ, ghi chép phong vậtrồi về" [17, 347]

Các vua Trần nhiều lần trực tiếp cầm quân đi ổn định an ninh biêngiới hoặc tiến hành các cuộc tuần biên, tiến hành khảo sát tình hình tổ chức

bố phòng biên giới Sau khi truyền ngôi cho con, Thượng Hoàng TrầnNhân Tông thường dành nhiều thời gian chăm lo công việc biên phòng, đã

ra vùng núi Yên Tử vừa đi tu vừa để giúp Triều đình canh phòng mặt ĐôngBắc của Tổ quốc

Vai trò của nhà nước phong kiến nước ta trong công cuộc biên phòng

còn được thể hiện qua các chủ trương chính sách và biện pháp cụ thể nhằm

tiến hành công cuộc biên phòng một cách chủ động Các vương triều phongkiến nước ta đã nhận thức rõ việc giữ gìn quốc gia, cương thổ là một côngviệc lớn, khó khăn, phức tạp Trong khi đó, kẻ thù bên ngoài chưa khi nào

từ bỏ tham vọng lấn chiếm lãnh thổ, bành trướng bằng vũ lực để thôn tínhnước ta Do vậy, ngoài nhiệm vụ phải luôn cảnh giác, có phương lược tốt đốiphó với âm mưu xâm lược của địch, phải xây dựng kế sách lâu dài, xây dựnglực lượng đủ mạnh để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ biên cương Thế kỷ thứ

XV, một số tư tưởng mang tính chiến lược về công tác biên phòng do vua

Lê Thái Tổ và Lê Thánh Tông đề ra, không những có ý nghĩa chỉ đạo thựctiễn biên phòng thời bấy giờ mà còn có ý nghĩa lâu dài với lịch sử dân tộc

Tư tưởng này được Lê Lợi cô đúc trong hai câu thơ:

"Biên phòng hảo vị trù phương lược

Xã tắc ưng tu kế cửu an" [15, 181]

Trang 27

Trù bị phương lược biên phòng luôn là quốc sách trong các thời kỳlịch sử Từ trong lịch sử biên phòng của dân tộc ta đã sản sinh ra nhiều kinhnghiệm quí báu, từng bước phát triển thành các phương lược biên phòngbảo vệ vững chắc biên giới quốc gia Ở các thời thịnh trị, ông cha ta luônbằng mọi biện pháp, tạo ra sự hùng mạnh của đất nước để giữ vững lãnhthổ, độc lập và chủ quyền dân tộc: "Đó là thế nước thời Lê Đại Hành khiếnngười Tống phải kiêng nể Thế nước thời Lý khiến nhà Tống phải trả lạicho Đại Việt nhiều đất đai ven biên giới do nhà Tống lấn chiếm Thế nướcthời Trần khiến cho quân xâm lược Mông - Nguyên ba lần tháo chạy nhụcnhã đến nỗi mỗi lần nghe tiếng trống Đại Việt là kinh hoàng đến bạc trắng

cả tóc Thế nước hùng mạnh thời Lê sơ (thế kỷ XV) khiến cho man di bốncõi đều phục và nhà Minh không dám xâm lấn biên cương " [48, 1].Những thời kỳ hùng mạnh của lịch sử dân tộc ta đã tạo ra khả năng và sứcmạnh to lớn cho công cuộc biên phòng, giữ vững độc lập dân tộc và sự vẹntoàn từng tấc đất của Tổ quốc

Trong lịch sử biên phòng của dân tộc, tổ tiên ta đã coi trọng và liên tục thực hiện việc xây dựng và bố trí lực lượng vũ trang bảo vệCQANBGQG Cùng với các hoạt động quản lý đất đai, dân cư ven biêngiới, tạo ra nền móng vật chất cho công cuộc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ,

ông cha ta luôn chăm lo tổ chức và xây dựng lực lượng vũ trang bảo vệ

biên giới Công cuộc biên phòng được các Triều đình qui định, đó là chứcphận của lực lượng vũ trang Lực lượng vũ trang trấn giữ các quan ải biêngiới gồm quân đội chính qui cùng với thổ dân, dân binh Nhiệm vụ trấn giữbiên giới, vùng biển dần dần phát triển theo xu hướng giao cho một lựclượng vũ trang chuyên trách

Sau thời kỳ Bắc thuộc (thế kỷ X), việc trấn giữ biên giới do các thổquan tự lo liệu; việc đánh dẹp bạo loạn, chống quân xâm lấn có quân chínhqui do tỉnh hoặc Triều đình phái đến, giải quyết xong biên sự lại rút về xuôi

Trang 28

Chế độ "ngụ binh ư nông" được áp dụng trong suốt thời Lý, Trần và Hậu Lê.

Thời Lý, lực lượng vũ trang là nòng cốt trong việc chống xâm lược,đồng thời làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới Tiếp tục thực hiện chính sách

"ngụ binh ư nông", nên: "đời Trần nhân dân ai cũng là binh mới phá đượcgiặc dữ, làm cho thế nước được mạnh" [14, 16] Cũng từ thời Trần và nhất

là từ thời Lê Sơ, công cuộc biên phòng yêu cầu phải có một bộ phận quânchính qui thường xuyên được tách ra để chuyên lo duy trì việc trấn giữ biêngiới, bờ biển, hải đảo Sang thời Nguyễn (thế kỷ XVIII), nhiệm vụ trấn giữbiên giới, ven biển, kiểm soát quan ải, cửa biển, hầu như do quân binh củaTriều đình và của tỉnh đảm nhiệm Ở miền núi, bên cạnh chức tri châu docác tù trưởng thiểu số nắm giữ, nhà Nguyễn thi hành "chế độ lưu quanTriều đình, cử quan đến cai trị ở miền núi" [46, 371] Lực lượng thổ binh,dân binh thời kỳ này cơ bản giữ vai trò phối hợp, hỗ trợ giúp đỡ, điều đóphản ánh tính thống nhất quốc gia của công cuộc biên phòng Cùng vớiviệc tổ chức, bố trí lực lượng vũ trang bảo vệ biên giới, các Triều đìnhphong kiến luôn cử những người tin cẩn, các tướng lĩnh, quan lại có tài,thông thuộc và am hiểu phong tục tập quán của người dân tộc thiểu số, trựctiếp chỉ huy quân lính trấn giữ các miền biên giới trọng yếu Thời nhà Lý,các hoàng tử đều được phái đi trấn trị các nơi trọng yếu Trần Thủ Độ,người sáng lập ra triều Trần, tự mình đảm nhiệm chức quan trấn trị, giữ cácmiền biên cương phía Bắc Trần Nhật Duật tinh thông văn võ, am hiểuphong tục tập quán, tiếng nói của các dân tộc Thái, Mường được cử đi trấntrị miền biên giới Thanh Hóa, vùng Tây Bắc; Trần Quang Khải trấn giữNghệ An, Trần Khánh Dư trấn giữ miền Vân Đồn vùng biển Đông Bắc;Trần Quốc Tảng con trai của Trần Quốc Tuấn là người có nhiều công laoxây dựng "phên dậu" vùng Đông Bắc Ông đã lãnh đạo quân triều đình, dânbinh thường xuyên tuần phòng duyên hải, kiểm soát chặt chẽ cửa sông, cửa

Trang 29

biển Một trong những cửa sông quan trọng mà ông trực tiếp cầm quân tuầnphòng, nhân dân tưởng nhớ gọi đó là Cửa Ông (Quảng Ninh)

Cùng với việc xây dựng, bố trí lực lượng vũ trang trấn giữ biên giới,

các Triều đình phong kiến nước ta tiến hành thiết lập và hoàn thiện dần các đồn, sở trấn giữ quan ải, cửa biển Đây là một đặc trưng của công cuộc

biên phòng, khác với các quá trình thực hiện các hoạt động quân sự hoặc anninh của nhà nước phong kiến Ông cha ta luôn quan tâm đến việc đồn trúlực lượng vũ trang để trấn giữ biên giới Thời Trần, việc đóng đồn ở quan

ải đã được tiến hành như Trấn Vân Đồn, Cửa quan Từ Trúc, ải Pha Long,

ải Khâu Cấp Trong cuốn "Binh thư yếu lược" của Trần Quốc Tuấn có nóiđến "phép đóng đồn" Lúc đó đồn trú của lực lượng vũ trang trấn giữ biêngiới chỉ có những cửa ải lớn, trọng yếu "Thời Lê Sơ việc mở cửa ải thôngthương với nước khác do nhà vua qui định, các địa phương không được tùytiện khai thông đường sá qua lại nước khác Do đó, việc quản lý quan ảiđồng thời cũng do nhà nước qui định trên cơ sở biên phòng cụ thể Năm

1490, Lê Thánh Tông trực tiếp ra sắc lệnh đặt 13 cửa ải ở xứ Lạng Sơn nhưcửa Viên Sơn, Phong Sơn, Tam Sơn v.v cùng với những qui định về bố trítrấn giữ, kiểm soát ở các cửa ải này" [23, 71]

Đến thế kỷ XIX, đã phát triển thành hệ thống đồn có tính chất liênhoàn, hệ thống đồn binh này đã đảm bảo cho chính quyền Trung ươngthường xuyên có lực lượng của mình thường trực ở mọi miền biên giới

Các Triều đình phong kiến trước đây còn rất quan tâm đến chấtlượng mọi mặt hoạt động của lực lượng vũ trang trấn giữ biên giới, trong

đó thường chú ý đến việc nâng cao kỷ luật của lực lượng vũ trang.

Trong quá trình bảo vệ biên giới, ông cha ta thường tiến hành một số

biện pháp cụ thể trong quá trình trấn giữ biên giới như: biện pháp tổ chức

đánh dẹp, trấn áp bằng quân sự; biện pháp kiểm soát quan ải, cửa biển, tuần

Trang 30

tra biên giới; biện pháp do thám, v.v Các biện pháp này có mối liên hệ vớinhau, hỗ trợ cho nhau trong nhiệm vụ bảo vệ biên cương.

Các Triều đình còn chú ý đến xây dựng các công trình (cả kinh tế và

quân sự) có liên quan trực tiếp đến giữ vững an ninh biên giới, như: thườngxuyên mở mang các đường giao thông thủy, bộ; đào kênh mương xây dựngcông trình ở nhiều vùng biên ải; mở đặt các cửa ải, bến cảng; lập các độituần hải, canh giữ các vùng biển-đảo

Đồng thời nhà nước ở nhiều triều đại cũng đã tích cực xây dựng vàban bố các đạo luật về quản lý biên giới để thực hiện thống nhất và làm cơ

sở xem xét, thưởng phạt với những người có công và những kẻ phá hoại anninh biên giới Bộ Luật Hồng Đức có khoảng 50/722 điều quy định tươngđối cụ thể về biên phòng và nhiều điều khoản khác có nội dung liên quanđến công việc biên phòng ở những mức độ khác nhau,

Bốn là, đường lối ngoại giao khôn khéo vì độc lập dân tộc và toàn

vẹn CQANBG.

Việc thực hiện đường lối ngoại giao của nhà nước phong kiến nước

ta đối với các nước lân bang là một trong những yếu tố cực kỳ quan trọngtrong lịch sử tồn tại và phát triển của quốc gia - dân tộc Việt Nam Trongquan hệ với nước láng giềng lớn mạnh, các vương triều Việt Nam luôn giữ

mối hòa hiếu, thực hiện nhiều giải pháp ngoại giao rất mềm dẻo để duy trì hòa bình Khi có nguy cơ bị xâm lược đã tìm mọi cách ngăn chặn và trì hoãn chiến tranh Nhưng khi kẻ thù đã đẩy dân tộc ta vào thế không còn

con đường nào khác, để bảo vệ độc lập và chủ quyền dân tộc, thì ông cha ta

chấp nhận cuộc thử thách với tất cả quyết tâm, ý chí, nghị lực của mình.

Đường lối ngoại giao của ông cha ta là mềm dẻo về sách lược,

nhưng lại dựa trên nguyên tắc kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc

gia về mọi mặt Gần như trở thành một qui luật là trên cơ sở giành đượcthắng lợi có ý nghĩa quyết định trên chiến trường, dân tộc ta biết cách dùng

Trang 31

các biện pháp chính trị, ngoại giao khéo léo, linh hoạt để kết thúc chiến tranh Các cuộc kháng chiến giữ nước thường kết thúc bằng những trận

quyết chiến mang tính chất chiến lược và sau đó những cuộc thương thuyếtđàm phán để chấm dứt chiến tranh, lập lại quan hệ bang giao giữa hai nước

Tư tưởng này được Nguyễn Trãi đúc kết và lý giải sâu sắc trong bài "Phúnúi Chí Linh":

"Nghĩ về kế lâu dài của Nhà nước,Tha kẻ hàng mười vạn sĩ binhSửa hòa hiếu cho hai nước,Tắt muôn đời chiến tranh" [46, 254]

Thực tế cho thấy sự bình yên của biên giới quốc gia là do chính bảnthân nước sở tại gắn liền với thái độ thân thiện hay thù địch của nước lánggiềng Từ lịch sử đấu tranh bảo vệ CQANBG cho thấy: "Đối tượng ngoạigiao của Việt Nam chỉ giới hạn hai đầu phía Bắc và phía Nam đất nước

Phía Bắc luôn luôn tồn tại một chế độ phong kiến Trung Hoa với mưu mô

bành trướng xâm lược bằng quân sự và đồng hóa bằng văn hóa ở phíaNam là quốc gia yếu hơn nhưng thường đóng vai trò một lưỡi dao thọc saulưng do đế chế phương Bắc giật dây Công thức ngoại giao của Việt Namthường là, đối với phương Bắc, giữ thế nước nhỏ với nước lớn, tránh khiêukhích, cố kéo dài thời gian hòa bình để xây dựng đất nước, lo việc binh bị

đủ sức chống xâm lược, lo giữ gìn bản sắc văn hiến Việt Nam, chống nguy

cơ đồng hóa Đối với quốc gia phía Nam, cố giữ hòa hiếu, tranh thủ đồngminh, chống mưu đồ ly gián và xúi giục của quốc gia phía Bắc" [74, 222]

Các Triều đình phong kiến Việt Nam thường cử những sứ thần, bằng

tài năng trí tuệ của mình giữ được giao hảo, giành được sự kính nể củanước lớn Nhà Lý đã dựa trên cơ sở thế mạnh của dân tộc vừa thắng ngoại

Trang 32

xâm cùng với tài năng của các nhà ngoại giao làm cho cuộc đấu tranh đòiđất bị phong kiến Trung Hoa lấn chiếm, giành thắng lợi Nhà sử học PhanHuy Chú nhận xét: "Việc biên giới ở đời Lý được nhà Tống trả lại đất rấtnhiều Bởi vì trước oai thắng trận đủ làm cho nhà Tống phải nhục, sau thì

sứ thần bàn bạc lời lẽ thung dung, khéo léo cho nên cần gì được nấy, làmcho Trung Quốc phải khuất phục và thế lực của Nam Giao được mạnh.Xem đó cũng có thể biết thế lực cường thịnh của thời bấy giờ" [14, 196]

Đường lối ngoại giao trên đây, trong nhiều trường hợp đã trở thànhbiện pháp tích cực, hữu hiệu, góp phần quantrọng để giải quyết có hiệu quảcác vấn đề tranh chấp, gây rối an ninh trật tự biên giới

Trải qua hơn bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, ông cha ta đã

đổ biết bao xương máu, nước mắt, mồ hôi, để lại cho chúng ta một tài sản

to lớn và vô giá là Tổ quốc Việt Nam thống nhất chạy dài từ cao nguyên

Đồng Văn đến mũi Cà Mau Công cuộc biên phòng là to lớn, nhìn nhận

đúng những kinh nghiệm quí báu trong lịch sử bảo vệ CQANBG của dântộc sẽ có ý nghĩa thiết thực đối với việc tổ chức thực hiện sự nghiệp bảo vệCQANBG và chỉ đạo hoạt động xây dựng BĐBP - lực lượng nòng cốt,chuyên trách quản lý, bảo vệ CQANBG của Tổ quốc

1.2 VAI TRÒ CỦA BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG TRONG SỰ NGHIỆP BẢO VỆ CHỦ QUYỀN AN NINH BIÊN GIỚI QUỐC GIA

1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò lực lượng vũ trang

Quân đội và lực lượng vũ trang nói chung là bộ phận trọng yếu cấu thành nhà nước Nhà nước, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, hình

thành trong một giai đoạn lịch sử nhất định, gắn liền với sự nảy sinh tư hữu

và giai cấp Cũng từ đó, xã hội luôn vận động trong mâu thuẫn và đấu tranh

giai cấp không thể khắc phục được Đó chính là nguồn gốc thực sự của nhà

Trang 33

nước Vấn đề này đã được Ph.Ăngghen trình bày rất rõ cả về mặt lịch sử

lẫn lôgíc trong tác phẩm nổi tiếng của mình là "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước" Sau này, V.I.Lênin đã kế thừa và

người nói rõ: "Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn

giai cấp không thể điều hòa được Bất cứ ở đâu, hễ lúc nào và chừng nào

mà, về mặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa

được, thì nhà nước xuất hiện Và ngược lại: sự tồn tại của nhà nước chứng

tỏ rằng những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hòa được" [37, 9]

"Mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hòa được", thế nhưng xã hội

vẫn cần tồn tại Vì thế, vai trò và ý nghĩa lịch sử của nhà nước, theo

Ph.Ăngghen, là lực lượng tựa hồ như đứng trên xã hội, nhằm giữ chonhững giai cấp có quyền lợi kinh tế mâu thuẫn nhau đó không đi đến chỗ

"nuốt nhau" và "nuốt luôn cả xã hội", nhằm làm dịu sự xung đột, giữ cho sựxung đột đó nằm trong giới hạn của "trật tự", và tựu chung, quan trọng nhất

là bảo vệ lợi ích cho giai cấp thống trị về kinh tế

Do vậy, bản chất của nhà nước là công cụ của giai cấp thống trị Đểhoàn thành vai trò cũng như thể hiện đúng bản chất của mình, nhà nước,cũng theo Ph.Ăngghen: "So với tổ chức thị tộc trước kia thì đặc trưng thứ

nhất của nhà nước là ở chỗ nó chia thần dân của nó theo địa vực Đặc trưng thứ hai của nhà nước là sự thiết lập một quyền lực công cộng, không

còn trực tiếp là dân cư tự tổ chức thành lực lượng vũ trang nữa." [53, 253]

Lực lượng vũ trang, trong đó có quân đội là một bộ phận của quyềnlực công cộng của nhà nước Ph.Ăngghen nói: "Quân đội là một tập đoànngười vũ trang, do nhà nước tổ chức ra để dùng vào cuộc chiến tranh tiếncông hoặc chiến tranh phòng ngự" [1, 9] Các tổ chức, trước khi có nhànước, như thị tộc, bộ lạc, được hình thành hay phân chia, chủ yếu trên cơ

sở huyết thống, thân tộc Các tổ chức này nhiều khi có lực lượng vũ trang,nhưng đó chỉ là "tổ chức vũ trang tự động" của dân cư, hòa trong dân cư,

Trang 34

tan hợp dễ dàng nhằm thực hiện những nhiệm vụ đơn thuần có tính tậptục, tự vệ, chống thú dữ Còn "quyền lực công cộng" của nhà nước thìkhác hẳn Nó đã bao gồm những con người tách khỏi nhân dân, nằm trongnhững tổ chức nặng nề, phức tạp và với những quy chế nghiêm ngặt

Hai đặc trưng trên của nhà nước là một thể thống nhất Không có

một địa vực nhất định và một lãnh thổ ổn định tương đối thì không thể hìnhthành nên hệ thống "quyền lực công cộng chủ yếu" Ngược lại, chính sứcmạnh của các lực lượng quân đội, cảnh sát trong hệ thống "quyền lực" ấy

là cái đảm bảo vững chắc cho biên giới quốc gia Hơn nữa, các nhà nướcthống trị hiếu chiến lại bằng sức mạnh này mà mở rộng lãnh thổ của mình,xâm phạm đến lãnh thổ của các nước khác Cũng vì thế, như đã nói ở phầntrên, mọi nhà nước, bên cạnh quân đội và lực lượng vũ trang nói chung ấy,phải có một đội quân gắn liền với biên giới, trước hết là để bảo vệ chủquyền lãnh thổ của mình

Nhà nước, trong đó có các lực lượng vũ trang được duy trì trên một cơ

sở kinh tế nhất định Giai cấp mạnh nhất giữ địa vị thống trị kinh tế đã nuôidưỡng lực lượng vũ trang, nhờ lực lượng vũ trang và nhà nước nói chung màgiai cấp thống trị về chính trị, dùng quyền lực chính trị đàn áp và bóc lột cácgiai cấp khác Cho nên, không thể có cái gọi là "quân đội đứng ngoài giai cấp"

Lịch sử phát triển nhà nước cho thấy, lúc đầu các tổ chức bạo lực còn

đơn giản, còn yếu Nhưng càng ngày chúng càng được tăng cường cùng

với đà phát triển của mâu thuẫn giai cấp gay gắt trong quốc gia và sự uyhiếp của các nước láng giềng Đến chủ nghĩa tư bản thì quân đội, cảnh sát

đã phình to hơn bao giờ hết Với sức mạnh của khoa học và công nghiệp,với ý thức chuyên chính và hiếu chiến của mình, giai cấp tư sản đã "xâydựng quyền lực của mình một cách vững vàng và chắc chắn đến nỗi khôngmột sự thay đổi nhân viên, hay cơ quan, hay chính đảng nào trong nướccộng hòa dân chủ tư sản,lại có thể lung lay được quyền lực ấy" [37, 18] Và

Trang 35

nhất là khi chủ nghĩa tư bản chuyển thành chủ nghĩa đế quốc, thì nhà nước

với các lực lượng vũ trang càng được củng cố V.I Lênin giải thích điềunày rằng: " sự tăng cường khác thường của "bộ máy nhà nước", sự pháttriển chưa từng thấy bộ máy quan lại và quân sự của nó, đi liền với sự đàn

áp giai cấp vô sản ngày càng gay gắt, trong các nước quân chủ cũng nhưtrong các nước cộng hòa tự do nhất" [37, 40-41]

"Sự phát triển chưa từng thấy" của bộ máy vũ trang và quan lại tưsản lại chính là một dấu hiệu chứng tỏ mâu thuẫn sâu xa và cơ bản giữa lựclượng sản xuất xã hội hóa cao với chế độ sở hữu tư nhân trong lòng xã hội

tư sản hiện đại đã đến mức cao độ Chủ nghĩa đế quốc nghĩa là giai đoạnlịch sử mà cách mạng vô sản đã trở thành đòi hỏi thực tế Trong khi đó,cũng theo V.I.Lênin, nhà nước với bộ máy quân sự khổng lồ chỉ còn là "ký

sinh trùng" trên thân thể xã hội, là cái "ung nhọt" ngăn cản sự phát triển của lịch sử.

Những quan điểm của các nhà kinh điển về nguồn gốc, đặc trưng,bản chất giai cấp của nhà nước, nhất là về tính chất của lực lượng vũ trang,

trong đó có quân đội tư sản đã dẫn đến một tư tưởng lớn về tính phổ biến của con đường bạo lực cách mạng của giai cấp vô sản và nhân dân lao động để giành chính quyền tiến tới giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội.

"Không có cách mạng bạo lực thì không thể thay nhà nước tư sản bằng nhànước vô sản được" [37, 28] Giai cấp vô sản không phải "say bạo lực" màbuộc phải thực hiện cách mạng bạo lực vì tính phản động và sức mạnh

"khác thường" của bộ máy bạo lực vũ trang tư sản Bạo lực cách mạng ởđây, như hình ảnh dùng của C.Mác, chỉ là "bà đỡ" cho sự ra đời một chế độmới đang thai nghén trong lòng xã hội cũ mà thôi Tất nhiên với quan điểmbiện chứng, chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ coi bạo lực là con đường duy

nhất của cách mạng Việc giành chính quyền một cách hòa bình cũng đã

được C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đề cập đến Nhưng, con đường đó

Trang 36

thật hiếm hoi, không phổ biến.

Như vậy, trước khi có chính quyền, trong hoàn cảnh hoạt động bí

mật "bất hợp pháp", vì mục đích chính trị của mình mà tất yếu các đảng

cộng sản phải vượt mọi khó khăn tuyên truyền, tập hợp để tổ chức nên

lực lượng vũ trang của mình Lực lượng vũ trang là nòng cốt của các yếu tố

tạo thành bạo lực cách mạng Nó không giống như đội quân cầm súng

trước đây của giai cấp chủ nô, phong kiến, tư sản, mà là vũ trang nhân dân.

Lực lượng vũ trang nhân dân, trong đó đông đảo là giai cấp công nhân vànông dân, là tổ chức quân sự kiểu mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộngsản, vì sự nghiệp cách mạng chân chính giải phóng công nhân và nhân dânlao động

Lực lượng vũ trang nhân dân không chỉ có vai trò là góp phần to lớntrong giành chính quyền, trong thời kỳ "đập tan" nhà nước tư sản và thànhlập nhà nước mới của công nhân và nhân dân lao động, mà còn trong suốt

quá trình của thời kỳ quá độ lên CNXH Vấn đề này đã được các nhà kinh

điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đề cập đến trong nội dung của lý luận về

chuyên chính vô sản

Chuyên chính vô sản là một trong những tư tưởng đặc sắc nhất của

chủ nghĩa Mác-Lênin Nó là "hòn đá thử vàng" để nhận ra những người

mác xít hay không mác xít Thực chất của chuyên chính vô sản, đó là thời

kỳ dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của giai cấp công nhân, thông qua chínhĐảng cộng sản, bằng sự quản lý của Nhà nước kiểu mới, tập hợp nhân dânlao động thực hiện hai chức năng chủ yếu là: trấn áp bạo lực và tổ chức xâydựng Tất nhiên, trong đó, chức năng tổ chức xây dựng xã hội XHCN làchủ yếu hơn cả.Về nội dung và tầm quan trọng của việc thực hiện hai chứcnăng khái quát này, V.I.Lênin nói: "Giai cấp tư sản chỉ có thể bị lật đổ, khi

nào giai cấp vô sản trở thành giai cấp thống trị đủ sức trấn áp sự phản

kháng không thể tránh khỏi, tuyệt vọng của giai cấp tư sản, và đủ sức tổ chức

Trang 37

hết thảy quần chúng lao động và bị bóc lột để xây dựng một chế độ kinh tế

mới" [37, 32]

Ngay công xã Pa-ri, tuy chỉ tồn tại trong khoảng thời gian ngắn nhưvậy, nhưng cuộc cách mạng vô sản ấy, cũng không thể không thực hiện haichức năng của chuyên chính vô sản Tất nhiên, trong điều kiện cụ thể lúc

đó, chính ra Công xã phải đẩy mạnh hoạt động vũ trang bạo lực hơn nữa.Đây cũng là một bài học của Công xã Đúng như Ph.Ăngghen viết: "NếuCông xã Pa-ri không dùng quyền uy của nhân dân vũ trang để chống lạigiai cấp tư sản thì liệu nó có thể đứng vững được quá một ngày không?Trái lại, lẽ nào chúng ta lại không thể trách Công xã là dùng quyền uy đóquá ít, hay sao?" [52, 422] Còn V.I.Lênin, sau khi Cách mạng tháng Mườithành công, cùng với những nhiệm vụ khác của xây dựng đất nước, đã chú

ý ngay vào kiện toàn Hồng quân, thành lập Ủy ban đặc biệt toàn Nga,

chuyên trách về các lực lượng bạo lực chuyên chính của chính quyền côngnông chống lại đủ loại các bọn phản động để bảo vệ thành quả cách mạngcủa Nhà nước Xô Viết non trẻ Người căn dặn cụ thể rằng: Mỗi bước đi đếnhòa bình, cần phải dốc toàn lực ra để sẵn sàng chiến đấu, tuyệt đối khôngđược giải giáp quân đội chúng ta Quân đội chúng ta là một đảm bảo thực

sự khiến cho các cường quốc đế quốc chủ nghĩa không dám có chút mưutoan hành động gì đối với chúng ta

Hơn 80 năm lịch sử của CNXH hiện thực cho thấy rằng, xây dựng CNXH phải đi đôi với bảo vệ tổ quốc XHCN Nhiệm vụ của chuyên chính

vô sản và do đó là của lực lượng vũ trang, trong thời kỳ này, không chỉ đểtrấn áp những giai cấp bóc lột không chịu cải tạo, không chỉ để trừng trị cácphần tử thoái hóa biến chất, mà còn để đánh thắng bọn phản động chốngphá từ bên ngoài và kẻ thù xâm lược

Tất nhiên cũng theo quan điểm mác xít, trong chủ nghĩa xã hội tổ

Trang 38

chức xây dựng là thực chất hơn cả, là cơ sở của chuyên chính vũ trang.Thắng lợi của quá trình xây dựng CNXH về mọi mặt cộng với tính ưu việtcủa bản chất chế độ sẽ từng bước làm cho lực lượng vũ trang nhân dân lớnmạnh cả về số lượng, chất lượng với đủ loại các binh chủng, quân chủng vàngày càng hiện đại Sự vững mạnh của lực lượng quốc phòng có tính toàn dânđảm bảo sự ổn định chính trị-xã hội cho công cuộc xây dựng xã hội mới.

Vì vậy, trong hoàn cảnh lịch sử phức tạp của cuối thế kỷ XX, trước

sự sụp đổ của hệ thống XHCN thế giới, thì bài học nhãn tiền là không thể mấtcảnh giác, không thể lơ là trong việc củng cố sức mạnh vũ trang nhân dân.Hơn lúc nào hết, cần nhắc lại quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin rằngthời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH vẫn là thời kỳ đấu tranh giai cấp tiếptục trong những hoàn cảnh mới, với những nội dung mới Hơn nữa, nhưV.I.Lênin nói: "Trên thực tế, thời kỳ ấy tất nhiên là thời kỳ đấu tranh giai cấp

ác liệt chưa từng thấy, mang những hình thức hết sức gay gắt" [37, 43] Và xétrộng ra, cũng lời V.I.Lênin: "Chỉ sau khi chúng ta lật đổ, đã hoàn toàn đánhbại và tước đoạt giai cấp tư sản trên toàn thế giới, chứ không phải chỉ trongmột nước độc nhất mà thôi, thì chiến tranh mới không xảy ra nữa" [30, 16].Cho nên, xây dựng và củng cố lực lượng vũ trang là một trong nhữngnhiệm vụ thường xuyên và quan trọng trong suốt thời kỳ xây dựng CNXH

Hồ Chí Minh và Đảng ta đã tiếp thu trung thành và sáng tạo nhữngquan điểm về nhà nước , cách mạng, bạo lực và lực lượng vũ trang của chủnghĩa Mác-Lênin Ngay trong khi chuẩn bị thành lập Đảng, trong bản

Chánh cương vắn tắt của Đảng (2-1930), cùng với việc xác định con

đường cách mạng Việt Nam là "Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọnphong kiến, Hồ Chí Minh chủ trương "Tổ chức ra quân đội công nông" [56,1]

Tiếp đó, Luận cương chính trị (10-1930) của Đảng cộng sản Đông

Dương, trên cơ sở phân tích điều kiện lịch sử mọi mặt của Việt Nam, Lào,

Trang 39

Cam-pu-chia đã khẳng định cách mạng Đông Dương là cách mạng tư sảndân quyền, do giai cấp vô sản lãnh đạo, là cách mạng thổ địa đánh đổ các ditích phong kiến, giao ruộng đất cho nông dân, là cách mạng phản đế đánh

đổ đế quốc Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập, tiến thẳng lênCNXH không qua giai đoạn phát triển TBCN Lực lượng chính của cáchmạng là công nhân và nông dân Nhân tố quyết định thắng lợi có đường lốichính trị đúng, có kỷ luật, gắn liền với quần chúng qua thực tiễn đấu tranh

mà trưởng thành Phải "vũ trang công nông, lập quân đội công nông", "Tổchức đội tự vệ công nông", để khi có tình thế cách mạng thì thực hiện vũtrang bạo động giành chính quyền về tay công nông

Hồ Chí Minh đã coi đội Tự vệ đỏ, Tự vệ công nông là công cụ của

Đảng để "chống quân thù giai cấp tấn công và làm cho vận động cáchmạng phát triển thắng lợi" Người nói: Dân tộc Việt Nam nhất định phảiđược giải phóng Muốn giải phóng thì phải đánh phát xít Nhật và Pháp.Muốn đánh chúng phải có lực lượng quân sự Chủ tịch Hồ Chí Minh vàĐảng ta đã xây dựng Tự vệ đỏ, Cứu quốc quân, Giải phóng quân, đội Bảo

an, đội Danh dự trừ gian, đội Danh dự Việt Minh và các tổ chức lực lượng

vũ trang khác Hồ Chí Minh đã trực tiếp ra chỉ thị thành lập: "Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân" Tổ chức này đã ra đời ngày 22-12-

1944 tại Cao Bằng Trong chỉ thị ấy, Người đã chỉ rõ vai trò, sức mạnh vàvinh dự của đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân trong sự nghiệpcách mạng: "Tuy lúc đầu qui mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất

vẻ vang Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chíBắc, khắp đất nước Việt Nam" [56, 508] Những tổ chức tiền thân củaQuân đội nhân dân và Công an nhân dân Việt Nam, cùng với toàn dân khởinghĩa giành chính quyền thắng lợi

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Công an và Quân đội là haicánh tay của nhân dân, của Đảng, của Chính phủ, của vô sản chuyên chính

Trang 40

Vì vậy, càng phải đoàn kết chặt chẽ với nhau giúp đỡ lẫn nhau" [60, 403].

Người luôn coi trọng vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân

và Công an nhân dân Người nói: "Đảng có lãnh đạo chính trị đúng thìchuyên môn mới đúng Công an nhân dân vũ trang hay là Quân đội cũngthế, phải phục tùng sự lãnh đạo của Đảng từ trên xuống dưới" [60, 403].Trong Điều lệ của mình, Đảng ta đã xác định: "Đảng lãnh đạo Quân độinhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam tuyệt đối, trực tiếp vềmọi mặt" [24, 39] Đây cũng là nguyên tắc cơ bản để xây dựng Quân độinhân dân và Công an nhân dân của Đảng ta

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta coi Quân đội nhân dân và Công an

nhân dân là của dân, do dân và vì dân, phải xây dựng lực lượng vũ trang

nhân dân trên cơ sở lực lượng của toàn dân, gắn bó chặt chẽ với nhân dân.Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn giáo dục cho Quân đội nhân dân vàCông an nhân dân về tinh thần trách nhiệm bảo vệ và chăm lo hạnh phúccủa nhân dân Trong lễ khai giảng Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn khóa I (5-1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho các học viên phải: "Trungvới nước, hiếu với dân" [59, 239] Người còn khẳng định: Quân đội ta làquân đội của nhân dân, trong thời kỳ kháng chiến, quân đội thi đua giếtgiặc để bảo vệ nhân dân hòa bình trở lại, quân đội vừa lo học tập vừa rasức gắng giúp dân trong mọi công việc

Hồ Chủ tịch và Đảng ta cho rằng phải xuất phát từ đường lối chínhtrị, đường lối quân sự, đường lối bảo vệ an ninh-trật tự, đường lối kinh tế-

xã hội, v.v cùng những điều kiện lịch sử đất nước và trên thế giới trongtừng thời kỳ để xác định vai trò cũng như phương hướng, nội dung, giảipháp xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, đáp ứng nhiệm vụchính trị và nhiệm vụ quân sự được giao Dưới sự lãnh đạo của Đảng và HồChủ tịch, lực lượng vũ trang nhân dân đã cùng toàn dân khởi nghĩa thắnglợi, liên tiếp đánh thắng hai đế quốc to trong hai cuộc kháng chiến thần

Ngày đăng: 19/12/2016, 08:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Ph. Ăngghen, Tuyển tập luận văn quân sự, Tập 2, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập luận văn quân sự
Nhà XB: Nxb Quân đội nhândân
[2]. Ban Biên giới Chính phủ, Bản tin số 15, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản tin số 15
[3]. Nguyễn Đức Bách, Một số vấn đề về định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về định hướng xã hội chủ nghĩa ởViệt Nam
Nhà XB: Nxb Lao động
[4]. Hoàng Chí Bảo, Một số vấn đề về chính sách xã hội ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về chính sách xã hội ở nước ta hiệnnay
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
[5]. Nguyễn Tiến Bình, Nâng cao dân trí góp phần củng cố quốc phòng - an ninh ở miền núi, vùng cao, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 3/1997, tr. 22-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao dân trí góp phần củng cố quốc phòng -an ninh ở miền núi, vùng cao
[6]. Nguyễn Lương Bích - Phạm Ngọc Phụng, Tìm hiểu thêm thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1971 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thêm thiên tàiquân sự của Nguyễn Huệ
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
[7]. Bộ Tư lệnh bộ đội Biên phòng, Báo cáo kết quả mười năm thực hiện"Ngày Biên phòng" 1989 - 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngày Biên phòng
[8]. Bộ Tư lệnh bộ đội Biên phòng, Quân đội và Công an là hai cánh tay của nhân dân, Hà Nội, 1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quân đội và Công an là hai cánh taycủa nhân dân
[9]. Bộ Tư lệnh bộ đội Biên phòng, Tổng kết 40 năm công tác Biên phòng và xây dựng lực lượng bộ đội Biên phòng, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết 40 năm công tác Biên phòngvà xây dựng lực lượng bộ đội Biên phòng
[10].Phạm Hữu Bồng, Bộ đội Biên phòng tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội ở biên giới biển, đảo, Báo Nhân Dân, 3/3/1999, tr.3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ đội Biên phòng tích cực tham gia phát triển kinhtế - xã hội ở biên giới biển, đảo
[11]. Phạm Hữu Bồng, Ổn định lâu dài biên giới quốc gia, đề tài Khoa học xã hội KX.07-05, Hà Nội 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ổn định lâu dài biên giới quốc gia
[12]. Các văn bản pháp luật về công pháp Quốc tế, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bản pháp luật về công pháp Quốc tế
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốcgia
[13]. Nguyễn Đức Châu - Nguyễn Tuấn Chung, Ông cha ta bảo vệ biên giới, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ông cha ta bảo vệ biêngiới
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
[14]. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 1
Nhà XB: Nxb Khoa họcxã hội
[15]. Nguyễn Hồng Dương - Phan Đại Doãn, Lịch sử bảo vệ an ninh quốc gia, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử bảo vệ an ninh quốcgia
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
[16]. Đại Nam nhất thống chí, Nxb Thuận Hóa 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam nhất thống chí
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa 1992
[17].Đại Việt sử ký toàn thư, Tập II, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư, Tập II
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
[18]. Đảng bộ bộ đội Biên phòng, Báo cáo chính trị đại hội Đại biểu Đảng bộ Biên phòng lần thứ X, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị đại hội Đại biểu Đảngbộ Biên phòng lần thứ X
[19]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VI
Nhà XB: Nxb Sự Thật
[20]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thờikỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội
Nhà XB: Nxb Sự Thật

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ HỆ THỐNG TỔ CHỨC LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT BIÊN PHÒNG CAM-PU-CHIA - LUẬN án TIẾN sĩ   bộ đội BIÊN PHÒNG VIỆT NAM TRONG sự NGHIỆP bảo vệ CHỦ QUYỀN AN NINH BIÊN GIỚI QUỐC GIA HIỆN NAY
SƠ ĐỒ HỆ THỐNG TỔ CHỨC LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT BIÊN PHÒNG CAM-PU-CHIA (Trang 196)
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG THÁI LAN - LUẬN án TIẾN sĩ   bộ đội BIÊN PHÒNG VIỆT NAM TRONG sự NGHIỆP bảo vệ CHỦ QUYỀN AN NINH BIÊN GIỚI QUỐC GIA HIỆN NAY
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG THÁI LAN (Trang 200)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w